Tuy không đi đến thành công, nhưng tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX với những nhân tố tiến bộ cũng như hạn chế của nó đều có ý nghĩa l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN ANH TUẤN
TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
PHAN BỘI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN ANH TUẤN
TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ
PHAN BỘI CHÂU
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU
Chương 1: CƠ SỞ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
QUÂN SỰ PHAN BỘI CHÂU
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
1.2 Các giai đoạn phát triển tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Chương 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ PHAN BỘI CHÂU 2.1 Quan điểm dùng bạo lực lật đổ ách thống trị thực dân, xây dựng nước Việt Nam mới
2.2 Về phương thức vận động cách mạng, tiến hành “bạo động” vũ trang 2.3 Quan điểm tập hợp lực lượng, mở rộng mặt trận đoàn kết đánh giặc, cứu nước 2.4 Quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang
2.5 Quan điểm về lính tập và công tác binh địch vận
2.6 Quan điểm về giải quyết vấn đề vũ khí
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 3.1 Nhận xét
3.2 Bài học kinh nghiệm
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………
Trang
1
2
3
15
15
35
60
60
67
73
82
91
94
103
103
129
138
140
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu kỷ XX, bên cạnh sự hiện diện của truyền thống tư tưởng, văn hoá dân tộc mà nổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập, tự cường được nuôi dưỡng suốt hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc, những chuyển biến
về cơ cấu kinh tế - xã hội trong nước và trào lưu tư tưởng tư sản phương Tây qua Nhật Bản, Trung Quốc… tràn vào nước ta tạo nên tiền đề mới cho cuộc vận động giải phóng dân tộc Trong giới sĩ phu yêu nước thức thời lúc bấy giờ xuất hiện hai xu hướng tư tưởng khác nhau trong vấn đề lựa chọn phương pháp đấu tranh
giành độc lập dân tộc Khuynh hướng thứ nhất, do Phan Bội Châu lãnh đạo, chủ
trương bạo động vũ trang, đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, rồi
tiến hành canh tân đất nước phát triển theo con đường dân chủ tư sản Khuynh
hướng thứ hai, do Phan Châu Trinh đại diện, chủ trương canh tân đất nước bằng
mở mang kinh tế, phát triển văn hoá giáo dục, nâng cao dân trí, dựa vào Pháp để xoá bỏ chế độ phong kiến, khi có thực lực thì giành độc lập dân tộc
Xu hướng bạo động vũ trang, đứng đầu là Phan Bội Châu, trên cơ sở xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi thực dân pháp, giành lại độc lập dân tộc đã khẳng định con đường đấu tranh bằng bạo động vũ trang là con đường tất yếu và duy nhất để giải phóng dân tộc Vì thế, suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Phan Bội Châu đã toàn tâm, toàn ý thực hiện đường lối bạo động vũ trang với một quyết tâm cao
Ở đây có một câu hỏi đặt ra là có hay không tư tưởng quân sự Phan Bội
Châu? Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam : “Tư tưởng quân sự là hệ
thống quan điểm, luận điểm của cá nhân, giai cấp, chính đảng về quân sự và các vấn đề liên quan đến quân sự như: quan hệ giữa chiến tranh và chính trị, chiến
Trang 5tranh và hoà bình, chính trị với quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quốc phòng và tiến hành chiến tranh, nghệ thuật quân sự….Tư tưởng quân sự có tính giai cấp, chịu ảnh hưởng sâu sắc của những điều kiện lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hoá của dân tộc và thời đại; đồng thời kế thừa tinh hoa tư tưởng quân sự của dân tộc và nhân loại.” [91, tr.1145] Trong tư tưởng Phan Bội Châu, đường lối chiến lược cơ bản nhất là đánh đổ thực dân Pháp bằng bạo lực, giải phóng dân tộc; lấy cứu nước, cứu dân làm chủ nghĩa; hướng đến xây dựng một nước Việt Nam mới Tư tưởng quân sự được hình thành từ cơ sở của đường lối chính trị đó, nhằm thực hiện mục đích cao nhất là giải phóng dân tộc Mặc dù, Phan Bội Châu không để lại những tác phẩm có tính chất chuyên biệt về lý luận quân sự, nhưng
từ thực tiễn hoạt động cứu nước vô cùng phong phú, sôi động của phong trào yêu nước, đấu tranh vũ trang do Phan Bội Châu lãnh đạo và qua những tác phẩm, bài viết của Phan Bội Châu đã thể hiện nhiều quan điểm quân sự phát triển theo hướng ngày càng tiến bộ
Và như lịch sử đã minh chứng, tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu đã
có tác dụng thổi bùng lên ngọn lửa căm thù quân giặc, thôi thúc nhân dân ta kiên trì đứng lên chống thực dân Pháp suốt những thập kỷ đầu thế kỷ XX, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí cho cách mạng Việt Nam Tuy không đi đến thành công, nhưng tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX với những nhân tố tiến bộ cũng như hạn chế của nó đều có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn sâu sắc, bởi đó là sự tích luỹ cần thiết, bước đệm quan trọng chuẩn bị cho bước nhảy vọt tất yếu trong tiến trình phát triển đường lối quân sự của cách mạng Việt Nam về sau
Lênin đã chỉ ra rằng “Khi xét công lao lịch sử của các nhân vật lịch sử người ta không căn cứ vào chỗ họ không cống hiến được gì so với những đòi hỏi
Trang 6bậc tiền bối của họ” [95, tr.214-215] Thiết nghĩ, việc đi sâu nghiên cứu tư tưởng quân sự Phan Bội Châu không chỉ giúp cho hậu thế có sự nhìn nhận, đánh giá sâu sắc hơn, toàn diện hơn những cống hiến của Phan Bội Châu đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, mà hơn thế, từ việc soi rọi một cách khách quan, khoa học tư tưởng quân sự Phan Bội Châu cả hai mặt thành công, cũng như hạn chế, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ hiện tại là vấn đề có
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Xuất phát từ những lý do trên, học viên chọn vấn đề “Tìm hiểu tư tưởng
quân sự Phan Bội Châu” làm đề tài luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phan Bội Châu (1867-1940) là nhà yêu nước lớn tiêu biểu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam trong mấy chục năm đầu thế kỷ XX; đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn, nhà tư tưởng có vị trí quan trọng trong lịch sử cận đại Vì thế, nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp của Phan Bội Châu từ rất sớm
đã thu sự quan tâm của giới sử học, văn học, triết học… trong và ngoài nước Về mảng đề tài đề tài nghiên cứu tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu, mặc dù chưa
có một công trình nghiên cứu chuyên luận, nhưng lâu nay đã có nhiều tác phẩm, bài viết và công trình khoa học đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp Có thể chia thành những nhóm tư liệu sau:
Nhóm các công trình của các tác giả trong nước:
Ở miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, đã có khá nhiều công trình tìm
hiểu Phan Bội Châu với mong muốn ghi lại cuộc đời và phong trào cách mạng do ông lãnh đạo Tuy nhiên, hầu hết các tác phẩm về Phan Bội Châu chỉ mới dừng lại ở truyện ký, hồi ký, tiểu sử hoặc giới thiệu tác phẩm của ông, rất ít công trình chuyên sâu với những phân tích có tính chất sử học, càng thiếu những chuyên
Trang 7luận về quân sự của Phan Bội Châu Bên cạnh đó phải ghi nhận một số công trình
có tính chất nghiên cứu, có cái nhìn tương đối khách quan như: Phong trào đại
Đông du của Phương Hựu (Nxb Nam Việt, Sài Gòn, 1949); Giảng luận về Phan Bội Châu của Lam Giang (Nxb Tân Việt, Sài Gòn, 1959); Luận đề về Phan Bội Châu của Kiêm Đạt (Nxb Khai trí, Sài Gòn, 1960); Sào Nam Phan Bội Châu - Con người và thi văn (1974) của Nguyễn Quang Tộ; Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Phan Bội Châu do Lê Văn Hảo chủ biên (Nxb Trình bày, Sài Gòn, 1976) Các
công trình trên dù còn nhiều hạn chế nhưng vẫn có thể cung cấp cho tác giả nhiều thông tin liên quan khi nghiên cứu tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Ở miền Bắc, từ những năm 50 của thế kỷ XX, cùng với việc sưu tầm và
giới thiệu hàng loạt tác phẩm của Phan Bội Châu mà khởi đầu là cuốn Phan Bội
Châu niên biểu, do Phạm Trọng Điềm và Tôn Quang Phiệt dịch (Nxb Văn - Sử-
Địa, H, 1957), đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu có giá trị khoa học Tiên phong trong mảng đề tài Phan Bội Châu phải kể đến hai công trình của tác giả
Tôn Quang Phiệt: Tìm hiểu Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh (Nxb Văn - Sử- Địa, H, 1956); Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân
dân Việt Nam (Nxb Văn hoá, H, 1957) Đây là những tác phẩm được nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá là tận tường nhất, đầy đủ nhất về cuộc đời và sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu Ngoài những công trình độc lập, trong thập niên 50, đầu thập niên 60 của thế kỷ XX một số bộ lịch sử cận đại Việt
Nam cũng được xuất bản như: Lịch sử tám mươi năm chống Pháp của Trần Huy Liệu, (Nxb Văn Sử Địa, tập1, H, 1956); Lịch sử cận đại Việt Nam của các tác giả
Trần Văn Giàu - Đinh Xuân Lâm - Hoàng Văn Lân - Nguyễn Văn Sự - Đặng Huy Vận (Nxb Giáo Dục, H, 1961) Các tác phẩm trên, trong khi trình bày lịch sử cận đại Việt Nam đã giành dung lượng khá lớn đề cập một cách hệ thống các giai
Trang 8đoạn hoạt động cùng những đóng góp của phan Bội Châu đối với phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX
Từ giữa những năm 1960 đến 1975, kế thừa thành quả của những người
đi trước và trên cơ sở sưu tầm thêm được nhiều tư liệu mới, việc nghiên cứu Phan Bội Châu không chỉ dựng lại ở việc trình bày quá trình hoạt động cứu nước của ông theo trình tự thời gian mà đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện những đóng góp, hạn chế của Phan Bội Châu trên tất các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực quân
sự Nếu như Tôn Quang Phiệt và Trần Huy Liệu được biết đến là những người đầu tiên nghiên cứu ở miền Bắc thì Chương Thâu là người kế tục xứng đáng Ngay từ giai đoạn này, Chương Thâu đã trở thành một chuyên gia về Phan Bội
Châu với một loạt bài nghiên cứu như Nguồn gốc chủ nghĩa yêu nước Phan Bội
Châu (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 88, tháng 7-1966); Về cuốn Việt Nam nghiã liệt truyện (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 151, năm 1973) và nhiều bài khác
Ngoài ra, phải kể đến nhiều bài nghiên cứu của các tác giả khác: Đinh Xuân
Lâm: Nhân đọc một số tác phẩm góp phần đánh giá tư tưởng Phan Bội Châu (Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 94, năm1967); Đặng Huy Vận: Phan Bội Châu và
cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo đầu thế kỷ XX (Tạp chí nghiên cứu lịch
sử, số 96, tháng 9-1967); Trần Huy Liệu: Phan Bội Châu tiêu biểu cho những
cuộc vận động yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX (Tạp chí nghiên cứu lịch sử,
số 105, năm 1967); Nguyễn Trường: Nhận thức của Phan Bội Châu về vai trò
của quần chúng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc (Tạp chí Nghiên
cứu lịch sử, số 143, năm1973)
Sau năm 1975, khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, việc nghiên cứu Phan Bội Châu vẫn được tiếp tục và đạt nhiều thành tựu mới Trên lĩnh vực tư
tưởng có các công trình: Phan Bội Châu - Tư tưởng chính trị - Tư tưởng triết học
của Bùi Đăng Duy - Nguyễn Đức Sự - Chương Thâu, (Nxb Khoa học xã hội, H,
Trang 91967); Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng
tháng Tám của Trần Văn Giàu (Nxb Khọc xã hội, tập 2, 1975) Đáng chú ý có
luận án phó tiến sĩ của Chương Thâu, sau được nhà xuất bản Nghệ An in năm
1982 Phan Bội Châu- Con người và sự nghiệp cứu nước Tiếp thu những thành
quả nghiên cứu của những người đi trước, cùng với những tìm tòi khám phá mới, tác giả Chương Thâu đã trình bày một cách hệ thống, toàn diện bối cảnh thời đại, con người và sự nghiệp cứu nước của Phan Bội Châu qua các thời kỳ hoạt động cách mạng Luận án đã đi sâu nghiên cứu, làm sáng tỏ nhiều quan điểm của Phan Bội Châu trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có quan điểm về bạo động vũ trang, về xây dựng quân đội, vấn đề vũ khí, chủ trương ngoại viện… Nhưng do dung lượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả chưa có điều kiện trình bày một cách hệ thống quá trình hình thành và những nội dung tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu Dù vậy, đây thực sự là những gởi mở, cơ sở quan trọng giúp cho tác giả luận văn trong việc nghiên cứu tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Từ những năm 90, nghiên cứu Phan Bội Châu có những bước tiến mới
Đầu tiên phải kể đến sự ra mắt của bộ sách Phan Bội Châu toàn tập, gồm 10 tập,
do Chương Thâu sưu tầm và biên soạn (Nhà xuất bản Thuận Hoá, Huế, 1990) Đây là công trình có giá trị khoa học, giúp cho các học giả trong và ngoài nước tiếp cận được một khối lượng tư liệu phong phú, tin cậy có hệ thống, trong đó có
nhiều tư liệu mới được phát hiện Bên cạnh đó phải kể đến các công trình: Phan
Bội Châu- Con người và sự nghiệp, (Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 1997); Đinh
Xuân Lâm (chủ biên), Đại cương lịch sử Việt Nam (Nxb Giáo Dục, H, Tập 2, 1998); Đinh Xuân Lâm, Lịch sử cận - hiện đại Việt Nam - một số vấn đề nghiên
cứu, (Nxb Thế Giới, 1998); Lịch sử Việt Nam 1897-1918 của nhiều tác giả, (Nxb
Khoa học xã hội, H, 1999) Các công trình, chuyên luận kể trên ở mức độ nhất định đều đề cập đến chủ trương bạo động và quan điểm quân sự của Phan Bội Châu Đặc
Trang 10biệt, năm 1998, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Phạm Xanh, sinh viên Nguyễn Thị
Hồng Thuý đã bảo vệ thành công Khoá luận tốt nghiệp với chủ đề Tìm hiểu tư tưởng
quân sự Phan Bội Châu Tuy nhiên, do yêu cầu của một khoá luận và giới hạn về
thời gian, nên tác giả chưa có điều kiện đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện cơ sở, quá trình hình thành và những nội dung chính của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
mà chỉ dừng lại mức độ trình bày bối cảnh, nêu ra một số tư tưởng Phan Bội Châu, trong đó có một số nội dung tư tưởng quân sự Hơn nữa, khoá luận chỉ giới hạn thời gian đến năm 1912 nên chưa bao quát được toàn bộ sự nghiệp và những quan điểm quân sự của Phan Bội Châu; mặt khác, do chưa có điều kiện tiếp cận nhiều nguồn tài liệu nên tác giả chưa có sự luận giải một các thấu đáo, sâu sắc vấn đề đặt ra Dù vậy, khoá luận cũng đã có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Năm 2000, bộ sách Phan Bội Châu - Toàn tập (gồm 10 tập) được tái bản,
đánh dấu một chặng đường nghiên cứu Phan Bội Châu của soạn giả Chương Thâu và giới nghiên cứu So với lần xuất bản năm 1990, lần này có thêm trên
5000 trang bản thảo (kể cả phần nguyên văn chữ Hán), được sưu tầm, dịch chú,
biên soạn bổ sung Trong đó nhiều tác phẩm giá trị vừa được phát hiện như Việt
Nam vong quốc thảm (tuồng mới), Hà Thành liệt sĩ truyện (truyện kí lịch sử)… Các Văn kiện của Việt Nam Quang Phục hội (1912), Các văn kiện của Việt Nam Quốc Dân đảng (1924)… Trước một số văn bản có in thêm tiểu dẫn hoặc một bài
nghiên cứu, giới thiệu của Chương Thâu hoặc chuyên gia nghiên cứu sâu về tác
phẩm đó Ngoài ra, năm 2004, Chương Thâu còn cho ra mắt cuốn sách Nghiên
cứu Phan Bội Châu, (Nxb Chính trị quốc gia, H, 2004), tập hợp một số công
trình, bài nghiên cứu của tác giả
Trang 11Trong những năm gần đây, giới nghiên cứu khoa học xã hội tiếp tục nghiên cứu về Phan Bội Châu một cách toàn diện, với mong muốn đánh giá sâu sắc và khách quan hơn vị trí của Phan Bội Châu đối với tiến trình của lịch sử Việt
Nam Tiêu biểu trong số đó là ấn phẩm Phong trào Đông Du và Phan Bội Châu, (Nxb Nghệ An, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, 2005); Tư tưởng triết
học và chính trị của Phan Bội Châu của Nguyễn Văn Hoà (Nxb Chính trị quốc
gia, H, 2006); Phan Bội Châu - từ chủ trương bạo động đến xây dựng lực lượng
vũ trang trong đấu tranh giải phóng dân tộc của Phan Ngọc Liên và Nguyễn
Ngọc Cơ (Tạp chí Lịch sử quân sự, số 9 - 2006) Các công trình trên dù không trực tiếp đề cập đến toàn diện tư tưởng quân sự Phan Bội Châu, nhưng khi trình bày tư tưởng chính trị, tư tưởng triết học, quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang
đã luận giải nhiều vấn đề về cơ sở hình thành phương pháp cách mạng, đường lối bạo động vũ trang, quan điểm “vọng ngoại” của Phan Bội Châu…góp phần định hướng cho tác giả khi nghiên cứu tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu
Nhóm công trình của tác giả nước ngoài:
Nghiên cứu về Phan Bội Châu ở nước ngoài được bắt đầu từ những thập
kỷ đầu thế kỷ XX, nhưng chỉ ở mức độ sơ lược hoặc chỉ đề cập đến hoạt động cứu nước của ông trong mối quan hệ với các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX Phải đến năm 1969 mới xuất hiện chuyên luận đầu tiên về Phan Bội Châu của
Boudarel có tựa đề Phan Bội Châu và xã hội Việt Nam thời đại ông, đã được dịch
và xuất bản tại Việt Nam năm 1997 Vào những năm 1970, có hàng loạt tác phẩm
của David Marr: Vietnamese Anticolonism (1885-1915) (California, 1971), của William Ducker The Rise of Nationalism in Vietnam 1900- 1941, (London, 1970), của Alexander Woodside Community and Rivoluion in Modern Vietnam
(1976) … Tuy nhiên các tác phẩm trên chỉ nghiên cứu Phan Bội Châu và phong
Trang 12XIX và phong trào cách mạng của các thế hệ sau, rất ít công trình chuyên khảo về Phan Bội Châu
Trong số các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài về Phan Bội
Châu, tác phẩm được xem là đầy đủ nhất, có tính tổng hợp là cuốn Phong trào
dân tộc Việt Nam và quan hệ của nó với Nhật Bản và châu Á - tư tưởng Phan Bội Châu về cách mạng và thế giới (gồm 2 tập) của học giả người Nhật Shiraishi
Masaya, (Nxb Chính trị quốc gia, H, 2000) Tác phẩm đã trình bày khái quát bối cảnh lịch sử Việt Nam, thân thế Phan Bội Châu; phân tích chuyển biến tư tưởng
và nhận thức của Phan Bội Châu về con đường cứu nước qua các giai đoạn hoạt động…trong đó tác giả dành một số chuyên mục đề cập đến lập trường đấu tranh
vũ trang, quan điểm về tập hợp lực lượng, tranh thủ ngoại viện của Phan Bội
Châu một cách hệ thống, khoa học … Ngoài ra còn có tác phẩm Việt nam và
Nhật Bản giao lưu văn hoá, (Văn Nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2001) của tác
giả Vĩnh Sính Đây là những nguồn tài liệu tham khảo quan trọng giúp cho tác giả thực hiện luận văn này
Tóm lại, mặc dù đã có nhiều công trình trong và ngoài nước đề cập trực
tiếp hoặc gián tiếp những quan điểm quân sự của Phan Bội Châu, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề này một cách toàn diện, đầy đủ và
hệ thống, trên phương diện lịch sử tư tưởng quân sự mà chúng tôi đã lựa chọn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ sự hình thành và những nội dung cơ bản của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu Chỉ ra được những đóng góp cũng như hạn chế của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu Từ đó rút ra một số nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 13Nhiệm vụ nghiên cứu:
Với mục đích nghiên cứu và nguồn tư liệu như trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Trình bày cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
- Hệ thống hoá, khái quát hoá những tư liệu đã có, bổ sung thêm những
tư liệu mới, góp phần khôi phục một cách khách quan những nội dung cơ bản của
tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
- Nêu lên những đóng góp cũng như hạn chế của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu; từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm
4 Các nguồn tài liệu và hướng sử dụng:
- Các tác phẩm, bài viết của Phan Bội Châu đã được in thành sách
- Các công trình nghiên cứu khoa học, các bài tạp chí, sách có liên quan
do cá nhân và các cơ quan nghiên cứu uy tín đã công bố
- Nguồn tư liệu từ phía các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài, nhưng được khai thác ở mức độ nhất định (do những khó khăn chủ quan, khách quan của tác giả)
5 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư tưởng quân sự của Phan Bội Châu
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian của luận văn là hoạt động thực tiễn và lý luận quân
sự của Phan Bội Châu ở cả trong nước và nước ngoài
Phạm vi thời gian của luận văn chủ yếu từ năm 1901 (khi Phan Bội Châu
Trang 14phục thù mà thủ đoạn là bạo động”) đến tháng 6- 1925 (khi Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam)
Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh và hệ thống hoá
- Ngoài ra, các phương pháp khác như đối chiếu, thống kê….cũng được vận dụng để giải quyết nội dung nghiên cứu của luận văn
6 Đóng góp của luận văn:
Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa, bổ sung tư liệu mới, xử lý nguồn tư liệu một cách khoa học, luận văn có những đóng góp sau:
- Khai thác một khối lượng tư liệu phong phú, đa dạng về tư tưởng quân
sự của Phan Bội Châu
- Góp phần làm sáng tỏ những điều kiện chủ quan và khách quan chi phối đến chủ trương, đường lối và hoạt động quân sự của Phan Bội Châu
- Làm sáng tỏ những nội dung chủ yếu của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
- Bước đầu đưa ra những đánh giá có cơ sở khoa học và thực tiễn những đóng góp và hạn chế của tư tưởng quân sự Phan Bội Châu, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu hay phục vụ công tác giảng dạy cho những môn học có liên quan
Trang 157 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1 Cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu Chương 2 Nội dung tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Chương 3 Nhận xét và bài học kinh nghiệm
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG
QUÂN SỰ PHAN BỘI CHÂU
1.1- Cơ sở hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Tư tưởng quân sự Phan Bội Châu không thể ra đời từ mảnh đất trống không và càng không thể nằm ngoài dòng chảy liên tục của chủ nghĩa yêu nước, truyền thống quân sự dân tộc và được hình thành, phát triển trong điều kiện kinh
tế - xã hội của Việt Nam và thế giới có nhiều biến chuyển sâu sắc; đồng thời phản ánh tư duy, năng lực chủ quan của Phan Bội Châu Do đó, muốn hiểu sâu sắc tư tưởng quân sự Phan Bội Châu, cần làm rõ những cơ sở, điều kiện khách quan, chủ quan khiến cho tư tưởng quân sự của ông vừa mang dấu ấn của lịch sử truyền thống dân tộc, thời đại, vừa mang những nét riêng độc đáo
1.1.1- Thực dân Pháp xâm lược, thống trị nhân dân Việt Nam bằng bạo lực
Nếu như hồi đầu thế kỷ XIX, Việt Nam là một nước độc lập và thống nhất, thì vào những năm cuối cùng của thế kỷ đó tên nước ta đã bị mất trên bản đồ thế giới, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp
Dựa vào sức mạnh quân sự với vũ khí trang bị hiện đại, từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp lần lượt chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ, rồi mở rộng đánh chiếm các tỉnh Trung Kỳ và Bắc Kỳ, cuối cùng gây sức ép quân sự, buộc triều đình Huế
ký Hiệp ước Patơnốt (6 - 6 - 1884) công nhận nền thống trị của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam Trong suốt 40 năm kể khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) chính thức công khai chiến tranh xâm lược Việt Nam (1858), đến khi thực dân Pháp cơ bản “bình định” xong Việt Nam vào năm 1896,
Trang 17mọi diễn biến của tư tưởng lớn của dân tộc đều tuỳ thuộc vào nhiệm vụ bao trùm
là đối phó với nạn ngoại xâm, khôi phục chủ quyền đất nước
Để nhanh chóng bình định Việt Nam, thực dân Pháp đã huy động tất cả binh lực, mở nhiều cuộc tấn công qui mô lớn hòng dập tắt phong trào đấu tranh của nhân dân ta Hàng vạn người dân Việt Nam yêu nước bị chúng bắt bớ, giam cầm, giết hại Không biết bao nhiêu làng xóm bị tàn phá Trong triều đình Huế, những ông vua có tinh thần chống Pháp như Thành Thái, Duy Tâm, Hàm Nghi đều lần lượt bị bắt và đày đi an trí Cả một phong trào rộng lớn mang tinh thần
“trung quân ái quốc” của các văn thân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hương Khê
của Phan Đình Phùng ở miền Trung, khởi nghĩa Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật ở đồng bằng Bắc Bộ, với sự phối hợp với Nguyễn Quang Bích đều lần lượt
bị đàn áp Nghĩa quân Yên Thế tiêu biểu cho sức phản kháng của nông dân, nổi dậy từ năm 1884 sang đến thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã bị 15.000 quân Pháp - Việt, do Lê Hoan chỉ huy gây thiệt hại nặng, không còn đe doạ sự ổn định của
“Nhà nước bảo hộ’’ Sự trông chờ vào ứng cứu của nhà Thanh cũng tan vỡ sau hai lần triều đình kháng chiến cử phái bộ sang Trung Quốc cầu viện
Có thể nói, tất cả những thủ lĩnh nghĩa quân đều xứng đáng đại diện cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam Họ không thiếu tâm huyết, bản lĩnh và khí phách, mong cứu giống nòi thoát khỏi nạn ngoại xâm, nhưng do thiếu sự lãnh đạo tập trung và đường lối cứu nước đúng đắn nên các phong trào yêu nước do các sĩ phu lãnh đạo không thể đi đến thắng lợi cuối cùng
Sau khi căn bản dập tắt phong trào Cần vương, hoàn thành công cuộc bình định, từ năm 1897, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa với cường độ ngày càng cao, qui mô ngày càng lớn trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam
và ba nước Đông Dương Gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa, chúng đẩy
Trang 18cai trị thực dân trên lãnh thổ Việt Nam Có thể nói, ngay từ khi thành lập, chính quyền thuộc địa đã mang đậm nét là một chính quyền bạo lực, biểu hiện ở thủ
đoạn thâm độc “ chia để trị”, “ dùng người Việt trị người Việt”; ở sự tăng cường
lực lượng quân đội, sử dụng bộ máy chính quyền quân sự để quản lý lãnh thổ, xây dựng lực lượng cảnh sát đa năng nhằm ngăn chặn, trấn áp, dập tắt các phong trào yêu nước của nhân dân, bảo vệ lợi ích lâu dài của Pháp ở Việt Nam
Như chúng ta biết, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tính thống nhất của đất nước Việt Nam đã tạo nên sức mạnh vô địch giúp dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao thử thách ác liệt để trường tồn và phát triển Khi áp đặt
chế độ thực dân trên đất nước ta, thực dân Pháp thi hành chính sách“ chia để trị”
hết sức thâm độc hòng chia cắt đất nước, chia rẽ dân tộc, phân tán lực lượng, thủ tiêu tinh thần dân tộc và chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam Cùng với việc đàn áp các phong trào yêu nước, bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ, chúng đặt ra ba chế độ chính trị khác nhau tương ứng với ba miền của đất nước là Bắc
Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ; gây chia rẽ giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số; giữa miền xuôi - miền ngược; giữa lương - giáo ; dụ dỗ những phần tử phong kiến đầu hàng để duy trì bộ máy quản lý cũ kỹ, lạc hậu ở các làng xã và bộ máy vua quan phong kiến để làm công cụ bóc lột nhân dân ta
Song song với tổ chức hành chính, chúng thiết lập bộ máy bạo lực khổng
lồ với các lực lượng quân sự, cảnh sát, toà án và hệ thống nhà tù dày đặc nhằm ngăn chặn, dập tắt mọi sự phản kháng, hành động yêu nước của các tầng lớp nhân dân
Tháng 7- 1900, thực dân Pháp ra đạo luật tổ chức quân đội thuộc địa bao gồm vừa binh lính Pháp, vừa binh lính người các nước thuộc địa Hội đồng phòng thủ Đông Dương do Toàn quyền làm chủ tịch, có quyền huy động quân đội, lập các đạo quan binh, tuyển chọn binh lính và phân bố lực lượng Trực tiếp điều khiển quân đội ở Đông Dương là một viên tổng chỉ huy người Pháp Dưới
Trang 19quyền Tổng chỉ huy có Tổng tham mưu trưởng và các viên chỉ huy bộ binh, hải quân, pháo binh
Lực lượng vũ trang của thực dân Pháp ở Đông Dương không ngừng được tăng cường về số lượng và trang bị, vũ khí Các binh chủng lần lượt được thành lập: Pháo binh (1899), kị binh (1900), công binh (1903), đội cầu, thông tin, vẽ bản đồ bổ sung thêm tướng tá, lấy binh lính bản xứ ngày một đông, tổ chức những đội quân dự bị (1898), tăng cường lính da đen Châu Phi (cuối 1900), lập phòng tuyể lính và dự trử ở Hà Nội, Sài Gòn (1901)
Thực dân Pháp triệt để thực hiện chính sách“ dùng người Việt trị người
Việt”, dùng binh lính thuộc địa để lấn chiếm thuộc địa và đàn áp các phong trào
yêu nước Từ năm 1904, chúng ra sắc lệnh bắt thanh niên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ
từ 22 tuổi đến 28 tuổi phải thuộc diện đi lính Thời hạn là 5 năm, hết hạn có thể xin ở lại Hạn tại ngũ tối đa là 20 năm Đồng thời ban bố sắc lệnh tổ chức lực lượng quan dự bị người bản xứ ở Đông Dương Ngoài quân đội chính qui, chúng còn tổ chức đội lính khố xanh chuyên để đàn áp các cuộc khởi nghĩa hoặc canh giữ các nhà tù, phục vụ ở các đạo quan binh Tại các phủ, huyện, châu còn có bọn lính cơ và lính lệ để trấn áp nhân dân Ở các làng xã có tuần phu, một lực lượng
vũ trang, dưới quyền điều khiển của trưởng tuần và lý trưởng
Quân đội Pháp ở Đông Dương chia làm 2 bộ phận, quân chính qui và quân địa phương Quân chính qui có trách nhiệm tác chiến trên chiến trường Đông Dương và ngoài Đông Dương Lực lượng quân chính qui ở xứ này còn được điều động đi đàn áp cuộc nổi dậy ở xứ khác trong liên bang Đông Dương, đàn áp nhân dân các nước thuộc địa khác của thực dân Pháp hoặc đi gây các cuộc chiến tranh xâm lược mới
Trang 20Năm 1915, lo lắng trước tình hình nổi dậy ngày càng nhiều của nhân dân Việt Nam, mặc dù đã có lực lượng cảnh sát, tổng thống Pháp lại ra sắc lệnh xây dựng lực lượng cảnh sát đặc biệt cho toàn Đông Dương Sắc lệnh qui định rõ tất
cả những binh lính bản xứ tại ngũ nhưng không nằm trong lực lượng chính qui đều thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt, đặt dưới quyền chỉ huy của các viên quan đứng đầu các xứ Lực lượng này được gọi là địa phương quân Thời bình canh giữ các công sở, các tuyến giao thông, các trại giam hoặc áp tải các chuyến hàng của nhà nước thực dân hoặc bị điều động đi đàn áp các cuộc khởi nghĩa Khi có chiến tranh, toàn quyền có thể chuyển từng phần hay toàn bộ lực lượng địa phương quân sang tay chính quyền quân sự, hết chiến tranh lại về chính quyền dân sự
Về số lượng năm 1912 là năm chúng đã xây dựng tương đối hoàn chỉnh quân đội thuộc địa Số lính tại ngũ toàn Đông Dương là 23.847 người Số lính dự
bị là 20.064 người
Đi đôi với bộ máy quân sự là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với mạng lưới nhà tù dày đặc khắp Việt Nam Ở Nam Kỳ, sau khi chiếm 3 tỉnh miền Đông, thực dân Pháp đã lập nhiều toàn án quân sự đặc biệt nhằm tàn sát những người Việt Nam yêu nước Tất cả những người Việt nam bị chúng qui là “phiến loạn” đều bị đưa ra toà án binh xét xử Ở Trung Kỳ năm 1899, chúng lập ra các toà án hỗn hợp hàng tỉnh, dưới quyền chỉ đạo của công sứ Pháp và án sát Việt Nam để kết tội những người “phiến loạn”
Ở Bắc Kỳ, có hai loại toà án, toà án Tây và toà án Nam Các tỉnh đều có toà án hỗn hợp dưới quyền chỉ đạo của công sứ Pháp và án sát Việt Nam Còn ở cấp kỳ, thì từ năm 1896, thực dân Pháp lập ra Hội đồng đề hình Hà Nội để xét xử những người Việt nam yêu nước có hành động chống Pháp ở Trung Kỳ và Bắc
Kỳ Ở cấp phủ, huyện, châu, quyền hành chính và tư pháp đều nằm trong tay bọn
Trang 21tri phủ, tri huyện, tri châu Ở các làng xã, bọn kỳ hào hoành hành dường như không có giới hạn Gắn liền với tổ chức toà án là cảnh sát, nhà tù, trại giam Tỉnh nào cũng có cảnh sát và từ huyện trở lên đều có nhà tù và trại giam
Trong 10 năm (1902 - 1912), toà án thực dân đã kết án 24.380 người, từ bị
tù giam khổ sai, chung thâm và tử hình Các nhà tù ở Hà Nội, Sơn La, Thái Nguyên, Lao Bảo, Sài Gòn, Côn Đảo…luôn chật ních tù nhân Riêng ở Côn Đảo, năm 1912 chúng đã giam tới 1.326 tù nhân Về chi phí, riêng ở Bắc Kỳ, năm
1909 tiền chi tiêu để “giữ gìn trật tự (hành chính, cảnh sát, sen đầm, khố xanh) gấp 4 lần khoản tiền chi cho giáo dục, y tế, nông nghiệp, công chính
Có thể nói, bộ máy chính quyền thực dân được thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa chủ nghĩa đế quốc và thế lực phong kiến phản động Đó là
bộ máy thống dựa chủ yếu vào sức mạnh quân sự, dùng vũ lực để ngăn chặn, đàn
áp mọi hành động yêu nước của nhân dân ta Bằng phương thức kết hợp chặt chẽ bạo lực công khai kết hợp với chính sách ngu dân thâm độc, thực dân Pháp đã dùng những thủ đoạn phản động nhất để vô hiệu hoá chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam, đặt mọi phong trào yêu nước vào tình cảnh “bất khả kháng” Tất cả các thủ lĩnh của phong trào “hợp pháp” đều bị tách khỏi quần chúng, đày đi an trí; tất cả
những người cầm đầu nghĩa quân nếu không bị giết hại tại trận cũng bị chúng chặt đầu bằng máy chém; tất cả nhân sĩ, trí thức nếu không chịu ra làm quan, phục vụ Nhà nước bảo hộ đều không còn đất dung thân
Tình hình đó đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và tư bản Pháp xâm lược càng thêm sâu sắc Để giải quyết mâu thuẫn đó, đòi hỏi phải huy động sự đồng tâm hiệp lực của mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vùng lên dùng bạo lực đánh đổ ách thống trị thực dân Trước đòi hỏi đó, một số sĩ phu yêu nước tiến bộ, trong đó có Phan Bội Châu đã nêu cao tinh thần yêu nước, kiên
Trang 22chính họ đã đóng vai trò lãnh đạo phong trào yêu nước trong gian đoạn quá độ từ sau phong trào Cần vương thất bại cho đến khi xuất hiện phong trào cách mạng
do giai cấp vô sản lãnh đạo
1.1.2 Tác động từ bên ngoài
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ Vấn đề dân tộc đã trở thành vấn đề có liên quan đến nhiều quốc gia, thành vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc càng gắn chặt với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân Cũng chính trong bối cảnh đó, các trào lưu tư tưởng phương Tây bắt đầu có điều kiện xâm nhập, tác động một cách mạnh mẽ đến các nước phương Đông
Đầu thế kỷ XX, sau hơn 30 năm Duy Tân đất nước, Nhật Bản không những giữ vững được độc lập mà còn vươn lên thành một cường quốc tư bản hùng mạnh Sau sự kiện đánh bại quân Nga Hoàng năm 1905, Nhật Bản càng có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với nước ta Trong bối cảnh cách mạng Việt Nam đang khủng hoảng về đường lối, Nhật Bản có sức hút mạnh mẽ đối với các sĩ phu tiến
bộ đang khao khát tìm kiếm con đường cứu nước mới Nhiều người Việt Nam bấy giờ cho rằng muốn cứu nước thì phải cầu viện bên ngoài, muốn tìm ngoại
viện thì không gì bằng sang Nhật Bản - nước“ đồng văn đồng chủng” đánh bại được“ cường quốc da trắng” Phan Bội Châu đã chọn hướng Đông du đi Nhật
bản để cầu viện, xem xét, học hỏi và hy vọng tìm thấy con đương cứu nước Phan Bội Châu viết: “Trận Nga - Nhật chiến tranh mà Nhật đại thắng thật có chỗ hay cho chúng tôi rất lớn Trong óc chúng tôi đến đây có một thế giới mới lạ mở ra” [15, tr.26] Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu từ đó mà xuất phát
Trang 23Trung Quốc, nước láng giềng có quan hệ chặt chẽ, gần gủi với Việt Nam
thời kỳ này cũng có những chuyển biến mạnh mẽ Để canh tân đất nước, chống lại nguy cơ xâm lược của các nước phương Tây, nhiều sĩ phu tiến bộ và tầng lớp trí thức tư sản dấy lên phong trào đòi triều đình phong kiến nhà Thanh phải thực hiện cải cách đất nước Sau sự kiện Mậu Tuất chính biến (1898), các tư tưởng đổi mới của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng… có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam; làn sóng tân văn, tân thư mang tư tưởng dân chủ tư sản và văn minh phương Tây thông qua sách báo Trung Quốc tràn vào Việt Nam, gây nên sự phân hóa tư tưởng trong nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các phong trào duy tân
do các sĩ phu tiến bộ khởi xướng
Những Tân thư, Tân văn từ Trung Quốc, từ Nhật Bản bằng nhiều con
đường khác nhau vào Việt Nam đã góp phần một luồng sinh khí mới, một sự lên men mới về mặt tư tưởng đối với các sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ, trong đó có Phan Bội Châu
Năm 1898, lần đầu tiên được tiếp xúc với Tân thư trong đó có tác phẩm
Trung Đông chiến kỷ, Phổ Pháp chiến kỷ, Doanh hoàn chí lược cùng với bài Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch, Phan Bội Châu bắt đầu có những
rung động mới, những gợi mở đầy sức hấp dẫn về một chân trời xa lạ “làm cho tư tưởng thế giới của tôi (Phan Bội Châu) bắt đầu nảy mầm” [7, tr.32]
Trung - Đông chiến kỷ, xuất bản năm 1896, của Lâm Lạc Tri (Young
Allen người Mỹ, chủ bút tờ Vạn quốc công báo) Chiến tranh Trung - Đông ở đây
chính là chiến tranh Trung Quốc– Nhật Bản (1894-1895) Nội dung cuốn sách ghi chép quá trình giao chiến và giao thiệp giữa nhà Thanh (Trung Quốc) với Nhật Bản, nhưng chủ ý của tác giả là vạch ra thực tế sự thất bại của Trung Quốc trước Nhật Bản, làm cho người Trung Quốc nhận thức được sự cần thiết của cải
Trang 24trị, đã trở nên mạnh mẽ, võ công hiển hách trong thiên hạ, đưa Nhật đứng vào hàng các cường quốc trên thế giới
Phổ - Pháp chiến kỷ, cuốn sách gồm 8 tập, xuất bản năm 1873 Sách do
nhà bình luận Vương Thao, thuộc phái Dương vụ biên soạn dựa trên những thông tin về cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871) Nội dung, nói về tình hình thế giới, đặc biệt là về chính trị và sức mạnh của các cường quốc Châu Âu; về sự thất bại của Pháp trước Phổ ngay tại nước mình 30 trước Phan Bội Châu quan tâm tác phẩm này không chỉ vì Pháp - kẻ đang thống trị nhân dân Việt Nam từng bị Phổ đánh bại mà cho rằng ở Châu Âu, nước Phổ vẫn tồn tại như là lực lượng đối kháng với Pháp mà Việt Nam có thể tranh thủ sự giúp đỡ của Phổ để đánh Pháp khi có thời cơ Hẵn là nhờ sự hiểu biết về tình hình Châu Âu như vậy mà sau này Phan Bội Châu đã chọn nước Đức làm nơi tìm kiếm ngoại viện cho công cuộc cứu nước
Thiên hạ đại thế luận, là tác phẩm của Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895),
trình bày “đại thế’ của hoàn cầu, trong đó, tập trung phân tích thế lực của các đế quốc tại châu Á Tác phẩm chỉ ra rằng, ngày nay các nước phương Tây không còn phải điều binh khiển tướng tải lương từ “ngoài trùng dương bảy vạn dặm” như trước, mà nó đã có nhiều căn cứ quân sự và cơ sở hậu cần trên những vùng đất châu Á mà nó chiếm được Cho nên Trung Quốc và cả châu Á đều nằm trong tầm kiểm soát của các cường quốc Phương Tây Nguyễn Lộ Trạch nói nhiều đến tình hình nguy ngập của nhà Thanh (Trung Quốc) nhằm đánh tan ảo tưởng của những người thủ cựu vẫn còn hy vọng vào sự giúp đỡ của Trung Quốc thời đó Ông thấy trước rằng, nước Nhật Bản duy tân sẽ trở thành một cường quốc hùng mạnh Trên cơ sở nhận định cục diện Trung Quốc và mâu thuẫn giữa các đế quốc, ông tiên đoán rồi đây Pháp nhất định sẽ phục thù đối với Phổ và tranh giành thuộc địa với Anh Nên giữa Pháp và Anh, Phổ vẫn âm ỉ mâu thuẫn Tình
Trang 25hình kẻ thù như vậy, cho nên tuy ta sức lực kiệt quệ, tay chân bị khoà chặt, nhưng không phải là không có cơ hội vùng lên Ông khuyên triều đình không nên chán nản mà phải cố gắng khai thác mọi khả năng còn có thể được, nuôi chí phục thù
Tác phẩm giải thích sự sụp đổ của triều Nguyễn không phải là do sự xâm lược của giặc mạnh, mà sự sụp đổ đó cũng đã có nguy cơ từ rất sớm - ngay từ khi nhà Nguyễn còn có vẻ hưng thịnh, nguy cơ từ thái độ tự cao, chuộng hư danh, bảo thủ không chịu đổi mới…Cuối bài luận, ông đưa ra nhận định, các nước phương Tây đi xâm chiếm, khai thác nước ngoài để làm giàu, nhưng cuối cùng sẽ
có một tác động ngược lại là khiến cho nước ấy tiến bộ, cường thịnh lên lúc đó nước ấy sẽ cạnh tranh trở lại với chính nước đã xâm chiếm mình Ông lấy gương Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số nước, trong đó có Thái Lan để dẫn chứng cho lập luận của mình Đối với nước ta, ông cũng hy vọng những người yêu nước nắm được qui luật ấy để dựng lại nước
Như vậy, những sách mà Phan Bội Châu tiếp xúc trong thời gian ở Huế lần thứ nhất (1889-1900) chủ yếu là các tác phẩm thời kỳ phong trào Dương vụ
Trung Quốc và các ghi chép về tình hình thế giới Trong Phan Bội Châu niên
biểu, Phan Bội Châu kể lại: “Tôi xem những sách ấy mới hiểu sơ qua về tình hình
cạnh tranh thế giới và thảm trạng mất nước, nòi giống diệt vong, lòng tôi càng được kích thích thêm…Từ đấy tư tưởng tháo củi sổ lồng của tôi bắt đầu rung động Dù đứng vào hoàn cảnh uất ức chưa trổ ra được tôi vẫn sẵn sàng đợi chờ cơ hội” [7, tr.32]
Sau đó, Phan Bội Châu còn có cơ hội tiếp cận một số sách báo thời kỳ
phong trào biến pháp của Trung Quốc như Mậu Tuất chính biến, Trung Quốc hồn
và tờ Tân dân tùng báo của Lương Khải Siêu Nội dung, ghi lại diễn biến của
cuộc chính biến Mậu Tuất (1898) và liệt truyện các liệt sĩ hy sinh trong quá trình
Trang 26nhau về chính thể giữa Trung quốc và Châu Âu Về thời kỳ tiếp xúc với loại sách này, Phan Bội Châu chỉ viết chung chung là thời kỳ còn ở trong nước, trước khi xuất dương, có lẽ là vào khoảng năm 1903, khi Phan Bội Châu vào Huế lần thứ hai
Đánh giá về sự ảnh hưởng đó, Phan Bội Châu viết: “nếu mà không có cuộc chánh biến nước Tàu, cùng cuộc Nga - Nhật chiến tranh (1904), sách mới Khương, Lương truyền sang, thì giấc mộng bát cổ của sĩ phu ta, e đến ngày nay cũng chưa nguôi” [19, tr.432]
Từ năm 1905, Phan Bội Châu thường xuyên bôn ba ở nước ngoài để tìm hiểu, học hỏi, mong muốn tìm ra con đường giải phóng dân tộc Ông đã tiếp xúc với nhiều trào lưu tư tưởng Âu - Mỹ Lúc này “gió Mỹ mưa Âu đang làm ồn ào
vũ trụ” và Phan Bội Châu đã nhận thấy: “Từ hồi bỏ nước đi ra ngoài, đầu óc mắt tai mình mới là bắt đầu biến đổi, nhưng không thể nào không bảo được rằng đó là nhờ trận Nhật - Nga đánh nhau đã làm vang bóng cho tâm não chúng tôi” [15, tr.26] Bởi vậy, Phan Bội Châu đã hăng hái tiếp nhận những nguồn tư tưởng mới như tiến hoá luận, tự do, bình đẳng, bác ái, dân quyền, dân trí và những biện pháp duy tân của các nhà tư tưởng: Xpenxơ (1820-1903), Môngtétskiơ (1689- 1775), Vônte (1694-1778), Rút Xô (1712-1778)
Trong số các luồng tư tưởng trên, có tác động lớn nhất đối với Phan Bội Châu là học thuyết tiến hoá và học thuyết Darwin (Đácuyn) xã hội Quan điểm cạnh tranh sinh tồn, mạnh được yếu thua của học thuyết Đácuyn xã hội1
không những cung cấp những cơ sở lý luận để Phan Bội Châu giải thích nguyên nhân Việt Nam mất nước mà còn là cơ sở cho chủ trương đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù của dân tộc Theo Phan Bội Châu, dù là “kẻ yếu”, “kẻ non kém” nhưng nếu có ý chí, có sức tập hợp của nhiều người thì cũng có thể chống
(1808-1882) về chon lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn áp dụng vào trong lĩnh vực đời sống xã hội
Trang 27chọi được với “kẻ mạnh”, “kẻ ưu thế”; hơn nữa nó cũng có thể làm cho bản thân
“kẻ yếu” tiến lên thành “kẻ mạnh”, “kẻ ưu thế” Trong bối cảnh cách mạngViệt Nam lúc bấy giờ đòi hỏi phải có một lý luận mới làm cơ sở để giải quyết triệt để mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân ta và thực dân Pháp, để kích động cổ vũ, tập hợp dân tộc ta vùng dậy đấu tranh chống lại thực dân Pháp và canh tân đất nước Bằng sự mẫn cảm của mình, Phan Bội Châu đã tiếp nhận học thuyết tiến hoá như
vũ khí tư tưởng quan trọng cho đường lối bạo động vũ trang
Về vấn đề này, có nhà nghiên cứu viết: “Phan Bội Châu thì tập trung vào nhiệm vụ phản đế, do vậy mà say mê thuyết cạnh tranh sinh tồn Phan Chu Trinh thì tập trung vào nhiệm vụ phản phong, do vậy mà say mê thuyết dân chủ Xuất phát từ thuyến cạnh tranh sinh tồn, Phan Bội Châu xác định phải dùng bạo lực lật
đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Xuất phát từ thuyết dân chủ, Phan Chu Trinh xác định trước hết phải lật đổ vua quan, “ỷ Pháp cầu tiến”, đấu tranh bằng phương pháp hoà bình” [84, tr.279]
Năm 1911, cuộc Cách mạng Tân Hợi ở Trung quốc thành công Chính phủ Dân quốc lâm thời được thiết lập, ách thống trị của triều đình Mãn Thanh bị lật đổ Sự kiện này có ý nghĩa tích cực, mạnh mẽ đối với giới sĩ phu Việt Nam trong quyết định đoạn tuyệt với giới quân chủ bảo hoàng để chuyển qua tư tưởng cộng hoà và là điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của Việt Nam Quang Phục hội năm 1912
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (1917) đều tác động đến mọi mặt xã hội, đời sống
tư tưởng Việt nam, tạo ra những điều kiện, thời cơ mới cho các tổ chức yêu nước
hô hào dân chúng vùng lên đấu tranh chống thực dân Pháp Sau bao nhiêu thất bại liên tiếp trong nổ lực giàng lại độc lập, từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất,
Trang 28Nga đã đem lại cho Phan Bội Châu một luồng sinh khí mới và một niềm tin vào con đường giành độc lập cho dân tộc; tạo nên những chuyển biến mới trong tư tưởng của Phan Bội Châu Cùng thời gian này, dưới ảnh hưởng Cách mạng tháng Mười Nga, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới bùng nổ mạnh mẽ tạo nên những chuyển biến trong tư tưởng Phan Bội Châu theo hướng ngày càng tiệm cận đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Tất cả những tình hình trên đây đã dội vào xã hội Việt Nam và đều có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phát triển tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Như vậy, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa, các trào lưu, tư tưởng phương Tây qua sách báo mới có điều kiện xâm nhập, tác động đến các nước phương Đông trong đó có Việt Nam Đứng vững trên những giá trị tinh thần của dân tộc, Phan Bội Châu đã hướng ra ngoài để đón nhận nhưng giá trị tinh thần của phương Tây để tích hợp, để làm phong phú thêm vốn trí thức của mình Chính điều này đã góp phần tạo nên diện mạo mới trong tư tưởng, đường lối cứu nước của Phan Bội Châu so với một số sĩ phu đương thời tạo nên tiền đề và vận hội mới cho cuộc vận động giải phóng dân tộc Các học thuyết đó đã gợi mở cho Phan Bội Châu và các sĩ phu yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ những suy nghĩ tìm tòi con đường cứu nước mới Phan đã đón nhận những quan điểm, tư tưởng đó như là cơ sở lý luận mới để vận dụng vào việc giải quyết các vấn đề mà lịch sử đặt ra
1.1.3- Truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc
Nhìn vào bản đồ thế giới ai cũng thấy rõ, Việt Nam có một vị thế địa lý - chính trị - quân sự hết sức xung yếu Từ một vị thế luôn bị các thế lực ngoại bang tìm cách xâm lược, thôn tính, người Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác phải thường xuyên nắm chắc vũ khí, tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chống xâm
Trang 29lược, không chỉ từ phương Bắc tràn xuống mà còn từ phương Tây tràn sang Chỉ tính sơ bộ, từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần vào thế kỷ thứ III trước công nguyên đến cuộc kháng chiến chống Pháp (nửa cuối thế kỷ XIX), dân tộc ta đã phải tiến hành 17 cuộc chiến tranh để giữ vững nền độc lập tự do Trong
số đó có 3 cuộc kháng chiến giữ nước bị thất bại đưa đến những thời gian mất nước kéo dài hàng chục năm, hàng trăm năm Đó là cuộc kháng chiến chống Triệu thất bại dẫn đến hơn nghìn năm Bắc thuộc, kháng chiến chống Minh đầu thế kỷ XV thất bại mở đầu 20 năm thuộc Minh và kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX mở màn 80 năm Pháp thuộc
Sau mỗi lần thất bại như vậy, nhân dân ta lại vùng lên đấu tranh liên tục, mãnh liệt, quyết giành lại bằng được độc lập tự do Trong những khoảng thời gian mất nước, nhân dân ta đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa, trong đó có những cuộc khởi nghĩa được phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc qui
mô rộng lớn, đưa đến những thắng lợi tạm thời, cục bộ và cuối cùng là thắng lợi quyết định, giành được chính quyền cho đất nước
Tồn tại và phát triển trong điều kiện luôn phải đấu tranh chống lại sự xâm lược của nhiều kẻ thù mạnh hơn, vì vậy, chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử tư tưởng Việt Nam Chủ nghĩa yêu nước đó xét trên bình diện lý luận, có những nội dung sau: lý luận về dân tộc độc lập và quốc gia có chủ quyền, lý luận về khoa học nghệ thuật quân sự, chính trị, ngoại giao trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành sức mạnh vô địch của dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là sản phẩm tất yếu của dân tộc Việt Nam Ở đó hàm chứa nhiều nội dung phong phú và độc đáo Qua thực tiễn dựng nước và giữ nước của dân tộc, các nhà
tư tưởng đã rút ra những luận điểm cơ bản sau: phải coi trọng sức mạnh của cộng
Trang 30nghĩ hành động phải căn cứ vào thời và “ý dân”; trong phương pháp đánh giặc thường lấy ít đánh nhiều, lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thắng hung tàn
Được nuôi dưỡng bằng dòng máu yêu nước đó, lớn lên giữa những ngày sục sôi phong trào Cần vương, tuổi trẻ Phan Bội Châu đã tập hợp lực lượng để hưởng ứng phong trào chống Pháp Noi gương tinh thần đánh giặc của Phù đổng Thiên vương, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Nguyễn Huệ và tinh thần
hy sinh của Trương Định, Nguyễn Tri Phương, năm 17 tuổi, khi Pháp chiếm Bắc
Kỳ lần thứ 2 (1883), Phan Bội Châu đã viết hịch “Bình Tây thu Bắc”; năm 19 tuổi lập đội “thí sinh” gồm 60 người để ứng nghĩa nhân kinh thành Huế thất thủ
(1885) nhưng chưa kịp hành động đã bị tan rã
Sau những nỗ lực “học làm ái quốc bằng lối trẻ con” không thành, Phan Bội Châu Phan nhận thấy rằng: “muốn làm công việc anh hùng, tất phải bồi dưỡng lực lượng, muốn lo toan việc lớn, tất phải đầy đủ mưu kế” [8, tr.28] Từ nhận thức đó, Phan Bội Châu chú tâm nghiên cứu những sách binh thư thời xưa
như Hổ trướng xu cơ, Binh gia bí quyết; đồng thời thập tài liệu về các cuộc khởi
nghĩa theo phong trào Cần vương, từ đó mà rút ra cho mình những bài học thiết
thực cho cuộc vận động giải phóng dân tộc sau này Trong Ngục trung thư, Phan
Bội Châu kể lại: “Ngay từ hồi còn là thằng trẻ con, đọc sách của cha ông để lại, mỗi khi đọc đến người xưa thành nhân tựu nghĩa, tôi thường nhỏ nước mắt ròng ròng thấm ướt cả sách Những truyện Trương định chết theo Nam Kỳ và Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết ở Hà Nội, tôi thường hay đàm đạo nhắc nhở tới và mỗi lần nhắc nhở đều khiến tôi vung tay đấm luôn ngực, tự than cho mình thua sút hai ông đó” [ 8, tr.12]
Rõ ràng truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc và những tấm gương anh hùng xã thân vì sự nghiệp cứu nước trong lịch sử Việt nam đã có tác động
Trang 31sâu sắc đến tình cảm yêu nước và chí hướng của Phan Bội Châu Và chính Phan Bội Châu không chỉ là người kế tục, phát huy truyền thống đó bằng hành động đứng ra nhận lấy về mình trách nhiệm lớn lao trước lịch sử đất nước, coi việc cứu nước là trách nhiệm của mình mà còn biết nghiên cứu “vận dụng kiến thức và kinh nghiệm đời trước vào chính trị cứu nước hiện nay”, “ lấy câu chuyện và nhân vật lịch sử làm tỷ dụ để giáo dục một tư tưởng, một đường lối” [83, tr.208]
Quả vậy, đọc những tác phẩm viết về đề tài lịch sử Việt Nam như Việt
Nam vong quốc sử, Sùng bái giai nhân, Việt Nam quốc sử khảo, Trùng Quang tâm sử …của Phan Bội Châu, chúng ta thấy rằng, Phan Bội Châu không bỏ lỡ
một dịp nào để gây lòng tự hào, niềm tin, sức mạnh của dân tộc trong nhân dân bằng việc đề cao những chiến công oanh liệt của tổ tiên, đề cao những nhân vật anh hùng cứu nước Phan Bội Châu cho rằng, trong lịch sử, dân tộc ta đã đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược nhưng cũng có thời kỳ những người, những tổ chức cứu nước chưa thành công, nhưng tất cả họ đều là những anh hùng tiêu biểu cho tinh thần dân tộc; và thành công hay thất bại của họ đều có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quí cho sự nghiệp cứu nước hiện nay
Bởi vậy, khi nghiên cứu lịch sử Việt Nam, Phan Bội Châu đặc biệt coi trọng tổng kết kinh nghiệm đánh giặc của tổ tiên để bổ sung cho hành trang cứu nước của mình Ông cho rằng, sở dĩ Trần Hưng Đạo “lập công lớn, dẹp yên được giặc mạnh là nhờ ba điều: a) lòng nhiệt thành, b) có kiến thức cao, c) nhân cách cao thượng” [12, tr.88] Lê Lợi “vị anh hùng bậc nhất trung hưng nước ta” thắng lợi là vì; “một là được nhân hoà, hai là khéo dùng mưu, ba là kíp cầu tài” [12, tr.90] Và theo Phan Bội Châu, một trong những nguyên nhân khiến cho Trưng Vương, Mai Hắc Đế thất bại là vì lúc ấy ta thiếu đoàn kết Thời Hậu Trần, có lúc cuộc kháng Minh đã giành được quan trọng, nhưng vì Trần Quỹ nghe lời dèm
Trang 32Điều đặc biệt là trong khi đề cao vai trò của người tài, Phan Bội Châu đã vượt qua nhiều nhà nho đương thời ở chỗ ông nhìn rõ người tài phải gắn liền với quần chúng, phải tím sức mạnh ở sự đoàn kết; người anh hùng, vĩ nhân phải có
cơ sở từ quần chúng và vì quần chúng mới làm nên lịch sử “Một Bà Trưng mà khong có ngàn vạn Bà Trưng vô danh làm vây cánh, một Mai Hắc Đế mà không
có ngàn vạn Mai hắc đế đồng tâm góp sức, thì nước ta sao khỏi bị chia thành quân huyện (của Trung Quốc)” Khi đề cập đến chiến công của anh hùng Trần Quốc Tuấn, Phan Bội Châu cho rằng đó là nhờ thực hiện đường lối “vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, nước nhà chung sức” và “có được đội quân nhất trí như cha con” [12, tr 90]; Lê Lợi anh hùng nổi tiếng của dân tộc, nhưng “nếu không
có ức triệu anh hùng vô danh khác lôi kéo để thúc đẩy giúp đỡ cho thì vị anh hùng lỗi lạc đó cùng không thể thành công được” [48, tr.173] Kế thừa truyền thống toàn dân đánh giặc của dân tộc, trong công cuộc vận động giải phóng đất nước đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu đặc biệt coi trong xây dựng khối đoàn kết, đồng lòng của toàn dân cùng đứng lên chống thực dân Pháp Trong thời kỳ đầu còn có ý thức quân chủ, ở Phan đã phảng phát tư tưởng đoàn kết của Trần Quốc Tuấn “Vua tôi đồng lòng, trăm người một bụng, dẫu chúng ngoan cố cũng phải thua ta” (Lưu Cầu huyết lệ) Đến tác phẩm Hải ngoại huyết thư, Phan Bội Châu
khẳng định “Sự Đồng Lòng Của Dân Cả Nước” [12, tr.133] là kế sách “độc nhất
vô nhị cùng trời kiệt đất” để thu phục đất nước
Có thể nói, được thôi thúc bởi lòng yêu nước và lựa chọn con đường giải phóng dân tộc bằng bạo động vũ trang, Phan Bội Châu đặc biệt coi trọng kế thừa
và phát huy truyền thống quân sự dân tộc Từ lịch sử, Phan đã rút ra bài học có tính qui luật là trong hoàn cảnh phải thường xuyên chống lại kẻ thù lớn mạnh, để chiến thắng, những người đứng lãnh đạo không có con đường nào khác là phải huy động sức mạnh của cả nước, của toàn dân và phải sáng tạo ra cách đánh thích
Trang 33hợp; đồng thời phải chăm lo xây dựng quân đội; người chỉ huy ngoài lòng yêu nước dám hy sinh vì nghiệp lớn còn phải có kiến thức, nhân cách cao thượng
Nhưng một câu hỏi lớn đối với Phan Bội Châu là vì sao một dân tộc anh hùng từng đánh bại những thế lực ngoại bang hùng mạnh như Tống, Nguyên, Minh, Thanh giờ đây lại bị thực dân Pháp đô hộ? Vì sao một đất nước có bề dày lịch sử, truyền thống văn hoá, có địa hình hiểm trở, giàu tài nguyên khoáng sản lại chịu cho người Pháp thống trị Đi tìm lời giải đáp, Phan Bội Châu cho rằng, nguyên nhân sâu xa là do vua quan triều Nguyễn thủ cựu, chỉ lo bảo vệ quyền lợi của riêng mình, không lo củng cố quốc phòng, không chú trọng phát triển đất nước mọi mặt Đất nước bị suy yếu, tụt hậu chính là cơ hội cho bọn thực dân Pháp xâm lược: “Nếu Việt Nam bây giờ biết chăm lo tu chỉnh về quân chính, mở rộng dân quyền, vua tôi trên dưới đều mạnh mẽ mưu trị nước, nghiên cứu sâu trí học của ngoại dương tẩy trừ khuôn khổ hủ lậu…nước có thể phấn chấn lên được Nhưng nước Việt Nam mơ màng đôi mắt ngủ, ể oải một thân bệnh, tôn quân quyền, ức dân quyền, trọng hủ văn, khinh võ sĩ ” [12, tr.34] Phan Bội Châu nhìn
ra ưu thế của ta so với địch Đó là “địa thế Việt Nam hiểm yếu; nhân dân, binh lính Việt Nam dũng cảm, lanh lợi có thể chiến đấu, người Pháp muốn lấy được không phải dễ dàng” [12, tr.37] Nhưng do triều Nguyễn đã không phát huy được truyền thống toàn dân đánh giặc mà chủ yếu là dựa vào lực lượng quân đội với vũ khí trang bị lạc hậu Về chiến thuật, theo Phan Bội Châu, lúc quân Pháp tấn công, chúng ta “phải lấy khổ chiến để làm cái đất cầu hoà, phải giữ vững thành luỹ, phải có kế tiểu thổ, phải chiếm giữ những nơi hiểm yếu, mai phục nhiều chỗ, tìm nhiều cách quấy nhiễu kẻ địch, giằng co lâu ngày cho địch phải khốn đốn, làm cho địch đem quân xa lạ ở ngoài vào đất ta, lâm vào thế thế không hoà không được… Đó mới là đắc sách” [12, tr.134]
Trang 34Ông đánh giá cao tinh thần yêu nước, dám đứng lên phát động nhân dân khởi nghĩa chống Pháp của Nguyễn Huân, Nguyễn Trung Trực, Trương Định và cho rằng thất bại của họ một phần là do “quân giới không bằng Pháp” Trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử, khi nói về thất bại của phong trào Cần vương, Phan Bội Châu cho rằng, đó là do chưa gặp thời, chưa có sự tập hợp sức mạnh của nhiều người để tạo thành một phong trào rộng lớn khắp cả nước; thiếu vũ khí chiến đấu, nên bị thực dân Pháp đàn áp Ông cho rằng “cái ưu thế trong chiến đấu (của người Pháp – TG) chẳng qua là khẩu súng; đao, côn, kiếm quyết không thể đối chọi với nó” [11, tr.215] Từ nhận định này, Phan Bội Châu đặc biệt quan tâm đến việc tìm kiếm vũ khí hiện đại để đánh Pháp
Với nghĩa quân Yên Thế, Phan Bội Châu có mối liên hệ khá chặt chẽ bằng những cuộc tiếp xúc trao đổi với những người đứng đầu nghĩa quân Ông đánh giá cao vai trò của Hoàng Hoa Thám cũng như phương thức tổ chức lực lượng, lối đánh du kích của nghĩa quân Yên Thế Tuy nhiên, Phan Bội Châu cũng nhận thấy hạn chế của nghĩa quân Yên Thế, đó là hoạt động đơn độc, thiếu vũ khí chiến đấu; tướng quân Hoàng Hoa Thám tuy là một người có tấm lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc, nhưng thiếu kiến thức về thời cuộc
Cùng với việc kế thừa, phát huy truyền thống quân sự dân tộc, Phan Bội Châu rất coi trọng việc nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm quân sự nước ngoài, nhất là Trung Quốc, vốn là nước đồng văn với Việt Nam Tuổi trẻ Phan Bội Châu
đã chú tâm nghiên cứu “Tôn Tử tam thập thiên”, “Võ Hầu tâm thư”… với suy nghĩ tìm ra những bài học thiết thực để vận dụng, thực hành về sau Tôn Tử tam
thập thiên là cuốn binh pháp nổi tiếng từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc của nước
Trung Hoa cổ đại Đây là bản tổng kết kinh nghiệm quá trình trên 300 năm chiến tranh liên miên trên đất nước Trung Hoa, nêu lên những qui luật chiến tranh ngày xưa, đề xuất những nét độc đáo trong tư duy quân sự của giai cấp phong kiến
Trang 35Trong bối cảnh chung của văn hoá phương Đông và mối quan hệ giao lưu văn hoá lâu đời giữa Việt Nam và Trung Quốc, xưa kia ông cha ta đánh giặc đã ít nhiều chịu ảnh hưởng của cuốn binh pháp mang tính kinh điển này
Ph Angghen đã từng nhấn mạnh rằng, quân sự là một lĩnh vực in đậm dấu ấn đặc điểm và truyền thống dân tộc Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc chính là cội nguồn là hạt nhân hình thành nên tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
1.1.4- Điều kiện chủ quan cho sự hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Phan Bội Châu, tên thật là Phan Văn San, sinh ngày 26-12-1867 tại quê
mẹ, thôn Sa Nam, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà nho nghèo Gia đình Phan Bội Châu là một gia đình thế nho “đời đời theo nghiệp đọc sách” Thân sinh của Phan Bội Châu là Phan Văn Phổ, sồng bằng nghề dạy học
Mẹ của Phan Bội Châu là Nguyễn Thị Nhàn, có dòng dõi nho học, là người rất
nhân từ và bao dung Trong Phan Bội Châu niên biểu, ông viết: “Mẹ tôi rất nhân
từ ham làm ơn Trong nhà tuy rất nghèo đói, nhưng gặp khi thân bằng lân lý có việc gì cấp nạn, tuỳ lực sở cấp, một đồng tiền, một hạt gạo cũng chia sẽ cho nhau mới đành Khi tôi còn bé, mẹ tôi đã dỗ tôi nửa câu nói không câu suất Tôi hầu
mẹ tôi 16 năm, tuyệt chẳng bao giờ nghe một tiếng mắng chửi, dẫu có ai ngang trái với mình, chỉ trả lời bằng một tiếng cười lạt mà thôi” [15, tr.110]
Sinh ra trong một gia đình như vậy, nên tư tưởng Nho giáo đã sớm ăn sâu vào Phan bội Châu và trở thành một bộ phận rất quan trọng trong tư tưởng của ông
Quê hương của Phan Bội Châu là nơi có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất vì độc lập, tự do của đất nước Tới thế kỷ XIX, đó là nơi dũng
Trang 36sát tả” và tạo dựng phong trào Song Tuất (1974; 1886) Khi triều đình Huế đầu hàng giặc Pháp, phong trào đấu tranh chống Pháp ở đây diễn ra sôi nổi và rộng khắp Dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, huyện nào cũng
tổ chức kháng chiến, lấy “quân thứ” đọ sức với kẻ thù dân tộc, dù gặp muôn vàn gian khó, hy sinh
Truyền thống quê hương đã ngấm rất sâu vào tâm hồn, lý tưởng của Phan Bội Châu và tạo nên ở ông một tính cách xứ Nghệ rất đậm nét
Phan Bội Châu là người thông minh, có khả năng tiếp thu rất nhanh, nhạy Thủa bé đã nổi tiếng thần đồng, khiến cho thân sinh ông lấy là ngạc nhiên sung sướng Phan Bội Châu đã kể lại rằng: “Lúc tôi lên sáu, cha tôi dắt tôi đến
thục quán trao cho tôi sách chữ Hán, mới ba ngày đọc trầm hết quyển Tam tự
kinh, không sót một chữ Cha tôi lấy làm lạ, đem Luận Ngữ cho tôi đọc, tập làm
văn trẻ con với khiếu viết trầm những sách đã đọc, mỗi bài học phải viết mười tờ” [15, tr.111] Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, cùng với tư chất thông minh, ham hiểu biết, lại được những người thầy đầy nhiệt huyết như Đinh Văn Uyển, Nguyễn Thúc Kiều, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Thức Tự tận tình dìu dắt, dạy dỗ, cho nên ngay trong thời kỳ đi học tiềng tăm hay chữ của Phan Bội Châu đã lừng lẫy
Tài năng và đức độ của Phan Bội Châu đã giúp cho ông biết chắt lọc, kế thừa những tinh hoa tư tưởng, văn hoá phương Đông và phương Tây để làm giàu cho trí tuệ mình cũng như năng lực thuyết phục, tập hợp đông đảo quần chúng đi theo con đường cứu nước của mình
Mặt khác, Phan Bội Châu là người sớm bộc lộ những đường nét lớn của một nhân cách lớn, tự nhận về mình những trách nhiệm lớn lao trước lịch sử đất nước Phan Bội Châu sớm coi việc cứu nước là việc của mình, và rồi tuy chưa đủ kiến thức, chưa hình dung ra được kế sách phương lược cứu nước rõ ràng
Trang 37nhưng đã tích cực tham gia nhiều hoạt động để hưởng ứng phong trào Cần vương cứu nước
Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, lại lớn lên trong phong trào Cần Vương sôi nổi ở Nghệ - Tĩnh, Phan Bội Châu đã sớm nuôi chí diệt thù cứu nước
Lý trí và tình cảm đó của Phan Bội Châu vào những năm đầu thế kỷ XX, như được “phá cũi sổ lồng”, bùng cháy toả sáng, tiêu biểu cho ý chí nguyện vọng của
cả một dân tộc Đây cũng là lúc Phan Bội Châu đi vào con đường hoạt động như một chính khách “Năm ba mươi tư tuổi, chính là năm Canh Tý, vừa năm thứ hai niên hiệu Thành Thái (1900) tôi đậu đầu thi Hương Thế là tôi có được cái mặt nạ
mà che lấp mắt đời Tháng chín năm ấy cha tôi vừa bảy tuần mà mệnh chung Gánh nặng ở gia đình mới nhẹ bổng ở trên hai vai Lúc đó mới là lúc tôi bắt tay vào những kế hoạch cách mạng” [15, tr.120]
Bằng sự nhạy bén của mình, Phan Bội Châu đã sớm nhận thức rõ mâu thuẫn gay gắt giữa thực dân Pháp xâm lực và toàn thể dân tộc Việt Nam chỉ có thể giải quyết bằng phương pháp bạo lực cách mạng Do đó kế hoạch thứ nhất trong số ba kế họch lớn mà lần đầu tiên ông cùng với các đồng chí của ông vạch
ra là: “Liên kết với đảng cũ Cần vương còn lưu lại với các trai tráng ở chốn sơn lâm, xướng khởi nghĩa quân mục đích chuyên ở nơi đánh giặc trả thù mà thủ đoạn thứ nhất bằng cách bạo động” [15, tr.120]
1 2- Các giai đoạn phát triển tư tưởng quân sự Phan Bội Châu
Cũng như các tư tưởng khác, những quan điểm quân sự của Phan Bội Châu được hình thành và phát triển trong sự tác động một cách biện chứng giữa nhân tố khách quan và chủ quan Đó là một quá trình sống động, đầy phức tạp và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Căn cứ các sự kiện hoạt động lý luận và thực
Trang 38tiễn của Phan Bội Châu ở trong nước cũng như ở nước ngoài, có thể chia quá trình hình thành tư tưởng quân sự Phan Bội Châu theo các giai đoạn sau:
1.2.1 Giai đoạn trước năm 1904
Như phần trên có dịp trình bày, với một tấm lòng yêu nước nồng nàn, sống trong phong trào Cần vương sôi nổi ở Nghệ Tĩnh, từ nhỏ, Phan Bội Châu đã
ấp ủ một ý chí lớn diệt thù cứu nước Lập trường đấu tranh giành độc lập dân tộc bằng con đường bạo động vũ trang của Phan Bội Châu được hình thành từ rất sớm Tiếp nối truyền thống yêu nước quật cường của dân tộc, năm 17 tuổi, khi
Pháp chiếm Bắc Kỳ lần thứ 2 (1883), Phan Bội Châu đã viết hịch “Bình Tây thu
Bắc”; năm 19 tuổi lập đội “thí sinh” gồm 60 người để ứng nghĩa nhân kinh thành
Huế thất thủ (1885) nhưng chưa kịp hành động đã bị tan rã Năm 1901, Phan Bội Châu cùng một số đồng chí vạch ra 3 kế hoạch sau đây:1) Liên kết với đảng cũ Cần Vương còn lưu lại với các trai tráng ở chốn sơn lâm, xướng khởi nghĩa quân, mục đích chuyên ở nơi đánh giặc phục thù, mà thủ đoạn thứ nhất bằng cách bạo động 2) Tìm người dòng họ nhà vua lập làm minh chủ, rồi ngầm liên kết với những người có thế lực, tập hợp những người trung nghĩa ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ cùng nhau khởi sự 3) Y như hai kế hoạch trên mà cần có ngoại viện Muốn có ngoại viện ắt phải có xuất dương cầu ngoại viện Nhưng mục đích “Cốt sao khôi phục được nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả” [7, tr 33]
Thực hiện kế hoạch thứ nhất, tháng 7 năm 1901, Phan Bội Châu tụ họp
khách "lục lâm", các dư đảng Cần vương thân tín, vận động cả lính khố xanh quyết định làm một cuộc bạo động đánh úp thành Nghệ An đúng vào ngày quốc khánh Pháp (14-7) Nhưng vì bên địch phòng bị nghiêm ngặt, nội ứng không
hành động được, nên công việc không thành
Trang 39Sau sự việc trên, người đồng chí của Phan là Ngư Hải Đặng Thái Thân
đã bàn góp với Phan những ý kiến xác đáng: "Xem kỹ lại thời thế chưa có chổ
nào mình đáng thừa cơ làm việc lớn Bọn ta vội vã làm càn, chắc là không xong việc gì được đâu Nhưng ta cũng phải làm sao để tỏ cho người Pháp biết rằng quốc dân ta chẳng phải toàn là hạng người quá hèn, vậy thì ta cứ mạo hiểm làm một phen cũng được, có điều là mong ước sao cho chúng ta cất tiếng lên trước rồi phải có người nói lời sau mới được Nhưng nếu ta chỉ khởi sự trong khoảng Nghệ Tĩnh mà thôi, tôi e như chuyện cái thai đứa nhỏ khó đẻ, ở trong bụng mẹ lọt ra chưa kịp khóc oa oa mấy tiếng thì đã chết non mất rồi Tôi trộm suy nghĩ mà lo ngại giùm cho tiên sinh chỗ đó Theo ý tôi tưởng, trước hết ta nên vô Nam ra Bắc, cần anh em hào kiệt ở hai nơi cùng làm việc với ta Đất Bắc Kỳ vốn nhiều nghĩa sĩ, từ Quảng Nam trở vô Nam Trung cũng không thiếu gì hạng người khẳng khái bi ca Ta lấy nghĩa liên kết với họ, rồi tất cả anh em ba nơi đồng thời khởi nghĩa, để chia bớt sức mạnh của bên địch, mà vây cánh đồ đảng của chúng
ta đông, như vậy hoạ chăng mới làm nên công việc " [15, tr 19]
Năm 1902, Phan Bội châu bắt đầu cuộc hành trình khắp ngoài Bắc trong Nam nhằm tìm kiếm thêm những người có chí khí, có quyết tâm chống Pháp Đến Quảng Nam, Phan Bội Châu được Tiểu la Nguyễn Hàm (tên thận là Nguyễn Thành) một nhà hoạt động Cần vương nổi tiếng cung cấp nhiều ý kiến bổ sung cho kế hoạch có sắn của mình: "Thủa nay, ai muốn mưu toan đại sự, trước hết phải cần 3 điều này: một là thu phục lòng người; hai là góp số tiền lớn; ba là, sắp đặt sắm quân khí cho đủ Hễ lòng người ta đã chịu tin phục thì số tiền lớn có thể góp được Có tiền thì vấn đề quân giới không khó giải quyết đâu Nhưng phải hiểu dân trí và tập quán của dân nước nhà, không thể nào bắt chước làm theo châu Âu cho được Bọn ta muốn có cách kêu gọi nhân dân cho dễ, nếu không
Trang 40mượn tiếng phò vua giúp chúa thì những nhà sang họ lớn kia, ai chịu phụ hoạ theo mình" [15, tr.20]
Năm 1903, Phan Bội Châu viết tác phẩm Lưu Cầu huyết lệ tân thư (sách
mới viết bằng máu và nước mắt về đảo Lưu Cầu) Sách nói rõ “thảm trạng thành tan nước mất, những nổi nhơ nhuốc đổi chúa làm tôi Lại nói đến dân trí phải gấp mở mang, dân khí phải gấp bồi dưỡng để làm nền tảng cho việc cứu quốc " [15, tr.24]
Qua Lưu Cầu huyết lệ tân thư chúng ta thấy, Phan không thích chế độ
quân chủ, nhưng khi nghe ý kiến Tiểu La Phan chấp thuận việc đặt Cường Đệ làm minh chủ của Duy tân hội Đó chỉ là một sách lược để đắp ứng một yêu cầu bức xúc cho cuộc vận động cách mạng lúc đó là tập hợp lực lượng, thu phục nhân tâm Đầu năm 1904, Phan vào gặp nhà sư Trần Thị, một nhà hoạt động chống Pháp, bị bắt tù nhiều lần, đang tu tại chùa Thất Sơn; rồi tới Sa Đéc gặp ông hội đồng Nguyễn Thành Hiến, một nhà yêu nước Tiếp đó, ông về Huế, rồi đi các nơi
để kết nạp những người cùng chí hướng, tranh thủ ngay cả sự đồng tình của các linh mục Thiên chúa giáo; nhờ đó, sau này nhiều giáo dân đã tham gia sự nghiệp cứu nước do ông đứng đầu
Sau quá trình chuẩn bị, thượng tuần tháng 5 - 1904, Phan Bội Châu,
Cường Đệ cùng 20 đồng chí họp tại nhà riêng của Nguyễn Hàm cùng nhau thành lập một tổ chức bí mật có tên là Duy Tân hội Cường Để được cử làm hội chủ Nguyễn Hàm, Phan Bội Châu, Trình Hiền, Lê Võ, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Thái Nam Xương (Thái Phiên) là những hội viên trọng yếu Hội nghị này nhằm chính thức hoá đường lối cứu nước của Phan Bội Châu và của các đồng chí chủ chốt đã hoạch định từ trước Mục đích chính trị là đánh Pháp, giành lại độc lập cho Tổ quốc Căn cứ vào vào việc tôn Cường Để làm hội chủ, Duy Tân hội vẫn chưa ra ngoài chủ nghĩa quân chủ, nhưng là quân chủ lập hiến, vua chỉ có danh mà không có quyền Cường Đệ được mời làm hội chủ để “thu phục nhân