1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức về châu á trong thơ văn phan bội châu và phan chu trinh

126 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhận Thức Về Châu Á Trong Thơ Văn Phan Bội Châu Và Phan Chu Trinh
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Sang
Người hướng dẫn TS. Huỳnh Vĩnh Phúc
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoàn cảnh đất nước đen tối, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã đi đầu trong hoạt động cách mạng, vừa sáng tác văn học để củng cố và phát triển tinh thần yêu nước của dân tộc.. Phan

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

NHẬN THỨC VỀ CHÂU Á TRONG THƠ VĂN PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHU TRINH

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS HUỲNH VĨNH PHÚC

Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2022

Trang 3

sản phẩm cá nhân của riêng tôi, đảm bảo tính khách quan, chính xác, khoa học, trích dẫn rõ ràng nguồn gốc tài liệu, luận điểm được trình bày thống nhất toàn bộ công trình

TP Hồ Chí Minh, ngày… tháng… năm 2022

Trang 4

Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn sâu sắc đến TS Huỳnh Vĩnh Phúc người trực tiếp giúp đỡ chỉ dẫn dìu dắt tôi trong quá trình thục hiện luận văn

Tôi cũng xin trân tọng cảm ơn các quý thầy cô trong khoa Văn học đã giúp tôi có kiến thức vững vàng cần thiết để tôi thực hiện luận văn này

Cảm ơn sựu hỗ trợ nhiện tình cảu các cán bộ thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn ( ĐHQG-TP Hồ Chí Minh) đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi tra cứu tài liệu phục vụ đề tài

Cảm ơn quý thầy cô làm công tác giáo vụ ở Khoa Văn học, quý thầy

cô ở phòng Sau đại học đã giúp đỡ tôi hoàn thành các hồ sơ, thủ tục trong thời gian học tập tại trường

Trang 5

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 2

2.1 Lịch sử nghiên cứu về thơ văn Phan Bội Châu 2

2.2 Lịch sử nghiên cứu về thơ văn Phan Chu Trinh 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1: PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHU TRINH TRONG BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX 9

1.1 Bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX 9

1.1.1 Tình hình thế giới 9

1.1.2 Tình hình Châu Á 10

1.1.3 Tình hình Việt Nam 12

1.2 Nguyên nhân và điều kiện hình thành tiếp xúc với tân thư 18

1.2.1 Bối cảnh lịch sử đất nước dẫn đến tiếp xúc với tân thư 18

1.2.2 Ảnh hưởng từ Nhật Bản và Trung Quốc 21

1.3 Tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh 29

1.3.1 Tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu 29

1.3.2 Tiểu sử của và quá trình hoạt động cách mạng của 33

Phan Chu Trinh 33

1.4 Nghệ thuật viết văn chính luận của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh………35

Tiểu kết chương 1 40

CHƯƠNG 2: NHẬN THỨC VỀ CHÂU Á TRONG HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG CỦA PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHU TRINH 41

2.1 Tìm hiểu chung về Châu Á 41

2.2 Nhận thức về dân tộc của Phan Bội Châu Và Phan Chu Trinh 44

2.2.1 Nhận thức về dân tộc của Phan Bội Châu 44

2.2.2 Nhận thức về dân tộc của Phan Chu Trinh 53

Trang 6

2.3.2 Nhận thức của Phan Chu Trinh 65

2.4 Nhận thức của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh về Châu Á ảnh hưởng đến công cuộc cách duy tân 73

2.4.1 Tư tưởng của Phan Bội Châu 73

2.4.2 Tư tưởng của Phan Chu Trinh 77

2.5 So sánh sự khác nhau và giống nhau về nhận thức của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh 83

2.5.1 Điểm giống nhau 83

2.5.2 Điểm khác nhau 87

Tiểu kết chương 2 94

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ TÁC ĐỘNG CỦA PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHU TRINH TRONG QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC 95

3.1 Giá trị trong nhận thức về châu Á của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh ảnh hưởng đến tư tưởng yêu nước 95

3.1.1 Giá trị trong nhận thức về châu Á của Phan Bội Châu 95

3.1.2 Giá trị trong nhận thức về châu Á của Phan Chu Trinh 99

3.2 Những mặt hạn chế 101

3.2.1 Mặt hạn chế của Phan Bội Châu 101

3.2.2 Mặt hạn chế của Phan Chu Trinh 103

3.3 Tính kế thừa và đặt nền tảng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh 106 3.3.1 So sánh tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh với các nhà canh tân đi trước 106

3.3.2 Sự kế thừa tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong phong trào giải phóng dân tộc 107

Tiểu kết chương 3 111

KẾT LUẬN 113

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau khi bình định xong phong trào Cần vương, thực dân Pháp vội vã bắt tay khai thác thuộc địa nhằm vơ vét của cải của đất nước ta làm giàu cho Chính quốc Chúng nhanh chóng xây dựng các công trường, xưởng sản xuất, đường sá… nhằm phục vụ mục đích ấy Chính điều này đã khiến xã hội phong kiến Việt Nam trước nay vốn bình lặng, yên ả sau lũy tre làng bỗng được thay

da đổi thịt vì được tiếp cận với nhiều thứ mới mẻ từ phương Tây và các nước bạn đưa đến Nhưng bên cạnh đó với luận điệu “ khai phóng” thực chất là áp bức bóc lột thuộc địa, thực dân Pháp ra sức vơ vét, khai thác tài nguyên khoáng sản cũng như tận dụng sức người khiến đời sống của người dân Việt Nam thời kì bây giờ vô cùng khó khăn khốn khổ khi bỗng chốc bị mất nước, phải gọi một quốc gia cách mình nửa vòng trái đất là “ Mẫu Quốc” Trong hoàn cảnh đất nước đen tối, Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đã đi đầu trong hoạt động cách mạng, vừa sáng tác văn học để củng cố và phát triển tinh thần yêu nước của dân tộc Dù xuất phát điểm giống nhau về tinh thần và trách nhiệm muốn nêu cao tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm, hun đúc lại các phong trào khởi nghĩa, nhưng Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu lại có chính kiến, suy nghĩ, lập trường riêng trong hình thái phát triển của đất nước

Tân thư (sách mới) và tân văn (báo mới) là hai khái niệm đã được nhiều nhà nghiên cứu và cải cách duy tân Trung Quốc và Nhật Bản phát triển

và dần du nhập vào nước ta vào những năm đầu thế kỷ XX Tiền đề của các tân thư, tân văn này là mở ra một góc nhìn nhân sinh quan, tư duy đổi mới dành cho các vấn đề đang xảy ra trên thế giới Nhiều nhà sáng lập thuyết duy tân, cách mạng duy tân cũng nổi lên trong giai đoạn này như như Montesquieu, Rousseau, Voltaire, v.v và có sức ảnh hưởng lớn đến giai cấp

sĩ phu trong nước

Trang 8

Việc tiếp cận nguồn tân văn ở các nước bạn đã dẫn tới việc tò mò tìm tòi học hỏi ở phạm vi rộng lớn hơn, mở rộng tư duy và góc nhìn ra tầm thế giới Họ tiếp cận qua các văn bản dịch những học thuyết của cả phương Tây, của Châu Á và tự trui rèn lượng kiến thức nền tảng quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội các nước bạn Từ đó, khi áp dụng kiến thức từ quá trình lĩnh hội tân văn này, các nhà hoạt động trong nước cũng đã thay đổi nhận thức, đặc biệt là ý thức rõ ràng hơn về hiểm hoạ mất nước nếu tiếp tục để chính quyền chịu sự kiểm soát của một nước khác Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh là hai sỹ phu yêu nước đi tiên phong trong việc tuyên truyền nhận thức mới về tình hình đất nước, con đường cải cách dân tộc và đã có nhiều đóng góp mới trong việc tuyên truyền tư duy cải cách mới

Mục đích của việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của tân văn Châu Á trong

tư tưởng của Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu có vai trò quan trọng trong nghiên cứu văn học cận đại, hiểu được giá trị sâu sắc trong tác phẩm của hai tác giả trên và thấy được tiến trình vận động của văn học cách mạng Về mặt

tư tưởng, tiến trình vận động tư tưởng của người trí thức nho giáo đến tiếp nhận học thuyết dân chủ tư sản, sự phát triển nhận thức về đất nước, về dân tộc, về Á Đông cũng được làm rõ ở các luận điểm quan trọng được nêu ra

trong quá trình nghiên cứu Với những lí do như trên, tôi chọn đề tài Nhận

thức về châu Á trong văn thơ của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh với

hy vọng góp thêm một ít công sức của mình vào việc nghiên cứu văn học giai đoạn cận đại này, làm rõ thêm sự chuyển biến và cái mới trong nhận thức về thế giới bên ngoài của hai nhà hoạt động cách mạng đồng thời cũng là nhà thơ nhà văn nổi tiếng đầu thế kỉ XX

2.1 Lịch sử nghiên cứu về thơ văn Phan Bội Châu

Đã có rất nhiều công trình viết về Phan Bội Châu về con người cuộc đời, đường thơ đường cách mạng cũng như tư tưởng của ông Trong số đó có

Trang 9

những công trình tiêu biểu giúp cho người nghiên cứu có tài liệu nền tảng cụ thể về Phan Bội Châu qua lĩnh vực văn chương, lịch sử như sau:

Giáo trình văn học Việt Nam của Trần Đình Hượu, Lê Trí Viễn và

Nguyễn Đình Chú; cùng một số bài nghiên cứu được đăng trên tạp chí Văn

học của Đặng Thai Mai, Trần Ngọc Vương, Trần Văn Giàu, Trần Thanh

Đạm cũng viết về Phan Bội Châu "Thơ ca Phan Bội Châu thành công nổi

bật qua mấy mươi năm "bút mặc tung hoành chính là vì đã biểu hiện được tinh

thần yêu nước nồng nàn của cả một dân tộc, trong thời đại bấy giờ" (Đặng Thai Mai - Văn thơ Phan Bội Châu, Tr 104) Lê Trí Viễn cũng thống nhất sự

đánh giá như thế: "Thơ Phan Bội Châu là cái vốn quý giá nhất trong kho tàng văn học yêu nước cách mạng Việt Nam trong khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ XIX Không những nó ghi chép lịch sử tư tưởng, tình cảm, hành động đấu tranh của một người, một phong trào, một giai đoạn cách mạng mà còn thể hiện được truyền thống quật cường của dân tộc Việt Nam" (Lê Trí Viễn, 1965,

tr 127)

Công trình Văn học Việt Nam 1900 - 1945 của Phan Cự Đệ &Trần

Đình Hượu & Nguyễn Trác & Nguyễn Hoành Khung & Lê Chí Dũng &Hà Văn Đức, cũng có những nhận định: "Phan Bội Châu là tấm gương phản chiếu

cả thời đại Tư tưởng và sáng tác nghệ thuật của người soi rọi vận mệnh nền văn học cổ truyền Việt Nam xuất phát điểm từ phong kiến đến hiện đại Trên bước đường đi qua, Phan Bội Châu đã để lại những thành tựu mang dấu ấn cá nhân trong thơ, nhất là thơ cổ động, tuyên truyền cách mạng" (Phan Cự Đệ,

2000, tr 135)

Hoài Thanh trong Phan Bội Châu – Cuộc đời và thơ văn đã nhấn

mạnh: “Một tấm lòng yêu nước thiết tha, sôi nổi trong suốt sáu bảy chục năm,

từ thời thơ ấu cho đến ngày tắt thở Yêu nước và quyết tâm cứu nước Sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì, bất chấp khó khăn, bấp chất nguy hiểm,

bất chấp hi sinh." (Hoài Thanh, 1978, tr 609)

Trang 10

Không chỉ nói về tình yêu đất nước của Phan Bội Châu mà cũng có những bài nghiên cứu về thi ca của ông Trong bài viết “Mấy nét về thi ca Việt Nam” tác giả Nguyễn Huệ Chi đã khẳng định: “Phan Bội Châu là một nhà cách mạng lớn Phan Bội Châu cũng là một nhà văn lớn Trong số cống hiến lớn của nhà chí sĩ họ Phan thì điểm quan trọng quý giá nhất lại là một tấm lòng yêu nước bền vững, không gì có thể chuyển lay Có tấm lòng ấy, ông đã giữ được niềm tin, đã sống thật phong phú và đã sáng tác những tác phẩm có

giá trị về cả nội dung và nghệ thuật” (Nguyễn Huệ Chi, 2002, tr 286) Nguyễn

Huệ Chi cũng như nhiều tác giả đều khẳng định tấm lòng yêu nước thiết tha của Phan Bội Châu và từ đó mà ông đã cho ra nhiều tác phẩm văn học mang tính nhân văn

Cùng với quan điểm này trên bài viết Thơ văn Phan Bội Châu của tác

giả Kiều Văn đã khẳng định: “Toàn bộ văn chương của Phan Bội Châu toát lên một sự thật lớn lao: chính tinh thần yêu nước thương nòi và cuộc đấu tranh trường kì cho nền độc lập của tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân, đã làm nên cả một thế giới Phan Bội Châu, trong đó ông được sinh ra, được sáng tạo đến mức hoàn thiện cả về thể chất, tâm hồn, cá tính, trí tuệ, tài năng, và để lại trong lịch sử dân tộc một tấm gương vĩ nhân sừng sững” (Kiều Văn, 2014) Tác giả Kiều Văn đã đề cập đến nội dung trong văn chương của Phan Bội Châu mỗi tác phẩm của ông Phan đều thể hiện tình yêu thương đất nước

Nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm (1997) trong bài viết " Phan Bội Châu - Nhà khai sáng lịch sử và văn chương Việt nam thế kỷ XX" đã thể hiện

sự nể trọng của mình dành cho bậc anh hùng: "Phan Bội Châu trở thành nhà khai sáng của văn chương Việt Nam thế kỷ XX không chỉ chủ yếu sáng tạo nên những hình thức mới mà tiên sinh còn sáng tạo, cách tân trong văn chương Việt Nam những con người mới, tiêu biểu cho thế kỷ XX : "Đó là người yêu nước, người anh hùng kiêm nhà cách mạng, nhà duy tân, xả thân vì độc lập tự do" (Trần Thanh Đạm, 1997)

Trang 11

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu tập trung phân tích con người Phan Bội Châu trên khía cạnh con người lịch sử, con người chính trị và phân tích cụ thể hành trình chuyển biến tư tưởng chính trị của vị anh hùng này, chưa có công trình nào nghiên cứu về sự chuyển biến nhận thức trong thơ văn của cụ Phan Bội Châu

2.2 Lịch sử nghiên cứu về thơ văn Phan Chu Trinh

Các sách chuyên khảo về Phan Chu Trinh thì không có nhiều như Phan Bội Châu chủ yếu tập trung vào một số hướng nghiên cứu về cuộc đời và

sự nghiệp của Phan Chu Trinh và một số cách tân, đóng góp mới mẻ của vị anh hùng đối với nền thơ ca nước nhà:

Trong công trình Phan Chu Trinh toàn tập hội khoa học lịch sử Việt

Nam, giáo sư Chương Thâu, nhà sử học Dương Quốc Trung và bà Phan Thị

Minh (hậu Duệ Của Phan Chu Trinh) (1997) đã sưu tập toàn bộ trước tác của ông và lần đầu tiên công bố đầy đủ nhất trong 3 tập sách với tổng cộng hơn

2000 trang in khổ lớn Đây là một công trình đánh dấu sự nỗ lực của người đời sau trong việc giữ gìn di sản văn hóa tư tưởng của nhà cách mạng tên tuổi

Tác giả Nguyễn Quang Thắng đã dẫn lời của nhà sử học Daniel Héméry :

Khuôn mặt vĩ đại của Phan Chu Trinh đích thị là khuôn mặt đáng chú

ý nhất trong lịch sử văn hoá và chính trị Việt nam ở thế kỷ XX, bởi chính ông đã xác định một cách rành mạch, sáng rõ nhất những nan đề (les problématiques) đặt ra lâu dài mà các thế hệ người Việt Nam sẽ

phải- và mãi mãi còn phải- đảm nhận” (Nhà sử học Daniel Héméry) “Phan Chu Trinh không những là một nhà chính trị mà còn

là một nhà văn hóa đa diện và đang dạng trong sinh hoạt văn hóa Việt Nam Ông sáng tác rất nhiều, ngay từ hồi còn đi học ông đã làm thơ, sau này khi tham gia hoạt động cách mạng ông vẫn tiếp tục làm thơ, soạn tuồng, viết văn, nhất là viết văn chính luận Có thể nói trong

Trang 12

lịch trình tiến triển văn học và chính trị nước nhà, Phan Chu Trinh là

người viết văn chính luận rất nhiều và cũng khởi sắc nhất (Nguyễn Quang Thắng, 2012)

Trong bài viết “Phan Chu Trinh với tư tưởng canh tân đất nước" của tác giả Lê Thị Hương cũng đưa ra những hoạt động của Phan Chu Trinh trong việc cải cách đất nước:

Là một trong những nhân vật khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân, có công lớn đưa phong trào bám rễ vào cuộc sống của nhân dân, Phan Chu Trinh là người tiến xa nhất trong số các nhà canh tân trước

và cùng thời với ông Vấn đề Duy Tân đến thời Phan Chu Trinh không còn là mới mà nhất định cũng chưa cũ, nó là điều kiện cơ sở, là tất yếu nếu muốn thực hiện chủ thuyết dân chủ (dù là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa) Để có được những thành quả lớn lao như vậy, tạo nên ý nghĩa đặc biệt“đẩy quặt lịch sử, chính trị, văn hóa, kinh tế… sang một ngã rẽ sau khi góp phần lớn lao làm con người và làm mới

xã hội (Lê Thị Hương, 2017)

Bài viết "Nhà yêu nước Phan Chu Trinh" của tác giả Bình Nguyên không chỉ nhận xét về lòng yêu nước của Ông mà tác giả cũng đã nhận xét Phan Chu Trinh là một nhà văn lớn: “Năm nay kỷ niệm 91 năm ngày mất của nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh Ông là nhà thơ, nhà văn, là chí sĩ nghệ sĩ thời cận đại trong lịch sử Việt Nam và là người chủ trì vận động Duy Tân dân chủ.” (Bình Nguyên, 2017)

Trong Đại cương lịch sử Việt Nam, các tác giả đã nhận định:

Phan Chu Trinh là một tấm gương sáng ngời trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ vô cùng lớn lao trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ 20 Con đường ông

Trang 13

định hướng phát triển là con đường dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động Đây là điểm khác biệt chính giữa ông và Phan Bội Châu: Phan Chu Trinh xem vấn đề dân chủ còn cần kíp hơn độc lập và tin rằng có thể dùng luật pháp, cách cai trị có quy củ theo kiểu Âu Mỹ

để quét sạch những suy đồi, hủ lậu của phong kiến Với tinh thần yêu nước nồng nhiệt, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, cùng cuộc sống sôi nổi, gian khổ và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế

ngưỡng mộ (Nhóm tác giả Đại cương lịch sử Việt Nam, 2021, tr 133) Trong bài viết "Đánh giá quan điểm luân lý đạo đức của cụ Phan Chu Trinh", tác giả Đặng Việt Thanh đã trình bày: "Ănghen đã đánh giá cao những

nhà khai sáng Pháp, giai cấp tư sản nước ta không phải là một giai cấp cách mạng như giai cấp tư sản phương Tây Nhưng cụ Phan Chu Trinh đã hấp thụ những tư tưởng cách mạng từ phía những nhà khai sáng Pháp Chính vì thế cụ mới phê phán được luân lý đạo đức phong kiến, lớn tiếng lên án triều đình

phong kiến, cổ xúy chủ nghĩa dân chủ ở trong xã hội phong kiến còn lạc hậu”

Qua đó ta có thể thấy các tác giả nghiên cứu tập trung đánh giá tư tưởng của cụ Phan Chu Trinh như là một bước tiến bộ của xã hội Việt Nam, nhưng chưa có tác giả nào đi tìm quá trình nhận thức về thế giới đặc biệt là châu Á của ông để

đưa ra được những tư tưởng và quan điểm cấp tiến như thế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Nhận thức về châu Á trong văn thơ của Phan

Bội Châu và Phan Chu Trinh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này người viết sẽ khảo cứu các tác phẩm của hai tác giả, ở nhiều thể loại để làm nổi bật lên quá trình nhận thức về khu vực châu Á của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh Đặc biệt là nhận thức của hai tác giả

Trang 14

về Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, người viết đã định hướng theo hướng nghiên cứu văn học sử kết hợp, đồng thời vận dụng những phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp thống kê: Nghiên cứu văn học của một thời kỳ nên việc thống kê tác phẩm, hệ thống nội dung, thể loại là rất cần thiết

- Phương pháp so sánh, hệ thống: Phải luôn đặt các tác phẩm thời kì này so với thời kỳ khác nhằm nhấn mạnh điểm tương đồng và dị biệt

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Khi thực hiện đề tài, vừa giới thiệu khái quát nhưng đồng thời người viết cũng phải phân tích cụ thể, chi tiết một tác phẩm cụ thể

-Phương pháp văn hóa học: Khi thực hiện đề tài người viết cần có những kiến thức văn hóa để lý giải một số hiện tượng

- Phương pháp xã hội học: Đây là giai đoạn có nhiều biến động của lịch sử, nên cần nghiên cứu sự tác động của xã hội thời kì này đối với văn học

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, trong phần nội dung sẽ được triển khai các chương như sau:

Chương 1: Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh trong bối cảnh lịch sử

xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX

Chương 2: Nhận thức về châu Á trong hệ thống tư tưởng Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh

Chương 3: Những đóng góp và tác động của Phan Bội Châu và Phan

Chu Trinh trong quá trình nhận thức

Trang 15

CHƯƠNG 1: PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHU TRINH TRONG BỐI CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX

1.1.1 Tình hình thế giới

Giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, sự phát triển của khoa học

kỹ thuật đã thúc đẩy sự thay đổi sâu sắc đến nhiều lĩnh vực đời sống của nhân loại, từ văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội, sản xuất công - nông nghiệp Chủ nghĩa tư bản cũng là nguyên nhân chủ chốt ảnh hưởng nghiêm túc đến nền kinh tế, gây ra khủng hoảng kinh tế và đi đến chiến tranh thế giới thứ nhất

Theo V.I.Lênin, “tính chất cuộc chiến tranh là định hướng phát triển theo chủ

nghĩa đế quốc nhằm mục đích cướp bóc các nước khác, bóp nghẹt các dân tộc

nhược tiểu, thống trị thế giới về mặt tài chính, phân chia và chia lại thuộc địa”

(V.I.Lênin, 1976, tr.8) C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá: “Giai cấp tư sản,

trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ

trước kia gộp lại” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr 603)

Về chính trị - xã hội, việc chuyển hoá dần sang nền dân chủ tư sản đã tác động rất lớn đến các quốc gia theo chế độ phong kiến Dân chủ tư sản lên ngôi như một bước cứu các quốc gia đang trong tình trạng phong kiến thối nát

có một đường hướng phát triển mới Tuy nhiên, cuối thế kỷ XIX, nền dân chủ

tư sản đã bộc lộ nhiều nhược điểm, tạo điều kiện cho một số nước tư bản nhanh chóng trở thành chủ nghĩa đế quốc, liên kết với nhau để đi xâm lược mở mang thuộc địa ở các châu lục

Về cơ cấu xã hội, sự phát triển của nền kinh tế tư bản kéo theo sự bi đổi về cơ cấu giai cấp trong xã hội Phương Tây Chủ nghĩa tư bản phát triển gây ra tình trạng phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo gay gắt đến mức đẩy đến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân nổ ra ngày càng nhiều Vì

Trang 16

quá nhiều cuộc đấu tranh tự phát diễn ra càng khiến tình hình chính trị - xã hội thêm bất ổn Điều đó dẫn tới một nhiệm vụ cấp thiết là có một học thuyết cơ bản là đầu tàu dẫn đường cho sự nổi dậy được quy củ hơn Học thuyết Mác Lênin ra đời để đáp ứng nhu cầu bức thiết đó và dẫn tới phong trào cách mạng tháng Mười Nga - đánh dấu thành công bước đầu của nhân dân lao động

Từ những tư tưởng tiến bộ phát triển về nhiều mặt trong khoa học - kỹ thuật, tư tưởng chính trị, kinh tế - xã hội, những cuộc duy tân trên thế giới từ Đông sang Tây đã ảnh hưởng đến nhận thức, tư tưởng về dân chủ của đại bộ phận người dân Việt Nam vào đầu thế kỷ XX

1.1.2 Tình hình Châu Á

Cuối thế kỉ XIX, Chủ nghĩa tư bản phương Tây ngày càng phát triển

và đẩy nhanh quá trình mở rộng xâm chiếm thuộc địa Chế độ phong kiến ở các nước châu Á đang trên đường suy yếu, những vị vua đứng đầu quốc gia hầu như đều chưa có nhận thức đầy đủ trước các nguy cơ mất nước Chính vì thế các nước Châu Á với vị trí địa lí và tài nguyên của mình trở thành miếng mồi ngon cho các nước phương Tây, lần lượt các quốc gia này đều trở thành thuộc địa, nửa thuộc địa hay phụ thuộc vào các nước tư bản lớn ( trừ Nhật Bản )

Ở Nhật Bản giữa thế kỉ XIX, mầm mống tư bản chủ nghĩa xuất hiện, giai cấp nông dân, thị dân bị phong kiến bóc lột thậm tệ, mâu thuẫn xã hội ở Nhật ngày càng gay gắt làm chế độ Mạc Phủ ngày càng bị suy yếu rồi dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng Trước nguy cơ bị thôn tính bởi các nước phương Tây, Mạc Phủ lại ký kết các hiệp ước bất bình đẳng với Mĩ, Anh, Pháp,…dẫn đến phong trào chống “Mạc Phủ” diễn ra sôi nổi và lan rộng khắp cả nước Phong trào được lãnh đạo bởi một số quí tộc và tầng lớp Samurai, cùng với nhân dân lật đổ chế độ Mạc Phủ vào tháng 1/1868 Sau đó chính quyền được trao lại cho Thiên Hoàng Minh Trị Ngày 3.1.1868, chính phủ mới được thành lập, thực hiện cuộc cải cách Minh Trị

Trang 17

Cuộc cải cách Minh Trị diễn ra trên nhiều phương diện:

Về chính trị: Chế độ Mạc Phủ chấm dứt, Nhật Hoàng tuyên bố thành lập chính phủ mới từ đó không còn tình trạng cát cứ , biến nước Nhật trở thành quốc gia thống nhất Tổ chức ch-nh phủ được chia thành 12 bộ như kiểu châu Âu… Đồng thời nhà nước cũng ban hành hiến pháp mới năm 1889 , từ đây chế độ quân chủ lập hiến được thiết lập

Về kinh tế: Nhiều chính sách cụ thể được chính quyền mở rộng và đặt nền móng mới trong việc quản lý ruộng đất, xoá bỏ độc quyền ruộng đất trong giai cấp địa chủ, cường hào, tập trung vào phát kinh tế tự do ở nông thôn và đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng

Về văn hóa- giáo dục: Chính quyền tập trung phát triển các hệ thống giáo dục bắt buộc, mở rộng việc giảng dạy áp dụng khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện cho nhân tài học tập và rèn luyện tại nước ngoài Mọi người đều thống nhất giáo dục phải được coi trọng bậc nhất, trở thành nhân tố phát triển trọng điểm của cả nước

Về quân sự: thực hiện chế độ quân sự theo kiểu phương Tây nhằm nâng cao vai trò của quân đội theo hướng bài bản, quy củ hơn

Nhật Bản đã có bước phát triển vượt bậc chỉ sau hơn 20 năm Minh Trị duy tân (1868-1895) Những cải cách đã mở đường cho việc biến Nhật Bản thành một nước tư bản chủ nghĩa đây cũng là nguyên nhân cơ bản nhất giúp

nó thoát khỏi số phận một nước thuộc địa, hay nửa thuộc địa rồi dần trở thành một cường quốc ở Châu Á cho đến hiện tại

Các nước thuộc địa khác ở Châu Á do chính sách cai trị của thực dân phương Tây và những khác biệt trong nhận thức và văn hoá nên càng làm tăng thêm các mâu thuẫn trong xã hội Chính vì thế , hàng loạt các phong trào nổi dậy đấu tranh giành chính quyền với nhiều hình thức khác nhau đã liên tiếp diễn ra nhưng đều thất bại Tuy nhiên, các cuộc đấu tranh này đã có tác dụng

Trang 18

đặt nền móng cho sự phát triển của các phong trào đấu tranh ở những giai đoạn tiếp theo

1.1.3 Tình hình Việt Nam

Trong giai đoạn đầu thế kỉ XIX, tình hình đất nước diễn ra nhiều biến

cố khiến kinh tế, chính trị đất nước ngày càng đi xuống Triều Nguyễn chỉ tập trung củng cố quyền lực mà không mở rộng kinh tế, tiếp thu những cải cách khoa học tiên tiến từ các nước mà chỉ chăm chú nâng cao thuế má, bóc lột quần chúng nhân dân khiến hàng rào bảo vệ ngày càng suy cơ Nguy cơ Pháp xâm lược Việt Nam là một hệ quả tất yếu của một quá trình lên kế hoạch thôn tính lâu dài của các nước phương Tây Sự xác lập chương trình khai thác thuộc địa của Pháp vào năm 1897 đã ảnh hưởng sâu đậm đến tình hình kinh tế Việt Nam, thúc đẩy mạnh quá trình đô thị hoá và chuyển dịch dân cư đến các trung tâm kinh tế mới

Về chính trị, Việt Nam bị đàn áp bởi những chính sách chuyên chế nặng nề Cả những phong trào khởi nghĩa của nhân dân cũng bị dìm vào biển máu Pháp còn gây chia rẽ mối quan hệ chính trị của Việt Nam với các nước láng giềng trong khối Dông Dương, lập nên vai trò đồng minh với các nước thân cận để chống Việt Nam trên bản đồ thế giới Pháp còn gây chia rẽ về tôn giáo, dân tộc anh em, giữa dân tộc Việt Nam với các nước khác

Từ việc chia rẽ này, sự phân hoá giàu nghèo, giai cấp càng diễn ra sâu sắc với những chính sách mới nghiêng hẳn về lợi ích của giai cấp địa chủ phong kiến Bởi đây là giai cấp phục vụ trực tiếp cho chế độ thuộc địa và hưởng lợi ích song song với các tầng lớp cầm quyền trong việc áp bức nhân dân Tầng lớp nông dân bấy giờ chiếm đến 90% dân số nhưng lại thấp cổ bé họng, bị áp bức bởi thuế sách, chế độ cho vay nặng lãi, độc quyền kinh tế của giới chức phương Tây, địa chỉ lại cho thuê đất cày với giá tô cao, thuế nặng, khiến cho đời sống nhân dân ngày càng lầm than Nhiều người nông dân vẫn quyết tâm bám ruộng vì đó là công việc bao thế hệ của gia đình và

Trang 19

chịu đựng sự bóc lột ngày càng leo thang Một số khác chuyển nghề, trở thành công nhân hầm mỏ hoặc bị Pháp bắt phu dịch tại các thuộc địa khác với hành trình một đi không trở lại Trong tầng lớp địa chủ vì cán cân quyền lực nghiêng hẳn về tay Pháp thuộc, nhiều địa chủ, đặc biệt là tầng lớp - tiểu - trung địa chủ không chịu khuất phục dưới tay ngoại xâm Họ cũng không nhẫn tâm bóc lột nông dân quê mình nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân và bọn tay sai, hoặc âm thầm tiếp tế cho cách mạng, mở rộng đường làm ăn cho nông dân

Mâu thuẫn từ phía nông dân bị áp bức, tiểu tư sản căm phẫn với những tội ác giặc xâm lược gây ra, kết hợp với tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc tăng cao, việc khởi nghĩa là sự kiện một sớm một chiều Dưới tác động

đô hộ và lôi kéo tư sản địa chủ của thực dân Pháp, tình hình kinh tế, chính trị trong nước ngày càng bất ổn Mâu thuẫn đan xen, địa chủ với nông dân, thực dân với người dân, tiểu tư sản với thực dân, làm cho tình hình xã hội ngày càng rối ren

Nhóm giai cấp nông dân bị bóc lột và tầng lớp tiểu tư sản khi càng nhận diện rõ bộ mặt thật của đế quốc phong kiến lại càng muốn thoát khỏi thế gọng kiềm, đứng lên khởi nghĩa Với truyền thống yêu nước, đấu tranh kiên cường, nông dân và tiểu tư sản đã trở thành lực lượng cách mạng quan trọng, phổ biến, mạnh mẽ trong phong trào giải phóng dân tộc Những năm đầu thế

kỷ XX, dù tinh thần đã được củng cố, mâu thuẫn xã hội do Pháp thuộc ngày càng gay gắt, nhưng các phong trào cách mạng đều không thành công do chưa

có sự thống nhất tư tưởng chung cũng như đường lối kháng chiến cụ thể Giai cấp công nông dân lâu nay chỉ biết "bán mặt cho đất, bán lưng cho trời" nên khi tham gia chiến đấu, họ chưa thể phát triển thành một đường lối chuẩn xác

Vì thế, tầng lớp nho sĩ tiếp thu trực tiếp nho giáo và học tập tiến bộ phương Tây đã thấy rõ mặt hạn chế trên của phong trào yêu nước và manh nha lớn mạnh để đứng lên gánh vác nhiệm vụ định hướng kháng chiến Từ đây, phong

Trang 20

trào Duy Tân đã ra đời

Bài thơ Hoán tỉnh quốc dân đã trình bày những vấn đề tồn đọng trong

xã hội Việt Nam đương thời:

Pháp kia hiểm độc thì thôi,

Bày mưu thiết kế giết nòi giống ta

Thuốc a phiến ấy là rất độc,

Mắc nghiện vào thì thịt róc xương

Khi đó, tình trạng nghiện á phiện do quân Pháp đầu độc dân chúng ngày càng nặng nề Chúng mở đường nhập khẩu các loại thuốc và mặc nhiên cho nhân dân hút tự do, không bị bất kì hình phạt nào Đây là bước đầu của thực dân muốn "tẩy não" dân trí, làm nhu nhược tinh thần chiến đấu và tư duy cách mạng của đại đa số đồng bào Bọn Pháp còn chế tạo hàng loạt rượu với tỉ

lệ cồn cao và ban thưởng xuống các làng như một ân huệ lớn Dân chúng không nhận ra âm mưu thâm độc của chúng, càng uống càng say, khiến nhiều trai trẻ mất khả năng sinh sản:

Nó lại chế rượu cồn rất độc,

Lập công ty nấu đúc làm ra

Men pha pha chế cho già,

Kê trong độc chất, cũng là lắm thay

Thế mà nó ngày ngày bắt uống,

Cứ mỗi làng đóng xuống bao nhiêu

Thương ôi rượu uống càng nhiều,

Giống nòi sinh dục tiêu hao trăm đường."

Nhiều kẻ nghiện rượu chỉ say sưa trong mê tửu không màng quan tâm

Trang 21

đến thế sự đảo điên Pháp đã thành công trong việc hạn chế khả năng sung quân của nhiều địa phương chỉ nhờ mánh khoé nhỏ

Bài thơ đã chỉ ra những vấn nạn ngu dân mà bọn thực dân Pháp từng

áp dụng lên quần chúng:

Thế là Pháp, hiểm sâu bạc ác,

Mà người mình ngơ ngác chưa khôn

Tình hình chính trị đương thời còn thiếu thốn cả lực lượng chiến đấu

và tuyên truyền, chưa có sự thống nhất tư tưởng nên vô cùng khó khăn trong việc thu phục lòng dân, giúp dân định hướng lại cuộc sống:

Vì sao thất bại vì sao chưa thành

Vì chưa biết họp thành tổ chức,

Vì không ai gắng sức tuyên truyền

Vì chưa đoàn kết hoàn toàn,

Vì chưa lấy chữ dân quyền dựng nên,

Đúng theo nhan đề Hoán tỉnh quốc dân, tác giả khuyết danh đã nhấn

mạnh từng nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của hàng loạt phong trào khởi nghĩa như Duy Tân, Đề Thám, Hà Thành, Trung Kỳ, Đó là do chưa có một chính thể tổ chức thống nhất có hồng và chuyên, có tư tưởng chính trị vững vàng, cấp tiến, hiện đại, có một thủ lĩnh đứng đầu tuyên truyền và kêu gọi tình đoàn kết dân tộc Mọi vấn đề xảy ra còn xoay quanh việc chưa thành lập một

tổ chức đặt dân quyền trở thành cốt lõi, xương sống của kim chỉ nam hành động Vì thế, phải đáp ứng được mọi vấn đề trên thì công cuộc giành độc lập dân tộc mới có cơ hội thắng lợi

Năm 1922, vua Khải Ðịnh dự cuộc đấu xảo quốc tế ở Ba Lê, Phan Chu Trinh đã gửi cho nhà vua một áng văn chính luận đanh thép, mạnh mẽ,

Trang 22

buộc Khải Ðịnh phải thoái vị nhường quyền lại cho quốc dân và kể bảy tội nhà vua đã làm đáng tội chém đầu Trong bức thư, tác giả mở đầu bởi việc thống

kê lại tình hình chiến sự, xã hội tại Việt Nam lúc bấy giờ vô cùng ngặt nghèo, lao đao do sự cai trị, bóc lột của Pháp quốc:

Nước ta bị nước Pháp bảo hộ đến ngày đó đã gần ba bốn mươi năm rồi, nhưng sự hủ bại vẫn không thay đổi, cách văn minh chẳng hề bắt chước,mà cái nọc độc chuyên chế ức hiếp vẫn còn gớm ghiếc như thế Vậy thời cái văn minh của nước bảo hộ không có ích gì cho nước bị bảo hộ, mà nước bị bảo hộ cũngkhông nhờ gì được sự khai hoá của nước bảo hộ, lạ quá! Sự đó trong đời nầy cũng ít thấy vậy (Phan Chu Trinh, 1922)

Phan Chu Trinh thể hiện sự căm phẫn khi nhìn thấy sự thờ ơ, kiêu căng, dâm dục, nghịch phép tắc của nhiều quan lại triều đình, thêm khả năng điều hành đất nước yếu kém của vua Khải Định mà đất nước ngày càng rơi vào cảnh lầm than:

Vậy mà nay tôi nghe Bệ hạ từ khi lên ngôi tới giờ, có làm điều gì ích lợi cho dân không? Không, chỉ nghe có những điều kiêu căng, dâm dục, trái luân lý;nghịch phép tắc; quyền vua muốn cho tôn sùng, thưởng phạt mất cả công chính;hút cái máu mủ của dân nghèo, trau cái xác thịt cho sung sướng, ngược văn minhcủa thế giới, ngăn đường tiến

bộ của quốc dân; nết xấu tính hư, chứa chan đầynhẩy, không sao mà nói cho xiết được." (Phan Chu Trinh, 1922)

Phan Chu Trinh chỉ rõ bảy tội lớn của vua Khải Định một cách đanh thép, không dung dưỡng, nhúng nhường Trong đó, bao gồm: Tội tôn quân quyền, tội thưởng phạt không công bình, tội chuộng sự quỳ lạy, tội xa xỉ vô đạo, tội phục sức không đúng phép, tộidu hạnh vô độ, tội cho việc Pháp du ám muội Trong từng luận điểm, Phan Chu Trinh chỉ ra sự thối nát của vương triều Khải Định và không ngại lên tiếng thẳng mặt bậc quân vương

Trang 23

Nay Bệ hạ sinh đẻ trong nước Nho giáo, và làm vua trong thì bây giờ

là thế kỉ 20, mà nước ta lại đứng dưới quyền nước dân chủ Pháp Bảo

hộ, Bệ hạ lại dám tôn mình như thần thánh, nghênh ngang trên đầu dân Vậy thời chẳng những dân Việt Nam không thể dung được Bệ hạ,

mà dân nước Pháp lại càng khi dễ Bệ hạ nữa (Phan Chu Trinh, 1922) Phan Chu Trinh chỉ rõ việc phải làm của một nhà vua là phải tranh đấu vì dân, nhận ra rõ bộ mặt thật của Pháp quốc, chứ không phải mở đường cho tình trạng tham nhũng, gian dối lo lót phát triển ngay trong phủ vương Khi lòng dân đang bất mãn, xã hội lầm than thì vua quan tranh nhau hưởng thụ lối sống xa xỉ đáng xấu hổ:

Trung kỳ nước ta, nông dân thời nghèo khổ đến cực điểm, thiên tai tới tấp, oan vong thường thấy, quan tham lại nhiễu, đất xấu dân cùng, lại thêm trong lúc giặc giã, vật giá cao vọt, tình trạng lưu ly đến nay chưa cứu vớt, xâu thuế nặng nề, gánh vác không nổi; nói đến việc mở mang trí khôn, việc nâng đỡ đời sống thời còn xa lắc xa lơ, sánh với Nam, Bắc kỳ, bên khô bên tươi cũng đã rõ rệt rồi Thế mà ngân sách còn kêu thiếu hụt, ép dân mua rượu, thuốc phiện để làm giàu công quỹ, trắng trợn như thế còn phải làm, còn nói chi nữa (Phan Chu Trinh, 1922) Nạn chết đói, chết dịch, bão lũ hoành hành khiến bao nhân dân các tỉnh miền Trung như Thanh Hoá, Nghệ An điêu đứng Ấy vậy mà vua quan lại

"xây cung điện nguy nga ở làng An Cựu, mua những đồ sứ của Tàu, mỗi lần vài ngàn bạc, đem về đập bể ra, lựa những miếng nào bông hoa đẹp, để gắn những hình con long, lân, qui, phụng, cho thỏa lòng xa xỉ của Bệ hạ" Phan Chu Trinh không ngần ngại vạch trần triều đình phong kiến thối nát và kêu gọi

sự thay đổi - vốn dĩ khó khăn - của Khải Định Điều này cũng cho thấy tư tưởng bài xích chế độ phong kiến thối nát, lỗi thời ngày càng mạnh mẽ trong

tư duy chính trị của Phan Chu Trinh Sau này, dù vẫn coi trọng Nho giáo - tôn giáo, học thuyết phát triển trong chế độ phong kiến, nhưng Phan Chu Trinh

Trang 24

mong muốn trước tiên xoá bỏ chế độ hủ lậu này để mang đến dân quyền cho nhân dân Bức thư đanh thép của Phan Chu Trinh phần nào tóm lược tình hình

xã hội đương thời, cảnh tỉnh chế độ phong kiến sắp lụi tàn và khích động quần chúng nhân dân nhận diện rõ kẻ thù của quốc gia trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do

Nhìn chung, chính mâu thuẫn giai cấp, xã hội càng lớn đã đẩy tới việc nhân dân, và đại bộ phận sĩ phu yêu nước phải nhìn nhận lại vận mệnh đất nước đang trong tình trạng ngàn cân treo sợi tóc

1.2 Nguyên nhân và điều kiện hình thành tiếp xúc với tân thư

1.2.1 Bối cảnh lịch sử đất nước dẫn đến tiếp xúc với tân thư

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam có sự phân hóa giai cấp, làm nảy sinh một số giai cấp mới, song chưa có giai cấp nào đủ điều kiện để đứng lên lãnh đạo phong trào yêu nước đương thời Ngọn cờ dân tộc, dân chủ thời đại mới, lịch sử đành trao tay cho giai cấp cũ – các sĩ phu nho học Có thể nói, trước sự thay đổi nhanh chóng của thời đại, các nhà nho yêu nước tiến bộ đã không ngừng đổi mới bản thân để tiếp thu cái hiện đại Họ chủ động tìm kiếm, đón nhận luồng gió Tân thư Tân thư như ngọn gió Đông

ấm áp từ từ len lỏi vào Việt Nam đem đến những cái nhìn tiến bộ, khác hẳn Nho học truyền thống, nó hé mở con đường cứu nước mới Tân thư là khái niệm dùng để gọi chung cho các sách báo mới về nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật , đặc biệt là sách chính trị của nước ngoài được bí mật đưa về Việt Nam Các nhà nho Việt Nam “khai tâm” bằng những tân thư của Khang, Lương và tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây qua sách dịch Trung Quốc “Các nhà nho cách mạng rất đam mê Tân thư không phải để thỏa mãn lòng yêu thích một học thuyết mới lạ, mà để tìm phương án giải quyết vấn đề dân tộc Họ đã vận dụng các học thuyết Tân thư mà họ tiếp thu được vào công cuộc cứu nước.” (Phan Bội Châu, 1990, tr 270)

Trang 25

Phong trào nêu cao tinh thần giáo dục - dưỡng dục và cách tân Biện pháp là hình thành, rộng mở các trường học, tập trung dạy kiến thức mới, chống lại những lý thuyết cũ kĩ của nhà trường Nho giáo Với đề xuất này, việc học tập được chú trọng, đặc biệt là nâng cao đạo đức công dân, đại đoàn kết dân tộc, mở mang công thương nghiệp, phát động việc ưu tiên dùng hàng trong nước, tuyên truyền bác bỏ “hủ nho”, đẩy mạnh việc dùng chữ quốc ngữ, tuyên truyền nâng cao lòng yêu nước, tình đồng bào, đồng chí và các tiêu chuẩn đạo đức của người dân Sự ra đời của trường Đông Kinh nghĩa thục là bước đầu đặt nền móng cho công cuộc mở rộng tư tưởng đổi mới của các nhà nho

Đông Kinh nghĩa thục đã khai giảng ở Hà Nội vào tháng 3/1907, số học sinh lúc đầu có 400-500, sau lên 1000, có ký túc xá cho vài chục học sinh

Trong các tài liệu được sử dụng trong giảng dạy tại Đông Kinh nghĩa

thục, tác phẩm Văn minh tân học sách là tác phẩm điển hình Tác phẩm này đã

chứng minh cách thức các nhà Nho yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ vận dụng

tư tưởng Tân thư vào chủ trương đổi mới đất nước Luận điểm sơ khai nền tảng của cuốn sách là điều quyết định sự phát triển văn minh hay lạc hậu của một quốc gia là trình độ dân trí Vì vậy, muốn tiến lên văn minh thì phải mở mang dân trí, ngược lại càng văn minh thì dân trí càng phải cao Văn minh tân học sách chỉ ra nguyên nhân nước ta chậm phát triển so với các nước châu Âu

là do:

Một là, khởi ở các điểm nội hạ ngoại di, không thèm hỏi đến chính thuật và kỹ năng của nước khác Hai là phát khởi ở điểm quí đạo vương, khinh đạo bá, không cần giảng đến cái học cơ xảo phú cường của nước ngoài Ba là, khởi đầu ở điểm cho xưa là phải, nay là quấy, không chịu xem xét kiến thức và sự suy nghĩ bàn luận của người sau Bốn là, khởi ở cái điểm trọng quan và khinh dân, nên không thèm kể đến tình hình hay dở ở chốn lương thôn Về giáo dục: “những môn ta

Trang 26

học và nhớ ấy chỉ là sách Tàu chỉ là lời dạy của cổ nhân , những thứ ta thị ấy chỉ là kinh nghĩa, thơ ngũ ngôn, biền ngẫu tứ lục ” trong khi ở các nước Âu Tây thì chú trọng các môn khoa học Về chính trị: chính trị thì “cấm thay đổi sửa sang, dùng người thì quí im lìm lặng lẽ , dân gian không được học thể lập hiến, có chính thể quân dân cộng hòa ” Về xã hội: “ngoài văn chương không có gì là quý, người

áp chế không có gì là tôn chỉ, ngoài phục tùng không có gì là nghĩ xa ” trong khi các nước Âu Tây có chính thể cộng hòa , có phái tự do ” Về phong tục thì: “lìa nhà mười dặm đã bùi ngùi ” chưa từng nghĩ tới các “môn học thực dân”, chưa từng đi tìm “thị trường tiêu thụ hàng hóa ” trong khi các nước Âu Tây thì ―trọng du lịch và xem thường hiểm trở gian nan (Phan Bội Châu, 1990, tr 275)

Từ đó, đưa ra giải pháp:

Biện pháp thứ nhất: “Dùng văn tự nước nhà”

Biện pháp thứ hai: “Hiệu đính sách vở”

Biện pháp thứ ba: “Sửa đổi pháp thi”

Biện pháp thứ tư: “Cổ võ nhân tài”

Biện pháp thứ năm: “Chấn hưng công nghệ”

Biện pháp thứ sáu: “Mở tòa báo”

Cuối tác phẩm, tác giả đưa gương duy tân của nước Nhật, gương thức tỉnh của người Trung Quốc, thống thiết kêu gọi phải học tập và thâu thái văn minh Âu châu

Như vậy, Văn minh tân học sách đã cổ vũ tinh thần chống bảo thủ, coi trọng việc mở mang dân trí, mở ra trào lưu Duy tân đất nước Văn minh tân học sách cũng giống như nhiều tài liệu giáo dục của Đông Kinh nghĩa thục, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng Pháp và thuyết

Trang 27

tiến hóa luận, trong đó có thuyết cạnh tranh sinh tồn Do rất thiết thực với phong trào yêu nước đương thời nên Văn minh tân học sách nói riêng, phong trào Đông Kinh nghĩa thục nói chung nhanh chóng lan rộng, khiến cho tư tưởng duy tân không còn lác đác ở một số cá nhân nhà Nho tiến bộ mà trở thành một tư trào mạnh mẽ

Chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn, từ những năm cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX, ở nước ta, dưới sự tác động của thực dân Pháp

đã diễn ra quá trình vận động, đứt gãy và phát triển mạnh mẽ của hệ tư tưởng chính trị, xã hội Đó là sự chuyển biến từ hệ tư tưởng Nho giáo sang hệ tư tưởng dân chủ tư sản mà sơ kỳ chính là sự chuyển biến của tư tưởng trung nghĩa sang tư tưởng duy tân Quá trình chuyển đổi này được phản ánh rất sâu đậm trong văn học nhà Nho giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

1.2.2 Ảnh hưởng từ Nhật Bản và Trung Quốc

Từ thế kỉ XIX, tình hình hội nhập và sự giao thoa của phương Tây với các nước trong khu vực đều có sự chuyển biến mới mẻ, trong đó Nhật Bản và Trung Quốc là hai quốc gia tiếp nhận các cách tân trong tư duy chính trị nhiều nhất và cũng gần gũi để dễ dàng ảnh hưởng sâu rộng bên trong lòng tư tưởng cách mạng Việt Nam

Nhật Bản, năm 1868, khi thiên hoàng Minh Trị thay thế chính quyền Mạc Phủ đang nắm quyền trong nhiều năm, và bắt tay vào công cuộc duy tân đất nước Việc Nhật Bản mở rộng thôn tính Đông Bắc, Trung Quốc và Triều Tiên đã ảnh hưởng đến quyền lợi của Nga nên dẫn đến cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) Trước chiến thắng của Nhật đã dẫn tới sự kì vọng của các nước Châu Á trước việc thúc đẩy phong trào duy tân của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Sự phát triển của Nhật Bản sau khởi nghĩa duy tân này để mở đường cho Việt Nam học hỏi, trong đó Phan Bội Châu - nho sĩ cấp tiến đi tiên phong

Trang 28

trong con đường khởi phát tư duy cải cách trong chính trị và làm cách mạng Ông viết: “Trong Trận Nga - Nhật và Nhật Bản đại thắng thật ra đã tạo điều kiện, cơ hội cho chúng tôi rất lớn Trong đầu óc chúng tôi đến thời điểm này

đã mở ra một thế giới mới lạ” (Phan Bội Châu, 1990, tr 171) Phan Bội Châu

đã cùng nhiều nho tiến bộ mong muốn cải cách, đem tự do dân chủ giải phóng dân tộc nên đã quyết định chung tay thành lập Việt Nam Duy Tân Hội - một

hệ thống đảng phái học hỏi theo cách triển khai của Nhật Bản

Trong bài Đề tỉnh quốc dân ca, Phan Bội Châu kêu gọi:

Cờ độc lập đứng đầu phất trước

Nhật Bản kia vốn nước đồng văn

Á Đông nổi hiệu duy tân,

Nhật hoàng Minh Trị anh quân ai bì? …

Gương Nhật Bản đất Á Đông

Dòng ta, ta phải soi chung kẻo lầm

(Phan Bội Châu, 1990) Trung Quốc cũng chịu sự tác động từ phong trào duy tân Nhật Bản với nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp nơi, được sự cổ vũ của nhiều tầng lớp văn sĩ cấp tiến, trí thức tiểu tư sản, Nhiều người còn đầu tư qua Nhật học tập phong trào duy tân để đem về hoạt động cách mạng trong nước

Lúc bấy giờ, đầu thế kỉ XIX, Trung Quốc cũng đang rơi vào thời kì bể khổ với sự xáo xào trong nội bộ triều đình Sau cuộc chiến tranh Nha Phiến

1840, Trung Quốc rơi vào tầm ngấm của thực dân, khiến cho đất nước chuyển dần theo cục diện nửa phong kiến - nửa thuộc địa Vì chưa mở rộng cách tân chính trị giai đoạn đầu nên cách mạng chống thực dân đều thất bại, triều đình Trung Quốc ngày càng đánh mất lòng tin trong cộng đồng người dân Họ không tin vào việc chính quyền phong kiến đủ sức mạnh để đánh đuổi giặc

Trang 29

ngoại xâm Vì thế, nhiều phong trào khởi nghĩa bùng nổ như phong trào Nghĩa Hoà Đoàn, Duy Tân, Càng về sau, tầng lớp nho giáo tiểu tư sản càng thấy rõ tầm quan trọng của việc áp dụng tri thức vào xây dựng đường lối cách mạng nên đã đốc sức mở rộng, học hỏi canh tân các nước khác trong khu vực Châu

Á và Nhật Bản là đất nước đi tiên phong trong việc cải cách Tuy nhiên, một

số nhà nho trí thức Trung Quốc một phần vì bất mãn với triều đình Mãn Thanh suy yếu, một phần vì bị cho là phản quốc nên đã chấp nhận cuộc sống lưu vong tại Nhật Bản

Vì mục đích phát triển tinh thần đổi mới trong nước về chính trị - kinh

tế - xã hội, các nhà trí thức Trung Quốc đã dịch nhiều tác phẩm về các vấn đề chính thể dân chủ, dân quyền, tự do bình đẳng Khang Hữu Vi (1858 - 1927), Lương Khải Siêu (1873 - 1929), Đàm Tự Đồng (1865 - 1898) sáng tác nhiều tác phẩm đề nghị canh tân Trung Quốc, xây dựng hệ thống tư tưởng chính trị, dân chủ, dân sinh, Trong đó, Tân Thư là một tác phẩm tiên phong, ảnh hưởng sâu rộng đến nho sĩ Việt thời bất giờ Các nhà canh tân đất nước đã học hỏi theo Tân Thư để đưa ra nhiều chính sách cải cách, ý kiến chỉnh đốn đường lối phát triển nước nhà về nhiều mặt Trần Đình Túc dâng sớ xin khai khẩn đất hoang ở khu vực Huế, Quảng Trị để mở rộng canh tác cho nông dân Đặng Huy Trứ lại dâng tài liệu nghiên cứu để xin đóng tàu chạy hơi nước (1865), Các nhà canh tân khác đều tập trung nghiên cứu Tân thư và tìm ra nhiều chính sách mới nhằm canh tân đất nước Nhiều nhà nho trí thức đã lưu danh dân tộc

vì những đóng góp canh tân cho đất nước thời bấy giờ: Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Lộ Trạch, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,

Nguyễn Trường Tộ khi ấy là một cái tên nho sĩ đầy thức thời, tâu sớ cho vua quan nhiều cơ hội canh tân nước nhà Sau hành trình tham gia đi sứ ở một số nước, Nguyễn Trường Tộ đã nhận thức được rằng: “Thời kỳ khôi phục đất nước đã được xác thực ở bốn bể, dự tính được con đường phát triển tương lai Những đi theo con đường nào mới được? Con đường cần theo không thể

Trang 30

tìm ở trong nước mà phải tìm trong thiên hạ.” (Đỗ Thanh Bình, 2006, tr 123)

Và theo ông, việc tìm con đường cải cách đất nước là một quá trình cần sự thống nhất “không cần bỏ hết cái cũ và mưu cầu cái mới mà phải lấy cái hay của mình sẵn có, kết hợp cùng cái hay trong thiên hạ mới sáng tạo ra Như thế cái mới trong thiên hạ sẽ đồng hoá cùng cái mình cũng có và cái mình sẵn có thiên hạ lại không có Lấy hai điều biết mà dính lại một điều biết Như thế ai dám khinh rẻ mình” (Đỗ Thanh Bình, 2006, tr.198) Từ quan điểm thức thời này, chúng ta có thể thấy kiến thức của Nguyễn Trường Tộ đã vượt xa tầm suy nghĩ của bậc trí thức lúc bấy giờ, đặt ra nhiều thử thách phải canh tân đất nước theo cách làm mới và cũng để lại nhiều suy ngẫm, nuối tiếc cho người đời sau khi tiếng nói của ông không được coi trọng Đi sâu vào tìm hiểu những cách tân của Nguyễn Trường Tộ, có thể nói nhà cách tân này đã học hỏi bước tiến của Nhật Bản và các nước phương Tây đưa vào tân thư dân tộc Cụ thể, từ thời mười tám tuổi, Nguyễn Trường Tộ đã được tiếp xúc Tây học, học tiếng Pháp

và kiến thức khoa học thường thức của Tây phương Ông còn trực tiếp sang Pháp và các nước láng giềng Châu Á để học hỏi thêm Trước hết về khoa học

kĩ thuật, Nguyễn Trường Tộ đã học hỏi người Pháp về kiến trúc để tham gia làm kiến trúc sư xây dựng tu viện tại Sài Gòn cùng nhiều kênh đào khác tại Sài Gòn Về khoa học xã hội, ông có kiến thức sâu rộng về ngoại giao, tôn giáo, kinh tế, chính trị nhờ vào thời gian du học các nước Đỉnh cao là bản điều trần Nguyễn Trường Tộ đã gửi cho triều đình Huế dựa trên đề án của học giả trí thức đời Minh Trị của Nhật Trong bản điều trần này, ông đã trình bày

về những vấn đề bức thiết đối với vận mệnh nước nhà và có sự tương đồng lớn với bối cảnh Nhật Bản Điểm học hỏi lớn lao nhất là việc Nguyễn Trường Tộ

đề cao khả năng Việt Nam noi gương chính phủ Minh Trị đến các nước Âu

Mỹ để thương lượng sửa đổi những hiệp ước bất bình đẳng, đòi công bằng cho dân tộc Thế nhưng, cách tân của Nguyễn Trường Tộ không được coi trọng bởi các nho sĩ bấy giờ vẫn bị ảnh hưởng bởi quan điểm "nước Việt là trung tâm vũ trụ" không cần cầu cạnh ai và xem Trung Quốc là cứu cánh duy nhất

Trang 31

Theo Nguyễn Trường Tộ, nước Pháp - cũng như các nước phương Tây – là một nước rất mạnh khi so sánh với tình hình chung của Việt Nam hay các nước Châu Á:

Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến…, mặt trời mặt trăng soi chiếu thì người Âu đều đặt chân tới, như tằm ăn cá nuốt, ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa ; ai hoà với họ thì được yên, thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ Huống hồ nước Việt ta là một nước bé nhỏ, tại sao lại muốn trái đạo trời mà làm những việc thiên hạ khó làm được… ? Hơn nữa, ở châu Âu, việc võ bị chỉ có nước Pháp là đứng hạng nhất, hùng mạnh không thua ai cả (Trương Bá Cần, 1988, tr.107-112)

Nguyễn Trường Tộ cũng tiên liệu rằng :

Nếu như ngày kia Pháp đưa quân đến thì việc vượt biển cũng như đi trên đất bằng, trèo non như đi trên đường bộ Nước ta tựa núi kề biển, địa thế như một con rắn dài, đầu đuôi không liên lạc được với nhau, nếu họ đánh một trận thì ta đã bị cái thế chia năm xẻ bảy…(Trương

Bá Cần, 1988, tr.107-112)

Trong lúc đó, Nguyễn Trường Tộ lại cho rằng:

Quân lính của ta lại chuyên dùng gươm dao gậy gộc, không thạo súng ống Nếu họ dùng súng trường từ xa bắn suốt tới, thì quân ta chưa giáp trận mà gươm dáo đã tan tành Khi họ đến gần thì dùng lưỡi lê xung phong một người đương được cả 100 người, xông lên như nước sông chảy xiết Lúc ngừng lại thì như núi dựng, xông vào chẳng qua cũng như chuồn chuồn lay cột đá mà thôi.(…) Đem quân nhút nhát của mình ra đánh lại quân vô địch của họ thật chẳng khác nào như bắt muỗi đội núi, đem dê đấu hổ (…) Quân Pháp đánh thành không cần dùng những phương pháp bắc thang, đường hầm, xe kiếm, bao đất, mà

Trang 32

đại pháo bắn ra thì núi lở, gò sập (…), trèo thành như lên đệm gối, sở

dĩ lâu nay họ chưa dùng đến là vì cắt cổ gà cần gì phải dùng dao mổ trâu… (Trương Bá Cần, 1988, tr.107-112)

So sánh tương quan lực lượng giữa hai bên có thể thấy sự chênh lệch

vô cùng giữa Việt và Pháp, vì thế muốn giữ đại cục bước đầu triều Nguyễn cần canh tân đất nước chứ không phải dần dâng đất đai cho kẻ thù xâm lược:

Nay có đánh họ cũng không đi, hòa họ cũng không đi Họ chỉ xin mình miếng đất mà thôi, nếu cứ kiên quyết không cho, họ sẽ lập mưu cướp hết, từ khách quay lại làm chủ Như thế là tiếc một hai mảnh đất

mà đem cả nước trao cho họ Nếu biết rõ họ đã đến là không đi…, thì đánh với họ tức là mất cái lớn không đáng mất…, không kêu nài gì được (…) Hoặc giả có người nói đất đai tổ tiên để lại không được đưa gang tấc nào cho kẻ khác Như vậy là quá câu chấp mà để hỏng việc nước Sao không xem xưa nay có ai làm chủ giang sơn mãi đâu (…)

Vả lại những điều mà nước Pháp xin, chẳng qua là để mở bến tàu, lập phố xá, thông cửa bể để buôn bán…Xưa nay chưa có ai buôn bán mà

âm mưu chiếm nước người ta bao giờ (Trương Bá Cần, 1988, 112)

tr.107-Cuộc đấu tranh của Nguyễn Trường Tộ nhấn mạnh vào việc buộc triều Nguyễn phải sớm canh tân từ 1963:

Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành trăm năm cũng chưa hết, thế mà bảy tám năm nay chưa thấy thực hành tý nào, chả lẽ đợi đến trăm năm sau mới thực hành được sao ? Nay có thể làm được rồi, thời

đã đến, thế đã có, mở rộng giao thương để đem của cải thiên hạ đến, chấn hưng phương pháp mới để làm hưng thịnh nguồn lợi trong nước Tiến hành cả hai thì mọi cái hỗ trợ nhau, lợi ích sẽ ùn ùn đưa đến Tôi tính toán cái thời hạn 20 năm chỉ một ngày có thể hy vọng được Nếu

để thời cơ bối rối của họ đi qua thì còn làm gì được nữa, hiện nay hết

Trang 33

sức khẩn cấp Hãy đứng dậy nhảy xổ ra bắt tay thực hiện ngay Thời

đã đến rồi Thời khó mà dễ mất Chớ nên nói hãy để sang năm (Nguyễn Trọng Văn, 2009, tr.35)

Nguyễn Lộ Trạch cũng là một nhà canh tân nổi tiếng với bài “Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ” (thiên hạ đại thế luận) viết tháng 4 năm

1863 Nếu Nguyễn Trường Tộ đã tiếp cận văn minh phương Tây và học hỏi tân thư Nhật Bản để đề bạt cải cách, thì Nguyễn Lộ Trạch lại chịu ảnh hưởng bởi tân thư Trung Quốc Vì là con rể của Trần Tiễn Thành - một vị Tổng tài Quốc sử quán có xu hướng duy tân, từng tiếp đón Nguyễn Lộ Trạch nhiều lần, nên ông có cơ hội được đọc các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ và tân thư của Trung Quốc Ông đã từng dâng lên vua bản thời vụ sách I (thượng), vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa, vờ vịt nghị hòa của người Pháp, đồng thời đề ra chủ trương “gấp lo tự lực tự cường” Bản Thời vụ sách đã gây tiếng vang lớn Nhân sự kiện thực dân Pháp đánh thành Hà Nội (lần thứ hai) vào háng tư năm 1882, Nguyễn Lộ Trạch tiếp tục dâng bản Thời vụ sách II (hạ), gấp rút đề ra những kế hoạch giữ nước Đề nghị canh tân cuối cùng của Nguyễn Lộ Trạch có lẽ là bài viết “Thiên hạ đại thế luận” (Bàn luận về những việc lớn trong thiên hạ) Trong bài viết này Nguyễn Lộ Trạch đã viết bài bàn luận về thế nước của các quốc gia Á Đông trước nguy cơ xâm lược của phương Tây Ông đã chỉ rõ ra những điều sai lầm của triều đình nhà Nguyễn khi nghĩ nếu cầu hòa thì thực dân Pháp dừng lại, cũng không vì nhà Nguyễn chống lại mà Pháp dấy binh nhiều hơn mà dã tâm của phương Tây đã có từ lâu Điều này chứng tỏ Nguyễn Lộ Trạch đã phần nào có cái nhìn đúng đắn về cục diện của thế giới và tình hình Châu Á lúc bấy giờ khi đứng trước nguy cơ xâm lược của các nước thực dân Trước thực tế đó, ông cho rằng triều đình chỉ còn cách: Từ bỏ tệ quan liêu, thói chuộng hư danh, sửa sang chính trị, giáo dục thì mới có thể cứu nguy cho nước nhà Bài luận của Nguyễn Lộ Trạch được

đông đảo sĩ phu cả nước có tư tưởng đổi mới đón nhận và khen ngợi Ông đã

dựa trên tân thư của Trung Quốc, Nhật Bản và các nước phương Tây để phân

Trang 34

tích bối cảnh chính trị, thế lực - quyền lợi của các nước phương Đông và đưa

ra đự đoán canh tân cũng như xu thế sắp tới của thế giới Ông đã chỉ ra những

ưu khuyết điểm của bộ máy cũ, những điểm còn thiếu sót để cải cách

Theo Nguyễn Lộ Trạch, trong thời vụ sách II (quyển hạ), ông đã trình bày rõ các quan điểm về các kế sách canh tân theo chủ trương tự lực tự cường như Nhật Bản Ông không tách Nhật Bản khỏi bối cảnh chung Đông Á mà hướng đến sự phát triển cạnh tranh giữa các nước đang trong đà canh tân phát triển:

Cái thế hỗn tạp mà cái hình thôn tính lập thành Đất Lữ Tống (Lucon, chỉ Phillipines) từ đời Minh đến nay, hơn ba trăm năm vẫn thần phục Tây Ban Nha, thế mà nay lại muốn ngang nhiên tự mình đứng vững, thực là khó lắm thay! Ấn Độ, Miến Điện cũng chung một bênh như vậy Xiêm La thì có thể giữ nguyên vẹn được, nhưng không thể hoà thân với các nước láng giềng Nhật Bản mỗi ngày một tiến lên mau chóng, thế những Nhật Bản mạnh thì mối lo của Trung Quốc chẳng phải ở Tây dương mà chính là ở Nhật Bản (Mai Cao Chương, 1995, tr.139)

Nguyễn Lộ Trạch nhấn mạnh con đường của Nhật Bản đang đi là

đúng đắn, Việt Nam cần học tập theo để có thể canh tân đúng đắn

Điều đáng lưu ý là cho đến trước thế kỷ XX thì trong nhận thức về châu Á của các nhà canh tân thì sự vỡ ra ý thức về thể chế chính trị vẫn còn rất hạn chế bởi họ vẫn tôn sùng hệ tư tưởng chính trị Nho giáo xưa cũ Nguyên nhân có thể lí giải được là do họ được tôi luyện và trưởng thành trong môi trường Nho giáo dù cho có một vài người đã được chứng kiến văn minh phương Tây và thấy rõ cái lạc hậu của Châu Á so với thế giới thế nhưng họ cũng khó mà đoạn tuyệt hoàn toàn với tư tưởng trung quân Tư tưởng trung quân gắn chặt trong nhận thức của Đặng Huy Trứ thể hiện qua các câu thơ

trong bài Yến đại từ đường viết năm 1865, khi ông đã có những tư tưởng canh

Trang 35

tân:

Tứ triều hoa cổn thi thiên trạch,

Bách thế cơ cầu đạo nghĩa môn

(Bốn triều hưởng vinh sủng là ơn huệ của nếp nhà thi thư,

Và trăm đời nối nghiệp là theo con đường đạo nghĩa)

Sự đầu hàng của nhà Nguyễn được đánh dấu bằng Hiệp ước năm 1884 cần được hiểu như là sự thất bại tất yếu, được xuất phát từ nguyên nhân bên trong, nếu tính đến hiện thực Việt Nam vào nửa sau thế kỷ XIX Trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, chúng ta không thể chiến thắng về mặt vật chất trước nước Pháp có hơn một trăm năm tư bản, còn về mặt tinh thần thì chủ nghĩa yêu nước mang nặng tính chất trung quân, đôi khi là trung quân khá mù quáng, đã không còn phát huy tác dụng Điều này lý giải vì sao hàng loạt phong trào khởi nghĩa dưới

ngọn cờ trung quân lần lượt bị thất bại (Phan Bội Châu ,1990, tr 36)

1.3 Tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh

1.3.1 Tiểu sử và quá trình hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu

Phan Bội Châu lúc đầu tên là Phan Văn San (ở Nghệ An nhiều người vẫn quen gọi là ông Giải San), hiệu là Hải Thụ Khi đi thi lại đổi tên là Phan Bội Châu Lúc ra nước ngoài thường dùng tên hiệu Sào Nam Tử, Thị Hán

Ông sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867 tại thôn Đan Nhiệm (Sào Nam),

xã Đông Liệt, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, cha làm thầy đồ dạy chữ Hán, mẹ cũng là người biết chữ Lúc Phan Bội Châu chưa đi học, bà đã dạy cho con học thuộc một số bài trong Kinh Thi Có thể vì xuất thân như vậy cho nên Phan Bội Châu từ nhỏ đã thấm

Trang 36

nhuần tư tưởng Nho giáo cũng như văn hoá Á Đông

Phan Bội Châu từ nhỏ đã nổi tiếng là người thông minh Khi ông lên

8 tuổi đã làm thông thạo các loại văn cử tử, đi hạch ở huyện, 13 tuổi đi hạch đứng đầu huyện, làm được văn thơ theo lối cận cổ, các cụ đồ ít đọc sách trong địa phương không hiểu nổi Nhiều lần đi hạch Phan đứng đầu xứ

Phan Bội Châu có tư tưởng yêu nước rất sớm Khi ông mới có 17 tuổi Pháp đánh chiếm các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, vì lòng yêu nước và căm thù giặc

cụ Phan đã viết bài hịch Bình Tây thu Bắc (dẹp giặc Pháp, khôi phục đất Bắc) dán ở gốc đa đầu làng để kêu gọi mọi người hưởng ứng phong trào văn thân ở Bắc kỳ Năm ông 19 tuổi vào lúc kinh đô Huế thất thủ, phong trào Cần Vương nổi lên sôi sục ở Nghệ Tĩnh, Phan đã tổ chức thí sinh quân (đội nghĩa binh gồm những người học trò lớn tuổi đã đi thi) được 60 người nghe theo, định hưởng ứng theo văn thân đánh Pháp Mọi người hoảng sợ, trách móc người chủ xướng Từ công cuộc thành lập danh sách thí sinh quân, bị quân Pháp bắt được khiến mọi người vô cùng hoảng sợ đã khiến Phan Bội Châu mở rộng tầm mắt, hiểu được trò ái quốc của mình còn quá buồn cười, trẻ con, chưa có độ trưởng thành về tư tưởng chính trị

Từ đó ông thay đổi, sống 10 năm ẩn náu, viết Song tuất lục ca tụng

những người văn thân chống Pháp ở Nghệ Tĩnh trong hai năm Tuất 1874 và

1886, đi dạy học, đọc binh thư, tìm kiếm bè bạn, chuẩn bị hoạt động với quy

mô lớn về sau Ông đã tập hợp được quanh mình nhiều thanh niên ưu tú và nhiều người thuộc dư đảng Cần Vương đang sống trốn tránh bất hợp pháp

Năm 1897, Phan Bội Châu vì tội mang sách vào trường thi, bị cấm đi thi suốt đời, ông vào Huế, dùng văn chương làm quen với các nhà khoa bảng trẻ tuổi yêu nước lúc đó đang tụ tập quanh trường Quốc tử giám như Nguyễn Thượng Hiền, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Ngô Đức Kế… Ở Huế nhờ Nguyễn Thượng Hiền, Phan được đọc tân thư, dần dần hình thành chủ trương cứu nước theo đường lối mới Nhờ sự can thiệp của Khiếu

Trang 37

Năng Tĩnh và nhiều người khác, năm 1900 Phan được đi thi lại, đậu giải nguyên trường Nghệ Trong dịp về Nghệ An này, ông đã cùng với các đồng chí bàn kế hoạch cứu nước, âm mưu tập kích thành Nghệ An – đây là hành động yêu nước theo kiểu cũ, hành động mà sau này Phan gọi là “tập làm trò yêu nước trẻ con Năm 1902, ông ra Hà Nội liên lạc với Hoàng Hoa Thám Năm 1903, ông lại vào Huế rồi lại tiếp tục đi khắp Nam Kỳ, hết ra Bắc lại vào Nam nhằm tạo dựng hệ liên kết với các lực lượng chống Pháp Năm 1904, ông cùng Nguyễn Hàm chọn Cường Để làm minh chủ và thành lập tân đảng (sau gọi là Duy Tân hội) Tân đảng giao cho ông nhiệm vụ sang Nhật cầu viện, chuẩn bị vũ khí để đánh Pháp - một nước rất tân tiến với khoa học kĩ thuật đã phát triển toàn diện Việc thành lập Đảng một cách hoạt động mới, cho thấy sự đổi mới trong tư tưởng và hành động yêu nước của Phan Bội Châu

Năm 1905 ông xuất dương sang Nhật Từ đó ông kêu gọi thanh niên tích cự đi du học tại nước ngoài, tổ chức thành một trung tâm hoạt động cứu nước ở Nhật Vừa lo sắp đặt tổ chức cho du học sinh học, cho những nhà cách mạng đi lại hoạt động, Phan Bội Châu vừa viết sách giới thiệu nước Việt Nam, cách mạng Việt Nam với nước ngoài (Việt Nam vong quốc sử - 1905, Việt Nam quốc sử khảo - 1908), vừa viết những lời kêu gọi, những bức thư cổ động

và chỉ đạo phong trào trong nước (Hải ngoại huyết thư – 190?, Kính cáo toàn

quốc phụ lão văn – 190?, Thư gửi Phan Chu Trinh – 1907, Ai cáo Nam Kỳ phụ lão thư – 1907…) Năm 1908 Pháp yêu cầu Nhật trục xuất các nhà cách mạng

Việt Nam khỏi Nhật Bản, Phan Bội Châu cùng với các đồng chí phải chạy sang Trung Quốc Từ 1905 đến 1925, ông sống cuộc đời nhà cách mạng lưu vong ở Nhật Bản, ở Thái Lan và nhiều nhất là ở Trung Quốc, chính trong giai đoạn sống lang bạt lưu vong này đã giúp cho Phan Bội Châu có cái nhìn sâu sắc toàn diện hơn về châu Á

Năm 1912, do ảnh hưởng của cách mạng Tân Hợi, Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang phục hội ở Trung Quốc Sau khi thành lập tổ chức

Trang 38

này thì ông chính thức bị quân phiệt Trung Quốc liệt vào dạng phản động, đã bắt giam ông đến tận năm 1917 Sau khi ra tù, ông không từ bỏ con đường cách mạng mà tiếp tục trở về nước để kêu gọi mọi người chống Pháp trong bối cảnh thế chiến thứ nhất vừa kết thúc, Pháp đang trên đà thắng lợi Dự định không thực hiện được Từ năm 1920 đến năm 1925, ông viết bài cho mấy tạp chí Trung Quốc

Sau Cách mạng tháng Mười năm 1920, Phan Bội Châu đến Bắc Kinh

để gặp đại sứ Liên Xô Năm 1924, ông có liên lạc với Nguyễn Ái Quốc lúc đó vừa ở Liên Xô về Quảng Châu Theo ý kiến của Nguyễn Ái Quốc, ông đã dự định tổ chức lại đảng Cách Mạng Việt Nam theo đường hướng mới canh tân hơn Nhưng tháng 6 năm 1925, ông bị Pháp lừa bắt ở Thượng Hải và sau đó bị đưa về nước Thực dân Pháp cũng âm mưu thủ tiêu ông nhưng chính tinh thần liêm khiết, quyết tâm vì nhân dân quên mình của Phan Bội Châu đã khiến hàng triệu con người đứng về phía ông khởi nghĩa Lần đầu tiên công nhân, học sinh đứng lên hành động chính trị, cùng với nhân dân khắp nơi đòi trả tự

do cho Phan Bội Châu Có người ra trước tòa án tình nguyện chết thay cho ông Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ đó, thực dân Pháp bối rối phải tuyên bố tha bổng nhưng bắt ông phải về sống ở Huế và không được về Nghệ

An, quê hương ông

Từ năm 1926 đến 1940, ông là người tù giam lỏng ở Bến Ngự, sống dựa vào sự giúp đỡ của đồng bào và bạn bè, trong một cảnh thê lương

Đêm nghe con Vá chào ông trộm

Ngày báo thằng Nghi kể chuyện tù

Dù sống trong tình cảnh bị đóng khung nghiêm ngặt trong gông cùm, theo dõi từ chính quyền thực dân, nhưng Phan Bội Châu vẫn âm thầm dạy học, viết sách, truyện ngắn và báo Tiếng Dân Một số tác phẩm nổi tiếng ghi chép lại hành trình hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu: Khổng học đăng,

Trang 39

Dịch kinh chú giải, Phật học đăng và chép lịch sử hoạt động của mình thành tập Phan Bội Châu niên biểu

Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 1940 Có thể nói: “Trong một phần tư

thế kỷ, ông là ngọn lửa dẫn đường cho dân tộc chống thực dân Pháp giành độc lập Riêng về mặt văn học, Phan Bội Châu cũng là nhà văn tiêu biểu nhất cho văn học yêu nước thời kỳ đó So sánh với văn thơ yêu nước trước đây, văn thơ Phan Bội Châu đã thuộc một loại mới Sáng tác của ông không những đứng đầu về số lượng, chất lượng, tác dụng mà còn phản ánh xu thế, vận mệnh của văn học yêu nước lúc đó rõ ràng nhất, đầy đủ nhất” (Phan Bội Châu, 1990, tr.129)

1.3.2 Tiểu sử của và quá trình hoạt động cách mạng của

Phan Chu Trinh

Phan Chu Trinh sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ (nay thuộc xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh), tỉnh Quảng Nam, hiệu là Tây Hồ Hy Mã, tự là Tử Cán Xuất thân từ trong chiến tranh, cha mẹ mất sớm, nhà bị Pháp đốt cháy trong phong trào Cần Vương, ông theo anh trai trốn chạy, vừa học võ, vừa học văn Bạn học của ông cũng toàn nho sĩ nổi tiếng đương thời như Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến, Phan Quang, và Phạm Liệu

Phan Chu Trinh đỗ cử nhân vào năm 1900 Năm sau, ông đỗ Phó bảng

và được bổ nhiệm là Thừa biện bộ Lễ Từ 1906, ông đã liên kết với nhiều nhà nho trí thức để học hỏi canh tân và âm thầm mở rộng mối quan hệ ngoại bang với các nước Ông bí mật sang Nhật cùng Phan Bội Châu để tạo mối liên hệ với đảng cách mạng của Lương Khải Siêu, chuẩn bị cho cuộc canh tân lớn trong nước

Sau khi học tập được tư tưởng chính trị trong và ngoài nước, hệ thống đường lối cách mạng bước đầu đã được gia cố vững chắc, Phan Chu Trinh tiến

Trang 40

hành phong trào Duy Tân Cốt lõi tư tưởng của phong trào này là sử dụng tinh thần độc lập tự cường của dân tộc, kết hợp với mâu thuẫn ngày càng tăng cao với thực dân trong lòng giai cấp công nông và tiểu tư sản Phan Chu Trinh đã chủ trước phong trào Duy Tân đi theo hướng nhấn mạnh vào văn hoá, mở mang dân trí, phát triển kinh tế Ông đặt nhiệm vụ làm cho dân giàu nước mạnh lên cao nhất, nhằm lắng nghe nguyện vọng của tầng lớp bị bóc lột Tuy nhiên, Phan Chu Trinh lại nghiêng về cách tân văn hoá, tuyệt đối không dùng bạo lực để phản kháng “Bất bạo động, bạo động tắc tử, bất vọng ngoại, vọng ngoại giả ngu”

Theo Phan Chu Trinh, nhiệm vụ cấp bách của dân tộc ta là:

Chấn dân khí: Thức tỉnh khả năng và tinh thần giá trị tự lực tự cường, làm cho mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, xoá bỏ nọc độc chuyên chế Vì vậy, ông chủ trương: “Không cần hô hào đánh Pháp, dùng bạo lực, chỉ nên đề xướng dân quyền, dân đã giác ngộ quyền lợi của mình, bấy giờ mới có thể dần dần mưu tính đến việc khác

Khai dân trí: Bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiến thiết khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục, xa hoa, tuyên truyền lối sống tiết kiệm, văn minh

Hậu dân sinh: Chăm lo đời sống cho nhân dân bằng việc phát triển kinh tế, chỉ con đường làm ăn cho dân, như khẩn hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hoá

Năm 1906, Phan Chu Trinh cùng một số sĩ phu yêu nước tiến bộ khởi xướng cuộc vận động Duy tân ở Trung Kì

Kinh tế: cổ động việc chấn hưng thực nghiệp, lập hộ kinh doanh phát triển các nghề thủ công nghiệp (mở lò rèn, xưởng mộc), làm vườn Giáo dục: mở các trường học theo lối mới, dạy chữ Quốc ngữ, môn học mới

Ngày đăng: 13/11/2023, 15:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Chu Đăng Sơn. (1959). Luận đề về Phan Chu Trinh và Phan Chu Trinh. Sài Gòn: Thăng Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận đề về Phan Chu Trinh và Phan Chu Trinh
Tác giả: Chu Đăng Sơn
Năm: 1959
29. Đặng Thai Mai (dịch). 2014. Văn minh tân học sách. Hồ Chí Minh: Tổng hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh tân học sách
30. Đặng Thai Mai. (1958). Văn thơ Phan Bội Châu. Hà Nội: Văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Văn thơ Phan Bội Châu
Tác giả: Đặng Thai Mai
Năm: 1958
31. Đào Duy Anh. (2002). Việt Nam văn hóa sử cương Hà Nội: Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương Hà Nội
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2002
32. Đỗ Bang. cùng nhiều tác giả (1999). Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn. Nxb Thuận Hoá. Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng canh tân đất nước dưới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang. cùng nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá. Huế
Năm: 1999
33. Đỗ Thanh Bình. (2006). Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX – một cách tiếp cận mới. Hà Nội: Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỷ XX
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Năm: 2006
34. Đỗ Thị Hòa Hới. (1996). Tìm hiểu tư tưởng Dân chủ của Phan Châu Chu Trinh. Hà Nội: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tư tưởng Dân chủ của Phan Châu Chu Trinh
Tác giả: Đỗ Thị Hòa Hới
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1996
37. Hoàng Thanh Đạm dịch (1996). Charlies de Secondat Montesquieu. “Tinh thần pháp luật”. Nxb Giáo dục và trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (khoa Luật). Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật
Tác giả: Hoàng Thanh Đạm dịch
Nhà XB: Nxb Giáo dục và trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (khoa Luật). Hà Nội
Năm: 1996
38. Hội đồng Trung ương biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin. tư tưởng Hồ Chí Minh (2003). Giáo trình Triết học Mác – Lênin. Nxb Chính trị Quốc gia. Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Hội đồng Trung ương biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin. tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. Hà nội
Năm: 2003
39. Huỳnh Lý – Hoàng Ngọc Phách. (1983). Thơ văn Phan Chu Trinh. Hà Nội: Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Phan Chu Trinh
Tác giả: Huỳnh Lý – Hoàng Ngọc Phách
Năm: 1983
40. Huỳnh Lý (1992). Phan Chu Trinh thân thế và sự nghiệp. Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Chu Trinh thân thế và sự nghiệp
Tác giả: Huỳnh Lý
Năm: 1992
41. Kiều Văn. (2014). Thơ văn Phan Bội Châu. Truy xuất từ: https://trangvhntnguoncoi.wordpress.com/2014/03/28/tho-van-phan-boi-chau/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Phan Bội Châu
Tác giả: Kiều Văn
Năm: 2014
42. Lê Trí Viễn. (1965). Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam tập IVB. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam tập IVB
Tác giả: Lê Trí Viễn
Năm: 1965
44. Mai Cao Chương, Đoàn Lê Giang 1995, Nguyễn Lộ Trạch điều trần và thơ văn, nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Lộ Trạch điều trần và thơ văn
Nhà XB: nxb KHXH
46. Minh Văn. Xuân Tước. (1961). Luận đề về Phan Chu Trinh và Phan Chu Trinh. Sài Gòn: Sống mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận đề về Phan Chu Trinh và Phan Chu Trinh
Tác giả: Minh Văn. Xuân Tước
Năm: 1961
50. Nguyễn Quang Thắng. (2012). Phan Chu Trinh cuộc đời và tác phẩm. Tp. Hồ Chí Minh: Tổng Hợp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Chu Trinh cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Quang Thắng
Năm: 2012
52. Nguyễn Trọng Văn (2009). Quan điểm của Nguyễn Trường Tộ về con đường cứu nước ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4(396)-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Nguyễn Trường Tộ về con đường cứu nước ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XI
Tác giả: Nguyễn Trọng Văn
Năm: 2009
54. Nguyễn Văn Hồng (1996). “Tân thư. tân học – thời đại nhận thức lịch sử”. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử. (Số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân thư. tân học – thời đại nhận thức lịch sử”
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Năm: 1996
55. Nguyễn Văn Hồng (2001). Mấy vấn đề về lịch sử châu Á và lịch sử Việt Nam. Một cách nhìn. Nxb Văn hoá dân tộc. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về lịch sử châu Á và lịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc. Hà Nội
Năm: 2001
57. Phan Cự Đệ. Trần Đình Hượu. Nguyễn Trác. Nguyễn Hoành Khung. Lê Chí Dũng & Hà Văn Đức. (1993). Công trình Văn học Việt Nam 1900 - 1945. Hà Nội: Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình Văn học Việt Nam 1900 - 1945
Tác giả: Phan Cự Đệ. Trần Đình Hượu. Nguyễn Trác. Nguyễn Hoành Khung. Lê Chí Dũng & Hà Văn Đức
Năm: 1993

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w