Từ đó, nêu lên được những nội dung tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu qua các thời kỳ, bước đầu đánh giá ý nghĩa những đóng góp của ông đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
Trang
A Mở đầu 1
B Nội dung 7
CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG CỦA PHAN BỘI CHÂU 7
1.1 Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước tác động đến tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu 7
1.1.1 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 7
1.1.2 Sự tác động của tình hình thế giới vào Việt Nam 18
1.1.3 Nhiệm vụ lịch sử mới và hai xu hướng giải quyết 21
1.2 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu 25
1.2.1 Tiến trình tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu 25
1.2.2 Những điều kiện chủ quan để Phan Bội Châu trở thành nhà tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu đầu thế kỷ XX 29
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG CỦA PHAN BỘI CHÂU VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG 37
2.1 Quan niệm nho giáo của Phan Bội Châu khi bàn về khía cạnh tôn giáo - trời, đạo trời, qủy thần 37
2.2 Quan niệm của Phan Bội Châu về đoàn kết tôn giáo, tự do tôn giáo
42 2.3 Phan Bội Châu phê phán những biểu hiện mê tín dị đoan hủ tục của các tôn giáo, tín ngưỡng 54
2.4 Tư tưởng phân biệt giữa những người theo tôn giáo chánh tín và những kẻ thực dân đội lốt tôn giáo 65
2.5 Tư tưởng Phan Bội Châu về Phật giáo 71
2.6 Tư tưởng của Phan Bội Châu về phân biệt những yếu tố tích cực, tương đồng ở các tôn giáo 84
2.7 Một số hạn chế trong tư tưởng của Phan Bội Châu 90
C Kết luận 97
D Tài liệu tham khảo 100
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phan Bội Châu (1867-1940) là nhà yêu nước, nhà tư tưởng, danh nhân văn hóa trong lịch sử cận đại Việt Nam Ông là dấu nối giữa tư tưởng văn hóa truyền thống với tư tưởng văn hóa hiện đại của Việt Nam Vì thế đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đề tài Phan Bội Châu từ nhiều góc độ lịch sử, văn học, văn hóa, tư tưởng triết học Tuy rằng nhìn nhận về các vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau nhưng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Ngày nay, chúng ta đi theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ chí Minh; chúng ta không quên các cống hiến của các vị tiền bối yêu nước trong
đó có nhà chí sĩ, nhà văn hóa lớn, có vị “thiên sứ” Phan Bội châu” [22, tr.10]
Cho đến nay, những quan niệm tiến bộ trong tư tưởng của Phan Bội Châu vẫn còn ánh lên những nhân tố hợp lý và có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn Việc tiếp tục tìm hiểu tư tưởng của Phan Bội Châu nói chung và tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo nói riêng sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp cách mạng của nước ta hiện nay và giúp cho chúng ta có thêm luận cứ
để chứng minh cho tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh Như chúng ta biết, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về Phan Bội Châu, đặc biệt là trong lĩnh vực sử học, văn học thì khá dồi dào Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, tư tưởng của ông chưa được nghiên cứu nhiều
và còn có những nhận định, đánh giá chưa thống nhất Tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo tuy chưa thành hệ thống nhưng không kém phần tiêu biểu, đặc sắc và hàm chứa nhiều nội dung, ý nghĩa sâu sắc Do đó, việc tìm hiểu tư tưởng của ông trên lĩnh vực này vừa là một nhu cầu, vừa là một công việc có
ý nghĩa lý luận và thời sự cấp thiết
Trong điều kiện hiện nay, cùng với việc tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhân loại, hơn bao giờ hết, chúng ta phải biết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc nhằm xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Sự nghiệp cách mạng của chúng ta không được phép đoạn tuyệt với
Trang 5quá khứ, mà phải là sự tiếp nối và phát huy những truyền thống tốt đẹp, những giá trị nhân văn của dân tộc Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hóa dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc”[21, tr.11] Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII và đứng trước yêu cầu của thực tiễn, việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và việc tìm hiểu tư tưởng tôn giáo của Phan Bội Châu nói riêng đang là một nhu cầu cần thiết đối với chúng ta Việc làm đó chẳng những có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta hiện nay
Sự hình thành và phát triển tư tưởng tôn giáo của Phan Bội Châu là một quá trình phức tạp, trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, ở mỗi thời kỳ lại có những đặc điểm nhất định và bao chứa một nội dung khá phong phú có ý nghĩa sâu sắc cần được đi sâu tìm hiểu Xuất phát từ những lý do đó, trong khuôn khổ luận văn tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu ở một số nội dung tư tưởng nội bật mà ở đó còn nhiều điểm chưa thống nhất với nhau Đặc biệt, luận văn tập trung tìm hiểu ở trong các di thảo của Phan Bội Châu để lại qua Phan Bội Châu Toàn tập, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2000
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Lịch sử Việt Nam thời cận đại ghi nhận vị trí rất quan trọng của tư tưởng Phan Bội Châu Chúng ta biết đến công ơn như một nhân vật lịch sử tài năng ở các lĩnh vực văn thơ, triết học, chính trị, lịch sử, tôn giáo… Vì thế, tư tưởng của Phan Bội Châu là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong
và ngoài nước với khối lượng rất lớn Trong thời gian gần đây có nhiều cuộc hội thảo như:
Trang 6Năm 1997, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 130 năm ngày sinh của Phan Bội Châu, Trường ĐHKHXH&NV tổ chức hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của ông, có sự phối hợp với trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Bảo tà ng cách mạng Việt Nam Hội nghị có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu Trung ương và địa phương Gần đây, tháng 9/2005, nhân kỷ niệm 100 năm phong trào Đông Du, Ban Tuyên huấn tỉnh Nghệ An và trung tâm văn hóa ngôn ngũ Đông Tây đã tổ chức hội thảo kỷ niệm 100 năm phong trào Đông Du và Phan Bội Châu Tháng 11/2005, Trường Đại học KHXH&NV phối hợp với đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam và Trường Đại học Waseda Nhật Bản tổ chức hội thảo khoa học “Quan hệ văn hóa, giáo dục Việt Nam - Nhật Bản và 100 năm phong trào Đông Du” trong đó đánh giá vai trò vô cùng quan trọng của Phan Bội Châu đối với quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thông qua hoạt động của ông ở Nhật Bản
Trên lĩnh vực nghiên cứu, có nhiều công trình có giá trị, trước hết phải
kể đến công trình tiêu biểu như “Tìm hiểu Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh” của Tôn Quang Phiệt (Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1956)
- “Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ giữa thế kỹ XIX đến Cách mạng tháng Tám”, tập 2 của GS Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1975)
- “Phan Bội Châu - Con người và sự nghiệp cứu nước” của Chương Thâu (Luận án Phó tiến sĩ sử học, Viện Sử học, Hà Nội, 1981)
- Tiếp theo những công trình nghiên cứu về văn học, Sử học, năm
1976, các tác giả: Bùi Đăng Duy, Nguyễn Đức Sự, Chương Thâu đã viết chuyên đề nghiên cứu về tư tưởng chính trị và tư tưởng Triết học của Phan Bội Châu mà nhà xuất bản khoa học xã hội đã xuất bản ra mắt bạn đọc
- Trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 64, tháng 8 năm 1967 nhà nghiên cứu Lê Sỹ Thắng đã có bài viết: “Thử nêu lên vài nhận xét về tư tưởng triết học của Phan Bội Châu”
Trang 7Trong đó có nêu lên những quan điểm của Phan Bội Châu về mối quan
hệ giữa người với trời, qủy thần và tôn giáo, nêu lên mối quan hệ giữa thể xác
và linh hồn, đồng thời cũng đưa ra những nhận xét bước đầu về quan niệm của Phan Bội Châu về tôn giáo
- Tác giả Đặng Huy Vận viết: “Phan Bội Châu và công cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo ở đầu thế kỷ XX” đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 104/1967
- Tác giả Phạm Hồng Tung có bài: “Tìm hiểu về Phan Bội Châu và vấn
đề đoàn kết lương giáo chống pháp đầu thế kỷ XX” Tạp chí nghiên cứu lịch
sử 6/1999
- Tác giả Lê Ngọc Thông có bài viết: “Quan niệm của Phan Bội Châu
về tôn giáo” (Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 1, 2001 ) trong đó có nêu một
số nội dung tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo nhưng chưa thành hệ thống
và đầy đủ
- Gần đây, tác giả Đỗ Thị Hòa Hới và Nguyễn Khắc Sâm có bài viết:
“Tư tưởng Phan Bội Châu về Phật giáo thời kỳ ở Huế” (Tạp chí Khuông Việt,
số 7, 2009) trong đó đề cập đến tư tưởng của ông về Phật giáo
- Trong những năm gần đây các luận án tiến sĩ đã đề cập gián tiếp với
tư tưởng về tôn giáo của Phan Bội Châu như luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hòa với “Tư tưởng triết học và chính trị của Phan Bội Châu”
Lê Ngọc Thông với “Thế giới quan của Phan Bội Châu”, Luận án tiến
sĩ, năm 2003
Trên đây là những công trình nghiên cứu lớn, những tìm hiểu về Phan Bội Châu, các công trình này đều tiếp cận ở nhiều góc độ: Lịch sử, văn học, triết học…Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu một cách hoàn chỉnh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là: Qua phân tích điều kiện hoàn cảnh lịch sử đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng về tôn giáo của Phan Bội Châu
Trang 8Từ đó, nêu lên được những nội dung tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu qua các thời kỳ, bước đầu đánh giá ý nghĩa những đóng góp của ông đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam cận đại
Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ của luận văn hướng đến là: + Phân tích những điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng tác động tới sự hình thành và phát triển tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu
+ Hệ thống hóa và phân tích những nội dung tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu
+ Bước đầu phân tích ý nghĩa và nêu lên được giá trị và hạn chế của những tư tưởng đó đối với tiến trình phát triển của lịch sử tư tưởng Việt Nam trước 1945
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý, những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về tôn giáo và chính sách tôn giáo hiện nay
4.2 Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử triết học, nhất là lịch sử triết học Phương Đông, luận văn đã kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể chủ yếu sau: Logic lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh và
hệ thống hóa…nhằm tái hiện một cách chân thực những quan điểm về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu
5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu tư tưởng của Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng qua các thời kỳ Đặc biệt chú trọng đi sâu tìm hiểu về tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng của ông trong Phan Bội Châu toàn tập, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế, 2000
Trang 96 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn góp phần vào việc tìm hiểu, kế thừa, hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn nhận thức về tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu
Từ đó, luận văn chẳng những cung cấp thêm cứ liệu góp phần xây dựng môn lịch sử tư tưởng Việt Nam cận đại, mà còn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng trong hiện thực xã hội Việt Nam
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia làm: 2 chương và 9 tiết
Trang 10B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN CHO SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TƯ TƯỞNG VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG CỦA PHAN BỘI CHÂU
1.1 Điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước tác động đến tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu
1.1.1 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Từ cuối thế kỷ XIX, phong trào vũ trang khởi nghĩa từ Nam chí Bắc sau khi Hàm Nghi xuất bôn và phát hịch Cần Vương đã lụi dần với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương sơn (1896), toàn bộ đất nước ta bị đặt dưới sự thống trị của thực dân pháp Chúng bắt đầu thực hiện kế hoạch “khai thác thuộc địa lần thứ nhất”, kéo dài từ năm 1897 đến chiến tranh thế giới làn thứ nhất Trước đó, xã hội Việt Nam từ tính chất thuần phong kiến tập quyền Á Đông vốn đình trệ lâu dài, vì trong lòng nó không có mầm mống đủ mạnh cho
sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, giờ đây đã bị cuốn hút vào quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản Pháp Xã hội Việt Nam trở thành một xã hội thuộc địa - nửa phong kiến
a Về chính trị
Nhằm khai thác thuộc địa với quy mô ngày càng lớn, thực dân pháp đã thiết lập và kiện toàn cơ cấu mọi mặt của bộ máy thống trị thực dân từ Trung ương đến địa phương Nhà nước “bảo hộ” thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước ta thành một “sân sau” của chính quốc, thị trường tiêu thụ hàng hóa và bóc lột nhân công để thu về lợi nhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời vẫn kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạng trì trệ của một nước công nghiệp lạc hậu để dễ bề thống trị Thực dân Pháp nắm quyền điều khiển
bộ máy thống trị và câu kết với giai cấp phong kiến phản động đầu hàng làm tay sai cho chúng Cả bộ máy quan lại Nam triều từ trên xuống đến tỉnh, huyện, xã cùng với bè lũ thực dân xâm lược ra sức đàn áp bóc lột nhân dân ta Đồng chí Lê Duẩn đã viết: “Để bóc lột nhân dân lao động, chủ yếu là nông
Trang 11dân nước ta, đế quốc Pháp không phá bỏ chế độ phong kiến, để cho chủ nghĩa
tư bản phát triển tự do, trái lại chúng rất cần duy trì chế độ phong kiến đó Chúng nuôi dưỡng chế độ phong kiến chính là để bóc lột theo lối tư bản chủ nghĩa nặng nề hơn, mạnh và nhiều hơn”[16, tr.22] Đứng đầu cai trị toàn Đông Dương có viên thực dân Pháp giữ chức toàn quyền, bên cạnh viên toàn quyền về phía Việt Nam có triều đình Huế làm bù nhìn Đứng đầu các xứ, kỳ
có các tên thực dân Pháp giữ chức thống đốc, thống sứ hoặc khâm sứ Đứng đầu các tỉnh có các tên công sứ người Pháp Bên cạnh có các tên tuần phủ hoặc tổng đốc người Việt…
Song song với việc củ ng cố bộ máy hành chính, thực dân Pháp còn tăng cường lực lượng quân đội và nắm hết quyền chỉ huy tất cả quân đội Pháp
và Việt Chúng còn ra sức củ ng cố các cơ quan tòa án, cảnh sát, mật thám, nhà tù…ở các địa phương để sẵn sàng đàn áp phong trào cách mạng và những người có hành động chống đối
Thủ đoạn thâm độc nhất của chính quyền thuộc địa là chính sách “chia
để trị” “dùng người Việt trị người Việt” [53, tr.19] Chúng thực hiện 3 chế độ chính trị cho 3 kỳ, gây chia rẽ người Nam với người Bắc, người Trung, gây chia rẽ thù hằn giữa dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, giữa các tôn giáo với nhau
Ngoài ra, về mặt xã hội, chúng còn duy trì và phát triển những phong tục hủ bại thời phong kiến, khuyến khích cờ bạc, uống rượu, hút thuốc phiện, phát triển mê tín dị đoan trong nhân dân, khuyến khích việc thành lập và tuyên truyền các tôn giáo để âm mưu ru ngủ nhân dân ta Tất nhiên, đối với những người đi ngược lại và đả phá sự hủ bại thối nát, mê tín, ngu dân ấy thì đều bị chúng ngăn cấm và trừng trị, như các phong trào của Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, cuộc vận động Duy Tân 1904 - 1908 ở Trung kỳ, phong trào Đông Du 1905 - 1907
Trước tình hình đó, đã làm cho mâu thuẫn giữa toàn bộ dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược càng thêm gay gắt Để giải quyết mâu thuẫn
Trang 12đó, đòi hỏi phải đoàn kết, hiệp lực mọi lực lươ ̣ng yêu nước, tiến bộ đứng dậy lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp Chính yêu cầu này đã ảnh hưởng và được phản ánh đậm nét trong tiến trình phát triển tư tưởng về tôn giáo của Phan Bội Châu trong quá trình đấu tranh giành độc lập cho dân tộc
b Về kinh tế
Trước khi Pháp xâm lược, kinh tế nước ta chỉ là một nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, tự cung, tự cấp Thủ công nghiệp tuy có nhiều nghề nhưng quy mô nhỏ bé, phân tán khắp nơi, có nghề có kỹ thuật khá tinh xảo, nhưng
do kinh tế hàng hóa chưa phát triển, nên còn ở mức phường bạn, chưa có công xưởng và chỉ bó gọn trong từng địa phương nhỏ hẹp Thương nghiệp chỉ là buôn bán nhỏ, làm nhiệm vụ trao đổi từng vùng, do giao thông không thuận lợi và thuế khóa nặng nề nên kém phát triển Việc buôn bán với nước ngoài bị chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình ngăn chặn
Thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, giành lấy quyền thống trị về chính trị, sử dụng nó vào việc phát triển kinh tế theo lợi ích của chúng để thu lợi nhuận cao nhất và bù vào chỗ thua thiệt và chậm chạp vì phải sa lầy vào chiến tranh trước đây Chính sách kinh tế của Pháp ở Việt Nam có thể nói gọn lại là: bán hàng hóa, khai thác nguyên liệu bằng cách bóc lột nhân công rẻ mạt và cho vay lãi “nền sản xuất chỉ được thu gọn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì mà nước Pháp không có Công nghiệp nếu cần được khuyến khích thì cũng chỉ trong giới hạn nhằm bổ sung cho công nghiệp chính quốc, không làm hại đến nền công nghiệp chính quốc”[39, tr.112-113]
Trên cơ sở chính sách đó, thực dân Pháp đã thực hiện việc độc chiếm thị trường, độc quyền ngoại thương, mua rẻ hàng nông nghiệp và bán đắt hàng công nghiệp Chúng cũng độc quyền thu mua, xuất khẩu nhiều mặt hàng quan trọng khác từ than đá, quặng mỏ, nông - lâm - hải sản…đến cả các sản phẩm thủ công Đồng thời, thực dân Pháp sử dụng bộ máy thống trị đề ra những luật lệ, tô thuế hết sức nặng nề, nhằm bần cùng hóa nhân dân lao động,
Trang 13tạo ra nguồn công nhân rẻ mạt, thừa thãi, cung cấp cho quá trình khai thác thuộc địa, dựa vào sức người, sức của sẵn có
Như vậy, thực dân Pháp một mặt, duy trì phương thức sản xuất phong kiến cũ lạc hậu, mặt khác, từng bước du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tại thuộc địa Vì thế, nền tảng và cơ cấu của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ có nhiều biến chuyển mới, có cả hai phương thức sản xuất mới cùng song song tồn tại: phương thức sản xuất phong kiến và phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa “Dưới sự tác động của hai phương thức sản xuất này đã làm cho nền tảng, cơ cấu kinh tế của xã hội Việt Nam biến đổi theo chiều hướng
đi dần vào quỹ đạo mới, tiến bộ hơn - qũy đạo tư bản chủ nghĩa, nhưng là một thứ tư bản chủ nghĩa thuộc địa, phụ thuộc hoàn toàn vào chính quốc”[29, tr.10] Tuy vậy, do có sự mở rộng giao lưu hàng hóa và do nhu cầu của bè lũ thực dân muốn khai thác tài nguyên mà buộc chúng mở mang giao thông, xây dựng đường sá, cầu cống, các thương điếm, công trường, xí nghiệp… ra đời
Sự chuyển biến trong cơ cấu kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng
tư tưởng bên ngoài du nhập vào Mặt khác, nó cũng làm phá sản chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, làm cho Việt Nam tiếp xúc được với thế giới, nhất là với Châu Âu tư bản chủ nghĩa, mặc dù thực dân Pháp đã chặn một hàng rào thuế quan khá chặt chẽ và bắt buộc Việt Nam chỉ được sống với thân phận phụ thuộc, làm cái đuôi của tư bản Pháp và chỉ được phép
có quan hệ với riêng nước Pháp mà thôi” [53, tr.21]
Chính những điều kiện kinh tế này đã có tác động lớn làm cho tính chất cổ truyền của xã hội Việt Nam bị biến dạng và bị phá vỡ dần về mọi mặt cùng với sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Chính điều này, đã có tác động đến toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam nói chung và tư tưởng Phan Bội Châu nói riêng, mở rộng phạm vi nhận thức về tôn giáo của ông
Trang 14c Về văn hóa - giáo dục - tôn giáo
Để đào tạo những người giúp việc trực tiếp cho các tổ chức chính trị và kinh tế của chúng, thực dân Pháp phải tổ chức nền giáo dục Tùy theo yêu cầu chính trị của từng giai đoạn mà chúng đưa ra những chủ trương cụ thể Nhưng quán xuyến tất cả thời thuộc Pháp là xây dựng một nền giáo dục thực dân - nửa phong kiến với mục đích nhằm nô dịch và đồng hóa nhân dân Việt Nam Phương châm của chúng là một mặt ra sức duy trì để lợi dụng nền Nho học với chế độ khoa cử lỗi thời, mặt khác chỉ mở tại các đô thị lớn một số ít trường tiểu học Pháp - Việt, trường thông ngôn trong phạm vi tối cần thiết mà thôi Báo cáo của P.Đume đọc trước Hội đồng tối cao Đông Dương có đoạn:
“Những nguyên tắc đã làm cho trong xã hội người bản xứ, gia đình được vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ đều được rút
ra từ các sách Hán học ngay những nguyên tắc nền tảng của luân lý Nho giáo,
họ khắc sâu vào lòng dạ những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ trong cả cuộc đời Chính các trường làng đã đem lại cho họ nền học vấn đó” [39, tr.109]
Những tên toàn quyền thực dân tiếp theo sau như Xaro, Meclanh…đều thực hiện chính sách giáo dục “nhằm cổ súy cựu học”, mua chuộc Nho sĩ như vậy Nhưng càng về sau chính các vùng đất học truyền thống đó lại trở thành trung tâm của sự chống đối, truyền thống đó lại càng không được các Nho sĩ duy tân hưởng ứng, hoan nghêng, trái lại đã bị lực lượng Nho sĩ yêu nước thức thời ra sức tẩy chay, phản đối Đến giữa cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp đã buộc phải “Cải cách” nền giáo dục quá ư cổ hủ này Chúng bãi bỏ mọi chế độ thi cử theo hệ thống Nho học cũ và thay vào đó một
hệ thống giáo dục lai căng, què quặt, gọi là “giáo dục Pháp - Việt” đóng khung trong bậc tiểu học, dạy bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp, nhằm tiếp tục đào tạo một số người giúp việc có “trình độ tây học” để tuyển chọn những nhân viên thừa hành rẻ tiền cho bộ máy chính quyền thuộc địa Nền giáo dục cải cách này cũng là để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa với quy
mô lớn để tăng cường nô dịch nhân dân ta về mặt tư tưởng, ý thức, về văn hóa
Trang 15giáo dục Những thủ đoạn bịp bợm ngu dân đó, đã bị Phan Bội Châu vạch trần trước dư luận như sau: “Sau khi bỏ lối học khoa cử rồi những người hơi tiêu biểu trong chúng tôi đều nghển cổ chờ xem nền giáo dục mới mình mong mỏi thế nào Không ngờ, nền giáo dục mới mà người Pháp đem ra thi hành, làm cho chúng tôi thất vọng vô cùng Bởi vì cái gọi là nền giáo dục mới chỉ làm cho người Việt Nam trở thành những con trâu, con ngựa cực kỳ ngoan ngoãn, những tên nô lệ mắt mù, tai điếc, chân tay tê liệt mà thôi” [9, tr.281]
Và thực chất, nội dung của chương trình giáo dục mới ấy là: “Sách giáo khoa chỉ ca tụng công đức người Pháp, khoe khoang sức mạnh quân đội Pháp, ngoài ra chẳng có gì hay ho cả Còn như tổ tiên người Việt Nam dựng nước ra làm sao, đều cấm không cho dạy Trẻ em, sáu tuổi một khi vào trường, đọc sách giáo khoa là đã quyên khuấy mình là người Việt Nam rồi!” [9, tr.281-282]
Tóm lại, thực dân pháp đã lập nên một nền giáo dục mà không bao giờ
đi lệch tôn chỉ chúng đã quy định từ đầu rằng: “Trước tiên, giáo dục có kết quả tăng cường dồi dào giá trị sản xuất của thuộc địa Ngoài ra, nó phải chọn lọc và đào tạo những tay hợp tác, những công chức bản xứ lương trả ít tốn hơn cho ngân sách thuộc địa, phải huấn luyện quen việc các nhà “cầm quyền bản xứ” mà các hiệp ước bảo hộ và sự sáng suốt của một chính sách chính trị
sơ đẳng bắt chúng ta có bổn phận duy trì làm trung gian giữa chúng ta và dân tộc bản xứ” [23, tr.43]
Trước yêu cầu sống còn của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại, đòi hỏi chúng ta phải mở mang dân trí, chấn hưng dân khí, vun trồng nhân tài Tình hình này, đã giúp cho Phan Bội Châu nhận thức rõ hơn sức mạnh của tri thức, vai trò và vị trí của giáo dục và đào tạo đối với sinh mệnh của đất nước
Đối với tôn giáo, bước sang đầu thế kỷ XX tình hình có những biến chuyển to lớn Đó là hệ quả tất yếu của những thay đổi của tình hình kinh tế - chính trị và những chính sách cai trị của thực dân Pháp
Trang 16Một loạt các phong trào yêu nước dưới màu sắc tôn giáo như phong trào Kỳ Đồng - Mạc Đĩnh Phúc, khởi nghĩa của nhà sư Vương Quốc Chính, khởi nghĩa của Phan Xích Long, phong trào phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, phong trào Thiên Địa Hội đã nổ ra liên tiếp khiến cho thực dân Pháp lo sợ, đối phó
Sang những năm 20 của thế kỷ XX, có sự xuất hiện của phong trào Chấn hưng Phật giáo, của “hiện tượng tôn giáo mới” Năm 1926, đạo Cao Đài
ra đời, tiếp ngay sau đó 1939, Phật giáo Hòa Hảo cũng được hình thành và phát triểt rất nhanh Rồi hàng chục các “ông đạo” ra đời, điều đó phản ánh nhu cầu của nhân dân về đời sống tinh thần, mà các tôn giáo mới phần nào đền bù, đáp ứng được những mong mỏi của họ
Thời kỳ này hệ thống “Tam giáo đồng nguyên” bị suy thoái, các tôn giáo, tín ngưỡng cũ và mới khác có mặt tại Việt Nam đều có những thay đổi cho phù hợp với tình hình mới Nho giáo mất đi vị trí độc tôn của nó, trong khi Phật giáo suy thoái cùng các tệ nạn kéo theo cũng đang có nguy cơ mất tín
đồ Đứng trước hiện thực ấy, đầu thế kỷ XX những người đứng đầu Phật giáo
đã kêu gọi Chấn hưng Phật giáo trên toàn quốc
Phong trào Chấn hưng Phật giáo trong những năm 30 và 40 diễn ra khá phức tạp, một mặt do sự nhúng tay của thực dân Pháp, mặt khác do đáp ứng nhu cầu nội tại Phật giáo được các tri thức Phật tử nhận thức, muốn cách tân chấn hưng tôn giáo truyền thống này Tuy vậy, bất chấp sự can thiệp của nhà cầm quyền Pháp phong trào cũng đạt được một số kết quả tích cực nhất là ở Trung Kỳ và Nam Kỳ Lúc này, Phan Bội Châu đang sống ở Huế, ảnh hưởng của phong trào cũng có tác động đến ông Phan Bội Châu tận tâm tuyên truyền những yếu tố của Phật giáo còn tương đồng có thuận lợi cho cách mạng, những điểm có lợi cho công việc tuyên truyền lòng yêu nước đều được ông khai thác một cách sâu sắc
Cũng trong giai đoạn này, được Thực dân o bế, nâng đỡ Thiên Chúa giáo trở thành vấn đề bức xúc Đạo Thiên Chúa truyền vào nước ta từ thế kỷ
Trang 17XVI qua thế kỷ XVII, XVIII Đến thế kỷ XIX, quá trình truyền đạo vào Việt Nam có tình hình đặc biệt, nó gắn liền với quá trình xâm chiếm và thôn tính nước ta của thực dân Pháp Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, lịch sử truyền Đạo Thiên chúa đã trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng, trở thành đối tượng của cuộc đấu tranh về mặt ý thức hệ tôn giáo ẩn sâu trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp của dân tộc Là hệ lụy lịch sử để lại nhiều thế
hệ Việt Nam phải liên đới giải quyết
Từ sau 1930, khác với giai đoạn trước, lúc này cùng với tính chất mới của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, cuộc đấu tranh tư tưởng duy vật
và duy tâm, vô thần và hữu thần diễn ra gay gắt, nó không chỉ thể hiện ở mặt
tư tưởng mà nó còn gắn với vấn đề phong hóa và chủ quyền của dân tộc Cuộc đấu tranh đó sẽ là mảng chính trong bức tranh sinh hoạt tôn giáo Việt Nam giai đoạn này và về sau nữa Vì thế, tư tưởng của Phan Bội Châu về tôn giáo chiếm một vị trí quan trọng trong việc xây dựng đường lối cứu nước của ông, không chỉ thời kỳ còn tự do hoạt động mà kể cả lúc ông bị bắt về an trí ở Huế nữa Đặt vào bối cảnh lịch sử đó chúng ta mới có thể đánh giá được một cách khách quan tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu với tính nhiều chiều
d Sự biến đổi cơ cấu giai cấp và vai trò của các giai cấp trong xã hội cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Những điều kiện chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa - giáo dục - tôn giáo đã gây tác động mạnh mẽ trong xã hội làm cho sự phân hóa giai cấp trở nên sâu sắc hơn Việt Nam trước khi pháp xâm lược là một xã hội phong kiến Phương Đông đóng cửa, lạc hậu, nhưng lại là một chính thể độc lập, thống nhất, từ nay trở thành một nước bị tước đoạt chủ quyền chia cắt,
đô hộ, thành một xã hội thực dân - nửa phong kiến, có “đổi mới” nhưng không phải thực sự tiến bộ và khai phóng, mà là cái đuôi phụ thuộc nặng nề chủ nghĩa đế quốc Pháp
Trang 18Giai cấp địa chủ phong kiến, lực lượng thống trị cũ của xã hội, trước tình hình đất nước bị ngoại xâm, do quyền lợi cụ thể của từng bộ phận trong giai cấp này có chỗ khác nhau nên thái độ của họ trước kẻ thù dân tộc cũng khác nhau Một bộ phận giai cấp này khuất phục thỏa hiệp, đầu hàng thực dân Pháp để duy trì và bảo vệ quyền lợi ích kỷ của mình, họ đã liên minh, câu kết với thực dân Pháp để đàn áp, bóc lột nhân dân ta ngày càng thậm tệ hơn “sự câu kết giữa hai lực lượng thực dân và phong kiến đã tạo ra một lực cản hết sức lớn đối với sự phát triển xã hội, nó kìm hãm các yếu tố mới” [45, tr.151]
Bộ phận còn lại có thái độ bất hợp tác với thực dân Pháp, quay lưng với thực tế, bi quan trước thời cuộc, sống ẩn dật Tuy nhiên, cũng có một số người trong bộ máy này, do hoàn cảnh bắt buộc, phải ra làm quan nhưng là
để chờ thời cơ, che mắt kẻ địch Đây là lớp người có tinh thần yêu nước, chịu chung số phận với nổi khổ nhục của nhân dân, nhưng họ chưa tìm thấy con đường đi mới
Tầng lớp sĩ phu, mặc dù họ bị tác động bởi các chính sách giáo dục của thực dân Pháp, nhưng gần cuối thế kỷ XIX, họ vẫn đứng hàng đầu trong “tứ dân” Trước diễn biến phức tạp của thời cuộc, tầng lớp sĩ phu cũng có sự phân hóa Một số tỏ ra bế tắc, chán nản trở về với cuộc sống điền viên, để vừa giữ được chữ “danh” lại vừa giữ được chữ mệnh Một số lấy chiêu bài “tùy thời”,
“tùy thế” để ngụy biện cho hành động cúi đầu, ôm chân liếm gót thực dân Nhưng trái lại, đứng trước cảnh nước mất nhà tan, một số sĩ phu yêu nước tiến bộ trong đó có Phan Bội Châu, vẫn luôn nêu cao tinh thần yêu nước tiến
bộ, kiên quyết chống xâm lăng, xứng đáng với truyền thống quật cường của dân tộc Thông qua hoạt động thực tiễn và bằng sự nhạy cảm của mình, tầng lớp sĩ phu yêu nước này đã nhìn thấy sự hạn chế bất lực của hệ tư tưởng phong kiến vào việc giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc, họ đã biết kế thừa tinh hoa truyền thống của dân tộc, hăm hở tiếp xúc với trào lưu tư tưởng mới qua “tân thư”, “tân văn” và qua hình mẫu của các xã hội Nhật Bản, Pháp “Họ
đã bền bỉ kiên trì để đưa những tư tưởng mới này đến cho nhân dân Tuy có
Trang 19những hạn chế về lịch sử nhưng họ thực sự là những chiếc cầu nối cho sự chuyển đổi tìm hướng đi lên của dân tộc” [32, tr.34] Họ có vị trí xứng đáng trong sự phát triển tư tưởng của dân tộc Phan Bội Châu là một trong những người tiêu biểu đó Ông là người đã góp nhiều tư tưởng xuất sắc tiến bộ về lĩnh vực chính trị - tôn giáo…
Nông dân là thành phần chiếm đa số trong nhân dân, trước kia dưới chế
độ phong kiến, họ đã từng bị áp bức bóc lột nặng nề đến lúc này họ lại thêm một tầng áp bức mới nữa của đế quốc xâm lược, do đó sức phản kháng của họ càng mạnh, ý chí chiến đấu của họ càng cao Họ là đội quân chủ lực của mọi cuộc khởi nghĩa chống Pháp và chống bè lũ phong kiến tay sai đầu hàng giặc suốt từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Và còn lâu về sau nữa, nông dân vẫn
là đại đa số nhân dân trong nước, là đối tượng bóc lột của phong kiến và thực dân, cho nên nông dân vẫn là đội quân hùng hậu của cách mạng giải phóng dân tộc Tuy nhiên, họ không có khả năng lãnh đạo cách mạng, bởi vì họ không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến Lực lượng hùng hậu này chỉ trở thành đội quân chủ lực đông đảo của cách mạng và tìm ra ánh sáng soi đường cho mình đi đến thắng lợi khi đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản “Có đi với giai cấp công nhân thì nông dân mới trở thành một lực lượng vĩ đại” [17, tr.25]
Song song với kế hoạch khai thác thuộc địa và sự củng cố, kiện toàn bộ máy hành chính sự nghiệp của bọn thống trị, một tầng lớp tiểu tư sản thành thị cũng ra đời và trưởng thành Họ là những tiểu thương, tiểu chủ, sinh viên, trí thức sống chủ yếu ở thành thị…Họ chính là một tầng lớp trung gian trong kết cấu mới của xã hội
Sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân Pháp vào Việt Nam đầu thế kỷ
XX đã làm sản sinh một giai cấp mới, giai cấp tư sản Việt Nam, họ phân hóa thành hai bộ phận: tư sản mại bản và tư sản dân tộc Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 - 1918) họ chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh,
họ đã chuyển thành giai cấp xã hội và bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, góp
Trang 20phần vào phong trào đấu tranh của dân tộc Nhưng, do địa vị kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ bé và thấp kém so với tư bản nước ngoài, cũng như so với hệ thống sản xuất xã hội đương thời, nên thái độ chính trị giai cấp
tư sản Việt Nam rất bạc nhược Họ không đủ sức nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
Khác với giai cấp tư sản, đầu thế kỷ XX, giai cấp vô sản Việt Nam đã
ra đời, trước giai cấp tư sản cùng với sự khai thác tài nguyên, xây dựng đường
sá, cầu cống của thực dân Pháp ở Việt Nam Đồng thời, với chính sách áp bức bóc lột, chiếm đoạt đất đai của cải một cách tàn bạo của thực dân Pháp đối với nhân dân ta, đã phá hủy nền kinh tế tự cấp, tự túc và do đó, làm cho một
số khá đông nông dân, thợ thủ công bị phá sản, đời sống vô cùng cực khổ Cũng như vậy, song song với việc kinh doanh công thương nghiệp của tư bản Pháp, đã thu hút một số không ít người bị phá sản, thất nghiệp vào làm phu
mỏ, phu đồn điền, phu khuôn vác, phu cầu đường… Lớp người này ngày một đông và hình thành nên một giai cấp mới Khác với những người thợ trong công trường thủ công thời phong kiến, họ bị bóc lột theo kiểu tư bản chủ nghĩa, đó là giai cấp những người vô sản, một lực lượng mới và rất quan trọng trong cách mạng Việt Nam
Giai cấp vô sản Việt Nam trong giai đoạn này đang là giai cấp “tự nó”
Nó sẽ lớn lên nhanh chóng sau cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất và nhất là
từ những năm 20 trở về sau Từ 1930 khi có chính Đảng Cộng sản nó sẽ trở thành giai cấp “vì nó” và phất cao ngọn cờ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đi đến toàn thắng sau này
Sự phân hóa giai cấp trong xã hội ta những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như đã trình bày ở trên sẽ là một tiền đề rất quan trọng đối với việc tìm hiểu tính chất phong trào yêu nước chống Pháp đầu thể kỷ XX Tình hình
đó cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của Phan Bội Châu là người tiếp nhận hệ tư tưởng dân chủ tư sản để soi sáng cho nhân dân trong những năm đầu thế kỷ XX, từ sau năm 1930 tư tưởng của ông không còn đứng ở vị trí
Trang 21tiên phong nữa nhưng không phải chỉ là lực cản mà có nhiều yếu tố tác động thuận chiều cho cách mạng vô sản
1.1.2 Sự tác động của tình hình thế giới vào Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX các nước tư bản chính trên thế giới đã dần dần phát triển thành đế quốc chủ nghĩa đi xâm chiếm thị trường Trong những nước này, mâu thuẫn giai cấp do chủ nghĩa đế quốc sản sinh ngày càng trở nên sâu sắc, nhờ được giác ngộ trang bị vũ khí lý luận chủ nghĩa Mác, giai cấp công nhân đã chuyển mình mạnh mẽ và đã tiến hơn một bước trong công việc: “đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” [41, tr.605] Trong khi đó, ở các nước phương Đông chậm tiến hơn, những tư tưởng cách mạng - những tư tưởng đã sớm phát sinh ở phương Tây từ thế kỷ trước - từ đây mới phát triển mạnh mẽ và tác động đến các nước phương Đông thuộc địa và nửa thuộc địa
Do vậy, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ Vấn đề dân tộc trở thành vấn đền liên quan đến nhiều quốc gia, thành vấn đề đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc Cũng chính trong bối cảnh đó, các trào lưu, tư tưởng phương Tây bắt đầu có điều kiện xâm nhập tác động một cách mạnh mẽ đến các nước phương Đông Trước tiên là những tư tưởng dân chủ tư sản được các sĩ phu yêu nước tiếp nhận một cách gián tiếp qua sách báo, Hán văn, Nhật văn của Trung Quốc, Nhật Bản và
về sau đó sẽ là ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin bằng các con đường khác nhau, mà Trung Quốc, Nga, Pháp là những ngả chính
Đầu thế kỷ XX, với thắng lợi của công cuộc Duy Tân, Nhật Bản đã tiến sang con đường tư bản chủ nghĩa với tốc độ nhanh và trở thành một cường quốc Đặc biệt, việc Nhật Bản đại thắng trong cuộc chiến tranh với Nga (1904
- 1905) có tiếng vang lớn trên thế giới, nhất là đối với các dân tộc ở Châu Á Nhật từ nay được coi như cứu tinh của các dân tộc da vàng Một xu hướng thân Nhật phát triển ở Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ… xu hướng này ít nhiều có tác động đến tinh thần chống đế quốc ở các nước thuộc địa và bán thuộc địa ở Á Châu Không phải ngẫu nhiên mà Phan
Trang 22Bội Châu đã chọn hướng Đông Du (đi Nhật Bản) để cầu viện, xem xét, học hỏi và hi vọng tìm thấy con đường cứu nước Phan Bội Châu viết: “Trận Nga
- Nhật chiến tranh mà Nhật đại thắng thật có chỗ hay cho chúng tôi rất lớn Trong óc chúng tôi đến đây có một thế giới mới lạ mở ra” [7, tr.171] Phong trào Đông Du là kết quả ảnh hưởng của những tư tưởng dân chủ tư sản đến Việt Nam rất sôi nổi kéo dài từ 1904 - 1908, đã có một vị trí trọng yếu trong lịch sử cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX
Ở Trung Quốc, sau chiến tranh Trung - Nhật (1895) cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc tiến lên một bước mới, sĩ phu tiến bộ và tầng lớp tri thức tư sản mạnh dạn đòi cải cách Sự kiện “Mậu Tuất chính biến”(1898) và cùng với “Tân thư”, “Tân văn” mang tư tưởng tư sản và văn minh phương Tây (thông qua sách báo Trung Quốc) tràn vào nước ta gây nên những phân hóa về tư tưởng ở trong nước, tạo điều kiện cho phong trào Duy Tân của các
sĩ phu yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ XX Đánh giá về ảnh hưởng tích cực của những sự kiện trên, Phan Bội Châu viết: “nếu mà không có cuộc chánh biến bên Tàu (1898), cùng cuộc Nga - Nhật chiến tranh (1904), sách mới Khương Lương truyền sang, thì giấc mộng bát cổ của sĩ phu ta, e đến ngày nay cũng chưa nguôi” [14, tr.432]
Năm 1911, cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc thành công và nước Trung Hoa dân quốc ra đời đã làm cho “Châu Á thức tỉnh” và nhân dân Trung Hoa vô cùng phấn khởi Sự kiện này đã có tác dụng tích cực đối với sự tiến triển trong tư tưởng, tình cảm Phan Bội Châu trên con đường dân chủ tư sản
và tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của Việt Nam Quang Phục Hội (1912) trong đó có in dấu ấn nhận thức mới của Phan Bội Châu về vấn đề tôn giáo
Năm 1920, sau bao lần thất bại trên con đường hoạt động cách mạng, Phan Bội Châu lâm vào tình trạng bế tắc về mặt tư tưởng Cùng lúc đó thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga ảnh hưởng đến Trung Quốc rất lớn đã đem lại cho Phan Bội Châu luồng sinh khí mới và một niềm tin vào con đường giành độc lập dân tộc Thắng lợi của cách mạng tháng Mười đã làm
Trang 23cho điều kiện lịch sử và tương quan lực lượng trên thế giới thay đổi Bọn đế quốc và các thế lực phản động không thể làm mưa làm gió như trước nữa:
“cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Châu Á mặc dù còn phải trải qua một thời kỳ đầy khó khăn nhưng những tiền đề lịch sử cho khả năng thắng lợi đã trở thành khả năng hiện thực” [30, tr.12] Ảnh hưởng của cuộc cách mạng tháng Mười đã tạo nên những chuyển biến mới trong tư tưởng Phan Bội Châu theo hướng ngày càng tiệm cận với chủ nghĩa Mác - Lênin Phan Bội Châu đã hướng theo cách mạng tháng Mười với một niềm hi vọng là tìm thấy trong đó lối thoát cho sự bế tắc về tư tưởng của mình và con đường cứu nước giải phóng dân tộc Ba năm sau cách mạng tháng Mười (1920), Nguyễn Ái Quốc
đã bắt gặp “sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa” của Lênin, bắt gặp cái cẩm nang cần thiết cho cách mạng Việt Nam, con đường giải phóng dân tộc Việt Nam Năm 1925, người về đến Quảng Châu tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam Ở Trung Quốc tuy chưa được gặp trực tiếp với Nguyễn Ái Quốc nhưng Phan Bội Châu đã có sự tiếp xúc gián tiếp với Nguyễn Ái Quốc, lúc này ông chịu nhiều ảnh hưởng của Nguyễn Ái Quốc, của chủ nghĩa Mác - Lênin và có ý định cải tổ tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng cho phù hợp với xu thế cách mạng mới Song ông chưa kịp thực hiện thì tháng 6/1925, ông bị thực dân pháp bắt giải về Việt Nam Chúng xử án nặng nhưng bị làn sóng đấu tranh của nhân dân phản đối Chúng buộc phải giảm án, giam lỏng ông ở Huế Trong hoàn cảnh “cá chậu, chim lồng” ở Huế, tư tưởng Phan Bội Châu không còn trực tiếp đứng ở vị trí tiên phong, song ông vẫn kiên trì ý chí bất hợp tác, viết nhiều thơ văn nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và ý chí khôi phục độc lập dân tộc Cho đến ngày phải từ giã cuộc đời, Phan Bội Châu trước sau vẫn là người chân thành yêu nước, vẫn một lòng căm thù giặc Pháp Ông rất xa lạ với tư tưởng đối địch với quần chúng, xa lạ với tư tưởng chống cộng, xa lạ với khát vọng nhỏ nhen, chạy theo quyền lợi ích kỷ, hoặc bất cứ một cái gì đi ngược lại với quyền lợi của dân tộc
Trang 24Lúc này, sự xuất hiện của giai cấp công nhân Việt Nam là một sự kiện lịch sử hết sức quan trọng, quyết định tiến trình và bản chất của phong trào cách mạng sau này Đặc biệt, sự ra đời của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đánh dấu một mốc lớn, từ nay cách mạng Việt Nam đã có người lãnh đạo soi đường để đấu tranh giành độc lập đất nước Đối với Phan Bội Châu, ông không còn tự do hoạt động và từ nay không còn là nhân vật trung tâm của cách mạng nữa nhưng ông vẫn luôn hướng theo cổ vũ cho phong trào cách mạng mới Cái mà giờ đây ông có thể làm được đó là hướng vào hoạt động tư tưởng, tuyên truyền lòng yêu nước cho nhân dân, tư tưởng về tôn giáo của ông lúc này vẫn còn chứa đựng những nội dung có giá trị, qua chương 2 chúng ta sẽ làm rõ hơn về tư tưởng này của Phan Bội Châu
Tất cả những tình hình trên đây đã dội vào Việt Nam và ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành, phát triển tư tưởng của Phan Bội Châu
1.1.3 Nhiệm vụ lịch sử mới và hai xu hướng giải quyết
Tiếp theo sau sự “bình định” đất nước ta bằng quân sự thắng lợi, thực dân Pháp liền đẩy mạnh thực hiện chính sách khai thác thuộc địa, cùng với những chính sách chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa - giáo dục, đã làm cho mâu thuẫn giữa đế quốc và nhân dân ta vốn đã sâu sắc lại càng sâu sắc thêm
Đó chính là nguyên nhân, động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình cách mạng hóa nhân dân ta nhanh chóng hơn
Mặt khác, bước sang đầu thế kỷ XX cùng với chế độ thực dân - nửa phong kiến ra đời và thay thế chế độ phong kiến vốn đã tàn lụi, một trạng thái
ý thức xã hội cũ cũng chuyển biến theo và nó cũng phù hợp với trào lưu chung của thế giới, tức là xu thế hướng theo hệ dân chủ tư sản Sự có mặt của
hệ tư tưởng tư sản là một nhân tố mới có vai trò khá quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam
Lúc này, lịch sử đặt ra hai nhiệm vụ cần phải giải quyết đó là: “đánh đổ
đế quốc Pháp giành độc lập dân tộc và canh tân xã hội để đưa đất nước Việt
Trang 25Nam tiến kịp các nước văn minh tiến bộ trên thế giới” [53, tr.32] Hai nhiệm
vụ này có quan hệ mật thiết với nhau và hỗ trợ cho nhau
Thực ra thì từ giữa thế kỷ XIX hai nhiệm vụ đó một phần nào được đặt
ra nhưng còn thiếu hụt sự kết hợp chặt chẽ Những người văn thân Cần Vương chống Pháp như Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thuyết thì hầu như chỉ biết tập trung ý chí và sức mạnh cho việc đánh giặc ngoại xâm Ngược lại những người muốn tiến hành cải cách duy tân đất nước như Nguyễn Trường
Tộ, Phạm Phú Thứ thì ý thức trực tiếp chống Pháp lại lu mờ, rất hiếm có trường hợp như Đặng Huy Trứ, vừa chủ trương cải cách, vừa chống Pháp Đến khi phong trào Cần Vương thất bại, bài học thực tế rút ra là: Với một kẻ thù có trình độ văn minh, có khoa học kỹ thuật tiên tiến, nếu chỉ dùng vũ khí thô sơ và nhiệt tình không thôi để đối phó thì không thể được Vì vậy, muốn đánh thắng thực dân xâm lược và củng cố xây dựng đất nước, thì phải làm sao cho dân giàu nước mạnh, phải thực hành cải cách đổi mới xã hội theo hướng
tư bản chủ nghĩa Thời đại mới quy định những nhiệm vụ mới và phải có một giai cấp tiên tiến đảm nhiệm Nhưng xã hội Việt Nam lúc này đang phân hóa sâu sắc Nông dân là nạn nhân chính của chế độ thực dân, nhưng nông dân lại không đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến, cho nên không thể tự xây dựng được một hệ tư tưởng độc lập Tầng lớp tiểu tư sản thành thị quá bé nhỏ, trước sau vẫn là một tầng lớp trung gian, cũng như nông dân nó cũng chỉ
là bạn đồng minh của cách mạng chứ không thể lãnh đạo cách mạng Giai cấp
tư sản đang trong quá trình hình thành, lại rất yếu ớt, phụ thuộc tư sản nước ngoài và mang tính chất thỏa hiệp với đế quốc để mưu sự lợi cho mình Còn giai cấp công nhân, bắt đầu hình thành từ kế hoạch khai thác thuộc địa lần thứ nhất nhưng số lượng chưa nhiều, còn đang là một giai cấp “tự nó”, chưa trở thành một giai cấp đấu tranh tự giác và có Đảng tiên phong lãnh đạo
Như vậy, một trong những đặc điểm chủ yếu của buổi giao thời thế kỷ
XX là: Trong thời gian vài chục năm ấy, cách mạng Việt Nam không được bất kỳ giai cấp nào lãnh đạo Nó ở vào tình trạng “khủng hoảng giai cấp lãnh
Trang 26đạo” Trong khi đó, cả dân tộc đang phải đắm chìm trong cảnh nước mất chủ quyền, chịu trăm đường áp bức, khổ cực, tối tăm
Trước tình hình “nước sôi lửa bỏng” ấy, một tầng lớp sĩ phu yêu nước -
bộ phận tiến bộ nhất - được phân hóa từ giai cấp phong kiến có hấp thu ít nhiều “tân học” đứng ra đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam Khác với tuyệt đại bộ phận người của giai cấp phong kiến đầu hàng Những sĩ phu này ý thức được trách nhiệm trước lịch sử Họ lấy lại lòng tin, biết dựa vào đông đảo nhân dân yêu nước… và họ cố tiến lên cùng với thời đại, tìm đường hướng cứu nước
Vừa lúc đó, họ tiếp nhận được nguồn ảnh hưởng “gió Mỹ mưa Âu đã làm ồn ào vũ trụ”, những “tân văn, tân thư” từ Trung Quốc, Nhật Bản len lỏi vào Việt Nam Nội dung tư tưởng của những sách báo này đem lại cho họ nhiều nhận thức mới mẻ: Nước Trung Hoa từ ngàn xưa đã là nước ở “trung tâm thiên hạ”, quê hương của các “Thánh Nho”, giờ đây cũng vứt bỏ cả
“thánh kinh, hiền truyện” và bắt đầu nhận những người ở tận bên trời Tây là những “Tiên Nho” của mình Hàng loạt những “đạo” mới xuất hiện Đó là tư tưởng triết học tiến hóa luận của chủ nghĩa Đác - uyn với những Xpenxơ, Hơcxơlây Đó là những lý luận về xã hội học với những Môngtexkiơ, Vônte, Rutxô các bậc “Đại Nho” mới đó đã được cả một đội ngũ môn đồ đầy nhiệt tình truyền bá, nổi bật nhất ở Trung Quốc là Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, Nghiêm Phục, Tôn Trung Sơn, ở Nhật có Cát Điền Tùng
Âm, Phúc Trạch Dụ Cát…
Những học thuyết mới trên, đã lóe lên trong đầu óc những nhà yêu nước Việt Nam đang đi tìm đường cứu nước biến thành những gợi ý hết sức hấp dẫn để giải đáp các vấn đề lịch sử đang đặt ra Họ đã đón nhận những lí luận chính trị, tư tưởng triết học và quan điểm về tôn giáo đó, như là một thứ
vũ khí mới để ứng dụng trong cuộc chiến đấu của mình Nhưng vũ khí - hệ tư tưởng tư sản - đó, một thứ vũ khí vay mượn, không phải được hình thành và tôi luyện trong cuộc đấu tranh chống phong kiến của chính bản thân mình,
Trang 27nên không khỏi có nhiều điểm phiến diện, hạn chế và tiêu cực Lúc này đó là còn chưa kể chính hệ tư tưởng tư sản này đối với thế giới đó là thứ quả trái mùa Người sinh ra nó, chủ nghĩa tư bản, giờ đây đã biến thành chủ nghĩa đế quốc và nó đã bị bóp méo trở nên vũ khí trong tay tên đao phủ đối với các dân tộc Tuy vậy, các nhà Nho “tân học” của nước ta lúc này đã xốc lên được phong trào cứu nước mới mang màu sắc của thời đại mới Họ trở thành thủ lĩnh của những phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX mang tên là Cải cách Duy Tân (1905 - 1908), Việt Nam Quang Phục Hội (1912)… Nhưng tựu chung lại,
có thể chia làm hai xu hướng tư tưởng, cải cách ôn hòa và cách mạng bạo động, cả hai xu hướng này phản ánh một cách trung thành phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX đã phát triển trong hoàn cảnh bên trong và bên ngoài, trong những điều kiện lịch sử phức tạp và mâu thuẫn sâu sắc đó
Xu hướng thứ nhất, đoàn kết nhân dân, đoàn kết đấu tranh, đánh đuổi thực dân Pháp, rồi tiến hành canh tân xã hội, Phan Bội Châu là người đại diện tiêu biểu cho xu hướng này
Xu hướng thứ hai, đoàn kết nhân dân canh tân, dân chủ hóa xã hội, dựa vào Pháp đánh đổ vua quan phong kiến, noi theo phương Tây đến khi có thực lực thì mới giành độc lập dân tộc Phan Châu Trinh là người đại diện tiêu biểu cho xu hướng này
“Sự khác nhau giữa Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh thực ra không phải là sự bất đồng có thể chia tách một người cộng hòa với một người quân chủ Điều chia tách hai người và làm cho con đường đi của họ khác nhau không phải là quan niệm về mục đích cuối cùng, mà là về các phương pháp phải dùng để đạt đến mục đích đó” [3, tr.33]
Hai xu hướng này không những song song tồn tại, mà cũng không đối lập nhau một cách tuyệt đối Chúng xen kẽ lẫn nhau, hòa lẫn với nhau Sở dĩ
có sự khác nhau như vậy là do điều kiện lịch sử và hoàn cảnh cụ thể quy định Những người đứng đầu các xu hướng ấy, Phan Châu Trinh hay Phan Bội
Trang 28Châu, vẫn là những nhà yêu nước chân thành Tên tuổi và sự nghiệp của họ gắn liền với một giai đoạn nhất định của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Bởi vì, họ đã có những cống hiến nhất định trong sự nghiệp giải phóng dân tộc Lich sử mãi mãi ghi nhận công lao của các nhà yêu nước ấy Tư tưởng Phan Bội Châu sản phẩm của một thời đại và tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước thời đại ấy
1.2 Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu
1.2.1 Tiến trình tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu
Phan Bội Châu là một trong những lãnh tụ kiệt xuất của phong trào yêu nước chống Pháp hồi đầu thế kỷ XX Ông là lãnh tụ, là đại diện tiêu biểu nhất của khuynh hướng bạo động, đã kêu gọi toàn dân Việt Nam dũng cảm đứng lên “xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ”, ngõ hầu khôi phục nền độc lập giải phóng dân tộc Để đạt được mục đích đó thì trước hết phải đoàn kết toàn dân Ông thống thiết kêu gọi đồng bào:
“Nghìn, muôn, ức, triệu người chung góp,
Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà”; [6, tr.152]
Như vậy, để đạt được mục đích đó trên con đường hoạt động của mình Phan Bội Châu đã gặp và trải qua rất nhiều vấn đề đòi hỏi ông có cách nhìn, nhãn quan của nhà hoạt động cách mạng để nhằm đoàn kết toàn dân vào nhiệm vụ chung sống còn của dân tộc Trong đó, tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng cũng là tư tưởng quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của ông
Chúng ta đều biết rằng, Phan Bội Châu xuất thân từ gia đình Nho giáo,
và bản thân ông cũng là một nhà Nho Điều kiện gia đình và bản thân như vậy chắc chắn đã có ảnh hưởng nhất định tới nhãn quan của ông đối với tôn giáo
và tình hình tôn giáo trong hiện thực Xét theo logic thì ảnh hưởng này chỉ có thể là loại ảnh hưởng tiêu cực, bởi lẽ Nho giáo và nhà Nho luôn nhìn nhận các
Trang 29lý thuyết, các tôn giáo khác với con mắt kỳ thị Đối với chính sách độc tôn Nho của triều Nguyễn thì chỉ có Đạo Khổng - Mạnh mới là “chính đạo”, còn tất cả những đạo khác thì chỉ là “tà giáo” Hơn nữa Phan Bội Châu lại sinh trưởng ở một vùng quê vốn là một trong những nơi diễn ra phong trào “Bình tây sát tả” khá quyết liệt hồi cuối thế kỷ XIX Thế nhưng, khi trực tiếp lãnh đạo phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Phan Bội Châu đã sớm hướng lên ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo
Phan Bội Châu bắt đầu hoạt động yêu nước từ rất sớm Năm 9 tuổi ông
đã biết chơi trò “bình tây”, năm 17 tuổi ông viết hịch “Bình tây thu Bắc” và năm 19 tuổi ông lại lập ra “Hội thiếu sinh quân”, để đánh Pháp, nhưng chưa kịp hành động thì bị thực dân Pháp phát hiện và giải tán Sau những thất bại đầu tiên này, Phan Bội Châu chuyên tâm vào học hành làm chỗ bay nhảy mai sau, mặt khác thì thời gian dùi mài kinh sử cũng chính là lúc ông có dịp nghiền ngẫm về nguyên nhân mất nước, về nguyên nhân thất bại của phong trào kháng chiến trước đó và kế sách cứu nước sau này Có lẽ đây chính là thời gian mà ông nhận thức được thực chất của vai trò đoàn kết dân tộc, đoàn kết các tôn giáo lại với nhau
Năm 1900, Phan Bội Châu đỗ giải nguyên tại Khoa thi hương trường Nghệ, tháng 9 năm đó thân phụ ông qua đời, thế là ông vừa “có cái hư danh
để che mắt đời”, vừa nhẹ gánh gia đình để dấn thân vào con đường cứu nước như một nhà cách mạng thực thụ Đây cũng là thời gian bước ngoặt dẫn đến những tư tưởng về tôn giáo của ông Theo kế hoạch trù tính cùng với Đặng Thái Thân và một số người khác, trước hết ông thực hiện nhiều chuyến đi khảo sát tình hình đất nước ta và ngầm kết giao hào kiệt bốn phương để mưu đại sự đã gặp gỡ các đồng sự có đức tin và họ kết giao với nhau, hình thành tư tưởng đoàn kết lương giáo trong đường lối cứu nước của ông
Từ 1901 đến 1904, ông ra Bắc, đến tận khu căn cứ Yên Thế để tiếp xúc với nghĩa quân Đề Thám, vào Nam đi khắp Lục tỉnh, tới tận cả vùng đất Thất
Trang 30Sơn - An Giang gặp các nhà yêu nước tu hành ẩn dật Ông còn lặn lội lên cả vùng Thượng Du kết giao với anh hùng sơn lâm, hào kiệt, ông cũng xin vào học trường Giám (Huế) để ngầm liên lạc với các nhân sĩ yêu nước trong giới quan lại ở kinh thành Chính trong lúc quảng giao đó mà ông đã có dịp tiếp xúc với nhân sĩ nhiều tôn giáo, tiếp xúc nhiều giáo dân, được biết đến những mặt tích cực và hạn chế đang tồn tại trong các tôn giáo khác nhau… Dường như ông hiểu được tình cảm, tâm tư và đặc biệt là tấm lòng yêu nước nồng nàn của họ Sau này, sau những lần tiếp xúc với đồng bào Công giáo, ông thấy được vấn đề mấu chốt của đoàn kết dân tộc là đoàn kết lương giáo mà cụ thể là xóa bỏ sự ngăn cách giữa người có tôn giáo và người không có tôn giáo
Sau này, ông kể lại một trong những lần tiếp xúc đáng ghi nhớ nhất của ông như sau: “Tôi từ biệt ông Tiểu La (Nguyễn Hàm) đi các nơi kết nạp hào kiệt, các giáo dân từ Quảng Bình trở ra Bắc như cụ Thông ở Mộ Vĩnh, cụ truyền ở Mỹ Dụ, cụ Thông ở Quỳnh Lưu, cụ Ngọc ở Quảng Bình lúc bấy giờ chúng tôi mới thông cảm lẫn nhau Đám mây đen chia rẽ giáo - lương, bấy giờ đã được quét sạch, đó cũng là một việc đáng thích” [47, tr.41] Ngay sau
đó, dường như ông đã đặt vấn đề “Công giáo vận” trong việc xây dựng lực lượng cách mạng và thuyết phục các đồng sự rồi giao cho Ngô Quảng - Một người cùng chí hướng với mình thực hiện
Sau những sự kiện đó, thực hiện chủ trương của Duy Tân hội, đầu năm
1905, ông cùng với Tăng Bạt Hổ sang Nhật cầu ngoại viện Trên đường đi từ Nghệ An ra Hải Phòng, có một số đồng chí đưa tiễn và giúp đỡ ông
Trong lần bí mật xuất dương này, ông đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng bào giáo dân ở các vùng ông đi qua và nhiều giáo dân đã cho con em tham gia vào phong trào Đông Du, nhiều người đã thực sự là hạt nhân của phong trào Rõ ràng, tư tưởng của Phan Bội Châu đã xâm nhập vào quần chúng nhân dân biến thành một phong trào chống Pháp Duy Tân trong vùng
có giáo dân
Trang 31Sau này trên đường hoạt động cứu nước, ông còn được nhiều lần chứng kiến, kiểm nghiệm nhiệt tình yêu nước của đồng bào giáo dân Nhiều giáo dân
đã tích cực tham gia các phong trào yêu nước của Phan Bội châu, trong đó tiêu biểu là: Đậu Quang Lĩnh, Chánh Biểu,… đặc biệt là Mai Lão Bạng, một đồng chí Đông Du xuất sắc
Bên cạnh đó, vào những năm đầu thế kỷ XX, các hoạt động chính trị,
xã hội và tôn giáo ở Việt Nam diễn ra khá sôi nổi Các phong trào này dựa trên cơ sở của tư tưởng và tín ngưỡng sẵn có Cũng như trên cơ sở của sự phân hóa giai cấp và tình hình chính trị mới Chính điều đó tạo nên các cục diện xã hội vô cùng phức tạp của thời thế Phan Bội Châu đã nhận thức được những biến chuyển của xã hội, đồng thời nhìn thấy được vấn đề tôn giáo đang trở thành vấn đề phức tạp nhất trong xã hội Việt Nam Do vậy, bước đầu Phan Bội Châu đã thành công với những quan điểm tiến bộ về tôn giáo của mình
Thời kỳ ở Huế, tuy không còn hoạt động nữa nhưng Phan Bội Châu vẫn quan tâm đến tình hình tôn giáo, tín ngưỡng Có thể coi những tư tưởng
về tôn giáo, tín ngưỡng đó của ông là xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình Đáng nói trong thời kỳ ở Huế lúc này, xã hội Việt Nam đang
có những bước chuyển, các tôn giáo cũng vậy để theo kịp dòng chảy thời đại đòi hỏi họ cũng phải biến đổi đặc biệt ở Huế phong trào Chấn hưng Phật giáo đạt nhiều kết quả Phan Bội Châu nhận ra được những giá trị đó, vì thế các sáng tác của ông về tôn giáo thời kỳ này chiếm vị trí không nhỏ Ông tuyên truyền lòng yêu nước, tuyên tuyền các giá trị của các tôn giáo còn tương đồng, có lợi cho hoạt động cách mạng Có lẽ Phan Bội Châu là người đi tiên phong trong các tri thức Nho học khi có cái nhìn tiến bộ về tôn giáo, tín ngưỡng
Rõ ràng, tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu có cơ sở thực tiễn nhằm đáp ứng yêu cầu nhận thức xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử của đất nước, Phan Bội Châu suốt đời phấn đấu hi sinh cho cách mạng Những hoạt động của ông nhằm giải phóng đất nước đem lại độc lập tự do cho dân
Trang 32tộc, nên ông muốn đoàn kết, tập hợp tất cả mọi lực lượng vào mặt trận chung
đó Điều này không chỉ khi còn hoạt động mà sau khi bị bắt về Huế tư tưởng của ông vẫn thế Ông vẫn tuyên truyên lòng yêu nước cho đông đảo nhân dân Đây chính là cơ sở cho sự hình thành tư tưởng của Phan Bội Châu, trong đó
có tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng
1.2.2 Những điều kiện chủ quan để Phan Bội Châu trở thành nhà tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng tiêu biểu đầu thế kỷ XX
Bên cạnh những tiền đề kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận khách quan, còn phải kể đến nhân tố chủ quan trong việc hình thành tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu Điều kiện khách quan quy định nội dung phản ánh tư tưởng, nhưng tính chất và mức độ của sự phản ánh đó lại phụ thuộc vào năng lực chủ quan của từng con người cụ thể Do đó, nói đến tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu không thể không nói đến những điều kiện chủ quan khiến cho tư tưởng của Phan Bội Châu vừa mang dấu
ấn của thời đại, lại vừa mang những nét riêng biệt độc đáo vượt lên người đương thời
Phan Bội Châu, tên thật là Phan Văn San, hiệu là Sào Nam, sinh ngày 26/12/1867 tại quê mẹ, thôn Sa Nam, nay là thị trấn Sa Nam, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nhà Nho nghèo Quê hương của ông cũng là nơi có truyền thống văn hóa và đấu tranh kiên cường bất khuất vì độc lập, tự do của đất nước Truyền thống đó ngấm rất sâu vào tâm hồn lý tưởng của Phan Bội Châu và tạo nên ở một tính cách xứ Nghệ rất đậm nét trong ông
Trong bản đồ ngày xưa, Hoan Diễn (tức Nghệ An, Hà Tĩnh) là một góc rừng biển xa xôi đối với kinh đô Thăng Long Nơi đây từng được coi là “bất mao chi địa”- nơi đất xấu mà cỏ cũng không mọc được, hoặc “Nghệ Tĩnh địa, tích dân bần, kỳ dân cần kiệm nhi hiếu học”- Nghệ Tĩnh dân nghèo, con người cần kiệm mà hiếu học - Dưới các triều đại phong kiến, Nghệ Tĩnh được coi là chốn “biên viễn” hiểm yếu, từng là nơi lưu đầy những phần tử chống đối [53, tr 36] Nhưng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, Nghệ Tĩnh lại là tuyến
Trang 33phòng ngự ngoại xâm kiên cố Từng là địa bàn chiến lược của nhà Trần thời
kỳ chống Nguyên Mông, là căn cứ của Trần Quý Khoáng và của Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh Dưới thời Lê Trịnh, cũng là chỗ dựa của Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm để chống nhà Mạc, theo Trịnh chống Nguyễn trở thành danh tướng lương thần, thành những dòng họ quyền quý gần gũi vua chúa ở Thăng Long Mặt khác, dân ở đây được tin cậy chọn làm lính Tam phủ
- thân binh của vua chúa Trong cuộc chiến tranh của chúa Trịnh và chúa Nguyễn, Nghệ An là cửa ngõ đường đi lại giữa Nam Bắc, Vĩnh Doanh (nay là thành phố Vinh và phụ cận) là đồn binh lớn, là chiến trường tranh chấp giữa hai bên Sau khi Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, vì đây là “đất căn bản” của vua
Lê Chúa Trịnh, lại là kinh đô của Nguyễn Huệ (Phượng Hoàng Trung Đô) nên bị coi là đất phản nghịch không được tin cậy Dưới thời Tự Đức, trước đường lối đầu hàng của vua tôi nhà Nguyễn, văn thân ở đây đã dâng biểu cho nhà vua, từng điểm một bác bỏ những ý kiến trong thánh chỉ, ngang nhiên chê triều đình “giá ngự không đúng đường”, “không biết dựa vào lợi đất”, “không biết dựa vào sức người”, đại thần thì “gian nịnh bán nước như Tần Cối, Giả
Tử Đạo”, vua thì “theo tà loạn chính”, “quý âm rẻ dương”[68, tr.463] Không những họ đã vạch sai lầm của vua và triều đình một cách khá phạm thượng,
mà cuối cùng, bất chấp cả lệnh của triều đình, họ đã nổi lên “bình tây sát tả” gây thành phong trào hai năm tuất (1874 và 1886)
Sau khi mất nước, phong trào chống Pháp ở đây là phong trào sâu rộng
và kéo dài hơn cả Dưới sự lãnh đạo của ông Nguyễn Xuân Ôn rồi của Phan Đình Phùng, huyện nào cũng lập thứ quân, có tổ chức kháng chiến Ngay trên các cánh đồng và thôn xóm của vùng Sa Nam và Đan Nhiễm, năm 1874 nghĩa quân của Trần Tấn, Đặng Như Mai và sau đó, của Trần Xuân, Vương Thúc Mậu cũng từng mấy phen “đọ sức”[53, tr.37] với giặc Pháp Phan Đình Phùng mất rồi, phong trào chống Pháp ở đây vẫn dai dẳng Nhiều người bỏ quê hương trốn sang địa phương khác, sống ngoài vòng pháp luật, con đường rừng núi sang Lào, sang Xiêm mà sự nghèo đói và sự khủng bố của kẻ thù đã
Trang 34vạch ra cho họ trở thành con đường mòn có sẵn, nhà người đồng hương làm chỗ trú ngụ, không ngớt đưa nhiều thanh, thiếu niên yêu nước theo vết Phan Bội Châu, rồi sau này lại theo vết chân của Nguyễn Ái Quốc ra nước ngoài học tập, hoạt động tìm đường cứu nước Nghệ An cũng đã cung cấp cho đất nước những người con ưu tú: lớp trước có Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Phan Bội Châu, Đặng Thái Thân, Đặng Thúc Hứa, Hoàng Trọng Mậu… và lớp sau có Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Phan Đăng Lưu… Do tinh thần đấu tranh bền bỉ như thế, chính quyền thực dân đã có lúc phải cấm người ở đây đi lại, cư trú ở tỉnh khác, có tên tay sai giặc đã đề nghị triệt hạ, làm cỏ cả tỉnh với lý do khét tiếng: “Hữu Nghệ Tĩnh bất phú, vô Nghệ Tĩnh bất bần” (có Nghệ Tĩnh không giàu thêm, không có Nghệ Tĩnh cũng khồng nghèo hơn) [53, tr.38] Đó là những việc từng xảy ra ở trên mảnh đất này, về thời gian không cách xa thời đại Phan Bội Châu bao nhiêu, ảnh hưởng đến Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng của Phan Bội Châu
Điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và xã hội có ảnh hưởng đến con người Tính cách địa phương của con người chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện kinh tế, của tình hình đấu tranh xã hội, của lịch sử Cái tiêu biểu của người Nghệ An là chí khí, nghị lực, gan góc, giỏi chịu đựng, ngang tàn, không chịu ràng buộc đến mức ngang bướng, ương gàn Là dân xứ Nghệ nghèo khó,
họ phải sống rất tằn tiện nhưng trọng danh dự, giàu tín nghĩa, nặng ân tình, nên đối với bà con, làng xóm, khách khứa, bạn bè, nhất là đối với việc dân tộc, họ lại trọng nghĩa, hào hiệp rộng rãi, dễ coi thường tài sản tính mệnh Con người ở đây cần cù làm ăn, học hành, tâm tình sâu đậm như từ trước đến nay, khắp xóm thôn sông nước đã âm vang trong những câu hát đò đưa:
“Ai biết nước sông lam răng là trong là đục
Thì biết cuộc đời răng là nhục là vinh
Thuyền em lên gác xuống ghềnh,
Nước non là nghĩa, là tình… ai ơi!”
Trang 35Phan Bội Châu sinh ra trên mảnh đất ấy, lại được nuôi lớn bởi truyền thống đấu tranh bất khuất và dòng sữa thơm ngọt của quê hương với tất cả
“cốt tính xứ Nghệ”[53, tr 39]
Gia đình Phan Bội Châu là một gia đình “thanh hàn” Ông thân sinh của Phan Bội Châu là Phan Văn Phổ, một nhà Nho nghèo sống bằng nghề dạy học Mẹ của Phan Bội Châu là Nguyễn Thị Nhàn, một người thuộc dòng dõi Nho học, một người rất nhân từ và bao dung Trong “Phan Bội Châu niên biểu”, ông viết: “Khi tôi còn bé, mẹ tôi đã dỗ tôi, nửa câu nói cũng không cẩu suất Tôi hầu mẹ tôi 16 năm, tuyệt chẳng bao giờ nghe một tiếng mắng chửi, dầu có ai ngang trái với mình, chỉ trả lời bằng một tiếng cười lạt mà thôi ” [10, tr.110] Sinh ra trong một gia đình như vậy nên tư tưởng Nho giáo đã sớm ăn sâu vào Phan Bội Châu từ tấm bé và trở thành một bộ phận rất quan trọng trong cấu trúc tư tưởng của Phan Bội Châu
Ông là một người rất thông minh, có khả năng tiếp thu nhanh Không phải ngẫu nhiên mà ở Nam Đàn đã lưu truyền bài vè:
“Uyên bác bất như San
Thông minh bất như Sắc
Tài hoa bất như Quý
Cường kỳ bất như Lương”
Theo Chương Thâu dịch nghĩa:
“Học rộng không ai bằng Phan Văn San
Thông minh cũng không ai băng Nguyễn Sinh Sắc
Tài hoa không ai bằng Vương Thúc Quý
Nhớ giai không ai băng Trần Văn Lương” [53, tr.43]
Phan Bội Châu là một người đỗ đạt cao, một bậc đại chân Nho Tài năng và đức độ của Phan Bội Châu, một mặt đã giúp cho ông thuyết phục, tập hợp được đông đảo quần chúng đi theo con đường cứu nước của mình, mặt khác, còn giúp ông biết chắt lọc, kế thừa và tiếp thu những tinh hoa triết học, văn hóa của phương Đông và phương Tây để làm giàu cho trí tuệ của mình
Trang 36Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, lại lớn lên trong phong trào Cần Vương sôi nổi ở Nghệ Tĩnh, Phan Bội Châu đã sớm nuôi chí giết thù cứu nước Lý trí và tình cảm đó của Phan Bội Châu vào những năm đầu thế kỷ
XX như được “phá cũi sổ lồng”, bùng cháy, tỏa sáng, tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng của cả một dân tộc Đây cũng là lúc Phan Bội Châu đi vào con đường hoạt động như một chính khách “Năm ba mươi tư tuổi, chính là năm Canh Tý, vừa năm thứ mười hai niên hiệu Thành Thái (1900), tôi đậu đầu thi Hương Thế là tôi có được một cái mặt nạ để mượn đó mà che lấp mắt đời Tháng Chín năm ấy, cha tôi vừa bảy tuần đã mệnh chung Gánh nặng ở gia đình mới nhẹ bổng trên hai vai Lúc đó mới là lúc tôi bắt tay vào kế hoạch cách mạng” [10, tr.120] Bằng sự nhạy bén của mình, Phan Bội Châu đã sớm nhận thức rõ mâu thuẫn giữa thực dân Pháp xâm lược và toàn thể dân tộc ta chỉ có thể giải quyết bằng bạo lực cách mạng Do đó, kế hoạch thứ nhất trong
số ba kế hoach lớn mà lần đầu tiên ông cùng các đồng chí của ông vạch ra:
“Liên kết với đảng cũ Cần Vương còn lưu lại với các trai tráng ở chốn sơn lâm, xướng khởi nghĩa quân mục đích chuyên ở nơi đánh giặc trả thù mà thủ đoạn thứ nhất bằng cách bạo động” [10, tr.120] Những phong trào đó nhanh chóng bị dập tắt mà Phan Bội Châu nhận thức được một nguyên nhân quan trọng là thiếu sự đoàn kết toàn dân, lực lượng bị phân tán chia rẽ
Như vậy, những điều kiện xã hội khách quan, tiền đề tư tưởng truyền thống của dân tộc, làn sóng tư tưởng Tân thư, Tân văn đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng, các quan điểm về tôn giáo của Phan Bội Châu Và cũng chính thời đại đó đã sản sinh ra Phan Bội Châu với những năng lực, đức tính vượt trội nhất định để giải quyết những vấn đề do lịch sử đặt ra Khi đánh giá vai trò vị trí của Phan Bội Châu trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã viết về Phan Bội Châu là:
“Bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” [44, tr.172]
Trang 37Tư tưởng là tấm gương phản chiếu bộ mặt của thời đại Tư tưởng về tôn giáo của Phan Bội Châu được hình thành và phát triển trong sự tác động giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan Đó là một quá trình sống động
và đầy phức tạp cũng như bất kỳ một nhân vật lịch sử nào khác, Phan Bội Châu và sự nghiệp cứu nước của ông cũng trải qua một quá trình hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Việt Nam trong thời đại của Phan Bội Châu Căn cứ vào tiến trình tư tưởng và những hoạt động
cụ thể của Phan Bội Châu, chúng ta có thể chia những quá trình đó thành những thời kỳ sau:
a Thời kỳ từ trước đến năm 1925: Đây là thời kỳ được tự do hoạt động, lúc này trong tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu, ngoài ngọn nguồn nội sinh của tư tưởng khoan dung tôn giáo truyền thống Việt Nam, còn
có sự dung thông những quan điểm trong các trường phái triết học phương Đông và các trào lưu tư tưởng của phương Tây Chính những điều kiện và xã hội, tiền đề tư tưởng và những điều kiện chủ quan đã tạo nên những nét riêng đặc sắc trong tư tưởng của Phan Bội Châu Đây là thời kỳ tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng của Phan Bội Châu chiếm một vai trò tích cực trong lịch sử
tư tưởng dân tộc
b Thời kỳ năm 1926 đến năm 1940: Thời kỳ này, Phan Bội Châu bị quản thúc và sống những năm cuối cùng của cuộc đời trong cảnh “chim lồng”, “cá chậu” ở Bến Ngự (Huế) Thực dân Pháp tìm nhiều thủ đoạn để cách ly ông với phong trào cách mạng Mặc dù vậy, với một tấm lòng yêu nước thiết tha của Phan Bội Châu vẫn tìm cách lọc lựa trong di sản triết học Đông Phương Những yếu tố tư tưởng tôn giáo, tín ngưỡng còn có ích cho dân tộc Hơn thế là ông đã nỗ lực duy trì, cổ vũ lòng yêu nước thương nòi và tinh thần quật khởi cho nhân dân Sống giữa mảnh đất kinh kỳ, nơi mà những giá trị, yếu tố văn hóa truyền thống vẫn còn ảnh hưởng rất lớn Đặc biệt trong những năm 30 có sự thành công của phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Huế
Nó tác động đến Phan Bội Châu, có thể thấy Phan Bội Châu mất mùa “cách
Trang 38mạng” nhưng lại được mùa tư tưởng “thơ ca”, học thuật, thời kỳ này ông có thời gian chiêm nghiệm lại thực tiễn cách mạng của mình, đồng thời ảnh hưởng của xu thế thời cuộc cũng tác động đến tư tưởng Phan Bội Châu Trong thời gian này, ông đã để lại nhiều nội dung tư tưởng về tôn giáo, tín ngưỡng
có giá trị
Tóm lại, trong tư tưởng về tôn giáo của Phan Bội Châu có sự hòa quyện của nhiều dòng: tư tưởng đoàn kết truyền thống Việt Nam, tư tưởng khoan dung của Nho, Phật, Lão, tư tưởng tự do tôn giáo tư sản phương Tây và
tư tưởng chấn hưng các tôn giáo ở các nước Á Đông đặc biệt là phong trào Chấn hưng Phật giáo Xuất phát từ yêu cầu xây dựng đường lối cứu nước giải phóng dân tộc, Phan Bội Châu đã đi từ quan niệm về tôn giáo của hệ tư tưởng phong kiến (mà trong đó Nho giáo là cơ bản), đến chỗ tiếp thu, truyền bá nội dung tự do tôn giáo ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và ít nhiều tiếp cận với cách lý giải của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo Chính điều này, đã tạo nên sắc thái riêng trong tư tưởng của Phan Bội Châu
Tiểu kết chương 1: Đứng trước nhiệm vụ lịch sử và yêu cầu của thời
đại như vậy, Phan Bội Châu là một lãnh tụ cách mạng, tư tưởng của ông xuyên suốt là đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc Trong đó, ta thấy quá trình tìm đường đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc, Phan Bội Châu sớm nhận ra tôn giáo, tín ngưỡng là một lĩnh vực quan trọng trong quá trình xây dựng lực lượng cách mạng, ông tuyên truyền đoàn kết các tôn giáo, phát huy các giá trị của tôn giáo, tín ngưỡng còn tương đồng, có lợi cho cách mạng
Như vậy, chính điều kiện hoàn cảnh thực tiễn đã tác động tới sự hình thành tư tưởng của Phan Bội Châu, trong đó có tư tưởng của ông về tôn giáo, tín ngưỡng cũng chiếm vị trí đáng kể trong quá trình tìm kiếm xây dựng lực lượng cách mạng Điều này ta không chỉ thấy ở trong tư tưởng của Phan Bội Châu trước 1925 khi ông còn được tự do hoạt động, mà ngay cả khi ông bị bắt
về an trí ở Huế tư tưởng của ông vẫn không thay đổi Ông vẫn quan tâm đến
Trang 39các tôn giáo, tín ngưỡng, tìm trong các tôn giáo, tín ngưỡng những giá trị còn
có lợi cho cách mạng để tuyên truyền lòng yêu nước, đoàn kết nhân dân có tôn giáo cũng như không có tôn giáo vào sự nghiệp chung của dân tộc Chính những điều kiện, hoàn cảnh như vậy, đã tác động đến tư tưởng của Phan Bội Châu và hình thành nên tư tưởng của ông về tôn giáo, tín ngưỡng Qua chương 2, ta có thể thấy rõ thêm nội dung và đóng góp cũng như hạn chế của
tư tưởng Phan Bội Châu về tôn giáo, tín ngưỡng
Trang 40CHƯƠNG 2 MỘT SỐ GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG TƯ TƯỞNG
CỦA PHAN BỘI CHÂU VỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG
2.1 Quan niệm nho giáo của Phan Bội Châu khi bàn về khía cạnh tôn giáo - trời, đạo trời, qủy thần
Chúng ta biết rằng: Phan Bội Châu là một nhà Nho chân chính chịu ảnh hưởng sâu đậm từ hệ tư tưởng Nho giáo, song ông có một thiên hướng lý giải các khía cạnh tôn giáo của Nho giáo theo cách của Nho giáo Tiên Tần So với
tư tưởng về “Thiên đạo” phổ biến của thời Chu đang mang nét thần quyền áp đảo thì rõ ràng quan niệm của Khổng Tử về “mệnh trời”, “đạo trời”, “qủy thần” có thêm những nét nghĩa tích cực và nhân bản đáng kể Đến khi Khổng giáo trở thành tư tưởng chính thống dưới thời Hán và từ đó trở đi có hiện tượng trở lại khuynh hướng thần bí các phạm trù đó trong Nho giáo cũng trở nên nặng làm phai nhạt nhiều phần tích cực rất cơ bản Đến Tống Nho thì triết học Nho giáo tôn giáo phát triển đến cao độ nhất song khuynh hướng tư tưởng thần bí đó vẫn không bị bài trừ mà biểu hiện dưới những dạng mới nhờ tiếp biến từ Phật giáo, Đạo giáo những khía cạnh mới Ở Việt Nam, một trong số những người chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng mệnh trời theo Hán Nho, Tống Nho và có sự “hồi cố” cuối cùng đó là: Tự Đức, Nguyễn Đức Đạt, Phan Bội Châu… và có thể thấy trong thế kỷ XIX cả đến đầu thế kỷ XX ở Việt Nam tư tưởng về Mệnh trời, đạo trời, quỷ thần, thiên mệnh, “thiên nhân tương cảm” còn rất nặng nề trong các nhà Nho Nhưng trong tư tưởng Phan Bội Châu nhà hoạt động yêu nước quan niệm về trời, mệnh trời và quỷ thần được nhắc đến khá thường xuyên “trời” “đạo trời” ấy được sử dụng trong đa số văn cảnh thường mang nghĩa là lực lượng là một trong những quy luật mang tính tất định, tất yếu tự nhiên, đáng chú ý là chưa lần nào Phan Bội Châu nói đến khía cạnh siêu nhiên “trời” như một chúa tể toàn năng, toàn lương ngự trị ở bên trên răn đe thưởng phạt, các hành vi, suy nghĩ của con người còn có nhiều nét nghĩa thần như khuynh hướng thần bí hóa của Nho thời Nguyễn lúc đó