1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam

113 2,6K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 thì Nhà nước cũng ban hành một loạt các văn bản pháp luật quy định trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1: MÔI TRƯỜNG VÀ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 7

1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 7

1.1.1 Khái niệm môi trường 7

1.1.2 Chức năng và vai trò của môi trường 11

1.2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 16

1.2.1 Môi trường nước : 17

2.1.2 Về môi trường đất 17

2.1.3 Về môi trường không khí 17

1.2.4 Về chất lượng rừng và đa dạng sinh học 18

1.2.5 Về cân băng sinh thái biển và ven bờ 19

1.2.6 Về chất thải rắn 19

1.2.7 Tác động của các vấn đề môi trường toàn cầu 19

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 22

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý 22

1.3.2 Khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 28

1.3.3 Các dấu hiệu đặc trưng của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. 32 Chương 2 : CƠ SỞ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ , CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH 40

2.1 CƠ SỞ CỦA TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 40

2.2 CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỤ THỂ 43

2.2.1 Trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. 43

2.2.2 Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 51

2.2.3 Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. 63

2.2.4 Trách nhiệm kỷ luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. 67

2.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC HÌNH THỨC TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 68

Chương 3 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 72

3.1 THỰC TRẠNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 72

3.1.1 Đặc điểm về pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam 72

Trang 3

3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý

trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. 81

3.2 TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VỀ MÔI TRƯỜNG Ở MỘT SỐ NƯỚC 88

3.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ VÀ NÂNG CAO Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở NƯỚC TA 93

3.3.1.Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường 93

3.3.2 Giáo dục đạo đức môi trường. 97

3.3.3 Các biện pháp khác nhằm nâng hiệu quả hoạt động bảo vệ môi trường 100

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của một đất nước, dân tộc và nhân loại Do vậy, bảo vệ môi trường đã trở thành một vấn đề trọng yếu của toàn cầu và đang được nhiều quốc gia trên thế giới đặt thành quốc sách Bảo

vệ môi trường gắn liền với sự phát triển bền vững đã trở thành một nội dung quan trọng của chiến lược cũng như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trong những thập kỷ gần đây môi trường đang có những thay đổi theo chiều hướng xấu đi, như sự thay đổi của khí hậu toàn cầu, sự suy giảm tầng ôzôn đang làm cho trái đất ngày càng nóng lên Sự suy giảm của nhiều giống, loài động vật, thực vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật quý hiếm, vấn đề cháy rừng, vấn đề chất thải, ô nhiễm

Ở nước ta từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của xã hội, đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường quan trọng Môi trường đất, nước, không khí ở một số thành phố lớn, khu công nghiệp trung tâm và các khu đông dân cư đã và đang bị suy thoái, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, sinh học bị cạn kiệt, môi trường biển, ven bờ và hải đảo có dấu hiệu xuống cấp, sự cố môi trường ngày một ra tăng

Để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững Ngày 27/12/1993 Quốc hội nước

ta đã thông qua Luật Bảo vệ môi trờng Đạo luật này đã đề ra những nguyên tắc về bảo vệ môi trường như : đảm bảo quyền con người sống trong môi trường trong lành, nhà nước thống nhất quản lý việc môi trường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi làm ô nhiễm môi trường gây ra luật bảo vệ môi trường năm 1993 đã có các quy định về phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, quy định chức năng nhiệm vụ, quyền

Trang 5

hạn của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ môi trường Đặc biệt luật cũng xác lập những cơ sở pháp lý về trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Cùng với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 thì Nhà nước cũng ban hành một loạt các văn bản pháp luật quy định trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như : Chương XVII của Bộ luật Hình sự quy định các tội phạm về môi trường, Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật bảo vệ môi trường, Nghị định số 26/CP ngày 26/4/1996 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Nghị định 121/NĐ - CP ngày 12 - 5- 2004 của Chính phủ thay thế Nghị định 26/NĐ - CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường để phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay

Tuy nhiên, thực tế từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường do bị chi phối bởi yếu tố lợi nhuận mà ngày càng nhiều các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường Theo đánh giá của Cục Tài nguyên- Môi trường, trong giai đoạn 1996 đến nay toàn ngành quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đã tiến hành thanh tra thực hiện luật bảo vệ môi trường đối với 19.946 lượt cơ sở và đã xử phạt vi phạm hành chính đối với 7.479 lượt cơ sở, trong đó phạt cảnh cáo là 4.306 lượt cơ sở và phạt tiền là 3.173 lượt cơ sở với tổng số tiền là 2.496,73 triệu đồng Những hành vi vi phạm chính là: không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, hoặc không thực hiện các giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường: chiếm 76%, gây ô nhiễm trong sản xuất kinh doanh, không xử lý chất thải chiếm 18% gây ô nhiễm bởi tiếng ồn độ rung, chiếm 1,2%, vi phạm trong xử lý chất thải chiếm 3,7%

Từ những thực trạng trên, việc hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật

Trang 6

nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đang là vấn đề cần được quan tâm ở nước ta hiện nay

Đó là lý do tại sao tôi chọn đề tài "Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực

bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay"

2 Tình hình nghiên cứu

Cho đến nay, ở nước ta về phương diện lý luận và thực tiễn thì đây là một vấn đề còn mới mẻ và ít công trình nghiên cứu Chỉ có một số công trình nghiên cứu về vấn đề môi trường nhng ở khía cạnh khác như :

Năm 2001 nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành cuốn “ tiến tới kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nớc về bảo vệ môi trờng ở Việt nam “ ( do GS,VS Phạm Minh Hạc , GS TS Nguyễn Hữu Tăng chủ biên )

Cuốn “ Quản lý môi trường “ của nhà xuất bản Lao động - xã hội năm

2002 do PGS,TS Nguyễn Đức Khiển viết

Đề tài của Cục môi trường năm 2000 “ nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp môi trường “

Ngoài ra trên một tạp chí nghiên cứu khoa học cũng có một số bài viết đề cập đến vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực môi trường nh-

ư “ Trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực môi trường ở Việt nam” của tác giả Đinh Mai Phương trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12/2003 , “ Trách nhiệm pháp lý về môi trường ở một số nước “ của tác giả Trần Thắng Lợi trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 3 tháng 3/2004 v.v

3 Mục đích của đề tài

Với những kết quả nghiên cứu các vấn đề mà được nêu trong bản luận văn Tác giả hy vọng sẽ góp phần hoàn thiện cơ chế trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, từng bước nâng cao ý thức pháp luật, ý thức bảo vệ môi trường trong nhân dân và các cơ sở sản xuất kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về lĩnh vực môi trường

Trang 7

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành bản luận văn tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích - tổng hợp, ương pháp điều tra xã hội học cụ thể, phương pháp thống kê, phương pháp quy nạp và diễn dịch, phương pháp phân tích thuần tuý quy phạm, phương pháp so sánh pháp luật

ph-5 Két cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn được chia thành 3 chương :

Chương 1: Môi trường và khái niệm chung về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Chương 2: Cơ sở truy cứu trách nhiệm pháp lý, các hình thức trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý trọng lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trang 8

Chương 1

MÔI TRƯỜNG VÀ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ

TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1 Nhận thức chung về môi trường và bảo vệ môi trường

1.1.1 Khái niệm môi trường

Mỗi một cơ thể sống dù là cá nhân con người hay bất kỳ một loại sinh vật nào tồn tại trên trái đất ở trong mọi trạng thái đều bị bao quanh và bị chi phối bởi môi trường Vậy môi trường là gì ? nó được hình thành và có quá trình biến đổi như thế nào ? môi trường có vai trò gì đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người ?

Trong những thập kỷ gần đây, bảo vệ môi trường đã trở thành những vấn

đề của thời đại được các quốc gia và cộng đồng quốc tế đặc biệt quan tâm Xung quanh khái niệm môi trường, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau của các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu ở trong nước và trên thế giới Mỗi quan điểm đều cố gắng diễn đạt để đưa ra những lập luận hợp lý có sức tuyết phục ở các mức độ khác nhau

 Quan điểm thứ nhất : cho rằng môi trường là sinh quyển, sinh

thái cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người, môi trường cũng là nơi chứa đựng những nguồn tài nguyên làm thành đối tượng của lao động sản xuất, và hình thành các nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất ra của cải vật chất của loài người, trong số này một số có thể tái tạo được, một số khác không thể tái tạo được Trong quá trình khai thác nếu mức độ khai thác nhanh hơn mức độ tái tạo thì gây ra tình trạng khan hiếm, suy kiệt hoặc khủng

Trang 9

hơn tới môi trường tự nhiên, chưa thể hiện được môi quan hệ giữa tự nhiên và

xã hội trong quan hệ tác động qua lại lẫn nhau hợp thành thể thống nhất của môi trường nói chung Nét nổi trội và ưu điểm của quan điểm này là đã nêu được những yếu tố cấu thành của môi trường đó là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người Điểm hạn chế ở đây là các yếu tố sinh quyển, sinh thái được đề cập rất chung chung, chưa được cụ thể hoá Trong khái niệm này các yếu tố cấu thành môi trường chưa được đề cập đầy

đủ, qua cách diễn dạt thì khái niệm toát lên tính không gian của môi trường “

là nơi chứa đựng những nguồn tài nguyên làm thành đối tượng của lao động “

ở trong khái niệm này còn thiếu những yếu tố cơ bản cần thiết cho sự hợp thành của môi trường đó là đất đai, động thực vật, hệ sinh thái, còn tài nguyên không phải là yếu tố cơ bản duy nhất cấu thành môi trường, đồng thời khái niệm này cũng chưa thể hiện được quan hệ giữa con người với môi trường cũng như giữa các yếu tố cấu thành của môi trường với nhau

 Quan điểm thứ hai : quan điểm này cho rằng môi trường là tổng

hợp các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một sự vật hiện tượng nào đó Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại và phát triển trong môi trường nhất định Đối với cơ thể sống thì môi trường là tổng hợp những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể Tương

tự như vậy đối với con người thì “ môi trường là tổng hợp tất cả các điều kiện vật lý, hoá học, kinh tế, xã hội bao quanh có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của từng cá nhân của cộng đồng người Khái niệm này mang tính bao quát hơn so với khái niệm trên, môi trường được đề cập toàn diện hơn với dầy

đủ các yếu tố cấu thành của nó bao quanh cơ thể sống Điểm nổi trội của quan điểm này là đã đặt môi trường trong mối quan hệ với sự sống, môi trường gắn với sự sống, đặc biệt quan niệm này nhấn mạnh quan hệ giữa các cơ thể

Trang 10

những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người, của xã hội loài người Môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên

và môi trường xã hội Môi trường tự niên giúp cho con người tồn tại và phát triển thể chất còn môi trường xã hội có ảnh hưởng đến việc hình thành nhân cách, đạo đức, phong cách nếp sống của mỗi cá nhân trong xã hội

 Quan điểm thứ ba : Môi trường ở thời điểm nhất định là tập hợp

các nhân tố vật lý, hoá học, sinh học và nhân tố xã hội có thể có hậu quả trực tiếp, hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài tới các sinh vật sống và các hoạt động của con người Khái niệm này đã hàm chứa tương đối đầy đủ các yếu tố cấu thành môi trường, đó là các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, xã hội Mặc

dù khái niệm không đề cập cụ thể tới các yếu tố tự nhiên, xã hội, nhưng qua cách diễn đạt mang tính khái quát đã bao hàm đầy đủ các nhân tố tự nhiên và

xã hội cấu thành môi trường Điểm mới của quan điểm này là ở chỗ xác định tính thời gian của môi trường Theo quan điểm này thì môi trường cũng có tính thời gian, môi trường không phải là “ cái gì “ đó tĩnh tại, bất biến mà nó luôn thay đổi theo thời điểm Có thể nói đây là quan điểm tương đối toàn diện

về môi trường đã đề cập đến cả thời gian và tính không gian cũng như những ảnh hưởng trực tiếp trước mắt và lâu dài của môi trường đối với đời sống con người Tuy nhiên quan điểm này có hạn chế là chưa thể hiện được mối quan

hệ giữa các yếu tố cấu thành môi trường và quan hệ giữa môi trường với con người

 Quan điểm thứ tư : quan điểm này căn cứ trên quan điểm của

Chủ nghĩa Mác - LêNin về các điều kiện sống của con người, sự tồn tại và phát triển của loài người Theo quan điểm này thì C.Mác đã chỉ ra yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người đó là điều kiện địa lý, dân số, và phương thức sản xuất trong điều kiện hiện tại, ba nhân tố cũng có thể được xem là các nhân tố môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi

Trang 11

trường kinh tế Với cách tiếp cận như vậy, quan điểm này cho rằng : môi trường là khái niệm dùng để chỉ tổng thể các yếu tố vật chất, tự nhiên và nhân tạo bao xung quanh con người, có quan hệ mật thiết đến sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người Như vậy khái niệm môi trường ở đây không phải là thế giới tự nhiên nói chung, bất kỳ, mà là thế giới tự nhiên đặt trong mối quan hệ mật thiết với sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người nói chung Môi trường được hiểu theo cách diễn đạt này mang tính bao quát rất rộng và đầy đủ, bao hàm tất cả môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo, đồng thời nó thể hiện được mối quan

hệ tương tác giữa các yếu tố tự nhiên, xã hội, nhân tạo và nêu bật được vai trò của môi trường đối với đời sống của xã hội loài người Tuy nhiên theo quan điểm này thì có thể thấy môi trường được thể hiện chủ yếu ở khía cạnh phân loại môi trường mà chưa thể hiện được cấu trúc môi trường

 Quan điểm thứ năm : môi trường theo điều 1 Luật bảo vệ môi trường được nước ta ban hành ngày 10/01/1994 thì “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại triển của con người và thiên nhiên “ Theo quan điểm này thì khái niệm môi trường đề

cập nhiều hơn về góc độ môi trường tự nhiên có ảnh hưởng tới đời sống con người

Như vậy khái niệm môi trường, tuỳ theo góc độ tiếp cận thì được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Tuy nhiên tựu chung lại các quan điểm trên đều

đề cập đến các nội dung của môi trường là :

- Nêu rõ bản chất bao quanh của môi trường đối với cơ thể sống

- Môi trường có ảnh hưởng và tác động tới các cơ thể sống, tới sản xuất, tới tồn tại và phát triển của xã hội

Trang 12

- Các mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành môi trường và quan hệ giữa

sự tồn tại và phát triển của xã hội

- Cấu trúc của môi trường và các yếu tố cấu thành môi trường

Do đề tài luận văn là nghiên cứu “ trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực

bảo vệ môi trường” nên tác giả chọn cách tiếp cận khái niệm môi trường theo

quan điểm thứ năm, tức là theo điều 1 của Luật bảo vệ môi trường nước ta ban hành ngày 10/01/1994 Như vậy nếu khái niệm môi trường được hiểu

theo nghĩa này thì bảo vệ môi trường được hiểu là “những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên “( điều 1 Luật bảo vệ môi trường nước ta ban hành ngày 10/01/1994 )

và tất cả các hành vi vi phạm pháp luật môi trường đều phải chịu trách nhiệm pháp lý

1.1.2 Chức năng và vai trò của môi trường

1.1.2.1 Chức năng của môi trường

Môi trường là cái nôi sinh thành và phát triển của của con người Những yếu tổ cấu thành môi trường như : không khí, nước, ánh sáng đèu quan trọng đơi với con người Không khí để thở, nước để ăn uống và sinh hoạt, không gian là nơi con người sinh sống tất cả những thành phần của môi trường đều

có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của loài người Sống trong môi trường, con người một mặt chịu sự ảnh hưởng của nhân tố môi trường, mặt khác con người tác động vào môi trường và làm môi trường biến đổi Sự biến đổi của môi trường lại ảnh hưởng trở lại con người Sự phát triển kinh tế

xã hội là một quá trình sử dụng các tài nguyên sống và không sống để sản xuất ra của cải vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống con người Dù là

Trang 13

trong cuộc sống thường ngày hoặc trong sự phát triển kinh tế – xã hội, môi trường có những chức năng không thể phủ nhận

Từ nhiều thập kỷ nay, con người đã nhận thức rằng môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng đảm bảo sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế cũng như sự sống của con người, bởi vì môi trường không chỉ cung cấp nguồn tài nguyên đầu vào cho sản xuất, tiện nghi sinh hoạt cho con người mà còn là nơi chứa và hấp thụ phế thải sản xuất sinh hoạt do con người thải ra Những chức năng của môi trường liên quan đến hoạt động kinh tế có mối tương tác chặt chẽ với nhau và trong những trường hợp nhất định chúng có thể triệt tiêu lẫn nhau Chẳng hạn như những chất thải trong sinh hoạt, trong sản xuất có chứa nhiều chất độc hại sẽ làm giảm nguồn tài nguyên của môi trường, đó là việc ô nhiễm nguồn nước, đất, do sản xuất công nghiệp Sự ô nhiễm đó lại tác động trở lại quá trình sản xuất làm cho sản xuất khó khăn

Môi trường tự nhiên trong quan hệ với đời sống của con người và sự phát triển của xã hội loài người là một hệ thống tự nhiên có các chức năng sau [ 45, tr 22-29 ]:

+ Thứ nhất : Môi trường là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự

nhiên của con người Chức năng đầu tiên của môi trường là nơi sinh sống và phát triển của xã hội loài người Với chức năng này môi trường là nơi cung cấp hệ sinh thái như yếu tố vật chất cơ bản giúp cho sự tồn tại và phát triển của con người bao gồm không khí, nguồn nước, đất, cây cối, rừng và sinh vật Những yếu tố này nếu bị tổn hại đến một mức độ nhất định thì hậu quả của

nó sẽ đe doạ đến sự sống của con người

+ Thứ hai: Môi trường là nơi chứa đựng những nguồn tài nguyên làm

thành đối tượng lao động sản xuất và hình thành các nguồn cần thiết cho việc sản xuất ra của cải của con người Trong số này có một số có thể tái tạo được,

Trang 14

thác nhanh hơn mức độ tái tạo thì gây ra tình trạng khan hiếm, suy kiệt hoặc khủng hoảng đối với môi trường Với chức năng thứ hai này môi trường là nơi cung cấp nguyên liệu và năng lượng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh

tế và đời sống con người Để tồn tại và phát triển, con người phải dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có trong tự nhiên và môi trường chính là nơi cung cấp các yếu tố đó Tuỳ theo trình độ phát triển của xã hội, số lượng tài nguyên được con người sử dụng ngày càng tăng Thông thường nguồn tài nguyên này được chia thnàh 2 loại :

- Nguồn tài nguyên có thể tái tạo được như cây rừng, các loài động vật ở trong rừng, cá dưới biển là một trong những nguồn tài nguyên mà trong quá trình khai thác nếu con người biết phục hồi chúng sẽ không bap giờ bị cạn kiệt (trừ những biến động bất thường của tự nhiên) gây ra có thể làm cho loài này hoặc loài khác bị tuyệt chủng Đối với loại tài nguyên này nếu tốc độ khai thác khai thác và sử dụng lớn hơn tốc độ được tái tạo, phục hồi thì dần dần sẽ dẫn tới bị cạn kiệt, không còn nữa Vì vậy, để duy trì nguồn tài nguyên này, cũng là nhằm duy trì môi trường sống trong sạch thì đi đôi với việc khai thác và sử dụng cần phải có giải pháp khôi phục và tái tạo thường xuyên sao khả năng khôi phục và tái tạo phải lớn hơn tốc độ khai thác

Những nguồn tài nguyên tái tạo được có thể được sử dụng một cách lâu dài nếu người sử dụng có ý thức duy trì và bổ sung chúng Nếu sử dụng quá mức hay không có quản lý chặt chẽ có thể dẫn tới làm cho nguồn tài nguyên này bị giảm đi, thậm chí bị tiêu huỷ hoàn toàn

- Nguồn tài nguyên không thể tái tạo được là các loại tài nguyên như quặng sắt, dầu mỏ, kim cương, than đốt có sẵn trong lòng đất, trong quá trình khai thác và sử dụng nguồn tiềm năng này sẽ dần dần bị cạn kiệt và tiến tới không còn nữa Theo sự phát triển của lịch sử khi loài người càng tiến bộ thì các nguồn tài nguyên càng được khai thác nhiều hơn Đối với nguồn tài

Trang 15

nguyên không thể tái tạo, việc sử dụng chúng một cách lãng phí, khai thác bừa bãi, không có hiệu quả sẽ dần đến làm giảm nhanh chóng nguồn tài nguyên này cho tới khi bị cạn kiệt vĩnh viễn Để duy trì bền vững nguồn tài nguyên không thể tái tạo được cần phải thực hiện triệt để nguyên tắc tiết kiệm trong sử dụng, khai thác hợp lý có hiệu quả, đồng thời không khai thác bừa bãi

+ Thứ ba: Môi trường là nơi chứa đựng chất thải của quá trình sinh hoạt

trong cuộc sống của con người cũng như trong quá trình sản xuất

Trong quá trình sinh sống và phát triển xã hội, con người một mặt khai thác các nguồn tài nguyên để sinh hoạt và sản xuất các loại hàng hoá khác nhau, mặt khác lại thải vào môi trường các chất thải trong sinh hoạt và sản xuất Các chất thải có nhiều nguồn khác nhau:

- Các chất thải công nghiệp được thải ra từ các xí nghiệp, nhà máy bao gồm:

- Các chất thải sinh hoạt, bao gồm nước thải, rác thải sinh hoạt, các loại khí bụi của lò bếp

- Các chất thải của các phương tiện giao thông vận tải như xe máy, máy bay, tàu thuỷ

Trang 16

Khả năng hấp thụ chất thải của môi trường không phải là vô hạn khi các chất thải được thải ra quá mức, môi trường không hấp thụ và phân huỷ hoặc đồng hoá được hết chúng, thì khi đó sự ô nhiễm sẽ tăng lên gấp bội vì vậy cần phải có nhiều giẩi pháp xử lý đặc biệt để tự chúng ta không biến môi trường của chúng ta thành một bãi rác thải

1.1.2.2 Vai trò của môi trường đối với đời sống kinh tế – xã hội hiện nay

Từ việc nhận thức chức năng của môi trường cho thấy môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống kinh tế – xã hội

Môi trường là không gian chứa đựng cơ thể sống bao hàm xã hội loài người, giới sinh vật (động vật và thực vật) Mỗi cơ thể sống không thể tồn tại ngoài môi trường được, môi trường là không gian sống của mọi loài sinh vật (kể cả con người) Các loài sinh vật sinh ra, lớn lên, trưởng thành và tiêu vong đều ở trong môi trường Nếu không gian môi trường trong lành sẽ làm cho chất lượng cuộc sống được nâng cao, mọi loài sinh vật sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển tốt Ngược lại nếu không gian môi trường bị ô nhiễm, môi trường bị suy thoái sẽ ảnh hưởng trực tiếp đễn chất lượng của cuộc sống và như vậy sẽ cản trở phát triển bình thường của mọi loài vật, trong đó có con người Do đó bảo vệ môi trường trong sạch có tác dụng trực tiếp đến việc bảo tồn và duy trì sự sống của mọi sinh vật ở môi trường

Môi trường là nơi cung cấp các yếu tố cần thiết, các điều kiện cần thiết cho

sự sống của tất cả các loài sinh vật Ăngghen nói „ con người là sản phầm của

tự nhiên”, con người tồn tại trong môi trường tự nhiên, cùng phát triển với môi trường tự nhiên Vật chất trong cơ thể con người do tự nhiên cung cấp như không khí, nước, thức ăn Con người và môi trường tự nhiên có mối quan hệ biện chứng với nhau Sống trong môi trường, một mặt con người chịu ảnh hưởng của các nhân tố môi trường, mặt khác con người lại tác động vào môi trường làm cho môi trường biến đổi và sự biến đối này lại ảnh hưởng trở

Trang 17

lại đối với con người Các Mác đã từng khẳng định là “mọi giá trị sử dụng mà con người dụng nó hàng ngày đều do hai yếu tố cấu thành nên đó là nền vật chất do tự nhiên cung cấp và lao động sống của con người được kết tinh vào trong đó“

Môi trường là nơi diễn ra mọi quá trình lao động sản xuất, dù đó là sản xuất nông nghiệp hay công nghiệp cũng đều phải dựa trên nền tảng của môi trường Các hoạt động văn hoá, xã hội, nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật cũng phải dựa vào môi trường, sử dụng các “chất liệu” do môi trường cung cấp

Nói tóm lại mọi sự sống trên trái đất và mọi quá trình hoạt động của con người đều được tiến hành trong môi trường và sử dụng các yếu tố sẵn có của môi trường Xuất phát từ nhận thức đó chúng ta khẳng định môi trường có vai trò to lớn, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi loài sinh vật sống trong môi trường

1.2 Thực trạng môi trường ở Việt nam và thế giới

Ở Việt Nam trong những năm vừa qua với sự phát triển của các thành tựu kinh tế, thì đi kèm với nó là sự suy thoái về môi trường Việc mở rộng các hoạt động kinh tế, thông qua việc phát triển nhiều loại hình doanh nghiệp và tăng cường đầu tư mà thực tế còn thiếu những biện pháp bảo vệ môi trường

đã tác động tiêu cực đến môi trường Chính sách xoá bỏ bao cấp đã buộc các doanh ghiệp phải tự trang trải kinh phí hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như các chi phí do gây ô niễm môi trường Bên cạnh đó tốc độ tăng trưởng kinh tế cao kéo theo như cầu lớn về tài nguyên thiên nhiên, kết cấu hạ tầng và thức đẩy quá trình đô thị hoá, đồng thời, sự phân phối thu nhập không đồng đều kéo dài đã tạo áp lực mạnh mẽ đối với tài nguyên do những người

Trang 18

nghèo chỉ còn cách kiếm sống duy nhất là khái thác cùng kiệt những tài nguyên có trong tầm tay họ

Có thể nói hiện nay, Việt nam đang phải chịu những thách thức về môi trường sau [ 2 ] :

1.2.1 Môi trường nước

Nguồn tài nguyên nước đang bị ô nhiễm chủ yếu là các vùng hạ lưu sông

do ảnh hưởng chất thải từ các khu đô thị và cơ sở công nghiệp Nguồn gây ô nhiễm chính là nước thải chưa qua xử lý, xuất phát từ các hoạt động sinh hoạt của dân cư đô thị và các hoạt động sán xuất công nghiệp, các loại nước thải này thường được đổ thẳng ra sông, kênh, rạch, ao, hồ mà không được xử lý Hiện nay với khoảng 70 khu công nghiệp và hơn 1.000 bệnh viện trên cả nước, mỗi ngày có hàng triệu m3 nước thải không qua xử lý đổ vào môi trường Điển hình là ô nhiễm môi trường nước trên các lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy và sông Sài gòn- Đồng Nai

2.1.2 Về môi trường đất

Các dạng thoái hoá đất chủ yếu là : xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hoá, phèn hoá, bạc mầu, khô hạn và sa mạc hoá, đất ngập úng, lũ quét, đất trượt và sạt lở, đất bị ô nhiễm Trên 50% diện tích đất ( 3,2 triệu ha ) ở đồng bằng và trên 60% diện tích đất ( 13 triệu

ha ) ở vùng đồi núi có những vấn đề liên quan tới suy thoái đất Sự suy thoái môi trường kéo theo sự suy thoái các quần thể động, thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đến mức báo động

2.1.3 Về môi trường không khí

Các yếu tố gây ô nhiễm không khí hiện nay là bụi và khí thải từ sản xuất nông nghiệp và đặc biệt là hoạt động giao thông vận tải Năm 2002, hoạt động giao thông vận tải đã được sử dụng khoảng 1,5 triệu tấn xăng và dầu diezel

Trang 19

Tương ứng với lượng xăng dầu tiêu thụ đó, lượng phát thải các loại khi ô nhiễm là khoảng hơn 6 triệu tấn CO2, khoảng 61.000 tấn CO2, 35.000 tấn

Các ngành công nghiệp gây ô nhiễm không khí nhiều nhất là nhiệt điện, vật liệu xây dựng, luyện kim, hoá chất, khai thác khoáng sản Công nghệ sản xuất còn lạc hậu và thiếu các thiết bị xử lý ô nhiễm bụi và khí thải là nguyên nhân gây ra ô nhiễm không khí Ở một số nút giao thông tại các khu đô thị lớn, nồng độ các chất ô nhiễm không khí đã vượt quá tiêu chuẩn cho phép

1.2.4 Về chất lƣợng rừng và đa dạng sinh học

Đây là một trong những vấn đề môi trường bức xúc nhất của nước ta hiện nay Theo thống kế, diện tích đất có rừng ở nước ta hiện nay vào khoảng 11,5 triệu ha trong đó có 84% là rừng tự nhiên Tuy nhiên trong vòng chưa đầy 50 năm, diện tích che phủ rừng giảm từ 43% xuống còn 27% năm 1990 Sau đó nhờ những giải pháp kịp thời, diện tích rừng đã được nâng lên 33% vào năm

2001 và 34% vào năm 2003 Mặc dù vậy, rừng tự nhiên đầu nguồn và rừng ngập mặn vẫn tiếp tục bị tàn phá nghiêm trọng Rừng giầu, rừng kín, rừng nguyên sinh chỉ còn chiếm khoảng 13% và rừng tái sinh chiếm tới 55% tổng diện tích rừng Nguyên nhân chính là do cháy rừng, tình trạng phá rừng bừa bãi và chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai (làm đầm nuôi thuỷ sản, xây dựng đường sá, chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp ), dẫn đến thu hẹp nới cư trú và nguồn nuôi dưỡng các giống loài, tình trạng buôn bán trái phép động thực vật quý hiếm, sử dụng các biện pháp khai thác có tính huỷ diệt và gia tăng ô nhiễm môi trường cũng góp phần suy giảm đa dạng sinh học Ngoài ra, việc nhập các giống loài ngoại lai thiếu kiểm soát cũng là mối đe dọa đối với các giống bản địa Chất lượng môi trường sống trong các hệ sinh thái bị suy giảm, bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi và nguồn gien đặc hữu cũng bị tổn

Trang 20

1.2.5 Về cân băng sinh thái biển và ven bờ

Nước ta có bờ biển dài hơn 3.200km với nhiều hệ sinh thái rừng nập mặn đặc thù và đa dạng sinh học cao Gần 60% dân số, 50% đô thị lớn và quan trọng, cũng như hầu hết các khu công nghiệp lớn của cả nước tập trung ở các vùng vẹ biển Chính vì vậy, ô nhiễm môi trường do các hoạt động kinh tế – xã hội gây ra có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường biển và ven bờ nước ta Việc khai thác quá mức và sử dụng các biện pháp đánh bắt mang tính huỷ diệt đã làm cho các nguồn lợi thuỷ sản bị giảm nghiêm trọng Việc nuôi trồng thuỷ sản ven biển, nhất là nuôi tôm trên cát tràn lan và không chú ý đến phục hồi cải tạo sau khai thác đã làm suy giảm mạnh hệ sinh thái ven biển

Đặc biệt, các trung tâm du lịch nằm ven biển cũng là những nguồn xả lớn nước thải và rác thải ra biển Ngoài ra, các sự cố xảy ra trong vận tải đường thuỷ và khai thác dầu khí cũng gây ô nhiễm môi trường biển Hoạt động vận tải đường thuỷ ngày càng phát triển tương ứng với sự phát triển của nền kinh

tế và các hoạt động thông thương quốc tế, dẫn đến các rủi ro về môi trường như sự cố tràn dầu, đắm tầu trở nên phổ biến hơn

1.2.6 Về chất thải rắn

Mỗi năm ở nước ta có hơn 13 triệu tấn chất thải rắn phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau, lớn nhất là từ các hộ gia đình, nhà hàng, khu chợ và cơ sở kinh doanh, chiếm hơn 80% lượng thải Chất thải rắn nguy hại chiếm khoảng 1% tổng lượng chất thải rắn, bắt nguồn từ cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở y

tế, và các hoạt động nông nghiệp Tuy chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng đây là mối hiểm hoạ tiềm tàng và có xu hướng gia tăng Việc xử lý chất thải rắn còn ở mức rất thô sơ, chủ yếu dưới hình thức chôn lấp các bãi rác lộ thiên và không được vận hành đúng kỹ thuật, gây ra nhiều vẫn đề môi trường cho các cư dân quanh vùng và ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm

1.2.7 Tác động của các vấn đề môi trường toàn cầu

Trang 21

Bên cạnh đó, do môi trường là một vấn đề có tính chất liên ngành, liên vùng và toàn cầu nên nước ta cũng chịu tác động bởi các biến động và thay đổi của các vấn đề toàn cầu cũng như từ các quốc gia láng giềng Những tác động chính dưới đây cũng là những thách thức cần được quan tâm giải quyết như :

+ Vấn đề môi trường của lưu vực sông Mê Kông và sông Hồng

Đồng bằng Cửu Long, hạ lưu của sông Mê Kông chảy qua 5 nước và là nơi sán xuất ra 40% sản lượng lương thực của cả nước, cho nên bất kỳ một lợi hoạt động nào trên thượng lưu, đều tác động trực tiếp đến môi trường và các

hệ sinh thái của đất nước

Sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc chảy ra vịnh Bắc Bộ do đó các hoạt động ở thượng nguồn đều có ảnh hưởng đến đồng bằng BắcBộ và ven bỉên vùng đông dân nhất nước ta

+ Vấn đề môi trường của các vùng rừng chung biên giới

Các tài nguyên đa dạng sinh học thuộc các vùng rừng biên giới cần được bảo vệ vì quyền lợi chung của cả nước Khai thác gỗ bất hợp pháp, không kiểm soát được, đốt phát rừng dẫn đến thảm hoạ cháy rừng, buôn bán săn bắt động vật hoang dã trong các vùng có chung biên giới như Trung Quốc, Lào

và Cămpuchia đang làm suy giảm đa dạng sinh học, gây ra huỷ hoại môi trường chung giữa các nước này

+ Vấn đề mưa a- xít

Mua a- xít là do khí thải có chứa SO2 và một số hoá chất khác từ các cơ

sở sản xuất công nghiệp, sau đó kết hợp với nước, tạo thành các axít sulfuric

và nitric A-xít theo nước mưa, tuyết, sương rơi trở lại mặt đất Một số trung tâm mưa a- xít của thế giới đang chuyển dịch dần về Việt Nam Các hậu quả của mưa a- xít bao gồm phát huỷ cây cối, rừng và làm giảm sản lượng mùa

Trang 22

màng, gây ô nhiễm các dòng sông, hồ, ảnh hưởng đến nuôi trồng thuỷ sản và các sinh vật khác, phá huỷ các công trình kiến khác

+ Vấn đề ô nhiễm tầng khí quyển, hiệu ứng nhà kính và ô nhiễm tầng ô- zôn

Tầng ô-zôn bị suy giảm do tác động của con người gây ra là nguyên nhân tác động đến sức khoẻ con người và sự phát triển của tự nhiên Khí thải công nghiệp, khí thải của các phương tiện giao thông có động cơ, khí thoát từ các quá trình sinh học đã là nguồn chủ yếu gây ô nhiễm môi trường không khí Hậu qủa được thể hiện ở 2 dạng:

Sự thay đổi khí hậu của quả đất dẫn đễn sự mất cân bằng của hệ sinh thái Mực nước biển dân cao

+ Vấn đề ô nhiễm biển đại dương : nguyên nhân chủ yếu là do tổng chất phóng xạ có trong đại dương tăng nhiều lần, lượng dầu do tầu đắm, rò rỉ trong vận chuyển và phun ra từ giếng khai thác vào các đại dương

Các hợp chất hữu cơ, kim loại nặng , các nguồn chất thải từ đất liền đã gây ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Biển Đông cũng nằm trong tình trạng chung như các đại dương và biển khác

+ Vấn đề chuyển dịch ô nhiễm : Theo tài liệu về quy hoạch môi trường của Liên hợp quốc mỗi năm toàn cầu có 500 triệu tấn rác thải nguy hại, trong đó 98% là của các nước phát triển Việc một số nước phát triển chuyển dịch công nghệ lạc hậu và các chất thải dưới nhiều hình thức khác nhau sang các nước phát triển là một thực tế cần được chú trọng

Từ những thực trạng môi trường nói trên, công tác bảo vệ môi trường của nước ta đang phải đứng trước nhiều thử thách, trong đó nổi lên là :

+ Ý thức bảo vệ môi trường trong xã hội còn thấp Đặc biệt là chưa biến nhận thức về bảo vệ môi trường thành hành động

Trang 23

+ Bộ máy tổ chức và năng lực quản lý môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu, vừa thiếu về lực lượng vừa yêú về năng lực

+ Nhiều vấn đề môi trường bức xúc chưa được giải quyết trong khi dự báo mức độ ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng

+ Kết cấu hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường lạc hậu, nguồn lực bảo vệ môi trường của nhà nước và các doanh nghiệp đều bị hạn chế

+ Sự gia tăng dân số, di dân tự do và đói nghèo chưa được giải quyết một cách cơ bản

+ Hội nhập kinh tế đặt ra các yêu cầu ngày càng cao về môi trường và tác động của các vấn đề môi trường khu vực toàn cầu ngày càng lớn

+ Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm với yêu cầu bảo vệ môi trường chưa được xử lý đang là thách thức lớn nhất trong công tác bảo vệ môi trường

1.3 Những vấn đề chung về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

1.3.1 Khái niệm trách nhiệm pháp lý

Trong đời sống xã hội, ở những lĩnh vực khác nhau, thuật ngữ “ Trách nhiệm “ được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trong lĩnh vực hoạt động xã hội, chính trị, đạo đức, thuật ngữ “ trách nhiệm “ được hiểu theo khía cạnh

tích cực : đó là bổn phận, thái độ tích cực đối với bổn phận đó Nếu thiếu trách nhiệm sẽ bị cộng đồng xã hội đánh giá và lên án Các nghĩa của thuật ngữ trên được sử dụng trong quan hệ gia đình, bạn bè, quan hệ với tập thể, nhân dân, tổ quốc nói chung hoặc dối với toàn nhân loại

Trong lĩnh vực pháp luật „ trách nhiệm “được hiểu theo 2 nghĩa tích cực và

tiêu cực

Trang 24

+ Ở khía cạnh tích cực, khái niệm “ trách nhiệm „ có nghĩa là chức trách,

công việc được giao bao hàm cả quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định Chủ thể của trách nhiệm có bổn phận, thái độ tích cực thực hiện những quyền

và nghĩa vụ được nhà nước giao

+ Ở khía cạnh tiêu cực khái niệm “trách nhiệm” trong lĩnh vực pháp luật

được hiểu là hậu quả bất lợi (sự phản ứng mang tính trừng phạt của nhà nước)

mà cá nhân tổ chức phải hứng chịu khi thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ được giao phó Đó là khái niệm trách nhiệm truyền thống trong khoa học pháp lý và trách nhiệm pháp lý được hiểu theo nghĩa này Như vậy trách nhiệm pháp lý chỉ áp dụng đối với những hành vi đã thực hiện trong quá khứ Theo nghĩa này trách nhiệm pháp lý có những đặc điểm sau :

 Thứ nhất : Cở sở của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật Ở đâu

có vi phạm pháp luật thì ở đó có trách nhiệm pháp lý Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản sau: là hành vi có tính trái pháp luật gây thiệt hại cho xã hội, có lỗi, do chủ thể có năng lực hành vi thực hiện Các dấu hiểu ấy là nội dung cơ bản của bốn yếu tố cấu thành hành vi vi phạm pháp luật : mặt khách quan; khách thể; mặt chủ quan; chủ thể

phạm pháp luật bao gồm toàn bộ những dấu hiệu bên ngoài của nó [44, tr 338] Vi phạm pháp luật trước hết là hành vi thể hiện bằng

hành động hoặc không hành động Không thể coi là vi phạm pháp

luật trong ý nghĩ, tư tưởng, nhận thức, ý chí của con người nếu chúng không biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi cụ thể Về vấn đề này C Mác đã viết „ngoài hành vi của mình ra, tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp luật; hoàn toàn không phải là đối tượng của nó” [42, tr 19] V.I Lênin cũng khẳng định rằng hành vi của con người

Trang 25

là dấu hiệu duy nhất để đánh giá kết luận về sự suy nghĩ tâm trạng

của nó

Dấu hiệu thứ hai của mặt khách quan là tính trái pháp luật của hành

vi, tức là hành vi đó trái với yêu cầu của những quy phạm pháp luật nhất định Tính trái pháp luật dưới hình thức hành động là làm điều pháp luật cấm hoặc làm không đúng điều pháp luật cho phép, dưới hình thức không hành động là không thực hiện nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định mặc dù cấn phải và có thể thực hiện nghĩa vụ đó Những hành vi trái với quy tắc đạo đức, quy tắc xã hội nếu không đồng thời trái với pháp luật thì không phải là vi phạm pháp luật Dấu hiệu thứ ba của mặt khách quan là mọi hành vi trái pháp luật đều xâm phạm đến trật tự pháp luật, gây thiệt hại chung cho xã hội hoặc thiệt hại trực tiếp về vật chất hay tinh thần cho cho từng thành viên cụ thể của xã hội, vì vậy ở những mức độ khác nhau hành vi trái pháp luật đều nguy hiểm cho xã hội

Dấu hiệu thứ tư của mặt khách quan là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của nó, tức là thiệt hại cho xã hội xảy ra là do kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật

o Khách thể của vi phạm pháp luật : mọi hành vi trái pháp luật đều

xâm hại tới những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo

vệ, những quan hệ xã hội ấy chính là khách thể của vi phạm pháp luật Tính chất của khách thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác

định mức độ nguy hiểm của hành vi trái pháp luật

pháp luật được đặc trưng bởi yếu tố lỗi, liên quan đến lỗi là mục

đích và động cơ của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật

Trang 26

Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối hành vi trái pháp luật của mình, cũng như đối với hậu quả của hành

vi đó [44,tr 390] Lỗi được thể hiện dưới hai hình thức : lỗi cố ý và

lỗi vô ý

+ Lỗi cố ý được thể hiện dưới hai hình thức [44,tr391]:

- Lỗi cố ý trực tiếp : Chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả

thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, nhưng mong muốn điều đó xảy ra

- Lỗi cố ý gián tiếp : Chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả

thiệt hại cho xã hội do hành vi của mình gây ra, tuy không mong muốn nhưng để mặc nó xảy ra

+ Lỗi vô ý được thể hiện dưới hai hình thức [ 44, tr 391] :

- Lỗi vô ý do quá tự tin : chủ thể vi phạm nhận thấy trước được

hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành vi của gây ra, nhưng hy vọng, tin tưởng điều đó không xảy ra

- Lỗi vô ý do cẩu thả: Chủ thể vi do khinh xuất, cẩu thả mà

không nhận thấy trước được hậu quả thiệt hại cho xã hội do hành

vi của mình gây ra, mặc dù có thể nhận thấy và cần phải nhận thấy

Liên quan đến lỗi là động cơ và mục đích của chủ thể vi phạm Động

cơ là lý do thúc đẩy chủ thể thục hiện hành vi vi phạm pháp luật Mục đích là kết quả mà chủ thể muốn đạt được khi thực hiện vi phạm [44, tr

391]

o Chủ thể vi phạm pháp luật : Đó là cá nhân hoặc các tổ chức thực hiện

hành vi vi phạm pháp luật Chủ thể của vi phạm pháp luật phải là người

có năng lực hành vi Năng lực hành vi trách nhiệm pháp lý của con người

Trang 27

phụ thuộc vào độ tuổi, tình trạng sức khoẻ và tuỳ theo từng loại trách nhiệm pháp lý mà năng lực hành vi được pháp luật quy định cụ thể

Tóm lại bốn yếu tố cấu thành của vi phạm pháp luật là căn cứ thực tế để truy cứu trách nhiệm pháp lý Điều đó có nghĩa là trách nhiệm pháp lý chỉ áp dụng đối với các chủ thể nhận thức được hành vi của mình, có khả năng và điều kiện tự lựa chọn cho mình cách xử sự phù hợp mà pháp luật quy định nhưng vẫn làm trái điều đó Nói cách khác, chủ thể của trách nhiệm pháp lý chỉ có thể là những các cá nhân hoặc tổ chức có năng lực hành vi và có lỗi trong việc vi phạm các yêu cầu của pháp luật

 Thứ hai : Trách nhiệm pháp lý chứa đựng những yếu tố lên án của nhà nước và xã hội đối với chủ thể vi phạm pháp luật, là sự phản ứng của nhà nước đối với vi phạm pháp luật

Đặc điểm này thể hiện nội dung của trách nhiệm pháp lý, xuất phát từ đặc điểm này mà trách nhiệm pháp lý được coi là phương tiện tác động có hiệu quả tới chủ thể vi phạm pháp luật Vì vậy về mặt hình thức, trách nhiệm pháp

lý là việc thực hiện các chế tài pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật thông qua hoạt động tài phán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và việc chủ thể vi phạm phải thực hiện chế tài đó Như vậy trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật cuối cùng có nghĩa là sự thực hiện các chế tài của quy phạm pháp luật, tức là bao gồm từ hoạt động điều tra, xem xét, ra quyết định áp dụng chế tài cũng như cách thức, trình tự áp dụng nó, cho đến việc tổ chức thực hiện quyết định Mặc khác, trách nhiệm pháp lý không phải

là sự áp dụng chế tài bất kỳ, mà chỉ là áp dụng các chế tài có tính chất trừng phạt hoặc chế tài bồi thường vật chất, các chế tài có tính chất khôi phục lại quyền đã bị xâm phạm, bảo vệ trật tự pháp luật Các chế tài đặc trưng cho trách nhiệm pháp lý là chế tài hình sự, dân sự, hành chính, kỷ luật

Trang 28

 Thứ ba : Trách nhiệm pháp lý liên quan mật thiết với cưỡng chế nhà nước

Khi vi phạm pháp luật xảy ra thì lúc đó giữa chủ thể vi phạm pháp luật và

cơ quan nhà nước sẽ xuất hiện một loại quan hệ trong đó việc cơ quan nhà nước xác định biện pháp cưỡng chế và áp dụng các biện pháp đó Nhưng không phải biện pháp tác động nào có tính cưỡng chế trong trường hợp này đều là biện pháp trách nhiệm pháp lý, mà biện pháp trách nhiệm pháp lý là những biện pháp mang tính trừng phạt, tức là tước đoạt, làm thiệt hại ở một phạm vi nào đó các quyền tự do, lợi ích hợp pháp mà chủ thể vi phạm pháp luật đáng được hưởng ( như phạt tiền, phạt tù ) và các biện pháp khôi phục pháp luật thường áp dụng kèm theo biện pháp trừng phạt (như bồi thường thiệt hại vật chất và tính thần nhằm khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp

đã bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại) Như vậy biện pháp trách nhiệm pháp lý chỉ là một loại biện pháp cưỡng chế của nhà nước, chỉ áp dụng khi có

vi phạm phạm pháp luật xảy ra và tính chất trừng phạt hoặc khôi phục pháp luật

 Thứ tư : Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản lý nhà nước, toà án v.v )

Đặc điểm này xuất phát từ quan hệ không tách rời giữa trách nhiệm pháp

lý và nhà nước Điều đó có nghĩa là Nhà nước ( thông qua cơ quan có thẩm quyền) mới có thẩm quyền xác định một cách chính thức hành vi nào là vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể gây ra vi phạm đó

Tóm lại trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước ( thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền ) và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó nhà nước ( thông qua cơ quan có thẩm quyền ) có quyền

Trang 29

áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở các chế tài quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm và chủ thể đó có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra [44, tr

 Theo nghĩa tích cực thì trách nhiệm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

được hiểu vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả các tổ chức,

cá nhân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Điều này có nghĩa là mọi tổ chức,

cá nhân phải có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường; có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ phát hiện,

tố cáo hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường

Đối với các tổ chức sản xuất- kinh doanh bên cạnh quyền được kinh doanh

và bảo đảm các điều kiện cần thiết theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường để hoạt động kinh doanh như ; được nhà nước khuyến khích đầu tư dưới nhiều hình thức, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào bảo vệ và cải thiện môi trường; sử dụng, khai thác lâu bền các thành phần môi trường và các hệ sinh thái; được nhà nước bảo vệ quyền lợi hợp pháp để tham gia đầu tư, cải thiện môi trường; nghiên cứu khoa học và công nghệ về bảo

vệ môi trường; phổ cập khoa học về kiến thức môi trường v.v thì còn có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật

về đánh giá tác động môi trường; bảo đảm thực hiện đúng tiêu chuẩn môi trường, phòng chống khắc phục suy thoái ô nhiễm môi trường, sụ cố môi trường; đóng góp tài chính về bảo vệ môi trường; bồi thường thiệt hại do có

Trang 30

hành vi gây tổn hại môi trường theo quy định của pháp luật; cung cấp đầy đủ

và tạo điều kiện cho các đoàn kiểm tra, thanh tra về môi trường hoạt động

Đối với Nhà nước thì trách nhiệm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chính

là trách nhiệm thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường, bên cạnh đó Nhà nước còn phải có trách nhiệm tạo điều kiện về cở sở vật chất để các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền về bảo vệ môi trường

Theo luật pháp Việt nam thì trách nhiệm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

theo nghĩa rộng có thể được chia thành những nhóm quyền và nghĩa vụ cụ thể sau :

+ Quyền, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, phổ biến kiến thức khoa học về bảo vệ môi trường Vấn

đề này được quy định tại các Điều 4 Luật bảo vệ môi trường năm 1993 “ Nhà nước có trách nhiệm thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học

và công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động này “

Với tư cách là văn bản luật chuyên nghành, luật Khoa học và công nghệ năm 2000 cũng đã quy định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện công tác giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ về bảo vệ môi trường, cụ thể tại các điều 3,7,9,10,13,,15,16,17,

Trang 31

hoá Điều 29 Hiến pháp 1992, nhằm nâng cao hiệu lục quản lý Nhà nước và chính quyền các cấp, các tổ chứuc kinh tế - xã hội, đơn vị vũ trang và mọi cá nhân trong việc bảo vệ môi trường nhằm vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành Điều 10 Luật bảo vệ

môi trường quy định : “ tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện việc phòng, chống suy thoái môi trường, sự cố môi trường “

Ngoài ra vấn đề này còn được quy định tại các tại khoản 3 Điều 75, khoản

5 Điều 77, khoản 5 Điều 107 v.v của Luật đất đai năm 2003

Điều 4,6,7,20,21,25,26,27,30,31,35,38, 43 vv Luật thuỷ sản 2003 Điều 4

quy định : “ bảo đảm hiệu quả kinh tế gắn với việc bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thuỷ sản, tính đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan thiên nhiên”

Điều 4,10,13,16, 33,36,37, 41, 42.v.v của Luật xây dựng năm 2003

+ Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ, khai thác các nguồn lợi động vật, đa dạng sinh học, rừng, biển và hệ sinh thái Đây là một vấn đề hết sức quan trọng, vừa mạng tính thời sự, vừa mang tính lâu dài trong chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam Xác định tầm quan trọng của vấn đề này Điều 12 Luật bảo vệ môi

trường đã quy định : “ Tổ chức, cá nhân cá trách nhiệm bảo vệ các giống, các loài thực vật, động vật hoang dã, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo vệ rừng, biển và hệ sinh thái “

Điều này còn được quy định tại Điều 4,6,7,20,21 v.v Luật thuỷ sản năm

Trang 32

tế; bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tầu về ô nhiễm môi trường của tàu biển Việt Nam và tàu biển nước ngoài “

Điều 40,41,42,59,60 v.v Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 quy định rất rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động bảo

vệ và phát triển rừng

+ Quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khai thác đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, thuỷ sản; trong việc bảo vệ nguồn nước, vệ sinh công cộng ở nông thôn; trong sản xuất kinh doanh

Cùng với việc được quyền khai thác đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp; được sử dụng các nguồn nước, hệ thống cấp nước, thoát nước v.v thì theo quy định của pháp luật kinh doanh để sản xuất, kinh doanh và phục vụ đời sống sinh hoạt của mình, tổ chức, công dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường Điều này được quy định tại các Điều 14,15,16 Luật bảo vệ môi trường năm 1993

Khoản 5 Điều 107 Luật đất đai năm 2003

Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 5 Điều 26, khoản 1 điều 31 của Luật thuỷ sản năm 2003

Khoản 3 Điều 4, khoản 5 Điều 10, Điều 16 Luật xây dựng 2003

Theo nghĩa tiêu cực thì trách nhiệm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được

hiểu là hậu quả bất lợi ( sự phản ứng mang tính trừng phạt của nhà nước ) mà

cá nhân hoặc tổ chức phải gánh chịu khi không thực hiện hay thực hiện không đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường, tức là khi các cá nhân, tổ chức vi phạm trách nhiệm hiểu theo khía cạnh tích cực hoặc khi cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

và khái niệm trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được hiểu

theo nghĩa này

Trang 33

Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là một loại quan

hệ pháp luật giữa nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền ) với chủ thể

vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó Nhà nước ( thông qua cơ quan có thẩm quyền ) có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở các chế tài quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đối với chủ thể vi phạm và chủ thể có nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi do hành vi của mình gây ra

Các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật môi trường phải chịu trách nhiệm pháp lý trước nhà nước, trước cộng đồng hoặc cá nhân bị thiệt hại Việc áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật môi trường một mặt buộc người vi phạm phải gánh chịu những hậu qủa pháp lý nhất định do hành vi vi phạm pháp luật gây ra, mặt khác ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật từ phía những người khác Trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với chủ thể vi phạm là bộ phận cấu thành không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật nói chung và pháp luật môi trường nói riêng

1.3.3 Các dấu hiệu đặc trưng của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là một loại trách nhiệm pháp lý nói chung nên nó cũng có những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý, ngoài ra nó còn có những đặc trưng riêng, thể hiện cụ thể qua các khía cạnh sau :

 Thứ nhất : Đối tượng của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ

môi trường là rất rộng Theo điều 2 khoản Luật bảo vệ môi trường thì môi

trường bao gồm các yếu tố : “ không khí, nước, dất, âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, sông, hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh tháí, các khu dân cư, khu sản

Trang 34

tích lịch sử và các hình thái vật chất khác “ Tương ứng với mỗi yếu tố tạo

nên môi trường, pháp luật có những quy định khác nhau quy định nghĩa vụ

mà tổ chức, cá nhân phải thực hiện nhằm bảo vệ môi trường và trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định Vấn đề đặt ra là trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chúng ta không thể tách từng thành phần môi trường ra để bảo vệ một cách riêng lẻ, cũng không chỉ tuân thủ một quy định về bảo vệ môi trường đất, nước hay không khí mà phải thực hiện đồng thời tất cả các quy định về bảo vệ môi trường, trong khi đó bất kỳ hoạt động nào của con người (sinh hoạt hàng ngày hoặc sản xuất kinh doanh) đều tác động đến môi trường vì vậy để xác định hành vi nào là vi phạm nghĩa vụ trong bảo vệ môi trường là rất khó

 Thứ hai : Việc xác định hành vi cũng như mối quan hệ nhân quả giữa

hành vi và hậu quả để từ đó có cơ sở xác định trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là rất khó khăn, vì hành vi vi phạm pháp luật môi trường đa số chưa để lại hậu quả trực tiếp ngay lập tức mà thông thường phải qua một thời gian rất dài, do đó việc tính toán mức độ thiệt hại rất phức tạp, khó xác định được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt xảy

ra Trên thực tế thì khó có thể có công thức chung để tính toán một cách đầy

đủ mức độ gây thiệt hại của hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

để từ đó có cơ sở xác định trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm, ví dụ : hành vi thải hoá chất độc hại vào nguồn nước, không phải khi nào cũng gây hậu quả ngay lập tức, mà hậu quả có thể xảy ra sau một thời gian dài sử dụng nguồn nước có hoá chất độc hại đó như : ung thư, bệnh ngoài da, bệnh đường

hô hấp Mặc khác việc xác định mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật môi trường gây ra đòi hỏi phải có một quá trình phức tạp, cho nên một cá nhân thông thường thì khó có thể phát hiện ra mà việc xác định vi phạm và

Trang 35

tính chất của vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường thường được xác định thông qua hoạt động thanh tra

 Thứ ba : Cơ sở để xác định hành vi trái pháp luật của các chủ thể khi

tác động đến môi trường là hệ thống tiêu chuẩn môi trường Mọi hành vi bị coi là vi phạm pháp luật môi trường khi nó làm ô nhiễm môi trường suy thoái môi trường tức là thay đổi thành phần môi trường, làm cho môi trường vượt quá những tiêu chuẩn quy định, tức là những chỉ số mà pháp luật chấp nhận được căn cứ vào ảnh hưởng của chúng tới sức khoẻ của con người và hệ sinh thái Do vậy nếu pháp luật chưa quy định tiêu chuẩn môi trường cho một khu vực nhất định thì một hành vi làm thay đổi môi trường theo chiều hướng xấu

đi ở khu vực đó khó có thể bị coi là hành vi gây ô nhiễm môi trường và khó

có cơ sở để buộc các chủ thể đó chịu trách nhiệm pháp lý

Tiêu chuẩn môi trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tiêu chuẩn môi

trường vừa được xem là công cụ kỹ thuật, vừa là công cụ pháp lý giúp nhà nước quản lý môi trường Trên cơ sở các tiêu chuẩn môi trường, nhà nước mới có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn và khắc phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm và xử lý kịp thời các vi phạm môi trường, còn các tổ chức

cá nhân có quyền được biết họ đang sống trong điều kiện môi trường như thế nào? được phép tác động đến môi trường như thế nào?

Theo nghĩa rộng, tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức môi trường, trong đó gồm tất cả những thông số thành phần của môi trường được coi là trong sạch [43,tr 67 ] Những chuẩn mực này được xây dựng phù hợp với

cuộc sống của con người và có những phương phát nhất dịnh để xác định chúng

Theo Luật Bảo vệ môi trường 1993 (Khoản 7, Điều 2) thì “ Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm

Trang 36

Những chuẩn mức, những giới hạn cho phép được hiểu là mức độ hoặc phạm vi chất ô nhiễm nhất định trong các thành phần môi trường mà nhà nước thấy chấp nhận được vì chưa đến mức nguy hiểm cho con người, hoặc

đã giới hạn an toàn để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai Những chuẩn mực và giới hạn cho phép được nhà nước dùng làm căn cứ để kiểm soát ô nhiễm môi trường, đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo tình hình môi trường, thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường và xác định trách nhiệm pháp lý đối với người

có hành vi vi phạm pháp luật môi trường Tiêu chuẩn môi trường được hiểu chính là những quy tắc xử sự được nhà nước ban hành để điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình khai thác, sử dụng các yếu tố khác nhau của môi trường [43,tr69]

 Thứ tư : Việc xác định lỗi của nhiều chủ thể khi tác động đến môi

trường, một trong những cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý của các chủ thể vi phạm là rất khó, VD : đối với một khu công nghiệp chất thải của một nhà máy vào môi trường được xác định là không vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nhưng chất thải của nhiều nhà máy gộp lại sẽ làm cho nồng độ các chất thải vào không khí, chất độc thải vào nguồn nước cao hơn nhiều so với mức

độ cho phép Vậy lỗi của các nhà máy này đến đâu và có buộc tất cả các nhà máy này chịu trách nhiệm pháp lý không ? Trên thực tế thì những trường hợp này mức độ gây ô nhiễm môi trường cũng như suy thoái là rất lớn, nhưng không có đủ cơ sở để buộc các chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý

 Thứ năm : Các hành vi vi phạm pháp luật môi trường thường được thể

hiện các dạng sau đây :

- Không thực hiện các quy định đánh giá tác động môi trường như không nộp hoặc nộp không đúng thời hạn quy định báo cáo đánh giá tác động môi

Trang 37

trường, không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các yêu cầu ghi tại phiếu thẩm định hoặc giấy phép môi trường

- Vi phạm quy định về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên như vi phạm

về khai thác, kinh doanh động thực vật quý hiếm; vi phạm về bảo vệ đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên

- Vi phạm các quy định về xuất, nhập khẩu công nghệ, thiết bị, hoá chất độc hại

- Vi phạm các quy định trong việc bảo quản và sử dụng các chất dễ gây ô nhiễm như vi phạm về phòng trách sự cố môi trường trong tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí, vi phạm quy định về bảo vệ chất phóng xạ

- Vi phạm các quy định về vệ sinh công cộng như vi phạm về vận chuyển

và xử lý chất thải, rác thải,vi phạm quy định về tiếng ồn, độ rung

 Thứ sáu : Hậu quả của các hành vi vi phạm pháp luật môi trường

thường là dẫn đến ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và có thể gây sự

cố môi trường Do vậy thông thường muốn xác định trách nhiệm pháp lý của một hành vi trái pháp luật môi trường thì còn cần phải xem đến các hậu quả của hành vi đó có làm ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường hay là nguyên nhân gây nên sự cố môi trường hay không?

Ô nhiễm môi trường là một khái niệm có nhiều nghĩa, dưới góc độ sinh học thuần tuý thì khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ số hoá, lý của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi [ 43,tr127] Ô nhiễm

là một khái niệm rất khó định nghĩa về mặt sinh học nên định nghĩa về mặt pháp lý cũng khó được xây dựng một cách chính xác Pháp luật nhiều nước đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về ô nhiễm VD : đạo luật bảo vệ môi trường

năm 1986 của bang Western – Austraylia định nghĩa “ Ô nhiễm là bất cứ sự thay đổi trực tiếp hay gian tiếp của môi trường theo chiều hướng xấu đi hay

Trang 38

những định nghĩa về ô nhiễm môi trường dưới những cách thức diễn đạt khác nhau Ở nước ta khái niệm ô nhiễm môi trường được định nghĩa tại khoản 4

điều 2 Luật bảo vệ môi trường “ Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường” Căn cứ vào tiêu chuẩn

nêu trong định nghĩa trên thì chúng ta thấy rằng không phải bất cứ hành vi nào làm thay đổi tính chất của môi trường (tức là làm thay đổi tính chất lý, hoá, sinh học của môi trường) đều bị coi là hành vi làm gây nhiễm môi trường

và phải chịu trách nhiệm pháp lý Ví dụ : hành vi đốt rạ ở những cách đồng chắc chắn sẽ làm không khí ở đó có sự thay đổi Tuy nhiên hành vi này chưa thể bị coi là hành vi làm ô nhiễm môi trường Để một hành vi tác động đến môi trường bị coi là gây ô nhiễm môi trường thì hành vi đó phải đạt 2 tiêu chí

đó là: làm thay đổi tính chất môi trường, đồng thời phải vi phạm tiêu chuẩn môi trường

Khái niệm suy thoái môi trường được định nghĩa tại khoản 5 điều 2 Luật

bảo vệ môi trường của nước ta “ Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên “

Mọi hành vi bị coi là gây ra suy thoái môi trường hoặc một môi trường bị coi là suy thoái khi có đầy đủ các dấu hiệu sau :

- Số lượng và chất lượng của thành phần môi trường thay đổi: sự thay đổi này phải đồng thời là sự thay đổi về cả số lượng và chất lượng của thành phần môi trường VD : số lượng rừng bị giảm do hành vi khai thác quá mức cho phép làm giảm chất lượng đa dạng của sinh học

- Gây ảnh hưởng xấu cho đời sống con người và thiên nhiên : sự thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường phải là nguyên nhân gây ra tình trạng xấu đi của đời sống con người và thiên nhiên VD : những thay đổi

về số lượng chất lượng không khí hoặc sự thay đổi số lượng, chất lượng tài

Trang 39

nguyên khoáng sản có ảnh hưởng đến sức khoẻ, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của con người hoặc làm cho môi trường bị huỷ hoại

Khái niệm sự cố môi trường được định nghĩa tại khoản 6 điều 2 Bộ luật

bảo vệ môi trường của nước ta là “ các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây

ra suy thoái môi trường nghiêm trọng “ Sự cố môi trường xảy ra có thể do

nhiều nguyên nhân khác nhau song trước hết phải kể đến sự tác động của con người Các sự cố môi trường nghiêm trọng nhất trong lịch sử con người là do con người gây ra như : những vụ đắm tàu chở dầu, những vụ nổ lò phản ứng hạt nhân, những cơn mưa axít

Ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường đều là những hiện tượng ảnh hưởng xấu đến môi trường và thường có chung hậu quả là làm xấu đi điều kịên sống của con người và hệ sinh thái Sự khác nhau về 3 hiện tượng này chính là cấp độ và hậu quả

Ô nhiễm môi trường thường làm cho môi trường xấu đi tính chất của môi trường so với những tiêu chuẩn mà pháp luật xác định Tuy nhiên sự xấu đi này chưa gây ảnh hưởng đến đời sống con người và thiên nhiên Có thể nói sự

ô nhiễm môi trường là sự biến đổi từ từ tính chất của môi trường và hậu quả của nó chưa phải đến mức nặng nề và trực tiếp Nếu gây ô nhiễm môi trường

là sự thay đổi tính chất môi trường vượt quá tiêu chuẩn quy định thì suy thoái môi trường là sự thay đổi về chất lượng, số lượng của môi trường kèm theo hậu quả xấu đối với đời sống con người và thiên nhiên Như vậy hành vi gây suy thoái môi trường xét về hậu quả là nguy hại hơn so với hành vi gây ô nhiễm môi trường và được coi là hành vi vi phạm pháp luật ở mức độ cao hơn Sự cố môi trường là tai biến gây hậu quả nghiêm trọng tới môi trường

Sự cố môi trường bản thân chúng không phản ánh hiện trạng của môi trường

Trang 40

trường gây ảnh hưởng nghiêm trọng Hậu quả môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng là tiêu chí quan trọng để phân biệt sự cố môi trường với suy thoái môi trường và ô nhiễm môi trường Trong trường hợp ô nhiễm môi trường và suy thoái môi trường thì giữa hành vi của chủ thể với hậu quả có mối quan hệ trực tiếp Trong sự cố môi trường, chủ thể không tác động đến môi trường một cách trực tiếp mà thông qua sự cố Chính vì lẽ đó khi tiến hành xác định trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đối với sự suy thoái môi trường do các sự cố mang lại thì mối quan hệ nhân quả giữa hành vi con người, sự cố và hậu quả là vấn đề có ý nghĩa quan trọng Nếu sự cố do con người gây ra thì môi liên hệ này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định trách nhiệm pháp lý Nếu sự cố do thiên nhiên gây ra thì mối liên hệ này có ý nghĩa giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của chủ thể

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
39. Các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường và bồi thường thiệt hại về môi trường Song ngữ, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.* Các tài liệu chuyên môn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường và bồi thường thiệt hại về môi trường Song ngữ
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 1995
42. CMác - Ăngghen. Tuyển tập, tập 1 . NXB Sựthật Hà Nội, 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 1
Tác giả: CMác - Ăngghen
Nhà XB: NXB Sựthật Hà Nội
Năm: 1980
50. Phương hướng hoàn thiện chương “Các tội phạm về môi trường” trong Bộ Luật hình sự 1999. Tạp chí kiểm sát số 1/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội phạm về môi trường
52. Luật môi trường quốc tế - Bài giảng của Giáo sư Gillian Triggs, Khoa luật, Đại học tổng hợp Melbourn - Victoria - Australia tại Dự án TA N 0 2853 VIE tháng 3 năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật môi trường quốc tế - Bài giảng của Giáo sư Gillian Triggs
Tác giả: Gillian Triggs
Nhà XB: Khoa luật, Đại học tổng hợp Melbourn - Victoria - Australia
Năm: 1999
1. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 Khác
2. Bộ luật dân sự của nước CHXHCN Việt Nam đợc Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995 Khác
7. Luật dầu khí năm1993 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật dầu khí năm 2000 Khác
9. Luật khuyến khích đầu tư trong nước ( sửa đổi) năm 1998 Khác
12. Luật dầu tư nước ngoài tại Việt Nam ( sử đổi) năm 2000 Khác
16. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm2004 Khác
19. Pháp lệnh chất lượng hàng hoá năm 2000 Khác
20. Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật năm 2001 Khác
21. Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 Khác
22. Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 Khác
23. Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân năm 2003 Khác
25. Pháp lệnh giống cây trồng 2004 Pháp lệnh thú y năm 2004 Khác
26. Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường Khác
27. Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo vệ và phạt triển bền vững vùng ngập nước Khác
28. Nghị định số 70/2003/NĐ-CP ngày 17/6/2003 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản Khác
29. Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w