1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát đặc điểm của uyển ngữ tiếng Hán đối chiếu với tiếng Việt tương đương trên cứ liệu của hai nhóm uyển ngữ chỉ cái chết và giới tính

151 2,5K 28

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 56,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ "tabu" sau này đã thâm nhập vào các lĩnh vực của các bộ môn như Nhân loai học, Nhân chủng học, Xã hội học, làm thành một loại danh từ chuyên dụng chỉ những hiện lượng xã hội đặc biệt

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN

NGUYỄN THỊ LAN HINH

KHẢO SẢT ĐẶC ĐIỂM CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN

(TRÊN Cứ LIỆU CỦA HAI NHÓM UYỂN NGỮ CHỈ "CÁI CHẾT" VÀ "GIỚI TÍNH")

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ

MÃ SỐ: 5.0408

LUẬN VĂN THẠC s ĩ KHOA HỌC NGỮ VÃN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN VĂN KHANG

MẢ N Ộ I - 2 0 0 4

Trang 2

Mở đ ầ u 1

1 Lý do cliọn đề t à i 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên c ứ u 1

3 M ục đích của luận v ă n 2

4 Phương ph áp nghiên c ứ u 2

5 Tư l i ệ u 2

6 Ý nghĩa lý luận và tliực t i ễ n 2

7 Dô cục của luận v ă n 3

Chương 1: Cơ sở lý luận: M ột sô vấn đề lí thuyết về uyển ngữ có liên quan đến dề tài khảo s á t 4

1 S ự xuất hiện của khái niệm uyển n g ữ 4

1.1 Lịch sử kiêng kỵ và sự ra đời của khái niệm uyển ngữ 4

l 2 Khái niệm uyển ngữ 17

2 M ột sô'phương thức cấu tạo uyển n g ữ 23

Chức năng hay công dụng của uyển n g ữ 24

3.1 Công dụng đổi mới liay cái mới thế chỗ cái c ũ 25

3.2 Công dung kiêng k ỵ 26

3.3 Công dụng biển thị gián tiếp 28

3.4 Công dụng thể hiện lịclì sự 29

3.5 Công dụng "tựbảo vệ mình ” 30

4 Cách phán loại uyển n g ữ 30

4.1 Phân loại theo ngữnglữa 32

4.2 Phân loại theo quan điểm ngữ dụng liọc 31

5 Tiểu k ế t 34

Chương 2: Đạc điểm của uyển ngữ về "cái chết" được thể hiện trong tiếng Hán (có (lối chiếu với sự thể hiện trong tiếng V iệ t) 35

I Đặc điểm của uyển n g ữ về "cái chết" trong tiếng I ỉ á n 34

1.1 ■ Xét trên bình diện ngôn ngữ học 35

ỉ 2 Xét trên bình diện văn lioá, x ã liộ i 42

Trang 3

2 M ộ t vài dặc điểm của uyển ngữ vé "cái c h ế t" trong tiếng V i ệ t 55

2.1 Xé í Irèiì bình diệu ngôn ngữ h ọ c

(34 2.2 Xât li cit bình diện vân lioá, xã h ộ i

3 N h ữ n g Iihận xét rút r a 72

3.1 Xét trên bình diện ngôn ngữ h ọ c 72

3.2 Xél trên bình diện văn lioớ, xã h ộ i 74

4 Tiêu k ế t 74

C hương 3: Đặc điểm của uyển ngữ về "g iớ i tín h " được thổ hiện trong tiếng Hán (cỏ đối chiếu với sự thổ hiện tro ng tiếng V iệ t) 76

/ Đ ặc điểm cùa uyển ngữ ch ỉ "quan hệ tính giao" được thê hiện trong tiêng H án (có dối chiêu vói s ự tliểh iện trong tiếng V i ệ t ) 77

1.1 Xét trên bình diện Iigôn ngữ học 80

X7 1.2 Xới trên bình diện vân hoá, xã h ộ i

2 Đặc điểm của uyển ngũ cliỉ các bộ plìận c ơ t h ể có liên quan đến giói tính đưọc thế hiện trong tiến g Hán (có dôi chiếu vói sự t h ể hiện trong tiếng Việt) 9 7 2.1 Xét trên bình diện ngôn ngữ h ọ c Qg 2.2 Xét trên bình diện văn lioá, xã h ộ i 102

2 3 N h â n A V I Ị Q g 3 Đ ặc diêm c ủ a uyển ngữ chỉ "hiện tượng kỉnh nguyệt" của p h ụ n ữ được thể hiện trong tiếng ỉ ỉ á n (có đối chiếu vói sự t h ể hiện trong tiếng V i ệ t ) 109

3.1 Tron ạ liếirg H á n 110

3.2 Trong tiếng Việt 1 ^

4 Tiêu k ế t 115

K ế t l u ậ n 1 1 6 Tài liệu tham k h ả o 118

Phụ lục

iv

Trang 4

1 LÝ DO CH Ọ N ĐỀ TÀI

Sự sản sinh ra uyển ngữ bắt đầu từ việc kiêng kỵ Các dàn tộc trên thế giới đều có những điều kiêng kỵ, vì thế, sự xuất hiện uyển ngữ và việc sử dụng uyển ngữ trong ngôn ngữ là có tính phổ quát Uyển ngữ có nguồn gốc lâu đời trong tín ngưỡng, tạp tục, tôn giáo, tâm lý của con người Uyển ngữ dược sử dụng trong mọi lĩnh vực giao liếp, trong dời sống hàng ngày, đặc biệt Irong văn học, trong giao tiếp chính trị, ngoại giao quốc tế và ngay trong khoa học cũng cần đến uyển ngữ

Vấn đề uyển ngữ, nhất là đối chiếu uyển ngữ giữa các ngôn ngữ cho đến nay chưa được khảo sát nhiều Vì vây, có thể coi đây vẫn còn là một mảnh đất trống ẩn chứa nhiều thú vị Irong công tác nghiên cứu ngôn ngữ gắn với các đặc trưng văn hoá xã hội của mỗi dân tộc

Đối chiếu đặc điểm của uyển ngữ tiếng Hán với tiếng Việt có thể coi là một dề tài như vạy Đây là một nội dung ngôn ngữ-văn hoá rộng lớn mà nếu chuyên đi sâu vào nghiên cứu sẽ nảy sinh nhiều vấn đồ không chỉ Ihuôc về ngôn ngữ như: lịch sử, văn hoá, xã hội, thói quen, tạp quán, tínngưỡng Trong khuôn khổ một luận văn Ihạc sĩ, chúng lôi xin chỉ được đề cập tới một số những đặc điổm của uyển ngữ nói chung, uyển ngữ Irong tiếng Hán và Irong tiếng Việt nói riêng Trên cơ sở đó, tiến hành khảo sát theo hướng đối chiếu hai nhóm uyổn ngữ, đó là nhóm uyển ngữ chỉ " cái chết" và nhóm uyển ngữ chỉ "giới tính" Cũng có thổ coi đây là những nhóm lừ mang đặc trưng rất riêng không c h ỉ đ ơ n thuần về m ặ t ngôn n g ữ mà còn gắn với vấn

đề tư duy liên tưởng, tư duy văn hoá và đặc điểm của mỗi dân tộc

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ú u

Đối lượng nghiên cứu của luận văn là những uyển ngữ liếng Hán và uyển ngữ liếng Việt ihuộc nhóm chỉ "cái chếl" và chỉ "giới lính"

MỞ ĐẦU

Trang 5

Phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sử lý thuyếl về uyổn ngữ tiến hành khảo sát những dặc điểm chung và những đặc trưng khu biệt của uyển ngữ liếng Mán và uyển ngữ tiếng Việt thuộc hai nhóm trên dưới tác dộng của các nhân

lố trong ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ (vãn hoá, xã hội, thói quen, tập tục,

kicng k ỵ )

3 MỤC ĐÍCH CỦA LUẬN VĂN

- Giới thiệu một cách hệ thống khái niệm về uyển ngữ và các quan niệm hiện nay về uyển ngữ và cách phân loại uyển ngữ

- Chỉ ra những đặc điểm chung và những đặc trưng khu biệt của uyển ngữ tiếng Hán và uyển ngữ tiếng Việt thuộc nhóm uyển ngữ chỉ "cái chốt" và nhóm uyển ngữ chỉ "giới tính" dưới tác động của các nhân tố trong ngôn ngữ

và ngoài ngôn ngữ

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚƯ

Trong luận văn này chứng tôi sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, đối chiếu

Thống kê và xử lý tư liệu theo phương pháp định tính và định lượng

- Nêu bạt những nét lương đồng và khác biệt trong uyển ngữ tiếng Hán

và trong uyển ngữ tiếng Việt thuộc nhóm "cái chết" và nhóm "giới tính" dưới tác động của các nhân tố trong ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ

Trang 6

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và lài liệu tham khảo luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận: Một số vấn đề lí thuyết về uyển ngữ có liên quan đến đề tài khảo sát

Chương 2: Đặc điểm của uyổn ngữ về"cái chết"được thể hiện Irong tiếng Hán đối chiếu so sánh với tiếng Việt

Chương 3: Đặc điổm của uyển ngữ về "giới tính"được thể hiện trong tiếng Hán đối chiếu so sánh với tiếng Việt

Trang 7

I S ự X U Ấ T HIỆN CỦA KHÁI NIỆM UYEN n g ữ

1.1 Lịch sử kiêng kỵ và sự ra đời của khái niệm uyển ngữ

Kiêng kỵ là một bộ phận hợp Ihành phong tục tập quán của các bộ tộc, dân tộc trên thế giới Khi thế giới quan khoa học chưa phát triển, người ta thường tin rằng đổ tránh những rủi ro tai họa, đạt được những may mắn hạnh phúc trong cuộc sống con người phải luân theo những cách ứng xử nào đó Những cách thức ứng xử này rất đa dạng nhưng có thể khái quát thành điều cần làm và điều tránh làm: cần phải làm điều gì và cần phải tránh không làm điều gì Loại ứng xử thứ nhất "cần làm diều gì" là nguycn nhân hình thành các nghi lỗ cầu cúng, tín ngưỡng ỉôn giáo Loại ứng xử ihứ hai "cần phải tránh điều gì" là nguyên nhân hình thành các lập tục kiêng kỵ Cả hai đều có nguồn gốc lâu đời Irong lịch sử, do đó cũng thường phản ánh những nét đặc trưng nào đó trong quá trình tiến hoá của cộng đồng Chính vì vây các nhà nghiên cứu dân tộc học, nghiên cứu văn hoá dân gian, nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học đều coi phong tục tập quán là một đối tượng nghiên cứu quan trọng Qua đó có thể tìm ra lời giải đáp cho những vấn đề mà xã hội hiện dại đang quan tâm

Chúng ta có thể thấy rằng, đằng sau mỗi việc kiêng kỵ đều có những nỗi lo âu, sợ hãi xảy ra rủi ro tai hoạ mà con người thời cổ tin rằng có thể qua khỏi được bằng cách kiêng kỵ Chẳng hạn đêm ba mươi Tết kiêng đi ra đường

sợ gặp quỷ đói vào làng tìm kiếm thức ăn, kiêng quél nhà trong ngày mùng một TỐI vì sợ quanh năm động thổ v.v Nhưng không phải tất cả những gì lo

Trang 8

sự đều là đối tượng của khái niệm kiêng kỵ Ví dụ tục kiêng di biển vào mùa biển động vì lo dông bão, tục nuôi tằm kiêng gió lây, v.v thì ý nghĩa không hoàn toàn giống với các thứ kiêng kỵ khác như kiêng ăn chân gà vì sợ viết run tay hoặc di buôn bán kiêng ăn cơm khê vì sợ không may Ở hai tập lục kiêng

kỵ trcn chúng ta nhận Ihấy tính lôgic giữa nguyên nhân và hành động kiêng kỵ: giữa mùa hò mà có gió tây là thời tiếl Ihay đổi dột ngột, tằm dễ bị chết Còn hai tục kiêng sau thì không thể giải thích nguyên do Năm 1913 Phan Kế Bính đã liệt kê 46 điều kiêng kỵ của người Việt Nam như: kiêng ngày xấu, ngày mùng một đàu năm, đầu tháng, v.v Thực ra trong sách của ông rải rác

ở nhiều chương khác chúng ta còn có thể nhặt thêm được vài chục điều kiêng

kỵ khác nữa như: không bế con trao cho người khác qua cửa, v.v

Nói đến kiêng kỵ là phải nhắc đến sự ra đời của tabu Vào thế kỷ 18,

nhà hàng hải người Anh James Cook đến quần đảo Tonga Nam Thái Bình Dương, khi tiếp xúc với cư dân ở đây ông phát hiện thấy họ có rất nhiều hiện tượng xã hội kỳ lạ Chẳng hạn, một số đồ vật chỉ đặc biệt giành cho những người thuộc tầng lớp trên (thần, lăng lữ, vua, tù trưởng, ) sử dụng mà không cho phép dân Ihường sử dụng, hay chỉ cho phép sử dụng vào mục đích đặc biột

mà không cho phép sử dụng vào mục-đích bình thường hoặc không cho phép một nhóm người (như phụ nữ) sử dụng Cư dân ở đây gọi kiểu cấm kỵ này là

"tabu" Từ "tabu" sau này đã thâm nhập vào các lĩnh vực của các bộ môn như Nhân loai học, Nhân chủng học, Xã hội học, làm thành một loại danh từ chuyên dụng chỉ những hiện lượng xã hội đặc biệt (kiêng kỵ) và được sử dụng rộng rãi Hiện tượng "tabu" bao gồm hai mặt: một mặt lci những vât linh Ihiêng được tôn kính, không được phép sử dụng mộl cách tuỳ tiện; một mặl là nlìững vật thấp hèn bị coi khinh không được phốp liếp xúc một cách tuỳ tiện Vì thế, cái dược gọi là ngôn ngữ "tabu" trên thực chất cũng bao gồm hai mặt: Mộl là ngôn ngữ sùng bái linh vật (ngôn ngữ bái vật giáo) và mặt khác là ngôn ngữ cấm d ù n g hoặc d ù n g thay thế

Trang 9

Ngôn ngữ là công cụ giao liếp quan trọng của xã hội loài người, nó xuất hiện và phát triển cùng với lao dộng Nhưng trong hoàn cảnh khi con người chưa hiểu rõ ràng lắm về các hiện lượng tự nhiên và sức mạnh của nó thì ngôn ngữ thường được người ta cho rằng có mối liên hệ với một số sức mạnh của tự nhiên, có thể mang hoạ-phúc đến cho con người Như vậy, ngôn ngữ dã được trao cho một thứ mà bản thân nó không có: cảm giác siêu phàm và sức mạnh siêu phàm Các thành viên của xã hội cho rằng, bản thân ngôn ngữ có thể mang lại hạnh plnìc hay tai hoạ cho con người, ngôn ngữ là nguồn gốc của hạnh phúc và lai hoạ Ai đắc lội với nó người đó sẽ bị trừng phạt, ngược lại, ai

"dược lòng" nó thì sẽ được che chở bảo vệ Đây chính là lí do dẫn tới việc xuất hiện ngôn ngữ kicng kỵ và ngôn ngữ sừng bái linh vật Nhưng, hay gặp nhất là hiện tượng kiêng huý Liên quan đến nội dung này, tiếng Việt có cách biểu thị như sau:

Từ "kiêng" trong tiếng Việt là một từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, nhưng là lớp từ tiếng Hán đã du nhập vào nước ta lâu đời, từ thời kỳ cổ Hán Vict và đã chuyổn hoá thành từ Việt Từ nguyên của từ "kiêng" trong tiếng Viọt bắt nguồn ở từ "kinh" trong tiếng Hán "Kinh" nglũa gốc là sự sợ hãi của con ngựa khi bị giật mình chồm lên Nhưng sang tiếng Việt ta thấy lừ "kiêng "

đã chuyển nghĩa: do sợ hãi mà tránh đi, như Irong tục ngữ "có kiêng có lành", hoặc nói" kiêng rượu, kiêng thịt " Từ "kiêng" trong tiếng Việt hầu như chỉ dùng để chỉ những kiêng Iránh cụ thể ( như " kiêng rưựu kiêng thịt "), còn khi muốn nói khái quái để chỉ chung mộl tập tục, một khái niệm kiêng Iránh nói chung thì cần phải dùng đến từ "kiêng kỵ" Đó là một từ ghép cấu tạo Iheo kiểu : 1 từ Việt + 1 từ Hán Đúng ra là hai từ Hán: 1 cổ Mán Việt + 1 Hán Việt Từ "huý" có ba nghĩa: 1) tránh, kiêng; 2) giấu; 3) ten người Vì vậy, kiêng huý tức là kiêng lên người, có nghĩa là tránh nói, viết tên người

Thông Ihường người la phân biệt kicng huý làm hai loại: Tư huý (bao gồm gia huý, tộc huý, hương huý) và công huý (cũng gọi là quốc huý) Việc kiêng gia huý, tộc huý tuỳ theo quy định của từng gia đình, gia tộc Ngoài việc

Trang 10

thờ cúng lổ liên ở các hương ấp như ở Trung Quốc, làng xã ở Việt Nam còn có tục thờ Thành hoàng với ý nghĩa iưởng nhớ những người có công Irong quá trình hình thành và phát triển hương ấp: nhà phú hộ, quân nhân, văn nhân, Ihợ thủ công, v.v Nói chung là những người đã có những kỳ lích nào đó khiến cho hương ấp của họ trở Ihành nổi tiếng Cùng với những quy định khác như kiêng màu sắc, mùi vị, nước, lửa thần huý là mộl khoản mục kiêng huý của cộng đồng hương ấp gọi là hương huý Ngoài ten huý của thần Thành hoàng, lnrưng huý còn bao gồm tôn huý của các vị thần khác được thờ Irong hương ấp nếu cộng dồng hương ấp thừa nhân đó là vị thần chung của họ Quốc huý bao gồm: ngự danh hoặc ngự huý là tôn huý của vua và hoàng hậu đương triều Miếu huý là lên huý của các đời vua trước, lức là tên huý của ông bà cố của vua, tuỳ theo quy định cụ thể Khác với các loại tư huý có tính chất quy ước, tục lệ, thuộc phạm trù đạo đức cộng đồng, quốc huỷ do triều đình ban bố bằng các chỉ dụ luật lệnh có lính chất bắt buộc Ihuộc phạm trù pháp luâl, có hiệu lực thi hành trong toàn quốc "Iuy vậy, xél về loại hình kiêng kỵ thì các loại kiêng liuý nói chung đều cùng một loại kiêng kỵ là kiông gọi tên riêng, kể cả tên người và tên các thần thánh vì lên thần Ihánh chủ yếu là tên người và tên

do con người đặt ra Tập tục kiêng lên riêng phản ánh một phương diện quan trọng trong tâm lý giao tiếp xã hội của những dân tộc trong khu vực có kiêng huý như Trung Quốc, Việt Nam và một số cộng đồng khác Nhưng quan niệm lau đời của người Trung Quốc người Việt Nam có xu hướng thiêng liêng hoá tên gọi, coi lên ricng có quan hệ trực tiếp với số phận của con người và họ cố gắng khống chế tên gọi trong phạm vi có thể kiểm soát được Tín ngưỡng thờ linh hồn người chết cũng là một nguyên nhân hình thành tục lệ kiêng huý Người ta quan niệm rằng linh hồn của ông bà cha mẹ đã mất cũng cần phải có tên ricng như người đang sống, do đó viết tên khi còn sống vào bài vị để thờ Trong mỗi gia đình, gia tộc hình thành một nhóm gia huý, tộc huý mà các thành viên trong gia đình, gia tộc cần biết để kiêng tránh Một tác dụng có thể thấy của việc này là để tránh đặt tên con cháu Irùng với tên huý của lổ tiên

Trang 11

có những thể hiện đa dạng phức tạp Ví dụ, ử Trung Quốc, tập tục kiêng huý

có lừ dời Chu (106Ố - 771 trước công nguyên), lưu hành ở Lưỡng Hán, thịnh hành ở dời Tuỳ Đường, sau đó ngày càng trở nên nghiêm ngặt, đến dời Thanh thậm chí vì phạm huý mà mất đầu, lai hoạ đến cả cửu tộc Tên tuổi của Hoàng

đế không được nói đến, như Tần Thuỷ Hoàng họ Doanh, tên Chính cho nên chữ "chính" được liệt vào diện cấm kỵ, thâm chí âm "chính" cũng bị licn quan,

"chính nguyệt" gọi ihành "đoan nguyệt" Hán Văn Đế tên là Lưu Hằng nên Hằng Nga trong thần thoại bị gọi thành "Thường Nga" Đời Đường thậm chí trong luật còn quy định: Nếu tên của chức quan phạm vào tên huý của ông cha thì có thể xin đổi sang chức vụ khác Sự kiêng huý ở xã hội phong kiến Trung Quốc nhiều khi tới mức cực đoan như nhà thơ Lỷ Hạ đời Đường tài cao học

rộng nhưng chỉ vì phụ thân tên là Kính Túc nên không thể thi tiến sĩ vì írong tiếng Hán chữ "kính" và chữ" tiến" đồng âm Lưu Ôn Tầu có cha tên là Nhạc nên cả đời không nghe nhạc, không đi chơi Nhạc Sơn Thuỷ Dư Tích có cha

tên là Thạch (có nghĩa là đá) nên cả đời kiêng dùng đồ bằng đá, chân không

dẩm lên đá v.v còn ở Việt Nam, tập tục kiêng huý đã có từ rất lâu dời trong phong lục tập quán của người Việt Nam Trong khi chưa có điều kiện để xác

định tập tục n ày có hay k h ô n g có n g uồn gốc bản địa c h ú n g la có đủ CƯ sở để

tin rằng những đi dân Trung Quốc đã mang theo vào Việt Nam nhiều phong tục tập quán của họ trong đó có tập tục kiêng huý Tập tục này có những điểm phù hợp với tâm lý ứng xử của người Việt, thể hiện tình cảm tôn kính tổ tiên, kính trọng người già, củng cố quan hệ Uuyền thống tốt đẹp trong gia đình, trong cộng đổng làng xã Mặt khác, dưới thời Bác ihuộc, chữ Hán được truyền dạy ở Giao Châu, các sách Kinh truyện và Bắc sử thông qua các nhà trí thức

Trang 12

người Việt có những ảnh hưởng dáng kể Lrong xã hội, lạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp ihu một nếp sống văn hoá llieo linh thần Nho giáo Vì vậy, lừ thời kỳ độc lập, tập tục kiêng huý đã trở thành một bộ phận của phong tục, tập quán người Việl Ở Việt Nam trước đây người ta đặt lên huý (tên chính) muộn mần cổ lc để ma quỷ không thổ biết chính xác đứa trẻ mà chúng muốn làm hạ: Người Việt cũng gọi tên theo lên con, tên cháu đích tôn Khi chết thì

không dùng tên huý (ten chính) mà đặt tên hèm để cúng giỏ, có thể do đổ tránh trùng tên của lổ tiên hay họ hàng (kể cả nội ngoại) tránh các huý hiệu

của linh thần thánh mẫu, Thành hoàng, tên các quan, các bậc vua chúa Cũng

vì do kiêng tên mà có nhiều chữ đã đổi sang lừ khác như "hoàng" thành

"huỳnh"; "hoa" thành "huê"; "phúc" thành "phước" v.v Khi đi thi, các thí

được viết các chữ tên nhà vua và các vị tôn tộc trực hệ Thâm chí lên các vị lổ liên nhiều đời trước tuy có llìổ dùng nhưng phải thêm bớt ncl khác di đôi chút

0 các trường thi xưa đều niêm yết bảng liệt kê những chữ huý Sĩ lử sẽ bị lội

nhẹ h a y n ặ n g t u ỳ t h e o m ứ c đ ộ p h ạ m h u ý ở n h i ề u v ù n g n ô n g t h ô n n g à y n a y ,

nhiều người kiêng sợ không gọi tên con khi đêm ử nơi àm u lĩnh mịch vì cho

rằng ma quỷ có thể biết mà nhập vào con trẻ theo tên để hành hạ nó

Dẫn ra vài điều trên cho Ihấy, người Việt xưa cũng tin vào mối liên hệ

vệt chất giữa cái tên và con người mang lên đó Niềm tin này cũng được phản

ánh trongviệc đặt tên tầm thường xấu xí cho con để là ma không chú ý đến đứa trẻ hoặc đặt tên có những âm mang ý nghĩa tốt đẹp để con cái nhờ đó mà phát đạt

Với người nguyên thuỷ thì họ không thể phân định rạch ròi giữa từ ngữ

và sự vật Họ cho rằng, giữa tên gọi và người hay sự vậl mà từ ngữ biểu đạt có những mối liên hệ vật chất có thực, do đó con người ta có thể bị tác động ma thuật từ bên ngoài do tên của họ qua mắt, tóc, răng, lỗ chân lông, v.v Từ đó người nguyên thuỷ coi tên mình là một bộ phận chính của cơ thể và rất quan

Trang 13

tâm săn sóc đốn nó Nếu như cái lên bị nhục ma, bị đối xử lệ bạc thì người mang tên đó sẽ bị hại không kém vết thương đau đớn trên cơ thể Ví dụ, nhiều người Eskimos còn lấy tên mới khi về già đổ có thêm sức mạnh mới do họ cho rằng cái tên xưa cũ kia cũng dã già nua như họ vậy Thổ dân Ưc nhiều khi giữ kín tên mình trong bí mật vì sợ kẻ thù dùng phép thuật tác động lên cái tên của

họ để làm hại họ Nhiều người có lên mật do già làng đặt cho ngay sau khi họ

ra đời chỉ có những người cực kỳ thân cận mới biết Học giả G Frazer kể rằng

ở hộ tộc Caph, nếu người chồng tên là Ư- Mpaka (từ chữ Mpaka là một loài thú nhỏ thuộc họ mco) thì người vợ phải gọi con Ihú này bằng mộl cái tên

khác Phụ nữ Ihuộc bộ lạc này thâỉn chí còn bị cấm gọi tên bố chồng và tất cả

những người thân ở nhà chổng Nếu âm tiết mang trọng âm của một trong những cái tên này lại gặp ở một từ khác thì người phụ nữ phải ihay thế lừ đó hay âm tiết đó Đó là nguyên nhân khiến trong giới phụ nữ ở đây đã hình thành một ngôn ngữ khác gọi là "biệt ngữ của nữ giới" trong ngôn ngữ chung Hiểu được biệt ngữ này rất khó vì không có những quy tắc nhất định của các

uyển ngữ, vì không soạn được từ điển do số lượng các từ đó là rất lớn Cũng Iheo G, Frazer, bộ lạc Alíar trên đảo Bourou cấm nói lên bố mẹ mình, bố mẹ

vợ và những lừ có âm đọc giống cái tên đó Nếu tên mẹ vợ là Dalou (nghía là

lá trầu) thì người con rể không có quyền nói "lá trầu" nữa mà phải gọi là "ihứ

lá làm đỏ miệng" Ngoài ra người ta còn kiêng gọi tên anh trai khi anh la có mặt, nếu vi phạm những điều kiêng kỵ đó sẽ bị phạt

Lạ-CVới người đã quá cố, nhiều bộ lạc cổ đại và ngay cả nhiều bộviioang dã ngày nay vẫn có tục không nhắc đến tên của họ vì người sống sợ khuấy động linh hồn người đã khuất Với bộ lạc người da đỏ Goahiro ở Colombia thì việc nói tên người đã khuất trước mặt thân nhân của họ bị coi là một sự lăng mạ ghê gớm, đến nỗi nhiều người vi phạm bị tội chết Nhiều bộ lạc tránh nhắc đếntên người đã chết, không đặt phụ danh (tên cha) cho tên mìmh Ở ú c và Bắc

Mỹ có những bộ lạc buộc người có tên trùng với tên người đã chết phải bỏ cái

Trang 14

tên dó đổ lấy lên khác Một số hộ lạc đổi tên thân nhân của người chốt bằng các uyển ngữ có tính mô tả trong giai đoạn để lang, và nhiều khi do hất cẩn buộl miệng nhắc đốn tên thậl của người đang có tang đã dẫn đến những xung đột đẫm máu Nguyên nhân ở dây là nỗi sợ hãi về việc âm Ihanh của tên người quen có thể không dẫn linh hồn dang lang thang của người chết về nhà cũ của anh ta mà tới quấy nhiễu người khác Khi tên của ngưừi chết trùng với lên mộl

sự vật nào đó như động v ậ t , cây cỏ, lửa, nước thì chính từ đó bị loại bỏ khỏi khẩu ngữ và được thay bằng tên mới Có lẽ đây cũng là một nguyên nhân khiến cho từ vựng của các ngôn ngữ thay đổi nhanh chóng

Cũng giống như ở Việt Nam, Trung Quốc, nhiều bộ tộc trên thế giới kiêng nhắc lên các vị quân vương, hoàng đố Ở Trung Phi nếu như thủ lĩnh hộ lạc Bakim chết thì tên ông lập lức dưực loại trừ khỏi ngôn ngữ của bộ lạc, nếu cái tên đó trùng với lên loài thú nào thì loài Ihú đó phải được đặt lên mới

Con người lấy hình ảnh của mình dể sáng tạo ra lliàn, đại diện của thần chính là lượng Thẩn do con người tạo ra là sự xuâ't hiện hình thức của tượng trong thế giới hiện thực Chưa ai từng nhìn Ihấy một vị thần sống thật nào cả Bản thân bức lượng chẳng có gì là thần bí, nó hoặc giả làm bằng đất hoặc giả bằng đá khắc hay gỗ khắc hoặc dùng kim loại mà đúc ra, nó vốn là do con người chế tạo ra, trên thực tế nó là một đồ vật chết không thể có mộl chút sức lực nào, càng không thể nói là có sức mạnh siêu phàrn, thần bí Nhưng ở xã hội chưa phân chia giai cấp, tức là ở chế độ công xã nguycn thuỷ, con người phải đối mặl với sự uy hiếp của các thế lực lự nhiên mà không Ihể khắc phục được như bão lụt, sấm sét, hạn hán, v.v họ đcm lất cả những điều mong mỏi, cầu xin hy vọng, thậm chí cả lời nguyền rủa gửi gắm vào Ihứ đồ vật không có sức sống là tượng Tượng chính là hoá thân của thần Đối với thần đã được vật chất hoá (tức là đã trở thành vật) con người đã trao cho nó một sức mạnh siêu nhiên Như vậy, tượng ử trong lâm tưởng của con người tựa hồ như có sinh mệnh, như bất hủ, như có thể giáng phúc hay giáng hoạ xuống cho con người,

tương ở irong trí tưởng tượng của con người đã sống dậy Thế là, giữa tưựng

Trang 15

với tượng không những phát sinh quan hệ tương hỗ mà còn kết hựp cùng nhau dựa theo mô hình kết hợp của những lực lượng trong xã hội con người, hình thành nên một thế giới của thẩn, thế giới của thẩn là sự phản ánh thế giới của

con người Theo sự phân hoá giai cấp của xã hội loài người, thế giới của thần cũng có cơ cấu thống trị, cơ cấu này của thần trở ihành chúa tể vận mệnh con người, chi phối xã hội loài người Lúc này, luỳ những điều kiện văn hoá xã hội đương Ihời mà một số từ hay ngữ có được những đặc điểm màu nhiệm riêng

của chúng, mà khoác lên chúng những những ý tưởng thánh thiện hoặc trẩn

tục Mộl số lừ và ngữ trong vốn ngôn ngữ phải tránh sử dụng hoặc phải dùng với sự thận trọng bửi nếu không sẽ xúc phạm tới Ihần linh hoặc các đấng siêu hình Lý do căn bản của việc tạo uyển ngữ là tâm lý không muốn xúc phạm, không muốn hạ nhục ai, muốn Iránh những diều xấu, lạo ra sự nhã nhặn, êm

ái, lịch sự, để giảm đi những hiệu ứng thô tục, khó chịu do nhiều từ ngữ gây

Ngoài tập tục kiêng tên ngưòi, kiêng gọi tên các đấng thần linh như

chúng tỏi vừa nêu trên, tôn của một số loài vâl cũng được kiêng kỵ ử mội số ngôn ngữ Slephan Ullmann trong cuốn Semantics "Ngữ nghĩa học" (Black Well 1962) đã viết rằng, loài vật được nhiều dân tộc kiêng kỵ đó là loài chồn,

là loài đcm đến sự sợ hãi và xui xẻo Ở Việt nam có một số vùng cư dân không dám gọi "hổ" là "hổ" mà gọi là "ông ba mươi" Còn Irong cuốn hổi ký

"Cuộc sống nghệ thuật" của diễn viên nổi tiếng Tân Phương Hà - Trung Quốc Ihì gánh hál của bà thực hiện "tabu" với năm loại động vật: chuột, nhím, rắn, chồn, cáo Không được gọi thẳng tên năm loại động vật này, gọi tên ihạt sẽ bị phạt có khi còn bị phạl rất nặng Gánh hát tôn xưng năm loại động vật này là

"Ngũ đại tiên" và đều gọi là "ông" Ví dụ: "chuột" được gọi là "Khôi Bát gia",

"nhím" được gọi là "Bạch Vương Gia", "rắn" được gọi là "Liễu Thất Gia",

"chồn" dược gọi là "Hoàng Đại Gia", "cáo" được gọi là "Đại Tiên Gia" Nguyễn Quý Thành Irong nghiên cứu về những kiêng kỵ trong ngôn ngữ ngư dân vùng hiển Nam Trung bộ còn cho biết, ngư dân vùng này xcm cá voi như

Trang 16

một phúc thần đáng tôn kính và thờ cúng vì có liên quan đến đời sống đánh hắt của ngư dân Tập tục này thể hiện truyền Ihống ơn nghĩa của người Việt, vì thế họ sử dụng lừ "ông" để chỉ loại cá này Một khi cá voi chết dạl vào bờ, thì

họ gọi là "ông luỵ" "bà luỵ", nếu cá voi dạt vào bờ mà chưa chết thì gọi là

"chưa lử", v v

Có thể nói, hàng loạt những sinh hoạt thuộc về cá nhân đã được "uyển hoá" trong sử dụng ngôn ngữ Ví dụ:

Chốt là một hiện tượng lự nhỉên bất khả kháng, klìồng ai có thể Iránh

nỗi trăn trở của mọi thế hệ con người Chính vì cái cảm giác khó tả, vì dự cảm

về sự ra đi lần cuối ấy mà ở Irong mọi ngôn ngữ đều tồn tại một lượng lớn uyển ngữ dùng để thay thế nó như : “trăm tuổi”, “tạ thế”, “hai năm mươi”, “từ trần”, “băng hà”v.v Trong tiếng Anh cũng có rất nhiều uyển ngữ thế cho từ

"to die" (nghĩa là chết): "to pass out of the picture" "to lay down one’s life",

"to go to the last round up"

Về sinh lý con người có nhiều từ vốn được quy ước là tục, vì vậy trong lĩnh vực này đã nảy sinh ra nhiều uyển ngữ Để tránh từ "đánh rắm" người ta dùng từ "trung tiện", " đánh địt" Trong tiếng Hán người ta dùng lừ "phóng khí", "hạ khí" "tiết khí" để Ihay cho từ "phóng thí" (đánh rắm)

Người ta kiêng nhiều từ bị coi là bẩn thỉu, thô lậu, như: "đi ỉa" được gọi

là "đi ngoài", "đi đồng", " đi cầu", "đi đằng sau" v.v Tiếng Hán dùng những uyển ngữ như:" tới phòng rửa lay", "đi ra ngoài một chút"

Bệnh tật và bị thương là do những sự cố khách quan hoặc tự nhiên tác dộng vào con người nên vốn là việc khó tránh, nó ảnh hưởng tới sức khoẻ của còn người, làm cho người ta khổ sở đau đớn Con người luôn mong mỏi bản thân và những người xung quanh đểu bình an vô sự, khoỏ mạnh, vui vẻ Chẳng may bị Ihương tật hay đau ốm người la không muốn thông báo rộng rãi và khi

dề cập tới nó thì luôn dùng những từ êm tai hơn, hay hơn Ví dụ như bị thương thì nói là "xảy ra chút chuyện" "không may một chúi" Bệnh tật, đau ốm thì

\

Trang 17

"bệnh đâu Tây Ban Nha", người Pháp thì gọi nó là "bệnh Napoli" đẩy sang cho nước Ý, người Đông Âu thì lại gọi là "bệnh nước Pháp" đẩy trở về Pháp.

Đối với những khiếm khuyết của cư thể con người, tốt nhất là không nên nói Ihẳng ra mà phải phải dùng những kiểu nói uyển chuyổn để thay thế

Ví dụ, dùng "nặng tai", "khiếm thính" thay cho "điếc"; dùng "mắt kém"

"khiếm thị" thay cho "mù"; dùng "thiểu năng, trí tuệ kcm phái triển" Ihay cho

"đần độn, ngớ ngẩn"

Nhìn chung, những kiêng kỵ trong đời sống hàng ngày thường liên quan đến những lừ chỉ thân thể con người, đến các bộ phận trên cơ thể con người, đến những hành vi tính dục và những.hiện tượng sinh lý của con người v.v những từ này khổng có địa vị, chỗ đứng công khai trong xã hội, nó bị những tập quán nhất nhất tuân Iheo truyền thống xã hội cấm đoán Trong các ngôn ngữ khác nhau có những cách xử lý khác nhau Những từ này không được xuất hiện trong sách vở hàng ngày mà cũng không được xuấl hiện trong lời nói của những người được coi là “có giáo dục" Sự xuất hiện của những ngôn lừ này có Ihể không bị pháp luật trừng trị nhưng nếu tình cờ nói ra sẽ bị mọi người chê cười khinh bỉ Ví dụ, đã có người đặt câu hỏi, "kinh nguyệt" thì có gì mà phải che dấu, có gì mà phải kiêng kỵ? Đó là hiện tượng sinh lý tất yếu ở người phụ

nữ Irưởng thành Thế nhưng xã hội nào cũng đều ngại ngùng khi nhắc đến lên của nó Người ta dùng những lừ 'không lôì", "không ổn" "cô ấy đang ở trong

Trang 18

chu kỳ" "trong hoa kỳ" "ngày khó nói" "ngày u uất" là những uyển ngữ để thay thế cho lừ "kinh nguyệt", ở Việl Nam, khi dang ử trong kỳ kinh nguyệt người la hay dùng từ "đang bị" "bẩn mình" Theo quy định của chính phủ Trung Quốc, nữ cán bộ công nhân viên tới kỳ kinh nguyệt đều có thổ được nghỉ mấy ngày mà không bị trừ lương nên trong tiếng Hán hiện đại xuất hiện

từ "kỳ nghỉ" để chỉ kinh kỳ của phụ nữ như "mấy hôm nay cô ấy đang trong

kỳ nghỉ" để chỉ mấy hôm nay cô ấy đang hành kinh

Cũng vậy, có Ihai cũng là điều mà người ta ngại ngùng khi nói đến, vì thô' cũng xuất hiện nhiều uyển ngữ để Ihay thế như "có tin mừng rồi", "thòm chua rồi", "sắp làm mẹ rồi" Cũng như đối với các biện pháp tránh thai, người

la có cách nói uyển chuyển dỗ nghe là 'kế hoạch hoá gia đình" Ngay cả đối với các dụng cụ tránh thai như bao cao su (condom) người ta cũng dùng những uyển chuyển để nói tránh như "áo mưa" "ủng" Từ "lính giao"ngoài sự xuất hiện trên sách háo y học ra nếu nói ra miệng thì thật là thô tục Người ta đã tạo

ra biết bao nhiêu là uyển ngữ để chỉ loại sinh hoạt này như: "chung chăn gối"

"di lại", "ân ái", "ngủ" "cuộc mây mưa" "Sinh thực khí" cũng là lừ không thể nói ra mội cách tuỳ liện nên người la bèn tạo ra rất nhiều từ để thay thế Ngay

cả sinh Ihực khí của trẻ cm cũng dùng từ ihay thế Ví dụ, sinh Ihực khí của trỏ

cm trai được gọi là "chim", "con lằm", "quả ớt" của trẻ cm gái thì dược gọi

là "bướm" Nếu cứ theo tên dúng mà gọi thì không tránh khỏi bất nhã

Các biến đổi về mặt khoa học kỹ thuật, văn hoá, xã hội và giao lưu quốc

tế ở thế kỷ 20 này đã lạo ra nhiều vấn đề phức tạp và tế nhị hơn mà vai trò của uyển ngữ tỏ ra rất quan trọng Lình vực thứ nhất dó là lĩnh vực công việc nghề nghiệp Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi thái độ và cách nhìn của xã hội đối với vấn đề nghề nghiệp cũng như thất nghiệp Một khuynh hướng muốn làm lăng them tầm quan trọng đối với các nghề nghiệp bình lhường trong xã hội, như một ngưòi hốt rác được gọi là "kỹ sư vệ sinh" (sanitary cngincr) trong tiếng Anil và "công nhân vệ sinh" Irong tiếng Việt,

"bồi bàn" được gọi là "nhân viên phục vụ nhà hàng"; "gác cổng' là "nhân viên

Trang 19

hảo v ệ "v v Phần lớn công nhân ở A nh quốc đều được gọi bằng cái lên cũng mang nghĩa công nhân (w o rke r) nhưng nghe có vẻ "k ỹ năng" hơn "đò i hỏi kỹ thuật hơn" nh ư "operatives" K h i m ột công nhân bị sa thải, những từ ngữ lế nhị lịc h sự thường được sử dụng thay v ì các lừ "b ị đuổi việc" "sa thải" (sacking d ism issa l) người ta dùng những từ "hợ p lý hoá cấp độ đội ngũ" (ration a lisatio n o í’ s ta ff levels) v v T ro n g liế ng V iệ t thay vì dùng từ "sa Ihả i" "buộc th ô i việ c" thì người ta dùng từ "g iả m biên chế" T h ay cho "nạn thất nghiệp" là "tìn h trạng thiếu việc là m " v v Có m ộ t th ứ "nghề" mà trong hất cứ xã hội nào k h i nhắc tới người ta đều cảm thấy bất nhã nhưng nó vẫn tồn tại dai dẳng cùng vớ i xã hội loài người đó là "ng hề " làm đĩ, làm điếm Đổ tránh gọi thẳng những người làm nghề này là "con đ ĩ, con điếm , gái điếm " người việ t N am trư ớ c đây dùng lừ Hán V iệ t nghe cho có sắc thái nhẹ nhàng hơn là " k ỹ n ữ ", còn xã hội V iệ t N am hiện nay th ì thường dùng m ột từ tiếng Pháp là "cave " để ch ỉ những người phụ nữ làm nghề này, hoặc văn vẻ hơn m ộ l chút thì gọi là "k iề u ".

Cũng xuấ t phát lừ sự phái triể n giao lưu hợp tác giữa các quốc gia, các

tổ chức trên thế g iớ i mà m ột lớp uyển ngữ về quan hệ quốc tế, về giao tiếp chính trị, về chiến tra n h được hình thành và được sử dụng rộng rãi Đ iều này khiến cho hoạt động giao liế p được liến hành thuận lợ i, là con đường có Ihể thu được h iệu quả rõ rệt nhất Theo Judiths Neaman và Caroleg Silver th ì

"các chính phủ có cả m ộ t kho vàng uyển ngữ" (gold m ines o f euphem ism ) H ọ

sử dụng uyển n g ữ chủ yếu v ì m ục đích bảo vệ quốc gia m ìn h , hợp lý hoá những hành động của m ìn h, ng uỵ trang hoặc làm giảm bớt những thấl bại của

họ hay đề n g hị những chính sách họ đưa ra được sự đổng tìn h ủng hộ của các quốc gia hay lổ chức khác.

Sau Đ ạ i chiến thế g iớ i th ứ hai, nhất là sau thập k ỷ 60 của thê k ỷ 20 có

m ộ l số uyển ng ữ phản ánh hoàn cảnh m ớ i của cộng đồng quốc tế V í dụ, "các nước phái triể n " và "các nước đang phát triể n " Nếu khô ng cho cụm từ "các nước phát triể n " là uyển ngữ thì cụm lừ "các nước đang phát triể n " là uyển ngữ

Trang 20

chính cống Sau Đại chiến thế giới thứ hai, các nước thuộc địa liên tiếp giành dược độc lập, các dân tộc và các quốc gia bấl kể lớn nhỏ đồu hình đẳng, các nước lớn và các nước nhỏ có địa vị ngang nhau chí ít là trên giấy tờ, là ở bề ngoài Gọi là "các nước lạc hậu" thì có vẻ khinh thường, gọi là các nước

"không phát Iriển" thì cũng vậy Thế nên, mới có cụm uyển ngữ là "các nước đang phát triển" để tỏ ý rằng, các nước này dang phát triển lương lai có thể sẽ phái triển tới trình độ rất cao mà trình độ hiện nay không làm cho ta phấn khởi thì lam không nhắc đốn

Uyển ngữ trong chính trị được dùng rất rộng rãi Ví dụ, người ta ihường dùng các từ chỉ phương vị là Đông, Tây, Nam, Bắc để tạo thành uyển ngữ Khi người ta nói "các nước phương Tây" là để chỉ các nước tư bản chủ nghĩa Âu Mỹ; "các quốc gia phương Đông" là để chỉ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, có lúc còn để chỉ chung các nước xã hội chủ nghĩa

Trong quan hệ ngoại giao quốc tế, người ta cũng hay dùng uyển ngữ

Để thể hiện bầu không khí yến tiệc ngoại giao, ngầm biểu hiện mức độ quan

hệ, người la thường dùng một số uyển ngữ để miêu tả loại yến tiệc này Trong

hộ lừ điển "Thuật ngữ quan hệ quốc tế" do Tây Đức xuất bản có tới 16 kiểu nói Từ "trong bầu không khí Ihân thiết" cho đến "trong bầu không khí hữu hảo và vô cùng hiểu biết lẫn nhau" đều có thổ làm phương thức biểu thị của uyển ngữ, người ta có thổ từ những uyển ngữ này mà đoán ra mức độ thân thiết của hai bên

Ngay trong khoa học cũng cần đến uyển ngữ Ví dụ như trong ngành tâm lý học, các nhà khoa học đã dùng uyển ngữ để đặt thuật ngữ, như "hâm,

dở hơi" thay bằng "nhiễu tâm; "đần độn" Ihay bằng "chậm khôn"; "điên khùng, loạn óc" được Ihay bằng "loạn tâm"

1.2 K hái niệm uyển ngữ

1 2.1 T h u ậ t n g ữ " u y ê n n g ữ "

y - U H l ỹ

Trang 21

Tất cả những điều vừa trình bày trên cho thấy kiêng kỵ chính là nguyên nhân chủ yếu hình thành nên uyển ngữ và uyển ngữ có nguồn gốc lâu đời trong tín ngưỡng, lập tục, tôn giáo, tâm lý của con người

Thuật ngữ "uyển ngữ" (liếng Anh: euphenis; dược dịch từ tiếng My Lạp Euphemismos, trong đó “cu”: "tốt", “phcmi”: "tôi nói") Các nhà ngôn ngữ học hiện nay đều tương đối thống nhất về định nghĩa uyển ngữ:

Uyển ìigữ là lừ hoặc ngữ được sử dụng thay t h ế những từ, ngữ được coi

là chưa nhã, quá trực liếp, dung tục, chướng tai gai mắt hay thô thiển trong các lĩnh vực đời sống x ã hội.

Con người khi ấy không muốn nói ra lên sự vật kiêng kỵ hay động lác kiêng kỵ mà lại không thể không chỉ rõ tên hay động tác đó nên phải dùng những lừ, ngữ dễ nghe mà ám chỉ những điều mà mọi người không muốn nghe, phải dùng ẩn dụ để ám chỉ những vật mà mọi người không muốn nói đến, dùng cách biểu đạt quanh co để gợi ra sự vật mà cả hai bên đều biết nhưng không muốn nói thẳng ra Tất cả những từ, những ngữ dễ nghe, dùng để

ám chỉ hay ihay thế đều là uyển ngữ

Uyển ngữ nằm trong hệ Ihống các biện pháp tu từ, nó có mối liên hệ chặt chẽ với nhóm hoán dụ Có học giả còn coi uyển ngữ là một trong những biến thể của từ đồng nghĩa Tuy nhiên nếu làm như vậy thì phạm vi đồng nghĩa sẽ mở rộng quá mức

E Benveniste (Ngôn ngữ học đại cương 1974, tr 372) cho rằng, chỉ có tình huống mới xác định nên uyển ngữ Tuỳ thuộc vào việc là điển hình hay ngẫu nhiên mà tình huống tạo ra kiểu diễn đạt uyển chuyển phù hợp với các chuẩn mực của một ngôn ngữ nhất định Từ đó ỏng cho rằng, tất thảy đều phụ thuộc vào đặc điểm của khái niệm mà người ta muốn gợi lên trong ý thức nhưng lại tránh nêu lên khái niệm đó Nếu khái niệm này thuộc phạm vi vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội thì uyển ngữ sẽ không được tồn tại lâu dài, và sau khi mang dấu ấn của khái niệm như thế thì uyển ngữ cần được đổi mới Như vậy, uyển ngữ gắn bó chặt chẽ với tâm lý tình cảm của con người

Trang 22

1.2.2 Tác dộng của các nhản tô văn hoá, xã hội đối vói việc hình thành và sử dụng uyển ngữ

Các nhà khoa học đều thừa nhận rằng giữa ngôn ngữ và văn hoá, giữa

ngôn ngữ dân lộc và văn hoá dân tộc có mối quan hệ gắn hó chặt chẽ Chúng

tác dộng qua lại lẫn nhau Các phạm vi của văn hoá và ngôn ngữ gắn bỏ với

nhau, nhưng thường thường, luy quyết định sự lổn tại của nền vãn hoá bằng

ngôn ngữ nhưng chính ngổn ngữ lại cũng là một thành tố của nền văn hoá dân

tộc Là một thành tố của nền văn hoá linh thần, ngôn ngữ giữ mộl vị trí đặc

biệt trong đó Bởi vì, ngôn ngữ là phương tiện tất yếu và là điều kiện cho sự

nảy sinh phát triển và hoạt động của những thành tố khác trong văn hoá Ngôn

ngữ là một trong những thành tố dặc trưng nhất của bất cứ nền văn hoá dân tộc

nào Chính trong ngôn ngữ, đặc điểm của nền văn hoá dân tộc lưu giữ lại rõ

ràng nhất Ngôn ngữ là phương tiện tự bảo toàn của một dân tộc và đồng thời

cũng là phương tiện tách biệt dân tộc này khỏi các nền văn hoá dân tộc khác

Trong phạm vi một cộng đồng ngôn ngữ - văn hoá, ngôn ngữ lại đóng vai trò

là phương tiện licn hệ, kế thừa giữa các ihế hộ trong sự phát triển tinh thần của

họ Sở dĩ như vạy là vì như các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, kinh nghiộm lịch sử -

xã hội của một dân lộc về CƯ bản được tàng trữ và lưu truyền trong không giãn

và thời gian ở hình Ihức ngôn lừ (dưới hình Ihức ý nghĩa của lừ) Chính trong ý

nghĩa của lừ đã lưu giữ lại sự hiểu biết về thế giới khách quan ở Irình độ mà

một xã hội có thể đạt được trong giai đoạn phát triển lịch sử nhấl định Nhờ có

sự giao tiếp nói năng và thông qua nó, con người mới có thể thu nhận được ở dạng có sẵn kinh nghiệm xã hội dã dược tất cả các thế hệ liền bối đúc kết, tích

luỹ và hệ thống hoá Vì thế, ngôn ngữ "là tấm gương thực sự của nền văn hoá dân tộc" Iheo cách nói của E.M Veresalin và V.G Castomarop Ngổn ngữ là yếu tố văn hoá quan trọng hàng đẩu mang sắc thái dân tộc Từ đó, có thể thấy

lác động của văn hoá đối với ngôn ngữ là rất to lớn Sự đặc thù của văn hoá được biểu hiện trong ngôn ngữ dã quy định đặc trưng văn hoá - dân tộc của

Trang 23

Trong cách ứng xử với môi trường lự nhiên, nghề Irồng trọt buộc người dân phải sống định cư để chờ cây cối lớn lên ra hoa kết trái và thu hoạch Do sống phu thuộc vào thiên nhiên nên dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng và mong sống hoà hợp với thiên nhiên Với người Việt sống bằng nghề lúa nước Ihì sự gắn bó với lự nhiên lại càng dài lâu và bền chặt Việc đồng thời phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau của tự nhiên dẫn đến hâu quả trong lình vực nhận thức là lối tư duy tổng hợp và trong tín ngưỡng là tín ngưỡng da Ihần Chất âm lính của văn hoá nông nghiệp dẫn đến hậu quả Irong lín ngưỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ưu thế Tục thờ Mẫu (đạo Mẫu) đã trở ihành một tín ngưỡng việt Nam điển hình Trước hết là các Bà Trời, Bà Đất, Bà Nước - những nữ thần cai quản các hiện tượng tự nhiên thiết thân đối với cuộc sống của người trồng lúa nước Bà Trời được gọi với nhiều tên như Mẫu Cửu Trùng, Cửu Thiên Huyền Nữ, Thiên Mụ, Thiên Yana Bà Đấl lổn lại dưới tên Mẹ Đất (Địa Mẫu), Bà Nước tồn tại dưói tên Bà Thuỷ Ở nhiều vùng để Iránh gọi thẳng lên các thẩn, Bà Đất và Bà Nước còn tồn tại dưới dạng ihần khu vực như : Bà Chúa Xứ, Bà Chúa sông, Bà Chúa lạch Các vị thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp cai quản những hiện lượng lự nhiên hết sức quan trọng trong đời sống của cư dân nông nghiệp lúa nước được dùng những từ Hán Việt để gọi gợi lên sắc thái trang Irọng huyền bí: Pháp Vân (thần Mây), Pháp Vũ (thần Mưa), Pháp Lôi (thần Sấm), Pháp Điện (thần Chớp).

Về mặt cộng đồng, con người nông nghiệp ưa sống theo nguyên tắc trọng tình Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau phải tạo ra một cuộc sống hoà Ihuận trên cơ sở lấy lình nghía làm đầu Chính vì tâm lý muốn sống thuận

Trang 24

hoà êm ấm với xung quanh ncn khi giao tiếp người Việt Nam rất tế nhị và có thói quen "vòng vo tam quốc" không hao giờ mở đầu trực liếp đi thẳng vào vấn đề như người phương Tây lừ đố nảy sinh ra cách nói uyển chuyển và uyển ngữ Ví dụ: do tin rằng nếu khen một đứa trẻ là bco là đẹp thì tà ma sẽ chú ý đến mà làm hại đứa trẻ nên người ta nói như thế này "trông thằng hé dề ghét quá" Với người lớn thì không chê là béo mà dùng uyển ngữ "phát tướng".

Do ảnh hưởng sâu sắc của tinh thần triết lý âm dương ngũ hành nên người Việt cho rằng khi chết thì hồn đi từ cõi dưưng sang cõi âm, đó là thế giới bên kia Ở vùng nông nghiệp sông nước này thì "thế giới bên kia" cũng là nơi sông nước ngăn cách chúng la bằng chín suối Niềm tin rằng chết là về với

tổ tiên nơi chín suối, Ún rằng ở nơi chín suối nhưng ông bà tổ tiên vẫn Ihường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, ở người Việt nó rất phát triển gần như trở thành mộl thứ tôn giáo (nhiều nơi gọi là Đạo ông bà), ngay cả những gia đình không tin Ihần thánh cũng đặt bàn Ihờ tổ tiên trong nhà Tín ngưỡng ihờ linh hồn người chết cũng là một nguyên nhân hình thành tục lệ kiêng húy Trong mỗi gia đình, gia tộc hình thành một nhóm gia huý, tộc huý mà các thành viên trong gia đình, gia tộc cần biết để kiêng tránh Đặt tên con, cần nhất là không được trùng với tên của những người bề trcn của gia đình, gia tộc cũng như ngoài xã hội Tín ngưỡng Ihờ thần của Việt Nam không chỉ đóng khung trong trong phạm vi gia dinh mà Irong thôn xã còn có Ihờ thần làng Thần làng mà sau này gọi là Thành hoàng là những vị có tên tuổi, tước vị rồ ràng, là những người có công lập ra làng xã, những anh hùng dân tộc liên quan đến làng Ngoài những vị Thành hoàng dược vua thừa nhận, có nhiều làng còn thờ làm Thành hoàng cả những người vốn là trẻ con, ăn mày, ăn trộm, người mù, người gắp phân loại thần này bị gọi là tà thần, nhưng theo niềm tin của dân làng vì chếl vào giờ thiêng nên đã ra oai (gây dịch bệnh, hoả hoạn ) khiến cho dân ỉàng nể sợ Với những vị Thành hoàng người ta cũng kiêng không bao giờ gọi Lên huý

Trang 25

Người Việt đặc hiệt kính trọng sùng bái các bậc danh nhân liên liệt, dây là một lẽ khiến cho họ không gọi tên huý Nguyễn Bỉnh Khiêm mà gọi ông là Trạng Trình, không nêu tên huý Trần Quốc Tuấn mà gọi là Đức Thánh Trần

Do ảnh hưởng của tinh thần Nho giáo, tập tục kiêng huý dã trở thành một bộ phận của phong lục tập quán của người Việt Nội dung kiêng huý quan trọng

là thưc hiện các định lệ kicng huý tên vua và những người Irong Hoàng tộc các triều dại phong kiến nước ta Hình thức kiêng huý không chỉ kicng âm mà còn kiêng huý chữ viết trên văn bản Khi đi thi, các thí sinh xưa phải nhâì nhất tôn trọng lệ kiêng huý Lúc làm bài họ không được viết các chữ tên nhà vua và các

vị tôn tộc trực hệ Thậm chí tên các vị lổ tiên nhiều dời trước tuy có thể dùng nhưng phải thêm bớt nét khác đi đôi chút, ở các trường thi xưa đều niêm yết hảng liệt kc những chữ huý, người ta sẽ bị tội nhẹ hay nặng tuỳ theo mức dộ phạm huý Trong mọi lĩnh vực, từ biổu tấu đơn thư cho đến việc giảng dạy thi

cử, biên chép sách vở, soạn dựng văn bia, khắc in kinh sách những người có liên quan đều phải chú ý đến các quy định của triều đình về việc kiêng huý Trải qua nhiều triều đại, cho đến năm cuối cùng của triều Nguyễn lệ kiêng huý chữ viết vẫn được thi hành ở mức độ phổ biến Theo thống kê của các nhà nghiên cứu có lới 365 chữ huý của các triều đại phong kiến Việt Nam phải kiêng, và như đã trình bày ở phần trên, kiêng huý là một lý do quan trọng hình thành nên uyển ngữ Ví dụ, đối với cái chết, do ảnh hưởng của Phật giáo "sống gửi, Ihác về" ncn người Việt có những uyển ngữ đổ chỉ cái chết như một sự trở

về Ví dụ: "chầu Phật" "lên cõi Niết bàn" "đi Tây Trúc" Trong khi đó những người theo Thicn chúa giáo lại có những uyển ngữ chỉ cái chết mang đầy màu sắc của loại tín ngưỡng này như "chầu Chúa" "lên thiên đàng" "về nơi nước Chúa" V V

Có thổ nói, hàng loạt các nhân tố văn hoá xã hội (những quy định về kiêng ky, đạo đức, phong tục, lập quán, thói quen ) của mỗi dồn tộc đều ảnh hưởng sâu sắc tới ngôn ngữ nói chung và uyển ngữ nói riêng Vì vạy ở mỗi vùng khác nhau, mỗi dân tộc khác nhau sẽ lạo ra những hình lượng ngôn ngữ

Trang 26

khác nhau Số lượng sự vật hiện tượng dùng với tư cách ẩn dụ trong uyển ngữ rất phong phú và đó là các sự vệt hiện tượng rất gần gũi và Ihấm đượm tính cách, tâm hổn của mỗi dân tộc.

2 MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO ƯYEN n g ữ

Cùng với sự phát triển của nền văn minh, con người tạo lập ra nhiều uyển ngữ để tạo ra sự nhã nhặn, êm ái, lịch sự, nhằm làm giảm đi những hiệu ứng Ihô tục, khó chịu do nhiều lừ ngữ gây ra Tác giả Nhất Thanh Irong "Việt Nam phong lục" đã dẫn ra lịch sử của uyển ngữ dùng thay từ "thịt chó" Tuy chó là giống có nghĩa nhưng do nó ăn dư bẩn nên người ta không muốn gọi là

" thịt chó" mà gọi là "thịt cầy", tuy nhiên "cầy" vẫn gần với chó nên người ta nên người ta gọi "con cầy" là "cây còn" và chuyển sang Hán Việt là "mộc tồn" Quả dây là một cách cấu tạo uyển ngữ độc đáo

Học giả Joseph M Williams đã phãn ra mộl số phương Ihức cấu tạo uyển ngữ như sau:

(1) Uyển ngữ được cấu tạo bằng cách vay mượn từ ngữ từ các ngôn ngữ khác, vì các từ ngoại lai này ít làm người ta có liên tưửng xấu, thô lậu Trong tiếng Anh người ta dùng nhiều lừ ngữ Hy lạp hay La tinh để hoạt động cơ thể

và các hoại dộng sinh lý Từ "halitosis" (chứng hôi miệng) được lạo lừ lừ La tinh "halitus" Từ "micturition" (đi tiếu) được thay thế cho từ dỗ gợi bất lịch sự

rõ ràng về âm khiến cho họ Ihấy dường như có sắc Ihái nhẹ nhàng, lịch sự trong các từ vay mượn đó Nhìn vào tiếng Việt có thể thấy, cách cấu lạo này giống như việc dùng uyển ngữ là từ Hán Việt thay cho lừ thuần Việt Chẳng hạn "thi hài" thay cho "xác chết"; "thổ huyết" thay cho "hộc máu"; "thượng thổ hạ tả" thay cho "miệng nôn trôn tháo"; "hậu môn" thay cho "lỗ đít";

"phong" thay cho "cùi, hủi"; "lâm chung" Ihay cho "sắp chết" v.v

(2) Uyển ngữ có thể được tạo lập nhờ phương pháp lừ vựng gọi là mở rộng nghĩa như "cancer" (ung thư) trở thành "A Growth" hoặc gọi "feces" (pipn) là "solid human waste" (chất thải rắn của người) Trong tiếng Việt gọi

Trang 27

"go lo bed with" (lên giường) thay cho "to have sexula intercourse" (giao ồấu) Tiếng Việt có rất nhiều uyển ngữ loại này như "ngủ" thay cho "giao cấu",

"nghỉ mát" Ihay cho "đi tù", "đầu xanh" chỉ tuổi trẻ, "má hồng" chỉ đàn bà

(4) Phép ẩn dụ cũng góp phần cấu tạo nên uyển ngữ Như trong tiếng Anh, uyển ngữ "blossom" (hoa) thay cho "pimple" (mụn nhọt) Các uyển ngữ này thường có tính lãng mạn, ihơ mộng, êm ái so với các lừ được thay Chẳng hạn "cherry" (anh đào) thay cho "hymen" (màng trinh) Trong tiếng Việt "gò hồng đảo", "cặp tuyết lê" ihay cho "vú", "cuộc mây mưa" thay cho "giao hợp" v.v

(5) Làm chệch âm (phonetic distor-tion) Thay đổi âm, đọc chệch đi, ví

dụ "cripes" thay cho "christ" (Chúa Giê su), "Gad" thay cho "God" (Ihượng đế) Kiểu này Irong liếng Việt cũng có nhiều như: "phước" thay cho "phúc",

"thì" Ihay cho"thời", "huê" thay cho "hoa"

3 CHỨC NĂNG HAY CÔNG DỰNG CỬA UYEN n g ữ

Các hình thức ngôn ngữ nhìn chung là để phục vụ cho một chức năng

cụ thể nào đó Giao tiếp không chỉ là điều kiện để phát sinh mà còn có cả tính công dụng, lính mục đích, phải tuỳ theo ngữ cảnh giao tiếp của hai bên mà sản sinh ra hiệu quả nào đó, sự biến đổi nào đó, cho dù nó nhỏ bé và khó nhận thấy Ngôn ngữ đã quy những hiện tượng vô cùng phức tạp của thế giới nội tâm và thế giới xung quanh chúng la, những hành vi sự kiện, quá trình nhận thức, những mục đích của chúng ta lại, thành những phạm trù khác nhau để

có ihể khống chế được Chức năng xã hội của ngôn ngữ còn ở chỗ hiểu đạt hành vi của chúng la, sự tham dự của người nói với ngữ cảnh, biểu đạt sắc thái

mà chúng ta áp đặt trách nhiệm của mình lên cho ngưừi khác, biểu đạt tình

Trang 28

cảm, thái độ và sự đánh giá của chúng la Con người không thể nói mà không có mục đích và đổ dại được mục đích khi nói người ta chọn rất nhiều phương pháp và sách lược Uyển ngữ chính là cách mà người nói dùng tu từ ngữ dụng nhằm đạt được mục đích nhấl định khi tham gia giao tiếp Căn cứ vào lình hình sử dụng uyển ngữ của con người, người la cho rằng công dụng của uyển ngữ có năm đặc điểm chủ yếu sau:

3.1 Công dụng đổi mới hay cái mới thế chỗ cái cũ

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, ngôn ngữ là cái trọng yếu đổ chuyển tải văn hoá, phản ánh mọi mặt xã hội, uyển ngữ cũng vậy, Irong quá trình giao liếp bằng ngôn ngữ chúng ta dã rút ra được nhiều kết luận về những quy luật có liên quan đến ngôn ngữ Một trong những số đó là uyển ngữ có công dụng đổi mới, hơn nữa tốc độ đổi mới lại tưưng đối nhanh Hugh Rawson đã chỉ ra rằng: uyển ngữ bị chi phối ở mức độ cao bởi hai quy luật lớn sau: quy luật Gresham và quy luật canh tân Cái gọi là "quy luật Gresham" vốn là một khái niệm trong kinh tế học, tức là trong quá trình lưu thông liền lệ thì tiền giấy (mồm) sẽ chiếm chỗ của tiền kim loại (cứng) Trong sự biến đổi ý nghĩa của ngôn ngữ cũng có tình trạng tương lự Mộl lừ nếu dã có nghĩa "tốt" hoặc nghĩa "trung lính" cũng có cả nghĩa "xấu", như vậy nghĩa "xấu" cuối cùng cũng bị ngliĩa "tốt" đào thải Cái được gọi là "quy luật canh tân" lức là một từ sau khi được sử dụng làm uyển ngữ, qua mộl giai đoạn sẽ mất đi sắc thái uyển chuyển, người ta lại bắt đầu tránh sử dụng nó và tạo ra uyển ngữ mới

để thay thế

Từ Irong rất nhiều quá Irình sản sinh và tiêu vong của uyổn ngữ chúng

ta có ihể nhân thấy tác dụng của hai quy luật lớn này Ví dụ, từ "gay" trong liến Anh vốn nguyên nghĩa của nó là sung sướng, khoái lạc nhưng về sau dần dần phát sinh liên hệ với "đồng tính luyến ái" Hiện tượng "đồng tính luyến ái" Irong xã hội bị coi là một loại bệnh lý, là không tốt, thế là mọi người bắt đầu tránh dùng từ "gay" để tránh dẫn tới những liên tưởng không vui Ý của "khoái lạc đồng tính" đã loại trừ ý nghĩa mang sắc thái tốt đẹp ban đầu Ngày nay,

Trang 29

ngoài một số kết cấu cố định mà trong đó "gay" còn bảo tồn ý nghĩa han đầu,

nó đã chuyên dùng để chỉ những sự vật có liên quan đến đồng tính luyến ái như "gay bar" "gay seeker" Đáng được nói tới là ý nghĩa của từ "gay" này đã Irải qua từ nghĩa tốt đến nghía xấu từ lừ Ihông thường đến uyển ngữ, lại lừ uyển ngữ đến quá trình trở thành từ kicng kỵ, đã dùng để chỉ nam tính lại dùng để chỉ nữ lính

Bất kỳ một uyển ngữ nào sau một Ihời gian sử dụng, người ta hoặc cố ý hoặc không cố ý liên iưởng nó với những sự vật, con người hoặc hiện tượng

mà nó biểu thị, Ihậm chí đặl ngang hàng không còn khoảng cách nào nữa, Ihế

là họ bắt đầu tránh sử dụng nó Trong tiếng Anh, ngay từ thế kỷ 17 người ta đã dùng từ "occupy" làm uyển ngữ để chỉ "have sex", nhưng thời gian lâu sau người ta lại cảm thấy "occupy" không uyển chuyển nữa và trong suốt một thời gian dài xã hội ihưựng lưu tránh không dùng từ này Khi người ta đangtránh

sử dụng một cách nói nào đó tất nhiên sẽ sáng lạo ra một cách nói mới đổ thay thế cho nó, vì thế uyển ngữ không ngừng đổi mới và biến hoá, Trong tiếng Việt từ "đi ngoài" trước đây dùng làm uyển ngữ thay cho "đi ỉa", nhưng hiện nay có lẽ ngưòi la cảm thấy nó không còn uyển chuyển nữa nên bắt đầu ít dùng nó mà thay bằng những uyền ngữ mới như "đi loa let" "đi vệ sinh"

Không cùng thời đại thì có thể cách nói cũng không giống nhau Cùng một loại ý nghTa ở những thời đại khác nhau có thể dùng những uyển ngữ khác nhau để biểu đạt Ví du, để nói về gái mại dâm, trong văn chương cổ, ngay cả Irong văn chương những năm đầu của thế kỷ 20, người ta thường dùng lừ "kỹ nữ", nhưng trong một vài năm gần đây người la lại dùng lừ tiếng Pháp "cave"

để Ihay thế Uyển ngữ cũng như những hiện tượng khác của ngôn ngữ những cách nói mới sẽ dần dần trở nên cũ kỹ, thạm chí trở thành kiểu nói ít gặp, cổ

lỗ, thay vào dó tất sẽ lè cách nói mới hơn Đó chính là quy luật biến hoá ngữ thể mang tính lịch sử mà uyển ngữ thể hiện ra

3.2 Công dụng kiêng kỵ

Trang 30

Các dân tộc trên thế giới đều có những diều kiêng kỵ, nhìn lừ góc độ nụữ dụng, hầu như hất cứ xã hội nào cũng đều tồn tại hiện lượng cấm kỵ ngôn ngữ (languistic taboo) Suốt một thời kỳ dài ở châu Âu người la cho rằng, ngôn ngữ kiêng kỵ là tưựng trưng cho sự văn minh trong xã hội mà tuyệt đại

hộ phận ngổn ngữ kiêng kỵ đều là những từ ngữ chỉ giới tính, những hiện tượng sinh lý có liên quan đến hệ bài liết, những bộ phận cơ thổ người những

lừ ngữ chỉ thần linh, ma quái không thể nói tới một cách tuỳ tiện Trong xã hội

Âu Mỹ hiện đại, những tín đồ Cơ đốc giáo hàng ngày thành tâm cầu nguyện

và đi lễ nhà thờ thường xuyên ít hơn rất nhiều so với thế kỷ trước, nhưng Cơ dốc giáo đối với văn hoá Âu Mỹ vẫn có ảnh hưởng rất sâu sắc Ngay cả những người không tin vào thần thánh ma quỷ cũng không muốn dùng những lời bất kính xúc phạm dến quỷ Ihần, sa tăng và thần linh

Đối với những vấn đề về giới tính, quan hệ nam nữ hay vấn đề bài tiết người ta đều dùng uyển ngữ Trong xã hội mà khoa học lương đối phát triển như ngày nay, người Mỹ vẫn tránh con số 13 Chúng ta không ihể nói công dụng của loại uyển ngữ này là tiêu cực, mê tín, bởi vì hướng theo cái lợi Iránh cái hại vẫn là bản năng tâm lý tự bảo vệ mình của loài người

Những năm gần đây, người Âu Mỹ thường dùng uyển ngữ "bệnh giang mai" (social disease) để chỉ bệnh siđa (AIDS) bởi vì hiện nay bệnh này rất phổ biến và trở thành một vấn nạn của toàn thế giới Hiện nay, do thừa dinh dưỡng bệnh béo phì cũng đã trở thành mối lo lớn của xã hội văn minh hiện đại Vì người la sợ béo nên tránh gọi là người béo mà gọi là "weight watcher", (người cần để ý đến trọng lượng), gọi béo là "a bit over weigh" (hơi nặng cân) Tiếng Việt để tránh gọi là béo người ta dùng từ "phát tướng" "bệ vệ" "phương phi" Cách nhìn cuả xã hội đối với vấn đề nghề nghiệp cũng Ihay đổi Đối với các nghề nghiệp bình thường của xã hội, người la đã dùng những lừ rất hay để tăng them tầm quan trọng của nó Thế là "người hốt rác" được gọi là "kỹ sư vệ sinh" (sanitary engineer); "công nhân vườn hoa gọi là "kiến trúc sư" (land

Trang 31

scapc architect); "ihự cắt lóc" Ihành "mỹ ihuậl gia" hay "ihẩm mỹ viên" (lonsorial artilst) Khi một người lao động bị sa thải, thay vì dùng các từ "bị đuổi việc, bị sa thải" người ta dùng những từ lịch sự hơn như: "giảm biên chế"

"hợp lý hoá bộ máy" tình trạng Ihất nghiệp Ihì được gọi là "tình trạng thiếu việc làm" Từ đó có thể thấy uyển ngữ có công dụng "an ủi" cũng chính là công dụng kiêng kỵ mà chúng ta đang nói đến ở đây

3.3 Công dụng biểu thị gián tiếp

Hành vi ngôn ngữ gián tiếp được các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc gọi

là "dĩ ngôn hành sự" "dùng lời nói để thực hiện công việc" Tác giả Từ Thịnh Hoàn cho rằng, có một số hàm ý tự nhiên mà hình llìành, có một số hàm ỷ lại

là kết quả gia cồng của người sử dụng ngôn ngữ Ưyổn ngữ chính là một kiểu vận dụng hàm ý có kỹ xảo mà mục đích của nó là biểu đạt hàm ý mà người nói hướng tới Trong giao tiếp xã hội, mọi người luôn coi trọng ngôn ngữ và

cử chỉ với người khác giới, vì vậy họ rất chú ý đến cử chỉ của mình trước người khác giới xem có đúng mực hay không, lời nói có tao nhã hay không

Vì thế, có ý kiến cho rằng, so với nam giới, nữ giới dùng uyển ngữ nhiều hơn Điều này có lẽ chủ yếu do nữ giới trong một Ihời kỳ dài luôn ở địa vị thứ yếu trong xã hội, không được coi trọng, thậm chí bị khinh rẻ, cho nên phụ nữ đặc biệt chú ý đến cử chỉ và lời nói của mình, hy vọng thông qua lời nói cử chỉ đó, giành được sự khẳng định và thừa nhận của người khác giới hay của công chúng

Công dụng hành vi ngôn ngữ gián tiếp của uyổn ngữ trong rất nhiều tình huống là rõ ràng, dễ thấy Ví dụ, chúng ta muốn yêu cầu, ra lệnh ihường luôn

sử dụng câu cầu khiến, ihế là do thói quen mà đồng nhất mệnh lệnh, yêu cầu, với câu cầu khiến Để tránh diễn đạt trực tiếp mà vẫn đạt được mục đích bằng cách diễn đạt uyển chuyển, người ta bèn Ihử tạo ra một khoảng cách Ihay bằng một câu hỏi hay câu trần thuật Do người nghe căn cứ vào ngữ cảnh, thông qua suy đoán mà lĩnh hội được ý đồ người nói Ví dụ, khách ngồi chơi lâu quá, chủ muốn khách về, nhưng không nói thẳng mà chỉ hỏi mấy giờ rồi nhỉ, khách

Trang 32

sc biết ý mà xin phép ra vồ ở dây, chủ nhà đã sử dụng phương pháp biểu thị gián tiếp và dã đạt được mục đích của mình Hình thức hiểu thị gián liếp còn thể hiện ở cách lẽ ra phải nói là "tôi muốn " nhưng người ta lại dùng "tôi có thể không?".

3.4 Công ílụng lliể hiện lịch sự

Uyển ngữ sở dì được mọi người ưa thích, tạo nên thành công trong giao liếp trong đó nguyên nhân chủ yếu nhất là do nó tuân theo nguycn tắc lịch sự

Dù là irong xã hội truyền ihống hay trong xã hội hiện đại, khoảng cách xã hội

là một lổn tại khách quan là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sách lược giao tiếp Nếu khoảng cách xã hội của hai hên tham gia giao tiếp càng lớn thì khả năng sử dụng uyển ngữ càng nhiều, độ uyển chuyển cũng càng cao Ngưực lại, khoảng cách xã hội của hai bên tham gia giao tiếp càng nhỏ thì khả năng sử dụng uyển ngữ càng ít, độ uyển chuyển càng thấp Uyển ngữ là tiêu chí của khoảng cách xã hội, là biểu hiên sự tôn trọng nguyên tắc lịch sự Irong giao tiếp ngôn ngữ Lịch sự là giảm nhẹ một số cách biểu đạt mang ý đồ uy hiếp trong hành vi giao liếp, tức là cố gắng giữ thể diện cho mình và người nghe Con người đã sống trong hoàn cảnh có khoảng cách xã hội nhất định thì uyển ngữ sẽ trở thành một hình thức biểu hiện tất yếu khi mọi người tiến hành giao tiếp bằng ngôn ngữ Việc điều tiết khoảng cách xã hội chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố: quyền thế, cá nhân của hai bên tham gia giao tiếp và chủ đề giao tiếp Chẳng hạn, trong ngữ cảnh "quan hệ quyền thế" người la sử dụng rất nhiều uyển ngữ so với lời lẽ trong "quan hệ thân mật" như cha mẹ trước mặt con cái, thầy cô giáo trước mặt học sinh, người lớn Irước mặt người nhỏ tuổi

hơn Trong tình huống giao tiếp khác giới, đặc biệt là trong tình huống giao

tiếp khác giới lần đầu tiên, nam cũng như nữ đều rất chú ý đến lời nói của mình, lúc này người ta nói năng thận trọng và do vậy, uyển ngữ luôn dược dùng đến đổ thể hiện lịch sự Giao liếp giữa những người khác hiệl về tuổi lác, giữa những người không quen biết với nhau đều tất yếu dẫn đến việc dùng uyển ngữ Đổ đảm bảo duy Irì dược khoảng cách giao liếp, tôn trọng thể diện

Trang 33

của đối phương ngôn ngữ lịch sự sẽ giúp cho cuộc giao tiếp thành công Đề tài giao liếp cũng vậy, đề lài giao liếp uy hiếp đến Ihể diện hoặc lợi ích của người nghe càng cao thì người giao liếp sử dụng uyổn ngữ càng nhiều

3.5 Công dụng " tự bảo vệ m ình"

Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, chúng ta ihường muốn biểu dạt rõ thái

độ, lập trường, quan điểm của mình Nhưng có lúc hoàn cảnh lại không cho phép chúng ta thành thật nói thẳng, chúng ta đành phải dùng uyển ngữ Từ góc

độ này, uyển ngữ sẽ thực hiện việc bảo vệ chủ thể giao tiếp Cái gọi là "tự bảo

vệ mình" có thổ được hiểu là, trong quá trình giao tiếp con người luôn đứng ở địa vị xã hội của mình mà sử dụng ngôn ngữ Vì thế, họ luôn có ý thức "giữ mình" trong biểu đạt ngôn ngữ, không dùng những từ thô tục hoặc nói đến những sự vật liên quan tới nó, ra sức sử dụng những lừ dễ nghe hoặc những từ hiểu đạt ý tán dương để miêu tả mình hoặc những người, vật có licn quan đến mình Loại nguyên tắc giao tiếp ngôn ngữ này là "nguyên tắc tự bảo vệ mình" (denfcnsive principle) "Nguyên lắc tự bảo vệ mình" là một loại quan hệ tương

hồ bổ sung cho nguyên tắc lịch sự, và ở mộl loại trình độ nào đó nó quy định nguyên tắc lịch sự Khi mà nguyên tắc lịch sự và nguyên tắc tự bảo vệ mình cùng phát sinh thì cuối cùng nguyên tắc lịch sự phải phục tùng nguyên tắc tự bảo vệ mình Trong sinh hoạt hàng ngày, nguycn tắc tự bảo vệ mình xuất hiện trong gia đình công sở, trường học và trong các cuộc giao tiếp quan Irọng

4 CÁCH PHÂN LOẠI UYEN n g ữ

4.1 P hân loại theo ngữ nghĩa

Từ góc độ ngữ nghĩa, Hugh Rawson chia uyển ngữ thành hai loại: (a)

"positive euphemisms" và (b) "negative euphemisms" Loại (a) đề cao ngữ nghĩa, đcm những cái vốn "kém, xấu" nói thành cái "hay, lốt" Loại (b) giảm bớl ngữ nghĩa, đem những sự vật, sự việc vốn đáng sợ, quá quắt, nói thành mềm mỏng, ôn hoà hơn như việc kính xưng với thần thánh việc xưng hô đặc biệt với một số loài động vật, việc khiêm xưng với bản thân, v.v

Trang 34

Tuy nhiên, theo lác giả Thúc Định Phương [35] cách phân loại như vậy không bao gồm loại từ Irung tính, lức là về mặl ngữ nghĩa những từ đó không biến đổi, chỉ là trong cách đọc từ nguycn tạo nên một số từ biến động bằng cách giản lược, viết tắt chữ cái đầu, đi ngược lại với cách tạo từ, v.v Từ cách nhìn như vậy, lác giả đã căn cứ vào tần số xuất hiện mà phân uyển ngữ thành hai loại: loại uyển ngữ thông thường và loại uyển ngữ lâm thời Loại uyển ngữ thông thường chỉ đưn vị ngôn ngữ có sẵn lưu hành trong nội hộ một cộng đồng ngồn ngữ nào đó trong mộl khoảng thời gian nhất định Loại uyển ngữ lâm thời chỉ những uyển ngữ có lính cá biệt tính lâm thời.

Đinh Trọng Lạc [19,163] lại chia uyển ngữ thành hai loại :

+) Uyển ngữ lôgic: dựa trên mối liên hệ lôgic giữa cách micu tả với một nél đặc trưng nào đỏ của cái hiểu vật Có hai biến thể:

- Một đặc điểm nào đó ricng có của đối tượng được dùng dể thay thế cho ten gọi của cả đối lượng như "phái yếu, phái đẹp" (phụ nữ); "phái khoẻ, giới mày râu" (nam giới)

- Một khái niệm rộng hơn được dùng để chỉ mộl đối lượng hoặc người

cụ thể như "công cụ giết người" (súng); "người bảo vệ trật lự đường phố" (cảnh sát giao Ihông)

+) Uyển ngữ hình tượng: dựa trên ẩn dụ hoặc hoán dụ mở rộng Ví dụ:

"Điện Biên Phủ trên không" (chiến thắng của thủ đô Hà Nội đánh bại chiến dịch ncm bom B52 của đế quốc Mỹ năm 1972) hay "rồng lửa bay" (tên lửa bay)

Loại uyổn ngữ trên đây được gọi là uyển ngữ lời nói được dùng Irong sinh hoại cũng như trong lời nói nghệ thuật, cần phân biôt nó với loại uyển ngữ ngôn ngữ hao gồm những từ đồng nghĩa cùng chỉ một biểu vật được hình thành theo lối uyển ngữ, tồn tại ở dạng có sẵn, được phổ biến rộng rãi đã thành thông dụng Ví dụ: "vàng đen" (than đá); "than trắng" (năng lượng của các thác nước cung cấp); "cách mạng xanh" (cách mạng khoa học kỹ Ihưật trong nông nghiệp); "ngành công nghiệp không ống khói" (du lịch), v.v

Trang 35

Trong "Từ điển uyển ngữ liếng Hán"[36| các tác giả đã phân uyển ngữ Ihành 13 loại lớn theo giới tính, cơ thể, bài tiết, bệnh tật, nghề nghiệp, chính trị, quân sự, ngoại giao Mỗi loại lớn lại được chia thành một số loại nhỏ, sau đó là các từ mục Phương pháp phân loại này có ưu điểm là thông dụng dỗ hiểu, lính thực tế cao Nhược điểm là cần quá nhiều sự vật của uyển ngữ, dùng cách phân loại này có thổ chia Ihành vô cùng vô tận, hơn nữa muốn khu biệt quan hệ sử thuộc của những đối tượng này với nhau là điều không dễ dàng Ví

dụ, phân hiệt "hành kinh và phóng tinh" trong mục "bài tiết" với "tính dục và sinh dục" trong mục "quan hệ khác giới và sinh dục" là rất khó vì có liên quan rất mật thiết Còn đồ lót dưực gọi là "un mentionmable" là ihuộc mục uyển ngữ giới tính hay uyển ngữ thân thể hay là lập ricng ra thành một loại cũng rất khó xác định

Có tác giả đề xuất- ý kiến, căn cứ vào phạm vi của uyển ngữ mà chia uyển ngữ làm hai loại: uyển ngữ truyền thống và uyển ngữ văn học Uyển ngữ truyền ihống là loại có liên quan đến cấm kỵ, công dụng của nó là lliay thế cho ngôn ngữ cấm kỵ Uyển ngữ văn học không liên quan đến cấm kỵ và công dụng của nó là để biểu thị lịch sự, tránh xung đột, thoả mãn lợi ích và yêu cầu tâm lý của hai bên tham gia giao tiếp Trên thực tế cách phân loại uyển ngữ truyền thống và uyển ngữ văn học phụ Ihuộc vào cách phân loại công dụng của uyển ngữ

4.2 Phân loại theo quan điểm ngữ dụng học

Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ con người không Ihể nói mà không có mục đích Để đạl được mục đích của mình người ta sử dụng các chiến lược giao tiếp Uyển ngữ chính là cách mà người nói dùng tu từ ngữ dụng nhằm để đạt được mục đích nhất định Vì vậy, có Ihể từ mục đích ngữ dụng của uyển ngữ mà tiến hành phân loại uyển ngữ Trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, ngoài việc phải tuân theo "nguyên tắc cộng tác", "nguyên lắc lịch sự" ra còn phải tuân theo "nguyên tắc tự bảo vệ mình" Nói cách khác, trong quá trình giao liếp bằng ngôn ngữ con người phải cân nhắc nhiều hơn tới địa vị và

Trang 36

thân phận của mình, phải hốt sức bảo vệ lợi ích và sự tự tôn bản thân, dùng những từ nho nhã để miêu lả sự vật mà mình nhắc tới, cố gắng dùng từ "tôì"

đổ miêu tả bản thân và những người, vậl có liên quan đến bản thân Tuy trong một số hoàn cảnh đặc biệt, "nguyên tắc tự bảo vệ mình"có thể sẽ nhường chỗ cho "nguyên tắc lịch sự" hay cho mục đích khác, nhưng tự bảo vệ mình chính

là han năng Ihiên phú của con người nên cuối cùng "nguyên lắc tự bảo vệ mình" bao giờ cũng chiếm ưu ihế Với cách hiểu như vậy thì "nhã nhặn",

"kiêng kỵ", "lịch sự", "tự bảo vệ mình", xét từ bản thân ngôn ngữ mà nói chính

là chức năng ngữ dụng của ngôn ngữ Vì vậy, xuất phát lừ quan điểm ngữ dụng học, lấy mục đích của người nói làm trung tâm, người la chia uyển ngữ Ihành ba loại: uyển ngữ có lợi cho bản thân; uyển ngữ có lợi cho người khác

và uyển ngữ có lợi cho mọi người

4.2.1 Uyển ngữ có lợi cho bản thản

Đây là loại uyển ngữ vì lợi ích của bản thân, chú ý đến thể diện của bản thân hoặc vì lợi ích của cộng đồng của mình, hoặc người nói vì muốn che đậy chân tướng, lừa dối người nghe mà nói ra những lời giả dối Ví dụ, những uyển ngữ về chiến tranh ử Nam Tư, khi bom đạn Mỹ giết hại biết bao nhiêu thường dân, huỷ diệt biết bao nhiêu tài sản của nhân dân Nam Tư thì chính quyền Mỹ gọi đó là "đánh nhầm" (mistake) Lấy cớ bảo vệ "nhân quyền", chính phủ Mỹ đã mang quân đi xâm lược nước khác và đội quân phản ứng nhanh này của Mỹ được gọi thành "đội cứu hoả" (a fire brigade) Qua đây ta thấy loại uyển ngữ này nhằm che dậy chân tướng, mục đích của nó là tước đoạt quyền được biết về sự thật của công chúng, làm cho người nghe không cảm thấy ghét, Ihấy căm thù đối với những hành động tàn bạo của Mỹ và bộ mặt thật của kẻ phát ngôn không bị vạch trần Ở đây, người nói đã tô vẽ cho đẹp bộ mặt của mình, hoàn toàn không phải vì thể diện của người nghe mà thực chất hoàn toàn vì lợi 'ch của bản thân, vì vậy về mặt ý nghĩa uyển ngữ loại này phần lớn là giả dối là gian trá

Trang 37

4.2.2 Uyển ngữ có lợi cho mọi người

Là loại uyển ngữ mà người nói sử dụng vì muốn cho người nghe được

cm lai, tôn trọng vỏ nghiêm trang và thể diện của những người cỏ liên quan nên tỏ ra rất nhã nhặn khi nhắc tới những việc như giới tính, bài tiết, mang thai hay cơ thổ của phụ nữ Uyển ngữ này còn được một số những ngành dịch vụ

chọn dùng để lấy lòng khách hàng Ví dụ, khoang máy bay hạng nhất được

gọi là "khoang đặc biệt", khoang máy bay hạng ba ihì được gọi là "khoang du lịch", phòng khách loại ba thì được gọi là "phòng tiêu chuẩn" v.v

4.2.3 Uyển ngữ cú lọi cho người k h á c

Là loại uyển ngữ vì lợi ích của đối phương và những người hay lổ chức

có liên quan mậl thiết với đối phương mà chiếu cố đốn thể diện của họ Ví dụ, giáo viên để được phụ huynh học sinh có thể chấp nhận về mặt tâm lý dã dùng

từ "chậm liếp thu" Ihay cho từ "dốt, ngu", dùng "vi phạm quy chế thi cử" thay cho "giở sách, quay cóp", dùng "chưa cố gắng học tập" thay cho "lười" v.v

5 TIỂU KẾT

Qua những phần trình bày trôn, có thể thấy, uyển ngữ là phương pháp quan trọng của con người Irong việc sử dụng ngôn ngữ để điều hoà quan hệ giao tiếp Uyển ngữ là một hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ của nhân loại Nguyên nhân chính hình thành nên uyển ngữ chính là do kiêng kỵ (tabu) Trong giao tiếp, con người vì mình, vì đối phương hay vì một số điều không thổ nói thẳng ra vì lý do kiêng kỵ, vì lịch sự hay để che dấu nguỵ trang mà tìm cách nói khác, dùng những từ đẹp đẽ uyển chuyển có ý nghĩa tương tự đổ Ihay thế Nhờ vậy mà có thể làm cho ngôn ngữ giao tiếp nhã nhặn, lịch sự, phong phú, dễ nghe, hàm súc, dễ dàng đạt được mục đích giao tiếp

Trang 38

CHƯƠNG 2

ĐẶC Đ IỂ M CỦA UYỂN N G Ữ Vlt "CÁI CHẾT"

ĐƯ Ợ C T H Ể H IỆN T R O N G T IẾ N G HÁN (CÓ Đ Ố I C H IẾ U VỚI S ự T IiỂ H IỆ N T R O N G T IẾ N G VIỆT)

ỉ ĐẶC ĐIỂM CỦA UYỂN NGỮ VỀ "CÁI CHẾT" TRONG TIÊNGHÁN

Như Irên đã nêu, ngôn ngữ cấm ky là nguyên nhân căn bản nhất sản sinh ra uyển ngữ Vì Ihế, lừ xưa đến nay, "chết" luôn là từ mà mọi người kiêng

kỵ nhất Trong hoàn cảnh Ihông Ihường mọi người đều né tránh nói tới cái chết và cho rằng Irong mọi nỗi bất hạnh trên đời thì không có gì lớn hưn cái chết Vì vậy trong giao tiếp bằng ngôn ngữ người ta luôn né tránh dùng lừ

"chết", cố gắng dùng những lừ tương đương đổ thay thế Đó là lí do, trong các ngôn ngữ trên thế giới có rất nhiều uyổn ngữ liên quan tới cái chết Trong tiếng Hán cũng vậy, qua khảo sát trong từ điển, trong một số tác phẩm văn học và các hài đã đăng tải, chúng tôi Ihấy đã có tới hơn bốn trăm uyển ngữ về

"cái chết" trong tiếng Hán và có một số nhận xét về đặc điổm của chúng như sau:

1.1 Xét trên bình diện ngôn ngữ học

1.1.1 Khảo sát đặc điểm cấu tạo từ của các uyển ngữ về "cái chết" trong tiếng Hán

Tiếng Hán thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt Thế nhưng, ngoài từ "tử" là đơn âm tiết, thì hầu hết những uyển ngữ chỉ về cái chết đều là

lừ ghép, ngữ cố định hay thành ngữ mà trong đó lừ ghép có hai âm tiết chiếm

đa số Cụ thổ:

/ / / / Từ ghép chính - phụ.

Trang 39

3 6

Ví dụ: "an miên" (an: yên ổn; miên: ngủ) nghĩa là "ngủ yên" từ này

uyển chỉ "chết" Trong lừ này thì động từ "miên" giữ vai trò chính còn "an" là

tính từ giữ vai Irò phụ bổ nghĩa cho "miên" Tr o ng kiểu ghc p chính - phụ có

thể nhận thấy có sự phân bố như sau:

+) Kiểu ghép tính - động: Đây là kiểu ghép có mô hình một lừ tố là tính

lừ còn từ tố kia là động từ trong đó động từ giữ vai trò chính Kiểu từ ghép này

chiếm khoảng 8% tổng số uyển ngữ về "cái chết" trong tiếng Hán

Ví dụ:

(1)"Trường m iên", "trường" là tính từ có nghĩa là "dài, lâu"; "miên" là

động lừ có nghĩa là "ngủ", nghĩa đen của từ này là "ngủ mãi" dùng để uyển

chỉ "chốt" Tương lự, có thể dẫn ra các trường hợp như "an tức", "bạo tốt",

"trường thệ", "trường vãng", "trường quy", "đại quy", "đại khứ " [36,1 Ị

+) Kiểu ghép động - danh Kiểu ghép này chiếm tỷ lệ lớn nhất trong

tổng số uyổn ngữ về "cái chết" trong tiếng Hán: khoảng 30%

Ví dụ:

(2) "Bội thế" (bội: rời xa; thế: cuộc đời); "bế nhãn" (bế: đóng, nhắm mắt; nhãn: mắt); "quy sơn" (quy: trở về; sơn: núi); "quy thổ" (quy: trở về; thổ:

đất); “kiến Diêm vương" (kiến: nhìn, gặp; Diêm vương: vua ở âm phủ); "tựu

m ộ c" (tựu: n h ậ p vào, đ ế n ; m ộ c: gỗ, q u a n là i) [36]

+) Kiểu ghép danh - động: Kiểu này chỉ chiếm khoảng 5% tổng số uyển

ngữ về "cái chết" trong tiếng Hán

Ví dụ:

(3) "Lương thôi" (lương: rường cột; thôi: gãy, đổ); Những người có

công lao với quốc gia được coi là rường cột của quốc gia, vì vậy từ này được

dùng để uyển chỉ cái chết của những người có công với quốc gia.[36,14]

(4) "Sơn đồi" (sơn: núi; đồi: đổ nát): núi đổ, uyển chỉ "chốt" [36,20]

(5) "Tiên du" (tiên: tiên; du: chơi): đi chơi Irong ihế giới thần liên,

uyển chỉ "chết".[36,26]

Trang 40

+ ) K i ể u g h é p tính - d a n h : k i ể u lừ g h é p n à y c h i ế m lỷ lệ k h o ả n g 3 , 5 %

lổng số uyển ngữ về "cái chốt" trong tiếng Hán

Ví dụ:

(6)"Tảo thế" (lảo: sớm; thế: cõi đời): sớm từ bỏ cõi đời, chỉ chết yểu

(7) "Khinh sinh" (khinh: nhẹ; sinh: cuộc sống): coi nhẹ cuộc sống, chỉ

+) Kiểu từ ghép động - động: loại từ ghép này chiếm khoảng 6,6% tổng

số u y ển n g ữ về "cái chết" trong tiếng Hán.

Ví dụ:

(9) "Trầm một" (trầm: chìm; một: chết): chìm xuống nước -> chết

(10) "Thiên hoá" (thiên: di chuyển; hoá: biến hoá) -> chối

(11) "Uy chiết" (uy: suy sụp, héo tàn; chiết: gãy) -> chết

+) Kiểu từ ghép (Janh - danh: loại lừ ghép này chỉ chiếm khoảng 1,8% tổng số uyển ngữ về "cái chêì" của tiếng Hán

V í dụ:

(12) "Tân thiên" (tân: khách; thiên: trời): khách nhà trời, từ này chỉ cái chết của những bậc đế vương và những người tôn quý vì cho rằng những người này khi chếl đi sẽ trở thành khách ở trên trời

(13) "Khôi đinh" (khôi: vôi; đinh: đinh): vôi và đinh là hai loại vật liệu người Trung Hoa cổ dùng khi mai táng người chết, vì vậy sau này dùng để uyển chỉ "chết"

(14) "Triêu lộ" (triêu: buổi sớm; lộ: sương): sưưng buổi sớm, ý chỉ sự mong manh, không lâu bền nên dùng uyển chỉ chết khi còn nhỏ

+) K i ể u từ g h é p lính - tính: kiểu từ g hé p này chỉ có k h o ả n g ba đến bốn

lừ, chiếm 0,7% tổn£ số uyển ngữ về "cái chết" của tiếng Hán

Ngày đăng: 27/03/2015, 12:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm