KHÁI NIỆM UYỂN NGỮ Lý Thiệu Đức trong cuốn “Cổ Hán ngữ tu từ” đã chỉ ra: ở những ngữ cảnh ngôn ngữ nhất định, khi phải nói thẳng tình cảm hoặc dự định nào đó sẽ tác động mạnh mẽ tới ngư
Trang 1Đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
- -
Hà Hội Tiên
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN
VÀ CÁCH CHUYỂN DỊCH CHÚNG SANG TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Trang 2Đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
- -
Hà Hội Tiên
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN
VÀ CÁCH CHUYỂN DỊCH CHÚNG SANG TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS Nguyễn Văn Khang
Hà Nội - 2009
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
0.1 Lí do lựa chọn đề tài 1
0.2 Mục đích của luận văn 2
0.3 Nhiệm vụ của luạn văn 2
0.4 Phương pháp nghiên cứu 2
0.5 Cấu trúc của luận văn 2
Chương 1 Cơ sở lí thuyết của luận văn……… 4
1.1 Tình hình nghiên cứu uyển ngữ tiếng Hán……… 4
1.2 Khái niệm uyển ngữ 6
1.2.1 Các định nghĩa về uyển ngữ……… 6
1.2.2 Khái quát về uyển ngữ……… 11
1.3 Phân loại uyển ngữ……… 12
1.3.1 Phân loại uyển ngữ từ góc độ đơn vị ngôn ngữ……… 12
1.3.2 Phân loại uyển ngữ từ góc độ ngữ nghĩa……… 13
1.3.3 Phân loại uyển ngữ từ góc độ đánh dấu về thành tố cấu tạo… 14 1.3.4 Phân loại uyển ngữ từ góc độ ý nghĩa sắc thái………
15 1.4 Chức năng của uyển ngữ……… 16
1.4.1 Chức năng kiêng kị ……… 17
1.4.2 Chức năng lịch sự ……… 17
1.4.3 Chức năng xóa bỏ sự thô tục ……… 18
Trang 41.4.4 Chức năng che giấu ……… 18
1.4.5 Chức năng hài hước ……… 19
1.5 Mối quan hệ giữa uyển ngữ với các cách dùng khác có liên quan……… 20
1.5.1 Uyển ngữ với kiêng kị ……… 20
1.5.2 Uyển ngữ và taboo……… 24
1.5.3 Uyển ngữ với lời nói khiêm tốn ……… 25
1.5.4 Uyển ngữ và ngôn từ cát tường……… 26
1.6 Tiểu kết……… 28
Chương 2 Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của uyển ngữ tiếng Hán
30 2.1 Nguyên tắc cấu tạo uyển ngữ 30
2.1.1 Nguyên tắc khoảng cách……… 30
2.1.2 Nguyên tắc liên quan 31
2.1.3 Nguyên tắc mơ hồ 31
2.1.4 Nguyên tắc hài lòng 33 2.2 Đặc điểm của uyển ngữ 35
2.2.1 Tính có thể chấp nhận……… 35
2.2.2 Tính gián tiếp……… 36
2.2.3 Tính dân tộc……… 37
2.2.4 Tính thời đại……… 37
2.3 Đặc điểm cấu tạo của uyển ngữ……… 38
Trang 52.3.1 Đặc điểm về thành tố cấu tạo ……… 38
2.3.2 Đặc điểm cấu tạo từ của uyển ngữ……… 38
2.3.2.1 Từ đơn âm tiết 41 2.3.2.2 Từ ghép 41 2.4 Các thủ pháp cấu tạo uyển ngữ……… 43
2.4.1 Sử dụng thủ pháp ngữ âm cấu tạo uyển ngữ……… 43
2.4.1.1 Tỉnh lược âm cấu tạo uyển ngữ 43 2.4.1.2 Sử dụng hình thức tránh âm biến âm 43 2.4.2 Sử dụng thủ pháp từ vựng cấu tạo uyển ngữ……… 44
2.4.2.1 Thay thế bằng từ trái nghĩa……… 44
2.4.2.2 Thay thế bằng từ đồng nghĩa, từ gần nghĩa……… 44
2.4.2.3 Dùng từ mang nghĩa xấu để khen ngợi……… 44
2.4.2.4 Lợi dụng nghĩa bóng của từ đa nghĩa……… 45
2.4.2.5 Mượn từ ngoại lai……… 46
2.4.3 Sử dụng thủ pháp ngữ pháp cấu tạo uyển ngữ……… 46
2.4.3.1 Sử dụng trợ từ……… 46
2.4.3.2 Sử dụng phó từ và ngữ khí từ……… 46
2.4.3.3 Sử dụng đại từ……… 47
2.4.3.4 Sử dụng phương thức phủ định……… 47
2.4.3.5 Tỉnh lược……… 48
2.4.3.6 Sử dụng câu phức giả thiết……… 49
Trang 62.4.3.7 Sử dụng câu phản vấn……… 49
2.4.4 Sử dụng thủ pháp tu từ cấu tạo uyển ngữ……… 49
2.4.4.1 Vay mượn……… 49
2.4.4.2 ẩn dụ……… 50
2.4.4.3 Nhân cách hóa……… 50
2.4.4.4 Ngạn ngữ, yết hậu ngữ……… 51
2.5 Phân loại uyển ngữ tiếng Hán về mặt ngữ nghĩa……… 51
2.5.1 Uyển ngữ biểu thị đời sống riêng tư……… 52
2.5.2 Uyển ngữ biểu thị đời sống sinh hoạt trong xã hội ………… 52
2.5.3 Uyển ngữ về mặt ngoại giao chính trị……… 55
2.5.4 Uyển ngữ trong lĩnh vực hoạt động kinh tế……… 56
2.6 Tiểu kết……… 56
Chương 3 Một vài ứng dụng cụ thể của uyển ngữ tiếng Hán ……… 58
3.1 Việc sử dụng uyển ngữ trong tiếng Hán ……… 58
3.1.1 Uyển ngữ sử dụng trong kinh tế xã hội……… 58
3.1.2 Uyển ngữ sử dụng trong lĩnh vực chiến tranh và quan hệ quốc tế……… 59
3.1.3 Uyển ngữ sử dụng trong sinh hoạt xã hội……… 60
3.2 Cách chuyển dịch uyển ngữ tiếng hán sang tiếng Việt……… 62
3.2.1 Nhận xét chung……… 62
3.2.2 Một vài nguyên tắc chuyển dịch uyển ngữ……… 65
3.3 Dạy học uyển ngữ tiếng Hán cho sinh viên Việt Nam……… 68
Trang 73.3.1 Điều tra về tình hình học sinh Việt Nam học tập uyển ngữ tiếng Hán……… 68
3.3.2 Đề xuất cách dạy học uyển ngữ tiếng Hán cho sinh viên Việt Nam……… 73
3.3 Tiểu kết……… 76
Kết luận……… 78
Tài liệu tham khảo……… 80
Trang 8LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Việt Nam, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô, các giáo sư của trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân Văn, và của rất nhiều bạn bè, tôi xin gửi lời cảm ơn đối với tất cả các thầy cô, các bạn đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối tới GS.TS Nguyễn Văn Khang, người thầy, đã tận tụy hướng dẫn chỉ bảo tôi, t«i xin c¶m
ơn TS Nguyễn Thị Tân, đồng thời xin cảm ơn GS.TS Trần Trí Dõi đã tạo điều kiền thuận lợi cho tôi học tập tại khoa Ngôn ngữ học Một lần nữa tôi xin được gửi lời cảm ơn tới tất cả , các thầy giáo, giáo sư tiến sĩ, các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học và bản luận văn này
Trang 9Uyển ngữ được sử dụng trong mọi lĩnh vực giao tiếp, trong đời sống hàng ngày, đặc biệt trong văn hoc, trong giao tiếp chính trị, ngoại giao quốc tế và ngay trong khoa học cũng cần đến uyển ngữ
Trong giao tiếp ở một số trường hợp nếu biểu đạt trực tiếp có thể để lại ấn tượng thô tục, cứng nhắc, nghịch tai, vô lễ Nếu biểu đạt theo cách gián tiếp thì hàm súc, nghe thuận tai, lễ độ Cách biểu đạt thứ hai được coi là sử dụng lời
lẽ khéo léo Do lời lẽ khéo léo có sẵn tính thuyết phục, hàm chứa hiệu quả tu từ rất cao, nên luôn được mọi người yêu thích ở mọi góc độ, ở mọi tầng lớp trong đời sống giao tiếp ngôn ngữ
Việc nghiên cứu đặc điểm của uyển ngữ trong tiếng Hán và chuyển dịch chúng sang tiếng việt sẽ giúp người Trung Quốc học tập, sử dụng tiếng Việt và giúp người Việt học tập, sử dụng tiếng Hán Thông qua đó, có thể tìm hiểu những nét văn hoá, dân tộc ẩn chứa trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trong thực tế giảng dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc và giảng dạy tiếng Hán cho người Việt Nam chưa có một công trình nào tập trung nghiên cứu đối chiếu về phép lịch sự trong giao tiếp giữa tiếng Hán và tiếng Việt trong đó
có việc sử dụng uyển ngữ Là giảng viên tiếng Việt, chúng tôi mong muốn đóng góp những ý kiến mang tính chất giáo học pháp vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ngôn ngữ tiếng Hán và trên cơ sở phân tích, đối chiếu các hiện tượng
Trang 102 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN VĂN
Thông qua nghiên cứu đặc điểm của uyển ngữ trong tiếng Hán, luận văn góp phần vào nghiên cứu lí luận về uyển ngữ; nghiên cứu những đặc trưng ngôn ngữ văn hoá của mỗi dân tộc (Trung Quốc và Việt Nam) nói chung, đặc điểm cấu tạo uyển ngữ, cách nói kiêng tránh của mỗi dân tộc nói riêng; cũng góp phần vào chuyển dịch uyển ngữ sang tiếng Việt
3 NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
- Giới thiệu những lý thuyết cơ bản liên quan đến uyển ngữ
- Hệ thống hoá những nội dung cơ bản của uyển ngữ trong tiếng Hán
- Nghiêu cứu đặc điểm cách sử dụng uyển ngữ trong tiếng Hán và việc chuyển dịch chúng sang tiếng Việt
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp của ngôn ngữ học đối chiếu; phương pháp phân tích ngữ nghĩa; đặc biệt dùng phương pháp trắc nghiệp, cùng các phương pháp khác như thống kê, phân loại
5 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết của luận văn
Trong chương này luận văn trình bày một số nội dung lí thuyết liên quan đến luận văn như nguồn gốc của uyển ngữ (như kiêng kị), quan hệ giữa uyển ngữ và kiêng kị, quan hệ giữa uyển ngữ với lời nói khiêm tốn, việc phân loại uyển ngữ hiện nay
Chương 2: Đặc điểm về cấu trúc và ngữ nghĩa của uyển ngữ tiếng Hán
Trong chương này, trình bày các đặc điểm về mặt cấu tạo và và đặc điểm về ngữ nghĩa của các uyển ngữ trong tiếng Hán
Về đặc điểm cấu tạo, luận văn miêu tả và khái quát thành các mô hình cấu tạo nên uyển ngữ tiếng Hán Phân loại uyển ngữ tiếng Hán về mặt cấu trúc
Trang 11Về đặc điểm ngữ nghĩa, luận văn miêu tả đặc điểm hình thành nghĩa của các uyển ngữ Phân loại uyển ngữ tiếng Hán về mặt ngữ nghĩa
Chương 3.Một vài ứng dụng cụ thể của uyển ngữ tiếng Hán
Chương này khảo sát cách sử dụng các uyển ngữ trong tiếng Hán (sử dụng trong trường hợp nào và sử dụng như thế nào,…) Từ đó, khảo sát cách chuyển dịch chúng sang tiếng Việt
Trang 12CHƯƠNG I
CƠ Sở Lí THUYếT CủA LUậN VĂN 1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN
Uyển ngữ là biến thể của ngôn ngữ Đặc điểm quan trọng nhất của nó chính
là sự vận dụng thủ pháp trừu tượng, so sánh hoặc những khái niệm nước đôi, khiến cho hai bên người nói và người nghe có thể sử dụng một phương thức gián tiếp để nói những điều khó nói trực tiếp, hơn nữa lại không cảm thấy ngại khi phải nói đến những điều này Uyển ngữ được sản sinh từ những điều cấm kị trong sử dụng ngôn ngữ nên nó là đặc trưng phổ biến của ngôn ngữ mỗi dân tộc Uyển ngữ trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ mỗi dân tộc đều tồn tại cách biểu đạt ở các mức độ khác nhau Vì thế, việc nghiên cứu uyển ngữ trên thế giới có
cả một bề dày Trong luận văn này chỉ nói về uyển ngữ trong tiếng Hán, vì vậy chúng tôi tập trung giới thiệu tình hình nghiên cứu uyển ngữ của giới ngôn ngữ học Trung Quốc
Những năm 60 của thế kỉ 20, lí luận ngôn ngữ xã hội học bắt đầu đươc giới thiệu ở Trung Quốc Theo đó, chức năng xã hội đặc biệt của uyển ngữ đã thu hút được sự chú ý rộng rãi của nhiều học giả và các chuyên gia ngôn ngữ Trung Quốc Giới ngoại ngữ học Trung Quốc đã bắt đầu có những chuyển biến rõ rệt trong việc nghiên cứu uyển ngữ tiếng Anh, chủ yếu là chuyển biến từ việc nghiên cứu ngữ dụng học đến nghiên cứu tri nhận Nghiên cứu ngữ dụng học ban đầu mới chủ yếu là đi từ nguyên tắc cộng tác, nguyên tắc lịch sự, lí thuyết
mơ hồ v.v của các góc độ ngữ dụng để phân tích cơ chế hình thành uyển ngữ Các bài viết thường chú trọng tìm hiểu quan hệ giữa uyển ngữ tiếng Anh với nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự, đặc điểm ngữ dụng trong hoạt động giao tiếp, cơ chế mơ hồ tồn tại trong uyển ngữ tiếng Anh v.v Các bài viết này đã tiến hành chỉnh lí và quy nạp một cách có hệ thống đối với phương thức cấu thành và đặc điểm sử dụng của uyển ngữ tiếng Anh, tạo nên những ảnh hưởng nhất định trong nghiên cứu uyển ngữ tiếng Hán Sau này, cùng với sự phát triển
Trang 13của lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận, uyển ngữ tiếng Anh trong giới ngoại ngữ học đã được nghiên cứu theo hướng này Những năm gần đây, một vài chuyên gia, học giả vận dụng lý thuyết không gian hợp thành, lý thuyết phạm trù để giải thích cơ chế suy lý và cấu thành ý nghĩa của uyển ngữ tiếng Anh Theo hướng tri nhận, các nghiên cứu chú trọng tới cơ chế ẩn dụ trong uyển ngữ tiếng Anh,
cơ chế tâm lý trong uyển ngữ tiếng Anh v,v Trong quá trình nghiên cứu uyển ngữ tiếng Anh, sự so sánh với uyển ngữ tiếng Hán chiếm một phần đáng kể: Tiến hành so sánh văn hóa uyển ngữ giữa tiếng Anh và tiếng Hán; tiến hành nghiên cứu những điểm giống nhau của uyển ngữ Anh - Hán cùng với những trở ngại xuất hiện trong quá trình giao tiếp trao đổi văn hóa và những phương thức hóa giải những trở ngại đó; tìm ra sự khác biệt giữa văn hóa Đông Tây Trong quá trình nghiên cứu ứng dụng của uyển ngữ, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung làm thế nào để ngăn ngừa xuất hiện những ứng dụng uyển ngữ sai lầm trong hoạt động giao tiếp, làm sao để sử dụng uyển ngữ phù hợp trong các ngữ cảnh khác nhau Ngay cả những ứng dụng trong nghiên cứu so sánh uyển ngữ Hán - Anh cũng tập trung vào nghiên cứu ở những người mà tiếng mẹ đẻ là tiếng Hán và làm thế nào sử dụng đúng uyển ngữ tiếng Anh trong hoàn cảnh Anh ngữ, nhưng lại có rất ít người quan tâm đến ứng dụng của uyển ngữ tiếng Hán như là việc dạy một ngoại ngữ
Đáng kể nhất về nghiên cứu uyển ngữ là công trình “Từ điển uyển ngữ tiếng Hán” do tác giả Trương Củng Quý chủ biên đã miêu tả một cách có hệ thống về uyển ngữ tiếng Hán Từ điển này đã thu thập được hơn 3000 uyển ngữ tiếng Hán, dựa theo những điểm khác nhau về nội dung của uyển ngữ để tiến hành phân loại một cách khoa học Trong cuốn từ điển này, uyển ngữ được phân thành 13 loại và tiến hành giải thích chi tiết cho từng uyển ngữ trong mỗi loại,
có kèm thêm ví dụ Có thể nói, cuốn từ điển có giá trị học thuật cao như thế này, không chỉ giúp cho chúng ta hiểu thêm về vấn đề định giới phạm vi uyển ngữ tiếng Hán mà còn cung cấp cho chúng ta nhiều nguồn ngữ nghĩa của uyển ngữ
Trang 14tiếng Hán Vì thế, cuốn từ điển này là nguồn tư liệu khảo sát của luận văn này Cho đến nay, theo thống kê của chúng tôi, có khoảng 697 bài nghiên cứu về uyển ngữ ở Trung Quốc Trong đó, những bài viết về uyển ngữ từ góc độ ngoại ngữ (bao gồm Anh, Pháp, Đức, Nga, Nhật,v.v) có khoảng 464 bài, chiếm 64% tổng số bài viết; những bài viết đối chiểu uyển ngữ tiếng nước goài với tiếng Hán khoảng 162 bài, chiếm 23% tổng số bài viết;những bài viết nghiên cứu uyển ngữ tiếng Hán chỉ có 72 bài, chiếm 10% toàn bộ các bài viết Điều này cho thấy, nghiên cứu về uyển ngữ tiếng Hán vẫn chưa tương xứng với địa vị quan trọng của uyển ngữ trong giao tiếp ngôn ngữ, cũng không tương xứng với những thành tựu to lớn trong nghiên cứu tiếng Hán ở các lĩnh vực khác
1.2 KHÁI NIỆM UYỂN NGỮ
Lý Thiệu Đức trong cuốn “Cổ Hán ngữ tu từ” đã chỉ ra: ở những ngữ cảnh ngôn ngữ nhất định, khi phải nói thẳng tình cảm hoặc dự định nào đó sẽ tác động mạnh mẽ tới người nghe và ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả ngôn ngữ cần biểu đạt, do đó không nên nói thẳng chủ ý mà cần sử dụng cách nói uyển chuyển để diễn đạt Phương thức tu từ đó là uyển ngữ
Trong cuốn “Cổ đại Hán ngữ” Quách Tích Lương đã định nghĩa: uyển ngữ
là tránh nói thẳng mà cố tình dùng lời nói hàm xúc, uyển chuyển hơn để biểu đạt ý
Theo Châu Tổ Nghiêm, người xưa khi nói, người nói có lúc không thẳng thắn nói ra ý muốn nói mà thường dùng cách biểu hiện vòng vo, tức là qua con
Trang 15chữ, làm cho người nghe hiểu ngay được ẩn ý của người nói
“Trung Hoa đại từ điển”định nghĩa: uyển ngữ là cách không trực tiếp nói đến chủ ý của mình mà dùng lời nói uyển chuyển, xúc tích để làm nổi bật ẩn ý bên trong
Trần Vọng Đạo trong “Bản tóm tắt tu từ học” đã chỉ ra rằng, khi nói, người nói không cần nói thẳng chủ ý, mà chỉ cần dùng lời uyển chuyển, hàm xúc để làm nổi bật ẩn ý, đó là uyển ngữ
Trong các sách công cụ, uyển ngữ được giải thích: có một số từ ngữ khi nói
ra sẽ làm cho người nghe không vui, uyển ngữ là cách thức dùng lời nói uyển chuyển, vòng vo để diễn đạt Bất cứ ngôn ngữ nào cũng có uyển ngữ Ví dụ, trong tiếng Hán cổ, người già được gọi là cao niên 高年, trường thọ 长年 hoặc tuổi tác đã cao 年事已多; người chết nói là băng 崩, vật cố 物故?, thế 逝 Å, trường thế/ ra đi mói mói 长逝 Å; trong tiếng Hán hiện đại có cách nói thêm tuổi rồi 上?了?年?纪 Tất các các cách nói trên đều là uyển ngữ
HamkTuoSik đã viết trong cuốn “Từ điển ngôn ngữ và ngôn ngữ học”: Sử dụng hiệu quả một số từ ngữ có thể làm cho người nghe cảm thấy vui vẻ hoặc biểu thị ý không rõ ràng, mập mờ để thay thế cho cách nói làm cho người ta không vui hoặc ngữ nghĩa mình không được tôn trọng
“Đại từ điển ngôn ngữ”định nghĩa: sử dụng các từ hoặc cụm từ vô hại hoặc vui vẻ để thay thế cho từ hoặc cụm từ thô tục, hoặc làm cho người nghe không vui hoặc tránh né, kiêng kị
Theo John Ayto, uyển ngữ là một tập hợp những chiến lược giao tiếp đã được loài người sử dụng và phát triển để đề cập đến những chủ đề kiêng kị một cách thực sự tế nhị và uyển chuyển
A.S.Hornby, trong cuốn Oxford Advanced learners Dictionary, đã định
nghĩa, uyển ngữ là một từ hay một cụm từ người ta thường sử dụng để đề cập một cách gián tiếp đến những sự việc làm cho người nghe dễ bối rối, khó chịu Cách dùng gián tiếp như vậy dường như làm cho người nghe dễ chấp nhận hơn
Trang 16Jach C.Richards trong cuốn Dictionary of Language Teaching and Applied Linguistics cho rằng, uyển ngữ là cách dùng một từ không làm cho người nghe phật ý hoặc khó chịu như những từ khác, chẳng hạn dùng từ indisposed (hơi khó chịu) thay cho sick ( ốm), hoặc pass away ( qua đời ) thay cho die (chết)
Kate Allan và Kate Burridge định nghĩa uyển ngữ như là: sự thay thế một từ ngữ không được ưa thích nhằm giữ được thể diện, tránh sự mất thể diện hoặc người nghe thông qua việc làm chạm tự ái họ, hoặc giữ thể diện cho một người hay phe thứ ba đó
Ronald Wardhaugh nhấn mạnh hai khía cạnh khác của uyển ngữ, đó là: 1) Nói về những vấn đề gây khó chịu và làm trung hòa sự khó chịu đó bằng việc gọi sang một tên khác những sự việc tạo ra sự bực bội khó chịu cốt để cho chúng dễ chịu và thậm chí gợi được sự chú ý; chẳng hạn, khi nói đến các vấn đề chết chóc, hấp hối, nạn thất nghiệp, hay các vấn đề tội phạm; 2) Đề cao, thăng hoa các vấn đề bình thường, chẳng hạn những nhân viên vệ sinh được gọi là
sanitary engineers (những kĩ sư vệ sinh)
Đinh Trọng Lạc định nghĩa uyển ngữ như sau: uyển ngữ là hình ảnh tu từ trong đó người ta thay tên gọi một đối tượng (hoặc một hiện tượng) bằng sự miêu tả những dấu hiệu cơ bản của nó, hoặc bằng việc nêu lên những nét đặc biệt của nó, tạo hình cho lời nói vì nó không chỉ gợi tên đối tượng mà còn miêu
tả đối tượng Ví dụ, ta gọi phụ nữ là phái yếu, phái đẹp, nam giới là giới mày râu, phái mạnh
Theo Phan Ngọc thì uyển ngữ được định nghĩa là phép chuyển nghĩa được thể hiện bằng việc biểu thị một sự vật hoặc hiện tượng nào đó qua cách thể hiện kín đáo, gián tiếp, lịch sự, mềm mỏng Ví dụ: không đẹp thay cho xấu, ông ấy không còn trẻ nữa thay cho ông ấy già rồi Tác giả còn nhận xét rằng uyển ngữ
là một biện pháp tu từ rất thích hợp đối với các từ Hán Việt Thật vậy, khi muốn giảm bớt ấn tượng về một cái gì đau xót hay không sang trọng, người ta dùng từ
Hán Việt thay cho từ thuần Việt, Chính vì vậy, người ta nói xác chết cuả kẻ thù
Trang 17nhưng lại dùng thi hài cuả người chiến sĩ
Nguyễn Chiến sử dụng thuật ngữ uyển ngữ để nói về những từ hoặc ngữ được sử dụng thay thế những từ, những ngữ được coi là chưa hòa nhã, quá trực tiếp , dung tục, chướng tai gai mắt hay thô lậu trong các lĩnh vực đời sống xã hội Tác giả cho rằng uyển ngữ gắn bó chặt chẽ với tâm lí, tình cảm của con người ở đây, tâm lí không muốn xúc phạm, không muốn hạ nhục ai chính là lí
do căn bản tạo ra uyển ngữ, từ đó theo sự phát triển của nền văn minh, thế giới hiện đại tạo lập nhiều uyển ngữ để tạo ra tục kiêng húy, và sau đó theo sự phát triển của nền văn minh, thế giới hiện đại tạo lập nhiều uyển ngữ để tạo ra sự nhã nhặn êm ái, lịch sự để giảm đi những hiệu ứng thô tục, khó chịu do nhiều từ ngữ gây ra
Theo Trương Viên, uyển ngữ là một từ hay một ngữ cố định được cấu tạo lại, diễn đạt lại từ một nội dung đã có để thể hiện một cách thích hợp, tế nhị và thẩm mỹ; là lời nói được sử dụng trong những tình huống hay văn bản giao tiếp lịch
sự, sang trọng, đầy tri thức văn hóa, liên quan đến cái đẹp trong việc dùng từ ngữ Uyển ngữ cũng đựơc xem như là một từ đồng nghĩa hay một biến thể được dùng để thay thế một từ nào đó trong một ngữ cảnh nhất định
E.Benveniste cho rằng: chỉ có tình huống mới xác định nên uyển ngữ Tùy thuộc vào việc là điển hình hay ngẫu nhiên mà tình huống tạo ra kiểu diễn đạt uyển chuyển phù hợp với các chuẩn mực của một ngôn ngữ nhất định Từ đó ông cho rằng, tất thảy đều phụ thuộc vào đặc điểm của khái niệm mà người ta muốn gợi lên trong ý thức, nhưng lại tránh nêu tên khái niệm đó Nếu khái niệm này thuộc phạm vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội thì uyển ngữ sẽ không được tồn tại lâu dài, và sau khi mang dấu ấn của khái niệm như thế thì uyển ngữ cần được đổi mới Như vậy, uyển ngữ gắn bó chặt chẽ với tâm lí tình cảm của con người
Uyển ngữ là từ ngữ hoặc cách nói ôn hòa, mập mờ, hay gián tiếp Chúng là sản phẩm của văn hóa xã hội, phản ánh những tư tưởng văn hóa xã hội khác
Trang 18nhau, và gần như thâm nhập vào các mặt của đời sống, có chức năng tổng hợp các nhân tố Uyển ngữ có nguồn gốc từ những điều kiêng kị trong ngôn ngữ Uyển ngữ không chỉ là những từ ngữ uyển chuyển mà còn là một phương thức giao tiếp tích cực vận dụng ngôn ngữ để biểu đạt Để đạt được mục đích giao tiếp nhất định, người tham gia giao tiếp sẽ sử dụng các mánh khóe ngôn ngữ khác nhau để lời nói đầy đủ dễ nghe hơn
Uyển ngữ trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ, người tham gia giao tiếp tùy theo ngữ cảnh nhất định mà lựa chọn phương thức biểu đạt gián tiếp, hàm súc,
Qua việc thống kê và phân tích các định nghĩa này, chúng tôi cho rằng, còn
có những giới hạn khoa học về uyển ngữ, cần thiết xem xét một số nguyên nhân sau: hoàn cảnh ngôn ngữ giao tiếp đặc trưng bao gồm bối cảnh văn hóa xã hội, phong tục tập quán truyền thống, trường hợp cụ thể, tâm lý của chủ thể giao tiếp; mục đích giao tiếp đặc trưng của người biểu đạt; các thủ pháp ngôn ngữ và lời nói được vận dụng trong đó gồm có từ ngữ, mẫu câu đồng nghĩa và phương thức biểu đạt đồng nghĩa
Dựa vào sự phân tích trên, chúng tôi đưa ra quan niệm của mình về uyển ngữ như sau: Uyển ngữ là từ hoặc ngữ được sử dụng thay thế những từ, ngữ được coi là chưa hòa nhã, quá trực tiếp, dung tục, chướng tai gai mắt hay thô thiển trong các lĩnh vực đời sống xã hội
Trang 19Trong chức năng hoặc hạn chế của ngữ cảnh ngôn ngữ cụ thể, để phù hợp với quy tắc văn hóa truyền thống của xã hội, phong tục tập quán và tâm lý của chủ thể giao tiếp, người nói không phải nói trực tiếp hay nói thẳng chủ ý mà lựa chọn lời gián tiếp hoặc thủ pháp ngôn ngữ hàm ý tương đồng để thay thế hoặc thay đổi một hiện tượng ngôn ngữ biểu đạt
1.2 2 Khái quát đặc điểm của uyển ngữ
Trong quá trình giao tiếp, có một số từ ngữ khiến người ta khó xử, không vui, ghét bỏ hoặc phẫn nộ, nếu trực tiếp biểu đạt để lại ấn tượng thô tục, cứng nhắc, nghịch tai, vô lễ Nếu gián tiếp biểu đạt thì hàm súc, nghe thuận tai, lễ độ Cách biểu đạt thứ hai gọi là lời khéo léo, do lời khéo léo có sẵn tính thuyết phục, hàm chứa hiệu quả tu từ rất cao, nên luôn được mọi người yêu thích ở mọi góc
độ, ở mọi tầng lớp trong đời sống
Trong giao tiếp thường nhật, con người luôn luôn gặp phải một số từ ngữ không dễ gì trực tiếp biểu đạt, cần phải thay đổi cách nói khác để biểu lộ hàm súc uyển chuyển mà vẫn khiến người ta hiểu rõ, lại không mang tính chất châm
biếm đối phương, không để đối phương phản cảm Có mẩu chuyện cười như
sau: Có vị tú tài tự cho mình là học cao, mỗi khi bình luận văn chương đều nói với mọi người rằng văn chương thiên hạ phải kể đến Lưỡng Giang, văn chương Lưỡng Giang phải kể đến quê tôi, văn chương quê tôi phải kể đến em họ tôi, còn thì tôi sửa văn chương cho em họ tôi Cách nói vòng vo này để biểu thị văn chương của mình thuộc vào “đệ nhất thiên hạ” Chúng tôi cho rằng phương thức tu từ hàm súc uyển chuyển khúc chiết này là uyển ngữ
Phương thức biểu đạt uyển ngữ đã xuất hiện từ cổ xưa Ví dụ, trong chiến thư Tào Tháo gửi Tôn Quyền có viết: “Nay trị thủy 80 vạn người, hướng về Ngô cùng tướng quân săn bắn” “Săn bắn” ở đây chính là cách nói uyển ngữ của
giao chiến, quyết chiến vậy
Theo các tài liệu có được, ở Trung Quốc, Trần Vọng Đạo là một trong những người đưa ra định nghĩa về uyển ngữ sớm nhất trong cuốn“Tóm tắt nội
Trang 20dung tu từ học”: Uyển ngữ tức là khi nói không trực tiếp bày tỏ ý mình, chỉ dùng những lời hàm súc để ám chỉ và quy nạp được đặc điểm căn bản của tu từ uyển ngữ
Vương Hy Kiệt thì dựa trên cơ sở của tác giả Trần Vọng Đạo bổ sung hoàn thiện thêm một bước, khiến định nghĩa càng khoa học và nghiêm cẩn :“Không thể hoặc không muốn trực tiếp nói ra mà vòng vèo dùng những lời liên quan
hoặc cùng loại với ý ban đầu để thay thế
Tóm lại, uyển ngữ là dùng từ ngữ hàm súc khúc triết để thay đổi những gì không thể nói trực tiếp, trong đó từ ngữ thay thế vốn đã hàm chứa đặc điểm hàm súc thì được gọi là uyển ngữ
Lý luận của chúng tôi về uyển ngữ là: Trong giao tiếp, xuất hiện nhiều cách suy nghĩ khác nhau, đôi khi lời khó hoặc không thể trực tiếp thốt ra, cần thiết phải dùng từ khúc triết mà vẫn có thể chuyển tải được ý ban đầu, từ ngữ mang đặc điểm khúc triết này chính là uyển ngữ
1.3 PHÂN LOẠI UYỂN NGỮ
1.3.1 Phân loại uyển ngữ từ góc độ đơn vị ngôn ngữ
Uyển ngữ là tổ hợp của từ vựng mang đặc điểm ngữ dụng tương đồng Xem xét từ những góc độ khác nhau và bình diện khác nhau cho thấy uyển ngữ có những đặc điểm và màu sắc khác nhau Một đơn vị loại hình uyển ngữ tức là một hợp thể từ vựng, bản thân nó do một loại đơn vị ngôn ngữ tạo thành Nhìn
từ góc độ đơn vị ngôn ngữ, có thể phân chia thành 2 loại:
1) Lời khéo léo: Tức là từ mang nghĩa uyển ngữ, số lượng uyển ngữ này rất
nhiều Ví dụ: người thứ ba, vốn chỉ một cá nhân hoặc đoàn thể ngoài hai người,
nay để chỉ người xen vào chuyện yêu đương hay chuyện gia đình người khác,
đồng thời biểu thị một quan hệ không bình thường Chờ việc, gái già, người thứ
ba đều là một uyển ngữ thường dùng hiện nay để chỉ: thất nghiệp, phụ nữ lớn
tuổi chưa kết hôn, người phá hoại hôn nhân người khác, nghĩa của uyển ngữ chính là nghĩa thường dùng và là nghĩa gốc của từ
Trang 212) Đoản ngữ uyển ngữ Tức là đoản ngữ mang nghĩa uyển ngữ Căn cứ vào
kết quả này để xem có tính đặc thù hay không, cần phải tiến hành thêm bước phân tách giữa đoản ngữ uyển chuyển thông thường và đoản ngữ uyển chuyển thể loại tục ngữ Đoản ngữ uyển chuyển thông thường về mặt kết cấu tương tự như đoản ngữ cố định thông thường, phần lớn là kết cấu biện chứng Ví dụ :
银色浪潮 sóng chiều sắc bạc dùng để chỉ hiện tượng tỉ lệ những người cao
tuổi trong dân số: Tóc của người già lốm đốm bạc được ví giống như màu bạc xám, tốc độ tăng trưởng tỉ lệ người cao tuổi trong dân số tăng nhanh được ví như cơn sóng chiều
成人电影phim người lớn:, người phương tây chỉ những bộ phim có
những cảnh quay tình dục Vì thế loại phim đó không phù hợp với đối tượng
nhi đồng , cho nên gọi là “phim người lớn”
Hình thức kết cấu của đoản ngữ uyển chuyển từ thể loại tục ngữ được định hình, có ý nghĩa tương đối hoàn chỉnh, đa số được thông qua so sánh ví von dẫn dắt khái quát trừu tượng mà thành Tuyệt đối không đồng nghĩa với việc tập trung đơn giản về ý nghĩa mặt chữ Loại ngôn ngữ uyển chuyển này đa phần là các ngữ quán dụng.Ví dụ:
小报告báo cáo nhỏ: lén lút báo cáo cấp trên để nói xấu hoặc phản ánh tình
hình
踢皮球? đá bóng da: chỉ trốn tránh trách nhiệm
1.3.2 Phân loại uyển ngữ từ góc độ ngữ nghĩa
Một uyển ngữ có thể chỉ có một nghĩa uyển chuyển, cũng có thể có 2 hoặc nhiều nghĩa uyển chuyển, còn có thể có nghĩa biểu thị nghĩa uyển chuyển, lại có nghĩa không biểu thị nghĩa uyển chuyển Căn cứ vào đặc điểm các nghĩa mà uyển ngữ biểu thị, chúng ta có thể phân loại uyển ngữ làm 3 loại:
1) Tất cả các nghĩa của uyển ngữ đều biểu thị nghĩa uyển chuyển Một uyển ngữ chỉ biểu thị một nghĩa của uyển ngữ thì những uyển ngữ đó được gọi là uyển ngữ đơn thuần Thông thường, những từ ngữ này chỉ có một nghĩa Ví dụ:
Trang 22待业 đợi việc (chờ việc làm) và 弱?智?trí kém (trí óc kém hơn so với người bình thường) phân biệt với uyển ngữ của 失?业 thất nghiệp và 智?力? 不?正常 đầu óc không bình thường Chúng chỉ có thể có một nghĩa, nghĩa
này được gọi là nghĩa uyển ngữ (Từ điển từ mới tiếng Hán hiện đại)
2) Một nghĩa của từ đa nghĩa biểu thị nghĩa uyển ngữ Số lượng uyển ngữ loại này khá nhiều, vì nghĩa của uyển ngữ đa số do các nghĩa khác chuyển thành
Ví dụ:
低谷ẩʺ1 vùng đất trũng đối lập với đỉnh cao 2 chỉ sự vật ở giai đoạn sa sút, không hưng thịnh Nghĩa thứ hai của 低谷 ẩ là uyển ngữ xuất hiện thông quanghĩa thứ nhất, dùng phương thức phái sinh, ví von
3) Từ đa nghĩa biểu thị nghĩa uyển ngữ khác nhau Ví dụ:
_二进宫 1 Vở kịch/ tiết mục Kinh kịch; 2 Ví với vào tù lần thứ hai; 3 Quay trở lại chốn xưa cũ; 4 Vào nằm viện lần thứ hai 二?进 ứ?ơ có 4 nghĩa, trong đ nghĩa thứ hai và thứ tư là uyển ngữ
_1.3.3 Phân loại uyển ngữ từ góc độ đánh dấu về thành tố cấu tạo
Nguồn gốc của uyển ngữ khá phức tạp Xem xét một uyển ngữ có đánh dấu hay không thì phải xem từ thành phần cấu tạo của uyển ngữ (hình vị hoặc từ) có bao gồm nghĩa uyển ngữ cố định hay không Từ đây, có thể chia uyển ngữ ra thành hai loại:
1) Uyển ngữ được đánh dấu, tức là hình vị hoặc từ cấu thành uyển ngữ có nghĩa uyển ngữ cố định Ví dụ:
黄ặ 毒?,?扫?黄 ặ (quét sạch mọi loại sách báo, tranh ảnh, nhạc vàng, đồi trụy),?黄 ặchỉ màu vàng của vật phẩm, đã dùng, có ý là 淫?秽 dâm ô, đồi trụy
残友?,?残联 lần lượt là từ giản lược của 残疾人?朋友?người bạn tàn tật
và 残疾人?联 hội liên hiệp người tàn tật; 残 _ chØ 残疾人 người tàn tật 白色消费uyển ngữ chỉ chi phí cho tang sự,?白发 chỉ những người cao
Trang 23蓝领công nhân lao động chân tay, 工薪?阶 ì 层 giai cấp công nhân, 成?人?电?影 phim người lớn, 问 ấèõ 青 à 年? vấn đề thanh niên Nghĩa của các uyển ngữ trên là nghĩa chính của từ ngữ, nhưng không phải là nghĩa tổ hợp của
từ, tức là trong thành phần cấu tạo của các từ không bao gồm nghĩa uyển ngữ
1.3.4 Phân loại uyển ngữ từ góc độ ý nghĩa sắc thái
ý nghĩa sắc thái của từ ngữ rất phong phú Một từ ngữ có thể có nhiều loại sắc thái không giống nhau, khảo sát từ nhiều phương diện và góc độ, sẽ có nhiều biểu hiện không giống nhau, ví dụ: sắc thái tượng hình, sắc thái tình cảm, sắc thái bình luận, sắc thái thái độ v.v Dưới đây, chúng tôi tiến hành phân tích sắc thái thái tình cảm:
Trong uyển ngữ, liên tưởng tình cảm rất quan trọng, từ đầu đến cuối uyển ngữ luôn lấy từ ngữ dễ nghe, làm người khác vui (hài lòng) để thay thế từ có nội hàm làm cho người khác không vui Về hình thức, từ ngữ bề ngoài tốt đẹp, làm người khác vui này hình như che dấu tình cảm thực mà từ ngữ hướng vào Thực
tế, sắc thái tình cảm không phải do bản thân từ ngữ mà là do biểu hiện xu hướng tình cảm đối với đối tượng sử dụng Sắc thái tình cảm của uyển ngữ có thể chia làm ba loại:
1) Uyển ngữ có nghĩa tốt (tích cực)
Tức là uyển ngữ biểu hiện tình cảm hiểu, đồng tình hoặc khen ngợi đối
với đối tượng sử dụng phù hợp Ví dụ:残疾人? người tàn tật, 银 ứẫ 人?才 nhân tài màu bạc, 贤 Í 内助?người nội trợ, 城?市美容师? người làm đẹp
Trang 24thành phố, 第三者 ò kÎ thø ba
2) Uyển ngữ trung tính
Uyển ngữ không biểu hiện xu hướng tình cảm rõ ràng đối với đối tượng sử
dụng phù hợp Ví dụ: 低谷 ẩ, 成?人?电?影 phim ngư?i lớn, 白色 ô 消?费? chi phí việc tang
_3) Uyển ngữ có nghĩa xấu
Tức là uyển ngữ biểu hiện khuynh hướng tình cảm trào phúng, phê bình
hoặc ghétvới đối tượng sử dụng phù hợp Ví dụ: 踢皮球? đá bóng da (đùn đẩy), 小?报?告? phản ánh/báo cáo nhỏ (ton hótt), 小?儿?科?khoa nhi (chuyện nhỏ), 低智?trí tuệ kém, 弱?能?thiểu năng
1.4 CHỨC NĂNG CỦA UYỂN NGỮ
Uyển ngữ là một phương pháp quan trọng trong việc dùng ngôn ngữ để điều tiết mối quan hệ giữa người với người Uyển ngữ trong tiếng Hán đề cập đến mọi phương diện trong đời sống xã hội từ nhiều góc độ khác nhau, phản ánh những hành vi chuẩn mực, thói quen xã hội, kiểu mẫu tư duy, quan điểm thẩm mĩ, quan niệm về giá trị và tiêu chuẩn đạo đức v.vnhững thứ đã được mọi người công nhận Sự sản sinh của uyển ngữ không phải chỉ xuất phát từ những điều cấm kị trong ngôn ngữ mà sâu sắc hơn đó là do tâm lí xã hội Trong từng trường hợp khác nhau, con người dùng các loại uyển ngữ khác nhau, có thể xuất phát từ suy nghĩ lịch sự đối với người nghe cũng như đối với đối tượng mà ngôn ngữ đề cập đến, đôi khi là giữ gìn tôn nghiêm của bản thân, giữ gìn thể diện của chính mình, cũng có khi là nhằm mục đích đặc biệt khác
Tất cả quá trình sản sinh lời nói sẽ diễn ra một cách thuận lợi, không có gì phức tạp nếu như nghĩa của từ trong chuỗi lời nói phát ra mang tính tích cực, hoặc thậm chí mang tính trung hòa Nhưng trong thực tế giao tiếp hàng ngày, chúng ta gặp nhiều trường hợp không đơn giản như vậy Chúng ta đều nhận
Trang 25thấy rằng, ở những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau, việc đề cập trực tiếp đến tên cụ thể của một vật hay một sự việc tế nhị nào đó là một vấn đề rất khó Người ta thường có khuynh hướng lảng tránh, không nói đến những từ chỉ tên
cụ thể các cơ quan sinh dục, và cơ quan bài tiết của con người nếu như hoàn cảnh giao tiếp không cho phép hoặc người phát ngôn thấy rằng nếu nói những
từ cụ thể ấy ra quả là một điều thô lỗ Người ta thường nói một cách tế nhị hay tìm cách nói quanh co để người nghe hiểu được ý định của người phát ngôn mà không có cảm giác là mình bị xúc phạm, như khi họ muốn đề cập đến những từ chỉ cái chết, bệnh tật, xấu xí, tuổi già, e thẹn hoặc khó chịu thì
đó chính là những lúc chúng ta cần phải sử dụng cách nói uyển chuyển, nói giảm nhẹ đi, nói vòng vo tam quốc hay nói cho đúng hơn là chúng ta cần phải dùng những từ tế nhị hơn, thanh nhã hơn thay cho những từ ngữ thô thiển, khiếm nhã dễ làm phật ý hay xúc phạm đến người nghe Đấy chính là chức năng của uyển ngữ
Uyển ngữ có một số chức năng chủ yếu như sau:
1.4.1 Chức năng kiêng kị
Sự sản sinh và phát triển của uyển ngữ có liên quan mật thiết đến từ ngữ cấm kị Con người thường dùng cách nói quanh co vòng vo, những cách nói khiến con người cảm thấy vui để né tránh những sự việc khiến người ta sợ hãi hoặc không vui Các dân tộc trên thế giới đều có những điều kiêng kị, nhìn từ góc độ ngữ dụng, hầu như bất cứ xã hội nào cũng tồn tại hiện tương cấm kị ngôn ngữ Ngôn ngữ kiêng kị là tượng trưng cho sự văn minh trong xã hội mà tuyệt đại bộ phận ngôn ngữ kiêng kị đều là những từ ngữ chỉ giới tính, những hiện tượng sinh lí có liên quan đến hệ bài tiết, những bộ phận cơ thể con người, những từ ngữ chỉ thần linh, ma quái không thể nói tới một cách tùy tiện Vì vậy, chức năng quan trọng nhất của uyển ngữ là chức năng kiêng kị Điển hình nhất trong số những từ ngữ cấm kị né tránh là sự cấm kị về cái chết
1.4.2 Chức năng lịch sự
Trang 26Uyển ngữ sở dĩ được mọi người ưa thích, tạo nên thành công trong giao tiếp trong đó nguyên nhân chủ yếu nhất là do nó tuân theo nguyên tắc lịch sự,
dù là trong xã hội truyền thống hay trong xã hội hiện đại, khoảng cách xã hội
là một tồn tại khách quan, là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chiến lược giao tiếp Nếu khoảng cách xã hội của hai bên tham gia giao tiếp càng lớn thì khả năng sử dụng uyển ngữ càng nhiều, độ uyển chuyển cũng càng cao Uyển ngữ là một tiêu chí của khoảng cách xã hội, là biểu hiện sự tôn trọng nguyên tắc lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ Lịch sự là giảm nhẹ một số cách biểu đạt mang ý đồ đe doạ trong hành vi giao tiếp, tức là cố gắng giữ thể diện cho mình và người nghe Một chức năng khác của uyển ngữ trong thực tế đó là tránh mạo muội và bất lịch sự Khi bất đắc dĩ phải đề cập đến những việc khiến con người không vui, cần phải lựa chọn cách nói dịu dàng chứ không phải là trực tiếp nói ra những sự thực khiến con người ta khó chấp nhận, làm tổn thương tình cảm của đối phương
1.4.3 Chức năng xóa bỏ sự thô tục
Chức năng này của uyển ngữ dùng để che giấu những điều khó nói của con người, tránh những hiện tượng khó xử đường đột trong thực tế Trong đời sống hiện thực, uyển ngữ được sử dụng phổ biến trong giao tiếp hàng ngày, khi đề cập đến tình dục, sự bài tiết của cơ thể hay một vài bộ phận kín đáo trên cơ thể con người, người ta thường dùng uyển ngữ để thay thế, bằng cách này, đôi bên
sẽ không cảm thấy lúng túng khó xử Đề cập đến vấn đề tình dục, người ta không chỉ muốn né tránh những hành vi tình dục, mà còn dùng uyển ngữ để thay thế những từ ngữ có liên quan đến tình dục Người TQ ngại nói đến tình dục, quan niệm về tình dục càng nghiêm khắc bảo thủ hơn, tâm lí tình dục cũng rụt rè kín đáo, quan hệ giữa hai giới được giữ kín như bưng, thường dùng 房事
chuyện phòng the, 那?个?chuyện ấy để thay thế
1.4.4 Chức năng che giấu
Một nguyên nhân khác khiến người ta sử dụng uyển ngữ trong giao tiếp, đó
Trang 27là uyển ngữ mang màu sắc mờ ảo, mang đậm tính lừa dối, vì vậy nó trở thành công cụ để cho các nhà chính trị, nhà ngoại giao cũng như vài chính khách đạt được mục đích nào đó Vài năm gần đây, ở Nhật Bản, một vài thế lực chính trị cánh tả còn mĩ hóa hành vi xâm lược của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản trong chiến tranh thế giới thứ hai, họ nói rằng sự xâm lược TQ của quân phiệt Nhật
Bản năm đó là 进 ứ?ở?ù 助?中国? vào giúp đỡ TQ, 中日?友?善? tình hữu nghị Trung Nhật,v.v mang đậm tính chất lừa đảo cũng như che giấu hành vi
tội ác mà họ đã phạm phải Loại uyển ngữ này cũng thường xuất hiện trong quân sự, thương mại, vv như chiến tranh - mâu thuẫn, che giấu thông tin - bảo mật, v.v
1.4.5 Chức năng hài hước
Trong nhiều trường hợp, sử dụng uyển ngữ có thể giúp sưởi ấm ngữ khí hoặc khiến cho ngôn ngữ trở nên nhẹ nhàng, hài hước Đôi khi nó cho thấy là một thứ trí tuệ, thứ trí tuệ có thể xem xét và phán đoán vấn đề thông qua những phương pháp hoặc góc độ mới Sử dụng đúng cách đúng chỗ, uyển ngữ có thể khiến ngôn từ của con người mang ý vị tuyệt vời, thú vị hài hòa, làm cho những sự việc tàn khốc trở nên hài hước dễ chấp nhận Thông qua cách trình bày và phân tích quan điểm, tuyên truyền trong công chúng, đàm phán ngoại giao, thương vụ, cần dựa theo tình huống cụ thể mà dùng những từ ngữ uyển chuyển hàm súc, giảm tối đa những từ ngữ tạo phản cảm cho đối phương nhằm khiến đối phương dễ đồng ý và tiếp nhận, hoặc có lợi cho việc dung hòa những sự khác nhau, làm gia tăng những điểm chung giữa hai bên Trong trường hợp này thường dùng những từ ngữ uyển chuyển nhẹ nhàng hài hước,
để có thể đạt được hiệu quả tu từ cao.Ví dụ: 坐?班房 ngồi phòng ban xuất
hiện trong câu: “Nhân dân phạm pháp, cũng phải chịu xử phạt, cũng phải ngồi
phòng ban ( quyển 4, “Mao Trạch Đông tuyển tập” ) 坐?班房 ngồi phòng ban
có nghĩa là 坐?牢?房 ngồi nhà lao
Trang 281.5 Mối quan hệ giữa uyển ngữ với các cách dùng khác có liên quan 1.5.1 Uyển ngữ với kiêng kị
Uyển ngữ và kiêng kị là hai loại hình thuật ngữ khác nhau, nhưng do hiện tượng văn hoá tôn giáo, tập tục xã hội và hiện tượng tâm lý xã hội liên quan đến nhau, vì vậy chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau Về phân định giữa uyển ngữ và kiêng kị, giới học thuật có nhiều ý kiến khác nhau, chưa có kết luận, trước tiên chúng ta xem mối liên hệ giữa chúng từ nguồn gốc ban đầu Uyển ngữ và kiêng kị hình thành dần từ quá trình dài của sự phát triển xã hội nhân loại, sự xuất hiện của chúng có liên quan tới ngôn ngữ sùng bái linh vật hoặc ngôn ngữ bái vật giáo
Ngôn ngữ sùng bái linh vật có ma lực thần kỳ nhằm giảm hoạ của ngôn ngữ Do sợ tai họa một số sự vật hiện tượng tạo thành sự kiêng kị, dùng một
số từ ngữ giống mà không bị đề cập đến để chỉ sự vật hiện tượng này để giảm tai họa gây ra Những từ không được đề cập đến này gọi là từ kiêng kị Nhưng trong giao tiếp có lúc nhất thiết phải dùng những từ có nội dung bị cấm này, như vậy sẽ tạo ra mâu thuẫn, để giải quyết vấn đề mâu thuẫn này, người ta dùng cách nói thay thế đó chính là uyển ngữ, vừa đáp ứng nhu cầu giao tiếp lại vừa tránh gây ra điềm chẳng lành, mang lại cho người ta một cảm giác tâm lý an ủi Có thể nói uyển ngữ là do nhu cầu tránh những điều kiêng kị, là từ
thay thế của những từ kiêng kị Ví dụ: tâm lý sợ thú dữ, rắn độc gọi 老?虎 Â lão
hổ là 大虫? đại trùng
Theo lịch sử phát triển của nhân loại, sự tiến bộ của khoa học công nghệ
và văn hoá, nhiều điều kiêng kị do mê tín tạo thành đã bị loại trừ Không ít từ kiêng kị ban đầu đã trở thành trường hợp có thể công khai hoặc viết trong
sách vở Ví dụ 怀孕 có thai, 月经? kinh nguyệt, 书?(?输 ọÊâthua Trong
trường hợp không đặc thù, người ta đã sử dụng công khai những từ ngữ này trong giao tiếp nhưng không vì thế mà làm chúng biến mất dần trong điều kiện
xã hội mới
Trang 29Nhằm thích ứng với nhu cầu tiến bộ văn hoá xã hội, từ kiêng kị mới lại ra
đời Ví dụ: 傻瓜? ngốc nghếch,没?出?息的东西 ữkhông tiền đ? ,不?是?读 Á 书?的材料?là kẻ học dốt v v._ Đây là những từ làm tổn thương lòng tự trọng
của học sinh, cô giáo cấm sử dụng
Theo sự thay đổi của kiêng kị, uyển ngữ cũng có sự phát triển mới, phù hợp với nhu cầu giao tiếp của xã hội và tâm lý tránh điều dung tục, cầu sự mẫu mực Uyển ngữ không có tính kiêng kị được sinh ra, ví dụ: tiếng Hán hiện đại gọi 婚?
姻? hôn nhân là 个?人?问 ấèõvấn đề cá nhân, gọi 犯罪 phạm tội là 失?足 sa ngã Những uyển ngữ này đều sinh ra dựa trên tâm lý mưu cầu chuẩn mực
Người nguyên thuỷ đánh đồng giữa ngôn ngữ và sự vật, do không thể lý giải được các hiện tượng lúc đó như là gió thổi, nước lũ, núi lửa v v Vì thế,
họ cảm thấy thần bí và hoảng sợ và từ tâm lý mê tín đó từ kiêng kị bắt đầu hình thành: không những hiện tượng tự nhiên mà còn có liên quan đến quỷ thần thành từ kiêng kị Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, do người ta sợ các lực lượng siêu nhiên này, sợ một ngày nào đó mạo phạm đến lực lượng này, sẽ gây lên tai hoạ, thế là người ta cho rằng sự vật thuộc kiêng kị, cố gắng uyển chuyển, và từ kiêng kị tương tự như vậy nhiều không kể xiết được Ví
dụ: người lái đò kị 沉 chìm, 翻?lật.Trong xã hội nguyên thuỷ, họ cho rằng
không nói đến sự vật nào đó, dấu sự vật sau lời nói, sự vật đó sẽ không xuất hiện Cùng với sự nâng cao nhận thức của nhân loại, từ kiêng kị không nghiêm trọng như trong xã hội nguyên thủy, nhưng vẫn còn đầy kiêng kị, cuộc sống xã hội vẫn còn nhiều điều không thể nói, nhiều điều không thể làm, đương nhiên có nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân là do tâm lý
mê tín, có nguyên nhân là do nguyện vọng chủ quan, do đó uyển ngữ đã trở thành thói quen ăn sâu bén rễ của họ
Kiêng kị là một bộ phận hợp thành phong tục tập quán của các bộ tộc dân tộc trên thế giới Mỗi việc kiêng kị đều có những nỗi lo âu, sợ hãi rủi ro tai họa
Trang 30xảy ra mà con người thời cổ tin rằng có thể qua khỏi được bằng cách kiêng kị Cần làm điều gì là nguyên nhân hình thành các nghi lễ cầu cúng, tín ngưỡng tôn giáo Cần phải tránh điều gì là nguyên nhân hình thành các tập tục kiêng kị, các
từ không được sử dụng do những nguyên nhân tín ngưỡng, mê tín hoặc được nói
tránh đi vì lí do văn hoá lời nói, Ví dụ nằm bếp thay cho sinh đẻ, quy tiên hoặc đi
xa thay cho chết, v v
Kiêng kị là lí do chính hình thành uyển ngữ, lí do căn bản của việc tạo uyển ngữ là tâm lí không muốn xúc phạm, không muốn hạ nhục người khác, muốn tránh những điều xấu, tạo ra sự nhã nhặn, êm ái, lịch sự, để giảm đi những hiệu ứng thô tục, khó chịu do nhiều từ ngữ gây ra, cũng vì thế mà sinh
ra tục kiêng kị Với người nguyên thủy thì họ không hề phân định rạch ròi từ ngữ và sự vật Họ cho rằng giữa tên gọi và người hay sự vật mà từ ngữ biểu đạt có những mối liên hệ vật chất có thực Do đó con người ta có thể bị tác động bởi ma thuật từ bên ngoài qua tên của họ như qua mắt, tóc, răng, lỗ chân lông, v.v Từ đó người nguyên thủy coi tên của mình là một bộ phận của chính
cơ thể và rất quan tâm săn sóc đến nó Nếu như cái tên bị nhục mạ, bị đối xử
tệ bạc thì người mang tên đó sẽ bị hại không kém vết thương đau đớn trên cơ thể Với người đã quá cố, nhiều bộ lạc cổ đại, và ngay cả nhiều bộ lạc hoang
dã ngày này vẫn có tục không nhắc đến tên của họ vì người sống sợ khuấy động linh hồn người đã khuất Nhiều bộ lạc muốn tránh nhắc tên người đã chết, không đặt phụ danh (tên cha) cho tên của mình Đặt tên tầm thường xấu xí cho con để tà ma không chú ý đến đứa trẻ hoặt đặt tên có những âm mang ý nghĩa tốt đẹp để con cái nhờ đó phát đạt
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng của xã hội loài người Trong hoàn cảnh khi con người chưa hiểu rõ ràng lắm về các hiện tượng tự nhiên và sức mạnh của nó thì ngôn ngữ thường được người ta cho rằng có mối liên hệ với một số sức mạnh của tự nhiên, có thể mang họa phúc đến cho con người, ngôn ngữ là nguồn gốc của hạnh phúc và tai họa Ai đắc tội với nó người đó
Trang 31sẽ bị trừng phạt, ngược lại, ai được lòng nó sẽ được che chở bảo vệ Đây chính là lí do dẫn tới việc xuất hiện ngôn ngữ kiêng kị và ngôn ngữ sùng bái linh vật
Một người nếu muốn tỏ ra mình không phải là kẻ thô lỗ, thì anh ta nói nước tiểu, nước giải thay cho nước đái; nói đi tiểu, đi giải thay cho đi đái Sự kiêng
kị, nói tránh tên là một lí do về mặt xã hội khiến cho một từ (tên gọi) nào đó rất dễ bị mất đi Trên thế giới, hầu như nơi nào cũng có hiện tượng kiêng kị, tránh gọi tên một vài sự vật, hiện tượng, hành động nào đó
Trong cuộc sống của thế giới văn minh bây giờ, sự kiêng kị cũng vẫn còn chưa hết Người ta kiêng, tránh một từ nào đó, thay thế nó bằng một từ khác,
có thể vì nó động chạm đến một niềm sùng tín, dị đoan; hoặc cũng có thể chỉ
vì một sự xấu hổ, ngại ngùng nào đó mà từ có thể gây nên Ví dụ: Con số 4:
số 4 và những gì liên quan đến 4 được xem như điều không may bởi vì số 4 (四)
đươc phát âm là si đồng âm với chữ 死 (là tử là chết) Vì vậy luôn cố tránh số 4, tránh chia thành 4 phần Trong một số khách sạn và bệnh viện không có phòng
số 4
Uyển ngữ sinh ra từ điều kiêng kị, uyển ngữ ban đầu là do tránh kiêng kị mà sinh ra, là vật thay thế từ kiêng ki, theo sự tiến bộ của khoa học công nghệ và văn hoá, từ kiêng kị ban đầu phát sinh sự thay đổi, uyển ngữ cũng có sự phát triển mới để phù hợp với nhu cầu tiến bộ văn minh xã hội, uyển ngữ ngày nay không hạn chế tâm lý kiêng kị, mà còn có tác dụng lịch sự và bảo vệ văn minh
cá nhân và là một nhu cầu sách lược trong giao tiếp
Nhìn từ nguồn gốc của uyển ngữ, từ kiêng kị và từ uyển chuyển chỉ là từ sự phát triển bề mặt của bất đồng gọi là sự hình thành của ngôn ngữ bất đồng, chức năng cụ thể cũng không giống nhau: Từ kiêng kị chủ yếu là đáp ứng nhu cầu tránh tâm lý sợ hãi nào đó; uyển ngữ sinh ra để giao tiếp hài hòa, đáp ứng nhu cầu giao tiếp, từ uyển chuyển và từ kiêng kị có quan hệ mật thiết, trong một mức độ nào đấy từ kiêng kị không thể tách rời, từ kiêng kị sở dĩ có thể thành
Trang 32kiêng kị là vì chúng có thể lấy hình thức uyển ngữ hoàn thành chức năng giao tiếp; từ kiêng kị tách khỏi uyển ngữ không thể đạt đươc mục đích giao tiếp, từ kiêng kị khó thể trở thành kiêng kị, giả dụ không phải là nhu cầu kiêng kị, nhiều
từ uyển chuyển mất đi điều cần thiết để tồn tại, chính vì thế nhu cầu của từ kiêng kị thúc đẩy sự sinh sản của từ uyển chuyển, thúc đẩy sự mở rộng số lượng của nó, và chúng có quan hệ cùng dưạ vào nhau
1.5.2 Uyển ngữ và taboo
Taboo ra đời từ rất sớm, khi con người không hiểu biết gì về các hiện tượng tự nhiên, sức mạnh của tự nhiên mà tôn kính và sợ hãi một cách mù quáng vào một số sự vật, hiện tượng Nguyên tắc cơ bản của taboo là không được tùy tiện sử dụng thần vật được tôn kính, không được tùy tiện tiếp xúc với những vật hèn kém bị khinh thường Một số điều kiêng kị, phong tục thời xưa còn lưu lại đến ngày nay vẫn có thể tìm thấy trong dân gian Ví dụ: khi một gia đình có đám cưới, người ta nhờ những người lớn tuổi thành đạt có cả con trai, con gái trải giường, chải đầu để cầu mong sự may mắn, hạnh phúc cho cô dâu chú rể; người dân tộc Hồi không được bàn luận và tiếp xúc với từ ngữ và sự vật có liên quan đến săn bắn; đối với người Cơ đốc giáo không được phép lạm dụng tên thượng đế và con chiên
“Taboo”thường bao gồm hai loại: hành vi taboo (hành vi cấm kị) và ngôn
ngữ taboo(ngôn ngữ cấm kị) Trần Nguyên trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội
đã chỉ rõ: Cái gọi là ngôn ngữ kiêng kị trên thực tế bao gồm hai phương diện, một là sùng bài linh vật của ngôn ngữ (ngôn ngữ bái vật giáo), một là cấm dùng hoặc dùng để thay thế của ngôn ngữ (từ ngữ uyển chuyển và từ ngữ khinh thường) Sùng bái linh vật của ngôn ngữ là chỉ những thứ không có sức sống được xem như đối tượng sùng bái, giao phó bản thân cho sức mạnh siêu nhiên không có thực Xã hội sơ khai của con người do không thể lí giải được tại họa thiên nhiên, hiện tượng tự nhiên như: mây, mưa, sấm, chớp, mặt trăng, mặt trời, sao Trước tự nhiên, vì sự sinh tồn an toàn, con người đã xuất hiện sợ hãi
Trang 33và tôn kính, mà ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của con người để cầu khấn, bói toán, biểu đạt nguyện vọng tình cảm Con người cho rằng, có mối liên hệ giữa
tự nhiên với cát hung, phúc họa của mình, ngôn ngữ có sức mạnh kì bí, không thể lí giải được có thể ban phúc hoặc giáng họa, đó chính là sự sùng bái linh vật trong ngôn ngữ
Ví dụ khá điển hình là tên người Tên người vốn chỉ là kí hiệu bí số bình thường của con người, nhưng ngược lại, người xưa cho rằng kí hiệu bí số đó có
ma lực siêu nhiên, là linh hồn phụ của một con người Đêm tối khi đi đến nơi đồng hoang cỏ dại, nếu có người gọi tên mình thì tuyệt đối không được quay đầu, cũng không được trả lời, nếu không thì linh hồn sẽ bị bắt đi mất Đến ngày nay, một vài bản làng xa xôi, khi trẻ con trong nhà bị ốm, người già trong nhà sẽ đem áo của đứa trẻ đi gọi hồn (gọi to tên của đứa trẻ) Vì họ tin rằng linh hồn đã
đi lạc sẽ nghe thấy tiếng gọi mà quay về, bệnh của đứa trẻ sẽ khỏi
Có thể nói, ở một khía cạnh ngữ nghĩa nào đó, kiêng kị trong ngôn ngữ phản ánh sự sùng bái linh vật, mà trong nhiều trường hợp, sùng bái linh vật của ngôn ngữ là biểu hiện kiêng kị của ngôn ngữ Dù cho từ ngữ kiêng kị có nguồn gốc từ
sự taboo, hình thành từ thời kì mông muội của con người, cùng với sự phát triển của khoa học và tiến bộ xã hội có rất nhiều từ ngữ cho tới nay không còn kiêng
kị nữa Nhưng cũng nên thấy rằng, do sự khác biệt về năng lực tư duy và phong tục tập quán, hoặc yêu cầu của ngữ cảnh, nhu cầu của giao tiếp hiện tại, có một
số từ ngữ kiêng kị còn tồn tại, thậm chí, có thể xuất hiện những từ ngữ kiêng kị mới
1.5.3 Uyển ngữ với lời nói khiêm tốn
Cấu tạo uyển ngữ và lời nói khiêm tốn đều dùng phương thức nói thẳng nói vòng vo Cách nói thẳng, nói vòng vo của lời nói khiêm tốn là dùng một từ không có sắc thái tình cảm thêm yếu tố tình cảm để khen người khác, chê mình, làm cho người nghe cảm thấy dễ chịu, thể hiện phong cách quân tử khiêm tốn
kính trọng truyền thống, Ví dụ: gọi người khác là 阁下 các hạ/ ngài còn tự
Trang 34xưng là 鄙?人? bỉ nhân/ kẻ hèn này
Uyển ngữ là cách nói vòng vo Ví dụ từ 解 õ 囊? giải nang 囊? nang là túi,
có lúc có nghĩa là túi tiền Trung Quốc cổ đại có tâm lý truyền thống coi nhẹ tiền bạc, nhưng khi bạn có tiền thì bạn có thể ủng hộ người khác và khi đó có thể làm tổn thương lòng tự trọng của họ Vì thế, khi giúp đỡ người khác thì phải lấy tiền ra, tức là mở túi tiền, và từ 解 õ 囊? có nghĩa là cầm tiền giúp đỡ người khác Trong giao tiếp xã hội văn minh từ nói thẳng người ta thêm sắc thái uyển
chuyển để tránh đề cập nội dung chính Ví dụ: 内急 nội cấp là mót tiểu
Uyển ngữ thiên về né tránh vì thế thường dùng thủ pháp né tránh Các dùng
từ xưng hô là một ví dụ cụ thể, sinh động Ví dụ: 高徒? cao đồ (đồ đệ), 寒?色
ô hàn sắc (tự xưng), 鄙?人? bỉ nhân (tự xưng), 家?兄? (anh trai)
Đại đa số các cách nói uyển ngữ thường có các hình vị có nghĩa rõ ràng Ví
dụ: 尊 X tôn X, 贵 úX quý X, 高 cao X, 鄙?bỉ X, “贱 ỳ X tiện X
Lời nói khiêm tốn lấy sắc thái khiêm tốn nhã nhặn làm đ?c trưng chính, còn uyển ngữ là trái với cách nói thẳng, rất nhiều từ trung tính, thậm trí có thể có sắc thái phê bình chế nhạo ngư?i khác, mức đ? chê bai có nhẹ hơn so với từ nói
thẳng Ví dụ: 后进 ứhậu tiến/chậm tiến thay cho 落?后 lạc hậu.,
_ Nhìn từ nội dung, lời nói khiêm tốn đề cập đến nội dung về sắc thái lịch sự, quan hệ giao tiếp, giữa bạn và tôi, còn uyển ngữ thì có nội dung ngữ nghĩa đề cập đến cái người ta cho rằng không lịch sự không may mắn và kích động người khác, mang đến ngữ nghĩa không vui vẻ (như những uyển ngữ về chết, tội phạm, ngoại giao)
1.5.4 Uyển ngữ và ngôn từ cát tường
Xã hội loài người phát triển đến ngày nay, con người không ngừng tìm hiểu
về tự nhiên và bản thân, một vài nhận thức mê tín đã làm mất đi lòng tôn kính đối với ngôn ngữ Ngôn ngữ làm vai trò của một tín hiệu giao tiếp chứ không mang đến may mắn hay tai họa, nhưng là một nền văn hóa truyền thống và
Trang 35những kỳ vọng về cuộc sống hạnh phúc của con người, ngôn từ cát tường vẫn tồn tại trong xã hội hiện đại và có những tiến triển mới Cùng với sự cải cách và phát triển của nền kinh tế, giới doanh nghiệp bắt đầu phồn thịnh, các doanh nhân bắt đầu suy nghĩ tới xu hướng tâm lý mua hàng của khách đã thi nhau lấy ngữ cát tường đặt tên cửa hàng để thu hút được nhiều khách hơn Ví dụ:好运
ậ?´饭?馆 ítiệm ăn may mắn,顺³风?酒 ặ?ờkhách sạn thuận phong,天?长地?久 婚?纱 ảnh viện trăm năm hạnh phúc,
_ Từ “cát tường” cũng là một sản vật của ngôn ngữ sùng bái tâm linh Người nguyên thủy tin rằng những từ biểu thị sự không may sẽ có khả năng mang tới tai họa, những từ biểu thị sự may mắn sẽ đem lại hạnh phúc Do đó, một mặt con người dùng uyển ngữ để thể hiện ngôn ngữ cấm kị, mặt khác họ dùng những ngữ cát tường để đem lại sự may mắn Đây là lí do cho sự ra đời của các
từ cát tường Vào những ngày chúc mừng như dịp lễ tết hay hôn nhân đại sự, con người dùng rất nhiều từ cát tường mà xã hội hiện đại ngày nay vẫn sử dụng:
恭?喜发财?cống hỉ phát tài, 寿比?南?山?thọ tỷ Nam Sơn, 福如?东海 phúc như Đông Hải, 幸?福美满?hạnh phúc mỹ mãn, 早?生?贵 ú 子?sớm sinh quý tử,…
Mấy năm gần đây, trong xã hội xuất hiện rất nhiều cái gọi là con số may mắn, những con số này đều có liên quan tới ngữ cát tường, như: 998 (久久发cửu cửu phát), 198 (要 ê 久发), 168(一?路发 nhất lộ phát), 888(发发发 phát phát phát) Trong xã hội còn xuất hiện hiện tượng bán biển xe hoặc số điện thoại mang con số may mắn Những con số được gọi là may mắn này mặc dù không thể so sánh được với ngữ cát tường, nhưng cũng được coi là một dạng biến thể của ngữ cát tường, có liên quan tới tâm lý mong muốn được may mắn, giàu có của con người trong xã hội hiện nay
Uyển ngữ và ngữ cát tường chỉ không giống nhau về công dụng Uyển ngữ dùng để điều chỉnh quan hệ con người, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, còn ngữ cát
Trang 36tường dùng để diễn đạt tình cảm tốt đẹp của nhân loại Về phương diện biểu đạt
"làm cho con người vui vẻ" thì uyển ngữ và ngữ cát tường được dùng như nhau
Sự khác biệt giữa chúng là ở chỗ ngữ cát tường diễn đạt sự chúc phúc cho một tương lai tốt đẹp, còn uyển ngữ không có đặc điểm này Như: an khang, trường thọ, cát tường như ý và tận thế, hy sinh, hiến thân v.v về phương diện biểu đạt
dễ được con người chấp nhận, nhưng những từ phía trước là ngữ cát tường, biểu đạt sự chúc phúc với người khác, còn những từ phía sau là uyển ngữ, là cách nói khác của"chết"
1.6 Tiểu kết
Qua những phần trình bày trên, có thể thấy, uyển ngữ là một trong những hình thức quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ để điều hòa quan hệ giao tiếp Uyển ngữ là một hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ của nhân loại Nguyên nhân chính hình thành nên uyển ngữ chính là do kiệng kị (taboo) Trong giao tiếp, con người vì mình, vì đối tượng giao tiếp hay vì một số điều không thể nói thẳng ra vì lí do kiêng kị, vì lịch sự hay để che dấu ngụy trang mà tìm cách nói khác đi, dùng những từ đẹp đẽ uyển chuyển có ý nghĩa tương tự để thay thế Nhờ vậy mà có thể làm cho ngôn ngữ giao tiếp nhã nhặn, lịch sự, phong phú, dễ nghe, hàm súc, dễ dàng đạt được mục đích giao tiếp Nếu một ngôn ngữ không
có uyển ngữ nó sẽ trở thành một công cụ giao tiếp không hoàn chỉnh
Sự xuất hiện, sử dụng của uyển ngữ là kết quả tác dụng qua lại giữa ngôn ngữ và xã hội, ở thời kì lịch sử khác nhau, văn hóa giống hoặc khác nhau, uyển ngữ có những đặc điểm chức năng và hình thức thể hiện khác nhau Ngôn ngữ có quan hệ mật thiết với con người và đời sống của con người, con người sáng tạo ra ngôn ngữ, nhưng cuộc sống của con người cũng chi phối và hạn chế ngôn ngữ Ngôn ngữ là một cách thức biểu hiện, truyền đạt của tư duy, đồng thời cũng là cách chi phối, biến đổi tư duy và hành vi của con người, tư tưởng, tình cảm của con người đều phải thông qua ngôn ngữ để nói rõ và truyền đạt, để biểu đạt rõ ràng tư tưởng của mình, phải lựa chọn những
Trang 37phương thức thích hợp, thỏa đáng trong vô số các hình thức của ngôn ngữ,
điều đó rất quan trọng Ngôn ngữ không chỉ giúp con người trao đổi suy nghĩ,
tình cảm, tư duy, mà còn có thể khơi gợi sự tưởng tượng Dù cho giữa từ ngữ
và sự vật được chỉ không có mối liên hệ nào, nhưng khi con người sử dụng
đến những từ ngữ đó thì ngược lại, hình tượng của sự vật mà từ ngữ chỉ vào
hiện ra rất sinh động, rõ ràng, mà còn có ảnh hưởng nhất định đến tâm lí Từ
ngữ không giống nhau dùng để biểu thị sự vật việc làm cho người sợ hãi, tôn
kính hoặc không vui vẻ, cũng sẽ dẫn tới hoạt động tâm lí tương ứng Lỗi biểu
đạt của ngôn ngữ sẽ làm tổn thương tình cảm người khác, phá hoại quan hệ giao
tiếp, phá vỡ tổ chức xã hội, thậm chí sẽ tạo ra căng thẳng trong quan hệ quốc tế
Vì thế, con người luôn tránh hết mức sử dụng trực tiếp những từ ngữ có thể dẫn
đến thái độ không vui Nếu có vài câu từ có nội dung không vui vẻ hoặc lời nói
mang sắc thái tình cảm không vui thì cần tìm câu từ khác để thay thế
Trang 38CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ NGỮ NGHĨA CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG
HÁN 2.1 NGUYÊN TẮC CẤU TẠO CỦA UYỂN NGỮ
Năm 1967, nhà ngôn ngữ học Mỹ P.Grice lần đầu tiên đề xuất với giới ngôn ngữ học nguyên tắc cộng tác, tức là hai bên giao tiếp với nhau cần cùng phối hợp để đạt được mục đích giao tiếp cần thiết Ngoài ra ông còn đưa ra 4 chuẩn tắc để làm tiêu chuẩn phân tích ngôn ngữ, là chuẩn tắc liên quan, chuẩn tắc thông tin vừa đủ, chuẩn tắc thông tin chân thực và chuẩn tắc thông tin minh bạch Ông cho rằng, người phát ngôn phải tuân thủ nguyên tắc cộng tác nhưng lại phải cố ý vi phạm một nguyên tắc nào đó để khiến người nghe hiểu
được hàm ý đặc thù Ví dụ: 贫 ả?Đ?ỳ?ềquốc gia nghèo _ được gọi là 第三世
界?quốc gia thứ ba, 失?业 thất nghiệp gọi là 待业或?下岗 chờ việc hoặc thôi cưong vị
Nhà ngôn ngữ học người Anh G.H.Leech đề xuất nguyên tắc lịch sự năm
1983 Giải thích nguyên nhân của chuẩn tắc hợp tác cố ý vòng vo trong giao tiếp, ông chỉ ra sáu chuẩn tắc của nguyên tắc lịch sự là: đúng đắn, khẳng khái, tán dương, khiêm tốn, một lòng, đồng tình Tác giả cho rằng, ngôn ngữ vốn đã tồn tại hàm súc khúc chiết , có hiện tượng uyển chuyển, đều là do nhu cầu lịch
sự mà có
Từ góc độ ngữ dụng học, uyển ngữ tất nhiên tồn tại dưới cơ sở quy phạm của nguyên tắc cộng tác và biểu hiện đặc điểm của nguyên tắc lịch sự Với ảnh hưởng của hai nguyên tắc trên, chúng tôi quy nạp nguyên tắc cấu tạo riêng của uyển ngữ như sau:
2.1.1 Nguyên tắc khoảng cách
Công dụng chủ yếu của uyển ngữ là thay thế một số lời khó nói ra, một cách đơn giản và cơ bản là từ ý nghĩa bên ngoài chỉ ra một khoảng cách để tránh trực tiếp nói thẳng vào sự vật, tuy nhiên vẫn khiến đối tượng giao tiếp hiểu được
Trang 39những tín hiệu thực của ngôn ngữ Như thế, hai bên giao tiếp đều có thể nhận
được sự an ủi, mà không có gì khiếm nhã, bất kính.Ví dụ thay 死 chết bằng 停 止?了?呼?吸?ngừng thở, 心脏 à 停止?了?跳?动 tim ngừng đập, 永远 ả?Ä 闭? 上?了?眼睛?ngủ vĩnh viễn, Cách thay như thế này sẽ đạt được mục đích của
uyển ngữ
2.1.2 Nguyên tắc liên quan
Những từ ngữ con người sử dụng khúc chiết đều có một sự liên quan nào đó
và có đủ thông tin khiến người ta hiểu được và tạo được khoảng cách nhất định giữa hai người Nguyên tắc khoảng cách yêu cầu tăng về khoảng cách giữa sự vật và tín hiệu ngôn ngữ chỉ sự vật đó, khoảng cách càng lớn thì hiệu quả uyển ngữ càng rõ ràng Nguyên tắc liên quan thì ngược lại, yêu cầu khoảng cách giữa hai bên phải ngắn lại, khống chế trong phạm vi không ảnh hưởng đến giao
tiếp Ví dụ 火化厂?xưởng phát hoả là nơi khiến lòng người ngột ngạt, khi
người ta nói đến sẽ nhận được một cách nói khéo léo thay cho khu vực mượn lửa đốt xưởng
2.1.3 Nguyên tắc mơ hồ
Bản thân sự vật khách quan tồn tại đặc điểm mơ hồ, con người khó tránh khỏi nhận thức thiếu xác thực đối với đối tượng khách quan, do đó tính mơ hồ của ngôn ngữ cũng là hiện tượng tất nhiên, đặc biệt tính mơ hồ càng hiện rõ khi
từ ngữ đề cập đến không gian, thời gian, mức độ, phạm vi ở đây, nguyên tắc
mơ hồ của chúng tôi đưa ra không phải những kiểu mơ hồ vừa kể trên, mà là những mã số để chỉ sự vật mà người nói tránh né, cố ý dùng một khái niệm khác nhiều ý nghĩa hoặc là dùng một cách thức ngôn ngữ khác để tăng thêm nội hàm mang tính không minh xác, dùng mơ hồ để chỉ chân thực Chẳng hạn:
1) 那?个? cố ý dùng từ xưng hô không xác định cụ thể, khiến đối tượng bị gọi tên trở lên mơ hồ không xác định, đây là cách cấu tạo thường dùng của uyển ngữ Có rất nhiều từ ngữ không xác định được ý nghĩa thường được dùng làm
Trang 40từ uyển ngữ, như: 那?个?cái đó, 这 õ 个?cái này, 那?东西 ữ thứ kia, 这 õ 东
西ữ thứ này, 那?地?方?nơi đ, 这 õ 地?方?nơi này, Cụ thể:
后来村?里就沸沸扬扬地?传说 à 麻?子?和讨?饭?婆“那?个?”了?
Sau này trong thôn lưu truyền truyền thuyết đ giữa Ma Tư và cái bà xin ăn
ấy (Văn học thời đ?i, kỳ 3, năm 1995)
_Với câu 你这 õ 么做?太那?个?了?(Anh làm thế, thật quá đó), thì tuỳ ngữ cảnh khác nhau sẽ có ý nghĩa khác nhau: có thể biểu thị quá đáng, vô lễ nhưng ngữ khí uyển chuyển dễ được người nghe chấp nhận, và khó hiểu lầm;
có khi nó tăng thêm nghĩa cho từ và khiến việc lý giải của đối tượng giao tiếp được linh hoạt Khi 那?个? là uyển ngữ thì nghĩa từ vựng phong phú (thay thế hành vi bất nhã, sự vật không trong sạch, và mang tính phủ định), nghĩa từ pháp đa dạng (danh từ, động từ, tính từ hoặc từ tổ) Đây cũng là đặc điểm phức tạp và phong phú của uyển ngữ
2) 表?示?表?示? tỏ lòng và 意思?意思? lòng thành
Có một số thủ pháp về ngữ pháp có thể tăng thêm khái niệm biểu thị cũng
có thể tăng thêm nội hàm từ ngữ khiến cho có tính mơ hồ với mức độ nhất định.Ví dụ, khi người ta nói rằng có chút lễ mọn, đang cầm trong tay, chỉ là tỏ lòng tỏ lòng mà thôi thì 表?示?表?示? mang ý nghĩa dùng vật chất để tạ ơn nhưng nghe thì uyển chuyển và hợp lý, rất có chuẩn mực.Qua cách dùng cho
thấy, 表?示?表?示?tỏ lòng so với 表?示?感谢?tỏ lòng cám ơn thì 表?示?表? 示?tỏ lòng khiến người nghe tiếp nhận dễ dàng hơn Sau này, 表?示?表?示?tỏ lòng lại được dùng ở những trường hợp khác, ví dụ mời rượu thì nói 表?示?表?
示?, không uống được rượu thì cũng nói 表?示?表?示?
意思?ý nghĩa vốn là một danh từ phổ thông, hiện nay là động từ, luôn xuất
hiện dưới hình thức trùng lặp Kiểu biến đổi này khiến 意思? không phải là ý nghĩa ban đầu nữa Ví dụ: