Là nhà cách mạng chuyển giao giữa hai thời đại: truyền thống và hiện đại nên sự lựa chọn chế độ chính trị, hình thức chính thể nào để con đường cách mạng giành độc lập thành công là một
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 PHẦN NỘI DUNG 8 CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CHÍNH THỂ Ở PHAN BỘI CHÂU TRƯỚC NĂM 1917 8 1.1 Lược sử chính thể ở Việt Nam đến đầu thế kỷ XX 10
1.1.1 Lược sử chính thể ở Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược 101.1.2 Bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam cuối thế
CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH VÀ NỘI DUNG CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG CHÍNH THỂ CỦA PHAN BỘI CHÂU TRƯỚC NĂM 1917 47 2.1 Giai đoạn tư tưởng chính thể quân chủ của Phan Bội Châu (1900 - 1904) 48
2.1.1 Nguyên do hình thành và nội dung tư tưởng chính thể quân chủ của Phan Bội Châu 482.1.2 Ảnh hưởng của tư tưởng quân chủ trong những hoạt động yêu nước của Phan Bội Châu 56
2.2 Giai đoạn tư tưởng chính thể quân chủ lập hiến của Phan Bội Châu (1904 - 1912) 59
Trang 42.2.1 Nguyên do hình thành và nội dung tư tưởng chính thể quân chủ lập hiến sơ khai của Phan Bội Châu 592.2.2 Nguyên do hình thành và nội dung tư tưởng chính thể quân chủ lập hiến của Phan Bội Châu thời kỳ sau 1906 69
2.3 Giai đoạn tư tưởng chính thể cộng hoà của Phan Bội Châu (1912 - 1917) 80
2.3.1 Nguyên do hình thành tư tưởng chính thể cộng hoà của Phan Bội Châu 802.3.2 Nội dung tư tưởng chính thể cộng hoà dân chủ của Phan Bội Châu 93
2.4 Ảnh hưởng và ý nghĩa của tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu đối với xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX 94 KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phan Bội Châu (1867 - 1940) là “nhà cách mạng dân tộc, nhà văn yêu nước, nhà tư tưởng dân chủ lớn nhất Việt Nam đầu thế kỷ XX” [6, 9] Di sản của ông để lại cho hậu thế thật đa dạng, sâu sắc và đã đóng góp phần quan trọng vào kho tàng di sản lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam, nên đã thu hút từ lâu nhiều sự quan tâm, nghiên cứu, trong đó có nhiều công trình có giá trị Tuy nhiên cùng với sự phát hiện và phát hành khối tư liệu phong phú trong di thảo của ông, đó là sự đổi mới phương pháp tư duy, nên việc phát hiện nhiều phương diện mới trong tư tưởng của ông, vẫn cần sự tiếp tục đi sâu tìm hiểu
Có thể nói rằng hướng nghiên cứu về tư tưởng của ông luôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thời sự cấp bách
Tất cả tài năng, trí tuệ và sự cống hiến của Phan Bội Châu cũng chỉ nhằm một mục đích lớn nhất là sự nghiệp chính trị giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội Việt Nam độc lập Là nhà cách mạng chuyển giao giữa hai thời đại: truyền thống và hiện đại nên sự lựa chọn chế độ chính trị, hình thức chính thể nào để con đường cách mạng giành độc lập thành công là một trong những chủ đề trọng tâm xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng và sáng tạo tư tưởng ở Phan Bội Châu
Sự chuyển biến của tư tưởng chính thể, một bộ phận trong tư tưởng triết học chính trị ở Phan Bội Châu là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, không hoàn toàn cố định mà nó có sự hình thành, chuyển biến theo từng hoàn cảnh cách mạng, điều kiện nhận thức mà ông trải qua, song nhận định về điều này trong kết qủa của nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn chưa thống nhất
Trang 6Trong cách tiếp cận triết học qua nhiều công trình lớn, nhỏ từ trước tới nay, sự quan tâm nghiên cứu về lĩnh vực tư tưởng chính thể chính trị của Phan Bội Châu của các nhà khoa học còn chưa nhiều, mà chủ yếu là nghiên cứu những lĩnh vực đặc sắc khác của Phan Bội Châu như văn học, sử học, hay quan niệm khái quát chung về vũ trụ quan, nhân sinh quan, tư tưởng triết học nói chung… Vì vậy, chúng tôi thấy đi vào vấn đề này đây là việc làm có ý nghĩa để làm rõ hơn tư tưởng của Phan Bội Châu trong vấn đề chính thể chính trị và hơn nữa bước đầu nêu lên được một số ý nghĩa của tư tưởng chính thể, nhất là chính thể cộng hoà dân chủ của Phan Bội Châu đối với xã hội Việt Nam thời bấy giờ
Hơn thế nữa, đất nước ta hiện nay đang trong sự nghiệp đổi mới thì việc nghiên cứu tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu còn có một ý nghĩa thời sự rất quan trọng Bởi vì đi sâu tìm hiểu sự trăn trở lựa chọn mô hình chính thể nào cho phù hợp hoàn cảnh đất nước, thời đại của Phan Bội Châu mang đậm dấu ấn thực tiễn xã hội, dân tộc Việt Nam chúng ta, chúng ta sẽ có thêm căn cứ, tiền đề, gợi ý để tiếp tục “thiết kế” một mô hình chính thể ngày càng hoàn thiện, hợp lý đáp ứng các yêu cầu mới của dân tộc trong bối cảnh
hiện nay Với những lý do trên chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Sự chuyển biến tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu trước năm 1917 làm
hướng nghiên cứu cho mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Lịch sử Việt Nam thời cận đại ghi nhận vị trí rất quan trọng của tư tưởng Phan Bội Châu Chúng ta biết đến ông như là một nhân vật lịch sử tài năng ở các lĩnh vực văn thơ, triết học, chính trị, lịch sử Vì thế, tư tưởng của Phan Bội Châu là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước với khối lượng rất lớn Trong những thời gian gần đây có nhiều cuộc
Trang 7hội thảo khoa học lớn về tư tưởng Phan Bội Châu Năm 1997, nhân kỷ niệm lần thứ 130 năm ngày sinh của Phan Bội Châu, trường Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn tổ chức hội thảo khoa học về cuộc đời và sự nghiệp của ông,
có sự phối hợp với với trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, Hội Khoa học lịch
sử Việt Nam, Bảo tàng cách mạng Việt Nam Hội nghị có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trung ương và địa phương Mới đây, tháng 9 năm 2005, nhân kỷ niệm 100 năm phong trào Đông Du, Ban Tuyên huấn tỉnh uỷ Nghệ An và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây đã tổ chức hội thảo kỷ niệm 100 năm phong trào Đông Du và Phan Bội Châu Tháng 11 năm 2005, trường Đại học Khoa học Xã hội - Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp với Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam và trường Đại học
Waseda Nhật Bản tổ chức hội thảo khoa học “Quan hệ văn hoá, giáo dục Việt Nam - Nhật Bản và 100 năm phong trào Đông Du”, trong đó đánh giá
vai trò vô cùng quan trọng của Phan Bội Châu đối với quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thông qua những hoạt động của ông ở Nhật Bản
Chỉ với hướng nghiên cứu về tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu nhưng cũng đã có nhiều công trình Riêng đi sâu lý giải cội nguồn các tư tưởng ảnh hưởng đến sự hình thành tư tưởng chính trị Phan Bội Châu, các công trình đó đều thừa nhận ảnh hưởng quan trọng của cội nguồn tư tưởng triết học phương Đông nổi bật, nhất là tư tưởng triết học Nho giáo Tiêu biểu
nhất là các tác phẩm: “Phan Bội Châu và Nho giáo” của Lê Sỹ Thắng (trong cuốn “Nho giáo xưa và nay”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991), “Sự phát
triển của tư tưởng Việt Nam giữa thế kỷ XX đến cách mạng tháng 8”, t.2, Trần
Văn Giàu, (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978), Bùi Đăng Duy, Chương
Thâu, Nguyễn Đức Sự “Phan Bội Châu, tư tưởng chính trị, tư tưởng triết
học”, (Nxb Khoa học xã hội, HN, 1967), “Mấy vấn đề lịch sử tư tưởng Việt Nam” của Nguyễn Tài Thư (tạp chí Triết học, số 4/1984), “Bảo vệ giá trị
Trang 8truyền thống dân tộc” của Nguyễn Tài Thư (Tạp chí Cộng sản, số 6/1994),
“Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam” do Phan Đại Doãn chủ biên, (Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 1998)
Các công trình trên đã tìm hiểu quá trình chuyển biến tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu dần dần thay đổi theo từng bước hoạt động cách mạng của ông Đặc biệt các tác giả nhấn mạnh chuyển hướng tư tưởng ở Phan Bội Châu sau khi tiếp nhận cội nguồn tư tưởng phương Tây mới qua: “Tân thư”, “Tân văn”, nên có một số công trình nghiên cứu của tư tưởng ông trong khía cạnh
này tiêu biểu có: “Tân thư và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX”
do Đinh Xuân Lâm chủ biên, ( Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997), “Ảnh
hưởng của “Tân thư” trong tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh” của Lê Sỹ Thắng (tạp chí Triết học số 12/1997) Một số công trình
khác đặt tư tưởng chính trị Phan Bội Châu trong sự tương phản với tư tưởng
chính trị Phan Châu Trinh để nổi bật tư tưởng chính trị của ông như: “Tìm
hiểu Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh” của Tôn Quang Phiệt (Nxb Văn,
Sử, Địa, Hà Nội, 1956), “Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa Phan Bội Châu
và Phan Châu Trinh” của Trần Hồng Hạnh (tạp chí Khoa học xã hội, số
1/1995) “Tư tưởng triết học và tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu” của
Nguyễn Văn Hòa, (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005), luận án tiến sĩ
triết học “Thế giới quan của Phan Bội Châu” của Lê Ngọc Thông, (Nxb Lao
Động, Hà Nội, 2005)
Các công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu rất nhiều nhưng chưa có công trình nào dành đi sâu nghiên cứu sự chuyển biến của tư tưởng chính thể
ở Phan Bội Châu
Đáng chú ý trong kỷ yếu Hội thảo khoa học kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Phan Bội Châu, năm 1997, được trường Đại học Khoa học xã hội và
Trang 9nhân văn xuất bản, “Phan Bội Châu con người và sự nghiệp” có một bài báo
cáo đề cập đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng chính thể nhà nước
của Phan Bội Châu: “Tìm hiểu một số quan điểm của Phan Bội Châu về vấn
đề nhà nước”của Vũ Thị Phụng Báo cáo trên đã phân định các mô hình chính
thể nhà nước mà Phan Bội Châu lựa chọn cũng như những tác động đến sự lựa chọn ấy Do giới hạn trong một bài báo hội thảo nên báo cáo đã chưa có
sự phân tích đầy đủ hơn các nguyên do về sự lựa chọn ấy
Và cũng với lý do như vậy, nên trong những báo cáo gần đây nhất:
“Tìm hiểu yếu tố dân chủ trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu” của Trần Văn Thức và “Phan Bội Châu - bước đầu con đường cách mạng của
mình” của Đinh Văn Niêm trong kỷ yếu kỷ niệm 100 năm phong trào Đông
Du và Phan Bội Châu tại thành phố Vinh năm 2005, có đề cập đến một cách gián tiếp và sự chuyển biến của tư tưởng về chính thể, nhưng chưa làm rõ gì hơn về lý do, điều kiện, nội dung quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
về chính thể của Phan Bội Châu
Tóm lại, những công trình nghiên cứu đã trình bày trên từ các mức độ đậm nhạt khác nhau đều là sự khám phá có sức gợi ý lớn đối với chúng tôi khi
đi sâu triển khai nội dung nghiên cứu của luận văn này Trong chú ý của mình, luận văn sẽ tập trung vào sự tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng về chính thể của Phan Bội Châu, cần được làm rõ các tiền đề, các điều kiện cũng như biểu hiện cụ thể của sự vận động tư tưởng đó Điều này chúng tôi hy vọng cũng có những gợi ý có thể đóng góp đối với lý luận và thực tiễn đổi mới hiện nay
Do điều kiện nhận thức và thời gian hạn hẹp, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi sẽ đi sâu hơn phân tích quá trình hình thành và phát triển
tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu, theo từng “bước chân” hoạt động cách mạng và sáng tạo tư tưởng của Phan Bội Châu giai đoạn trước năm 1917 Bởi
Trang 10lý do, sau năm 1917 cùng với sự ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga, thế giới và Việt Nam đều có những biến đổi lớn, riêng với Phan Bội Châu do hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tư tưởng của ông cũng có những biến đổi về nội dung, vai trò, tính chất Sự chuyển biến tư tưởng ấy cần được khảo sát kỹ hơn các giai đoạn tiếp theo trong một công trình dài hơn
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là làm rõ quá trình chuyển biến tư tưởng về chính thể chính trị của Phan Bội Châu trước năm 1917 Từ đó, chỉ ra được phần nào ảnh hưởng của tư tưởng đó đối với xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
- Trình bày các cơ sở thực tiễn, cơ sở lý luận thể hiện ở hoàn cảnh lịch
sử, kinh tế, chính trị, tư tưởng xã hội Việt Nam và thế giới đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu
- Phân tích quá trình chuyển biến tư tưởng về chính thể của Phan Bội Châu trước năm 1917: Các nguyên do, nội dung và ảnh hưởng của nó đối với
xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX
4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Luận văn được thực hiện trên cơ sở những nguyên lý khoa học cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam và nhà nước Việt Nam về vấn đề nghiên cứu, kế thừa di sản truyền thống dân tộc
4.2 Luận văn chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh và hệ thống hoá…
Trang 115 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tìm hiểu quá trình chuyển biến tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu giai đoạn trước năm 1917
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Các di thảo của Phan Bội Châu và các tài liệu liên quan đến quá trình hình thành và phát triển tư tưởng chính trị, chính thể của Phan Bội Châu
6 Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá quá trình chuyển biến tư tưởng về chính thể của Phan Bội Châu trước năm 1917
- Phân tích một cách đầy đủ hơn nguồn gốc, điều kiện các tiền đề và nội dung của sự thay đổi về tư tưởng của Phan Bội Châu về chính thể chính trị trước năm 1917
7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ hơn tư tưởng của Phan Bội Châu – một nhân
vật tiêu biểu của lịch sử tư tưởng Việt Nam thời cận đại
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập và nghiên cứu cho những ai quan tâm đến lịch sử tư tưởng Việt Nam thời cận đại
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 12PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƯ TƯỞNG
CHÍNH THỂ Ở PHAN BỘI CHÂU TRƯỚC NĂM 1917
Khái niệm về chính trị, chính thể
Chính trị là lĩnh vực hoạt động được coi là ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ đời sống xã hội V.I.Lênin cho rằng: “Chính trị là sự tham gia vào những công việc nhà nước, là việc vạch hướng đi cho nhà nước, là việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước” [45, 404] Chính trị gắn chặt với những hoạt động của xã hội có giai cấp, nó thể hiện lợi ích của mỗi giai cấp, của mọi người trong xã hội Trong chính trị thì vấn đề thể chế chính trị là một trong những nội dung chính yếu nhất “Thể chế chính trị là hệ thống các định chế, các giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận động của một chế độ chính trị, là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, là cơ sở chính trị - xã hội quy định tính chất, nội dung của chế độ xã hội nhằm bảo vệ quyền lực và lợi ích của giai cấp cầm quyền” [59, 19] “Trong thể chế chính trị thì thể chế nhà nước là quan trọng nhất, bởi vì, người ta thường căn cứ chủ yếu vào hình thức chính thể nhà nước – căn cứ vào hình thái biểu hiện của thể chế nhà nước để phân loại các thể chế chính trị Tên gọi của hình thức chính thể nhà nước cũng chính là tên gọi của thể chế chính trị” [59, 21]
Hình thức nhà nước là phạm trù được quan tâm đầu tiên trong hoạt động
tổ chức chính trị, bởi nó chứa đựng nội dung hình thức chính thể Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức và thiết chế quyền lực nhà nước
Hình thức nhà nước được chia làm 3 bộ phận: Hình thức chính thể, chế
độ chính trị, và hình thức cấu trúc nhà nước
Trang 13Hình thức chính thể là sự tổ chức quyền lực nhà nước tối cao, những cơ quan của quyền lực tối cao đó, cơ cấu và trình tự thiết lập những cơ quan ấy, mối quan hệ qua lại của chúng với nhân dân và mức độ tham gia của nhân dân vào quá trình thành lập những cơ quan đó
Có thể dựa vào hai tiêu chí: Quá trình thành lập cơ quan nhà nước tối cao (nguyên thủ quốc gia) bằng con đường nào và sự tham gia của nhân dân vào quá trình ấy và cũng như quyền lực nhà nước mà có thể chia làm 2 loại chính thể : Chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà
Trong chính thể quân chủ, vua được thành lập bằng con đường thừa kế thế vị, mà nhân dân không được tham gia bầu cử Còn trong chính thể cộng hoà thì nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra nguyên thủ quốc gia bằng con đường bầu cử tự do
Hình thức chính thể bị quy định bởi chế độ chính trị: Nói về mục đích của chế độ nhà nước là gì? những biểu hiện cụ thể thông qua hệ thống tổ chức hoạt động như thế nào Chế độ chính trị được chia làm hai loại: Dân chủ và phi dân chủ, chuyên chế độc tài Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của quần chúng nhân dân
Tư tưởng chính trị là sự phản ánh những quyền lợi của các giai cấp, các lực lượng xã hội và những hoạt động xã hội khác để bảo vệ các quyền lợi ấy
Ở Việt Nam, những quan niệm chính thể chính trị trên được hình thành là một quá trình đấu tranh, xây dựng lâu dài của các nhà tư tưởng và lịch sử đấu tranh của dân tộc Và Phan Bội Châu là một trong những người hoạt động cách mạng đầu tiên đưa ra những tư tưởng chính thể chính trị tiến bộ ấy vào thực tiễn,
dù là ở mức độ hạn chế Bởi vì, ông xác định rằng muốn làm cách mạng thành công thì “trước hết phải chọn chủ nghĩa cho vững vàng” [9, 156] Vấn đề chính
Trang 14thể là tư tưởng được Phan Bội Châu đề cập rất nhiều lần, ông đã từng xác định:
“Phải xóa bỏ chính thể quân chủ, vì đó là một chính thể rất xấu xa vậy” [8, 135] Trong tôn chỉ của Việt Nam Quang Phục Hội do Phan Bội Châu xây dựng đã khẳng định: “Chính thể dân chủ cộng hòa là một chính thể rất tốt đẹp” [8, 135]
Để thấy được đóng góp của Phan Bội Châu trong lĩnh vực này trước hết chúng ta khảo sát khái lược lịch sử vấn đề chính thể tại Việt Nam đến đầu thế kỷ XX
1.1 Lƣợc sử chính thể ở Việt Nam đến đầu thế kỷ XX
1.1.1 Lược sử chính thể ở Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược
Sự ra đời của công xã nông thôn và nhu cầu thủy lợi, tự vệ đã đưa đến sự
hình thành lãnh thổ chung và tổ chức nhà nước đầu tiên của Việt Nam là nhà
nước Văn Lang vào khoảng thế kỷ thứ VII, thứ VI TCN Sau đó là nhà nước
Âu Lạc khoảng đầu thế kỷ III TCN
Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc tổ chức theo chế độ lạc hầu, lạc tướng, đứng đầu Nhà nước là vua: Thủ lĩnh của liên minh các bộ lạc Việt theo chế độ thừa kế thế vị, nhà vua sống rất gần gũi, chan hoà với dân chúng Trong triều
có các lạc hầu giúp vua cai quản đất nước, ở địa phương do các lạc tướng đứng đầu quản lý Trong thời kỳ này, phân tầng giai cấp chưa rõ, mâu thuẫn
xã hội còn hoà dịu, do đó nó còn mang đậm tính sơ khai của nhà nước
Từ khi Triệu Đà xâm lược năm 179 TCN và tiếp theo là các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ, nhà nước Văn Lang - Âu lạc bị biến thành quận huyện của nhà nước phong kiến Trung Quốc Chế độ lạc hầu, lạc tướng
bị xoá bỏ và được tổ chức lại theo kiểu nhà nước phong kiến Trung Quốc ở
bộ máy trung ương Theo đó mà hệ tư tưởng Nho giáo tìm cách thâm nhập vào Việt Nam bắt đầu từ những thế kỷ đầu công nguyên nhằm đáp ứng nhu cầu cai trị của phong kiến Trung Quốc đối với nước ta
Trang 15Nho giáo – hệ tư tưởng của chính thể quân chủ chuyên chế phương Đông
“Nho giáo là sự tổng hợp những tư tưởng, triết lý, luân lý, đạo đức và thể chế cai trị ở Trung Quốc có từ những thế kỷ VI – V TCN” [63, 79] do Khổng
Tử (551 – 479 TCN) sáng lập, sau đó được Mạnh Tử (372 – 289 TCN), Đổng Trọng Thư (thế kỷ II TCN), Chu Đôn Di (1017 - 1073), Chu Hy (1130 - 1200)… kế thừa và phát triển cho phù hợp với chế độ phong kiến mỗi thời kỳ, hình thành các loại Hán Nho, Tống Nho
Nho giáo xây dựng mô hình nhà nước quân chủ tập quyền chuyên chế phương Đông Bên cạnh đó, Nho giáo chủ trương dùng “Nhân trị”, “Đức trị”
là cách thức điều hành xã hội Khổng Tử rất chú trọng điều đó: “Dùng đạo đức làm đường lối chính trị thì như là sao Bắc cực ở một chỗ nhất định mà các sao khác đều vây quanh” (Tử viết vi chính dĩ đức, thí như Bắc thần, cư kỳ
sở nhi chúng tinh củng chi Luận Ngữ - thiên Vi Chính) [17, 60] Nho giáo
chủ trường xây dựng một xã hội với các nguyên tắc “tam cương, ngũ thường” theo đẳng cấp thứ bậc, mỗi thứ bậc có danh riêng và mỗi người phải
“chính danh” thực hiện bổn phận theo điạ vị của mình: “Vua ra vua, bề tôi ra
bề tôi, cha ra cha, con ra con” (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử, Luận ngữ
- thiên Nhan Uyên) [17, 42], như thế xã hội mới ổn định Nho giáo phù hợp với các nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ở phương Đông, vì chủ trương bề tôi phải phục tùng tuyệt đối vua chúa Đến thời Hán, Tống Nho về sau thì qui tắc ấy càng thêm nghiệt ngã “vua khiến bề tôi chết mà bề tôi không chết là bất trung, cha khiến con chết mà con không chết là bất hiếu” (quân sử thần tử, thần bất tử bất trung Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu) (Nhị trình nhị thư – cuốn 22) Con người lý tưởng của Nho giáo là con người theo khuôn mẫu quân tử, dùng phẩm hạnh đạo đức để thu phục nhân tâm, cai trị xã hội
Trang 16Tư tưởng “Thần dân”
Nếu như Nho giáo Tiên Tần (Nho giáo nguyên thủy) còn ít nhiều chứa đựng các yếu tố thân dân, nhân bản, nền cai trị lấy Nhân Chính làm mực thước, thì từ Hán, Tống Nho trở về sau có sự pháp điển hóa, thể chế hóa
“pháp luật” hóa các quan niệm Lễ trị - Đức trị - Nhân trị đó theo xu hướng ngày càng nghiệt ngã, xơ cứng Tuy nhiên, trong thời kỳ nước ta bị lệ thuộc phong kiến phương Bắc hàng nghìn năm, với ý chí độc lập nhân dân ta đã không ngừng nổi dậy chống lại phong kiến phương Bắc và ý thức hệ Nho giáo áp đặt đó Vì vậy ảnh hưởng Nho giáo chỉ ở một số nhỏ tầng lớp trên
Nho giáo từ Hán, Tống là một ý thức hệ về xây dựng con người “Thần dân” tuyệt đối Đổng Trọng Thư, Chu Hy hình dung dân chúng là một tập
hợp vô danh, không tồn tại với tư cách là các cá nhân cụ thể Trong thế giới
đó, người chủ cao nhất là Trời, “hoạch tội vụ thiên, vô sở đảo giáo” (phạm tội với Trời thì không cầu đảo vào đâu được nữa) Ông chủ thứ hai là thiên tử - vua, vì vua là con trời, thay trời hành đạo (đại thiên hành hoá, thế thiên hành đạo) Dưới vua là chư hầu, đại phu và cuối cùng là dân, là tất cả đều “thần dân” bề tôi lệ thuộc vào thiên tử Đó là trật tự tất yếu, do Trời sắp đặt Người quân tử chính là người do thực hiện bổn phận theo trật tự đó Tư tưởng “thần dân” ảnh hưởng rất lớn đến hành xử của người quân tử, và chừng mực nào đó
đã ảnh hưởng đến ứng xử của người dân
Từ thế kỷ X, nước ta giành được độc lập tự chủ Cùng với sự phát triển của lực lượng phong kiến Việt Nam trải qua các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê, quan niệm chính thể của Nho giáo dần được giai cấp thống trị duy trì, vận dụng vào và góp phần đáng kể vào sự hưng thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam Thế kỷ XI trở đi khi triều đại nhà Lý thành lập chế độ phong kiến phát
Trang 17triển mạnh mẽ thì hệ tư tưởng Nho giáo càng dần được chú ý đề cao Năm
1070 Văn Miếu được xây dựng, năm 1076 tổ chức thi tam giáo…
Nho giáo với các khái niệm: Trung, Nghĩa, Lễ, Hiếu… được vận dụng vào lĩnh vực xã hội và củng cố chính trị nước ta ngày càng thêm vững chắc Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia thống nhất, người có địa vị quyền lực tối thượng là vua, hoàng đế hay quốc vương Vua được coi là thần khí đối với vận mệnh quốc gia và cuộc sống của thần dân; vua là người có tài, đức và phúc lớn mà trời giao phó Do đó người nắm quyền đó được coi là thừa mệnh trời, nhận mệnh trời để trị nước an dân, thay trời hành đạo Họ tự coi mình là Thiên tử - con trời
“Nội dung cơ bản tư tưởng chủ đạo của vương quyền dưới chế độ quân chủ Việt Nam được thể hiện ở những tờ sắc chiếu, phủ dụ toàn dân trong nước khi các vị vua lên ngôi ban hành Tất cả các tờ sắc chiếu đều bắt đầu bằng: Thừa Thiên Hưng Vận, Hoàng Đế sắc chiếu…” (tuân theo mệnh Trời
để làm cho vận nước hưng thịnh hơn lên Hoàng đế giáng chiếu như sau…) hoặc “Thế Thiên hành đạo” (thay thế Trời để thi hành đạo của Trời)
Để duy trì địa vị và quyền lực tối cao, các triều đại phong kiến Việt Nam
đã khéo khai thác triệt để những yếu tố thần bí từ tư tưởng của Tống Nho Tư tưởng này giải thích nguồn gốc của bậc đế vương là do thiên mệnh hay do Trời Do vậy, vấn đề căn bản triết lý về chế độ quân chủ ở nước ta cũng dựa vào cơ sở lý luận ấy Điều đó tạo ra nét đặc trưng của chế độ quân chủ Việt Nam Nếu như trong chế độ quân chủ phương Tây, nhà vua tập trung cả ba quyền, lập pháp, hành pháp và tư pháp thì ở Việt Nam, vua không chỉ nắm giữ ba quyền đó trong tay mà còn là vị giáo chủ cao nhất Nhà vua thâu tóm
cả thần quyền và thế quyền Vua là người ban hành pháp luật bắt buộc dân chúng phải thi hành; là vị thủ lĩnh cao nhất của nền hành chính nhà nước có
Trang 18quyền khen thưởng, trừng phạt và bãi miễn tất cả các chức quan; là vị thẩm phán tối cao có quyền quyết định đến các vụ án hình sự và dân sự và là vị giáo chủ độc đoán duy nhất Thậm chí tất cả quỷ thần trong nước đều phục tùng ý chí của nhà vua Vua có quyền tế Trời, còn thần dân chỉ được thờ quỷ thần và tổ tiên Vua có quyền phong sắc cho bách thần và khiển trách bách thần, khiển trách bằng sắc hoặc phá hủy đền thờ Quyền tế Trời hàng năm gọi
là tế Nam Giao, chủ tế thuộc về Hoàng đế Quyền lực trong tay vua là tuyệt đối Chế độ quân chủ ấy được xem là chế độ quân chủ “tôn quân quyền”[16, 70-71]
Chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến Việt Nam coi các quy phạm pháp luật là mang tư tưởng chính trị - đạo đức nho giáo như Nhân, Nghĩa, Lễ, Trung, Tín làm một bệ đỡ bất khả xâm phạm Những bề tôi được sử sách lưu danh vì họ đã xả thân vì vua chúa như Trần Bình Trọng, Trần Quốc Tuấn, Lê Lai, Tô Hiến Thành…
Câu thơ Trương Hán Siêu còn vang vọng mãi trong lòng dân tộc:
“ Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”
Hay như tuyên bố của Nguyễn Công Trứ:
“ Hay tám vạn nghìn tư mặc kệ,
Không quân, thần, phụ tử đếch ra người”
Hệ tư tưởng trên đã đi vào huyết khí, nếp nghĩ của kẻ học thức trong xã hội phong kiến Việt Nam Ảnh hưởng đó không dễ gì thay đổi, khi mà chế độ chính trị ấy và quy phạm đạo đức ấy được nâng lên thành “Lễ”, và dần dần
“Pháp” hóa trong các bộ luật phong kiến: Quốc triều hình luật, Hoàng triều hình luật
Trang 19Cơ sở kinh tế của chính thế quân chủ chuyên chế phong kiến Việt Nam
Chế độ phong kiến Việt Nam có cơ sở kinh tế bao gồm 2 phương diện
Về mặt chính thống là sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất, vua là chủ sở hữu duy nhất tối cao (đại địa chủ) Quan hệ giữa vua và thần dân là quan hệ bóc lột địa tô của đại địa chủ với nông dân tá điền Ngoài ra, trong xã hội xuất hiện tầng lớp địa chủ tư hữu (bao gồm địa chủ, quí tộc và một số quan lại) phát canh thu tô trực tiếp nông dân tá điền Nông dân tá điền chiếm đa số trong dân chúng thì không có ruộng đất thì bị chịu sự bóc lột nặng nề
Ruộng đất mà tầng lớp quý tộc, địa chủ quan lại có xét cho cùng đều do vua “ban phát” theo kiểu phong tước kiến địa nên họ cũng chịu sự ràng buộc rất lớn từ vua - đại địa chủ
Và như vậy, quyền lực kinh tế tối thượng của chế độ phong kiến Việt Nam là thuộc về vua và đây là là cơ sở kinh tế của chính thể quân chủ chuyên chế phong kiến Trong chế độ phong kiến Việt Nam, người dân luôn được giáo huấn thân phận “thần dân”, tuyệt đối tin vào sự phán quyết của nhà vua
Vì thế nên tư tưởng Nho giáo về quân quyền chuyên chế tạo dựng và góp phần củng cố thêm chế độ phong kiến Việt Nam
Điều đáng chú ý là trong thực tế: Vua chỉ là người “sở hữu” tối cao đối với ruộng đất, bên cạnh đó, trong làng xã Việt Nam qua các thời đại khác nhau có sự biến đổi, song bao giờ cũng song song tồn tại loại hình “sở hữu” thứ hai là chế độ ruộng công làng xã rất đặc thù của Việt Nam Đây là cơ sở kinh tế cho tư tưởng dân chủ kiểu làng xã Việt Nam
Tư tưởng dân chủ làng xã ở Việt Nam
Quần chúng lao động đông đảo trong xã hội Việt Nam là nông dân công
xã và nông dân tá điền, có kinh tế riêng, nhưng hầu như không có quyền sở
Trang 20hữu ruộng đất Đặc điểm kinh tế, xã hội đó có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đấu tranh xã hội của nông dân và quá trình nảy sinh, phát triển cũng như nội dung tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam
Trong quá trình phong kiến hóa công xã nông thôn từ thế kỷ X đến thế
kỷ XV, đã xuất hiện những cuộc đấu tranh của nông dân vào cuối đời Lý và cuối đời Trần với những tư tưởng đòi bình đẳng xã hội và cứu giúp người nghèo Tư tưởng đó thể hiện trong cuộc khởi nghĩa Lê Văn cuối thế kỷ XII và khởi nghĩa Ngô Bệ cuối thế kỷ XIV Lê Văn tung tin thấy vết chân trâu trắng trên cây để đoán rằng: “Trâu trắng là vật ở dưới nước, nay lại ở trên cây, thế
là điềm kẻ dưới lên ở trên”, để cổ vũ quần chúng Ngô Bệ nêu khẩu hiệu
“chẩn cứu người nghèo” để tập hợp quần chúng nổi dậy chống triều Trần Đến giai đoạn cuối của chế độ phong kiến, trong cuộc chiến tranh nông dân thế kỷ XVIII và nữa đầu thế kỷ XIX tư tưởng dân chủ nông dân được phát triển lên trình độ mới với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”, phản ánh yêu cầu bình đẳng tài sản và tâm lý bình quân chủ nghĩa của những người tiểu nông trong điều kiện kinh tế hàng hóa tương đối phát triển Tư tưởng đó biểu thị rõ nét trong phong trào Tây Sơn cuối thế kỷ XVIII, nhất là trong giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa Một điểm đáng lưu ý là trong phong trào nông dân ở giai đoạn cuối của phong kiến Việt Nam không thấy xuất hiện khẩu hiệu ruộng đất như trong phong trào nông dân nhiều nước Tây
Âu ở hậu kỳ phong kiến hay phong trào Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc giữa thế kỷ XIX Khuynh hướng chung của nông dân Việt Nam là muốn củng cố chế độ ruộng đất công của làng xã với một quy chế quân điền bình đẳng, đảm bảo cho mọi người có ruộng đất, khẩu phần đủ để cày cấy, nộp tô thuế vừa phải cho nhà nước Điều đó có thể giải thích bằng tâm lý của người nông dân công xã mà những tàn dư của nó được bảo lưu lâu dài trong xã hội phong kiến
Trang 21Về mặt chính trị, tư tưởng dân chủ cao nhất của nông dân là bạo động chống lại chế độ chuyên chế, lật đổ bọn bạo chúa, tham quan, cường hào với ước mơ một xã hội công bằng có vua sáng, tôi hiền Đó là tư tưởng:
- Được làm vua, thua làm giặc
- Bao giờ dân nổi can qua
Con vua thất thế lại ra quét chùa
Tư tưởng đó cũng dội vào nhận thức của một số nhà văn hóa mang nặng tấm lòng nhân đạo như:
Thà rằng bạo động bất lương, Còn hơn chết đói nằm đường thối thây
Như vậy là trong đấu tranh xã hội, tư tưởng dân chủ của nông dân Việt Nam chỉ dừng lại ở yêu cầu bình đẳng xã hội, bình đẳng tài sản mà mức độ phát triển cao nhất là chủ nghĩa bình quân về kinh tế - xã hội và tư tưởng bạo động về mặt chính trị Tư tưởng đó gắn liền với tâm lý người nông dân công
xã, người sản xuất nhỏ, nó có mặt chính đáng và tích cực của nó trong cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế, chống những bất công của xã hội phong kiến, những cũng bộc lộ mặt không tưởng và bất lực của người nông dân trong sự nghiệp tự giải phóng mình
Một đặc điểm quan trọng của xã hội Việt Nam cổ truyền là sự tồn tại và bảo lưu lâu dài tàn dư của công xã nông thôn Đây là công xã nông thôn thuộc loại hình Á châu mà trong giai đoạn đầu, đặc điểm cơ bản của nó là quyền sở hữu công xã về toàn bộ ruộng đất và công xã đem phân chia ruộng đất đó cho các gia đình và thành viên cày cấy Bộ máy quản lý công xã do các thành viên
cử ra mà đứng đầu là một già làng hay Bồ Chính
Về sau chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, thu hẹp dần chế độ ruộng đất công của làng xã và sự phân hóa xã hội bên trong cũng ngày càng nâng cao Quá trình đó diễn ra cùng với quá trình phong kiến hóa công xã nông thôn
Trang 22Nhưng nói chung, tàn dư của công xã nông thôn ở những mức độ tồn tại khác nhau tùy từng lúc, từng nơi vẫn được bảo lưu lâu dài trong xã hội Việt Nam cổ truyền Tất nhiên ở đây có sự khác biệt giữa làng xã miền Bắc và miền Nam do nhiều hoàn cảnh và điều kiện lịch sử quy định
Trên cơ sở quan hệ cộng đồng công xã đó, hình thành và bảo tồn một loạt phong tục tập quán gọi chung là “lệ làng” ít nhiều phản ánh tính chất dân chủ công xã Nó được biểu thị trong mối quan hệ tương đối bình đẳng giữa các thành viên trong việc chia ruộng đất công và trong các sinh hoạt cộng đồng, trong sự tôn trọng người già bất cứ đẳng cấp nào, trong việc thừa nhận vai trò to lớn của người mẹ và người phụ nữ trong đời sống gia đình và làng xã
Những lệ làng mang tính dân chủ công xã đó được phản ánh rõ nét trong kho tàng văn hóa dân gian, nhất là trong ca dao, tục ngữ mà nhiều người
đã dẫn chứng Trong bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) gồm 722 điều luật được xây dựng trong thế kỷ XV và được áp dụng lâu dài cho đến cuối thế
kỷ XVIII (dĩ nhiên có sự bổ sung và sửa chữa ít nhiều), một số phong tục tập quán dưới dạng luật tục dân gian có hiệu lực lâu đời đã được ghi nhận và pháp chế hóa thành những điều luật của nhà nước phong kiến Điều này được thể hiện tập trung nhất trong những điều luật về quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, trong việc thừa hưởng gia tài, kế thừa hương hỏa và phân chia tài sản khi vợ chồng phải ly dị Nhiều nhà luật học phương Tây đã ghi nhận đây là những điều luật đặc biệt của bộ luật Hồng Đức và nêu cao tinh thần dân chủ của nó, những dĩ nhiên họ không giải thích được nguồn gốc lịch sử của nó và do đó sự đánh giá cũng có mặt không thỏa đáng
Trong một số hương ước xưa của người Việt Nam cũng thể hiện tính chất sơ khai của dân chủ làng xã Nội dung các hương ước cổ hiện sưu tầm được thường đặt ở vị trí hàng đầu những quy phạm về tổ chức bộ máy quản lý
Trang 23làng xã: Phạm vi chức năng, nhiệm vụ của toàn thể bộ máy cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của từng chức danh, thủ tục hoạt động của tổ chức đó
Hội đồng tộc biểu là những đại biểu do dân cử ra Nó mang tích chất
như cơ quan lập pháp của làng Các họ họp nhau lại thành làng, bởi thế việc làng do các họ cử người thay mặt gọi là tộc biểu Tùy theo họ nhiều, họ ít người mà mỗi họ cử ra 2 hoặc 3 người” Một số hương ước quy định: “Vô luận là họ to, họ nhỏ, kể từ tráng đinh trở lên cứ 20 người phải bầu lấy một người tộc biểu” Các tộc biểu lại họp đại hội và cử ra hai người là chánh hương hội và phó hương hội Hầu hết các hương ước đều quy định chỉ những nam giới tuổi từ 25 trở lên, có học vấn, không can án, có gia sản mới được làm tộc biểu, mỗi hạn là 3 năm, có nơi 6 năm Nghiên cứu nội dung hoạt động của hội đồng tộc biểu có thể nói đây chính là “nghị viện” của làng Trong các cuộc họp của hội đồng tộc biểu còn có đại biểu các Giáp, hương trưởng các thôn Hội đồng tộc biểu là cơ quan thông qua việc soạn thảo, ban hành, sửa đổi, bổ sung hương ước, giám sát việc thi hành hương ước Hội đồng tộc biểu
là cơ quan bàn bạc và quyết định mọi công việc như: Quân cấp điền thổ của làng, tổ chức và tiến hành việc đấu giá bán hoặc cho thuê tài sản của làng (thuê đất ruộng, ao, hồ của làng) Phân bổ sưu thuế và chọn người làm nghĩa
vụ binh dịch Hòa giải các vụ tranh chấp xảy ra trong làng xã Chánh phó hương hội là người thay mặt dân làng khi có việc tiếp xúc với chính quyền Phủ, huyện hoặc các làng xã khác…
Hội đồng trị sự (hay hội đồng kỳ biểu) giống như một cơ quan hành
pháp hay “chính phủ” của làng Vì mang tính chất như là cơ quan hành pháp, chấp hành ý chí tối cao của dân làng là hội đồng tộc biểu, nên nó bao gồm nhiều chức vụ:
Họ là những người có học vấn, có tài sản, không can án Bầu lý và phó lý
Trang 24trưởng thì phải chọn những người cẩn cán lại biết chữ ở trong hạng đinh nội tịch của làng 6 năm là một khóa Lý trưởng, phó lý là những người chịu trách nhiệm cao nhất về mặt hành pháp của làng Họ thực hiện mọi nhiệm vụ của chính quyền cấp trên giao về xã, thực hiện thu thuế và giữ gìn an ninh trật tự, nghĩa vụ binh dịch… Trong mọi việc, lý trưởng và phó lý không được tự mình quyết định Thư ký là người có học vấn, có nhiệm vụ giữ gìn sổ sách, ghi chép biên bản các cuộc họp hội đồng tộc biểu Có hương ước quy định là thư ký có thể kiêm nhiệm chức vụ của hộ lại hoặc chưởng bạ
Thủ quỹ, có nơi gọi là hương bản, phải là người giàu có trong làng, được bầu làm người giữ tiền công và xuất tiền quỹ cho việc chi tiêu của làng
những thay đổi về điều sản trong làng
sinh tử, giá thú trong làng Hộ tịch và dân số của làng do hộ lại theo dõi Thời vua Lê Thánh Tông, việc đăng ký hộ tịch, kê khai nhân khẩu trong toàn quốc được làm rất chặt chẽ theo những quy định của vua từ năm 1470 Việc nắm vững dân số trong một xã có liên quan chặt chẽ đến việc nắm vững dân số của một quốc gia Vì vậy vai trò của hộ lại trong các hương ước cổ rất được coi trọng
các tuần phiên, canh phòng bảo vệ an toàn, an ninh làng xã Các hương ước quy định việc chọn người làm Trương tuần phải là người mạnh bạo, thực thà,
có gia sản, mới giao việc Ngay trong việc cắt cử tuần phiên thì những tráng đinh nào có mang tiếng xấu sẽ không cho đi tuần
hỏng báo với hội đồng tộc biểu xin chỉ thị để tổ chức cho dân tu bổ, mở mang thêm
Cai vạn là chức dịch bầu ra ở những làng có sông nước thuyền bè qua
Trang 25sang các bến bãi Những thuyền chở đánh số hiệu và thu tiền nộp vào công quỹ Những thuyền nào mục nát thì cấm không được chở nữa
Bên cạnh việc định ra các chức danh vừa nêu của bộ máy quản lý làng
xã, các hương ước còn có mục “Quân kỷ”, là những điều quy định về kỷ luật của bộ máy quản lý làng xã mà ngày nay khoa học pháp lý gọi là “quy chế công vụ” Nội dung quân kỷ bao gồm các điều quy định về tiêu chuẩn bầu chọn người, đạo đức tác phong làm việc, khen thưởng và kỷ luật đối với những người được bầu chọn ra làm việc cho làng
Trong quá trình phong kiến hóa công xã nông thôn, nhất là từ thế kỷ
XV trở đi “phép vua” ngày càng can thiệp và áp đặt vào đời sống cộng đồng của làng xã, từ đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa “phép vua” với “lệ làng” Xu thế chung là “phép vua” ngày càng thắng thế và chi phối, nhưng không thể xóa bỏ được “lệ làng”, và “lệ làng” tỏ ra rất bướng bỉnh, nhiều khi “phép vua” thua “lệ làng”
Tư tưởng dân chủ công xã có mặt tích cực của nó trong đời sống xã hội lúc bấy giờ, nhưng cũng gắn liền với tính cục bộ, địa phương của công xã và những hẹp hòi của các hình thức dân chủ công xã Công xã chỉ thừa nhận quyền bình đẳng và dân chủ giữa các thành viên khi họ là thành viên của công
xã, là bộ phận tạo thành của cộng đồng, nhưng hoàn toàn không công nhận quyền của cá nhân của con người với tư cách là một thực thể độc lập Dân chủ công xã không dựa trên sự giải phóng con người và tôn trọng quyền của con người mà trói chặt con người trong quan hệ cộng đồng và chỉ bảo đảm quyền lợi bình đẳng của con người với tư cách là thành viên của cộng đồng
Cho đến thế kỷ XV, nhất là trong thời Lý, Trần, chế độ quân chủ tập quyền đã được xác lập vững vàng, nhưng chưa mang tính chất chuyên chế, quan liêu nặng nề Chế độ đó dựa trên nền tảng công xã nông thôn, phổ biến
và bền vững trên đường phong kiến hóa
Trang 26Đất nước sau hơn nghìn năm Bắc thuộc, vừa giành lại độc lập dân tộc
và đang phải bảo vệ nền dân tộc đó chống lại nhiều cuộc chiến tranh xâm lược ác liệt của những đế chế mạnh Các vương triều tiến bộ lúc bấy giờ sớm nhận thức được mối quan hệ gắn bó giữa lợi ích của vương triều với lợi ích chung của dân tộc và đang giữ vai trò tổ chức, lãnh đạo các cuộc chiến tranh giữ nước Đó là những cuộc kháng chiến và những cuộc chiến tranh giải phóng mang tính dân tộc và tính nhân dân sâu rộng, những cuộc chiến tranh nhân dân yêu nước chống ngoại xâm với vai trò định đoạt của nhân dân, của khối đoàn kết dân tộc Từ thực tế lịch sử đó, Trần Quốc Tuấn đã coi: “Chúng chí thành thành” (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước) và tổng kết nguyên nhân thắng lợi cơ bản là do “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nhà nước chung sức”, Nguyễn Trãi cũng ví dân như nước, nước có thể chở thuyền
và lật thuyền, nên “phúc chu thủy tín dân do thủy” (thuyền bị lật mới biết sức dân như nước)
Từ những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị và hoàn cảnh giữ nước trên đây, các vương triều tiến bộ thời bấy giờ lo giữ lòng dân và phải áp dụng một số hình thức dân chủ đối với dân Từ đó, chúng ta thấy nhà Lý đặt lầu chuông trong thành Thăng Long để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên Nhà Trần mở hội nghị Diên Hồng để cùng với các bô lão bàn kế đánh giặc Trần Quốc Tuấn chủ trương “khoan thu sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc” và Nguyễn Trãi ước mong làm sao “nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận, sầu than”… Đó là những yếu tố dân chủ gắn liền với
sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc và thực tế lịch sử đã chỉ rõ, một phong trào dân tộc rộng lớn bao giờ cũng chứa đựng những yếu tố dân chủ nhất định
Nhưng từ thế kỷ XVI trở đi, chế độ quân chủ chuyển sang mô hình Nho giáo với tính chất chuyên chế, quan liêu càng cao, ngày càng nặng nề Và cũng từ đó, mối quan hệ giữa vua quan và dân ngày càng tách rời và đối lập,
Trang 27những chủ trương và hình thức dân chủ của các vương triều trước không còn được kế tục nữa
Trên đây là lược sử về chính thể ở Việt Nam trước khi bị phụ thuộc vào thực dân Pháp
1.1.2 Bối cảnh xã hội thuộc địa nửa phong kiến ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Từ nửa sau thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam rơi vào khủng hoảng triền miên Thế kỷ XIX, nhà Nguyễn tiếp tục củng cố chính thể nhà nước quân chủ theo hướng ngày càng tập quyền chuyên chế Sự lựa chọn này
đã lỗi thời nên đã kìm hãm lịch sử phát triển, tạo thêm khủng hoảng xã hội, làm triệt tiêu các yếu tố tích cực của tư tưởng dân chủ truyền thống, giảm sức sống của dân tộc
Lo sợ trước sự phản kháng của khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra, triều Nguyễn tôn sùng hơn nữa hệ tư tưởng Hán, Tống Nho và tầng lớp hủ nho Nhà Nguyễn bắt chước, dựa vào Trung Quốc thi hành đường lối chuyên chế tập quyền Về đối nội, các vua quan nhà Nguyễn không chịu cải cách thể chế, ngược lại thể chế pháp luật hóa điều Lễ, luật pháp hóa đạo đức Nho giáo xây dựng thành những điều luật hà khắc để đè bẹp sự đổi mới, chống đối, chủ trương trọng nông, ức thương Tệ nạn tham nhũng, ức hiếp ở chốn hương thôn phổ biến Về đối ngoại, nhà Nguyễn thi hành chính sách “bế quan toả cảng”, không cho phát triển trao đổi thương nghiệp, văn hoá với nước ngoài, nhất là các nước phương Tây
Năm 1876, trong đầu đề của một bài văn sách của khoa thi Đình, có câu:
“Nước Nhật Bản theo học các nước Thái Tây mà được phú cường Vậy nước
ta có nên bắt chước không? “Nhất loạt các nho sĩ dự thi đều tâu rằng: “Nhật Bản thưở trước vẫn theo văn minh của nước Tàu, mà bây giờ thay đổi thói cũ theo nước Thái Tây, thì dầu là có phú cường, về sau này cũng hoá ra mọi rợ!”
Trang 28Với chính thể chuyên chế cộng với chính sách lạc hậu, bảo thủ kìm hãm các nhân tố dân chủ truyền thống như trên, triều đình nhà Nguyễn đã đưa nước
ta suy yếu về mọi mặt, tạo điều kiện cho sự xâm lược của thực dân Pháp
Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Trước một kẻ thù mới khác về chất, với sức mạnh súng đạn, tàu đồng, đầy mưu mô, nhà Nguyễn suy yếu về thế và lực vì những lợi ích của giai cấp mình
đã nhu nhược đi đến chỗ đầu hàng Nhiều phong trào đấu tranh vẫn nổ ra chống lại thực dân Pháp xâm lược, nhưng vẫn tôn sùng hệ tư tưởng quân chủ phong kiến, đánh đổi sinh mạng của mình vì vua Từ năm 1884 với hiệp ước Patơnốt, xã hội Việt Nam trở thành thuộc địa, nửa phong kiến Đây chính là những bối cảnh, điều kiện làm xuất hiện tư tưởng thể chế chính trị ở Phan Bội Châu và tác động đến sự chuyển biến tư tưởng ở ông, trong đó có tư tưởng chính thể
- Về chính trị
Thực dân Pháp đã xây dựng một bộ máy thống trị từ trung ương đến địa phương, một chính quyền thực dân song song tồn tại với chính quyền bù nhìn phong kiến Việt Nam Chúng thâm độc thực hiện chính sách “chia để trị”, chia cắt đất nước ta thành 3 khu vực: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ với những chế độ chính trị khác nhau, chính sách “dùng người Việt trị người Việt” Bên cạnh chính quyền thực dân, Pháp vẫn duy trì chính quyền bù nhìn phong kiến tay sai để lừa bịp nhân dân ta, thông qua chính quyền phong kiến với ý thức
hệ Nho giáo bảo thủ để tác động đến sự phục tùng của tầng lớp quan lại, nho
sĩ, biến họ thành công cụ bóc lột, sai khiến Thực dân Pháp đã dùng mọi cách hạn chế quyền lực của nhà vua phong kiến Việt Nam đối với đất nước Nhà vua không còn trong tay những quyền lực tối cao như trước đây Khi ban bố đạo luật hay chủ trương, chính sách gì thì nhà vua phải có sự đồng ý của toàn
Trang 29quyền Đông Dương do người Pháp đứng đầu, nếu không được Toàn quyền chấp thuận thì không được ban hành
Thể chế chính trị thực dân đó là nguồn gốc gây nên những bất công, mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam, khiến nhân dân phản kháng quyết liệt
- Về kinh tế
Trên bề mặt thực dân Pháp du nhập một lớp màng kinh tế thuộc địa cùng với việc vẫn duy trì nền kinh tế phong kiến địa chủ – tá điền tại nông thôn, bảo trợ tầng lớp tay sai cường hào làng xã để bóc lột nhân dân Chúng cũng biến Việt Nam thành một thị trường độc quyền cho các sản phẩm của chính quốc Để khai thác nguồn nguyên vật liệu dồi dào, bóc lột nhân công rẻ mạt, thực dân Pháp đã xây dựng phương thức sản xuất mới, tiến bộ ở Việt Nam, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tại thuộc địa Nhưng đó chỉ là một phương thức có tính sân sau của sản xuất tư bản chủ nghĩa thuộc địa, phụ thuộc vào chính quốc Tuy vậy, nền kinh tế mới hình thành cũng đã tác động đến cơ cấu kinh tế cũ, nền sản xuất nông nghiệp không còn là độc tôn Nhiều nhà máy, công trường, hầm mỏ, hải cảng mới mọc lên Đây cũng chính là điều kiện thuận lợi để các luồng tư tưởng mới thâm nhập vào nước ta Mặt khác, “nó cũng làm phá sản chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình nhà Nguyễn, làm cho Việt Nam tiếp xúc được với thế giới, nhất là với châu Âu tư bản chủ nghĩa, mặc dù thực dân Pháp đã giăng một hàng rào quan thuế khá chặc chẽ và bắt buộc Việt Nam chỉ được sống với thân phận kẻ phụ thuộc, làm cái đuôi cho tư bản Pháp và chỉ được phép có quan hệ với riêng một nước Pháp mà thôi” [69, 21] Nền kinh tế Việt Nam thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, về căn bản là nền kinh tế tự cung, tự cấp, trên thực tế, các phương thức sản xuất lạc hậu cũ vẫn giữ một vai trò quan trọng Lúc này trong xã hội Việt Nam đang diễn ra một cuộc cọ xát gay go giữa cái cũ và cái mới Kết cục, nhiều khi lại là sự chiến thắng của cái cũ Điều này khiến nhân dân vô cùng quẫn bách, tìm đường giải phóng
Trang 30- Về văn hoá, giáo dục
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, về cơ bản trình độ dân trí ở Việt Nam vô cùng thấp Đó là sản phẩm của xã hội phong kiến và nền văn hoá Nho học (chữ viết, mục đích học…) Điều này ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển chính trị cũng như kinh tế, văn hoá cho Việt Nam
Phan Bội Châu có khoảng 10 năm dạy học, nên ông hiểu rõ trình độ dân trí Việt Nam lúc bấy giờ thấp như thế nào Sự thấp kém của trình độ dân trí ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn chính thể của Phan Bội Châu Ông có cùng quan điểm với Tiểu La Nguyễn Thành khi lựa chọn chính thể quân chủ lập hiến
mà không thể là chính thể cộng hòa, bởi vì “phải hiểu dân trí và tập quán của dân nước ta, không thể nào bắt chước làm theo châu Âu được” [8, 163] Phan Bội Châu nhận thấy rằng dân trí cao thì kinh tế mới phát triển, dân quyền được tôn trọng Sự tồn vong, hưng thịnh của quốc gia phụ thuộc vào trình độ dân trí
Thực dân Pháp thời kỳ đầu vẫn duy trì lối khoa cử Nho học để lựa chọn đội ngũ quan lại và kìm hãm sự phát triển của nhân dân ta theo kiểu ngu dân Phan Bội Châu nhận xét: “Từ sau khi mất nước, cố nhiên người Pháp chẳng những không đem lại cho người Việt một nền giáo dục tốt đẹp mà họ càng ngày càng cưỡng bức người Việt Nam theo nền giáo dục nô lệ, trâu ngựa Khi mới chiếm Việt Nam, người Pháp rất khuyến khích cái học từ chương khoa
cử như văn bát cổ, thơ phú, huấn hỗ, từ chương Trẻ em sáu tuổi đã bắt vùi đầu vào cái học ấy cho đến chết” [8, 526] Đồng thời thực dân Pháp cũng
mở một số trường giáo dục theo kiểu Pháp để đào tạo đội ngũ thông ngôn
và những người phục vụ trong bộ máy chính quyền thực dân Năm 1906, thực dân Pháp xây dựng nền giáo dục Pháp – Việt nhằm mục tiêu truyền bá văn hóa Pháp, tuyên truyền chính sách xâm lược của Pháp và đào tạo đội
ngũ tay sai người Việt cho Pháp Phan Bội Châu trong tác phẩm Việt Nam
vong quốc sử nhận định về nền giáo dục ấy: “Ở trong nước, người Pháp đặt
Trang 31một trường học đại Pháp, một trường học Pháp – Việt nhưng chỉ dạy viết văn Pháp, nói tiếng Pháp có thể tạm thời làm nô lệ cho Pháp mà thôi, còn muốn tới chổ tinh thâm uyên bác tất cả những việc hữu dụng, thì người Việt Nam không được thấy” [7, 147] Dù sao thì về sau một số tiểu tư sản Việt Nam có điều kiện tiếp xúc với các giá trị văn hoá phương Tây Đây là đội ngũ có ảnh hưởng rất lớn đối với sự chuyển biến đất nước ta sau này về chính trị, kinh tế, văn hoá Đầu thế kỷ XX vai trò tiếp nhận tư tưởng mới lại do tầng lớp trí thức Nho học yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…
- Sự biến đổi giai tầng xã hội ở Việt Nam
Chính sách cai trị mới của thực dân Pháp khiến cho cơ cấu xã hội giai cấp ở Việt Nam thay đổi, bên cạnh những giai cấp cũ đã xuất hiện thêm nhiều giai tầng mới
Giai cấp địa chủ phong kiến
Đại bộ phận giai cấp địa chủ phong kiến vì lợi ích của mình đã thoã hiệp
và trở thành công cụ đắc lực cho thực dân Pháp bóc lột giai cấp nông dân Sự câu kết giữa hai lực lượng thực dân Pháp và phong kiến đã tạo một lực cản hết sức lớn đối với sự phát triển của xã hội, nó kìm hãm các yếu tố mới Một
số không ít vẫn tư tưởng tôn quân, trung thành với triều đại phong kiến nhà Nguyễn nhu nhược Vì thế đã từ bỏ mọi sự cải cách, thay đổi xã hội
Một bộ phận quan lại, địa chủ có tinh thần yêu nước, căm thù thực dân Pháp xâm lược và bất mãn với nền chuyên chế quân chủ bảo thủ nên đã cáo quan, giữ cuộc sống thanh bạch, vui thú điền viên
Cũng có một số trí thức Nho học do tiếp thu được tinh thần văn minh phương Tây nên đấu tranh chống chế độ thực dân phong kiến để xây dựng xã hội mới Nhưng do những hạn chế của lịch sử nên tư tưởng canh tân của họ
Trang 32không thực sự hiện thực Đầu thế kỷ XX, chính các nhà Nho duy tân mới là người hướng đến các tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây cận đại
Một bộ phận sĩ phu khác lại chọn con đường đấu tranh vũ trang, thể hiện truyền thống đấu tranh quật cường của dân tộc, chính họ đóng vai trò lãnh đạo cách mạng trong giai đoạn quá độ từ sau phong trào Cần Vương thất bại cho đến khi xuất hiện phong trào cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo Chính họ góp phần vô cùng quan trọng tích cực vào việc thức tỉnh tinh thần yêu nước của dân tộc Nhưng do không vượt qua được ý thức hệ phong kiến lạc hậu nên cuối cùng thất bại
Giai cấp nông dân
Đây là thành phần chiếm đa số trong xã hội Đến đầu thế kỷ XX vẫn chiếm khoảng 90% dân số Trong quá trình biến đổi của sản xuất họ bị phân hoá thành 3 tầng lớp: Trung nông, bần nông và cố nông Thực dân Pháp tiếp tục duy trì kiểu bóc lột phong kiến bằng tô tức, sưu cao thuế nặng Phần lớn ruộng đất tập trung vào tay địa chủ và chủ đồn điền Pháp Người nông dân phải chịu cảnh một cổ hai tròng là thực dân và phong kiến Vì thế người nông dân có tinh thần cách mạng lớn Do không đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nên họ không có khả năng lãnh đạo cách mạng, nhưng họ là lực lượng cách mạng hùng hậu Trình độ thấp về kinh tế cũng như nhận thức nên
họ cũng ảnh hưởng rất lớn đối với sự lựa chọn con đường cách mạng của các nhà cách mạng sau này
Trang 33“Địa vị kinh tế của giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu và thấp kém trong nền kinh tế, đến cuối những năm 20 của thế kỷ 20, họ chỉ chiếm 0,01 % dân số” [37, 25] Vì thế họ cũng chịu sự chèn ép của thực dân Pháp, nên một
số bộ phận này có tinh thần dân tộc, dân chủ tư sản
Tầng lớp tiểu tư sản
Tầng lớp tiểu tư sản hình thành dần cùng với quá trình đầu tư phát triển kinh tế và giáo dục ở Việt Nam của thực dân Pháp qua hai cuộc khai thác thuộc địa Bao gồm thị dân, thợ thủ công và giới học sinh sinh viên, trí thức ở các thành thị Đến sau những năm 20 của thế kỷ XX họ có tiếng nói riêng Trong đó trí thức và học sinh, sinh viên là nhóm người có tinh thần học hỏi, nghiên cứu và đón nhận những tư tưởng tiến bộ, nhất là tư tưởng dân chủ để phổ biến trong xã hội
Giai cấp công nhân
Giai cấp công nhân ra đời mạnh mẽ trong qúa trình khai thác thuộc địa lần thứ
nhất của tư bản Pháp Do tư bản Pháp không có ý đồ phát triển mạnh công nghiệp ở Việt Nam nên trình độ của giai cấp công nhân Việt Nam không cao Đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam chưa thể là lực lượng lãnh đạo cách mạng, còn là giai cấp “tự nó”, chưa tìm thấy chủ nghĩa Mác – Lênin
“Nói tóm lại, có thể xem xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX về căn bản vẫn là xã hội nông dân” [37, 50] 90% dân số là nông dân, giai cấp tư sản chỉ chiếm 0,01% dân số, giai cấp công nhân còn là giai cấp “tự nó” thì giai cấp phong kiến, nho sĩ vẫn được coi là giới tinh hoa, các phong trào đấu tranh yêu nước đều do giai cấp phong kiến, giới nho sĩ lãnh đạo
Sự phân hóa tư tư tưởng trong xã hội Việt Nam
Điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam đã làm cho tư tưởng trong xã hội phân hóa như sau:
Trang 34Nhóm tư tưởng bảo thủ, trì trệ Những người thuộc nhóm này từ chối
mọi sự đổi mới, khư khư giữ lấy những tư tưởng cũ Họ muốn giữ nguyên các nguyên lý, mệnh đề đã từng làm cốt lõi của hệ tưởng phong kiến lạc hậu Trước thực tế sôi động, họ đã mất khả năng thích ứng, họ co lại, từ chối mọi
sự vận động, biến đổi, trở nên bảo thủ, phản động Trong số đó, có người muốn giữ nguyên tư tưởng chuyên chế cũ, duy trì tất cả những gì cổ xưa,
“trung thành” một cách mù quáng với mọi giáo lý, tín điều của Nho giáo, bất chấp hiện thực đang đổi thay Chủ nghĩa thực dân Pháp mang danh nghĩa truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản, nhưng do xuất phát từ quyền lợi ích kỷ, đã
từ bỏ những lý tưởng tiến bộ để câu kết với thế lực phong kiến lạc hậu, duy trì
và phát triển các tôn giáo cũ và mới, nhằm kìm hãm nhân dân trong vòng ngu dốt, mất khả năng đề kháng, mất khả năng nhận thức chân lý Đây là những lực cản trở sự phát triển tư tưởng dân tộc, ngăn cản tất cả những gì đổi mới, tiến bộ, như Đỗ Thị Hòa Hới đã nhận định [32, 36-37]
Nhóm tư tưởng nô dịch, mất gốc Không đứng vững trước những cám dỗ
thấp hèn và hoảng sợ trước sức mạnh của kẻ thù, một số người đã trở nên vong ân, bội nghĩa, cắt đứt quá khứ vẻ vang của dân tộc, ngậm miệng, cúi đầu cam tâm làm nô lệ cho thực dân Pháp và sùng bái phương Tây một cách mù quáng Tư tưởng của nhóm này là một trong những chướng ngại đối với sự phát triển tư tưởng của dân tộc
Nhóm tư tưởng tiến bộ Đây là nhóm các nhà tư tưởng do ảnh hưởng của
trình độ phát triển hay tư tưởng dân chủ phương Tây Trước thực trạng kém phát triển của đất nước, họ đã đưa ra nhiều tư tưởng canh tân mọi mặt Bước sang đầu thế kỷ XX một số sĩ phu đã tiếp nối truyền thống quật cường của dân tộc, họ đã đứng ra đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam nhằm giành lại độc lập cho dân tộc và canh tân đất nước Mọi tâm huyết của
họ lúc bấy giờ đều tập trung vào việc giải quyết vấn đề đó Họ vượt qua
Trang 35những hạn chế của giai cấp phong kiến – thành phần xuất thân của họ, bất chấp mọi khó khăn, hiểm nguy, dũng cảm chống lại các thế lực ngăn cản tư duy của dân tộc Cũng chính họ là người thu nhận và truyền bá tư tưởng dân chủ tư sản vào trong nhân dân, góp phần đưa trình độ nhận thức của dân tộc chuyển biến và phát triển lên một bước mới
“Phan Bội Châu lớn lên giữa những ngày phong trào Cần Vương với Phan Đình Phùng bắn những phát đạn cuối cùng, Hoàng Hoa Thám trở thành mãnh hổ rừng xanh Ngay trên quê hương của cụ, đất Sào Nam, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An còn đâu nữa tiếng trống bình Tây dồn dập của Trần Tấn, Đặng Như Mai; đã vắng rồi bóng cờ diệt Pháp của Trần Xuân, Vương Thúc Mậu trên đỉnh Rú Chung; cũng hết cả việc ba thôn Nộn Liễu gần nhà cụ Phan
“đọ sức” với Pháp trên cầu Phù Long Bởi phong trào Cần Vương với vua Hàm Nghi chỉ còn là hình ảnh trong lòng dân” [68, 32]
Phan Bội Châu không thể không suy ngẫm về thực tế trên, và ông hiểu rằng muốn thắng được Pháp tất yếu phải đổi mới nhiều, phải học hỏi từ bên ngoài Nên ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản có một ý nghĩa rất lớn đối với sự chuyển biến của tư tưởng Phan Bội Châu, trong đó có tư tưởng chính thể
1.2 Lược sử tư tưởng chính thể dân chủ tư sản ở phương Tây cận đại ảnh hưởng đến Việt Nam
1.2.1 Lược sử tư tưởng chính thể dân chủ tư sản ở phương Tây cận đại
Trong lịch sử phương Tây, từ rất sớm, khát vọng được tham gia quyết định các vấn đề nhà nước liên quan đến quyền lợi, cuộc sống của chính mình luôn hiện hữu trong những người dân Và họ luôn đấu tranh vì những điều đó
Ý tưởng đó được chuyển tải trong tư duy Hy Lạp cổ đại bằng khái niệm: Democratos: Dân chủ
Trang 36Chính thể cộng hòa dân chủ là hình thức tổ chức nhà nước được thành lập bởi nhân dân, trong đó quyền lực tối cao được trao cho nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc bởi các đại diện được bầu ra từ một hệ thống bầu
Hội đồng Aeropagus gồm 500 thành viên, được chọn từ các bộ lạc và
có nhiệm kỳ là 1 năm Hội đồng này gồm những công dân tuổi trên 30, có tài sản ở mức độ luật định Chức năng của Hội đồng là làm luật, chọn ra các quan chức hành pháp và tư pháp Những quan chức được chọn ra hoạt động dưới
sự giám sát của hội đồng Aeropagus
Nghị hội công dân (Asembly) gồm các công dân nam, có quyền phủ quyết các quyết định của hội đồng Aeropagus và là cơ quan duy nhất có quyền quyết định chiến tranh
Toà án gồm 500 thẩm phán, trong đó bồi thẩm đoàn gồm 9 người, được lựa chọn bằng cách bóc thăm ngẫu nhiên trong các công dân
Nền dân chủ Athen không phải đơn thuần là sản phẩm của các chính trị gia, các nhà tư tưởng, triết học nhân bản mà nó được xây dựng trên những đIều kiện kinh tế, xã hội của Hy Lạp cổ đại
Athen là một thành bang sản xuất hàng hoá, nho, rượu vang, dầu oliu
và hàng thủ công, nền thương nghiệp phát triển mạnh mẽ, tài sản không tập
Trang 37trung vào tay một cá nhân nào như ở các chế độ quân chủ chuyên chế ở phương Đông mà phân ra ở một số công dân Nền kinh tế phát triển như vậy nên tầng lớp hữu sản có thể nuôi sống lực lượng lao động nô lệ và có điều kiện xây dựng một nền văn hoá tiến bộ, trong đó có sự ra đời của các chính trị gia, các nhà tư tưởng, họ đã xây dựng nên thể chế dân chủ
Và tất nhiên, trong thể chế ấy, những công dân có quyền tham chính không phải là tầng lớp nô lệ chiếm đa số trong xã hội
Một số tư tưởng dân chủ thời cổ đại làm tiền đề cho tư tưởng dân chủ tư sản cận đại
Đêmôcrít (460 – 370 TCN) cho rằng nhà nước và pháp luật là kết quả đấu tranh của con người bị thiếu thốn và đè nén trong xã hội tiền văn minh buộc phải sống liên kết thành cộng đồng Nó là sự thể hiện các quyền lợi chung của các công dân trong đó Và đòi hỏi phải có sự bình đẳng và nhất trí của mọi công dân Với ông, trong mọi thứ, bình đẳng là tuyệt diệu, sự nghèo đói trong một quốc gia dân chủ được đánh giá cao hơn hạnh phúc trong chế
độ quân chủ, cũng như tự do hơn nô lệ
Hêraclít (544 – 483 TCN) cho rằng cần phải xây dựng một nhà nước công bằng, được tổ chức ra tự do Nhà nước đó nhân danh và vì lợi ích chung của xã hội ban hành luật và bị ràng buộc bởi pháp luật (sự công bằng)
Arixtốt (384 – 322 TCN) khẳng định để đảm bảo sự công bằng thì nhà nước phải được tổ chức theo kiểu phân quyền: cơ quan làm luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các toà án
Sự bóc lột nô lệ tàn bạo trên bình diện chung của xã hội Hy Lạp, La Mã
đã đẩy chế độ chiếm hữu nô lệ vào chỗ diệt vong Giai cấp chủ nô buộc phải giải phóng cho người nô lệ và chuyển sang hình thức bóc lột kiểu mới: Bóc lột địa tô Do nhu cầu chống ngoại xâm và từ những hạn chế của nền dân chủ
sơ khai nên chính thể dân chủ bị xoá bỏ, quyền lực được tập trung trong nền
Trang 38quân chủ chuyên chế tập quyền hay phân quyền trong xã hội phong kiến cộng với sự độc tài thẩm quyền
Cơ sở kinh tế của nền chuyên chế phong kiến là quyền sở hữu ruộng đất của các vua chúa phong kiến, quý tộc, quan lại
Trong “đêm trường trung cổ” ở châu Âu vẫn nhen nhóm những khát
vọng về xây dựng một xã hội mà con người được giải phóng khỏi áp lực của thần quyền và quân quyền, tôn trọng các quyền tự do, bình đẳng…
Tư tưởng dân chủ lại tiếp tục ra đời vào thế kỷ XVI, XVII khi giai cấp
tư sản ra đời, phát triển mạnh mẽ ở các trung tâm thương mại Họ đòi hỏi các quyền tự do cá nhân, vượt khỏi ràng buộc hạn chế của thần quyền và quân quyền để kinh doanh tự do
Nhà triết học Hà Lan, Spinôda (1632 - 1677) đưa ra quan điểm biện chứng giữa cá nhân và xã hội, với ông, xã hội được xây dựng như một khế ước về sự chuyển sức mạnh và quyền của mỗi con người vào sức mạnh và quyền của cả xã hội Spinôda cho nhà nước dân chủ là hình thức nhà nước tối
ưu, còn chế độ quân chủ chuyên chế cần loại bỏ vì nó không đảm bảo sự tự do
và lý trí phát triển Tuy vậy, căn cứ vào điều kiện thực tế lúc bấy giờ, giai cấp
tư sản chưa đủ mạnh, nên ông dung hoà khi đưa ra mô hình quân chủ hạn chế, bên cạnh quyền lực vua chúa đó còn có một cơ quan quyền lực tối cao, thuộc
cơ quan đại diện cho nhân dân để hạn chế bớt quyền lực của vua chúa
Nhà triết học Anh, Giôn Lốccơ (1632 - 1704) đưa ra mô hình quân chủ lập hiến có sự phân quyền: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền liên minh Quyền lập pháp, thuộc về cơ quan đại diện cho nhân dân, gọi là nghị viện Quyền hành pháp, do vua nắm giữ và vẫn là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng hoạt động theo luật pháp, quy định do nghị viện đã đưa ra Đồng thời vua nắm cả quyền liên minh, quyết định những vấn đề chiến tranh, quan hệ quốc tế…
Trang 39Quan điểm của Lốccơ được nhà tư tưởng vĩ đại Pháp S.Môngtexkiơ
(1689 – 1775) phát triển xây dựng thành một học thuyết nổi tiếng: “Tam quyền phân lập” Nhưng về chính thể Môngtexkiơ chia chính thể thành 3
loại: “chính thể dân chủ là chính thể mà dân chúng hoặc một bộ phận dân chúng có quyền lực tối cao Chính thể quân chủ thì một người cai trị, nhưng cai trị bằng luật pháp và được thiết lập hẳn hoi Trong chính thể chuyên chế thì trái lại, chỉ có một người cai trị mà không luật pháp gì hết, chỉ theo ý chí và sở thích của hắn ta mà thôi” [19, 47]
Trong tác phẩm Tam quyền phân lập, Môngtexkiơ phân chia quyền lực
nhà nước thành 3 bộ phận theo nguyên tắc lấy quyền lực để hạn chế quyền lực: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp
Quyền lập pháp thuộc về cơ quan nghị viện - đại diện nhân dân và được lập ra bằng con đường phổ thông đầu phiếu Quyền hành pháp là thực hiện pháp luật thuộc chính phủ (cũng có thể là vua trong chính thể quân chủ lập hiến) Quyền tư pháp là quyền xét xử khi ai đó vi phạm pháp luật và cũng là
cơ quan độc lập để đảm bảo xét xử công bằng, nghiêm minh
Tại thời điểm đó, sự phân chia của ông đã thực sự hoàn chỉnh Sự phân chia theo thuyết “tam quyền phân lập” mới đảm bảo được sự bình đẳng và dân chủ Ba nhánh quyền lực ấy không tập trung vào một cá nhân nào mà cân bằng và đối trọng lẫn nhau, hạn chế được sự độc tài, chuyên chế Tuy nhiên, khi lựa chọn mô hình chính thể cho nước Pháp khi ấy thì Môngtexkiơ lại là không cấp tiến, mà muốn duy trì quân chủ lập hiến
J.J.Rútxô (1712 - 1778), nhà tư tưởng dân chủ vĩ đại nhất của Pháp thế
kỷ XVIII Tư tưởng chính trị của ông có tính cấp tiến hơn Môngtexkiơ, khi ông phủ nhận, vượt qua tư tưởng quân chủ lập hiến, bác bỏ toàn bộ chế độ phong kiến để xây dựng mô hình chính thể cộng hoà, phát triển hơn nữa
thuyết Tam quyền phân lập Trong tác phẩm nổi tiếng Khế ước xã hội ông đã
Trang 40phê phán mạnh mẽ chế độ quân chủ chuyên chế – một chế độ đã tước đi tự do của con người và trói họ trong xiềng xích Nguyên tắc cơ bản trong học thuyết của Rútxô là tư tưởng chủ quyền tối thượng thuộc về nhân dân Theo ông chủ quyền trong một nước không phụ thuộc một cá nhân nào, mà thuộc về chính nhân dân, thông qua các cơ quan đại diện do chính nhân dân bầu chọn Và khi nảy sinh tình trạng lạm quyền thì cơ quan đại diện ấy sẽ bị bãi miễn Ông cho rằng nước Pháp cần thiết lập chế độ dân chủ cộng hoà mới đảm bảo được tự
do, hoà bình cho nhân dân, đất nước Tư tưởng của Rútxô là ngọn cờ của cách mạng tư bản Pháp 1789, đã thu hút được sự ủng hộ của mọi giai cấp, tầng lớp
xã hội trong cuộc cách mạng tư sản, lật đổ ngai vàng phong kiến, vua Lui XVI lên đoạn đầu đài Nước Pháp từ một quốc gia quân chủ chuyển thành quốc gia cộng hòa: Quyền lực thuộc về nhân dân
Những tư tưởng về xây dựng chính thể cộng hoà dân chủ của Rútxô đã ảnh hưởng rất lớn đến sự chuyển biến tư tưởng chính thể của Phan Bội Châu, ông nói: “Được nghiên cứu nguyên nhân cách mạng nước ngoài và chính thể các nước, thì rất say sưa với lý luận của Lư – Thoa (Rútxô)” [24, 141]
Học thuyết Tam quyền phân lập của các nhà tư tưởng trên đã góp phần rất lớn trong sự chống lại chế độ phong kiến phương Tây về mặt tư tưởng Cách mạng tư sản dân quyền ở các nước phương Tây thắng lợi, đã xoá bỏ đi chế độ quân chủ chuyến chế phong kiến Những học thuyết dân chủ phân quyền của các nhà triết học chính trị đã được vận dụng trong cuộc xây dựng chính thể chính trị mới
Trong điều 16 Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền năm 1789 của nước Pháp ghi rõ: Một xã hội trong đó không bảo đảm việc sử dụng các quyền và
không thực hiện sự phân quyền thì không có hiến pháp
Hiến pháp nước Mỹ năm 1787 là cơ sở pháp lý tối cao trong việc xây dựng bộ máy nhà nước cộng hoà, mà đó là sự thể hiện trung thành thuyết Tam quyền phân lập