1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh

122 415 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là các bài viết của các GS.Vũ Khiêu, nhà văn Tô Hoài, các nhà thơ Vũ Quần Phương, Lữ Huy Nguyên, Nguyễn Bao, tác giả Hoàng Lại Giang,… Trước đây, tác phẩm của Trúc Khê được in tại Trú

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội, 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Lời cảm ơn!

Sau một thời gian nghiên cứu lí luận và thực tiễn, cho đến nay tôi đã hoàn

thành Luận văn thạc sỹ: “Tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh”

Có được thành công này lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các thầy cô, những nhà nghiên cứu đã hợp tác và giúp đỡ tôi rất nhiệt tình trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất tới PGS.TS Đoàn Đức Phương đã giúp đỡ tôi không chỉ trong phương pháp khoa học mà cả những tri thức rất thiết thực trong cuộc sống

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và những người

đã luôn ở bên, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm !

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Học viên

Trần Thị Thư

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề………5

3 Phạm vi nghiên cứu ………5

4 Mục đích nghiên cứu……….6

5.Phương pháp nghiên cứu……… 6

6 Đóng góp của luận văn……… 7

7 Cấu trúc luận văn ……… 7

PHẦN NỘI DUNG 8

Chương 1 VẤN ĐỀ DÂN GIAN - DÂN TỘC TRONG NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ CON NGƯỜI TRÚC KHÊ NGÔ VĂN TRIỆN 8

1.1 Không khí thời đại và sự phát triển văn học nửa đầu thế kỷ XX 8

1.1.1 Không khí thời đại 8

1.1.2 Đôi nét về sự phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 11

1.2 Vấn đề dân gian, dân tộc trong văn học giai đoạn mất chủ quyền 22

1.2.1 Vấn đề yếu tố dân gian - dân tộc 22

1.2.2 Dân gian-dân tộc trong văn học giai đoạn mất chủ quyền 28

1.3 Con người Trúc Khê Ngô Văn Triện và đường văn đã chọn 35

1.3.1 Đôi nét chính về thân thế - sự nghiệp 35

1.3.2.Con người Trúc Khê Ngô Văn Triện qua những trang nhật ký còn lưu 43 Chương 2: YẾU TỐ DÂN GIAN - DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA TRÚC KHÊ NGÔ VĂN TRIỆN 52

2.1.Yếu tố dân gian - dân tộc trong thơ Trúc Khê Ngô Văn Triện: 52

2.1.1 Yếu tố dân gian - dân tộc trong thơ thế sự 52

2.1.2 Yếu tố dân gian - dân tộc trong thơ trữ tình 58

Trang 5

2 2 Yếu tố dân gian - dân tộc trong văn xuôiTrúc Khê Ngô Văn Triện: 67

2.2.1 Yếu tố dân gian - dân tộc trong tiểu thuyết lịch sử 67

2.2.2 Yếu tố dân gian - dân tộc trong tiểu thuyết tâm lý 77

Chương 3 YẾU TỐ DÂN GIAN - DÂN TỘC TRONG BIÊN KHẢO, DỊCH THUẬT CỦA TRÚC KHÊ NGÔ VĂN TRIỆN 90

3.1 Yếu tố dân gian - dân tộc trong các tác phẩm biên khảo 90

3.2 Yếu tố dân gian - dân tộc trong các tác phẩm dịch thuật 95

3.2.1 Yếu tố dân gian - dân tộc trong các tác phẩm dịch thơ 95

3.2.2 Yếu tố dân gian - dân tộc trong các tác phẩm dịch văn xuôi 97

PHẦN KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

PHỤ LỤC 113

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

12 năm trước, nhân Hội nhà văn Việt Nam kết hợp với Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội tổ chức Lễ Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện (Năm 2001), GS Vũ Khiêu đã có đôi câu đối tưởng nhớ ông Trúc Khê:

Trúc đủ ngàn cây ghi khí tiết

Khê dài muôn dặm thả văn chương

Đôi câu đối ghi nhận khái quát về nhân cách và văn tài của Trúc Khê Song thực sự là khí tiết và văn chương của nhà văn dồi dào và tha thiết như thế nào thì điều này vẫn còn ít người tường tận Sau lớp nhà Nho tiên phong trong cuộc bảo tồn vốn dân tộc trong nếp nho học là Phan Kế Bính, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Trần Trọng Kim…là đến Ngô Tất Tố, Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Văn Tố…và Trúc Khê Ngô Văn Triện Không phải ai trong các danh sĩ trên đều được biết đến và biết đến một cách rõ ràng

Trong chương trình văn học ở nhà trường phổ thông hiện nay có các bài học môn Ngữ văn là dịch phẩm của Trúc Khê, có những thông tin về các tác giả được đưa vào phần tiểu dẫn trước tác phẩm là câu chuyện lịch sử, là tư liệu khảo cứu, phát hiện của Trúc Khê Thế nhưng, với nhiều người quan tâm đến văn học trong mức độ hạn chế, hai tiếng Trúc Khê vẫn chỉ nghe quen mà chưa biết

Với những người hiểu sâu về văn học nước nhà, một trong những điều khiến Trúc Khê có vị trí trong hình dung của họ là tinh thần dân tộc Bởi lẽ ông viết rất nhiều về các danh nhân lịch sử, dịch nhiều văn thơ chữ Hán của các anh hùng dân tộc, các danh sĩ nổi tiếng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Dữ (có người gọi là Nguyễn Dư), Cao Bá Quát, Mặt khác, ngôn ngữ trong những

tác phẩm dịch như Truyền kỳ mạn lục, Tang thương ngẫu lục và lối suy luận,

Trang 7

cách diễn đạt, trong nhiều sáng tác của ông mang đậm nếp nghĩ dân gian đầu thế kỷ XX

Trước tiên, chúng tôi xin được giải thích về tên đề tài của mình Khi cộng đồng người khi phát triển đến trình độ dân tộc cũng là lúc ở họ hình thành nhà nước Ngay từ những buổi đầu ấy, văn hóa dân tộc bao gồm hai dòng dân gian và dòng bác học (tinh anh) Văn hóa dân gian là văn hóa do dân sáng tạo, lưu truyền và hưởng thụ Văn hóa dân gian là nền tảng của văn hóa bác học Cả dân gian và bác học tạo thành dân tộc Nói đến dân gian là nói đến ngôn ngữ, cách cảm xúc, các suy nghĩ, phong tục tập quán của người dân Nói đến dân tộc là nói đến lòng yêu nước, lịch sử dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó văn hóa dân gian chiếm một vị trí quan trọng, mặc dù trong một

số trường hợp nó chưa đạt được chiều sâu như văn hóa tinh anh Chính vì thế, chúng tôi bàn về yếu tố dân gian - dân tộc (với dấu nối liên kết không tách rời) khi tìm hiểu văn nghiệp của một nhà văn sống và sáng tác trong nửa đầu thế kỷ XX Trong luận văn này chúng tôi không chia dân gian và dân tộc làm hai mảng tách riêng để đi vào nghiên cứu Chúng tôi để một ranh giới mềm, cũng có khi là hòa kết giữa hai yếu tố đó, giao thoa khăng khít

Mỗi nhà văn đều sống và viết từ một mạch nguồn văn hóa chủ lưu và từ lưu vực dòng chảy thời đại Trong đó, tình yêu dành cho cộng đồng dân tộc, miền văn hóa đã nuôi nấng tâm hồn người sáng tạo là vô cùng quan trọng Dòng sông văn hóa sống đã chảy rất tự nhiên vào tâm trí người viết văn và đọng lại trong mỗi thể loại, mỗi tác phẩm bằng dấu ấn nhất định Dù dấu ấn có thể hiển hiện hoặc ẩn sâu Đặc biệt vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, sống trong cảnh nước mất nhà tan, chịu sự kiểm duyệt gắt gao của chế độ thực dân, thì việc giữ và truyền văn hóa dân gian - dân tộc cũng là biểu hiện vô cùng đáng quý của lòng yêu nước:

Non sông bốn mặt mưa hòa gió Giời bể muôn trùng nước lẫn mây

Trang 8

Tổ Quốc dễ âu còn khí sắc Nam nhi chớ để thẹn râu mày (Lên đài thiên văn ngắm cảnh – Trúc Khê)

Niềm tin vào tương lai của dân tộc và ý thức trách nhiệm với giang sơn khi được truyền vào mỗi tác phẩm thì sẽ lan thấm sang người đọc Lịch sử có những giai đoạn như “lửa thử vàng” với văn nhân Không chỉ thử văn tài mà còn là đo nghị lực, tâm ý từ bước chọn đường

Lớp người chuyển giao thế hệ sáng tạo văn chương mới bao gồm các nhà văn sinh vào khoảng cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thế kỷ XX (nếu khoảng sau đó mươi năm thì lại khác) Khi ở tuổi thiếu niên (trước năm 1915),

họ được gia đình nuôi học chữ Hán để hướng đến khoa cử Nhờ vậy, họ có gốc kiến thức Hán học sâu vững hơn đa số các tác giả sinh sau thời kỳ nhà cầm quyền thực dân bỏ khoa thi năm 1915 Vì sau khoa thi Hán học cuối

cùng, việc học Hán ngữ bị mai một khá nhanh

Liền sau với Tản Đà – người được mệnh danh là gạch nối giữa hai thời đại thi ca, Trúc Khê cùng một số gương mặt cùng thời tạo lập một sự kết nối chuyển dòng tới thế hệ sau Trúc Khê sinh năm 1901, sớm hơn một thập niên

so với các nhà thơ, nhà văn nổi tiếng giai đoạn 1930-1945 Vì hầu hết, các cây bút này được sinh sau năm 1910 Họ thuộc thế hệ trẻ hơn nhà văn Trúc Khê,

họ là những người mới hơn Nhưng có thể khẳng định rằng không có sự làm nền của một thế hệ nối đệm thì khó có “cuộc hòa nhạc tân kỳ” (Hoài Thanh) liền sau hoặc cùng vang vọng Trong dàn nhạc ấy, Trúc Khê là một cây đàn thuộc bè trầm, có lúc như nhẹ êm, nhưng đã làm tăng sức hấp dẫn của nhiều điệu đàn vút cao Khúc trầm ấy của văn chương Trúc Khê không nổi lên trong những cao trào nhưng bền bỉ và ấm vững thanh âm

Chúng tôi cũng xin đề cập đến tính cần thiết của đề tài khi thế hệ Vàng

đã trong bụi thời gian Như GS.TS Trần Ngọc Vương luôn có những băn khoăn khi giảng bài cho các thế hệ học trò của ông: “Trong lịch sử văn học đầu thế kỷ XX, trước năm 1945, có giai đoạn không được tái hiện đầy đủ các

Trang 9

gương mặt của một thời Những gì có được vẫn rất thiếu khuyết Chúng ta cần phải khắc phục sự đứt gẫy văn hóa.” Đó phải chăng là tiến trình vận động trước và trong cùng một thế hệ các tác giả Bên cạnh đó, cũng không loại trừ ngay cả bước tập dượt tìm đường ở chính mỗi cây bút Bởi vì, chúng ta cùng hiểu rằng không thể từ chữ nghĩa khoa cử thời đầu thế kỷ XX mà sang ngay

được phong trào Thơ mới cũng như văn xuôi Tự Lực Văn Đoàn

Đáng trân quý là trong số đó có không nhiều lắm những người đã làm chủ tình hình bằng lấy xưa tặng sau Vốn Hán học không phải để cũ nhàu trong rương hòm hay hoài cổ trong tâm trí, mà được văn sĩ dùng làm phương tiện chuyển dịch tác phẩm sang thành chữ quốc ngữ, và truyền bá tri thức cổ bằng cách thật thức thời Giữa thời “mưa Âu gió Mỹ”, nhà văn vươn lên năng động với những sáng tác, dịch thuật để nuôi gia đình và nuôi văn tài bằng từ cội gốc cũ, đó cũng chính là cách đến với cái mới Trúc Khê Ngô Văn Triện

viết biên khảo Hùng Vương diễn nghĩa, dịch Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi,

dịch thơ Cao Bá Quát… Ông là một trong những người biến mình thành phiên

- dịch - viên - của - thời - đại

Hiện tại cũng đã là muộn màng, nhưng việc thực hiện những tìm hiểu khảo sát này vẫn còn khả thi Nếu như chậm quan tâm đến các tác giả của một thời đã xa và đang tiếp tục xa nữa thì việc khôi phục sẽ rất khó khăn từ người nghiên cứu đến “nếp” tiếp nhận của công chúng Các tàng thư đang nát, việc

số hoá của cấp quản lý nhà nước với các tác phẩm đầu thế kỷ XX còn rất lâu mới quán xuyến hết được Đó là chưa kể “định kiến” chỉ trọng đỉnh cao, như thể trong ngọn núi văn chương cái bộ phận là nền, là sườn ít được quan tâm Cho dù cái đỉnh nào cũng cần đứng trên nền, tựa trên sườn trụ đỡ, chuyển tiếp Nền đất, sườn non đó là những Nguyễn Đôn Phục, Hoa Bằng, Nguyễn Văn Tố… và Trúc Khê Ngô Văn Triện

Thiết nghĩ, chúng ta còn đang thiếu sót khi chưa có những tìm hiểu sâu

kỹ và chưa có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về lớp người như thế hệ

Trang 10

Vàng đang bị phủ bụi thời gian dày đặc này, cho dù sự phôi phai đang mỗi ngày một đáng quan ngại

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tính đến nay, tuy đã có khá nhiều bài viết đánh giá về con người và văn nghiệp của Trúc Khê song chủ yếu lại là những bài báo, bài nghiên cứu, bài tựa sách in tác phẩm của nhà văn, chứ chưa có công trình nào nghiên cứu kỹ càng, bài bản Chưa có nghiên cứu nào có dung lượng hơn 5000 từ được in ấn, xuất bản về thân thế cũng như sự nghiệp của Trúc Khê Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi tìm đến một số bài viết của những người bạn văn tưởng nhớ Trúc Khê trong các dịp Hội Nhà văn Hà Nội kỷ niệm 90, 100 năm ngày sinh của ông Ngoài ra, là các bài được công bố trên các báo nhân dịp sinh nhật ông, hay kỷ niệm ngày giải phóng Thủ đô, ông được chọn viết với tư cách là danh nhân Hà Nội Đó là các bài viết của các GS.Vũ Khiêu, nhà văn Tô Hoài, các nhà thơ Vũ Quần Phương, Lữ Huy Nguyên, Nguyễn Bao, tác giả Hoàng Lại Giang,…

Trước đây, tác phẩm của Trúc Khê được in tại Trúc Khê thư cục do ông lập nên, tại một số nhà in như Kim Đức Giang ấn quán, Vĩnh Thịnh, Thực

Nghiệp… và báo chí đương thời Sau này, con trai trưởng của ông là Ngô Văn

Trưng lập nên Trúc Khê thư xã để xuất bản sách của cha mình Năm 1997, nhà xuất bản Văn học in hai tập Thơ văn Trúc Khê Ngô Văn Triện tuyển chọn

một số tác phẩm đã in, đã đăng báo của ông để giới thiệu đến bạn đọc Và

cách đây 10 năm, Tuyển tập Trúc Khê Ngô Văn Triện do Nhà xuất bản Vǎn

hóa thông tin, ấn hành năm 2003 (với dung lượng 1157 trang) đã ra mắt độc

giả

3 Phạm vi nghiên cứu

Sống trong thời kỳ “chuyển giao”, nhà văn Trúc Khê đã làm việc hết mình và để lại một sự nghiệp khá đồ sộ Trong cuộc đời cầm bút khoảng 20 năm của ông, Trúc Khê đã để lại khoảng 60 cuốn sách Khái niệm văn nghiệp

mà chúng tôi nêu ở đề tài luận văn này không thể bao quát hết tất cả những tác

Trang 11

của phẩm Trúc Khê Ngô Văn Triện Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ xin được chọn một số tác phẩm tiêu biểu của mỗi thể loại trong sáng tác, biên khảo và dịch thuật (từ Hán ngữ) của Trúc Khê, để từ đó có thể tìm hiểu yếu tố dân gian - dân tộc trong văn nghiệp của ông Người thực hiện luận văn sẽ chọn lọc đi vào phân tích một số trang nhật ký ghi lại những năm tháng sống và sáng tác của Trúc Khê Ngô Văn Triện, trong khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XX (1901 - 1947), với dấu ấn của những chuyển đổi thế thời

Đó là hành trình của một nhà văn trong giai đoạn nhiều thử thách với “nghị

lực văn chương”, thử thách tài năng và lòng thành với nước, với đời

Đề tài theo hướng tìm hiểu và phân tích yếu tố dân gian - dân tộc trong thơ văn sáng tác, biên khảo và dịch thuật của Trúc Khê nên sẽ là một khối lượng công việc rất lớn Ngay cả chỉ mong đọc đủ số lượng tác phẩm của nhà văn đã cần một sự cố gắng và lắng tâm rất nhiều Và cũng chỉ dám gọi là sơ khởi bình luận về đời văn của một người uyên thâm, tài hoa, sống trong bão táp chính trị và đa sắc văn hóa của một thời đại đặc biệt, là rất khó Với khả năng hạn hẹp về kiến thức, lại xa về thế hệ, nên việc nghiên cứu đề tài này, với chúng tôi, là thử thách rất lớn Thực tế, phạm vi ngỡ rất rõ nhưng cũng rất khó bao quát Đó là yếu tố dân gian - dân tộc từ những nét chính trong đời người và đời văn của Trúc Khê Ngô Văn Triện

4 Mục đích nghiên cứu

Luận văn trình bày và phân tích yếu tố dân gian - dân tộc trong sáng tác

và biên khảo, dịch thuật của Trúc Khê Ngô Văn Triện, qua đó giúp người đọc nhận diện sâu hơn và kỹ hơn về một nhà văn còn chưa được tìm hiểu nhiều

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn, chúng tôi đã:

+ Sưu tầm, tập hợp các tác phẩm sáng tác, biên khảo, dịch thuật của nhà văn Trúc Khê Các tư liệu khác như mảng báo chí và nhật ký của nhà văn cũng được chú ý để nhằm có cái nhìn đầy đủ về ông

Trang 12

+ Sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học ở phân tích tác phẩm, liên hệ với tiểu sử tác giả, với những sự kiện văn hóa, lịch sử đương thời

+ Phỏng vấn những người thân của nhà văn và GS Hà Minh Đức, vị giáo sư cao niên để hiểu thêm bối cảnh báo chí và văn học thời Trúc Khê cầm bút

+ Đi thực địa về quê hương nhà văn, thăm gia đình các con của tác giả cũng

như thăm tư gia và mộ phần một nhà văn cùng thời với Trúc Khê

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu dày dặn đầu tiên, nghiên cứu một cách có hệ thống về văn nghiệp của Trúc Khê Ngô Văn Triện, làm rõ phẩm

chất dân gian – dân tộc trong sáng tác, dịch thuật và biên khảo của ông

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có ba chương chính:

Chương 1 VẤN ĐỀ DÂN GIAN - DÂN TỘC TRONG NHỮNG THẬP

NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ CON NGƯỜI TRÚC KHÊ NGÔ VĂN TRIỆN

Chương 2 YẾU TỐ DÂN GIAN - DÂN TỘC TRONG SÁNG TÁC CỦA TRÚC KHÊ NGÔ VĂN TRIỆN

Chương 3 YẾU TỐ DÂN GIAN - DÂN TỘC TRONG BIÊN KHẢO, DỊCH THUẬT CỦA TRÚC KHÊ NGÔ VĂN TRIỆN

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 VẤN ĐỀ DÂN GIAN - DÂN TỘC NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ CON NGƯỜI TRÚC KHÊ NGÔ VĂN TRIỆN

1.1 Không khí thời đại và sự phát triển văn học nửa đầu thế kỷ XX

1.1.1 Không khí thời đại

Sau mười thế kỷ chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, đầu thế kỷ

XX văn học Việt Nam bước vào quá trình hiện đại hóa văn học, một xu hướng tất yếu Tuy nhiên, văn học Việt Nam không đi thẳng từ truyền thống đến hiện đại mà phải trải qua một giai đoạn giao thời Xuất phát từ truyền thống, trước khi đạt tới giai đoạn phát triển hiện đại, văn học trải qua nhiều thử nghiệm, đôi khi cần cả những cống hiến, hy sinh lặng thầm

Sau khi đã thiết lập xong chính quyền thuộc địa và bước vào những cuộc khai thác lớn, thực dân Pháp đã ra sức gieo rắc tư tưởng nô lệ, vong quốc Các nhà Nho yêu nước nhanh chóng nhận ra điều đó và đã đấu tranh gìn

giữ tinh thần và bản sắc dân tộc Theo “Mấy nhời nói đầu” trên Nam phong

tạp chí số 1 tháng 7 năm 1917, người Pháp vẫn thường kẻ cả: “Thiên chức

của nước đại Pháp xưa nay vẫn là đi dạy cho dân các nước biết phát triển cái quốc túy của mình, khiến cho mỗi dân mỗi nước biết mình có một cái nhân cách riêng mà sống theo nhân cách ấy” Song mọi việc làm của thực dân Pháp lại trái ngược với lời nói Trọng trách làm cho dân mình biết chúng ta cũng có quốc túy để tự hào lại đặt trên vai các bậc trí thức đầu thế kỷ, những nhà Nho tiến bộ, duy tân Có thể thấy đó là bước “Đến hiện đại từ truyền thống” (tên một tác phẩm của PGS Trần Đình Hượu), vì các nhà Nho tiến bộ đã là nhịp cầu chứ không phải là bước cản làm chậm lại tiến độ của cái mới, như những

ai đó chưa thấu hiểu sai Trong giáo trình viết về nhà yêu nước Phan Châu Trinh, tác giả tập thơ “Xăng-tê thi tập”, TS Trần Hải Yến đã nhận định: “Sự xuất hiện dày đặc thành ngữ, tục ngữ trong một tập thi tù mà lại là thi tù hải ngoại trên thực tế đã hàm rất nhiều ý nghĩa Ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh

Trang 14

khía cạnh: với việc làm đó, Phan Châu Trinh dường như đã làm một cuộc tổng duyệt lại các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc nhờ sự tiếp nhận những tư tưởng thời đại.” [36; 228]

Chứng kiến sự thất bại của thế hệ cha anh khi đấu tranh vũ trang trong điều kiện quá chênh lệch về vũ khí và kỹ thuật tác chiến, các nhà Nho yêu nước và duy tân đã tìm đến một con đường khác, mà bước khởi hành là “khai dân trí, hưng dân trí” Ý thức được sự tất yếu của quá trình hiện đại hóa văn học, ý thức được sự thắng thế tất yếu của văn học mới, các nhà Nho yêu nước lớp trước đã thu góp và tôn vinh giá trị tinh thần cả nghìn năm như thể để trao lại thế hệ mới Phan Kế Bính, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Trần Trọng Kim… thuộc thế hệ nhà Nho lớp trước đi đầu bảo tồn “cái hương hỏa Nho học” Ngô Tất Tố, Nguyễn Văn Tố, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Hoàng Thúc Trâm… thuộc lớp học giả tiếp nối sự nghiệp tôn giữ văn hóa dân tộc đó

Họ đã sớm nhận ra nhiệm vụ của mình sau khi bao người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống, bao nhiêu máu và nước mắt đã đổ, mỗi tấc đất quê hương đều mang hồn dân tộc với linh khí tổ tiên, của những nỗi đau đời, của những khát vọng,…tất cả tạo thành truyền thống dân tộc Nhiều cây bút viết văn, viết báo chân chính đầu thế kỷ XX muốn khơi gợi lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc của người dân Việt Trúc Khê là một trong những tác giả tiêu biểu cho những người vừa làm văn, vừa làm báo, chuyển đổi từ mô hình nhà Nho sang kiểu người trí thức hiện đại Ông không còn là nhà Nho thuần túy song cũng không phải là con người hoàn toàn thuộc về hiện đại Đời văn của ông chính

là quá trình nỗ lực vượt qua cái cũ, đến với cái mới mang theo biệt sắc của

riêng mình Nét biệt sắc (từ dùng của GS.TS Trần Ngọc Vương khi nhận xét

về trường hợp củaTrúc Khê) chính là tinh thần dân tộc Tìm hiểu Trúc Khê và lớp nhà văn như ông cũng là để thấy rõ vị trí và đóng góp của họ trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, của điều kiện xã hội, điều này ai cũng rõ và có thể mở rộng, đi sâu với những minh chứng đầy thuyết phục

Trang 15

nhưng điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là một văn nhân khi cầm bút chắc chắn đã hòa cái chủ quan của mình trong dòng chảy thời đại Các yếu tố thường được xem xét khi nghiên cứu một tác giả văn học thường là mối liên

hệ giữa người đó với cuộc sống, với môi trường tự nhiên xã hội, với thời đại, với bối cảnh văn học văn hóa, cả về mặt đồng đại và lịch đại, làm cơ sở cho hoạt động sáng tạo của tác giả này Có những câu thơ, áng văn chỉ được viết trong thời của nó mới có được khí thế hay nỗi đau đó, thậm chí, mới có những hạn chế đó Một thời gió bão văn hóa giữa cũ và mới, trong và ngoài, dân gian- dân tộc và ngoại lai như những thập niên đầu thế kỷ XX vừa là thách thức, vừa là cơ hội thử thách tài năng và bản lĩnh của người cầm bút

Trước thế kỷ XX, suốt hàng mấy thế kỷ sự sáng tạo văn chương ở ta có một bộ phận đáng kể bị khuôn trong phạm vi khuôn khổ hướng tới thi cử và sự thành danh sau khoa thi Nhà nho, nhất là các bậc danh nho, vẫn làm thơ viết

văn nhưng thường chỉ xem đó là một cách nói chí mình ( ngôn chí ), trong lòng

có hứng thì viết ra (mạn hứng) Họ sáng tác là để phần nào tu dưỡng tính tình,

đôi khi là tự tiêu khiển Xét về hiệu quả, tác phẩm viết ra không để cho ai khác đọc ngoài chính mình, bè bạn mình, hoặc người sẽ chấm bài thi của mình Đó là khi văn tự (kể cả chữ Hán lẫn chữ Nôm) không thể phổ cập tới đám đông Không có những công cụ xã hội như báo chí, xuất bản để thường xuyên đăng tải Phương tiện thông tin giao tiếp quá đơn sơ, tốc độ chậm chạp, người ta sống với làng thôn nhiều hơn sống với tầm nhìn rộng, mặc dù vẫn luôn luôn nghĩ đến đất nước Trong hoàn cảnh ấy, một tác phẩm văn chương sau khi ra đời thường chỉ được biết tới trong phạm vi một vùng đất nhỏ

Theo nhiều tài liệu đã tiếp nhận và suy ngẫm, chúng tôi xin mạnh dạn nêu ra hai xu hướng khởi phát của nghề văn đầu thế kỷ với hình dung hạn hẹp của mình Một là, người cầm bút coi nghề văn là thiêng liêng, trân quý và tạo nghiệp cẩn trọng Hai là, người viết lách nhận thấy nghề văn có thể là một nghề kiếm sống mà lại mang đến cả ít nhiều danh tiếng nên họ đã chọn như một công việc kiếm tiền Nhưng dù mục đích ban đầu là lập thân hay nuôi

Trang 16

thân thì rồi trong thực tế chắc chắn nhà văn đã có lúc “thăng giáng” theo các hướng không chủ định Vì thực chất khi gánh nặng cơm áo thúc bách cũng khiến văn tài liên tục được phát tiết tinh hoa Với người tài khi viết nhiều rồi

họ sẽ tự cuốn theo dòng chảy sáng tạo của chính mình để hợp lưu với các tác giả cùng thời, sáng tạo này làm nảy sinh sáng tạo khác mà nên nghiệp, sáng danh Nhưng cũng có trường hợp bản lĩnh và tài năng chưa thật vững và rõ, lại chạy ào ào theo tiền tài, danh vọng mà thất thân, lạc mộng Những người này

đã rơi rụng tên tuổi, mờ phai văn nghiệp Những người còn lại với chúng ta hôm nay, sau đến khoảng 70 năm là những nhà văn đáng trân trọng và tìm hiểu sâu kỹ

Khi nói đến văn chương của một thời “nở rộ” cả về số lượng và chất lượng, một giai đoạn tạo thành bước ngoặt, thành đà cho văn học Việt Nam, chúng ta nên tìm hiểu về môi trường văn học, chủ thể văn học, sự tiếp nhận

ảnh hưởng nước ngoài “cân đối” với sự nối tiếp di sản ông cha trong yêu cầu hiện đại hóa văn học

1.1.2 Đôi nét về sự phát triển của văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Bước sang thế kỷ XX, cùng với những đổi thay của tình hình xã hội, sinh hoạt văn chương trở nên dần thay đổi, rồi trở thành khác hẳn Bối cảnh văn học của những thập niên đầu thế kỷ XX mang sự chuyển đổi quỹ đạo và

hệ hình văn học Trong thời trung đại, “văn học việt Nam vừa là một một nền văn học mang tính quốc gia - dân tộc, vừa vận động trong quỹ đạo của vùng

văn học châu Á, lấy văn học Trung Quốc là “cổ mẫu”, làm nền văn học kiến

tạo vùng [36; 63] Như vậy có thể hiểu rằng hệ hình văn học trung đại vẫn tiếp

nối và kéo vệt đuôi dài với cả nét đẹp và cả ít nhiều sự lạc hậu sang đầu thế kỷ

XX Sở dĩ, chúng tôi gọi là lạc hậu là vì văn học Nho gia dù sao cũng không rộng mở Những năm cuối của thế kỷ XIX và sang thập niên đầu của thế kỷ

XX, chưa có nghề văn cho dù nhiều người viết, chưa có cả lực lượng bạn đọc đông đảo bởi hạn chế khó phổ cập của chữ Hán, chữ Nôm Bộ phận văn học bằng chữ quốc ngữ ở Nam bộ đã có những thành công như của Trương Vĩnh

Trang 17

Ký, Huỳnh Tịnh Paulus Của… nhưng vẫn chưa thể coi là rất phổ biến, phổ cập trên toàn quốc Vì thế, nói chung người viết dù có ý thức lưu danh thì cũng không tiên liệu được bề rộng khắp để xác định được mục tiêu dùng văn chương kiến tạo cấu trúc tư tưởng Theo GS.TS.Trần Ngọc Vương: “Văn học bác học truyền thống chưa bao giờ là nền văn học có tính phổ cập rộng rãi” và

“ cho tới cuối thế kỷ XIX vẫn bảo lưu rất đậm tính chất vùng, miền Các bậc

„danh sĩ‟ chủ yếu là „danh sĩ‟ của một xứ, một địa phương cụ thể nào đó” [36; 65] Nhưng khi văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng phương Tây (chủ yếu là Pháp) thì tình hình khác hẳn Sự hiện đại hóa tràn vào như luồng gió mới kích thích sự phát triển của văn học Nhưng cũng phải thấy những quay cuồng nhất định đã diễn ra Trong không gian văn hóa truyền thống là của khu vực nông nghiệp thuần túy, lại ảnh hưởng nho giáo lâu đời bỗng ngập tràn mưa gió mới, bão lốc văn hóa, văn học ảnh hưởng từ phương Tây, tạo ra những khủng hoảng và gây “sốc văn hóa” nhất định cho người đương thời Đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thực dân Thực tế như đã thành quy luật, thời kỳ nào có sự khủng hoảng văn hóa thì lại có hành trình tìm lại các giá trị Thời đầu thế kỷ

XX, các học giả, chí sĩ, nhà văn, nhà báo tiến bộ cũng đã tìm lại “nguồn dưỡng chất trần gian” Bên cạnh đó, lại có sự cộng hưởng với các phong trào cách mạng, hầu hết theo hướng đại chúng hóa Ở một cách hiểu bao quát đại chúng và dân gian có sự tương đồng Đây cũng chính là thời kỳ chuyển hệ hình văn học Đội ngũ sáng tác của hệ hình văn chương truyền thống mà thành phần nòng cốt là nhà Nho “lần lượt rời bỏ vũ đài lịch sử mà cũng từng bước rời bỏ văn đàn, sau khi đã trao lại cho hậu thế những đóng góp cuối cùng” [36; 298] và theo GS.TS Trần Ngọc Vương: “Tản Đà là văn nhân của

hệ hình văn học cũ, nhịp cầu nối hai hệ hình văn học” [36; 306] Xét theo thời gian sống, Tản Đà (1889 – 1939) là lớp người đi trước Trúc Khê đến hơn một thập niên Trước khi ra trình làng làm báo, viết văn, Tản Đà là bậc văn nhân

có những tác phẩm khiến Trúc Khê đã đọc mê say Trúc Khê không là tác giả văn học cùng tạo dấu nối chuyển hệ hình như Tản Đà, mà có thể ông ở trong

Trang 18

nhóm những người mở đầu hệ hình mới sau đó Tuy rằng, văn chương Trúc Khê còn nhiều luyến lưu và có liên quan khó dứt hẳn với hệ hình cũ Có thể thấy, trong đội ngũ các nhà thơ, nhà văn hiện đại là chủ nhân thực sự của hệ hình văn học thứ hai chủ yếu “ra đời trong khoảng những năm 1910-1920” [36; 302] thì với thời điểm được sinh vào năm 1901, Trúc Khê nằm ở chính giữa của chuyển nối từ Tản Đà sang các tác giả hiện đại về sau Văn tài không theo tuổi, nhưng các nhà văn sống ở giữa đoạn giao thời đang hiện đại hóa với tốc độ lớn, thì việc chênh nhau một thập niên sinh thành rất quan trọng

Trong lòng các đô thị mới xuất hiện, một lớp công chức mới hình thành Báo chí sách vở cũng là một bộ phận không thể thiếu trong xã hội Sau báo chí tiếng Pháp, các loại báo chí viết bằng chữ quốc ngữ và các hiệu sách (tiền thân của các nhà xuất bản), lần lượt xuất hiện Hoạt động báo chí cần định kỳ nên tất yếu đòi hỏi cần có những người thường xuyên cung cấp bài vở Một guồng máy sản xuất và tiêu thụ văn chương cứ thế hình thành và mở rộng Như vậy, văn chương lúc này thật đã thoát khỏi tình trạng “tự phát”, “tự cung

tự cấp” trong giới nho sĩ xưa, để trở thành một ngành hoạt động xã hội Sở dĩ chúng tôi bàn về báo chí và xuất bản thời kỳ 1932 – 1945 là vì nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng giống các văn sĩ, ký giả cùng thời vì đã làm văn và viết báo “hai trong một” Trong đó, cũng giống với nhiều bạn cầm bút của mình, ông có được sự năng động của người làm nghề báo và sự sâu sắc của người viết văn Thời đó, cái cách tự trào của các nhà Nho đã giúp chính họ và những người tiếp nối bước vào việc hiện đại hóa văn thơ mình bằng nét cười nhập cuộc, bớt gượng gạo Đặc biệt, họ không hề “hủ nho” như đã có những ý kiến chê bai thiếu thiện chí Vì thế mà thơ văn trào phúng đã là bộ phận xuất sắc nhất, chín nhất của văn học ba thập niên đầu thế kỷ XX Nó được viết ra

từ chính mấy nhà Nho Ấy là khi Nho gia sang thời mới có nhu cầu cười chính mình Tú Xương cười nhiều nhất đến mức người ta như lãng đi mất ông là nhà thơ trữ tình Tản Đà thì mặc dù vẫn làm thơ trữ tình là chính song ông cũng có

phen tự cười:

Trang 19

Chữ nghĩa Tây Tàu trót dở dang

Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng

Xuất thân trong gia đình nhà Nho, Nguyễn Công Hoan có cách sắp xếp giải quyết riêng cụ thể: ông coi con người chân thật của ông là con người thơ Còn cái người viết văn xuôi là phần bỏ đi… Thế là mỗi người mỗi cách, dù có thừa nhận hay lảng tránh nhưng đều tránh nếp quen cũ, đi tìm mình trong một bến bờ mới Thực tế tính tổ chức vốn không phải là mặt mạnh của xã hội bấy

giờ, càng không phải mặt mạnh của văn học Việt Nam Bởi trừ nhóm Tự lực

văn đoàn thì hầu như không có một sự chung lòng đồng thời với nhau hoặc

“bàn giao” để người sau tiếp, song trong sáng tác vẫn như là người này có sự hưởng ứng người kia Như thể tự nhìn nhau mà chuyển đổi, mỗi nhà văn đều phải tự giác nhận tác động của đồng nghiệp và điều chỉnh mình Trúc Khê Ngô Văn Triện hướng theo các thơ văn của các Nho gia suốt thời trẻ trai của mình Đến giữa những năm 20 của thế kỷ trước, ông mới nhận ra việc mình phải có bước tiếp nối, phát triển, chứ không thể chỉ hoài cổ Và ông đã trăn trở:

Trời bắt sinh ra kiếp học trò Học trò sinh phải bước đa lo

Lo nhà, lo nước, lo thân thế, Nhà khó, thân hèn, nước rủi ro

Nhà khó, thân hèn, nước rủi ro, Lòng ta trăm mối rối như vò

Kiếp sau thôi chớ làm người nữa, Làm kiếp chim bằng ta tự do

(Kiếp học trò)

Có thể thấy, điều cần chú ý là nhiều nhà Nho đầu thế kỷ ngỡ “cũ” lại đi

về phía mới trong xu hướng đi đến dân tộc Trúc Khê là một nhà Nho thức thời Ông không coi viết văn kiếm sống là có gì không tốt, vì nhà Nho xưa

Trang 20

thường không tham gia vào việc kiếm tiền, thậm chí khinh bỉ việc kiếm tiền là

“trục lợi” Nhưng Trúc Khê chăm chỉ và năng động dùng ngòi bút kiếm tiền nuôi cả gia đình Ông thích sự tài tử và tài văn của Tản Đà nhưng ông lại sống theo cách khác Trúc Khê là người chồng, người cha lo cho cả một gia đình với vợ ốm, con đông Đến mức khi ông mất, thì cả gia đình ông khốn đốn Vì ngoài nỗi đau về tình cảm, cả nhà còn không biết phải lấy gì để sinh sống Sinh thời, để kiếm tiền, ông viết sách, viết báo, dịch thuật rất nhiều Nhưng điều có thể thấy ngay là tất cả những gì ông viết ra đều hướng về tinh thần dân tộc Trúc Khê cũng giống các nhà Nho tiến bộ đương thời quan niệm về tinh thần dân tộc là lòng yêu nước và ý thức góp công vào phát triển, mở mang văn hóa dân tộc Ông cũng không bị “hủ nho” mà ông sẵn sang ca ngợi cái hay, sự tiến bộ đến từ bên ngoài Trong bài “Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930”, PGS.Trần Đình Hượu nhận định rất thấm thía: “Ta cũng chứng kiến việc một số nhà Nho ra thành phố sinh nhai bằng nghề viết văn Sống ở thành thị và với những người thành thị, bản thân họ cũng thành thị hóa Họ đưa vào văn học cũ những xúc cảm cá nhân, những cảnh vật, không khí thành thị và vì nghề nghiệp viết văn bán cho công chúng họ đã ra công khai thác tất

cả những kinh nghiệm sáng tác trong ca dao dân ca và các truyện Nôm của các nhà nho tài tử thế kỷ trước, tìm những cái gì thích hợp để nói về cuộc sống mới, con người mới ở thành thị Họ cũng mang vào lịch sử văn học dân tộc những cách tân đáng kể về nội dung, nghệ thuật và quan niệm văn học” [7; 437] Trúc Khê Ngô Văn Triện là một trong những trường hợp có thể hội tụ thành nhận xét trên của nhà nghiên cứu Song ở Trúc Khê cũng có những nét riêng biệt có thể đi sâu tìm hiểu thêm

Xin được trở lại với nhóm Tự lực văn đoàn Nhóm này hoạt động văn

học một cách chuyên nghiệp và rất thành công Trong đó phải kể đến đóng góp của Nhất Linh Lịch sử văn hóa Nhật Bản xác nhận là người Nhật cũ mê văn hoá Trung quốc quá thường cử người sang tận nơi để học, học lấy bằng, tức biết làm đúng như người Trung Quốc rồi mới về làm theo cách của

Trang 21

mình Chúng ta cũng không quên rằng trước khi qua Pháp, Nhất Linh đã viết

cho Nam Phong và đã có Người quay tơ, Nho phong Cái khác của một

tờ Nam Phong so với báo chí đương thời ở chỗ đây là loại tạp chí, không đi

vào tin tức thời sự mà đi sâu vào biên khảo Vậy là, Nhất Linh là một trong số

ít người làm việc một cách có ý thức: ý thức từ bỏ (tức là dù đã có một sự nghiệp rồi vẫn bỏ sự nghiệp đó mà đi) và ý thức tiếp nhận nên đã sang Pháp

Cứ như vậy, cái mới và tính chuyên nghiệp tràn vào Có thể thấy văn học thời

kỳ này chuyển đổi rõ nhất là ở thơ Chưa bao giờ ở Việt Nam, văn học được

“xã hội hoá” rộng rãi như vậy Trong lĩnh vực tiểu thuyết, không có một phong trào rầm rộ Người ta cứ lặng lẽ làm Nhưng thỉnh thoảng, họ vẫn nói với nhau một vài câu chuyện nghề nghiệp Các nhà văn thời Trúc Khê rất trọng nhau và thường sẻ chia theo cách của mỗi người nhưng vì đó là buổi bình minh khi thơ văn thành nghiệp nên điểm chung khiến mọi người cùng rất

dễ tiến bộ là ai cũng trọng nghề văn và coi viết và sáng tạo “khơi những nguồn chưa ai khơi” là những điều thiêng quý Trúc Khê cũng vậy, đọc ông, chúng ta thấy rõ ý thức trách nhiệm của con người với cuộc đời Cho dù, thời

đó chưa có tổ chức nghề nghiệp, chưa có Hội Nhà văn nhưng ai có tâm với nghề đều gần như có ý thức “hội viên” hội sáng tạo văn chương giúp đời Đã từng có nhiều nhận định được tán đồng về người Việt quen và giỏi tính việc trước mắt là hơn tính chuyện lâu dài, thích thiết thực và trọng thực hành hơn lí thuyết Nhận xét ấy có lẽ cũng đúng ở lĩnh vực văn chương Như vậy, sản phẩm văn học của thời đầu thế kỷ XX là những gì mà người đương thời thấy có thể viết, có thể truyền bá là làm Những trăn trở của nhà văn Hộ trong

“Đời thừa” của Nam Cao về việc không thể cho ra đời thứ văn chương “quấy loãng” và điều nhức nhối rằng cẩu thả trong văn chương là “khốn nạn” phản ánh ý thức của người cầm bút lúc đó Cách tự răn như thế khiến các nhà văn thời đầu thế kỷ XX thật đáng trân trọng Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng cần kiếm tiền nuôi gia đình nhưng ông đã chọn cho mình hướng đi riêng, cách sáng tạo riêng Ông không lý thuyết cao đàm khoát luận mà âm thầm theo

Trang 22

đường văn với hành trang là tinh thần dân tộc và quý trọng những nét đẹp đã qua thử thách của thời gian Thế nên dù có thể bị chê là chưa đổi mới mạnh

mẽ, nhưng ở tác giả này tuyệt đối không có bước đi quá rồi lùi lại Xin được nhớ lại rằng, khi tổng kết phong trào Thơ mới, Hoài Thanh đã nhận xét là chỉ sau một ít có vẻ như xa lánh, khinh rẻ, các nhà thơ mới lại nhanh chóng quay

về với truyền thống thơ Đường, và nếu được bổ sung thì phải nói có cả truyền thống dân gian Sự kiên định và “biết mình biết người” của Trúc Khê là một điều rất rõ

Khi tìm hiểu về Trúc Khê, chúng ta cần quan tâm đến quan hệ của văn chương và báo chí đương thời Trúc Khê là một nhà báo với số lượng bài viết rất lớn Đã làm báo thì thời nào cũng cần sự năng động Và việc kết nối được người viết văn với làm báo vừa ngỡ là đương nhiên, vừa như thử thách Thông thường nhiều tác giả nếu say viết tác phẩm dài thì biếng viết từng bài báo nhỏ hơn, và ngược lại Nhưng trong suốt hành trình của mình, Trúc Khê đã viết báo nhiều và đều trên mọi nẻo đường sáng tạo thơ văn, cũng như dịch thuật, biên khảo Đấy là ở thời kỳ có thể thấy mối quan hệ giữa văn và báo thật lạ

kỳ, cho dù báo chí chưa hẳn là văn chương, văn chương không phải là báo chí Nhưng có thể nói trên thế giới, từ khi có báo chí đến nay, đặc biệt là càng về sau, báo chí và văn chương càng gắn bó, có duyên nợ với nhau như hai người

bà con gần gũi nhất Báo chí nhờ sức mạnh của văn chương để lôi cuốn người đọc Văn chương nhờ báo chí mà thêm điều kiện phát triển, nhất là ở buổi đầu hình thành nền văn học Việt Nam hiện đại Ở buổi đầu này, báo chí là nơi làm giàu kho tàng ngôn ngữ và tạo giúp cho văn chương dễ dàng hơn trong việc chuyển ngôn ngữ từ phạm trù trung đại nhiều chất bác học, ước lệ sang phạm trù hiện đại lấy ngôn ngữ toàn dân, ngôn ngữ đời thường làm chất liệu chủ yếu Báo chí là nơi các nhà văn luyện bút, bởi phần lớn các tác phẩm ra đời trong thời kỳ đầu của nền văn học hiện đại này được báo chí công bố trước khi in thành sách ở nhà xuất bản Đúng là báo chí không phải là văn chương nhưng văn chương cũng là một thành tố không thể thiếu của báo chí Có văn

Trang 23

chương, báo chí có thêm sức mạnh Duyên nợ giữa báo chí và văn chương sẽ ngày càng trở nên gắn bó và sẽ là duyên nợ truyền kiếp

Nhờ con đường tỏa khắp và giao diện rộng của báo chí, văn chương có sức tác động lớn đến cách sống, cách nghĩ của bạn đọc đương thời Ở vào thời điểm đó, trong tình hình đó, nhà văn và nhà báo dường như là một Nhà văn làm cho những bài báo hấp dẫn hơn và việc phải viết cho báo định kỳ đã khiến

họ chăm chỉ một cách đều đặn hơn, khẩn trương hơn Không ít tác phẩm lớn

có được khi xâu nối các kỳ truyện được viết ra mặt báo Những tờ báo ra đời

trước 1932, ít nhiều có liên quan nhiều đến văn học, bao gồm: Đông Dương

tạp chí, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ tân văn, An Nam tạp chí v.v… Các tờ báo

này thường có mục văn uyển giới thiệu thơ văn mới sáng tác cũng như thơ văn truyền tụng đã lâu, nay được sưu tầm, ngoài ra, còn có phần văn dịch Trong việc hình thành nền quốc văn mới, báo chí có gì đó giống như nơi người ta tập tành, để chuẩn bị cho những bước đi dài rộng hơn sau này Nghề báo mới chỉ

du nhập vào xã hội Việt Nam từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX, sau đó trở thành một hoạt động quen thuộc trong xã hội từ nửa đầu thế kỷ XX Báo chí đồng hành cùng với văn học hiện đại Dẫu rằng nghề làm báo vốn từ Tây phương truyền sang, song một số người đứng ra viết báo đầu tiên lại ở xứ

ta (rõ nhất là ở Hà Nội ) lại là các cụ đồ nho biết chữ Hán (mà người xưa quen gọi là chữ nho) Các cụ đã có một vốn văn hoá căn bản và chữ quốc ngữ lại dễ học với mọi người Các cụ tìm thấy trong việc làm báo một điều kiện tốt để thực hiện cái chí đã hấp thụ từ đạo thánh hiền “nhất ngôn khả dĩ hưng bang”, nói nôm na như con người ngày nay tức là báo chí có thể là một công cụ tốt

để đóng góp cho xã hội và trước tiên là giáo dục quần chúng Báo chí lại càng

dễ lẫn với văn học là vì thế

Sự thực thì những nhà báo nổi bật trong thời kỳ mới có báo, phần lớn

lại là những nhà văn Trong một số sách lịch sử văn học, Tự lực văn đoàn

thường được miêu tả như một nhóm nhà văn đại diện cho chủ nghĩa lãng mạn,

xa rời đời sống Song công bằng mà nói, chính trong tôn chỉ của mình, Tự lực

Trang 24

văn đoàn đã đặt vấn đề “ca ngợi những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính

cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân”

[57]

Như các nhà nghiên cứu thường nhận xét, nhìn chung văn học Việt Nam từ khoảng 1920 trở đi có tốc độ biến chuyển rất mau lẹ Sở dĩ vậy vì chỉ trong có đâu vài chục năm, nền văn học ấy đã diễn lại những bước đi của các nền văn học Âu châu trong một thời gian dài từ thế kỷ XIX về trước, tức là đi qua cả mấy giai đoạn: Chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa khai sáng, chủ nghĩa lãng mạn, rồi bộc lộ một cách đầy đủ hơn ở chủ nghĩa hiện thực

Có thể nói tình yêu tiếng Việt và khát vọng xây dựng một nền văn chương hiện đại bằng tiếng Việt đã là một trong những nhân tố chính yếu làm nên giá trị của nhiều cây bút cũng như làm nên sự thống nhất của các nhà văn vốn thuộc về các tầng lớp xã hội khác nhau, và tồn tại ở những thời điểm khác nhau Ở đây có một điều khá thú vị là có một cuộc chạy tiếp sức Một thế hệ

ra đời thường tự khẳng định bằng cách phê phán thế hệ đi trước, qua đó, tìm

ra cách đóng góp riêng của thế hệ mình để thúc đẩy công cuộc xây dựng tiếng

Việt và văn học dân tộc đi thêm một bước mới Tự Lực văn đoàn là một bước

tiến so với Hoàng Ngọc Phách và Hoàng Tích Chu, thì sau đó, một số nhà văn

thuộc nhóm Tân Dân, như Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Nam Cao, Tô Hoài lại là một bước đi khác Tự Lực văn đoàn Ngay từ 1957, một nhóm các nhà nghiên cứu, khi viết Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, đã nhận xét: “Chỉ cần năm

mươi năm cũng đủ cho văn xuôi Việt Nam từ những bước lững chững mò mẫm thời Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của tiến lên thành một công cụ diễn đạt được cái cảm kích thâm trầm của Thạch Lam, cái duyên dáng đãi bôi của Đoàn Phú Tứ” [57]

Viết văn bằng tiếng Việt là một điều ngày nay ai cũng coi là hiển nhiên, nhưng hồi đầu thế kỷ lại bị đặt thành câu hỏi, vì thực tế trên nửa thiên niên kỷ trước đó, cả văn chương bằng chữ Hán và văn chương bằng chữ Nôm cùng

tồn tại, và tới đầu thế kỷ XX, thì khả năng xây dựng một nền văn chương viết

Trang 25

bằng chữ Pháp, tuy thấp nhưng không phải là không có Vậy là ngay trên “sân nhà”, tiếng Việt vẫn phải giành giật lấy vị thế của mình, và chỉ tới những năm

40 của thế kỷ XX, chiến thắng của nó mới được coi là hoàn toàn Có thể cắt

nghĩa sự toàn thắng ấy bằng xu thế thời đại

Một mặt, từ thời kì này, có những tờ báo chuyên về văn chương, hoặc chủ yếu là văn chương có khuynh hướng riêng, lực lượng viết ổn định, để lại

dấu ấn trong đời sống văn học như Phong hoá, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ bẩy,

Tao đàn, Thanh Nghị, Tri Tân Mặt khác, các nhà xuất bản tương đối bề thế

làm ăn có quy củ cũng bắt đầu hình thành, để lần lượt công bố những ấn phẩm nổi tiếng, trong đó có một số sẽ còn mãi với lịch sử văn học Đó là các nhà

xuất bản Đời Nay, Tân Dân, Mai Lĩnh, Tân Việt v.v

PGS.TS Đoàn Đức Phương trong bài “Tiếp nhận văn học từ góc nhìn

văn hóa” đã viết: “Hướng tiếp nhận văn học từ quan điểm văn hóa ưu tiên cho việc phục nguyên không gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học ra đời” [13] Hướng tiếp nhận này thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nét thời đại của tác phẩm Quan niệm về con người gắn với hoàn cảnh lịch sử cụ thể Hình tượng con người trong văn học mang những phẩm chất gắn với một nền văn hóa nhất định là quan niệm đúng đắn Và nhà nghiên cứu cũng đưa ra nguyên tắc của tiếp nhận văn học từ góc nhìn văn hóa là “đi tìm ảnh hưởng không chỉ của văn hóa đương thời đối với văn học mà còn truy nguyên đến các truyền thống văn hóa của cộng đồng” [13; 52] Vì những lẽ đó khi hiểu thời đại mà tác giả đang sống cũng như truyền thống văn hóa thấm sâu trong lối sống của một cộng đồng dân tộc là đúng đắn Vậy nên khi đọc thơ Trúc Khê, người đọc hiểu những vần thơ đó cất lên từ một cuộc thâm nhập mà cũ đang hòa vào mới, đọc văn Trúc Khê cũng biết về một giai đoạn mộng yêu đương tự do đã lấp lánh nhưng gần như còn tách rời mục tiêu hiện thực hóa mộng trong đời Là một nhà nho ngỡ thất vận thành một trí thức dân tộc, Trúc Khê có những nét riêng - chung khá tiêu biểu cho một lớp người của một thế thời Người ưa “bứt phá” khi đọc văn của ông có thể như chưa thấy thật thỏa

Trang 26

lòng, nhưng người hiểu được xã hội bấy giờ với những giằng kéo nhất định thì lại yên trí thả hồn trong một không gian đan xen truyền thống và hiện đại Gốc dân tộc và nỗi khát khao tiến bộ ngập tràn trong những trang văn của Trúc Khê Trên nét lớn, quá trình chủ yếu diễn ra trong lòng xã hội Việt Nam nửa

đầu thế kỷ XX là quá trình hiện đại hoá Mà ở nước nào cũng vậy, khi diễn ra

quá trình hiện đại hoá cũng là lúc các giá trị dân tộc được tìm tòi và cần tôn sùng hơn bao giờ hết Càng tiếp xúc với thế giới, trách của xã hội Với sự tiện lợi của chữ quốc ngữ, nhiều đại diện của các tầng lớp bình dân (xưa vốn hoạt động ở khu vực văn học dân gian) nay bước thẳng vào diễn đàn văn học chính thức Những nhà văn bình dân ấy, chỗ mạnh của họ, lí do tồn tại của họ, chỉ là thứ tiếng Việt đầy sức sống mà hàng ngày họ đã sử dụng Tác phẩm văn chương thực chất cũng là một loại sản phẩm chỉ có điều đây là một loại sản phẩm đặc biệt nên ngoài những nét riêng biệt nó cũng nằm trong quy luật chung của hàng hóa Đây cũng chính là lý do người ta càng thấy cần trở lại với chính mình Tiếp theo, trong lòng một xã hội hiện đại hoá, các tầng lớp bình dân như có dịp thức tỉnh và đảm đương thêm nhiều trọng để chúng tôi khẳng định việc nối cổ với kim, lấy tích văn, chuyện sử vốn khó hiểu với người bình dân để giảng giải thành dễ hiểu của Trúc Khê là hành trình dân gian hóa kiến thức bác học, đó cũng là phổ cập tính dân tộc

Ngày nay, ngỡ như tên tuổi Trúc Khê không quá quen thuộc với đông đảo bạn đọc, song ở đầu thế kỷ XX, ông và lớp nhà văn như ông có những đóng góp đáng trân trọng cho nền văn học nước nhà Họ đã bước những bước đầu tiên trên con đường hình thành các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình chuyên nghiệp Thời đại của Trúc Khê sống và viết là lúc xã hội có nhiều dòng văn hóa hợp lưu Cùng một lúc người ta cố hoài niệm về nếp xưa như một vốn quý không thể thay thế, nhưng lại có những người lao đến cái mới như thể không có gì giằng kéo Các nhà văn nhà thơ lúc bấy giờ đều là những nhà văn hóa mà dù muốn hay không vẫn chịu tác động từ những luồng khác nhau Trúc Khê Ngô Văn Triện đã cố gắng trụ vững ở giữa hai luồng văn hóa

Trang 27

Đông-Tây Điều này làm ông gần hơn với bạn đọc hiện đại, cho dù chưa thể nói là bứt phá hay có dấu ấn sâu đậm Sự đổi mới có “chừng mực” của ông chính là vì có “tôn chỉ” rõ ràng là muốn giữ vốn xưa nếp cũ mà ông cho rằng trong đó có hồn có phách của cha ông

Hẳn là Trúc Khê Ngô Văn Triện đã đồng cảm với Vũ Đình Liên khi gặp hình ảnh có giá trị tượng trưng thời Hán học mất hẳn vị trí, và luồng gió Tây

phương không cưỡng lại được: Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua đường không ai

hay Nhưng ông không chỉ lặng buồn xếp bút nghiên mà ông đã lên chuyến

tàu đến với thời mới, người mới và văn mới, tuy chuyến tàu của Trúc Khê Ngô Văn Triện không hoàn toàn là một chuyến tàu tốc hành Ông dừng lại ở những ga cũ, ghé thăm các chốn xưa và nhẹ nhàng mang theo những dấu xưa vốn quý lên chuyến tàu văn chương vận hành trong thời mới, dù có khi tăng tốc lực, có lúc còn chầm chậm vì luyến lưu nơi xuất phát của mình

1.2 Vấn đề dân gian, dân tộc trong văn học giai đoạn mất chủ quyền

1.2.1 Vấn đề yếu tố dân gian - dân tộc

Vì cái gọi là dân gian trong đề tài này là dân gian trong văn nghiệp nên chủ yếu chúng tôi sẽ trình bày về yếu tố dân gian, chất dân gian thấm trong sáng tác của nhà văn Yếu tố dân gian thể hiện trong sáng tác, biên khảo, dịch thuật của Trúc Khê có một kết nối rất mật thiết từ cách cảm, cách nghĩ gắn bó với đời sống và tâm tư của những con người bình dị Chúng tôi hiểu rằng “dân gian” có nghĩa là trong dân Về khái niệm, văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát triển qua các thời kỳ lịch

sử cho tới ngày nay Ở nước ta, giới nghiên cứu thường cho rằng có ba thuật ngữ tương đương: Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ (folkore văn học) Thuật ngữ folklore với ý nghĩa

là những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục, đạo đức, tín ngưỡng, những bài dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng Sau khi xuất hiện, thuật ngữ này được hiểu với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều

Trang 28

ngành khoa học Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian với nghĩa rộng: bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo (folk culture); với nghĩa hẹp là những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật Bên cạnh đó còn có nghĩa chuyên biệt: folklore là văn học dân gian để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore - văn hoá văn dân gian Điều cần nhấn mạnh là không có cái gọi là văn học dân gian của chung mà không gắn với một cộng đồng dân cư lớn nhỏ nào đó Thế nên, văn học dân gian cùng với văn học viết tạo thành văn học dân tộc

Dân tộc (nation) là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm dân tộc, ngôn ngữ, lãnh thổ, lịch sử Đôi khi thuật ngữ này được dùng để chỉ chung nhiều nhóm dân tộc Để trở thành dân tộc, cộng đồng người phải phát triển đến giai đoạn hình thành nhà nước, và thường là có văn tự hiểu như vậy, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người Thuật ngữ dân tộc được hiểu theo hai nghĩa được dùng phổ biến, một là để chỉ dân tộc (ethnic) chỉ một cộng đồng người (tộc người, sắc tộc) có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của một quốc gia có nhiều dân tộc Với nghĩa thứ hai, dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Theo nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó Đây là quốc gia dân tộc (nation state) Yếu tố dân tộc mà chúng tôi tìm hiểu trong văn nghiệp của Trúc Khê là theo nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn thể quốc gia Dù tác phẩm của Trúc Khê không đi vào các dân tộc thiểu số của đất nước nhưng những gì ông sáng tác, dịch thuật và nghiên cứu đều hướng đến cả cộng đồng dân tộc Việt Nam và xứng làm đại diện, chứ không phải chỉ là văn học của dân tộc Kinh

Trang 29

Người ta thường nói văn hóa dân gian là “cội nguồn của văn hóa dân tộc”, là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ” Điều đó hàm nghĩa văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc Có con người là có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa dân tộc Văn hóa đó trước nhất là văn hóa dân gian, văn hóa của quần chúng nhân dân Qua văn hóa dân gian, người dân “tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình” Khách quan mà nói, không phải để thuận lợi cho việc thực hiện đề tài của mình mà chúng đi làm phép tính “gộp” dân gian vào dân tộc mà thực

ra việc giao thoa, kết lồng giữa các yêu tố dân gian - dân tộc ở thời kỳ chữ quốc ngữ đứng lên chính đài cao nhất là việc dễ hiểu Khi đó, văn học quốc ngữ thu vào trong nó dồi dào những yếu tố thơ ca, truyện kể dân gian và những tư tưởng giữ gìn tính dân tộc đến khó có thể tách bạch hoàn toàn riêng

rẽ

Tính dân gian - dân tộc qua các yếu tố của tác phẩm văn học như đề tài, chủ đề, tư tưởng, tính cách, ngôn ngữ, thể loại Đặc biệt là tính dân tộc gắn với tính nhân dân sâu sắc, cho nên trong một tác phẩm mang tính dân tộc, thường thì mạch nguồn dân gian ngấm vào đó thật sâu Trong thời Trúc Khê sống và viết, độc giả rộng rãi không chỉ muốn được hưởng thụ và bồi đắp những tình cảm thẩm mỹ mà còn cần kiến thức dễ hiểu Trúc Khê không chỉ dịch sang thứ tiếng dùng chung – tiếng Việt, càng không chỉ chuyển nghĩa văn chương và tri thức mà ông có ý thức về sự phổ cập, ông đã khiến các tác phẩm

có phần khô khan, viết bằng cổ ngữ thành những áng văn dễ tiếp nhận Trong mỗi trang viết của mình ông đều có ý thức “dân gian hóa” vì quần chúng đông đảo Chúng ta biết Trúc Khê uyên thâm Hán ngữ, vậy thì khi cố gắng phổ cập hóa, giảng giải kỹ càng là lúc ông không nghĩ cho bản thân hay những trí thức đọc sâu biết rộng mà hướng tới đối tượng bạn đọc giả định trước mỗi trang viết của ông là nhân dân lao động với nhận thức còn hạn chế Không chỉ riêng văn chương của Trúc Khê mà ở lớp tác giả thời của ông, ta có thể không khó tìm kiếm và suy luận rằng: hòa từng hàng chữ, thấm sâu trong mỗi câu văn

Trang 30

của mọi sáng tác, nghiên cứu, dịch thuật đều có yếu tố dân gian Các tác giả hướng đến người đọc bình dân hóa sao cho dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ Bởi thế, yếu tố dân gian là tuy khi đậm, lúc nhạt nhưng vẫn là hầu khắp, thấm sâu đến khó có thể kể ra rành rọt Và yếu tố dân tộc của Trúc Khê là dân tộc hàm chứa dân gian, dân tộc trong nội dung tư tưởng đến hình thức biểu hiện Các nhà nghiên cứu cũng đã bàn về văn hóa dân gian và bản sắc văn hóa dân tộc Có thể hiểu bản sắc văn hóa như là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc dân tộc Nhờ có bản sắc mà văn hóa dân gian - dân tộc có thể vững vàng và trường tồn trước thử thách khắc nghiệt của lịch sử Từ đó, chúng ta có thể xem xét các sắc thái văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng của yếu tố dân gian - dân tộc như lòng yêu nước, tinh thần cởi mở, sự thích ứng trong giao lưu văn hóa, tính duy tình trong các cư xử xã hội… Như vậy khi nghiên cứu yếu tố dân gian – dân tộc trong văn nghiệp của Trúc Khê Ngô Văn Triện là nghiên cứu hai tính chất này trong mối quan hệ gắn bó hữu cơ và trong bối cảnh xã hội lịch sử cụ thể

Trở lại với giai đoạn lịch sử trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đã có tổng kết của Giáo sư Ngô Đức Thịnh thu được nhiều sự đồng tình sau đây:

“Trong các giai đoạn phát triển kế tiếp của ba nền văn hóa: Đông Sơn – Đại Việt và Việt Nam, thì có hai giai đoạn chuyển tiếp văn hóa mang tính bản lề: giai đoạn Bắc thuộc (từ thế kỷ I đến thế kỷ X), giao tiếp giữa văn hóa Đông Sơn với văn hóa Hán để sau đó ra đời văn hóa Đại Việt và giai đoạn Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX đến năm 1945), giao tiếp giữa văn minh Đại Việt với văn hóa phương Tây mà đại diện là văn hóa Pháp, từ đó tạo nên sự phong phú của nền văn hóa Việt Nam hiện đại” [61] Và trong khuôn khổ nghiên cứu, tìm hiểu của luận văn này thì đoạn chuyển tiếp thứ hai đã được đề cập đến

Giáo sư Nguyễn Xuân Kính đã nêu trong một nghiên cứu của ông:

“Trong nhiều cuốn sách trước đây viết về văn học dân gian, thường có quan

niệm: Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao

động Các tác giả thường ca ngợi nhân dân lao động là những con người hoàn

hảo Quan niệm như trên về tác giả của văn học dân gian là chưa đầy đủ và

Trang 31

chưa thật chính xác.”[56] Nhà nghiên cứu phân tích rõ, trong xã hội thuộc địa nửa quân chủ, dân bao gồm nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ, dân nghèo thành thị, công chức, trí thức, thợ thuyền, binh lính…, thì dân chúng là một tập hợp đông đảo, trong đó có kẻ hay người dở, có người thông tuệ và có

cả những người chậm hiểu Và nếu chia văn học thành ba loại hình (văn học cộng đồng, văn học dân gian, văn học viết) thì văn học cộng đồng vẫn rất gần gũi với văn học dân gian Ở cả văn học cộng đồng và văn học dân gian, dấu ấn cái tôi tác giả, dấu ấn cá tính sáng tạo không có hoặc rất mờ nhạt, phong cách tác giả hầu như không có Ở văn học viết, dấu ấn cá tính sáng tạo, phong cách tác giả lại là một yêu cầu không thể thiếu Thế nên nếu xét về điểm chung của văn học dân gian và văn học viết, chúng tôi thấy rằng nó nằm nhiều ở mục đích hướng đến người tiếp nhận Văn học dân gian buộc phải trở thành “tài sản chung”, nhà văn và nhất là nhà văn làm báo đầu thế kỷ như Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng luôn hướng đến số đông bạn đọc, đặc biệt ông không “lo tạo bản sắc riêng” mà theo lối giản dị nhất, để đến với cộng đồng người đọc có nhiều trình độ khác nhau nên ông gần với chất dân gian, trong một khát vọng

“phủ sóng” cần hơn tạo dấu ấn cá nhân

Về ảnh hưởng của một nhà văn từ hoàn cảnh lịch sử, Bielinxki đã có nhận định rất quý, có thể dẫn làm căn cứ: “Văn học cũng như mọi loại hình nghệ thuật khác đều là sản phẩm tinh thần của một cá nhân nghệ sĩ Mà cá nhân người nghệ sĩ đó lại thuộc về một cộng đồng, một dân tộc nhất định Mỗi tác phẩm văn học ít nhiều đều mang dấu ấn riêng về văn hóa, phong tục tập quán hay tâm lí, tính cách đặc trưng của dân tộc mình Vậy tính dân tộc có thể được xem như là một thuộc tính xã hội của văn học, là một “thuộc tính tất yếu của việc sáng tạo” [58]

Nói về con người Nho gia trong những thập niên đầu thế kỷ XX, GS.TS

Trần Ngọc Vương đã nhận định: “hình tượng người quốc dân trong bối cảnh

lịch sử đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã là một bước tiến lớn trong nhận thức và

một hình tượng văn học được xây dựng thực sự thành công, trở nên là số

Trang 32

thành, mà cũng là mẫu số chung của một thời đại mới.”[37; 332] Từ đây có

thể hiểu các nhà Nho bước vào thời kỳ hiện đại hóa những thập niên đầu thế

kỷ XX, có ý thức gắn với vận nước trong bổn phận và nghĩa vụ Ở Trúc Khê,

chúng ta cũng nhận thấy nét điển hình của mẫu số chung nêu trên Theo đó,

chúng tôi càng vững niềm tin về đề tài của mình khi tìm hiểu về con người của nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện trong dòng chảy thời đại Mà dòng chảy ấy, theo nhận định của GS.TS Trần Ngọc Vương thật rõ nét: “Dù sao thì trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, hàng loạt những yếu tố nằm trong thành phần “tiêu chí hệ hình” của nền văn học mới cũng đã được xác lập Chữ quốc ngữ sau khi được các nhà nho chí sĩ “thông quan”, đã phát triển tăng tốc, rồi được các cây bút chủ yếu trên hai tờ Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí tập dượt cho đến độ thành thục.” [36; 453]

Tiếp nhận ý kiến của GS Ngô Đức Thịnh đã bàn trong bài Vài nét về

tính dân tộc trong văn học Việt Nam chúng tôi thấy việc đi vào tìm hiểu các

yếu tố mang tính dân tộc trong tác phẩm là có cơ sở khách quan, đáng tin cậy Ông cho rằng: “Tính dân tộc thể hiện ở chỗ nhà văn nêu lên được vấn đề của dân tộc mình, nhân dân mình và xử lí nó trong những điều kiện lịch sử xã hội

cụ thể của dân tộc, làm nổi lên được các tính cách của nhân vật qua những nét sâu đậm của tư tưởng, tâm lí, lối sống của dân tộc được cụ thể hoá trong những con người khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau Tính dân tộc cũng đồng thời là một phạm trù lịch sử, gắn liền với những điều kiện lịch sử

xã hội cụ thể và biến đổi, phát triển không ngừng”[61] Nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện đã chịu ảnh hưởng tốt đẹp và thể hiện tính dân tộc trong xu thế phát triển không ngừng, ngày càng mạnh mẽ Khi là niềm yêu nước, quý nếp sống truyền thống, lúc là sự xót dân khốn khó, khi là cảm hứng căm hờn ngoại bang và có lúc không đừng được sẵn sàng đấu tranh thẳng mạnh, không

hề né tránh với thực dân Pháp và tay sai, cho dù đó là thời kỳ trước cách

mạng tháng Tám

Trang 33

Chúng tôi cũng hiểu rõ tính dân tộc không bộc lộ một cách rõ ràng, cụ thể thành yếu tố hữu hình để có thể đếm được như bao nhiêu lần tả cánh đồng, bao nhiêu lần viết về dòng sông, cửa biển; mà nó thấm vào trong cảm xúc, trong cách nhìn và phương thức thể hiện của tác phẩm Vì chúng ta cùng hiểu rằng không phải nhà văn cứ chăm chú miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên hay kể

về những tên đất, tên làng gắn liền với dân tộc mình đang sinh sống thì tác phẩm mới có tính dân tộc

1.2.2 Dân gian - dân tộc trong văn học giai đoạn mất chủ quyền

Rõ ràng một tác phẩm có tính dân tộc là tác phẩm thể hiện được “tính cách dân tộc và cái nhìn dân tộc đối với cuộc đời” Tính cách dân tộc là

“những nét phẩm chất lặp đi lặp lại tạo thành bộ mặt tinh thần của dân tộc” cũng được thể hiện rất rõ ở tinh thần tôn vinh lịch sử Cảm hứng của Trúc Khê Ngô Văn Triện thể hiện rất rõ và đậm điều này Có thể thống kê các chi tiết đau lòng xót dân tiếc nước ở khắp mọi trang văn, bài báo

Bàn về tính dân tộc trong văn học nghệ thuật, nhà văn người Nga A.Tôn xtôi đã từng nhận định "Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hương đất đai, trong tiếng mẹ đẻ mỗi từ dường như có hai lần ý nghĩa nghệ

thuật…"[58] Nhận xét này rất đúng bởi vì tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ, nhưng đằng sau mỗi người nghệ sĩ bao

giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giai cấp mà họ đang sống Vậy nên tinh thần dân tộc luôn thấm đẫm trong từng câu chữ, trong cách cảm cách nghĩ của mỗi nhà văn, nhà thơ Và cũng chính đặc thù của đời sống dân tộc đã mang lại cho văn học của dân tộc ấy một bản sắc riêng độc đáo được bảo tồn lưu giữ qua nhiều thế hệ

GS.TS Nguyễn Xuân Kính cũng đã bàn về văn hóa cổ truyền và truyền

thống văn hóa GS khẳng định: “Nếu văn hoá truyền thống là khái niệm dùng

để chỉ một cấu trúc văn hoá, chỉ văn hoá của các xã hội nông nghiệp truyền

thống, thì truyền thống văn hoá là khái niệm dùng để chỉ sự tồn tại của những

yếu tố không thay đổi của văn hoá Những khái niệm này thường được gọi là

Trang 34

những hằng số văn hoá, là bản sắc văn hoá, là hệ giá trị Tất cả những cái gọi

là hằng số văn hoá, đặc trưng bản sắc văn hoá, hệ giá trị văn hoá nêu trên

chính là truyền thống văn hoá của người Việt.” [56] Theo những nhận định

trên, có thể thấy con người và văn của Trúc Khê Ngô Văn Triện mang sâu sắc hằng số văn hóa của dân tộc Ông sống hài hòa, khiêm nhường, ông viết với tinh thần đấu tranh khi liên quan đến cộng đồng và mềm mại, sâu xa khi diễn

tả tình cảm cá nhân Hệ thống tác phẩm của Trúc Khê cho thấy một trục xuyên suốt là tinh thần dân tộc Nhà văn đã chọn các danh nhân lịch sử và danh nhân tiêu biểu cho văn hoá của mọi thời kỳ làm nguồn cảm hứng sáng tác, biên khảo và dịch thuật

Nhà văn, dịch giả, nhà báo Trúc Khê Ngô văn Triện là một tác giả có

những sắc thái riêng Có người cho rằng Trúc Khê không quá nổi bật nhưng

đã xác lập một thế vững vàng trong dòng tư tưởng chung của các bậc nhân sĩ trí thức thời đó Thời của Trúc Khê là thời chống chọi lại với những xâm lược

có nguy cơ hòng thôn tính của văn hóa ngoại lai, là thời cần tôn vinh, bảo vệ văn hóa của cha ông là yêu nước, yêu giống nòi Thế nên với người sáng tạo

có lòng tự tôn cội nguồn thì yếu tố dân gian và dân tộc là một khối rất khó tách rời Nhận định văn học trong ba thập niên đầu của thế kỷ XX mà nói tác phẩm nào mang tính dân tộc mà lại không hàm chứa trong đó yếu tố dân gian nào thì là sẽ không thuyết phục Từng câu chuyện về danh nhân lịch sử, dù có được sử sách hoặc có những bút tích ghi dấu lại thì cũng đã từng là những ghi chép những chuyện kể trong dân gian, cũng đã qua “bộ lọc” của phương thức lưu truyền trong dân gian Chính vì thế mà trong không ít trường hợp dân gian dân tộc hai mà là một

Trong cuốn Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần

Ngọc Vương đã nêu: “Xã hội tư sản hóa đòi hỏi hàng loạt những phẩm chất mới, không quen thuộc trong trường hoạt động của các nhà nho, dẫu đó là nhà nho tài tử” [ 35; 167] Chính vì thế môi trường mới đã đem đến những yêu cầu hiện đại hóa và hòa nhập mạnh mẽ của những con người Nho gia Trúc Khê

Trang 35

Ngô Văn Triện cũng hòa nhập bằng cách riêng và có sự chậm mà chắc nhất định Ông xông xáo, mạnh mẽ khi viết báo nhưng vẫn bình tâm từ tốn với văn chương và dịch thuật Chất nhà Nho không khi nào mờ nhạt hẳn ở ông Cho

dù tình hình xã hội đã biến chuyển đến đâu

Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đã nêu: “Ở các thành thị càng ngày càng đông đảo những con người mới, sống hoàn toàn khác trước, có những nhu cầu văn học hoàn toàn khác trước.” [ 7; 426 ] Và khi đã có nhu cầu là có cung ứng, tuy rằng trong văn hóa không mau lẹ như hàng hóa vật chất nhưng

rõ ràng sự thay đổi trong khát vọng thưởng thức mới ấy cũng tạo ra lớp nhà văn mới Để hiểu hơn về nhận định này, người viết luận văn này đã có cuộc phỏng vấn trực tiếp GS Hà Minh Đức - vị giáo sư nghiên cứu văn học và báo chí của nước nhà để trao đổi về nghề báo Việt Nam trong thời kỳ đầu phát triển Theo ông, thời kỳ mà Trúc Khê Ngô Văn Triện sống và sáng tác là giai đoạn làm tiền đề cho sự nở rộ của báo chí và văn học sau này, là nơi dòng chảy mỗi lúc mỗi mạnh mẽ của nghề báo Việt Nam Giáo sư khẳng định rằng

từ ngày đó, các tờ báo đều cần có mục tiêu xã hội Ông cho biết nguyên nhân chính khiến nghề báo, nghề văn bắt đầu phát triển mạnh và có mối quan hệ với nhau trong những thập niên đầu của thế kỷ XX là vì đó là thời kỳ hưng thịnh của văn học và của báo chí Thời kỳ này có nhiều biến động lớn, nhiều

sự kiện lịch sử Đó là sự ra đời của Đảng Cộng sản, là phong trào Mặt trận dân tộc dân chủ sôi động, đời sống thành thị phát triển, công chúng của báo chí và của văn học trở nên đông đảo và rộng mở hơn Những người viết văn làm báo rất đông đảo, đã có những nhà báo sống bằng nghề Báo chí ngoài mục đích hoạt động của mình, còn hỗ trợ văn học đăng tải dài kỳ các tiểu thuyết trên báo Thực tế bấy giờ không dễ gì in được một cuốn tiểu thuyết Có nhiều tác

phẩm đăng báo trước, hai ba năm sau mới xuất bản thành sách như Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng

Khi được hỏi về điểm khác nhau giữa văn chương và báo chí thời đó là

gì, GS Hà Minh Đức cho biết: “Thời kỳ đầu từ 1932 trở đi văn học lãng mạn

Trang 36

phát triển mạnh nhưng báo chí thì không có báo chí lãng mạn Cho dù có những tờ báo đăng tải nhiều tác phẩm văn chương song cũng không sa vào lãng mạn, mộng tưởng Các tờ báo đều có mục tiêu xã hội Tờ Phong Hóa nổi lên với tên tuổi Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo cũng có mục tiêu xã hội của họ Có lúc tờ báo chạy theo yêu cầu và thị hiếu của xã hội như trong thời

kỳ Mặt trân dân chủ Hoàng Đạo là người trấn giữ loại bài chính luận, gần gũi

và áp sát thời cuộc GS.Hà Minh Đức nhấn mạnh, tuy nhiên điều đặc biệt là các nhà báo hết mình, hết lòng vì nghề Mấy chục năm đầu thế kỷ XX, trên các báo xuất hiện các tên tuổi nổi tiếng: Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố, Vũ Bằng, Vũ Trọng Phụng… Trong đó có Ngô Tất Tố, trước khi bước vào văn chương ông chủ yếu hoạt động báo chí Văn và báo của ông đều tái hiện sống động, đầy cảm thương về nông thôn trước cách mạng Vũ Trọng Phụng viết về thành thị với sự thâm nhập vất vả với cuộc sống thị thành Vũ Trọng Phụng cũng thành công trước ở các thể phóng sự rồi mới đến tiểu

thuyết Với hàng loạt phóng sự như Kỹ nghệ lấy tây, Cạm bẫy người, Cơm

thầy cơm cô , Vũ Trọng Phụng đã được mệnh danh là “Ông vua phóng sự đất

Bắc.” Sau đó mới có các tiểu thuyết đặc sắc như Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê… Cùng Vũ Trọng Phụng, còn Tam Lang - Vũ Đình Chí nổi tiếng với Tôi kéo xe

Để viết tác phẩm này ông cũng từng lăn lộn với việc kéo xe một thời

gian…Vũ Bằng thiên về hoạt động báo chí nhiều Ông có cuốn Bốn mươi năm

nói láo mà thực ra đó là nói một cách chính xác và chân thực về 40 năm làm

nghề báo… Qua đó có thể thấy rõ là bài học thâm nhập thực tế của người làm báo thời trước là rất hết mình, hết lòng vì nghề”

Nếu nói về nỗi khổ của các nhà báo thời trước, Giáo sư Hà Minh Đức

đã kể ra những cản trở và hạn chế đối với việc làm nghề: Viết báo thời trước Cách mạng không thuận lợi, vì chế độ kiểm duyệt hết sức khắt khe

Kể cả thời thực dân Pháp xâm lược hay thời Nhật chiếm đóng cũng vậy

Tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Tuân có tên Chém treo ngành, kết truyện

có tả cơn gió thổi lật mũ của viên công sứ mang ngụ ý của nhà văn đã bị

Trang 37

kiểm duyệt bắt cắt bỏ Tác phẩm Thiếu quê hương bị buộc bỏ chữ Thiếu chỉ còn Quê hương

Theo nhà văn Vũ Bằng, phát xít Nhật kiểm duyệt cũng rất gắt gao Một tờ báo đăng tin ôtô cán chết một con chó Nhật Cảnh sát Nhật đòi kiểm tra thời gian, nơi xảy ra chuyện xem có chính xác không Thời đó nhiều nhà văn, nhà báo cũng bị chính quyền đô hộ trừng trị bằng nhiều cách: treo bút, tống giam… Một khó khăn nữa của các nhà báo, các chủ bút thời đó là họ

tự mình phải lo cho tờ báo hoạt động và rất hiếm có tổ chức nào hỗ trợ Việc đăng quảng cáo trên báo là cách làm phổ biến để có thêm kinh phí cho

tờ báo hoạt động Đời sống của nhà báo vất vả, nhất là ở các tờ báo nhỏ Áp lực từ mọi mặt khiến thời đó các nhà báo bấy giờ không biết trước được công việc lâu dài của mình Thời kỳ ấy cầm bút viết trước hết là để đảm bảo cuộc sống Không thể gọi là nhà báo mà viết ít hoặc không viết

Trong dịp kỷ niệm 101 năm ngày sinh của nhà văn Vũ Trọng Phụng (20/10/2013), chúng tôi đã đến thăm mộ phần của nhà văn - nhà báo Vũ Trọng Phụng, người được mệnh danh là “Ông vua phóng sự đất Bắc” tại làng Giáp Nhất, Quan Nhân (quận Thanh Xuân, Hà Nội) Chúng tôi được xem những bức ảnh cùng những món đồ kỷ niệm đơn sơ mà vô giá do ông

để lại mới thấu hiểu sự lăn lộn vì nghề để sống và viết của Vũ Trọng Phụng Ông Nghiêm Xuân Sơn, con rể của nhà văn Vũ Trọng Phụng đã kể về người cha vợ mà ông đã và đang hết lòng tôn vinh văn nghiệp của nhạc phụ: "Ông

cụ nhà tôi là người có tài mà rất vất vả Ông không viết văn, làm báo để chơi văn chương bao giờ Khi viết, ông luôn nghĩ đến mục đích xã hội Đó là cất tiếng nói bảo vệ điều gì, lên án những thói xấu nào trong xã hội đương thời Ông viết văn để kiếm sống, để nuôi mẹ, nuôi vợ và mụn con gái duy nhất là nhà tôi - bà Vũ Mỵ Hằng Sinh thời ông đã sống rất nghèo nhưng hết sức tình nghĩa Xem những giấy tờ ông để lại không thể không cảm động vì tình bạn của các nhà văn, nhà báo thời đó Họ cùng nghèo khổ mà vẫn bao bọc lẫn nhau lắm Khi ông Vũ Trọng Phụng cưới vợ, khi vợ sinh con thì bất cứ

Trang 38

ai mừng, ai tặng, ai cho cái gì ông cũng ghi lại chi tiết và đầy đủ Ghi kỹ như lời tự nhắn nhủ trả nghĩa về sau”

Trên phần mái của ngôi mộ của nhà văn Vũ Trọng Phụng có một câu nói của nhà thơ Tố Hữu được kẻ bằng sơn: "Vũ Trọng Phụng không phải là cách mạng nhưng cách mạng phải cảm ơn Vũ Trọng Phụng" Từ trường hợp của Vũ Trọng Phụng, chúng ta có thể thấy Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng đã viết lên những nhức nhối thời cuộc, những trăn trở muốn đổi đời và đó cũng

là phần góp công của cây bút này cho đất nước Đó là nuôi giữ niềm tự hào dân tộc Nếu trở lại thời văn học còn chịu nhiều kiểm duyệt gắt gao mới thấu tài và tâm của những người cầm bút thưở trước

Chúng ta hiểu rõ báo chí đăng tải văn chương là tăng sức lan tỏa của văn chương tới nhiều người Tiếp nhận văn học là khâu quan trọng trong đời sống văn học, nhờ có tiếp nhận văn học mà tác phẩm mới đi vào khâu hoàn thành cuối cùng Hoạt động tiếp nhận sôi nổi sẽ có những tác động tích cực trở lại người sáng tác để từ đó người nghệ sĩ ngôn từ viết được những tác phẩm hay hơn nữa Chính vì tác giả viết văn rồi đăng báo ngay nên các tác phẩm ra đời đến đâu được tiếp sức bằng sự đón nhận của công chúng đến đấy Sau khi đọc dài kỳ trên báo, độc giả yêu văn lại có nhu cầu mua cuốn sách đó Thế nên sách ra đời được người ta mua về để thưởng thức trọn vẹn Cũng vì báo thường có trích đăng những tác phẩm văn học nên người đọc mua báo để đọc truyện và còn xem các thông tin khác nữa Thế nên, báo giúp văn và văn lại khiến nhiều người đọc báo Không hiếm trường hợp, ban đầu chỉ là một thông tin, một bài nhỏ trên báo, thấy độc giả hưởng ứng nên nhà văn kiến tạo thành một tác phẩm dài hơi

Chúng tôi đề cập đến mối quan hệ giữa văn chương và báo chí là vì Trúc Khê Ngô Văn Triện cũng như nhiều nhà văn cùng thời đều làm báo song hành với viết văn Và hai mảng này cũng có quan hệ biện chứng với nhau Tuy rằng chúng tôi không định xếp các bài báo vào thành một bộ phận của văn nghiệp của Trúc Khê nhưng như đã trình bày ở trên, đó là mối liên quan khá

Trang 39

hữu cơ giúp khi đề cập càng hiểu thêm trăn trở và tấm lòng của tác giả với thời đại mình sống, với đất nước và nhân dân Những bài viết thể hiện nỗi đau phận nước của ông thường mạnh mẽ và phẫn uất Ông kể lại việc chứng kiến một tên cảnh sát Tây đánh một người Việt Nam rất dã man đăng trên Tri tân

số 185 ngày 10/5/1945 với cái tít: Con vật hung tàn Và lời kết bài viết về

việc mắt thấy tai nghe ấy là: “Hôm ấy ở sở Cẩm hàng Đậu về, lòng tôi tê tái nghĩ đến cái nhục của nòi giống”

Với tư cách nhà báo, Trúc Khê đã có những bài viết sắc sảo Dường như con người nho nhã đã thoắt biến thành con người mạnh mẽ đấu tranh

Chúng ta nhớ Mân Châu trong bài Văn chương trên Nam Phong tạp chí số

30 năm1919: “Mỗi khi cầm lấy quản bút thì trước hết phải nghĩ đến những điều lợi ích cho quốc gia, tạo phúc cho xã hội…” Vì cần đấu tranh cho một

xã hội tốt đẹp hơn mà trong tranh luận học thuật, Trúc Khê đã thể hiện một bản lĩnh đáng nể Ông chọn cách nói bình dị, phổ thông, ít thuật ngữ, không dông dài Trúc Khê nói thẳng vào điều cần nói và nói vừa đủ để đối phương

và bạn đọc hiểu vấn đề Tránh cao đàm khoát luận và không áp đặt những tư tưởng học thuật Mội đôi câu châm biếm rất đúng lúc, đúng chỗ, làm sinh động bài văn Cái cách ông dùng “gậy ông đập lưng ông” rất khéo mà sắc như ở bài tranh luận với Phan Khôi về Chủ nghĩa duy vật của Các Mác Một

số nhìn nhận của Trúc Khê từ gần 80 năm trước đến nay vẫn nguyên giá trị Với khát vọng đổi mới quê hương, Trúc Khê đã vạch rõ mặt trái của làng xã

trong bài báo Ta nên phá bỏ cái làng cũ đi như sau: “Đó là cái làng tế lễ, là

cái làng ngôi thứ, là cái làng ăn uống phiền phí xa hoa…” Bên cạnh đó là một số bài bình luận sắc sảo và thuyết phục mạnh mẽ với gốc rễ là hồn nước

như: Tội ác giặc Pháp, Thăm đài chiến sĩ trận vong…

Khi viết báo, các vấn đề được Trúc Khê quan tâm hơn cả là các vấn đề liên quan đến đời sống nhân dân Khi viết về những vấn đề này, ông có dịp bộc lộ những sáng tạo, suy nghĩ mới mẻ Trúc Khê đã ủng hộ những đổi mới trong công nghệ, ủng hộ việc chế tạo ra dầu thắp bằng thảo mộc thay cho

Trang 40

dầu hỏa, các kiểu đèn để thắp dầu ấy,ngòi bút sắt và ngòi bút thủy tinh, thuốc đánh răng, xi đánh giầy… Và chúng ta có thể thấy nghề báo năng động đã đem đến sự tiến bộ rất lớn cho một nho sĩ từng mơ “cửa Khổng sân Trình” mà thời thế thất độ đăng khoa, như Trúc Khê

1.3 Con người Trúc Khê Ngô Văn Triện và đường văn đã chọn

1.3.1 Đôi nét chính về thân thế - sự nghiệp

Trúc Khê, tên thật là Ngô Văn Triện, sinh ngày 22 - 5- 1901 trong một gia đình nông dân và tiểu thủ công ở làng Thị Cấm, xã Phương Canh, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nay là Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội Đây chính

là ngôi làng nổi tiếng về Lễ hội thổi cơm thi vào ngày mồng 8 tháng giêng hằng năm Cho đến nay, mỗi độ xuân về các đội thổi cơm thi đến từ bốn giáp trong làng Thị Cấm lại tưng bừng vào Hội thổi cơm thi Hội thi có 3 phần chính: thi kéo lửa, thi chạy và thi thổi cơm Các đội thi phải giã thóc thành gạo, sẽ có 4 cối, 4 nồi cơm chia đều cho các đội thi Cuộc thi có nguồn gốc từ truyền thuyết Thành hoàng của làng là Phan Tây Nhạc là bộ trưởng của Tản Viên Sơn Thánh đời Hùng Vương thứ 18 thống lĩnh đội quân đi đánh giặc Khi ngài dẫn quân qua làng, dân làng Thị Cấm đã tổ chức nấu cơm để khao quân Một lễ hội dân gian như vậy hẳn đã âm vang vào tâm hồn nhà văn từ những mùa xuân thưở thiếu thời Nhất là lễ hội được tổ chức tại đình làng Thị Cấm, mà gia đình Trúc Khê sống gần với ngôi đình Quê hương có truyền thống văn hóa như thế hẳn đã có những ảnh hưởng quý với nhà văn

Cụ thân sinh của Trúc Khê Ngô Văn Triện là ông Ngô Văn Chỉnh

(biệt hiệu Tùng Khê) biết chữ Hán đủ đọc được Tam quốc, Thủy hử Cụ là

người tính cương trực, nghiêm khắc Mẹ của nhà văn là bà Đỗ Thị Tiến Theo những người thân trong gia đình kể lại, bà là người buôn bán tháo vát

và tằn tiện, bình sinh lấy nghề buôn tơ lụa làm nghề nghiệp chính, cùng ông Ngô Văn Chỉnh hợp sức xây dựng gia đình Năm Canh Tuất 1910, trong

Ngày đăng: 23/03/2015, 09:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đình Chú (2012), Nguyễn Đình Chú tuyển tập, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đình Chú tuyển tập
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
2. Hà Minh Đức chủ biên (2012), Lý luận văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
3. Hồng Chương (1985), Báo chí Việt Nam, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí Việt Nam
Tác giả: Hồng Chương
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1985
4. Nguyễn Văn Dân (2009), Lý luận văn học so sánh, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2009
5. Nguyễn Đăng Điệp và Nguyễn Văn Tùng tuyển chọn và biên soạn (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp và Nguyễn Văn Tùng tuyển chọn và biên soạn
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
6. Nguyễn Văn Hạnh (2012), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, NXB Giáo dục Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
7. Trần Đình Hượu (2007), Tuyển tập Trần Đình Hượu tập II, NXB Giáo dục, tr. 426- 437 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Trần Đình Hượu tập II
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
8. Nguyễn Xuân Kính (2004), Thi pháp ca dao, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
9. Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân và Nguyễn Như Ý đồng chủ biên, (2012), Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân và Nguyễn Như Ý đồng chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2012
10. Phương Lựu chủ biên, Nguyễn Nghĩa Trọng, PGS, La Khắc Hòa và Lê Lưu Oanh (2010), Lí luận văn học tập I. NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học tập I
Tác giả: Phương Lựu chủ biên, Nguyễn Nghĩa Trọng, PGS, La Khắc Hòa và Lê Lưu Oanh
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2010
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
13. Đoàn Đức Phương (2012), Tiếp nhận văn học từ góc nhìn văn hóa (Tiếp nhận văn học - NXB ĐH Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp nhận văn học từ góc nhìn văn hóa
Tác giả: Đoàn Đức Phương
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 2012
14. Trần Đình Sử, Nguyễn Hữu Sơn, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương. Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân (2012), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử, Nguyễn Hữu Sơn, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương. Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
15. Trần Đình Sử dịch (1994), Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc (dịch của học giả Nga I. S. Lisevich, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc
Tác giả: Trần Đình Sử dịch
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
16. Lê Văn Tấn (2009), Văn học Việt Nam đôi điều suy ngẫm, NXB Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam đôi điều suy ngẫm
Tác giả: Lê Văn Tấn
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2009
17. Ngô Văn Triện (1953), Nguyễn Trãi, Trúc Khê thư xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi
Tác giả: Ngô Văn Triện
Năm: 1953
18. Ngô Văn Triện (1997), Thơ văn Trúc Khê Ngô Văn Triện Tập I, NXB Văn học, [tr.7] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Trúc Khê Ngô Văn Triện Tập I
Tác giả: Ngô Văn Triện
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
19. Ngô Văn Triện (1997), Thơ văn Trúc Khê Ngô Văn Triện Tập II, NXB Văn học, Hà Nội, tr.375- 391- 414 - 415- 421- 422- 423- 425- 443 – 471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Trúc Khê Ngô Văn Triện Tập II
Tác giả: Ngô Văn Triện
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
20. Ngô Văn Triện (2003), Tuyển tập Trúc Khê Ngô Văn Triện, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr. 22-212-817-953 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Trúc Khê Ngô Văn Triện
Tác giả: Ngô Văn Triện
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
21. Trúc Khê Ngô Văn Triện (1928), Hồn quê, Kim Đức Giang ấn quán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồn quê
Tác giả: Trúc Khê Ngô Văn Triện
Năm: 1928

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm