1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một vài đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Milan Kundera

114 749 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hòa quyện giữa nhà văn – nhà lý luận khiến các tiểu luận của ông giống như một pho tiểu thuyết; và khiến các cuốn tiểu thuyết ít nhiều mang dáng dấp của tiểu luận, trong đó là những t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ LAN ANH

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA MILAN KUNDERA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thành Hưng

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ LAN ANH

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TIỂU THUYẾT CỦA MILAN KUNDERA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Thành Hưng

Hà Nội – 2012

Trang 3

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3

3 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

5 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 8

B NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: KẾT CẤU TIỂU THUYẾT M.KUNDERA 9

1.1 KHÁI NIỆM KẾT CẤU 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Tiểu thuyết và một số hình thức kết cấu của tiểu thuyết 10

1.2 KẾT CẤU TIỂU THUYẾT MILAN KUNDERA 14

1.2.1 Kết cấu con số 7 – kết cấu âm nhạc 15

1.2.2 Tính cô đặc và đa âm 26

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA M.KUNDERA 40

2.1 KHÁI NIỆM NHÂN VẬT 40

2.2 NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MILAN KUNDERA 43

2.2.1 Khắc họa nhân vật từ những nét nhỏ của hình dáng và cử chỉ 45

2.2.2 Tâm lý nhân vật và những giấc mơ 53

2.2.3 Nhân vật và những tình huống hiện sinh tiêu biểu 62

CHƯƠNG 3: NGÔN NGỮ TIỂU THUYẾT MILAN KUNDERA 72

3.1 KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ 72

3.2 NGÔN NGỮ TIỂU THUYẾT MILAN KUNDERA 74

3.2.1 Tính tiết chế chặt chẽ, sắc sảo của ngôn ngữ 74

3.2.2 Tính triết lý trong ngôn ngữ 84

3.2.3 Tính châm biếm sâu cay ẩn trong sự hài hước 93

C KẾT LUẬN 103

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1077

Trang 4

M.Kundera sinh năm 1929 tại Brno, Tiệp Khắc Tuổi trẻ của ông chịu sự tác

động của nhiều biến cố lịch sử trong nước và thế giới, đặc biệt là sự kiện Mùa xuân

Praha 1968 – giai đoạn cải cách chính trị vô cùng ngắn ngủi, do sớm bị đàn áp bởi

sự can thiệp của quân đội Nga Xô Viết vào tháng 8 năm 1968 Sự kiện chính trị này được tái hiện nhiều lần trong những tác phẩm khác nhau của M.Kundera, với những nhân vật mà số phận của họ bị sắp đặt, biến động, thay đổi bởi sự kiện này

Trải qua nhiều biến cố, thậm chí đã có những giai đoạn, một số tác phẩm tiểu thuyết và thơ của M.Kundera bị thu hồi và bị cấm xuất bản, bản thân ông bị đuổi, không cho dạy học, không còn kế sinh nhai; và, có những lúc ông hoàn toàn vắng mặt trên đời sống sáng tác văn học Tuy vậy, M.Kundera với những sáng tác, đóng góp của mình vẫn là một cây bút nhận được những đánh giá cao Năm 1975, ông định cư tại Pháp, trở thành một trong những gương mặt quan trọng không thể thiếu của nền văn học Pháp và thế giới

M.Kundera sáng tác thơ, tiểu luận, kịch và tiểu thuyết Nhưng chủ yếu ông

để lại dấu ấn trong lĩnh vực tiểu thuyết và một số tiểu luận Có thể kể tên một số

tiểu thuyết nổi tiếng gắn với tên tuổi của M.Kundera, đó là Những mối tình nực

cười (1969), Điệu Valse giã từ (1972), Đời nhẹ khôn kham (1984), Sự bất tử (1990), Chậm rãi (1993), Bản nguyên (1998) Cũng không thể không nhắc tới

tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết (1985) mà ở đó, nhà văn đã bộc lộ quan điểm của

mình một cách rõ ràng về sáng tác, về sứ mệnh của tiểu thuyết

Trang 5

2

M.Kundera đã được trao nhiều giải thưởng văn học khác nhau Năm 1985

ông được trao giải Jerusalem Năm 1987 ông được trao Giải tác phẩm văn học châu

Âu của năm) Năm 2000, M.Kundera nhận được Giải thưởng quốc tế Herder - giải

thưởng uy tín dành cho giới trí thức và giới văn nghệ sĩ vùng Đông Nam Á châu

Âu Năm 2007, ông được tôn vinh với giải thưởng cao quý nhất do Hội nhà văn Tiệp Khắc trao tặng Ông cũng từng được đề nghị trao giải thưởng Nobel văn học

Có sự trái ngược nhau trong việc đánh giá và tiếp nhận của độc giả đối với

các tác phẩm của M.Kundera Tờ Sunday Telegraph cho rằng: “Milan Kundera có thể được xếp hạng trong số những nhà văn lớn nhất châu Âu sau chiến tranh” Nhà

văn lớn của Mỹ Russell Banks khẳng định M.Kundera là “nhà văn uyên bác nhất hành tinh” bởi lượng tri thức khổng lồ về triết học, khoa học, lý luận, nghệ thuật và

cả tôn giáo trong các sáng tác của M.Kundera Tuy vậy, cũng có những ý kiến trái chiều Theo dịch giả Cao Việt Dũng - người đã từng dịch khá nhiều tác phẩm của M.Kundera, thì tại Việt Nam, hiện có hai thái cực trong việc tiếp nhận tác phẩm của nhà văn này: “Hoặc là người ta sùng kính Kundera đến mức cuồng tín, hoặc là người ta hời hợt…” [60] Còn giới nghiên cứu Mỹ thì “tập trung phê phán cách nhìn phụ nữ không được trân trọng cho lắm của ông, và quan điểm khó xác định của ông

về tôn giáo…” [60]

Mặc cho những ý kiến trái chiều như vậy, chúng ta vẫn không thể phủ nhận những đóng góp của M.Kundera cho nền văn học nói chung và cho tiểu thuyết nói riêng Người ta cho rằng với những đóng góp của ông, sự tôn vinh hiện tại đối với ông cũng là hơi muộn Với tiểu thuyết, đóng góp của ông chính là đã mang lại cho thể loại này một sắc diện mới Cùng với đó là sự khẳng định sức sống và tầm quan trọng không thể thay thế của tiểu thuyết M.Kundera đã tạo được dấu ấn riêng của mình – dấu ấn khiến người ta rất khó bắt chước, mặc dù ông là nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn đến các nhà văn hiện đại khác Ông đã đưa lý thuyết vào thực tiễn sáng tác, rồi lại từ thực tiễn sáng tác để đúc rút ra những vấn đề mang tính lý luận về tiểu

Trang 6

3

thuyết, về sáng tác Sự hòa quyện giữa nhà văn – nhà lý luận khiến các tiểu luận của ông giống như một pho tiểu thuyết; và khiến các cuốn tiểu thuyết ít nhiều mang dáng dấp của tiểu luận, trong đó là những trăn trở, suy tư của M.Kundera về vai trò của nhà văn và sứ mệnh của tiểu thuyết Đó chính là lý do khiến các tác phẩm của ông mang tính chiều sâu của suy tưởng, nặng tính triết lý với lối viết trong sáng, không cầu kỳ nhưng vẫn đậm chất ẩn dụ, giàu trí tuệ, khơi gợi sự sáng tạo tưởng tượng của người đọc

Với những đặc điểm trên, cùng với chủ trương hội nhập giao lưu văn hóa của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về nhà văn M.Kundera qua những tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận của ông là điều vô cùng cần thiết Tuy vậy, các công trình nghiên cứu về M.Kundera tại Việt Nam chưa nhiều, và cũng chưa xuất hiện một công trình nghiên cứu nào thật sự có quy mô lớn, đa phần ở mức độ luận văn, luận án và những bài nghiên

cứu nhỏ lẻ Với mong muốn bước đầu tìm hiểu Một vài đặc điểm nghệ thuật

tiểu thuyết của Milan Kundera, chúng tôi đi vào nghiên cứu một số tác phẩm

của ông, nhằm góp phần vào công tác nghiên cứu nhà văn Milan Kundera tại Việt Nam, đồng thời qua đó, tìm hiểu về vai trò của nhà văn này trong nền văn học hiện đại Pháp và thế giới, phần nào đánh giá được tình trạng thực tế của nền văn học hiện đại nói chung

2 Lịch sử vấn đề

M.Kundera được xem như là một “hiện tượng” của văn học hậu hiện đại Mặc dù ông tỏ ra không đồng ý với ý kiến rằng mình là đại diện tiêu biểu của nền văn học hậu hiện đại, nhưng trên thực tế, với những quan niệm riêng và những đóng góp của mình cho nền tiểu thuyết hiện đại nói riêng và văn học hiện đại nói chung, ông hoàn toàn xứng đáng là một cây bút tiêu biểu cho dòng văn học này Tiểu thuyết và tiểu luận của M.Kundera trở thành “phát ngôn” cho những tư tưởng sáng tác và quan niệm của ông về tiểu thuyết

Trang 7

4

Nghiên cứu về tiểu thuyết và tiểu luận của M.Kundera, người ta thường

nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa lý luận và sáng tác Chuyên luận Tiểu luận phê

bình về Milan Kundera là tập hợp các tiểu luận đã được đăng tải được xuất bản

tại New York Chuyên luận này đã đi sâu phân tích một số tiểu thuyết tiêu biểu của nhà văn, qua đó nêu bật lên được quan niệm và cơ sở lý luận của nhà văn

Năm 2009, luận án tiến sĩ Quan niệm của Milan Kundera về tiểu thuyết qua lý

luận và thực tiễn sáng tác của Trần Thanh Hà cũng đã đề cập đến mối quan hệ

giữa lý luận và sáng tác của M.Kundera Bằng việc tìm hiểu các quan niệm của ông về sứ mệnh tiểu thuyết, về nghệ thuật kết cấu, về quá trình sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết, tác giả đã chứng minh rằng: Sự liên hệ, gắn kết mật thiết giữa lý luận và sáng tác là một trong những đặc điểm khác biệt nổi bật của M.Kundera – ông vừa là một nhà văn, lại vừa là một nhà lý luận Từ thực tiễn sáng tác, ông đúc rút ra được những quan niệm và tạo nên nền tảng lý luận Để rồi từ chính những quan niệm, nền tảng ấy, ông lại đưa chúng thực hành trong chính các sáng tác của mình Do đó, tiểu thuyết của Kundera có tính tiểu luận, ngược lại, tiểu luận ông cũng mang đậm tính tiểu thuyết Silvia Kadiu tại Đại học Paris III năm 2007 cũng

đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa nhà văn và thời đại qua qua luận văn thạc sĩ

với đề tài Milan Kundera: cá nhân, văn học và Cách mạng Cao Việt Dũng cũng từng bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ tại Đại học Sorbonne với nội dung Các

chiến lược văn bản của Kundera để tìm hiểu các vấn đề về văn bản và liên văn

bản của nhà văn này Cũng cần nói thêm rằng Cao Việt Dũng đã dịch khá nhiều

sách của M.Kundera từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, ví dụ như Điệu Valse giã từ,

Cuộc sống không ở đây, Đời nhẹ khôn kham, Những mối tình nực cười, Vô tri

(trong số ấy, có những cuốn đã từng được các dịch giả khác dịch, và đã được xuất bản tại Việt Nam trước đó Sau này được Cao Việt Dũng dịch lại)

Tiểu thuyết của M.Kundera luôn mang những tư tưởng nhất định Ông luôn đặt con người vào các tình thế hiện sinh tiêu biểu Ông cho rằng, con người

Trang 8

5

là một thực thể phức tạp, đôi khi chính bản thân người ta cũng không hiểu thấu được hết những hành động, suy nghĩ, bản tính của mình Và, chỉ trong những tình huống hiện sinh tiêu biểu, họ mới thật sự bộc lộ tính cách, bản chất của mình Đôi khi, đó lại là những tính cách hoàn toàn xa lạ với con người thực tại vốn có – như họ và những người xung quanh từng lầm tưởng Để tìm hiểu sâu hơn về ý tưởng và cách xây dựng các ý tưởng của M.Kundera, Anneliese Saulin-Ryckewaert Đại học Charles de Gaulle Pháp – trong luận văn thạc sĩ của mình –

đã đi sâu vào bốn chủ đề chính: Tư duy, lịch sử, trò chơi và giấc mơ Từ bốn chủ

đề này, Anneliese đã từng bước khám phá cách M.Kundera kết cấu tiểu thuyết của mình, khám phá thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú và những tư tưởng riêng biệt của nhà văn

Tháng 5 năm 2010, tại trung tâm văn hóa Pháp L’Espace đã diễn ra buổi tọa

đàm với nội dung Milan Kundera – tiểu thuyết và tiểu luận Đồng thời đó cũng là buổi giới thiệu tiểu thuyết mới được dịch sang tiếng Việt Vô tri Buổi tọa đàm có

sự tham dự của nhà văn Nguyên Ngọc, dịch giả Phạm Xuân Nguyên, dịch giả Cao Việt Dũng và nhiều nhà nghiên cứu cùng những người yêu mến M.Kundera Buổi tọa đàm đã khẳng định những thành công và đóng góp của M.Kundera cho nền văn học Hậu hiện đại, cho lý luận và thực tiễn sáng tác văn học Đồng thời, các dịch giả cũng qua đó khẳng định M.Kundera là một nhà văn có vốn tri thức khổng

lồ Những kiến thức về lịch sử, chính trị, khoa học, triết học, tôn giáo, âm nhạc, hội họa, nhiếp ảnh… tụ họp trong các tác phẩm của ông với mật độ dày đặc Ông

đã mang cả diễn biến của thời đại mình, đã mang cả một khối lượng lớn các tri thức của nhân loại vào trong sáng tác, dùng các tri thức đó để diễn đạt những tư tưởng của mình, để thông qua đó, nhấn mạnh tới sự “nhẹ bồng cái kiếp nhân sinh” – khi mà con người trải qua những thời khắc quan trọng của lịch sử, khi họ sống trong thế giới hiện đại, với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, thì dường như họ không còn được sống thật với chính bản thân, mà luôn phải chống

Trang 9

tạp chí Văn học với tiêu đề Nghệ thuật tiểu thuyết Milan Kundera và tác phẩm

Sự bất tử Trên các trang báo mạng, chỉ với từ khóa đơn giản là “Nhà văn Milan

Kundera”, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều bài viết của cả các nhà nghiên cứu thế giới và trong nước về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp, về một số tác phẩm nổi bật, về quan niệm và tư tưởng trong sáng tác, phê bình của nhà văn Tất nhiên, ở những trang báo mạng, những ý kiến, các bài viết hay nghiên cứu đó chưa thật sự chạm đến tận cùng lớp tư tưởng của M.Kundera, phần nhiều trong số đó là những nhận định cảm tính, hoặc chỉ mới đi vào một vài khía cạnh nổi bật Chúng chưa thực sự là những công trình nghiên cứu mang tính chất khoa học, quy mô (điều này cũng dễ hiểu, bởi các bài viết trên mạng thường phải tuân thủ quy tắc gọn nhẹ để người đọc dễ theo dõi Hoặc cũng có thể các bài viết ấy là sự tóm lược những ý chính của một công trình nghiên cứu, là một phần rất nhỏ của công trình nghiên cứu được tác giả công bố trên các trang báo mạng) Dù vậy, qua đó, chúng ta cũng có thể phần nào tìm thấy sự đồng điệu và thấu hiểu của những bài viết đối với nhà văn

Bởi vậy mà tiểu thuyết, truyện ngắn và các chuyên luận của M.Kundera vẫn

là một “vùng đất hoang” giàu tiềm năng để khai thác, khám phá Mặc dù đối với cả giới nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, M.Kundera đã trở thành một cái tên quen thuộc và bắt đầu được quan tâm một cách đúng đắn bằng những công trình nghiên cứu, tiểu luận và các bài viết, nhưng “vùng đất” M.Kundera vẫn vô cùng rộng lớn, nơi đây vẫn là lời kêu gọi, thách thức sự khám phá của giới nghiên cứu, mang đến cho nhiều người sự mới mẻ và hứng thú tìm hiểu Vì lý do đó, chúng tôi

Trang 10

7

hi vọng luận văn này sẽ rút ra được những vấn đề lý luận qua việc khám phá Một

vài đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết của Milan Kundera Không kỳ vọng đây là

một công trình nghiên cứu lớn và thật sự có ý nghĩa, nhưng chúng tôi mong rằng luận văn sẽ đề cập, tìm tòi và khám phá được những nét đặc điểm nghệ thuật nổi bật nhất và qua đó khẳng định được sự mới mẻ, độc đáo vô cùng riêng biệt của nhà văn tài năng này

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết, tiểu luận và truyện ngắn của Milan Kundera, trong đó tiểu thuyết là chủ yếu

Phạm vi nghiên cứu là các tác phẩm tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận (đã được dịch sang tiếng Việt) của nhà văn M.Kundera, trong đó tiểu thuyết chiếm đa

số: phạm vi nghiên cứu chính

Ngoài ra, chúng tôi còn xem xét một số tác phẩm của các nhà văn khác (cùng

thời hoặc khác thời) để đối chiếu so sánh

Trang 11

8

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đi sâu tìm hiểu về những đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Milan Kundera, luận văn của chúng tôi tiếp cận tác phẩm từ nhiều phương pháp khác nhau như: thi pháp học, thống kê - phân loại, so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp và các phương pháp liên ngành khác để có thể tiếp cận về các hình thức nghệ thuật của nhà văn này một cách tổng quan, chính xác hơn

5 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm ba phần, ngoài phần mở đầu và kết luận, thư mục tham khảo, nội dung chính gồm bốn chương:

Chương 1: Kết cấu tiểu thuyết Milan Kundera

Chương 2: Nhân vật trong tiểu thuyết của Milan Kundera

Chương 3: Ngôn ngữ tiểu thuyết Milan Kundera

Trang 12

9

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KẾT CẤU TIỂU THUYẾT M.KUNDERA

1.1 Khái niệm kết cấu

1.1.1 Khái niệm

“Các tác phẩm văn học không chỉ khác nhau về chất liệu hiện thực”, “mà còn

khác nhau về cách bố trí sắp xếp, tổ chức sự xuất hiện của chất liệu hiện thực đó trong tác phẩm; khác nhau về cách bố cục tác phẩm”… “Cách tổ chức bên trong và

bên ngoài tác phẩm như vậy được gọi là kết cấu” [5, tr.142]

Như vậy, “kết cấu là sự tạo thành và liên kết các bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định” [5, tr.143]

Là một yếu tố của hình thức, kết cấu khẳng định vai trò của mình khi tác động vào các yếu tố nội dung như chủ đề, tư tưởng, cốt truyện… Kết cấu trở thành một yếu tố vô cùng quan trọng, khi nó đạt được hiệu quả cao nhất trong việc diễn đạt nội dung tác phẩm Bởi như chúng ta đã biết, hình thức và nội dung là hai yếu tố luôn đi kèm, tương hỗ nhau Khi Radinxki cho rằng kết cấu của tiểu thuyết Anna Karenina lỏng lẻo, đó là hai cuốn tiểu thuyết với hai tuyến nhân vật (Anna-Vrônxki

và Lêvin-Kitti) đứng cạnh nhau, thì L.Tolstoi đã viết thư trả lời ông: "Tôi tự hào với kiến trúc - những khung vòm được kết nối, liền với nhau đến mức không thể nhận

ra chỗ nối ở đâu Về điểm này, tôi hết sức cố gắng Mối liên hệ của sự cấu trúc được tạo nên không phải dựa trên cốt truyện và cũng không phải dựa trên mối quan hệ

làm quen giữa các nhân vật mà là ở mối quan hệ bên trong" [19, tr.65]

Trang 13

10

Khi tác phẩm có kết cấu phù hợp với nội dung, nó sẽ tạo nên một chỉnh thể thống nhất, góp phần tạo nên giá trị của tác phẩm Phân tích kết cấu tác phẩm, có thể so sánh nó với các hình thức, thủ pháp kết cấu chung nhưng điều quan trọng là phải xuất phát từ bản thân tác phẩm và xem nó có thể hiện tốt nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm hay không

1.1.2 Tiểu thuyết và một số hình thức kết cấu của tiểu thuyết

Từ khi ra đời cho đến hiện tại, tiểu thuyết đã ghi lại dấu ấn của mình trong kho tàng văn học thế giới Đạt được những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là vào thế kỷ XIX, tiểu thuyết để lại cho nền văn học nhân loại những tác phẩm kinh điển đã được thử thách và sống mãi với thời gian

Một trong những đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết, đó là khả năng bao chứa trong mình rất nhiều sự kiện, đề tài, cuộc đời khác nhau Tiểu thuyết như một thể loại đắc địa để có thể vừa tái hiện lại những sự kiện vô cùng nhỏ bé của cuộc sống, lại vừa có thể phản ánh những sự kiện to lớn, vĩ đại nhất của lịch sử Có thể nói, tiểu thuyết như một bức tranh khổng lồ, ở đó, nhà văn như một người họa sĩ vẽ nên vô

số hình ảnh cùng những gam màu khác nhau Đó chính là khả năng “phản ánh một cách toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống” [5, tr.189]

Trong quá trình phát triển, tiểu thuyết luôn vận động và tìm ra những hình thức phù hợp nhất với mình “Tiểu thuyết đã tập trung trong nó những đặc tính tiêu

biểu cho thể loại” [5, tr.186] Trong đó, không thể không nói đến sự đa dạng, phong

phú về mặt kết cấu

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy có sự thay đổi, biến chuyển ngày càng đa dạng về mặt kết cấu tiểu thuyết Từ thủa sơ khai tiểu thuyết, chúng ta đã biết đến

kiểu kết cấu chương hồi Kết cấu chương hồi là sự phân bố diễn biến cốt truyện

theo từng lớp, từng chương, từng hồi Mỗi chương, mỗi hồi nối tiếp nhau, đánh dấu

sự phát triển của cốt truyện một cách lớp lang, không bị đứt quãng – đây là đặc

Trang 14

11

điểm dễ nhận thấy của kiểu kết cấu này Tất cả các câu chuyện trong một chương (hồi) đều tuần tự diễn ra theo trật tự thời gian, không bị “cắt xén” hay đảo ngược lẫn

lộn Robinson Crusoe của nhà văn Anh Daniel Defoe tái hiện quãng thời gian hơn

hai mươi tám năm sống trên hoang đảo của Robinson bằng nhiều chương Mỗi chương kể về cuộc phiêu lưu của nhân vật chính theo thời gian có lịch biểu được ghi chép lại rõ ràng, từng ngày từng tháng, với từng giai đoạn khác nhau, từ khi Robinson bị lạc vào hoang đảo, cho đến quãng thời gian anh xoay xở, vật lộn với thiên nhiên để sinh tồn và làm cuộc sống của mình trở nên phong phú, dư thừa, đến tận khi anh cùng người bạn Thứ Sáu quay trở về đất liền, kết thúc cuộc sống cô đơn

trên hoang đảo

Một đặc điểm nữa của tiểu thuyết chương hồi, là mỗi khi bắt đầu một chương (hồi) mới, thường có vài dòng đề từ trích dẫn, tóm tắt nội dung của chương (hồi) đó

Ví dụ trong Tây Du Ký, mở đầu là hai câu thơ đề từ nói về sự ra đời của Tôn Ngộ

Không Các hồi sau cũng lần lượt có những câu đề từ tóm tắt nội dung của từng chương như vậy

Tiểu thuyết có kết cấu chương hồi xây dựng tính cách và nhân vật thông qua

hệ thống hành động, cử chỉ Nghĩa là từ những hành động và cách xử sự mà người

ta có thể nhận ra đâu là tính cách nổi bật, đặc trưng nhất của nhân vật

Nếu như kết cấu chương hồi tập trung khai thác tính cách nhân vật qua hành

động, cử chỉ thì kết cấu tâm lý lại xây dựng tính cách, hình tượng nhân vật chủ yếu

qua những diễn biến, phát triển trong tâm lý Những vận động bên trong, từ suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật chính, tương tác với sự vận động tâm lý của các nhân

vật khác tạo nên diễn biến cho toàn bộ câu chuyện Tiểu thuyết Bà Bovary của

Flaubert đã xây dựng nên hình ảnh, cuộc đời, số phận của một người phụ nữ trên dòng tâm lý của nhân vật chính – Emma Emma, một phụ nữ lãng mạn, luôn khát khao tìm được một người đàn ông lý tưởng, được vượt khỏi những điều tầm thường,

tẻ nhạt của cuộc sống, để rồi khi thất vọng sâu sắc với những gì xung quanh mình,

Trang 15

12

nàng tìm đến cái chết Flaubert đã dùng lời kể gián tiếp để hé lộ dòng tâm tư, những suy tưởng của nhân vật, từ qua tâm lý, tính cách của nhân vật tự bộc lộ, vận động, đưa tiểu thuyết đi hết chặng đường của các tình tiết Nhà văn Mỹ Hemingway cũng

xây dựng cuốn tiểu thuyết Ông già và biển cả của mình với lối kết cấu tâm lý Tương tự, Sống mòn của Nam Cao cũng đào sâu vào những băn trở, băn khoăn và

những diễn biến tâm lý của nhân vật chính – Thứ Như vậy, kết cấu tâm lý đòi hỏi nhà văn đi sâu vào nội tâm của nhân vật, đôi khi, tâm lý nhân vật cũng phần nào thể hiện suy nghĩ mang tính trải nghiệm của chính tác giả về cuộc sống, về những vấn

đề của con người, xã hội và lịch sử

Một loại kết cấu nữa mà chúng ta thường thấy ở tiểu thuyết, đó là kết cấu đơn

tuyến Kết cấu đơn tuyến chỉ có một tuyến nhân vật – thường đó cũng là nhân vật

chính và là trung tâm của tiểu thuyết Nhân vật chính này đôi khi là chính tác giả nhập thân để kể lại những câu chuyện có thật đã xảy ra trong cuộc đời mình, kể lại

những gì mình đã chứng kiến bên ngoài cuộc sống (Những ngày thơ ấu của

Nguyên Hồng là một ví dụ Đó là cuộc đời của chính tác giả cùng những suy nghĩ, xúc cảm và tất cả những câu chuyện của thời bé thơ) Hoặc, cũng có khi, tác giả không hoàn toàn hóa thân vào nhân vật, mà chỉ đơn giản xây dựng nên một nhân vật chính, để cho nhân vật chính ấy tự kể lại câu chuyện cuộc đời họ, và những tình tiết trong tiểu thuyết là sự hư cấu, tưởng tượng Thông qua đó, tác giả nhằm nêu bật

tư tưởng chủ đạo của tác phẩm

Bên cạnh kết cấu đơn tuyến là kết cấu song tuyến Nếu như kết cấu đơn tuyến

chỉ có một tuyến nhân vật, thì kết cấu song tuyến bao gồm hai tuyến nhân vật xuất hiện song song với nhau trong cùng một tác phẩm – hoặc đối nghịch, phản chiếu nhau, hoặc hỗ trợ và đối chiếu lẫn nhau Với trường hợp hai tuyến nhân vật xuất hiện đối nghịch nhau, thường mỗi tuyến đại diện cho một lực lượng: xấu và tốt, thiện và ác, bóc lột và bị bóc lột… Rất nhiều tiểu thuyết thuộc thời kỳ văn học hiện thực phê phán Việt Nam 30-45 hoặc văn học kháng chiến Việt Nam thế kỷ XX

Trang 16

13

xoáy sâu vào kiểu kết cấu này, vì nó nêu bật được sự đối lập giữa các tuyến nhân vật: nông dân - phong kiến, đàn áp - bị đàn áp; quân ta - quân thù, tính chính nghĩa - phi nghĩa của cuộc chiến

Trường hợp hai tuyến nhân vật có tác dụng đối chiếu nhau, thì nổi bật là ở tiểu thuyết Anna Karenina của nhà văn L.Tolstoi Hai tuyến nhân vật (Anna - Vrônxki và Lêvin - Kitti) đứng cạnh nhau, tác động, đối chiếu lẫn nhau không chỉ

“trong mối xung đột xã hội mà còn cả trong sự đồng nhất về những hoàn cảnh nghệ thuật cụ thể cùng phát triển trên một đề tài theo cùng một chủ đề chung” [19, tr.66] Theo đó, như V.Ermilôp thì “Anna chết trong cái thực tế không có tình yêu, còn Lêvin cố tìm kiếm những con đường đi tới sự xác lập một thực tế có tình yêu thương” [19, tr.66]

Một loại kết cấu nữa xuất hiện trong các bộ tiểu thuyết đồ sộ, mang âm hưởng sử thi, đó là kết cấu đa tuyến Ở lối kết cấu này, tiểu thuyết mang nhiều chủ

đề, nhiều tuyến nhân vật, bao chứa trong nó là cả một hiện thực xã hội rộng lớn, có tính chất khái quát Nhiều khi, nó còn bao chứa trong mình cả một thời kỳ lịch sử

Một số tác phẩm thuộc hình thức kết cấu này, đó là Sông Đông êm đềm của nhà văn Nga Mikhail Aleksandrovich Sholokhov, Chiến tranh và hòa bình của L.Tolstoi, Con đường đau khổ của A.Tolstoi, hay Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi

Với lối kết cấu đa tuyến, nhà văn đưa được vào tiểu thuyết của mình vô vàn

sự kiện, và xây dựng được nên nhiều hình tượng, tư tưởng, chủ đề khác nhau Tư

tưởng chủ đạo trong Chiến tranh và hòa bình của L.Tolstoi được tập trung thể hiện

qua biến cố lịch sử trọng đại – cuộc chiến tranh Vệ quốc năm 1812; bên cạnh đó còn là chủ đề về giai cấp quý tộc Nga trong và sau chiến tranh

Ngoài ra, còn một số hình thức kết cấu khác như kết cấu luận đề, kết cấu theo trục nằm ngang… Tất cả những hình thức kết cấu này đã tạo nên bức tranh đa dạng, phong phú về mặt hình thức cho thể loại tiểu thuyết

Trang 17

14

Nhận xét về kết cấu của một số tiểu thuyết trong thế kỉ XX, Erenbourg cho rằng: "Tiểu thuyết của thời đại ta có nhiều chỗ khác với tiểu thuyết thế kỉ XIX vốn xây dựng trên lịch sử một con người hay một gia đình Trong tiểu thuyết hiện đại

có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đan chéo vào nhau, nhà văn thường hay đưa người đọc từ thành phố này sang thành phố khác, đôi khi đi sang một nước khác nữa, cách kết cấu khiến ta nghĩ tới sự luân phiên của những đoạn cận cảnh với những cảnh quần chúng trên màn ảnh" [55] Như vậy, sự phát triển của tiểu thuyết, qua các giai đoạn (mà dấu mốc quan trọng là thế kỷ XIX) cho đến hiện tại

đã trải qua nhiều biến đổi Đôi khi, trong cùng một tác phẩm có sự kết hợp, giao thoa lẫn nhau giữa các hình thức kết cấu Đặc điểm này tạo nên bức tranh sinh động cho tiểu thuyết, giúp người đọc khám phá nhân vật và cốt truyện theo đa chiều, đa hướng

1.2 Kết cấu tiểu thuyết Milan Kundera

Như bên trên chúng ta đã tìm hiểu, tiểu thuyết mang trong mình nhiều hình thức kết cấu khác nhau Mỗi hình thức kết cấu có một đặc điểm, ưu thế (và thậm chí

cả hạn chế) riêng

Việc khám phá, tìm hiểu các hình thức kết cấu tiểu thuyết hiện đại không đơn giản, bởi thực tế bản thân sự sáng tạo văn học là vô cùng phong phú, đôi khi có sự pha trộn giữa nhiều hình thức kết cấu khác nhau

Với các tiểu thuyết (và cả truyện ngắn) của M.Kundera, việc tìm ra một kết cấu chính xác cho từng tác phẩm cũng không hề dễ dàng Có lúc ta nhận ra kiểu kết cấu đơn tuyến, song tuyến hay đa tuyến, nhưng cũng có lúc là sự kết hợp của nhiều loại kết cấu khác nhau trong cùng một tác phẩm Tuy nhiên, có một đặc điểm chung thống nhất giữa các tác phẩm của M.Kundera, đó là dù có theo hình thức kết cấu nào, thì trong cùng một tác phẩm, các tuyến nhân vật, các câu chuyện (tưởng như) rời rạc, không liên quan gì đến nhau ấy luôn hướng đến một chủ đề nhất định Ví dụ trong

tiểu thuyết Sự bất tử, bảy chương mang bảy chủ đề khác nhau, nhưng chúng lại

Trang 18

15

hướng tới chủ đề chung bao quát cả tác phẩm, đó là sự bất tử Như nhà văn từng bộc bạch: “Tôi luôn xây dựng chúng (truyện ngắn, tiểu thuyết) ở hai mức: ở mức thứ nhất, tôi dựng câu chuyện tiểu thuyết; bên trên, tôi triển khai các chủ đề Các chủ đề

được trau chuốt không ngừng trong và bởi câu chuyện tiểu thuyết” [37, p.4]

Tìm hiểu kết cấu các tác phẩm của M.Kundera, người ta đã nhận ra có những nét đặc trưng tiêu biểu, nó đánh dấu sự khác biệt của ông với rất nhiều nhà văn

khác Trong phần thứ tư của cuốn Nghệ thuật tiểu thuyết, nhà văn cũng có riêng

một bài Trò chuyện về nghệ thuật kết cấu trong tác phẩm của một số nhà văn khác,

và về chính những tác phẩm của mình Có thể nói, phần Trò chuyện về nghệ thuật

kết cấu này đã làm sáng tỏ toàn bộ quan điểm và những thủ pháp của nhà văn về

mặt kết cấu tác phẩm

Bởi vậy, chúng tôi sẽ không nghiên cứu kết cấu tiểu thuyết (và sơ qua một vài truyện ngắn) của M.Kundera theo những mô tip các hình thức kết cấu quen thuộc, truyền thống như đã phân tích ở phần trên Bởi như chính nhà văn đã khẳng định, thì “không nên coi kết cấu như một khuôn mẫu có trước, được trao cho tác giả để anh lấp đầy vào đấy bằng sáng chế của anh; kết cấu phải là một phát minh, một phát minh cầm cố toàn bộ tính độc đáo của tác giả” [37, p.4] Vì thế, chúng tôi sẽ chỉ đi sâu vào các yếu tố, đặc điểm về kết cấu làm nên sự riêng biệt độc đáo của M.Kundera

1.2.1 Kết cấu con số 7 – kết cấu âm nhạc

Dễ nhận thấy kiểu kết cấu đặc trưng của M.Kundera, đó là kết cấu con số 7 –

con số gắn với bảy nốt nhạc trong âm nhạc Lý giải hiện tượng này không khó, hãy

nghe chính nhà văn chia sẻ: “Các cuốn tiểu thuyết của tôi là những biến tấu của một kiến trúc chung cơ sở trên số bảy” [37, p.4] Theo M.Kundera, ông thật sự không hề ngạc nhiên nếu như mỗi khi hoàn thành một cuốn sách nào đó, hầu hết chúng đều kết thúc với 7 chương, 7 phần (đối với tiểu thuyết) và 7 truyện ngắn (đối với tuyển tập truyện ngắn) Ông liệt kê và lý giải rằng: “Với tôi đấy không phải là lối điệu đà mê

Trang 19

hưởng hoàn chỉnh Ở đó, không có một nốt nhạc nào thừa thãi hay vô nghĩa

“Sau khi hoàn thành cuốn Lời đùa cợt, tôi chẳng có lý do gì để ngạc nhiên là nó

có bảy phần Sau đó, tôi viết Đời nhẹ khôn kham Cuốn tiểu thuyết gần như đã xong

và gồm có sáu phần Tôi không thỏa mãn Tôi thấy câu chuyện có vẻ nhạt nhẽo Đột nhiên tôi nảy ra ý nghĩ đưa vào tiểu thuyết một câu chuyện diễn ra ba năm sau cái chết của nhân vật (tức là nằm ngoài thời gian của tiểu thuyết) Đó là phần gần cuối, phần

thứ sáu (Người tứ tuần) Tức khắc, mọi sự thành hoàn hảo Về sau, tôi nhận ra cái phần

thứ sáu ấy tương ứng một cách kỳ lạ với phần thứ sáu trong Lời đùa cợt Ở đó, cũng

như vậy, đưa một nhân vật từ bên ngoài vào tiểu thuyết, mở ra trên bức tường của tiểu

thuyết một khung cửa sổ bí mật Những mối tình nực cười mới đầu là một tập mười

truyện ngắn Khi tôi soạn lại bản lần cuối cùng, tôi loại đi; toàn bộ trở nên rất chặt chẽ

đến nỗi nó báo trước cấu trúc Sách cười và lãng quên: vẫn những chủ đề ấy (đặc biệt

chủ đề về sự lừa phỉnh), kết nối thành một tổng thể duy nhất bảy truyện kể trong đó truyện thứ tư và thứ sáu ngoài ra còn được nối vào bằng cái đinh ghim là nhân vật

chính, bác sĩ Havel Trong Sách cười và lãng quên, phần thứ tư và phần thứ sáu cũng được kết nối bởi cùng một nhân vật: Tamina Khi tôi viết Đời nhẹ khôn kham, tôi

muốn bằng mọi giá phá vỡ con số bảy định mệnh đi Cuốn tiểu thuyết đã được thụ thai

từ lâu theo một dàn ý gồm sáu phần Nhưng tôi thấy phần thứ nhất cứ không ổn Cuối cùng tôi hiểu ra rằng phần ấy thật ra gồm hai phần, nó như đứa trẻ sinh đôi dính liền vào nhau cần tách ra bằng một can thiệp phẫu thuật tinh vi” [37, p.4]

Trang 20

17

Lối kết cấu con số 7 này có mối quan hệ trực tiếp đối với những kiến thức về

âm nhạc của M.Kundera Như đã nói, kết cấu con số 7 này chính là lối kết cấu âm nhạc, số 7 là 7 nốt nhạc: Đồ, Rê, Mi, Pha, Sol, La, Si Nếu như con số 7 xuất phát từ

“một đòi hỏi vô thức” không thể lý giải nổi, thì những tác phẩm mang tính chất của một bản nhạc, bản giao hưởng lại xuất phát từ chính kiến thức âm nhạc sâu rộng của M.Kundera Thật ra, cũng không khó khăn để chúng ta nhận ra mối tương quan này, nếu giải thích dựa trên cơ sở những kiến thức âm nhạc của nhà văn Với khả năng

về âm nhạc của mình, lẽ tự nhiên, chúng in dấu lên những trang viết

M.Kundera sinh ra trong một gia đình có truyền thống về âm nhạc Bố của ông là học trò của một nhà soạn nhạc Tiệp Khắc khá nổi tiếng Chính cha đã dạy cho ông chơi đàn piano Sau này, ông có theo học về nhạc lý trong một thời gian khá dài Có lẽ âm nhạc cũng là một trong những đam mê của ông, mà theo như ông thì: “Cho đến 25 tuổi, âm nhạc đã hấp dẫn tôi hơn tiểu thuyết” [37, p.4] Và ông thừa nhận: “Cái khá nhất mà tôi đã làm được hồi đó là một bản nhạc viết cho bốn nhạc cụ: piano, alto, clarinette và trống Nó gần như báo hiệu trước một một cách lược đồ cấu trúc những tiểu thuyết của tôi mà bấy giờ tôi không hề ngờ sẽ có… Bản nhạc tôi viết cho bốn nhạc cụ đó gồm bảy phần! Cũng giống như các tiểu thuyết của tôi, toàn bộ bản nhạc gồm những phần rất không đồng nhất về hình thức” [37, p.4] Như vậy, sự ảnh hưởng của âm nhạc vào trong các tác phẩm của M.Kundera là điều được chính nhà văn thừa nhận

Trong Nghệ thuật tiểu thuyết (điều đặc biệt, tiểu luận này cũng được chia

làm bảy phần), khi được phỏng vấn về các tiểu thuyết, M.Kundera đã dùng rất nhiều kiến thức về âm nhạc để diễn giải cho cấu trúc tác phẩm của mình Ông nhắc nhiều đến âm nhạc, liên kết, xâu chuỗi các kiến thức âm nhạc (cường độ, cao

độ, nhịp độ) với diễn biến cốt truyện Rất nhiều tác phẩm của ông có ghi lại dấu ấn

của âm nhạc Trong Sự bất tử, Rubens đã nhớ đến Agnés không bởi tên riêng của

nàng, mà nhớ đến nàng với cái tên Cô Đàn Luthiste Bởi trong ấn tượng của anh,

Trang 21

18

những hành động, cử chỉ, hình dáng của nàng đều khiến anh liên tưởng đến cây đàn luthiste với những âm vang giai điệu nhẹ nhàng mà mê đắm, có sức quyến rũ

bất ngờ Trong Đời nhẹ khôn kham, thậm chí M.Kundera còn đưa lời đối thoại

của nhân vật Tomas với ông bác sĩ người Thụy Sĩ thành một phần của bản nhạc như minh họa dưới đây (ta còn bắt gặp trong nhiều tác phẩm của ông sự liên hệ với âm nhạc Beethoven tương tự như ví dụ này):

Hãy thử xem xét sự phân chia độ dài – ngắn giữa các chương trong một số tiểu thuyết của M.Kundera với các nốt nhạc Nếu coi chương có độ dài nhất là cung trầm nhất (Đồ), thì chương ngắn nhất sẽ là nốt Si (trong bảy nốt nhạc Đồ, Rê, Mi,

Pha, Sol, La, Si) Dựa trên sự tương ứng này, chúng ta sẽ khảo sát thí điểm Sự bất

tử, để qua đó thấy được độ dài, ngắn, nhanh, chậm của mỗi chương trong tiểu

thuyết của ý nghĩa thế nào đối với việc chiếu sáng nhân vật và qua đó, bộc lộ quan điểm của nhà văn về lối xây dựng kết cấu

Trong Sự bất tử, bảy phần như bảy nốt nhạc riêng biệt Mỗi nốt nhạc với

những cung trầm, cung thanh cùng tiết tấu nhanh, chậm và cường độ dữ dội, êm đềm khác nhau ấy đóng vai trò riêng trong tổng thể “bản giao hưởng”

Trang 22

Bảng 1: Các nốt nhạc trong bảy phần của Sự bất tử

Như vậy, qua bảng 1, chúng ta nhận thấy: Sự phân chia thành từng phần với

độ dài ngắn khác nhau (ứng với mỗi nốt nhạc khác nhau) tạo nên nhịp nhanh, chậm

có-chủ-ý của mỗi phần Phần 1 Khuôn mặt là khúc dạo đầu, nên nhịp chậm rãi với

nốt Đồ Những trăn trở của Agnés khi thấy bản thể của mình bị chìm lẫn giữa muôn vàn “gương mặt bản thể” khác cũng chính là trăn trở của nhà văn về việc làm sao để

tạo được bản sắc, tiếng nói, phong cách riêng của tiểu thuyết hiện đại Phần 2 Sự bất

tử là những câu chuyện về Goethe, Beethoven, về mối tình giữa Goethe và Bettina,

về cuộc nói chuyện giữa Goethe và Hemingway và cuộc đối đầu giữa Goethe và Napoleon Ở phần này, mạch truyện đã bắt đầu có tiết tấu hơi nhanh bởi xuất hiện nhiều nhân vật với những cuộc đối thoại về những vấn đề nóng bỏng của lịch sử và

văn hóa Phần 3 Đấu tranh là nốt Rê, trở về nhịp điệu chậm vừa phải Trong đó, có

các nhân vật thời hiện đại, có Agnés với các mối quan hệ xung quanh như Paul – chồng, Laura – em gái và Brigitte – con gái Bên cạnh đó còn là Bernard – bạn của Paul đồng thời là nhân tình của Laura, Giáo sư Avenarius với mối quan hệ giữa

Trang 23

20

những người đã kể, và một số nhân vật khác Phần này xoay quanh những câu chuyện cuộc sống của các nhân vật hiện đại, qua đó đưa ra những chiêm nghiệm, đúc

kết về thực trạng của văn học hiện đại Phần 4 Con người tình cảm với nốt Si cao đặc

biệt đẩy nhanh mạch truyện Nó thể hiện những xung đột tư tưởng của nhà văn trong việc nhìn nhận lại toàn bộ nền văn học châu Âu Đó là những câu hỏi, những trăn trở thường trực, như muốn cuốn xoáy con người vào việc tìm ra đâu là điều đã tạo nên một nền văn minh châu Âu?

Phần 5 Sự ngẫu nhiên và phần 6 Mặt số đồng hồ là sự trở về của các nốt

Sol Phần 5 nói về “mỗi phút có hàng tỷ sự trùng hợp… xảy ra trên thế giới” nên tiết tấu câu chuyện trở nên hơi nhanh Tương tự, phần 6, đó là tất cả những thời

kỳ trong cuộc đời của nhân vật Rubens cùng với những suy nghĩ của anh về nghệ thuật và vô vàn suy nghĩ khác trong cuộc sống Suy nghĩ về nghệ thuật của Rubens cũng chính là những yêu cầu đặt ra cho tiểu thuyết: Thời gian lịch sử và mối tương quan với sứ mệnh của tiểu thuyết

Để kết thúc tác phẩm, với một nhịp điệu bình tĩnh, vừa vặn cho sự đóng lại

toàn bộ cuốn sách, Phần 7 Lễ mừng lại quay trở về với sự nốt trầm vừa Ở đó, tác

giả trầm tư suy nghĩ, nhưng bộc lộ niềm hi vọng vào tương lai của tiểu thuyết

Điều đáng chú ý, là ở kết cấu 7 nốt nhạc này, M.Kundera vô tình mà lại dường như có chủ ý, đó là sự tương ứng giữa kết cấu, mà M.Kundera gọi đó là “đối âm” Phần 4 ở giữa là trung tâm với nốt Si riêng biệt Các phần còn lại đối xứng với nhau qua phần 4 với những nốt nhạc khác nhau

Điều này có thể nhận thấy ở nhiều tác phẩm khác Tiểu thuyết Đời nhẹ khôn

kham, Cuộc sống không ở đây với chương 4 là trung tâm, và chương 4 ấy đều

mang nốt Si Hay tập truyện ngắn Những mối tình nực cười, thì trung tâm của tập truyện là truyện ngắn thứ tư - Tranh biện…

Tuy nhiên, sự phân chia thành các nốt nhạc này mang ý nghĩa tương đối Ví

dụ như phần 2, 5 và 6, có thể xếp nó vào nốt Sol, nhưng cũng có thể xếp vào nốt

Trang 24

21

Pha Hơn thế, ngay trong từng phần, cũng có thể tìm ra được những nốt nhạc khác nhau của từng chương Bởi mỗi chương trong từng phần cũng có sự phân chia khác nhau về độ dài, ngắn Độ dài, ngắn của từng chương ứng với các nốt nhạc cho thấy

ý đồ của tác giả, là muốn khái quát ý nghĩa chủ đạo như thế nào, và việc “chiếu sáng” nhân vật nhanh hay chậm ra sao

Có thể lấy ví dụ phần 6 Mặt số đồng hồ gồm 23 chương Trong đó:

Chương Trang Nốt Chương Trang Nốt

Chương 1 >1 Si Chương 2 4.5 Mi

Chương 3 6.5 Đồ Chương 4 3.5 Pha

Chương 5 4.5 Mi Chương 6 3.5 Pha

Chương 7 >5 Rê Chương 8 >2 La

Chương 9 3 Sol Chương 10 <2 La

Chương 11 >3 Sol Chương 12 3.5 Pha

Chương 13 >3 Sol Chương 14 5.5 Rê

Trang 25

22

Trong bảng 2 này, chúng ta nhận thấy, trong phần 6, mỗi chương có độ dài ngắn khác nhau, tương ứng với nó là các nốt nhạc khác nhau Đây là “khúc solo” chỉ của nhà họa sĩ Rubens Toàn bộ phần 6 với 23 chương là những suy nghĩ của

Rubens 23 chương nhắc tới Mặt số đồng hồ của cuộc đời Rubens, nhưng qua đó, nhà văn muốn nói tới Mặt số đồng hồ của châu Âu Đó là thời gian, là lịch sử của

châu Âu, và tiểu thuyết phải làm thế nào tận dụng được khoảng thời gian, lịch sử đã

có ấy để phát triển trong tương lai

Nếu như mỗi phần trong tác phẩm có một “quan điểm riêng” [37, p.4], thì tương tự như thế, M.Kundera cũng xây dựng mỗi chương như một thực thể nhỏ tự tại Dường như tự bản thân mỗi chương cũng có thể đảm nhận vai trò cho cả phần, thậm chí điều đó có thể áp dụng với những chương rất ngắn của các nốt La và Si Tuy rất ngắn, nhưng chúng không hề dư thừa, vô nghĩa Mỗi chương là một nốt nhạc đầy gợi cảm quyến rũ, dù mang âm sắc tiết tấu nào, nó vẫn trở thành một thanh âm riêng không thể trộn lẫn

Chúng ta nhận thấy một điều rằng, với những chương có nốt cao La và Si, M.Kundera muốn giới thiệu, bộc lộ tính cách nhân vật một cách thật nhanh, gọn, dứt khoát với những tình huống mà sự việc diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, hầu như lập tức gợi mở được cho người đọc hiểu được những suy nghĩ của nhân vật Còn ở những chương dài hơn với nốt trầm Đồ, Rê, nhân vật được “khám phá” một cách từ từ, với thời gian quy tụ từ quá khứ, hiện tại với tương lai Thậm chí, nếu ngay cả những nốt Đồ, Rê ấy chỉ diễn ra trong khoảng thời gian ngắn, thì mạch truyện cũng sẽ “ngừng lại” để nhân vật có khoảng lặng tự nhìn lại mình, đưa bản thân vào những suy tư để rút ra những chiêm nghiệm Những “khoảng lặng” để các nhân vật ngừng lại, chăm chú tự soi vào trong chính bản ngã của mình đã tạo nên chiều sâu và thực tính Mạch truyện lặng là lắng lại như một nốt trầm nhấn nhá cho toàn bản nhạc Bị mê hoặc bởi nốt trầm ngân nga ấy, độc giả cũng sẽ có cơ hội tự suy tư và nhìn nhận lại chính bản thân mình

Trang 26

23

Việc phân chia các phần, các chương với độ dài, ngắn khác nhau tạo nên một bản giao hưởng đa âm, nhiều màu sắc, và cũng chính điều đó tạo nên sự hài hòa trong toàn bộ kết cấu tiểu thuyết, mà nói như M.Kundera thì “nếu tất cả các phần ấy đều gần bằng nhau, sự thống nhất sẽ bị đổ vỡ Vì sao? Tôi chẳng biết cắt nghĩa thế nào Thế đấy thôi Bảy phần dài bằng nhau, thì sẽ giống như bảy cái tủ to tướng xếp cạnh nhau” [37, p.4]

Cũng đôi khi, con số 7 không xuất hiện trong kết cấu một số tác phẩm của M.Kundera, nhưng chúng ta vẫn có thể nhận rõ tính âm nhạc trong toàn bộ tác

phẩm Điệu Valse giã từ (ngay tên tác phẩm đã đầy chất âm nhạc) có năm chương,

nhưng mỗi chương lại được tác giả sắp xếp như một điệu valse ngẫu hứng, vô cùng uyển chuyển: những sự kiện ngẫu nhiên, những mối tình sâu sắc hay thoảng qua, những tình huống hiện sinh để con người trải mình, khám phá chính sự vận động nội tại sâu thẳm con người mình… Chỉ trong năm ngày ngắn ngủi thôi, tại thành phố nước nóng dưỡng bệnh đã diễn ra những biến cố ngẫu nhiên mà vô cùng quan trọng làm thay đổi hoàn toàn suy nghĩ, số phận của các nhân vật Tại nơi đây, các nhân vật xuất hiện, làm quen với nhau, họ vô tình tác động lẫn nhau tạo nên những

sự kiện ngẫu nhiên nhưng lại khiến tất cả thay đổi Chân lý, thiện ác, bản ngã mỗi con người… dần dần bộc lộ với những khía cạnh bất ngờ nhất Các nhân vật như bị cuốn xoáy vào điệu valse - điệu nhảy ngẫu hứng mà đầy đam mê, nhưng cũng chính

là vũ điệu cuộc đời Có thể nói, năm chương trong tác phẩm chính là năm bản nhạc, nơi tấu lên nốt ca định mệnh kéo nhân vật vào những bước nhảy không thể kiểm soát, không thể chối từ Toàn bộ câu chuyện đúng như tính chất của một điệu valse

Là một điệu nhảy cổ điển đầy tính khêu gợi, valse có nghĩa là “uốn”, “xoáy”, “lướt đi” một cách đầy ngẫu hứng trong những nốt nhạc có tiết tấu dập dìu và mê đắm Bị say trong bản hòa ca lớn này, như một sự tình nguyện mà chính họ cũng không ý thức, các nhân vật - bằng cả thể xác và tâm hồn, lướt theo những bước nhảy số phận

- điệu valse cuối cùng, điệu valse giã biệt Họ từ giã bản thể của mình (đúng hơn, từ

Trang 27

24

giã cái mà họ từng tưởng là bản thể) để khám phá mình trong một bản thể khác, xa

lạ hoàn toàn với con người trước đây của họ Điệu valse đã giúp họ cởi bỏ thứ mặt

nạ vẫn đeo bấy lâu nay, đưa họ trở về đúng cái tôi thật ở mỗi nhân vật Chẳng biết nên buồn hay nên vui, khi những cái tôi ấy ngập ngừng giữa những mâu thuẫn trớ trêu, khó lường trước

Kết cấu con số 7 – kết cấu âm nhạc này còn liên quan tới các cấu trúc toán

học không-chủ-ý khác Các cuốn tiểu thuyết của ông có kết cấu “biến tấu của một kiến trúc chung cơ sở trên số 7” [37, p.4] Đó chính là cấu trúc toán học Nó “hình thành hoàn toàn tự nhiên như một tất yếu của hình thức và không cần tính toán gì

cả” [37, p.4] Nó thể hiện ở việc sử dụng các con số để đánh dấu các phần, các

chương; và thể hiện ở đặc điểm: ứng với tỷ lệ xuất hiện, độc thoại, nhân vật sẽ được

“chiếu sáng” đến mức nào

Việc đánh dấu bằng số cho các phần, các chương được M.Kundera yêu thích Với ông, việc làm đó cũng tương tự như “phát âm rành rọt” và ông “muốn nó thật sáng sủa” Bằng sự đánh số các phần, các chương, M.Kundera đã hướng người đọc (một cách nhanh nhất, đơn giản nhất) đi tới sự minh triết, phân định một cách rạch ròi từng phần, từng chương nhỏ để qua đó dễ dàng nhận ra những quan điểm, những suy tư mà nhà văn gửi gắm trong cốt truyện Nó cũng chứng tỏ tính ngăn nắp, khoa học của nhà văn (đức tính này, chúng ta sẽ còn gặp rất nhiều khi khám phá nội dung các tác phẩm của ông) Cấu trúc toán học này liên quan tới độ dài ngắn của từng phần, từng chương mà ta đã phân tích bên trên

Còn ở đặc điểm: ứng với tỷ lệ xuất hiện, độc thoại, nhân vật sẽ được chiếu sáng như thế nào, ta có thể lấy luôn ví dụ mà chính M.Kundera đã phân tích trong

bài phỏng vấn được tập hợp lại ở tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết, dựa trên tác phẩm Lời đùa cợt:

“Cuốn tiểu thuyết này được kể bởi bốn nhân vật: Ludvik, Jaroslav, Kostka và Helena Độc thoại của Ludvik chiếm 2/3 sách, độc thoại của những người khác, gộp

Trang 28

vẻ bí mật và không thể nắm bắt được” [37, p.4]

Cũng tương tự như thế, ở trong Sự bất tử, Agnés được chiếu sáng nhiều nhất,

cả bên trong lẫn bên ngoài, qua suy nghĩ nội tâm và qua những nhân vật khác, đặc

biệt là qua cô em gái Laura và người tình Rubens Để từ đó, Agnés có được sự bất

tử vĩnh viễn trong mỗi người thân yêu của nàng, và trong suy nghĩ của độc giả

Sự hội tụ của các nốt nhạc với cấu trúc toán học “như một đòi hỏi sâu xa, vô thức” [37, p.4] khiến mỗi tác phẩm của M.Kundera – dù không hoàn toàn mượt mà,

dễ đọc như rất nhiều tiểu thuyết đương thời, song lại tạo ra những hiệu ứng đặc biệt

trong lối kết cấu tác phẩm Kết cấu con số 7 – kết cấu âm nhạc, cũng đồng thời là

cấu trúc toán học là một trong những cách tân mới không dễ bị trộn lẫn của M.Kundera cho hình thức của tiểu thuyết

Con số 7, kết cấu gắn với âm nhạc và các con số, tỷ lệ, kiến trúc toán học nói chung giúp nhà văn tái hiện lại lại tầm quan trọng của từng nhân vật, giúp người đọc khám phá tâm tư, tình cảm của nhân vật Và, cũng thông qua đó, người đọc có thể tìm thấy những quan điểm của M.Kundera về văn học và nghệ thuật, về những trăn trở của ông trong việc khai sáng, phát triển những hướng đi mới cho tiểu thuyết hiện đại Những trăn trở này của nhà văn được bộc lộ rõ nét qua việc cách tân hình thức tiểu thuyết, nhưng cũng đồng thời tìm ra những cách tân về mặt nội dung Đây chính là đặc điểm riêng biệt và tiến bộ của M.Kundera và là một trong những đóng góp của ông cho nền tiểu thuyết hiện đại

Trang 29

26

Tuy nhiên, sự cách tân ấy không chỉ dừng lại ở kết cấu con số 7 – kết cấu âm

nhạc hay các con số, tỷ lệ, cấu trúc toán học Nó còn thể hiện ở một số đặc điểm nổi

bật khác trong kết cấu tiểu thuyết của M.Kundera, mà ở đây, chúng ta sẽ xem xét

một cách cụ thể, đó là tính cô đặc và đa âm Việc đi sâu vào hai hình thức kết cấu

này sẽ giúp chúng ta khám phá nhiều hơn về những cách tân của M.Kundera đối với thể loại tiểu thuyết

1.2.2 Tính cô đặc và đa âm

Nói đến nghệ thuật kết cấu tác phẩm của M.Kundera, sẽ thật thiếu sót nếu

không nói tới hai yếu tố này Tính cô đặc và tính đa âm tưởng như là hai thủ pháp

đối lập nhau và không thể tồn tại trong cùng một không gian văn bản Nhưng ở các tác phẩm của M.Kundera, chúng không những cùng hiện diện mà còn song hành, bổ sung lẫn nhau tạo nên hiệu ứng kết cấu độc đáo

Như đã phân tích, mỗi tác phẩm của M.Kundera giống như một bản nhạc, một bản giao hưởng lớn Mỗi tác phẩm có nhiều phần, mỗi phần như một chương nhạc Và các chương trong từng phần lại là một khuôn nhịp với các nốt trầm bổng khác nhau, để rồi cùng hòa quyện tạo nên một bản nhạc hoàn chỉnh Đây là biểu

hiện của tính đa âm – sự hội tụ của nhiều “thanh âm” trong cùng một bản nhạc (tất

nhiên, tính đa âm còn thể hiện ở nhiều khía cạnh khác, nhưng chúng ta sẽ phân tích sau) Các nốt nhạc trong tác phẩm đan xen, hòa quyện tạo nên một bản hòa âm với những tiết tấu, cường độ khác nhau, khi cao, khi trầm, khi dồn dập, lúc khoan thai nhẹ nhàng

Nhưng, điều đặc biệt, là trong một tổng thể như vậy, tuyệt nhiên không có một nốt nhạc nào thừa Bởi nó đã được M.Kundera chọn lọc đến mức không thể

giản lược hơn Đó chính là tính cô đặc Hay, theo cách nói của M.Kundera, thì đó là

“nghệ thuật mới của phép giản lược căn bản” [37, p.4], bởi ông rất sợ “một dàn bè

cho dàn nhạc trĩu quỵ xuống vì sức nặng của những nốt vô ích” [37, p.4]

Trang 30

27

1.2.2.1 Tính cô đặc

M.Kundera khẳng định: “Tôi nghĩ rằng để nắm bắt được tính phức tạp của cuộc sống cần có một kỹ thuật tinh lược, cô đặc” [37, p.4] Như vậy, cô đặc, tinh lược, rút gọn chính là cách mà con người cần sử dụng để có thể nắm bắt được sự bộn bề, phức tạp, đa sắc đa thanh của cuộc sống Điều này tưởng chừng như mâu thuẫn, nhưng lại rất hợp lý Nếu cứ ôm đồm, quan sát, phân tích về tất cả những biến cố đổi thay của cuộc sống thì con người sẽ trở nên quá sức, thậm chí khiến họ

bị rối, không nhận thức được sự việc một cách đúng đắn và chuẩn xác nữa Cần phải biết chọn lọc ra những gì căn bản, chủ đạo nhất Nắm bắt được những điều quan trọng cần thiết ấy, hiển nhiên vốn sống của chúng ta luôn phong phú, bởi nó

có sự chọn lọc đầy trải nghiệm, không sợ bị “dư thừa”

Một cuốn truyện cũng thế Để xoáy sâu vào nội dung, ý nghĩa chủ đạo, tác

giả cần có kỹ thuật cô đặc để độc giả có thể nhanh chóng nắm bắt được tư tưởng mà

mình bộc lộ M.Kundera quan niệm: “Khi đọc đến phần cuối của một cuốn sách, anh phải còn đủ sức nhớ lại phần mở đầu Nếu không cuốn tiểu thuyết sẽ thành dị hình, tính “sáng sủa về kết cấu” của nó sẽ tối sầm lại” [37, p.4]

Nếu như một tác phẩm tiểu thuyết có nhiều tuyến cốt truyện, nhiều tuyến nhân vật, mỗi phần lại có một ý nghĩa riêng, được nhà văn gửi gắm vào đó những

suy nghĩ, quan niệm riêng của mình, thì đó là tính đa âm Nhưng, khi bằng ấy phần,

chương với rất nhiều ý nghĩa, tuyến nhân vật, cốt truyện… lại xoắn bện, kết hợp chặt chẽ và được xuyên suốt với nhau trong một chủ đề chung, thì đó lại là sự cô

Trang 31

28

Lấy ví dụ với tiểu thuyết Sự bất tử Tác phẩm này có thể chia thành các câu

chuyện sau: Câu chuyện cuộc đời Agnés với những mối quan hệ xung quanh; câu chuyện cuộc gặp gỡ giữa Goethe, Beethoven, Hemingway, Napoleon và mối tình giữa Goethe với Betina; câu chuyện về chàng họa sĩ Rubens; câu chuyện về chủ nghĩa tình cảm; câu chuyện về nền văn minh châu Âu nói chung và tiểu thuyết nói riêng (điều gì đã tạo nên văn minh châu Âu, lịch sử tiểu thuyết từ khi ra đời, sứ mệnh của tiểu thuyết và những dự báo hi vọng trong tương lai) Rõ ràng những câu chuyện đó hoàn toàn có thể tách rời thành những cuốn tiểu thuyết khác nhau, nhưng chúng lại được cô đặc lại trong cùng một tác phẩm, để hướng tới một chủ đề chung,

đó là sự bất tử

Sách cười và lãng quên có bảy phần, và cũng như Sự bất tử, M.Kundera đã

có thể xây dựng nên bảy cuốn tiểu thuyết khác nhau Nhưng với mong muốn thâu tóm, “cô đặc” chúng lại trong một tổng thể hoàn hảo, nhà văn đã tập hợp bảy

“chương” tiểu thuyết ấy thành một cuốn tiểu thuyết gọn gàng Ông nói: “Nếu tôi viết bảy cuốn tiểu thuyết độc lập, tôi sẽ không hi vọng gì nắm bắt được “tính phức tạp của cuộc sống trong thế giới hiện đại” chỉ trong mỗi một cuốn tiểu thuyết Do

đó tôi thấy nghệ thuật tĩnh lược là cần thiết Nó đòi hỏi: luôn luôn đi thẳng ngay vào trung tâm sự vật” [37, p.4]

Những mối tình nực cười tuy là bảy truyện ngắn khác nhau, nhưng chúng

cũng được cô đặc lại trong một chủ đề chung: Thân phận con người và sự thật

nhiều mặt của con người Đây là chủ đề chính của truyện ngắn thứ tư – Tranh biện,

và cũng là chủ đề trung tâm xuyên suốt tập truyện ngắn

Cái gọi là “tính phức tạp của cuộc sống trong thế giới hiện đại” chính là

“tiếng gọi” thúc đẩy M.Kundera xây dựng nên lối kết cấu cô đặc trong các tác phẩm của mình Có ý kiến cho rằng đọc M.Kundera không hề dễ dàng Điều này hoàn toàn dễ hiểu Bởi ngoài việc đưa vào các tác phẩm những triết lý, suy tưởng với những chương gần như là một cuốn tiểu luận bàn về nghệ thuật, bàn về tiểu thuyết,

Trang 32

29

M.Kundera còn đưa vào rất nhiều tuyến cốt truyện, tuyến nhân vật ở nhiều thời đại khác nhau Thủ pháp này khiến cho người đọc phải đưa trí tưởng tượng của mình đi thật xa và sử dụng trí não một cách linh hoạt thì mới có thể bắt kịp mạch truyện

Việc xây dựng nhiều tuyến cốt truyện trong cùng một tác phẩm khiến cho

truyện của M.Kundera có “độ nén” cao, đòi hỏi người đọc phải bám sát để tìm ra mối tương quan chung giữa các tuyến nhân vật và cốt truyện ấy Đặc điểm này đòi hỏi người đọc cũng phải đào sâu thì mới có thể khám phá sự đa tầng lớp, đa ý nghĩa

mà mỗi tác phẩm M.Kundera đem lại Giống như lý thuyết “tảng băng trôi”, nếu chỉ đọc một cách hời hợt, người ta sẽ chỉ nhìn thấy ba phần nổi của tảng băng mà không thể nhìn thấy bảy phần chìm sâu bên dưới, và cũng là bảy phần quan trọng nhất,

nhiều ý nghĩa nhất Chúng ta sẽ chỉ thấy một Sự bất tử với những phần dường như

chẳng liên quan gì đến nhau nếu như không biết liên kết, xâu chuỗi chúng lại trong một chủ đề chung Chúng ta sẽ chỉ thấy bảy truyện ngắn đứng cạnh nhau trong

tuyển tập Những mối tình nực cười mà không nhận ra đâu là sợi dây nối chúng lại

với nhau

Cũng giống như việc đánh dấu các phần, các chương bằng các con số, việc

cô đặc các phần, các tuyến cốt truyện và tuyến nhân vật vào trong một chỉnh thể thống nhất khiến cho độc giả có thể bao quát được tác phẩm theo đa chiều, đa hướng mà không làm mất đi sự minh bạch, sáng sủa trong kết cấu

Tiếp theo, tính cô đặc thể hiện ở chỗ nhà văn cắt bỏ hết những thứ rườm rà:

quá khứ, tên tuổi của nhân vật, bối cảnh lịch sử…

Không khó để nhận thấy M.Kundera cắt giảm đến mức tối đa những thứ

“phụ kiện” gây rườm rà cho nhân vật của mình Nhân vật của M.Kundera hầu như không có tiểu sử, không có quá khứ, không chính xác ở độ tuổi bao nhiêu

và ông cũng chẳng mô tả kỹ hình dáng bên ngoài, cử chỉ, phong cách của nhân vật Thậm chí, có những nhân vật chỉ được gọi bằng những cái tên-không-phải-

tên, như trong Sự bất tử, các cô nhân tình của họa sĩ Rubens chỉ được gọi là cô

Trang 33

30

A, cô B, cô C, cô D, cô G… Trong Bản nguyên, người bạn từng rất thân của

Jan Mark chỉ được gọi là F Và, những nhân vật còn lại cũng mang những cái tên hết sức gọn gàng, dễ nhớ Những trường hợp M.Kundera đặt cho một nhà khoa học Tiệp một cái tên khó nhớ là Cechoripsky thì đó là dụng ý của nhà văn

để hướng tới sự châm biếm

Cắt bỏ những thứ rườm rà đáng lẽ phải gắn với nhân vật, M.Kundera như muốn cắt phăng đi mối quan hệ của họ giữa cuộc sống thực tại Hay nói đúng hơn, nhà văn muốn xây dựng nên một thế giới những con người nhỏ bé, yếu ớt, những con người đáng thương cần được che chở bảo vệ trước cuộc đời rộng lớn muôn lần bất trắc

Về các vấn đề xung quanh nhân vật, chúng tôi sẽ đề cập kỹ hơn trong chương

III - Nhân vật của luận văn này

Không chỉ nhân vật, tên riêng chỉ địa danh cũng được nhà văn chú ý để sửa thành những cái tên đơn giản, dễ nhớ, hoặc thậm chí, ông lược bỏ hẳn đi Trong

truyện ngắn Sẽ không ai cười thuộc tập Những mối tình nực cười, khu phố nơi

nhân vật chính sống cùng bạn gái, ban đầu có tên là Vrsovicé, sau này khi tái bản, nhà văn đã bỏ đi, chỉ tả chung chung là “khu phố ngoại vi thành phố”

Sự cô đặc này còn thể hiện rõ nét trong việc nhà văn lược bỏ đi các sự kiện

chính trị trong các tác phẩm của mình Trong Đời nhẹ khôn kham, sự kiện Mùa

xuân Praha 1968 tuy có được nhà văn nhắc đến, nhưng đó là do yêu cầu bức thiết của việc muốn diễn tả lại việc thân phận con người chịu sự tác động của lịch sử, bởi vậy mà họ không thể có được một cuộc sống yên bình như mong muốn Trong

Vô tri, M.Kundera kể về những chuyến hồi hương của một số người Tiệp Khắc

sinh sống ở nước ngoài Sự ra đi của rất nhiều năm trước của những con người ấy cũng do sự tác động của sự kiện Mùa xuân Praha 1968 Họ buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài Tuy nhiên, nhà văn cũng không nhắc nhiều tới sự kiện này, mà chỉ lướt qua, lấy đó làm bối cảnh cho những tâm tư suy nghĩ của nhân vật Ông

Trang 34

sử của xã hội, chứ không phải con người Vì vậy, những sự kiện được nói đến trong các tiểu thuyết của tôi thường bị khoa chép sử bỏ quên” [37, p.4] Nói như thế, có nghĩa là ông không sa đà vào việc mô tả lại diễn biến các sự kiện của lịch sử, ông không làm công việc ghi chép đơn thuần của các sử gia Ông chỉ dùng các sự kiện lịch sử khi cần, và dùng với sự tiết kiệm ở mức có thể để tạo thành một “tình tiết” cho tiểu thuyết, lấy đó làm cơ sở để tái hiện lại cuộc sống của con người sống trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó

Do vậy, M.Kundera khẳng định, muốn hiểu được tiểu thuyết của ông, không nhất thiết phải hiểu được lịch sử của Tiệp Khắc

Bằng thao tác giản lược những tên địa danh, tên nhân vật và các sự kiện lịch

sử, M.Kundera đã đưa người đọc đến gần hơn “sự hiền minh”, xóa đi rào cản để người đọc dễ tiếp nhận tác phẩm của mình hơn

Như vậy, tính cô đặc là một trong những thủ pháp kết cấu độc đáo của M.Kundera, theo như ông nói, thì đó là kiểu “tẩy rửa khỏi tiểu thuyết lối tự động hóa kỹ xảo tiểu thuyết, lối nói suông tiểu thuyết, làm cho nó cô đọng lại” [37, p.4]

Cô đặc giúp tác phẩm của M.Kundera trở nên sáng rõ, gọn nhẹ mà vẫn bao chứa được nhiều đề tài, nhiều tư tưởng, chuyển tải đến cho người đọc nhiều kiến thức, nhiều khía cạnh của cuộc sống vốn đầy rẫy những bề bộn, phức tạp Hay nói cách

Trang 35

sự vô tận cho trí tưởng tượng của mỗi người Không còn sai hay đúng, chỉ còn lại nhiều hay ít của trí tưởng tượng mà thôi

Đặc điểm này khiến tác phẩm của M.Kundera mang tính gợi mở, cũng đồng thời chứng tỏ sự sâu sắc và quan điểm vô cùng hiện đại của nhà văn: Thay vì viết ra hết những suy nghĩ của mình, M.Kundera làm hành động nén chặt chúng lại, và người đọc sẽ tự bóc tách, hình dung và tự chiêm nghiệm, phát triển theo cá tính riêng Như đã trình bày, thủ pháp này giống như nguyên lý “tảng băng trôi” – những gì M.Kundera tạo ra, nếu chỉ đơn thuân đọc thì sẽ chỉ nhận thấy ba phần nổi trên mặt nước Bảy phần còn lại, và cũng là những phần quan trọng nhất, độc giả sẽ

tự tìm tòi, khám phá Đó chính là sự tôn trọng mà M.Kundera dành cho độc giả Nó cũng chứng tỏ tài năng của nhà văn trong việc tìm ra được một hình thức mới cho kết cấu tiểu thuyết

Bên cạnh tính cô đặc, tiểu thuyết nói riêng và các tác phẩm nói chung của M.Kundera còn mang tính đa âm rõ rệt

1.2.2.2 Tính đa âm

Như đã trình bày, tính đa âm là một thủ pháp về kết cấu, nó xuất hiện song hành với tính cô đặc Các tuyến nhân vật, các đề tài khác nhau vận động trong một tác phẩm với một chủ đề chung xuyên suốt là tính cô đặc, thì trước hết, tính đa âm

chính là sự xuất hiện trong cùng một tác phẩm nhiều tuyến nhân vật, nhiều đề tài

Chậm rãi với hai tuyến nhân vật Một tuyến nhân vật hiện đại mà đại diện là anh

Trang 36

33

chàng Vincent, một tuyến nhân vật lịch sử, đại diện là chàng Hiệp sĩ Bên cạnh đó còn là các tuyến nhân vật đương đại trong sự tác động của những thiết bị khoa học hiện đại, của tốc độ và thời gian Tương tự, ở các tác phẩm khác cũng xuất hiện nhiều tuyến nhân vật với những tuyến cốt truyện khác nhau

M.Kundera cho rằng: “Đa âm trong âm nhạc là lối triển khai đồng thời hai hay nhiều giọng (tuyến giai điệu), những giọng này tuy hoàn toàn gắn liền vào nhau song vẫn giữ được tính độc lập tương đối của chúng Còn đa âm tiểu thuyết? Trước

hết hãy nói cái ngược đã: cấu trúc một dòng Nhưng ngay từ đầu lịch sử của mình,

tiểu thuyết đã tìm cách thoát ra khỏi tính một dòng và mở ra những đột phá trong dòng kể liên tục một câu chuyện” [37, p.4]

Và ví dụ mà M.Kundera nêu ra giải thích gọn gàng và rõ ràng định nghĩa thế nào là tính đa âm Ông nêu ví dụ về cuốn tiểu thuyết Don Kihote của Cesvantes Xuyên suốt tiểu thuyết là chuyến du hành của Hiệp sĩ Don Kihote Nhưng trong chuyến du hành ấy, Don Kihote lại gặp các nhân vật khác Các nhân vật khác này

kể lại những câu chuyện của chính bản thân họ Như vậy là, câu chuyện của những người ấy được lồng trong câu chuyện của Don Kihote, “đây là những truyện ngắn được “lồng” vào trong “cái lồng” của tiểu thuyết” [37, p.4]

Ông còn nếu ví dụ về tác phẩm Lũ người quỷ ám của Dostoievski Nó

gồm ba tuyến phát triển đồng thời và có thể xây dựng nên ba cuốn tiểu thuyết

độc lập Điều này xảy ra tương tự với Sự bất tử Hoàn toàn là những câu chuyện

tách rời nhau Có những tuyến nhân vật không hề liên quan đến nhau cả về suy nghĩ lẫn thời đại Câu chuyện xung quanh cuộc đời Agnés là ở thời hiện đại, với những trăn trở về “khuôn mặt riêng mình” với “khuôn mặt bản thể” Câu chuyện xung quanh mối tình Goethe và Bettina, câu chuyện giữa Goethe với Napoleon, với Hemingway diễn ra ở một thời đại khác ở thời quá khứ Đó là những cuộc nói chuyện, những buổi tranh luận về vai trò của những người làm nên lịch sử và văn hóa Cái gì làm nên sự rực rỡ của văn minh châu Âu – các nhà chính trị hay

Trang 37

34

các nhà văn hóa? Và điều gì sống mãi với thời gian - cuộc đời của những người nổi tiếng, hay những tác phẩm nghệ thuật mà họ để lại cho công chúng? Rồi cả những “tiểu luận” xen kẽ trong mỗi chương, mỗi phần mà ở đó, tác giả nêu ra những quan điểm, những dấu hỏi và những hi vọng cho tương lai tiểu thuyết Tất cả những “thanh âm” tưởng như có thể đứng riêng biệt thành một bản nhạc

ấy, khi đứng cùng với nhau trong một tác phẩm đã tạo nên sự đa âm với chiều sâu triết lý Nó khiến cho ý nghĩa của tiểu thuyết không đơn thuần chỉ gồm một vấn đề, ở đó tác giả phải giải quyết nhiều sự kiện, làm cho tiểu thuyết mang nhiều ý nghĩa khác nhau về mặt nội dung Nhưng, chung cục, dù có mang nhiều

ý nghĩa, thì nó vẫn được đặt trong một chỉnh thể thống nhất

Ngoài ra, ông còn so sánh tính đa âm của Dostoievski với lối đa âm của Broch để qua đó tìm ra một đặc điểm nữa: tính đa âm còn thể hiện ở việc nhà văn đưa vào cùng một tác phẩm nhiều thể loại như phóng sự, thơ, tiểu luận, truyện ngắn và tiểu thuyết Hiện tượng này xảy ra ở rất nhiều tác phẩm của M.Kundera Hầu như tác phẩm nào, ông cũng lồng vào những đoạn, những chương, thậm chí hẳn một phần dành cho tiểu luận – đó là những suy nghĩ của nhà văn về lịch sử, xã hội, con người (đặc biệt là về con người, về bản thể và ý nghĩa sự tồn tại của con người trong thế giới này), về hướng đi và sứ mệnh của tiểu thuyết Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiểu thuyết của M.Kundera có tính tiểu luận và các tiểu luận của ông thì lại mang tính tiểu thuyết Có lẽ chính bởi sự dày đặc của hình thức tiểu luận trong những tác phẩm tiểu thuyết, mà văn của ông trở nên khó đọc, nhiều khi khô khan và vắng đi hẳn sự mượt mà thường thấy ở các tác phẩm tiểu thuyết của các nhà văn khác Trong buổi tọa đàm về Kundera diễn ra tại Trung tâm văn hóa L’Espace, nhà văn Nguyên Ngọc từng nói: “Tôi không thích lắm những tiểu thuyết hư cấu của Kundera Ông viết theo những lý luận, quan điểm của mình về tiểu thuyết…” Ý kiến này của nhà văn Nguyên Ngọc tìm được sự đồng tình của nhiều độc giả khác

Trang 38

35

Không chỉ tiểu thuyết mang tính tiểu luận hay tiểu luận mang tính tiểu thuyết, các tập truyện ngắn của M.Kundera cũng mang tính tiểu thuyết rõ rệt

Những mối tình nực cười tuy là bảy truyện ngắn riêng biệt, nhưng cả tập

truyện ngắn cũng có thể coi là một cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh, được xuyên

suốt với truyện ngắn trung tâm Tranh biện để nói về thân phận và sự thật về sự

nhiều mặt của con người

Tương tự, Sách cười và lãng quên được xây dựng trên các thể loại như: tiểu

luận (phê bình một số cuốn sách theo chủ nghĩa nữ quyền) và truyện ngắn (câu chuyện về Eluard, câu chuyện về Tamina…) và nhiều câu chuyện khác Chúng minh bạch, độc lập song vẫn nằm trong cùng một kết cấu tiểu thuyết bởi chúng xoay quanh chủ đề về thiên thần

Tính đa âm còn thể hiện ở việc tác giả đưa nhiều kiến thức vào cùng một tác

phẩm Nổi bật nhất là kiến thức về âm nhạc, tiếp đó là những kiến thức về lịch sử,

chính trị, tôn giáo, phân tâm học và khoa học kỹ thuật Đời nhẹ khôn kham mang

tính đậm đặc của tri thức Đó là những tri thức tổng hợp và kinh điển về ngôn ngữ, triết học, tôn giáo, khoa học và nghệ thuật Tính hàn lâm trong tác phẩm này khiến người đọc không khỏi thán phục sự sắp xếp khéo léo, gọn gàng của nhà văn khi xử

lý cùng một lúc rất nhiều mảng kiến thức khác nhau như vậy

Trong các tác phẩm của M.Kundera, xuất hiện dày đặc những phần nói về Chúa, những băn khoăn, hồ nghi và lòng tin của con người trước Chúa Những câu hỏi lớn được đặt ra là: “Liệu con người có thể tìm thấy sự bình yên, niềm tin nơi tôn giáo? Liệu tôn giáo có cứu rỗi được linh hồn con người?” Sự lý giải về Chúa, về niềm tin của con người và các quan niệm về tôn giáo của ông ảnh hưởng nhiều bởi

các học thuyết Nietzsche, Heidegger và Freud Trong Điệu Valse giã từ,

M.Kundera đã để cho nhân vật Bertlef thay lời mình diễn giải về màu sắc của chiếc vòng hào quanh trên đầu của Chúa và các vị thánh Bertlef cũng kể lại chuyện về các vị thánh Chuyện Thánh Macaire thành Alexandrie ở ngoài sa mạc, ngày ngày

Trang 39

36

đều đặn rót đầy giỏ cát đặt lên lưng rồi nhẫn nại bước đi cho đến khi kiệt sức hoàn toàn Sau đó, bốn mươi ngày liền trong lễ ăn chay, ông hoàn toàn đứng trong khi các tu sĩ khác ngồi Rồi chuyện Thánh Siméon đã đứng trên cây cột chỉ có một mét vuông, một mình trên sa mạc M.Kundera kiến giải rằng họ cam chịu như vậy là vì biết được có hàng trăm cặp mắt vô hình đang nhìn mình, là do sự vinh quang chắc chắn sẽ có sau khi trải qua những thử thách… Theo ông, đó chính những thứ khiến các vị thánh ấy ép mình chịu cực khổ để cuối cùng được phong thánh Ở đây không

đề cập đến đúng-sai, nhưng qua đó chúng ta có thể thấy được sự tìm tòi của M.Kundera đối với tôn giáo và vốn kiến thức sâu rộng với những quan niệm Những hoài nghi của M.Kundera về Chúa Chiều tôn giáo được đào sâu đến kiệt

cùng trong Điệu Valse giã từ, và còn được khai thác trong nhiều tác phẩm với những sắc thái khác nhau Truyện ngắn Edouard và Chúa trong tập truyện ngắn

Những mối tình nực cười, tôn giáo còn là đối tượng để giễu nhại, giống như trò

đùa, ở đó Chúa như một đối tượng của sự châm biếm Ở truyện ngắn này, nhân vật

Edouard tìm đến Chúa không phải bằng lòng tin tôn giáo, mà bởi tình dục Anh hóa thân thành một kẻ sùng đạo, nhưng thực chất anh đã chẳng còn niềm tin vào tình yêu, vào Chúa, vào cuộc sống Cuối cùng, mỉa mai thay, chính anh lại tình cờ đóng vai Chúa để lên án và phê phán người khác và rao giảng đạo đức Ảnh hưởng bởi triết học Nietzsche với tư tưởng không tin vào Chúa, và giáo hội chỉ là một tổ chức lừa bịp bóp chặt nhân quyền, tự do của con người, nên chúng ta hoàn toàn không ngạc nhiên khi Chúa và các kiến thức về tôn giáo lại xuất hiện nhiều lần ở nhiều tác phẩm khác nhau của M.Kundera, nhưng chúng lại không mang tính chất trang trọng, nghiêm túc hay tôn kính

Tiểu thuyết của ông cũng dày đặc những kiến thức, sự kiện về lịch sử và chính trị Mặc dù nguyên tắc của M.Kundera là lược bỏ đi những cái rườm rà của các sự kiện lịch sử và chính trị của xã hội Tiệp Khắc, và ông không muốn làm công việc của các sử gia – là người chép sử; song người đọc vẫn dễ dàng

Trang 40

37

nhận ra những bộ phông lịch sử to lớn âm thầm mà dữ dội cuốn xoáy con người vào những biến động không ngờ, làm thay đổi cả cuộc đời, tâm tư suy nghĩ của

họ Sự kiện được nhắc đến nhiều nhất (dù ít khi nhà văn trực tiếp nói thẳng ra)

là Mùa xuân Praha 1968 và chủ nghĩa Quốc xã với bọn Gestapo Những sự kiện này đã tạo ra những đổi thay sâu sắc trong lòng xã hội Tiệp Khắc, làm đảo lộn

ví trí, thân phận của rất nhiều người ở mọi tầng lớp, đặc biệt là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu… - những người thuộc tầng lớp trí thức, trong đó có chính

bản thân nhà văn Điệu Valse giã từ, Đời nhẹ khôn kham, Chậm rãi, Vô tri, tập truyện ngắn Những mối tình nực cười… đều tái hiện lại sự kiện này một

cách khá chân thật

Triết học có ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm của M.Kundera, đặc biệt

là triết học phương Tây, mà tiêu biểu là triết học Nietzsche với tâm thức thời hiện đại cùng học thuyết Freud về phân tâm học và cái nhìn mới về con người Bên cạnh đó còn là những suy nghiệm của Heidegger về tính hiện thể, vong tính (phần này chúng tôi sẽ khai thác rõ hơn ở chương sau) Do vậy mà con người trong tiểu thuyết của M.Kundera luôn hiện lên thật bất ngờ, không thể đoán định trước, tùy từng cảnh huống cụ thể mà họ bộc lộ tính cách của mình - những tính cách mà chính họ trong đời thường cũng không nhận biết, không ý thức Chỉ trong những tình huống cụ thể mà bản chất, con người thật của họ mới được bộc lộ một cách rõ ràng Còn, trong cuộc sống thường nhật, họ luôn phải sống giả tạo, đôi khi họ không biết mình cần gì, muốn gì Thế nên có những con người mà cuộc sống của họ là cuộc hành trình đi tìm bản thể, tìm xem thực chất bản thân mình là ai

Đặt con người trong những tình huống hiện sinh tiêu biểu, M.Kundera đã đi đến những khái quát và triết lý về thân phận con người Hơn thế, qua đó, nhà văn bộc lộ rõ quan điểm mang chiều sâu suy triết của mình: Con người là những thực thể vô cùng nhỏ bé trong cuộc sống vốn đầy rẫy những biến động này Hãy yêu

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các nốt nhạc trong bảy phần của Sự bất tử - Một vài đặc điểm nghệ thuật tiểu thuyết Milan Kundera
Bảng 1 Các nốt nhạc trong bảy phần của Sự bất tử (Trang 22)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w