Với địa hình đa dạng như vậy, Hà Nam cũng có một số lượng khá lớn những tác phẩm văn học dân gian, gồm nhiều loại hình, thể loại khác nhau: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, gi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG ANH
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CỦA CA DAO HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học dân gian
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG ANH
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CỦA CA DAO HÀ NAM
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60.22.01.25
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Phạm Thu Yến
Hà Nội – 2012
Trang 3Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀ NAM VÀ VĂN HỌC
DÂN GIAN HÀ NAM TRONG CÁI NHÌN ĐỊA – VĂN HOÁ
14
1.6 Về mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao lưu
Chương 2 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA CA DAO
LƯU TRUYỀN Ở HÀ NAM TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN TỪ
34
Chương 3 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO
LƯU TRUYỀN Ở HÀ NAM TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN TỪ
Trang 43.5 Tính chất trào lộng 85
Chương 4 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM DIỄN XƯỚNG
CỦA CA DAO LƯU TRUYỀN Ở HÀ NAM
89
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc bộ rộng lớn, phía bắc giáp Hà Tây (cũ), đông giáp Hưng Yên, Thái Bình, đông nam giáp Nam Định, Ninh Bình Địa hình của Hà Nam đa dạng, nằm trong vùng tiếp giáp giữa vùng đồng bằng sông Hồng và dải đá trầm tích phía tây, vừa có đồng bằng, vừa có vùng bán sơn địa và vùng trũng Với địa hình đa dạng như vậy, Hà Nam cũng có một số lượng khá lớn những tác phẩm văn học dân gian, gồm nhiều loại hình, thể loại khác nhau: truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, giai thoại, tục ngữ, phương ngôn, vè, ca dao… Trong các thể loại văn học dân gian đó, ca dao là một thể loại tiêu biểu Ca dao Hà Nam phản ánh nội dung nhiều mặt cuộc sống của người dân, độc đáo
về nghệ thuật biểu đạt Bên cạnh ngôn từ giàu sức biểu cảm, các làn điệu dân
ca Hà Nam: hát Dậm, hát Lải Lèn, hát giao duyên ngã ba sông Móng, hát Trống quân trên thuyền…đã làm say đắm lòng người bao thế hệ
Một phần văn học dân gian Hà Nam đã được các nhà văn hoá địa phương sưu tầm, biên soạn, chú giải, giới thiệu qua một số công trình nghiên cứu Song do nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan, mà các nhà nghiên cứu, sưu tầm văn hoá dân gian chưa đưa ra một “bức tranh” tổng thể, đa chiều về ca dao lưu truyền ở Hà Nam Nghiên cứu ca dao lưu truyền ở Hà Nam một cách toàn diện là một việc làm công phu, cần thiết và rất có ý nghĩa Nó giúp bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc Hà Nam
có thêm những hiểu biết về quê hương mình, cảm thông được nỗi khổ niềm đau, tình yêu, ước vọng của cha ông, bà con mình trong quá khứ; có cái nhìn toàn diện và quan tâm đúng mức tới văn học dân gian Hà Nam nói chung, ca dao lưu truyền ở Hà Nam nói riêng
Là người con của quê hương Hà Nam giàu truyền thống văn hoá, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở Hà Nam, người viết mong muốn được tìm hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn ca dao lưu truyền ở Hà Nam, góp một phần nhỏ bé vào việc bảo tồn, phát huy vốn văn hoá dân gian do cha ông mình sáng tạo nên
Hà Nam” làm đề tài khảo sát cho luận văn của mình
2 Lịch sử vấn đề
Ca dao lưu truyền ở Hà Nam là đối tượng, đề tài của khá nhiều công trình nghiên
Trang 7cứu xưa và nay Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có những công trình, bài viết có liên quan đến đề tài mà chúng tôi khảo sát Xin được dẫn những công trình, bài viết có liên quan đến đề tài:
- Trong cuốn Dân ca hát Dậm Hà Nam, Sở văn hoá thông tin Hà Nam, 1998,
Trọng Văn nhận định: “Hát Dậm Quyển Sơn là một loại hình dân ca riêng biệt của Hà
Nam Đây là một hình thức ca múa nhạc phục vụ cho lễ hội có từ thời Lý Vào năm 1069 (Kỉ Dậu) Lý Thường Kiệt sau khi thắng Chiêm Thành trở về trú quân ở Quyển Sơn, Người cho mở hội mừng chiến thắng Những cô gái thanh tân múa hát ca ngợi chiến công đánh giặc giữ nước, ca ngợi quê hương đất nước và sau này phát triển thêm cả việc truyền tụng những kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi Sau khi thắng Chiêm Thành, có thể
Lý Thường Kiệt đã mang theo về cả vũ nữ và nô lệ miền trong, vì vậy mà giai điệu hát Dậm có những nét văn hoá Chàm”
- Trong Dân ca Hà Nam, Sở văn hoá thông tin Hà Nam, 2000, Phạm Trọng Lực đã giới thiệu 13 làn điệu trong hai nguồn dữ liệu dân ca Hà Nam: hát Dậm
Quyển Sơn, Hát giao duyên vùng ngã ba sông Móng Tác giả nhận định: “Nhiều
thập kỷ qua, những làn điệu dân ca này luôn được giới thiệu trong các chương trình
ca nhạc cổ truyền của Đài tiếng nói Việt Nam và đài truyền hình Trung ương, nên nhiều bạn yêu dân ca đã có dịp được thưởng thức Thực tiễn cho thấy, dân ca Hà Nam đã thu hút được sự chú ý của đông đảo khán giả, mang đến nhiều giai điệu đặc sắc và hấp dẫn cho những đêm ca nhạc Những làn điệu hát Dậm Quyển Sơn được kết hợp với nghệ thuật múa dân gian trong lễ hội đền Trúc, có nội dung ca ngợi công lao của Lý Thường Kiệt, tái hiện cuộc hành quân và cảnh đón mừng đại quân nhà Lý bình Chiêm trong thắng lợi trở về trên dòng sông Đáy Sinh động và cụ thể, hát Dậm còn thể hiện khát vọng hạnh phúc, ca ngợi đời thường nên chất trữ tình là
âm hưởng chủ đạo trong nhiều làn điệu Nằm ở lưu vực sông Châu, dân ca ngã ba sông Móng mang đặc điểm chung của dân ca đồng bằng Bắc bộ và đặc điểm riêng của vùng chiêm trũng Hà Nam Những làn điệu dân ca này có cội nguồn từ hát đối,
về sau chất trữ tình nổi trội hơn, gắn liền với sinh hoạt xã hội, ngày càng phổ biến, được ưa dùng trong sinh hoạt tập thể, trong các ngày hội dân gian Có làn điệu được cảm hứng từ câu chuyện dã sử về tình yêu đôi lứa còn lưu truyền trong nhiều thế hệ những người yêu dân ca tỉnh Hà Nam và các vùng lân cận”
- Bài viết Tìm hiểu về môn vật cổ truyền qua ca dao, tục ngữ Liễu Đôi, in
trên tạp chí Văn hoá thông tin Hà Nam số 13/2000, Kim Thanh đã khẳng định: “Võ
Trang 8vật cổ truyền hầu như đã trở thành môn thể thao phổ biến ở nhiều địa phương trong
cả nước, nhưng môn thể thao truyền thống này được đúc kết thành ca dao, tục ngữ một cách phong phú thì vùng Liễu Đôi được coi là một nơi độc đáo Trong kho tàng văn hoá Liễu Đôi, ca dao tục ngữ nói về môn vật chiếm một vị trí xứng đáng và có những nét rất riêng biệt”
- Cuốn Văn nghệ dân gian Hà Nam, Hội văn học nghệ thuật Hà Nam, 2000, Bùi Văn Cường, Mai Khánh, Lê Hữu Bách đã rất dày công sưu tầm những câu phương ngôn, ca dao, dân ca, vè Hà Nam “nguyên chất” vốn lang thang tản mát, nổi chìm cùng kiếp sống người đồng chiêm - chủ nhân của chúng Khi sưu tầm, các tác giả mong
muốn: “…khi nó đến tay bạn đọc, đặc biệt là bạn đọc người Hà Nam, đang sống trên
đất Hà Nam hoặc đang xa quê, tận chân trời góc biển nào đó, đọc cũng sẽ có dịp gặp lại quê hương, hiểu kỹ, hiểu sâu quê hương mình…”
- Bài viết Đôi nét về làng nghề ở Hà Nam qua ca dao, tục ngữ, tạp chí Văn hoá
thông tin số 14/2000, Hồng Ngát đã “giới thiệu với bạn đọc phần nào trữ lượng ca dao
về sản vật làng nghề và hàng chợ xưa trên đất Hà Nam” Qua bài viết này bạn đọc thấy
được sự đa dạng của các làng nghề ở Hà Nam Nhiều làng nghề truyền thống vẫn duy trì, nhiều ngành nghề mới phát triển trong cơ chế mới Điều này đã tạo nên một bức tranh đa sắc sinh động trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Hà Nam
- Nghệ nhân Trịnh Thị Răm với dân ca truyền thống Hà Nam, khoá luận,
khoa Văn học Trường Đại học KHXH & NV, 2005, Trịnh Thị Quyên khẳng định:
“Nếu chỉ nghiên cứu dân ca về mặt văn học thì không thấy hết được giá trị của dân
ca Dân ca còn được biểu diễn và biểu diễn trong khung cảnh đặc biệt của nó: trong cảnh sinh hoạt văn nghệ của nhân dân từng địa phương Trong dân ca, bộ môn nọ gắn liền với bộ môn kia như môi với răng…Dân ca là sự tổng hợp của nhiều yếu tố ngôn ngữ, âm thanh, nhịp điệu…Dân ca được biểu diễn, trong đó có thanh nhạc, khí nhạc, múa và sân khấu cộng với trang trí thích ứng có giá trị khác hẳn với bản dân ca chỉ ghi bằng nốt nhạc hay lời văn” “Những làn điệu dân ca phổ biến ở mọi miền đất nước, hay trong khu vực đồng bằng Bắc bộ như hát ru con, hát trống quân, hát đối đáp nam nữ, nhưng vẫn mang hồn sắc riêng của mảnh đất và con người đồng chiêm trũng Hà Nam Đặc biệt nhắc tới dân ca truyền thống Hà Nam, người ta không thể không nhắc tới những làn điệu hát Dậm nổi tiếng ở làng Quyển Sơn, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng Đó là thể loại hát múa dân gian có lịch sử, tính chất, đặc điểm rất riêng so với hệ thống dân ca vùng châu thổ sông Hồng”
Trang 9“Dân ca truyền thống của dân tộc nói chung và của Hà Nam nói riêng thuộc di sản văn hoá phi vật thể, là kết quả của cộng đồng cùng sáng tạo, ban đầu được lưu giữ chủ yếu trong trí nhớ nhân dân Mọi công đoạn phổ biến sáng tạo, bổ sung, truyền dạy được thực hiện thông qua hoạt động thực hành… Công lao của các vị nghệ nhân vô cùng to lớn Chúng ta phải cảm ơn những nghệ nhân như nghệ nhân Trịnh Thị Răm, bởi chính nhờ các vị mà trải qua bao nhiêu sóng gió thăng trầm của lịch sử, vốn văn hoá dân gian vẫn được lưu giữ đến ngày nay”
- Khảo cứu về lễ hội hát Dậm, NXB Thế giới, 2006, tác giả Lê Hữu Lê đã giúp độc giả hình dung một cách tương đối đầy đủ về diện mạo, quy luật tồn tại, phát triển của hát Dậm, gồm hàng loạt vấn đề như: nguồn gốc nảy sinh; quá trình vận động; quy trình lễ hội; đặc điểm diễn xướng; cách vận dụng tục ngữ, ca dao, phương ngôn để đặt lời, đặt câu
- Ẩm thực bình dân qua ca dao, dân ca và phương ngôn Hà Nam, Tạp chí Văn hoá thông tin Hà Nam số 4/2007, Thanh Vân giới thiệu sơ lược hương vị ẩm thực ít nhiều mang tính đặc sản của người bình dân Hà Nam qua ca dao, dân ca
- Nghề làng, hàng chợ trong ca dao Hà Nam xưa, tạp chí Văn hoá thông tin
Hà Nam số 4/2007, Đình Nguyễn đã khảo sát, thống kê, giới thiệu những bài ca dao
về sản vật làng nghề và hàng chợ xưa trên đất Hà Nam
- Nghiên cứu vùng văn hoá dân gian Liễu Đôi (Hà Nam), luận án Tiến sĩ văn hoá học, Viện văn hoá nghệ thuật Việt Nam, 2008, tác giả Nguyễn Văn Thắng đã
“đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các hiện tượng chủ yếu của văn
hoá dân gian Liễu Đôi như tín ngưỡng, kiến trúc, lễ hội, phong tục, tập quán, văn học dân gian, văn hoá ẩm thực, tri thức bản địa, một số di chỉ, di vật góp phần làm rõ những tồn nghi, làm sáng tỏ một vùng mờ về văn hoá dân gian Cùng với việc xác định bản chất của từng hiện tượng, tác giả đã chỉ ra được tính thống nhất rất cao, mối quan hệ đan chéo, xuyên thấm giữa các hiện tượng chính là đặc trưng
cơ bản của văn hoá dân gian vùng đồng chiêm trũng Liễu Đôi Từ đó làm rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa của nó trong đời sống xã hội Liễu Đôi xưa và nay”
Ngoài ra còn một số bài viết khác được đăng trên báo, tạp chí ở Trung ương và địa phương
Nhìn chung, tác giả của các công trình, bài viết trên đều rất dày công khảo sát, sưu tầm thực địa hoặc nghiên cứu về ca dao lưu truyền ở Hà Nam như một thực thể tương đối độc lập Song việc khảo sát ca dao lưu truyền ở Hà Nam trên các phương
Trang 10diện: nội dung, nghệ thuật, phương thức diễn xướng chưa được khảo sát một cách
hệ thống, toàn diện
Tuy nhiên, các công trình, bài viết trên vẫn có giá trị tư liệu quý, đó là những chỉ dẫn quý báu, định hướng quan trọng cho chúng tôi thực hiện đề tài này
Với đề tài “Khảo sát đặc điểm của ca dao Hà Nam” chúng tôi muốn làm sáng
tỏ những nét riêng về nội dung, nghệ thuật, phương thức diễn xướng của ca dao lưu truyền ở Hà Nam
Khi tiến hành “Khảo sát đặc điểm của ca dao Hà Nam”, chúng tôi đã gặp
những khó khăn và thuận lợi sau:
Thuận lợi: trước đó đã có một số nhà nghiên cứu, một số trí thức địa phương sưu tầm, giới thiệu, nghiên cứu về ca dao Hà Nam Đây cũng là một hướng nghiên cứu mới mẻ, nên thu hút sự quan tâm của nhiều người Là người con của quê hương
Hà Nam, nên người viết có nhiều điều kiện tham dự, tìm hiểu ca dao Hà Nam
Song khi nghiên cứu người viết gặp không ít những khó khăn như tài liệu, sách
vở không nhiều; văn bản có nhiều dị biệt Điều đặc biệt khó khăn chính là việc khảo sát, nghiên cứu ca dao của một địa phương, để chỉ ra nét riêng, sắc thái địa phương không phải là dễ bởi Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, nên văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng hoà chung một dòng chảy với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng
Với những khó khăn nêu trên, lại triển khai đề tài trong thời gian có hạn nên
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trong những năm qua, ca dao lưu truyền ở Hà Nam đã được một số trí thức địa phương nghiên cứu, sưu tầm, quan tâm tìm hiểu Song, do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, mà họ chưa đưa ra một “bức tranh” tổng thể, đa chiều về
ca dao, dân ca lưu truyền ở Hà Nam Vì vậy, dựa trên cơ sở những bài ca dao đã được lưu truyền ở Hà Nam, chúng tôi muốn khảo sát chúng một cách tương đối toàn diện, hệ thống với mục đích tìm hiểu tính thống nhất và nét riêng (trong đó đặc biệt chú ý đến nét riêng) về nội dung, nghệ thuật, phương thức diễn xướng
Kết quả nghiên cứu có ích cho chính tác giả trong việc giảng dạy ca dao nói riêng, văn học dân gian nói chung, đặc biệt là phần giảng dạy ca dao, dân ca địa phương trong nhà trường phổ thông Đồng thời kết quả nghiên cứu còn giúp người viết hiểu và quan tâm hơn đến văn học dân gian của tỉnh nhà
Trang 113.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Thống kê, khảo sát diện mạo ca dao lưu truyền ở Hà Nam
- Khảo sát đặc điểm nội dung, nghệ thuật lời ca lưu truyền ở Hà Nam
- Tìm hiểu phương thức diễn xướng của ca dao lưu truyền ở Hà Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khi tiến hành thực hiện đề tài, chủ yếu chúng tôi sử dụng tư liệu ca dao,
dân ca trong bộ sách Văn nghệ dân gian Hà Nam do Bùi Văn Cường chủ biên cùng
các soạn giả Mai Khánh, Lê Hữu Bách xuất bản năm 2002 Đây là công trình tập thể được các soạn giả biên soạn với một sự nỗ lực lớn trong nhiều năm
Trịnh Thị Phẩm 70 tuổi, cụ Đỗ Thị Diệu 65 tuổi, cùng ở khu 2, xóm 7, xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng cung cấp
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát ca dao lưu truyền ở Hà Nam, chúng tôi chú trọng sâu hơn đến việc nghiên cứu nét riêng của nó trên phương diện nội dung, nghệ thuật, phương thức diễn xướng
Một trong những nét đặc trưng của văn học dân gian là tính nguyên hợp Mỗi tác phẩm văn học dân gian ngoài việc sử dụng phương tiện diễn đạt chủ yếu là ngôn
Ở luận văn này, chúng tôi sẽ ưu tiên chú ý đến tính độc lập tương đối của văn bản trên phương tiện ngôn ngữ và phương thức diễn xướng Còn phần âm nhạc trong mối quan hệ chặt chẽ với ngôn từ, nếu có điều kiện nghiên cứu thì chắc chắn
sẽ rất bổ ích và thú vị đối với người nghiên cứu Song do hạn chế về thời gian và năng lực cá nhân, chúng tôi không đặt ra ở phạm vi giải quyết của luận văn này Hi vọng chúng tôi sẽ được trở lại nghiên cứu vấn đề này vào thời gian tới
Luận văn sử dụng khái niệm ca dao lưu truyền ở Hà Nam ngụ ý bao gồm cả vấn
Trang 12Chúng tôi vận dụng các thành tựu của lí luận văn học, thi pháp học, văn hoá học, lịch sử, địa lí… để nghiên cứu hiện tượng văn hóa dân gian địa phương và xem
đó như những chỉ dẫn quan trọng về mặt phương pháp luận
6 Đóng góp của luận văn
Lần đầu tiên, ca dao lưu truyền ở Hà Nam được xem xét, khảo sát một cách khá toàn diện và hệ thống, góp phần làm rõ những đặc điểm nội dung, nghệ thuật, phương thức diễn xướng, chỉ ra sắc thái địa phương của ca dao lưu truyền ở Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng
Hy vọng luận văn là một tư liệu tham khảo cho những ai quan tâm, đặc biệt các thày cô giáo trong tỉnh dùng để giảng dạy cho học sinh thêm hiểu, yêu mến văn học dân gian Hà Nam
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính của luận văn được chia làm bốn chương:
Chương 1 Một số vấn đề lí luận chung
Chương 2 Khảo sát đặc điểm nội dung của ca dao lưu truyền ở Hà Nam trên phương diện ngôn từ
Chương 3 Khảo sát đặc điểm nghệ thuật của ca dao lưu truyền ở Hà Nam trên phương diện ngôn từ
Chương 4 Khảo sát đặc điểm diễn xướng của ca dao lưu truyền ở Hà Nam
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HÀ NAM VÀ VĂN HỌC DÂN GIAN HÀ NAM TRONG CÁI NHÌN ĐỊA – VĂN HOÁ
1.1 Khái niệm ca dao
Đã có nhiều quan niệm về ca dao, dân ca (Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Thuần Phong, Hoàng Tiến Tựu, Vũ Ngọc Khánh,…) Ở đây, chúng tôi xin được sử dụng cách hiểu của tác giả Nguyễn Xuân Kính Cách hiểu này thể hiện trong sách
Thi pháp ca dao và bộ Kho tàng ca dao người Việt
Các từ phong dao, ca dao có mặt trong các sách Hán Nôm từ cuối thế kỉ XIX
đến đầu thế kỉ XX, trong các sách chữ quốc ngữ xuất bản ở đầu thế kỉ XX Nếu định
nghĩa theo từ nguyên thì ca là bài hát có chương khúc hoặc có âm nhạc kèm theo, còn dao là bài hát ngắn không có chương khúc Như vậy, xét về bản chất thì ca dao
và dân ca hầu như không có ranh giới rõ rệt Song, sau này trên thực tế, thuật ngữ
ca dao có nội dung hẹp hơn thuật ngữ dân ca
Phạm vi phản ánh của hai từ ca dao và phong dao có chỗ giống nhau Người
xưa gọi “Ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi thời đại Vì vậy dần dần tên gọi phong dao ít được sử dụng, nhường chữ cho một từ ca dao”
Cho đến những năm 50 của thế kỉ XX, từ phong dao hầu như không còn được
sử dụng, chỉ còn từ ca dao được dùng để chỉ một loại thơ dân gian
Ở Việt Nam, so với từ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộn hơn Phải đến năm 1956, với cuốn sánh Tục ngữ và dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, từ dân ca
mới trở nên quen thuộc
Các nhà nghiên cứu văn học dân gian hiện nay cho rằng dân ca bao gồm phần
lời (câu hoặc bài) phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và
cả môi trường, khung cảnh ca hát
Khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất
định Như vậy, không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân
ca nào đó (hát Quan họ, hát Ví, hát Xoan…) cứ tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, tiếng
đưa hơi thì đều là ca dao Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca dao
người ta thường nghĩ đến lời ca
Giữa ca dao và dân ca có mối quan hệ gắn bó Thuật ngữ kép ca dao – dân ca đã
được sử dụng để phản ánh mối quan hệ đặc biệt có những điểm tương đồng trong
Trang 14diễn xướng (có thể hát, ngâm theo các làn điệu) Khi được ghi chép, dân ca và ca dao đều được ngắt ra thành câu (hai dòng thơ) thành bài ca dao – dân ca (với nhiều dòng)
Hiện tượng từng được gọi là câu, là bài, là đơn vị, là tác phẩm ấy là những lời dân ca,
ca dao Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Kính, thuật ngữ lời ca dao được hiểu theo
nghĩa là một cơ cấu nghệ thuật hoàn chỉnh có mặt nội dung và mặt hình thức văn học Nội dung của lời diễn đạt một tình cảm, thông báo một vấn đề, một điều cụ thể Hình thức của lời ca dao gồm ngôn ngữ, nhịp điệu, thể thơ…
Theo các soạn giả bộ sách Kho tàng ca dao người Việt, thuật ngữ ca dao được
hiểu theo ba nghĩa rộng, hẹp khác nhau:
- Thứ nhất: Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca
- Thứ hai: Ca dao là danh từ chỉ thành phần ngôn từ (phần lời ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi)
- Thứ ba: Không phải toàn bộ những câu hát của một loại dân ca nào đó tước bỏ tiếng đệm, tiếng láy, đưa hơi… thì sẽ đều là ca dao Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách và ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng theo cách hiểu thứ nhất, nghĩa là ca dao, dân
ca có thể được sử dụng theo nghĩa tương đương Vì vậy có lúc chúng tôi dùng ca
dao, có lúc lại sử dụng thuật ngữ kép ca dao – dân ca Các từ: tác phẩm, bài, lời,
đơn vị (ca dao) cũng được chúng tôi dùng với ý nghĩa tương đương
Có thể chia ca dao ra ba nhóm lớn:
- Ca dao sinh hoạt – trữ tình: là những bài hát, câu hát dân gian gắn với các hoạt
động sinh hoạt của nhân dân, diễn tả đời sống tư tưởng và tình cảm của nhân dân lao động trong những mối quan hệ xã hội đa dạng, đặc biệt là nói về tình yêu lứa đôi
- Ca dao nghi lễ: là những bài hát, câu hát dân gian được diễn xướng một cách
tổng hợp (bao gồm âm nhạc, vũ đạo, trò diễn…) gắn với nghi lễ (ở đây chúng tôi chỉ nhắc tới những bài ca gắn với nghi lễ ở các đền, đình, nghè, miếu… tế thờ thần thánh, các anh hùng dân tộc, các danh nhân văn hoá… chứ chưa có điều kiện tiếp cận các bài hát lễ ở chùa, phủ… mang tính chất tôn giáo rõ nét)
Trang 15- Ca dao lao động: là những bài hát, câu hát dân gian ra đời từ lao động, gắn với
chức năng thực hành lao động, được hát lên trong lúc lao động để phục vụ trực tiếp cho lao động
1.2 Vùng văn hoá và vùng văn hoá dân gian
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, ở nước ta việc phân vùng và nghiên cứu văn hoá vùng mới được quan tâm với nghĩa đây là những vấn đề khoa học đòi hỏi phải trả lời bằng các nghiên cứu khoa học Cho đến nay, chúng ta đã có kết quả phân vùng của Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận, Trần Quốc Vượng, Chu Xuân Diên, Hoàng Vinh Cách phân vùng của mỗi tác giả đều có những căn cứ nhất định Tuy có một số nét khác nhau song nhìn chung, các tác giả đã tương đối thống nhất về sự phân chia các vùng văn hoá
Để xác lập cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài, trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi xin trình bày cách hiểu một số khái niệm có tính chất thao tác được sử dụng trong luận văn
1.2.1.Vùng văn hoá
Văn hoá vận động trong cả hai chiều thời gian và không gian Nó nảy sinh, được bảo tồn, phát triển hay bị diệt vong cùng với thời gian hoặc trong một không gian nhất
định nào đó Theo GS.TS Ngô Đức Thịnh: “Nhân tố không gian được biểu hiện thành
phạm trù thống nhất và đa dạng của văn hoá, còn nhân tố thời gian được biểu hiện thành phạm trù truyền thống và biến đổi của văn hoá” [43, tr.5]
Khi nghiên cứu về không gian văn hoá không thể không đề cập đến vấn đề vùng văn hoá, tức là tìm hiểu không gian nảy sinh, tồn tại của nền văn hoá hay từng yếu
tố văn hoá Vùng văn hoá đã và đang tồn tại như một thực thể sống động vốn có của
nó Vì thế, nghiên cứu vùng văn hoá, chúng tôi cố gắng tiếp cận một số quan điểm
rất quan trọng của lý thuyết vùng văn hoá như: ranh giới vùng, vùng trung tâm, việc
tập trung các yếu tố có sự tương đồng, thống nhất, tính trội của một vùng… Hiện
nay, đa số các nhà khoa học khi nghiên cứu vùng văn hoá thường chỉ ra bốn cấp độ: khu vực, vùng, tiểu vùng, trường hợp (hay hiện tượng) Điều này hoàn toàn đúng Tuy nhiên trong dân gian xưa, ông cha ta đã từng nói đến vùng văn hoá với tên gọi quen thuộc là xứ (Xứ Lạng, xứ Bắc, xứ Đông, xứ Đoài…) Khi phân ra các xứ như vậy, người xưa hẳn đã phân biệt sự khác nhau của các vùng với nhiều khía cạnh, trong đó văn hoá đóng một vai trò cốt yếu Sau này, dưới góc nhìn hiện đại, các nhà khoa học bắt đầu bàn đến vùng văn hoá và sự phân biệt các vùng đó với nhau Song,
Trang 16về mặt cơ bản, các nhà nghiên cứu vẫn dựa trên cách chia của người xưa Nói như
vậy để thấy rằng một vùng muốn được coi là vùng văn hoá phải trải qua một giai
đoạn khá dài cùng sự phát triển của con người với những nếp sống, phong tục, tập quán… của họ
Nhiều nhà nghiên cứu sau này như GS Hoàng Tiến Tựu, GS Đặng Nghiêm Vạn, PGS Vũ Ngọc Khánh, PGS Chu Xuân Diên, GS.TS Kiều Thu Hoạch, PGS.TS Trần
Lê Bảo… đã dày công nghiên cứu vấn đề vùng văn hoá, song đáng chú ý phải kể tới
công trình Các vùng văn hoá Việt Nam do GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Huy Cận đồng chủ biên (Nxb Văn học, H, 1995), Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt
Nam của GS.TS Ngô Đức Thịnh (Nxb Khoa học xã hội, H, 1993, được tái bản nhiều
lần), Cơ sở văn hoá Việt Nam do GS Trần Quốc Vượng chủ biên (Nxb Giáo dục, H,
1997, được tái bản nhiều lần)…
Xem xét từ rất nhiều góc độ và cũng thống nhất với quan điểm của GS.TS Ngô
Đức Thịnh, các tác giả của công trình Hỏi và đáp về văn hoá Việt Nam xác định:
“Vùng văn hoá để chỉ một không gian có những tương đồng về hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống…, ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ về nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa các cộng đồng cùng địa vực đã diễn ra những mối giao lưu, ảnh hưởng văn hoá qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hoá khác”
GS Trần Quốc Vượng và các tác giả của giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam cũng khẳng định “Trong tâm thức dân gian Việt Nam, sự phân biệt về cái chung, nét
riêng giữa các vùng, miền luôn có một vị thế quan trọng Cái chung, nét riêng này thường được gắn với một địa danh, một giới hạn lãnh thổ nào đó” [51, tr.208]
Thực tế cho thấy điều kiện tự nhiên, sinh thái, lịch sử, xã hội của mỗi vùng, miền không giống nhau Những nét khác nhau về những điều kiện đó sẽ góp phần tạo ra
sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, sinh thái, lịch sử, xã hội, con người sẽ tạo ra những nét tương đồng và khác biệt về văn hoá của các vùng, miền Điều đó cũng có nghĩa là bên cạnh cái chung, mỗi vùng văn hoá còn có những cái riêng, không nhất thiết vùng nào cũng đầy đủ các yếu tố, các hiện tượng theo một công thức nhất định Đến đây có thể nói vùng văn hoá do rất nhiều yếu tố hợp thành mà tạo nên, các yếu tố đó không tách rời nhau mà luôn luôn gắn bó khăng khít, có khi cái nọ là điều kiện cho sự ra đời, phát triển của cái kia và ngược lại Nói đến vùng văn hoá, trước
Trang 17hết phải xác định nó là một vùng lãnh thổ có những điểm tương đối riêng biệt về đất đai, khí hậu, tiếp đến là hàng loạt các yếu tố khác như lịch sử, phương thức sinh sống của cư dân… trong đó diện mạo của văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể có thể đem ra để khu biệt với các vùng văn hoá khác Nói vùng văn hoá là nói tới văn hoá lãnh thổ là vì vậy Nó có tính chất định vị khá rõ nét Tuy nhiên, điều đó không
có nghĩa là các vùng văn hoá ấy hoàn toàn tách biệt nhau hoặc triệt tiêu nhau Trái lại, các vùng văn hoá ấy cũng là minh chứng cho một thực tế đã được các nhà
nghiên cứu khái quát: Sự thống nhất trong đa dạng của các nền văn hoá
Cách phân vùng văn hoá của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam có những điểm trùng nhau mà cũng có những điểm khác biệt, cách chia nào cũng có hạt nhân hợp lý của nó
GS.TS Ngô Đức Thịnh, trong công trình Văn hoá vùng và phân vùng văn hoá ở Việt
Nam chia nước ta thành bảy vùng văn hoá GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Huy Cận,
chủ biên công trình Các vùng văn hoá Việt Nam chia nước ta thành chín vùng văn hoá
GS Trần Quốc Vượng và các tác giả của giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam chia nước
ta thành sáu vùng văn hoá Cũng theo các tác giả của các công trình kể trên, mỗi vùng văn hoá lại có thể chia ra làm nhiều tiểu vùng, mỗi tiểu vùng cũng có những nét tương đồng và khác biệt Chúng tôi cũng đồng ý với cách chia của GS Trần Quốc Vượng, 6 vùng văn hoá đó là: vùng văn hoá Tây Bắc, vùng văn hoá Việt Bắc, vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ, vùng văn hoá Trung Bộ, vùng văn hoá Trường Sơn – Tây Nguyên và vùng văn hoá Nam Bộ
1.2.2.Vùng văn hoá dân gian và tiểu vùng văn hoá dân gian
Nghiên cứu văn hoá dân gian của một địa phương không chỉ dựa vào lý luận về vùng văn hoá nói chung là đủ, bởi nhiều lý do, trong đó có các lý do về cơ cấu, về đặc trưng, về chủ thể sáng tạo và hưởng thụ của nền văn hoá,… Những yếu tố đó có nhiều điểm tương đồng, nhưng cũng có điểm khác biệt Vì vậy, để biểu hiện được
diện mạo folklore của một nơi nào đó, nhất thiết phải tìm hiểu lý luận về vùng văn
hoá dân gian, nghĩa là tìm hiểu bình diện không gian của các hiện tượng văn hoá dân gian đó
Căn cứ chủ yếu để phân vùng văn hoá dân gian, trước hết vẫn phải dựa vào bản chất của các hiện tượng văn hoá dân gian và sự vận động của nó trong một không gian nhất định, sau đó mới là các căn cứ khác
Nói đến vùng là nói tới một phạm vi địa giới nhất định, có tính bao quát tương đối
rõ rệt về nhiều mặt Dĩ nhiên, vùng văn hoá dân gian không bao giờ trùng khít với địa
Trang 18giới hành chính, nhưng thường là dao động trong – ngoài một phạm vi hành chính nào
đó, có thể xác định được trên bản đồ Nơi ấy có các tộc người nhất định sinh sống, họ
đã sáng tạo nên những kho tàng văn hoá dân gian với những đặc điểm giống và khác nhau, song tất cả tạo nên bản sắc vùng, miền tương đối rõ rệt
Vùng văn hoá dân gian phải đậm đặc các hiện tượng văn hoá dân gian, có những hiện tượng nổi trội, ưu thế, chi phối các hiện tượng khác, song các hiện tượng khác cũng có vị trí, vai trò nhất định trong việc tạo nên sự phong phú, đa dạng của diện mạo văn hoá vùng Tuy nhiên, theo quy luật tiếp biến văn hoá, không nhất thiết chỉ những hiện tượng văn hoá dân gian sinh ra trong vùng mới là của văn hoá dân gian vùng, mà cả những yếu tố từ vùng khác du nhập vào nhưng đã được “đồng hoá” vẫn
có thể coi là của vùng văn hoá dân gian nhất định
Dù phạm vi không gian rộng hay hẹp, vùng văn hoá phải có sắc thái riêng Không có sắc thái riêng sẽ không tồn tại một vùng văn hoá Vùng văn hoá rộng là vùng bao quát một phạm vi địa lý rộng lớn, có thể có nhiều cái riêng (cái riêng đặc trưng của diện, cái riêng đặc trưng của điểm, cái riêng đặc trưng của tổng thể, cái riêng đặc trưng của mỗi hiện tượng…), trong đó có những cái chủ đạo, ảnh hưởng tới các hiện tượng văn hoá dân gian khác của toàn vùng Vùng văn hoá nhỏ hẹp trong vùng rộng lớn ấy, cũng phải có cái riêng Chẳng hạn nói vùng châu thổ Bắc
Bộ là xứ sở của chèo (vùng rộng lớn), song chèo Nam Định (vùng hẹp) cũng có điểm khác với chèo Thái Bình (cũng là vùng hẹp) Vì thế, đối với vùng văn hoá dân gian, cái riêng vừa gắn với cái tổng thể, toàn cục của vùng, vừa gắn với sắc thái từng địa phương cụ thể Chúng ta không quá đề cao sắc thái địa phương, nhưng suy đến cùng, chính sắc thái địa phương là yếu tố tạo ra cái riêng Bản thân sắc thái địa phương đã có ý nghĩa là cái riêng rồi Trong sự vận động của thời gian và không gian, sắc thái địa phương này với sắc thái địa phương khác có sự ảnh hưởng qua lại,
có cái tồn tại, phát triển, có cái bị đồng hoá, biến mất Tuy nhiên, sắc thái riêng thì không dễ dàng bị biến mất, nó chỉ có thể tồn tại như thế nào mà thôi Sắc thái riêng
đã trở thành đặc trưng bản chất của các hiện tượng văn hoá dân gian có tính ổn định, tương đối bền vững
Do mỗi vùng văn hoá dân gian đều có vô số các hiện tượng mang sắc thái địa phương, đồng thời do lịch sử, địa lý của mỗi vùng cũng có những điểm khác biệt, nên người ta có thể chia vùng văn hoá thành các vùng nhỏ hơn PGS Vũ Ngọc Khánh
xem vùng rộng là vùng tổng hợp (ý nói bao gồm rất nhiều hiện tượng văn hoá dân
Trang 19gian), vùng có các thể loại nổi trội, đặc sắc là vùng thể loại và ông gọi là các vùng thể loại đó là vùng Then, vùng Chèo, vùng Quan họ, vùng Xoan, vùng ca Huế… PGS Vũ Ngọc Khánh cũng đề cập đến cấp độ dưới vùng, đó là trung tâm folklore hay điểm
folkore Theo ông, một trung tâm, một điểm folkore là “Nơi có sinh hoạt phong phú hoặc có dấu ấn đậm đà về một hiện tượng hay một sự kiện nào đó”
Theo chúng tôi, gọi là trung tâm hay điểm folklore thực chất là vấn đề tiểu vùng
văn hoá dân gian Tiểu vùng văn hoá dân gian có đặc điểm chung của vùng, lại có sắc thái địa phương rõ rệt so với các tiểu vùng khác Tiểu vùng ấy có thể là một làng, một xã, hoặc quy mô lớn hơn làng, xã Chẳng hạn, làng Đường Lâm (tỉnh Hà
Tây cũ), làng Nguyễn (tỉnh Thái Bình), xã Trường Yên (tỉnh Ninh Bình), xã Liễu Đôi (tỉnh Hà Nam)… là những ví dụ rất sinh động về các tiểu vùng văn hoá dân gian Với những trung tâm, những điểm tiêu biểu, quý hiếm của một địa phương, đôi khi người ta cũng có thể gọi là vùng (nghĩa hẹp)
Như vậy, dù rộng hay hẹp, vùng văn hoá dân gian vẫn thường dao động trong
một phạm vi địa giới nào đó, mặc dù không bao giờ trùng khít Ở đây, tập trung các hiện tượng văn hoá dân gian bản địa, hoặc được du nhập từ vùng khác tới, nhưng
đã được “đồng hoá"
1.3 Phân vùng văn học dân gian và phân vùng ca dao
1.3.1 Về việc phân vùng văn học dân gian
Người dành nhiều công sức cho vấn đề phân vùng văn học dân gian là Hoàng
Tiến Tựu Năm 1978, trên tạp chí Dân tộc học, ông công bố bài viết Vấn đề phân
vùng văn học dân gian và ý nghĩa phương pháp luận của nó
Từ năm 1978 đến năm 1980, Hoàng Tiến Tựu chủ trì đề tài nghiên cứu khoa
học Phân vùng văn học dân gian Việt Nam do Trường Đại học Sư phạm Vinh quản
lí, từ năm 1981 đề tài này đã được Bộ Giáo dục quản lí Tháng 3 năm 1981, tại thành phố Đà Nẵng, Hội nghị văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất đã được tổ chức với báo cáo tham luận Năm 1985, Trường Đại học Sư phạm Vinh công bố kỉ yếu hội thảo này
Năm 1978, Hoàng Tiến Tựu xác định hệ thống các thứ bậc từ lớn đến nhỏ để phân vùng văn học dân gian: Dân tộc > miền > khu vực > vùng > làng
Tác giả khẳng định rằng, trong hệ thống trên, làng là tế bào của vùng văn học dân
gian truyền thống, ông cũng nêu rõ các tiêu chí để phân vùng văn học dân gian:
- Sự giống nhau hay gần nhau của các tác phẩm văn học dân gian
Trang 20- Sự tương đồng về mặt ngôn ngữ của nhân dân (ngôn ngữ giao tiếp và ngôn ngữ của văn học)
- Gắn bó về hoàn cảnh địa lí, lịch sử với phong tục, tín ngưỡng và mọi mặt đời sống của nhân dân
Dựa trên các tiêu chí đã nêu, Hoàng Tiến Tựu phân chia các khu vực văn học dân gian cơ bản của người Kinh thành ba miền: miền Bắc, miền Trung, miền Nam Miền Bắc:
Theo tác giả, miền văn học dân gian phía Bắc của người Kinh từ huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá trở ra, có thể chia ra ba khu vực chính:
Khu vực I: Là khu vực trung du Bắc Bộ bao gồm các làng ở vùng trung du
nay là hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ; Hà Sơn Bình: là hai tỉnh Hà Tây và Hoà Bình; Bắc Thái: nay là hai tỉnh Bắc Cạn và Thái Nguyên)
Khu vực II: Là khu vực sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ) thuộc các tỉnh và
vùng ngoại vi thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Nam
Ninh, một phần các tỉnh Hà Sơn Bình, Hà Bắc (Hải Hưng: nay là hai tỉnh Hải
Dương và Hưng Yên; Hà Nam Ninh: nay là ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình)
Khu vực III: khu vực sông Mã gồm các làng người Kinh thuộc tỉnh Thanh Hoá và Ninh Bình
Miền Trung:
Khu vực I: khu vực sông Lam (khu vực Nghệ Tĩnh từ khe Nước Lạnh đến
Bình Trị Thiên), (Nghệ Tĩnh: nay là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh; Bình Trị
Thiên: nay là ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế)
Khu vực II: khu vực sông Gianh – sông Hương hay khu vực Bình Trị Thiên Miền Nam:
Từ phía Nam đèo Hải Vân (Đà Nẵng) trở vào văn học dân gian được chia làm ba khu vực:
Khu vực I: khu vực Thu Bồn, Trà Khúc gồm các làng xã người Kinh ở
Quảng Nam – Đà Nẵng (Quảng Nam – Đà Nẵng: nay là thành phố Đà Nẵng và
tỉnh Quảng Nam).
Khu vực II: khu vực Nam Trung Bộ gồm các làng người Kinh từ Nghĩa Bình
đến phía đông Nam Bộ (Nghĩa Bình: nay là hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định).
Khu vực III: khu vực đồng bằng sông Cửu Long (hay khu vực đồng bằng Nam Bộ) [48, tr.14]
1.3.2 Về việc phân vùng ca dao
Kế thừa thành quả của các nhà nghiên đi trước, chúng tôi đề xuất việc phân vùng ca dao người Việt như sau:
Trang 21Về cấp độ lớn nhất, cả nước có ba vùng (hoặc ba miền) ca dao: ca dao Bắc Bộ (tức ca dao miền Bắc), ca dao Trung Bộ (tức ca dao miền Trung), ca dao Nam Bộ (tức ca dao miền Nam)
Ca dao miền Bắc là mảng ca dao lưu truyền ở các tỉnh châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Thái Bình (bao gồm các làng người Việt từ huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá trở ra) Ca dao vùng đồng bằng sông Hồng hay vùng đồng bằng Bắc Bộ bao gồm các tỉnh và vùng ngoại vi các thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, một phần các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang
Ca dao miền Trung là những lời ca dao lưu truyền từ khe Nước Lạnh (điểm cực bắc của Nghệ Tĩnh) đến Bình Thuận (Nam Trung Bộ)
Ca dao miền Nam (tức ca dao Nam Bộ) là những sáng tác thơ ca dân gian lưu truyền ở châu thổ sông Đồng Nai và sông Cửu Long
Mỗi một miền ca dao lại bao gồm nhiều tiểu vùng ca dao Ví dụ, miền (vùng) ca dao Trung Bộ có ba tiểu vùng: ca dao xứ Nghệ, ca dao Bình Trị Thiên, ca dao Nam Trung Bộ
1.4 Môi trường tự nhiên xã hội và lịch sử của vùng đồng bằng sông Hồng Vùng đồng bằng sông Hồng là nơi diễn ra sự hình thành của văn hoá văn minh nước ta Theo địa giới hành chính hiện nay, địa vực của vùng văn hoá đồng bằng sông Hồng bao gồm thủ đô Hà Nội, tỉnh Nam Định, tỉnh Hà Nam, tỉnh Hải Dương, tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Bình, thành phố Hải Phòng, phần đồng bằng của các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang
Vùng đồng bằng sông Hồng, vốn là cái nôi hình thành người Việt, là nơi sinh ra các nền văn hoá lớn nối tiếp nhau: văn hoá Đông Sơn, văn hoá Đại Việt và văn hoá hiện đại Việt Nam Từ trung tâm của vùng văn hoá này, văn hoá Việt lan truyền vào Trung Bộ và sau đó vào Nam Bộ
Khoảng cuối thế kỉ III, đầu thế kỉ II trước Công nguyên, đế quốc phong kiến phương Bắc đã xâm lược nước ta Và từ cuối thế kỉ II trước Công nguyên, nhà Hán đặt ách đô hộ ngày càng chặt chẽ hơn, hà khắc hơn đối với người dân Việt Nhà Hán chia nước ta thành các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam Xét một cách tương đối, quận Giao Chỉ tương đương với vùng Bắc Bộ hiện nay, trong đó vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Bắc nhiều hơn cả
Trong thời kì văn hoá Đông Sơn trước kia, người Việt cổ vốn là chủ nhân của
Trang 22nền văn minh nông nghiệp Từ đầu Công nguyên trở đi, người dân đã biết dùng lưỡi cày sắt do trâu bò kéo, đưa năng suất nông nghiệp lên mức ngày càng cao hơn với hai mùa thu hoạch Ngoài ra những nghề khác như dệt lụa, nuôi tằm, làm đồ thuỷ tinh cũng rất phát triển Trong thời kì Bắc thuộc, nền sản xuất (nông nghiệp và thủ công nghiệp) ở vùng đồng bằng miền Bắc nước ta đã phát triển cao Bởi, một phần dựa trên cơ sở những truyền thống công nghệ vốn có từ thời văn hoá Đông Sơn và một phần nhờ vào sự giao lưu văn hoá với Trung Quốc và Ấn Độ
Giống lúa thắng hạn nổi tiếng, có nguồn gốc từ nước ta được nhập khẩu vào
Trung Quốc, đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nông nghiệp lúa nước ở Trung Quốc trong đời nhà Tống (thế kỉ XI) Việc thâm canh lúa nước ở nước ta ngày càng vươn lên ở trình độ cao Dưới thời kì Pháp thuộc, vùng đồng bằng sông Hồng vẫn là một vựa lúa quan trọng của nước ta
Bề dày lịch sử cũng như sự phong phú về mặt văn hoá của vùng đồng bằng sông Hồng được thể hiện qua các chứng tích có mặt ở khắp nơi, từ Phong Châu (Phú Thọ) đến Đông Sơn (Thanh Hóa), từ Hoa Lư (Ninh Bình) đến Thủy Nguyên (Hải Phòng) Hàng nghìn ngôi đền, chùa, miếu rải rác ở khắp nơi mà đền Gióng (Hà Nội), đền Hai Bà Trưng (Vĩnh Phúc, Hà Nội), đền Triệu (Thanh Hóa), đền Lý Nam
Đế (Hà Nội), chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Trầm, chùa Hương (Hà Nội) và các di tích văn hóa và lịch sử ở Hà Nội, các truyền thuyết dân gian, các lễ hội dân gian ở nông thôn và thành thị mà nổi tiếng nhất là hội đền Hùng, hội đền Gióng, hội đền Hoa Lư, hội đền Kiếp Bạc, hội chùa Dâu, hội chùa Keo, hội chùa Hương, hội Phủ Giầy,… tất cả các hiện tượng văn hóa vật thể và phi vật thể đó cho ta thấy sự phong phú và sâu sắc của văn hóa dân gian cư dân đồng bằng sông Hồng
Cùng với dòng văn hóa dân gian lâu đời và phong phú, vùng đồng bằng sông Hồng còn là nơi phát sinh dòng văn hóa bác học, dòng văn hóa này đã từng đạt tới những đỉnh cao thời Đại Việt Trong số những người trí thức của dòng văn hóa bác học này đã có những danh nhân tầm cỡ thế giới như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du Ở vùng đồng bằng sông Hồng mà trung tâm là kinh đô Thăng Long, từ năm 1070 đã
có Văn Miếu và từ năm 1076 đã có Quốc Tử Giám Từ năm 1253 trở đi Quốc Tử Giám không chỉ dành riêng cho con em thế gia mà còn tuyển chọn những người xuất sắc trong con em lương gia (tức dân thường) vào học Trong thời kì Đại Việt,
số người đi học, thi đỗ ở vùng đồng bằng sông Hồng tính theo tỉ lệ dân số thì cao
Trang 23hơn rất nhiều so với nơi khác Trong lịch sử 854 năm (1065 – 1915) khoa cử dưới các triều vua, cả nước có 56 trạng nguyên thì có đến 52 người ở vùng đồng bằng sông Hồng
Trong thời tự chủ, Thăng Long với vai trò là một kinh đô, là trung tâm kinh tế của cả nước, còn được gọi là Kẻ Chợ Thăng Long cũng là trung tâm văn hóa nghệ thuật của cả nước Thăng Long có vai trò hội tụ văn hóa các địa phương, nâng cao, kết tinh rồi lại lan tỏa văn hóa ấy đi bốn phương Chung quanh kinh đô Thăng Long
là bốn kinh trấn Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên), Sơn Nam (Hà Đông,
Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình), Hải Đông (Hải Dương, Hải Phòng,
Kiến An), Sơn Tây (Phú Thọ, Vĩnh Yên, Sơn Tây) Bốn kinh trấn còn được gọi là tứ
chính trấn (gọi tắt là tứ chính, sau đọc chệch đi thành tứ chiếng) Mỗi trấn đều có
những nét đặc thù về môi trường tự nhiên và con người, do đó đều có những nét riêng về văn hóa dẫn đến sự hình thành những tiểu vùng văn hóa [23]
Với bề dày lịch sử của mình và với tác động của trung tâm văn hóa Thăng Long, vùng văn hóa đồng bằng sông Hồng là một vùng văn hóa điển hình của người Việt nói riêng, của cả nước Việt Nam nói chung, và là cội nguồn văn hóa của các vùng văn hóa đồng bằng Trung Bộ và Nam Bộ
1.5 Vài nét về văn học dân gian Hà Nam trong cái nhìn địa - văn hoá
Vượng, GS Đinh Gia Khánh và nhà thơ Huy Cận, hay cách phân chia của GS.TS Ngô Đức Thịnh, tỉnh Hà Nam cũng nằm ở vùng văn hoá Bắc Bộ - vùng văn hoá được coi là cái nôi hình thành dân tộc Việt và quốc gia Đại Việt
dạng Phía Tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núi đất
và đồi rừng Xuôi về phía Đông là vùng đồng bằng được bồi tụ bởi sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Do quá trình kiến tạo địa chất và biến đổi địa hình của đồng bằng
sông Hồng, nên Hà Nam có nhiều vùng đất trũng, thường xuyên bị ngập úng và bị
chua phèn, không thuận tiện cho canh tác nông nghiệp Trên thực tế, việc đắp đê
sông Hồng để phòng chống lũ lụt đã đem lại nhiều lợi ích cho con người, song nó cũng khiến cho Hà Nam nói riêng, vùng Hà Nam Ninh nói chung còn rất ít phù sa
Đã trũng, lại ít phù sa nên sản xuất nông nghiệp rất khó khăn
Trang 24Những đặc điểm về địa chất, thời tiết, khí hậu như trên tác động trực tiếp và tạo
ra những nét riêng về sản xuất, đời sống và sinh hoạt của người dân nơi đây GS.TS Ngô Đức Thịnh đã miêu tả một cách khá cụ thể bức tranh địa – văn hoá ở vùng này:
“Trong khung cảnh chung của cảnh quan đồng trũng, cư dân sống quy tụ trên những gờ đất cao tương đối chật hẹp, nhà nọ ken sít nhà kia, quanh làng có luỹ tre bao bọc Các làng nối với nhau bởi những con đường nhỏ, do con người đào đắp lên, tới mùa mưa thì thường bị ngập, đi lại, liên hệ với nhau bằng con thuyền nan,
mà về mùa khô nó được gác lên xà nhà Trong các làng chiêm trũng, để làm nhà, người ta bao giờ cũng phải đào ao vượt thổ Đất đào ao được đắp tôn cao nền nhà, nên nền nhà bao giờ cũng cao hơn đường làng Mảnh vườn vốn đã nhỏ, nhưng thường người ta trồng các loại cây có thể chịu ngâm nước trong nhiều ngày như bưởi, mít…, ít thấy trồng rau Do cảnh luôn lội trong bùn nước nên cư dân các làng chiêm trũng thường có thói quen mặc quần ngắn, luôn xắn quần tới gối, kể cả trong mùa khô ráo” [43, tr.124]
Lịch sử, văn hoá Hà Nam cũng có những đặc điểm và hiện tượng đáng chú ý Qua những ngôi mộ thuyền và mộ cổ khai quật được ở các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, các nhà khảo cổ học đã xác định vùng đất Hà Nam bây giờ có niên đại từ thế
kỉ thứ III trước Công nguyên Trong các ngôi mộ này, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy nhiều công cụ sản xuất như rìu đồng, lưỡi cày chìa vôi; binh khí như giáo đồng, dao găm đồng; các dụng cụ sinh hoạt như chậu đồng, bát gỗ, khuyên tai bằng đá… Đặc biệt, Hà Nam là một trong những nơi phát hiện được nhiều trống đồng nhất
cả nước, hơn 20 chiếc, tiêu biểu là trống đồng Ngọc Lũ, được phát hiện vào khoảng năm 1893- 1894 Trống đồng Ngọc Lũ thuộc loại có kích thước lớn nhất (đường kính mặt 79cm, cao 63cm), niên đại cổ nhất (cách ngày nay trên 3000 năm) và hoa văn trang trí đẹp nhất Ở giữa mặt trống là ngôi sao 14 cánh tượng trưng cho mặt trời và khe âm vật, tiếp đó là hình người nhảy múa, giã gạo, hình thuyền, nhà, chim, hươu, tang trống cũng trang trí hình người chèo thuyền, bắn cung, cầm giáo, đánh trống; lưng trống trang trí hình người múa, tay cầm mộc, tay cầm rìu Những hiện vật cổ quý giá đó đã minh chứng rằng có một nền văn minh sông Hồng, văn minh lúa nước của người Hà Nam xưa đã phát triển khá cao Đây được xem như một tiền
đề rất quan trọng để văn hoá nơi đây tồn tại, phát triển, bất chấp sự khắc nghiệt của
thiên tai, bão lũ, bất chấp âm mưu đồng hoá của các thế lực ngoại xâm
Trang 25Một số huyện, thị của tỉnh Hà Nam có các tiểu vùng văn hoá dân gian đáng chú
ý Ở huyện Kim Bảng có tiểu vùng văn hoá Quyển Sơn, ven sông Đáy với những truyền thuyết về Lý Thường Kiệt, hội Dậm, với 36 bài hát Dậm nổi tiếng Ở huyện Duy Tiên có tiểu vùng văn hoá Đọi Sơn với ngôi chùa có kiến trúc độc đáo xây dựng từ thời Lý, bia Sùng Thiện Diên Linh, dấu tích Đại Hành Hoàng Đế đi cày tịch điền dưới chân núi Đọi và nghề truyền thống làm trống của làng Đọi Tam nổi tiếng
Ở huyện Lý Nhân có tiểu vùng văn hoá Nhân Đạo với đền Trần Thương độc đáo và tín ngưỡng thờ người anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Ở huyện Thanh Liêm có tiểu vùng văn hoá Liễu Đôi Mỗi tiểu vùng văn hoá có những điểm chung và riêng Các tiểu vùng văn hoá khác ở Hà Nam được sưu tầm, nghiên cứu, phát lộ tương đối sớm, riêng vùng Folklore Liễu Đôi chỉ được phát hiện và công bố rộng rãi cách đây chưa tròn 30 năm
Hà Nam, sau bao phế hưng biến cải, vẫn còn nhiều đền miếu thờ phụng những người có tài trừ yêu quái, giặc giã… giúp vua Hùng mở đất, dựng nước như chàng Vương Lạp Mở đất sớm, nên dân Lạc Việt tụ cư chốn này rất sớm Dấu tích thời xa xôi ấy là khoảng 20 chiếc trống đồng đã tìm thấy ở Hà Nam
Tương truyền rằng: việc thờ phụng Triệu Quang Phục – vua đầm Dạ Trạch chống ách đô hộ của nhà Lương, đã sinh ra tục dân ca Lãi Lèn (còn gọi là Lãi Lê, Lả Lê) Lại sau đó hơn năm trăm năm, đời Lý, đất Quyển Sơn là nơi đồn trú quân binh thuở bình Chiêm của ông Lý Thường Kiệt, rồi thành trang trại của ông Sau khi ông mất, dân lập đền thờ ông cũng ngay chỗ này Tục dân ca hát Dậm Quyển Sơn ra đời từ đó Tác phẩm Hoàn Vương Ca Tích là niềm tự hào của người dân Hà Nam
Đến tiểu vùng văn hóa Liễu Đôi – Hà Nam, chúng ta như chẳng thấy gì khác lạ, vẫn những xóm thôn nghèo cũ kĩ, những đền, miếu, chùa chiền quạnh quẽ nhỏ nhoi, những cánh đồng chiêm mấp mô cồn đống, những người dân lam lũ cần cù… thế
mà Liễu Đôi có cả một giang sơn văn hóa lớn Riêng về mặt văn học dân gian, Liễu Đôi không thiếu bất kì một thể loại nào: truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện vui, ngụ ngôn (thơ và văn xuôi) ca dao, tục ngữ, phương ngôn, vè… Liễu Đôi làm phong phú thêm cho văn học dân gian cả nước cả về thể loại lẫn nội dung Tại Liễu Đôi –
Hà Nam có hàng ngàn tư liệu văn học dân gian nói về đánh giặc và kinh nghiệm đánh giặc
Hà Nam có rất nhiều hội hè, tục lệ giàu ý nghĩa: hội trình khiên ở làng Đùng, hội chùa Đọi ở Đọi Sơn, hội Trần Thương ở Nhân Đạo, hội Đền Lăng ở Liêm Cần,
Trang 26hội bơi chải ở Võ Giang, hội cướp cầu ở Lau Chảy… có hội, nay chỉ còn là âm vang của một thời xa xôi, có hội vừa mới hồi sinh Duy có hội võ vật Liễu Đôi là bề thế
và có sức sống bền dai nhất Dù mưa gió bão táp, dù giặc giã lửa đạn, không mở được hội lớn thì Liễu Đôi vẫn giữ lệ nổi trống, đốt nhang, vật “năm keo trai rốt”
trình làng lễ Thánh!
Hà Nam còn là nơi có nhiều hội hát và tục ca hát Hội hát của làng Vĩ Khách có riêng cả một ngôi đình để hàng năm mở hội, hát đối, gọi là Đình Hát, hát Dậm Quyển Sơn, hát Lãi Lê, hát Giao Duyên ở ngã ba sông Móng – Châu Giang, hát Nõ Nường ở đình làng Chảy, hát Trống quân trong và ngoài gióng võ vật Liễu Đôi, hát Trống quân
trên thuyền ở làng Gừa, làng Sông, làng Chảy, hát Cửa Đình ở làng Đậu Chuyền… Rồi tục vè nối đêm, vè con cúi (Con cúi một gang, vè nàng trăm trượng) rồi vè
(nòng hong là quả thừng bằng lạt giang mỏng chắp nối, vặn lại quấn thành quả
tròn)…và ở đất này thi “quả có mùa vè đua vô chạp” nghĩa là thi hát, thi kể vè, bất
kể mùa vụ, thời gian Vè gõ lưới là loại vè rất cổ của Hà Nam Mở đầu bài cũng như
các tiết đoạn, bao giờ cũng có cái điệp khúc “Gập ga gập gập, gập thùm gập thùm!”
Đó là tiếng gõ xuống sạp thuyền và đập sào xuống nước để đuổi cá vào lưới, vè làm
tăng tiết điệu lao động kiếm sống
Ngoài ra, ta còn thấy có những bài vè dành cho những người lao động tài giỏi thẳng ngay, hào hiệp như bà Bổi, ông Thủ Hãng, Xã Lãi… những người chiến đấu hy
sinh cho quê hương như Ngự Mai, Tú Tốn, Thiên Hộ Lĩnh, Đinh Công Tráng…
Một nét rất riêng của Hà Nam trong quá khứ là cuộc sống đồng chiêm trũng Hà Nam là cái rốn nước của đồng bằng Bắc Bộ Người Hà Nam ngoi, bơi, ngụp, lặn trong nước đồng chiêm Vì vậy câu ca, câu phương ngôn của họ dường như cũng
đầy nước: “Bông nổi cho chim, bông chìm cho cá”; “Sống nằm giường tre, chết
nghe sóng vỗ Sống nằm giường gỗ, chết cũng nghe sóng vỗ tứ bề”… Đói rét xụt xùi
trong câu ca, điệu hát: “Ăn bát cháo bầu, hát sầu cành bưởi!”
Một nét bản sắc khác của tiểu vùng văn hoá Hà Nam là Đền nàng Mỵ Ê ở Lý
Nhân; cái nhân cách của người cung phi xứ Chăm Pa đó đã được nâng cao lên thành
nhân cách cao cả, trong sạch của người phụ nữ nói chung và được “thiêng hoá” khi
dân gian Hà Nam lập đền và cho đến ngày nay vẫn phụng thờ Nhân cách phụ nữ lại được bi kịch hoá một lần nữa trong câu chuyện Vợ chàng Trương hàm ẩn một triết
lý dân gian rất tuyệt vời “là bóng hay là hình?” Câu chuyện Người thiếu phụ Nam
Trang 27Xang (la jêun dame de Nam Xang) từ lâu đã được Thạc sỹ ngôn ngữ học Phạm Duy
Khiêm kể lại bằng tiếng Pháp và được dịch lại bằng tiếng Anh Câu chuyện này đã được dựng thành phim ở Pháp Văn hoá dân gian vô thể, được hữu thể hoá bằng
ngôi miếu Vợ chàng Trương hiện vẫn được gìn giữ và tôn tạo bên bờ sông Châu ở huyện Lý Nhân – không xa đền Mỵ Ê
1.6 Về mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao lưu
truyền ở Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng
Thực chất “tính thống nhất” và “sắc thái riêng” của ca dao lưu truyền trên đất
Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng là hai mặt của một vấn đề Hai mặt đó có mối quan hệ mật thiết, chịu sự tác động và quy định lẫn nhau Đứng dưới góc độ triết học, thì vấn đề này chính là mối quan hệ giữa “cái chung” và “cái riêng” – một cặp phạm trù cơ bản của triết học Ca dao là một hiện tượng thuộc về ý thức con người, cho nên nó cũng chịu sự tác động của những quy luật chung về sự hình thành và phát triển
“Sự thống nhất” của ca dao lưu truyền trên đất Hà Nam là những đặc điểm chung nhất, bản chất nhất về nội dung và hình thức “Sắc thái riêng” của ca dao lưu truyền trên đất Hà Nam là những biểu hiện độc đáo, riêng biệt để phân biệt ca dao của miền (vùng) này so với miền (vùng) khác
Sự thống nhất và sắc thái riêng là hai mặt luôn tồn tại khách quan đối với nhau
Có nghĩa là không có một sự thống nhất những đặc điểm chung chung nào đó mà sự thống nhất đó luôn tồn tại trong những đặc điểm riêng, hình thành từ những đặc điểm riêng đó
Văn học dân gian là sáng tác của những cộng đồng người (dù ban đầu nó có thể
là sản phẩm của từng cá nhân cụ thể), trở thành tài sản của nhân dân, được nhân dân yêu mến và lưu truyền Cho nên, “đặc trưng cơ bản nhất của thi pháp dân gian được tập hợp xung quanh nguyên tắc của tính lặp lại – tạo ra tính bền vững rất nổi bật của văn học dân gian” (B.Nhitrep – dẫn theo Lê Kinh Khiên) Do đó trong các sáng tác văn học dân gian luôn tồn tại những yếu tố bền vững, bất biến bên cạnh những yếu
tố khả biến Sự vận động của mỗi thể loại thể hiện ở sự kết hợp giữa yếu tố bất biến
và khả biến đó, mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Trong mối quan hệ đó thì dân gian luôn coi trọng yếu tố bất biến, bền vững Những yếu tố này tạo thành những công thức, truyền thống trong sáng tác của văn học dân gian Trong quan niệm của dân gian, những công thức đó là chuẩn mực thẩm mĩ, có giá trị và được
Trang 28chấp nhận Mỗi một công thức truyền thống đó gắn với những quan niệm thẩm mĩ nhất định (hình thành nên thi pháp) và trở thành nét thống nhất trên con đường vận
động, phát triển của mỗi thể loại Chẳng hạn, công thức mở đầu “thân em”, “em
như…” của ca dao cả nước đều thống nhất ở khía cạnh biểu hiện nỗi lòng của người
phụ nữ, là những câu hát than thân, bày tỏ số phận hẩm hiu, nhỏ bé của mình Sự lặp lại các yếu tố đó không bị coi là sáo mòn, khô cứng, trái lại nó thể hiện một sự đồng cảm, sự chia sẻ của những người phụ nữ với nhau về những số phận, hoàn cảnh khó khăn, bi kịch trong cuộc sống
Bên cạnh những yếu tố bền vững, văn học dân gian luôn mang trong mình những yếu tố biến đổi Đó cũng là một đặc điểm thuộc bản chất của văn học dân gian trong quá trình tồn tại và phát triển Sự vận động của mỗi thể loại không chỉ diễn ra trên chiều không gian (không gian địa lí, di chuyển thể loại từ vùng này sang vùng khác) mà còn thể hiện trong chiều thời gian, chiều sâu tâm lí, quan niệm nghệ thuật Trong quá trình vận động đó, sự gặp gỡ của những yếu tố giống nhau là cơ bản nhưng không phải là không tồn tại những khác biệt Sự khác biệt đó bắt nguồn
từ cơ sở đời sống xã hội của từng địa phương, từng vùng địa lí – văn hóa Ở điểm này, văn học dân gian tuân thủ theo quy luật của sự sáng tác nghệ thuật, có nghĩa là đảm bảo tính sáng tạo, cá tính của sáng tác Nhưng nó không biểu hiện ở phong cách của từng cá nhân mà thể hiện ở sắc thái riêng mang tính đặc trưng của “vùng, miền” Đó vừa là nét chung vừa là đặc trưng riêng của văn học dân gian thể hiện với
tư cách là một loại hình nghệ thuật
Tác phẩm văn học dân gian thường xây dựng các hình tượng nghệ thuật mang đặc điểm chung nhất tiêu biểu cho tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của một lớp người, một giai cấp trong xã hội được biểu lộ bằng hình thức nghệ thuật mang tính chung nhất Ở đây cái riêng trở thành cái chung trong tập thể sáng tạo Mỗi một thể loại, một công thức truyền thống dân gian được lưu truyền, tiếp thu, sáng tạo ở một địa phương sẽ thống nhất với nhau ở những giá trị bất biến Đồng thời, với quá trình bảo lưu những yếu tố bền vững thì văn học dân gian cũng kết nạp vào bản thân nó những yếu tố biến đổi cho phù hợp với tâm lí, truyền thống văn hóa của từng địa phương Ca dao là một thể loại lớn của văn học dân gian và nó cũng thể hiện một cách tập trung và bản chất mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng của từng vùng Những sắc thái riêng của ca dao từng vùng rất phong phú Mỗi vùng có những biểu hiện khác nhau,
có những đặc trưng riêng biệt và rất đa dạng Ngoài những đặc điểm gia nhập vào
Trang 29những đặc trưng thống nhất của ca dao truyền thống, ở mỗi vùng, ca dao vẫn giữ cho mình những nét riêng nhất định Đồng thời, chúng ta cũng thấy được tính thống nhất bao hàm những đặc điểm bản chất nhất, sâu sắc nhất, chung nhất của ca dao các vùng Bởi vì sự thống nhất chỉ có được trên cơ sở những mặt, những đặc điểm, những nội dung và hình thức mang tính ổn định của ca dao từng vùng Những đặc điểm nội dung và hình thức đó phải mang tính phổ biến và hình thành nên các truyền thống sáng tác, diễn xướng thì mới có thể tạo ra tính thống nhất
Mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao lưu truyền ở Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng còn thể hiện những quy luật của sự sáng tác, lưu truyền và diễn xướng của thể loại này Ca dao là một hiện tượng ý thức
xã hội, một thể loại văn học dân gian Nó cũng chịu sự tác động của những quy luật tồn tại của sự vật, hiện tượng đồng thời có những quy luật hình thành và phát triển đặc thù của thể loại
Dù ca dao tồn tại ở nhiều vùng miền khác nhau nhưng chúng luôn có mối liên
hệ và chuyển hóa, tác động qua lại với nhau Cho nên, ca dao ở mỗi vùng không phải và không thể là một hiện tượng khép kín Mối quan hệ giữa sự thống nhất và sắc thái riêng vừa thể hiện sự đấu tranh vừa thể hiện sự tiếp thu, chuyển hóa, đồng hóa hoặc vay mượn, kế thừa các yếu tố Ca dao lưu truyền ở Hà Nam ngoài việc thể hiện những nội dung và hình thức của ca dao vùng đồng bằng sông Hồng, chúng còn góp phần bổ sung, làm phong phú hơn cho vốn ca dao vùng đồng bằng sông Hồng bằng những diện mạo mới Từ đó mỗi vùng hình thành nên những bộ phận ca dao có sắc thái riêng biệt, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của nhân dân mỗi địa phương Sắc thái riêng của ca dao mỗi vùng đó không nằm ngoài khuôn khổ chung, càng không phải là sự đối lập với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng Do đó, những biểu hiện độc đáo riêng biệt của ca dao lưu truyền ở Hà Nam không đưa đến một thể loại hay hình thức nghệ thuật mới độc lập với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng
Giới khoa học đã chứng minh sự đa dạng của môi trường sinh thái, nhất là với các yếu tố trội là một trong những yếu tố góp phần tạo nên sự đa dạng về văn hoá, đồng thời cũng góp phần xác định danh tính của nền văn hoá đó Chẳng hạn, đối với Việt Nam, những đặc điểm của một vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều,
nổi trội là các yếu tố sông nước và thực vật đã tạo nên nét độc đáo của nền văn minh
nông nghiệp lúa nước, biểu hiện trong tập quán, kĩ thuật canh tác, cư trú, ăn uống,
Trang 30ứng xử, sinh hoạt cộng đồng, tín ngưỡng, phong tục tập quán, văn chương… mà nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đến
Ở vùng châu thổ Bắc Bộ, dòng sông Hồng đã chi phối rất mạnh đến sự hình thành, phát triển của văn hoá Việt Kĩ thuật đắp đê thời trước còn ở trình độ thấp, nên cảnh vỡ đê diễn ra thường xuyên, tạo ra các ô trũng và đầm lầy Hai tỉnh Hà Nam và Hưng Yên ngày nay là những ô trũng tiêu biểu đó Dĩ nhiên, mỗi tỉnh lại có một nét trũng đặc thù Ô trũng Hưng Yên có nhiều đầm lầy khá lớn (như đầm Dạ Trạch), ô trũng Hà Nam lại là vùng trũng vừa vốn có từ lâu đời, vừa do đắp đê chống lụt, vô tình ngăn quá trình bồi phủ phù sa chưa hoàn tất, vừa do cảnh đê vỡ gây ra Từ xưa đến nay, Hà Nam vẫn được coi là cái “rốn” của vùng châu thổ Bắc
Bộ, khi cảnh lụt lội xảy ra thì chỉ thấy nước và nước cùng muôn vàn cảnh khổ của người dân nơi đây Bởi vậy không lấy làm ngạc nhiên khi đọc ca dao lưu truyền ở
Hà Nam ta bắt gặp rất nhiều từ, cụm từ : “đồng sâu”, “nước cả”, “đồng trắng nước
trong” Câu phương ngôn Sống ngâm da, chết ngâm xương (có lẽ chỉ Hà Nam mới
có) đã khái quát tất cả
Hà Nam là một tỉnh mang yếu tố bán sơn địa đậm nét, đồi núi nhiều, tập trung chủ yếu ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm Đặc điểm lớn nhất, bao trùm nhất của tự nhiên, sinh thái huyện Thanh Liêm là tuyệt đại bộ phận đất đai vùng này xưa đều chìm sâu dưới mặt nước trong một thời gian dài, chỉ có một số
gò, đống lớn nổi lên giữa đồng nước Đó chính là những lí do giải thích vì sao
những từ núi, đồi, gò, đống, hòn được nhắc đến nhiều lần (55 lần) trong ca dao
lưu truyền ở Hà Nam, mà ta ít thấy ở ca dao của các vùng, miền khác Đến đây, chúng ta có thể khẳng định lại một lần nữa điều kiện tự nhiên, sinh thái hay nói khác đi là môi trường sống của con người là một trong những điều kiện đầu tiên
để tạo nên một nền văn hoá có bản sắc
Tính độc đáo của việc sử dụng cái chung để nhận thức cái riêng trong văn học dân gian là ở chỗ trong khi di chuyển trong không gian và thời gian, các hình tượng nghệ thuật vốn không có tính xác định nội dung khách quan lại trải qua một quá trình cụ thể hóa bằng những đặc điểm xã hội lịch sử, cụ thể
Trong văn học dân gian, ca dao là dòng nước mát ngọt lành, lưu giữ cái đẹp tâm hồn cuộc sống của con người lao động bao đời nay Ở đâu có con người là ở đó có văn hóa, có văn học dân gian và có ca dao Sắc thái cụ thể của địa phương, cá nhân từng vùng đất đã được in dấu đậm trong ca dao bằng những biểu hiện cụ thể của tổ
Trang 31chức ngôn ngữ, những hình tượng nghệ thuật làm nên cái riêng trong ca dao Xuất phát từ thực tiễn phản ánh đời sống tâm tư, tình cảm, ca dao đã tìm cho mình một cách biểu hiện riêng, một lối nói riêng thể hiện tính chất ổn định, bền vững nhưng cũng hết sức uyển chuyển, linh hoạt trong sáng tạo nghệ thuật Điều đó có thể nhận thấy rõ khi đọc một lời ca dao và xác định được rằng nó đã ra đời ở vùng nào, địa phương nào
Do đặc trưng về mặt kết cấu của ca dao dựa vào các công thức truyền thống nên
ca dao mỗi vùng tất nhiên đều tiếp thu từ ca dao truyền thống những yếu tố bền vững
đó Những sáng tác ca dao ở từng vùng không phải không có sự tác động trở lại đối với vốn ca dao truyền thống, nhưng sự tác động không nhiều
Như vậy, tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao lưu truyền trên đất Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng Bắc Bộ là những vấn đề thuộc về bản chất nghệ thuật của ca dao Mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao lưu truyền trên đất Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng Bắc Bộ thể hiện được tính phổ biến của quy luật sáng tác, lưu truyền tác phẩm văn học dân gian, bản chất thẩm
mĩ của thể loại Mối quan hệ này hết sức mật thiết và không thể tách rời nhau, chúng
là hai mặt của một vấn đề Biểu hiện của mối quan hệ đó cũng rất đa dạng khi chúng
ta xem xét những khía cạnh nội dung cũng như hình thức nghệ thuật của ca dao 1.7 Tiểu kết
Chương 1 đã giới thuyết một số khái niệm như ca dao, khái niệm vùng văn hoá dân gian hay tiểu vùng văn hóa, phân vùng văn học dân gian, phân vùng ca dao…
và đã giới thiệu môi trường tự nhiên xã hội và lịch sử của vùng đồng bằng sông Hồng, văn học dân gian Hà Nam trong cái nhìn địa - văn hoá, mối quan hệ giữa tính thống nhất và sắc thái riêng của ca dao lưu truyền ở Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng
Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ những bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian có hoặc không có khúc điệu, trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca
Vùng đồng bằng sông Hồng là nơi hình thành người Việt, là nơi sinh ra các nền văn hoá lớn bao gồm thủ đô Hà Nội, tỉnh Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, thành phố Hải Phòng, phần đồng bằng của các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang
Trang 32Đã có vùng văn hóa, thì cũng có tiểu vùng ca dao Vùng văn hoá dân gian dù rộng hay hẹp cũng phải đậm đặc các hiện tượng văn hoá dân gian, trong đó có những hiện tượng nổi trội, ghi dấu tích của thời đại, có sắc thái vùng, miền rất rõ rệt, tương đối bền vững Trong mỗi vùng văn hoá dân gian lại có các tiểu vùng văn hoá dân gian Tiểu vùng văn hoá dân gian vừa có đặc trưng của vùng, nhưng sắc thái địa phương lại đậm đà hơn, nhất là về một số hiện tượng nhất định
Trong mỗi tiểu vùng văn hoá dân gian đều có những hiện tượng nổi trội, chiếm
ưu thế, là hồn cốt của vùng, chi phối hoặc chứa đựng các hiện tượng khác
Văn học dân gian Hà Nam dù không đồ sộ về tầm vóc, không lớn về số lượng như văn học dân gian các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, song có nhiều loại hình, loại thể, trong mỗi thể loại lại có nhiều tiểu loại khác nhau Hầu hết các loại hình, loại thể của văn học dân gian đều vận động xung quanh hạt nhân cơ bản là lễ hội cổ truyền (hội đình, hội chùa, hội đền…) Qua văn học dân gian Hà Nam nói chung, ca dao lưu truyền ở Hà Nam nói riêng, người ta cảm nhận được một phần hiện thực đời sống và dòng chảy lịch sử của cư dân nông nghiệp Hà Nam
Trang 33Chương 2 KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA CA DAO LƯU TRUYỀN Ở HÀ NAM
TRÊN PHƯƠNG DIỆN NGÔN TỪ
Nội dung của ca dao lưu truyền ở Hà Nam được nhóm soạn giả Văn nghệ dân
gian Hà Nam chia thành sáu chủ đề lớn tương đối toàn diện, hợp lí Khảo sát ca dao
lưu truyền ở Hà Nam, chúng tôi đã thống kê các chủ đề với nội dung sau:
Trong luận văn, chúng tôi lựa chọn năm chủ đề: đất nước – con người; truyền
thống thượng võ chống xâm lăng; bộ mặt xã hội thực dân phong kiến; tinh thần, thái độ lao động sản xuất; tình yêu nam nữ và hôn nhân gia đình làm đối tượng khảo sát Thông
qua năm chủ đề này, chúng tôi tìm hiểu nét riêng về nội dung, nghệ thuật của ca dao lưu truyền ở Hà Nam so với ca dao vùng đồng bằng sông Hồng
2.1 Địa danh Hà Nam qua ca dao
Trong cuốn Thi pháp ca dao, GS Nguyễn Xuân Kính đã nhận xét: “Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã công nhận rằng tên riêng chỉ địa điểm (địa danh), nhất là những tên gọi ít quen thuộc có khả năng tạo ra một thứ ma thuật âm thanh và nhiều nhà thơ thế kỉ XX
đã sùng bái thủ pháp sử dụng các tên gọi này Ở nước ta, tháng 5 năm 1954 trong bài
Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Tố Hữu đã viết những câu thơ tuyệt diệu:
Mường Thanh, Hồng Cúm, Him Lam Hoa mơ lại trắng, vườn cam lại vàng
Đặc biệt trong bài Ta đi tới (viết tháng năm 1954), nhà thơ đã sử dụng rất nhiều
địa danh”
GS Nguyễn Xuân Kính cũng đã thống kê: “Trong 12.487 lời ca dao người Việt,
số lời sử dụng tên riêng chỉ địa điểm chiếm 8,4%” [25, tr.132]
Khảo sát 526 lời ca dao lưu truyền ở Hà Nam, thuộc năm chủ đề như chúng tôi
đã giới thiệu ở trên, số lời sử dụng tên riêng chỉ địa điểm cụ thể như sau:
Trang 34Chủ đề Số lời Tỉ lệ
(%) tên riêng chỉ địa điểm
Tỉ lệ (%)
Truyền thống thượng võ chống xâm lăng 75 14,2 43 57
Tinh thần thái độ lao động sản xuất 55 10,4 0 0 Tình yêu nam nữ và hôn nhân gia đình 215 41,0 4 9
Nhận xét:
- Chủ đề Đất nước – con người có 121 lời, trong đó có 117 lời sử dụng tên riêng chỉ địa điểm, 4 lời là không nhắc tới địa danh, nhưng lại nói về đặc điểm rất đặc trưng, hoặc món ăn truyền thống của địa phương Nên mặc dù không sử dụng tên riêng chỉ địa điểm, nhưng người Hà Nam vẫn biết câu ca dao đó nói về địa phương
nào Ví dụ: Nên tình nghĩa, ốc chấm tương,/ Dù xa muôn dặm tìm đường tới nơi./
Không nên tình nghĩa thì thôi,/ Ốc tương, tương ốc cứ xơi ngon dền!
Lời ca trên, tác giả dân gian Hà Nam nói đến địa danh Liễu Đôi – tiểu vùng văn hoá tiêu biểu của Hà Nam Bởi ốc chấm tương là món ăn đặc trưng của địa phương
này Hoặc ở lời ca khác: Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,/ Em muốn theo chồng cho trọn
hiếu trung./ Quê anh đồng trắng nước trong,/ Chẳng chê ngổ nổi dừa rong thì về
Chàng trai không nói tên quê mình, nhưng qua cách miêu tả, người đọc cũng nhận ra
“quê anh” là huyện Bình Lục – một huyện trũng nhất vùng đồng chiêm Hà Nam Xưa kia, người ta gọi Bình Lục là “cái rốn của vùng đồng bằng Bắc Bộ” Ở đó người dân quanh năm phải bơi ngụp trong nước, đời sống khổ cực, thiếu thốn vô cùng
- Chủ đề Truyền thống thượng võ chống xâm lăng có 75 lời, trong đó có 43 lời
nhắc đến địa danh: huyện Thanh Liêm được nhắc đến nhiều nhất: 36 lần, Bình Lục
5 lần, Kim Bảng 2 lần
- Chủ đề Bộ mặt xã hội phong kiến thực dân có 8 trên tổng số 60 lời sử dụng tên
riêng chỉ địa điểm Trong đó có những lời không nhắc đến địa danh, nhưng qua việc
tố cáo những tên địa chủ với những tên tuổi cụ thể, những tội ác điển hình thì người đọc có thể nhận ra tác giả dân gian muốn nói đến địa danh nào:
- Đốc Đắc nổi tiếng thôn nhà
Ba mươi mốt nhật đem quà biếu quan
- Lý Nhưng ơi hỡi Lý Nhưng
Trang 35Tưởng là ông, hoá ra thằng ăn dơ!
- Bá Bính nó mới ác ghê Tôi làm nó chẳng có hề tính công…
Đốc Đắc – tên cường hào gian ác - người làng Vị Thượng thuộc xã Trung Lương, huyện Bình Lục Lý Nhưng – tên lý trưởng nổi tiếng đục khoét, Bá Bính – tên địa chủ cường hào đại gian, đại ác, cả hai đều ở làng Đại Hoàng (nay thuộc xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân)
- Trong 526 lời ca dao lưu truyền ở Hà Nam, số lời sử dụng tên riêng chỉ địa điểm chiếm 32,7% So với ca dao người Việt, số bài ca dao sử dụng tên riêng chỉ địa điểm ở ca dao lưu truyền ở Hà Nam chiếm tỉ lệ cao hơn Bởi vì ca dao lưu truyền ở
Hà Nam là ca dao của địa phương, mà ca dao lưu truyền ở địa phương, nên có đặc điểm là tính cụ thể cao hơn, tính khái quát giảm
- Trong bộ phận ca dao lưu truyền ở Hà Nam có tên riêng chỉ địa điểm, chủ đề
Đất nước và con người chiếm tỉ lệ nhiều nhất
Trong Thi pháp ca dao, GS Nguyễn Xuân Kính đã dựa vào hai tiêu chí: chức
năng định danh và nguồn gốc để phân loại địa danh trong ca dao Còn khi khảo sát
bộ phận ca dao lưu truyền ở Hà Nam có tên riêng chỉ địa điểm, chúng tôi tạm chia làm các loại: địa danh lịch sử - văn hoá, địa danh ẩm thực, địa danh làng nghề
2.1.1 Địa danh lịch sử - văn hoá
Văn hoá vật thể là các hiện tượng văn hoá có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học, dân tộc học, mỹ học, nghệ thuật học… tồn tại một cách hữu hình mà con người
có thể tiếp xúc một cách cảm tính, trực tiếp thông qua các giác quan Đó là những đền đài, lăng tẩm, bia mộ, thành quách, danh lam thắng cảnh…
Văn hoá vật thể ở Hà Nam có thể kể đến các di chỉ, di vật như mộ Hán, tiền đồng cổ Trung Quốc, 828 đình, chùa, miếu, phủ, bia… gồm đủ loại hình: di tích lịch
sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ và thắng cảnh
Mỗi tên đất, tên làng… đều gắn với một sự tích, một sự kiện nào đó của lịch sử, của văn hoá dân gian Hà Nam Huyện nào của tỉnh Hà Nam cũng có một tiểu vùng văn hoá dân gian đáng chú ý Huyện Kim Bảng có tiểu vùng văn hoá Quyển Sơn, ven sông Đáy với những truyền thuyết về Lý Thường Kiệt, hát Dậm Huyện Duy Tiên có tiểu vùng văn hoá Đọi Sơn với ngôi chùa có kiến trúc độc đáo xây dựng từ thời Lý, bia Sùng Thiện Diên Linh, dấu tích Đại Hành Hoàng đế đi cày tịch điền, nghề truyền thống làm trống của làng Đọi Tam nổi tiếng Huyện Lý Nhân có tiểu
Trang 36vùng văn hoá Nhân Đạo với đền Trần Thương độc đáo và tín ngưỡng thờ người anh hùng dân tộc Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Huyện Thanh Liêm có tiểu vùng văn hoá Liễu Đôi Chúng tôi đã thống kê tần số xuất hiện của những địa danh
trong ca dao lưu truyền ở Hà Nam qua chủ đề Đất nước – con người như sau:
diệu là trải qua bao biến động của thời gian, tại một địa bàn đất không rộng, người không đông giữa vùng chiêm trũng này còn lưu truyền và gìn giữ được hàng ngàn tư liệu về văn hoá dân gian, bao gồm các di tích, di chỉ, lễ hội, kiến trúc, phong tục, tập quán, tín ngưỡng dân gian, lễ hội… cùng với một kho tàng văn học dân gian vô cùng quý giá, phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội Đây là một điểm khác biệt của tiểu vùng văn hoá dân gian Liễu Đôi với các tiểu vùng văn hoá dân gian khác trong tỉnh Bởi vì tiểu vùng văn hoá Đọi Sơn, Quyển Sơn… thường chỉ có một số hiện tượng văn hoá dân gian nhất định, số lượng không lớn, thì ở Liễu Đôi, các hiện tượng văn hoá dân gian lại phong phú, đa dạng Điều này được thể hiện rất rõ trong ca dao lưu truyền ở Hà Nam
Các lễ hội vật võ Liễu Đôi, lễ hội đình làng Đống Cầu, hay lễ hội đền Bà Áo The tồn tại và phát triển là để rèn luyện tinh thần thượng võ, mài sắc ý chí chống xâm lược, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho quê hương, sẵn sàng chiến thắng thiên tai
và các thế lực áp bức bóc lột khác, chứ không phải đơn thuần chỉ để thi tài vật võ, vui xuân Ca dao lưu truyền ở Hà Nam đã giới thiệu, mời gọi khách thập phương đến dự các lễ hội ở nơi đây:
Phủ Bà mở hội hôm rằm, Còn như hội vật mồng năm mồng mười
Trang 37Phủ Bà là đền thờ Bà Áo The (còn gọi là đền Thổ Tinh công chúa) đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam công nhận là di tích lịch sử - văn hoá cấp tỉnh từ năm 2000 Tương truyền Bà Áo The là một trong số các nữ tướng của Hai Bà Trưng Trong đền,
hiện vẫn còn đôi câu đối: Trưng tướng đại danh thuỳ vũ trụ, Khôn nguyên hậu đức
tráng sơn hà, tạm dịch là: Danh tướng thời Hai Bà Trưng tiếng thơm lừng lẫy muôn
nơi, đức đầy như đất bao trùm sông núi Đây là ngôi đền lớn nhất trong hệ thống đền ở Liễu Đôi Đền Bà Áo The gắn với lễ hội đền Bà Áo The tổ chức vào rằm tháng tám
cánh đồng còn mang tên cổ: Cánh Miễu, Mã Bái, Cờ Quạt… Thế đất của ngôi đền có
hình con “quy”, đầu hướng về dãy núi đất Non (xã Thanh Lưu), các gò đất xung quanh
là các chân con rùa Công trình kiến trúc nằm đúng tâm của mai rùa Còn “hội vật mồng
năm mồng mười” là hội vật võ Liễu Đôi mở từ mồng năm đến mồng mười tháng giêng
hàng năm, để tưởng nhớ vị Thánh họ Đoàn – người con của dân làng đã xả thân hy sinh
để cứu nước, cứu dân Ở câu ca khác người bình dân cũng mời gọi một cách rất thiết
tha du khách đến xem hội: Ai ơi về đất Liễu Đôi/ Không thạo võ nghệ thì ngồi mà xem Thanh Liêm còn có nhiều dấu ấn: Mả dấu, ruộng hương hoả, đất thềm lều, Giàn
thề, Lẫm Đông, Lẫm Đoài, Mả Rút, Lăng Ninh Thái còn gọi là Đình Lăng, nơi thờ tứ vị
Hoàng Đế: Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, Lê Trung Tôn và Lê Ngoạ Triều; thờ tam
vị Đại vương: Minh Quang, Thiên Cang và Nhữ Hoàng Đê là bạn thân của Lê Hoàn từ thuở hàn vi… Đó là những di chỉ gắn liền với cuộc đời của Lê Hoàn – vua Lê Đại Hành – một vị vua anh hùng nhà Tiền Lê, người đất Bảo Thái (Liêm Cần, Thanh
Liêm) Những địa danh này đi vào trong ca dao rất tự nhiên: Đồn rằng Ninh Thái xa
xôi,/ Anh nay cất việc lên chơi mấy ngày./ Nguyệt sao nguyệt tỏ rày rày,/ Bên kia núi Cái bên này đình Lăng./ Giàn Thề lại nổi một vầng,/ Mới nhìn đã thấy bạc dâng mặt người./ Rồng nằm há miệng thảnh thơi,/ Chỗ kia Mả Dấu, ấy thời nhà Lê…
Ca Dao lưu truyền ở Hà Nam còn nhắn nhủ du khách khi đến với Thanh Liêm, hãy
dừng chân ngắm cảnh chùa Tiên – một ngôi chùa trên núi thuộc xã Thanh Lưu: Ngày
xuân em liệu có dài/ Chơi chùa Tiên kẻo một mai nữa già Đặc biệt du khách đừng
quên đến với Kẽm Trống – một thắng cảnh nên thơ đã được xếp hạng từ năm 1962:
Chèo thuyền qua bến Lòng Bong Ghé qua Kẽm Trống vào trong Hang Bàn
Kẽm Trống hiểu đơn giản là khoảng trống do con sông Đáy chảy từ hướng tây bắc – đông nam qua nhiều xóm làng, đến đây uốn mình qua giữa hai triền núi đá vôi
Trang 38tạo nên Khung cảnh thiên nhiên ở đây tuy không rộng lớn, choáng ngợp nhưng sông núi, đồng ruộng, cỏ cây, đất trời đã tạo dựng, hoà nhập thành một quần thể Trời xanh, núi biếc cùng mây trời in bóng xuống dòng sông Đáy trong xanh Vào buổi sớm mai, những ngọn núi xanh sẫm như bồng bềnh trôi trên biển sương mù Cảnh như thực như mơ ấy sẽ làm du khách liên tưởng đến những câu chuyện lung linh đầy màu sắc huyền thoại Bất chợt những âm thanh vui tai khi vạn chài buông lưới, gõ xuống mạn thuyền xua cá khiến bạn quay về với thực tại Từng đoàn thuyền, buồm no gió ngược xuôi làm cho cảnh vật càng thêm hấp dẫn Trước phong cảnh trời nước hữu tình, núi sông ngoạn mục như vậy, bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân
Hương thế kỷ XVIII khi đi qua Kẽm Trống đã cảm tác một bài thơ: Hai bên thì núi
giữa thì sông/ Có phải đây là Kẽm Trống không?/ Gió giật sườn non khua lắc cắc/ Sóng dồn mặt nước vỗ long bong…
Thắng cảnh núi Đọi nổi tiếng với Nam thiên đệ tam động của Hà Nam, gắn với
các sự kiện lịch sử: vua Tiền Lê cày ruộng tịch điền, vua Hậu Lý dựng tháp, dựng bia, mở hội chùa nô nức gần xa:
Núi Đọi ai đắp mà cao Ngã ba sông Lệnh ai đào mà sâu Giẽ Guột, ai bắc nên cầu Bến sông Thọ Kiều ai chở đò ngang?
Núi Đọi thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, cao chừng 400m, nổi giữa đồng bằng trù phú, nằm cách sông Châu 700 m về phía đông, cách thành phố Phủ Lý hơn
7 cây số theo hướng đông bắc Ở vị trí này, Đọi Sơn tự nó đã tạo nên cảnh quan khá đặc sắc Từ trên đỉnh núi, nhìn xuống ta thấy dòng sông Châu uốn khúc, như một dải lụa xanh ôm lấy cánh đồng phì nhiêu mượt mà tươi tốt Từ phía bắc nhìn về, núi tựa như dáng voi phục Ở đó có vua Lê Đại Hành quê Ninh Thái – Thanh Liêm, có vua Lý Nhân Tông sùng Phật, có vua Lê Thánh Tông sùng Nho, có cả mấy bá tước nhà Mạc vì dân, vì nước mà dựng lại bia cổ, sửa lại chùa Đến với núi Đọi để được
“thanh nhàn lên đỉnh núi cao, đá mừng mạc khách, đợi chào chủ nhân, lâng lâng
chẳng chút bụi trần, bâng khâng núi Thiểm non Thần chi đây, am Tiên, cảnh Bụt xinh thay, đường mây thăm thẳm, hang mây bước vào”
Khoảng những năm Long thuỵ Thái bình (1054 – 1058) triều vua Lý Thánh Tông,
tể tướng Dương Đạo gia đã cho xây dựng một ngôi chùa trên núi Đọi Chùa có tên gọi
là Đọi Tam, tên chữ là Linh Quy Tự, kiến trúc theo kiểu chữ “đinh”, gồm bái đường 5
Trang 39gian, phía sau 3 gian Toàn bộ hệ thống bằng cột đá, đường kính 0,3m kê trên chân tảng
cổ bồng Đằng trước chùa là một gác chuông tám mái Các góc mái tạo đầu đao mềm mại và bộ khung với bốn hàng cột gỗ Phong cách kiến trúc của gác chuông đậm nét thời Hậu Lê Bên cạnh chùa là phủ mẫu, kiến trúc theo kiểu chữ “đinh”, đằng trước 5 gian, hậu cung 3 gian, được liên kết với nhau bởi kèo cầu mái chảy
Dưới chân Long Đọi Sơn cách đây 1022, Hoàng đế nhà Tiền Lê – Lê Đại Hành
đã tiến hành nghi lễ cày ruộng mùa xuân Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Đinh Hợi
Thiên Phúc năm thứ 8 (987) mùa xuân, Vua Lê Đại Hành lần đầu cày ruộng tịch điền
ở chân núi Đọi (Duy Tiên, Hà Nam), được một hũ vàng nhỏ, lại cày ruộng ở núi Bàn Hải được một chĩnh bạc nhỏ, nhân đó đặt là ruộng “Kim Ngân” Năm 2009 tỉnh Hà
Nam đã phục dựng lễ hội tịch điền Đọi Sơn nhằm khuyến khích nông nghiệp, xây dựng đời sống văn hoá tinh thần, kích thích sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
và cả vùng lân cận đồng bằng sông Hồng Từ đó đến nay, cứ vào ngày mồng 7 tháng giêng lễ hội tịch điền lại được tổ chức ở đây Tham dự lễ hội luôn có sự hiện diện của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các Bộ, ban ngành Trung ương và đại diện một số tỉnh đồng bằng sông Hồng Du khách đã đến dự lễ hội được tận mắt chứng kiến một lão nông làng Đọi Tam nhập vai quân vương cày ruộng, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của tỉnh mở sá cày trong tiếng hò reo cổ vũ nồng nhiệt của nhân dân, trong
âm hưởng ngân vang của tiếng trống Đọi Tam và rừng cờ hội rực rỡ
Ngã ba sông Lệnh tức chỗ sông Châu gặp sông Hồng thuộc địa phận làng Yên Lệnh, nhánh sông Châu này nay đã bị lấp
Giẽ Guột tức là cầu Giẽ, cầu Guột trên đường số 1, Phủ Lý – Hà Nội Bến sông Thọ Cầu (còn gọi là Thọ Kiều) tức là bến Câu Tử trên sông Châu bên nam là xã Đinh Xá huyện Bình Lục, bên Bắc là thôn Thọ Cầu xã Châu Sơn huyện Duy Tiên Địa danh này bắt nguồn từ một sự tích được truyền thuyết giải thích theo kiểu “từ nguyên học dân gian”
Chuyện kể rằng: Viên tướng trẻ của Lê Hoàn thường từ núi Cõi (Liêm Cần, Thanh Liêm) cưỡi ngựa trắng qua bến Thọ Kiều về quê ở huyện Phù Vân (Duy Tiên ngày nay) Người con gái trẻ làm nghề lái đò, đẹp người, tốt nết Từ quen rồi thầm yêu, trộm nhớ, dần dà họ yêu nhau và ước hẹn thành đôi
Chẳng may cái lần qua sông Châu ấy, lũ kéo về, sóng trào, nước xoáy, đò bị đắm Cô gái lái đò vốn quen sông nước, chỉ kịp cứu được viên tướng trẻ, còn con ngựa câu thì chìm trong dòng nước lũ Tiếc ngựa quý, giận cái bến sông, viên tướng
Trang 40trẻ đổi bến Thọ Kiều thành Câu Tử (bến đò chết ngựa) Cảm thông, dân làng thuận tình cũng thay tên làng thành Câu Tử
Nghệ nhân dân gian sau này nhớ tích xưa, chuyện cũ, thương cảm gia cảnh, tình duyên cô lái đò đã sáng tác bài hát “Hát Mụa” lưu truyền khắp vùng ngã ba sông Móng:
Trên trời có đám mây xanh/ Có con ngựa bạch chạy quanh gầm trời/ Đôi ta muốn lấy nhau chơi/ Cái duyên không đậu thì giời không se/ Cái nơi chết dấp bờ tre/ Bởi duyên giời định cứ se em vào/ Ba đồng một sợi chỉ đào/ Áo gấm không vá, vá vào
áo tơi/ Cực lòng thiếp lắm chàng ơi/ Biết rằng lên ngược xuống xuôi lỡ làng
Ghi nhớ cội nguồn dân tộc, coi Trần Hưng Đạo là cha nên người dân Hà Nam
vẫn nhắc nhau : “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” Ngày giỗ Đức Thánh Trần
(20-8 âm lịch), người người đi hội Trần Thương để tưởng nhớ, rước lễ tôn nghiêm,
cũng giống như tháng ba đi hội Phủ Giầy giỗ Thánh Mẫu Liễu Hạnh:
Nhất vui là hội Trần Thương
Đủ đình đủ đám thập phương tiếng đồn
Đền Trần Thương thuộc xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân thờ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và các tướng có công lớn trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông Thời kì đánh giặc Nguyên Mông, nơi đây
là căn cứ quân lương và nơi an dưỡng thương binh Hằng năm cứ vào ngày 14 tháng
giêng (âm lịch), du khách thập phương đến đây lễ Đức Thánh Trần, tham dự Lễ phát
lương với mong ước một năm no đủ, mùa màng bội thu
Huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam có tới hàng trăm làng xã, nhưng ít có làng xã nào đẹp, hữu tình như làng Quyển Sơn Cảnh quan nơi đây có nhiều, nhưng đáng chú ý nhất phải kể đến núi Cấm, đền Trúc, sông Đáy, chùa Giỏ, chùa Trung, đình Trung Những không gian này đã được người xưa “thiêng hoá”, “linh hoá”, “lịch sử hoá” qua hàng chục truyền thuyết, huyền tích, huyền thoại, qua lễ hội hát Dậm Ca dao Hà Nam đã ca ngợi vẻ đẹp kỳ thú của mảnh đất lịch sử này:
Quyển Sơn vui thú nhất đời Dốc lòng trên Dậm dưới bơi ta về Đôi bên núi tựa sông kề Ngược xuôi tiện nẻo, lắm nghề làm ăn
Tương truyền Lý Thường Kiệt khi cất quân đi đánh Chiêm Thành đã trú quân tại vùng núi Thi Sơn (còn tên là núi Cấm) thuộc thôn Canh Dịch tức là thôn Quyển Sơn xã Thi Sơn huyện Kim Bảng ngày nay Đêm ấy ông mộng thấy có hai vị nữ