1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề dân quyền trong tư tưởng phan châu trinh và phan bội châu

92 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề Dân quyền trong tư tưởng Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu
Tác giả Lê Thị Mơ
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Trọng Vân
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó cũng là sự đóng góp đặc sắc của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh vào lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam.Tư tưởng của các ông thực sự đã tạo nên nhịp cầu nối, góp phần chuyển tiếp từ tư

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS NGUYỄN TRỌNG VĂN

Trang 3

Trường Đại học Vinh, đã cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường Cảm ơn Trung tâm Thông tin - Thư viện Nguyễn Thúc Hào Đại học Vinh đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp tư liệu để tôi hoàn thành luận văn của mình

Cuối cùng, tôi xin được gửi tới gia đình, bạn bè thân thiết lời cảm ơn sâu sắc đã luôn động viên, chia sẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và làm luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Nghệ An, tháng 8 năm 2016

Tác giả

Lê Thị Mơ

Trang 4

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Nguồn tư liệu 7

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Bố cục của đề tài 8

PHẦN NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ XÃ HỘI CỦA SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG DÂN QUYỀN CỦA PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHÂU TRINH 9

1.1 Khái lược về dân quyền 9

1.2 Vài nét về truyền thống dân chủ làng xã của nhân dân Việt Nam 10

1.3 Bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX 12

1.3.1 Phong trào Cần Vương thất bại và sự chấm dứt của ngọn cờ cứu nước theo hệ ý thức phong kiến 12

1.3.2 Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến 13

1.3.3 Sự biến chuyển trong xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX 14

1.4 Tình hình thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam 16

1.5 Các xu hướng tư tưởng của Việt Nam đầu thế kỉ XX 17

Chương 2 PHAN CHÂU TRINH VỚI TƯ TƯỞNG DÂN QUYỀN 20

2.1 Những điều kiện dẫn đến sự hình thành tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh 20

2.1.1 Điều kiện chủ quan 20

2.1.2 Điều kiện khách quan 22

Trang 5

Phan Bội Châu 53

3.1.1 Điều kiện chủ quan 53

3.1.2 Điều kiện khách quan 57

3.2 Tư tưởng dân quyền của Phan Bội Châu 61

3.3 Giá trị lịch sử của tư tưởng dân quyền của Phan Bội Châu 75

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh là hai chí sĩ yêu nước tiêu biểu, hai ngôi sao sáng nhất trên bầu trời cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX Hai ông đã cống hiến cả cuộc đời mình vì sự nghiệp cứu nước, cứu dân Đặc biệt, các ông chính

là những chiến sĩ tiên phong trong việc tiếp thu, truyền bá luồng tư tưởng mới vào quần chúng nhân dân và khởi xướng con đường cứu nước mới theo khuynh hướng dân chủ tư sản, mang đến cho phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ một luồng sinh khí mới Trong tư tưởng dân chủ mà hai ông truyền bá vào, vấn

đề dân quyền là nội dung cốt lõi Đề cao dân quyền - đó là điểm khác biệt và hơn hẳn trong tư tưởng các ông so với nhà canh tân trước đó và những người cùng thời Đó cũng là sự đóng góp đặc sắc của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh vào lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam.Tư tưởng của các ông thực sự đã tạo nên nhịp cầu nối, góp phần chuyển tiếp từ tư tưởng phong kiến sang tư tưởng vô sản Tuy nhiên, lâu nay trong nhiều công trình nghiên cứu về xu hướng cứu nước dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX cũng như về tư tưởng dân chủ của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, đáng tiếc là chúng tôi ít thấy các công trình chuyên khảo về tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu trong giai đoạn lịch sử đặc biệt này để đánh giá đúng tầm vóc của hai ông Trong chương trình giảng dạy môn lịch sử các cấp học phổ thông cũng vậy Tuy các nhà biên soạn có dành thời lượng chương trình để học sinh tìm hiểu về hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh nhưng tư tưởng dân quyền của các cụ gần như không được bàn đến

Từ thực tiễn trên, chúng tôi chọn “vấn đề dân quyền trong tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình Chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ góp phần giúp chúng ta có cái nhìn

Trang 7

thấu đáo hơn về tư tưởng dân chủ của 2 nhà chí sĩ yêu nước: Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu; qua đó để có sự đánh giá thỏa đáng hơn về những đóng góp của 2 cụ không chỉ đối với thực tế cuộc đấu tranh của nhân dân đầu thế kỉ XX mà còn cả trên phương diện tư tưởng, lí luận cách mạng Đề tài này cũng giúp chúng ta hiểu rõ thêm về khuynh hướng cứu nước dân chủ

tư sản ở Việt Nam giai đoạn lịch sử này

Bản thân tôi là một giáo viên lịch sử trường trung học phổ thông Thông qua quá trình nghiên cứu, tôi cũng muốn bản thân có thêm hiểu biết

để giúp cho học sinh có cách nhìn toàn diện hơn về những nhân vật lịch sử tiêu biểu đầu thế kỉ XX, hiểu sâu sắc hơn về vấn đề dân chủ, dân quyền trong đời sống chính trị trước đây và hiện nay

sử nước nhà mà một thời trước đây không ít quan điểm đánh giá lệch lạc

2.1 Nghiên cứu về Phan Châu Trinh

Trước đây, khi viết về Phan Châu Trinh, không ít nhà sử học thường theo xu hướng nặng về phê phán đường lối cứu nước của ông, cho rằng đó là con đường cải lương, thỏa hiệp với Pháp Nhưng mấy thập kỉ gần đây, các nhà nghiên cứu đã có sự thay đổi về quan điểm và có sự đánh giá công bằng những đóng góp của Phan Châu Trinh đối với sự nghiệp cứu nước của dân tộc Khác với Phan Bội Châu, cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Phan Châu Trinh chỉ kiên trì theo đuổi con đường cứu nước là dựa vào Pháp để đánh đổ phong kiến, tiến hành Duy tân đất nước để đất nước tự cường, đem lại quyền lợi cho nhân dân Vì vậy, các công trình nghiên cứu về Phan Châu Trinh không thật là đa dạng về nội dung như các công trình nghiên cứu về

Trang 8

Phan Bội Châu mà chủ yếu xoay quanh hai vấn đề: Đó là tư tưởng dân chủ của ông hoặc phong trào Duy tân do ông phát động Trong các công trình đó

phải kể đến đầu tiên là tác phẩm Phong trào Duy tân của tác giả Nguyễn Văn

Xuân với lối viết giản dị, chân thực cùng với những tư liệu vô cùng quý giá

mà sách vở chưa bao giờ chép Vì thế nên, như đánh giá của ông Mai Quốc Liên trong trang mở đầu tác phẩm, “bức tranh của ông (Nguyễn Văn Xuân) về phong trào Duy tân do đó nhộn nhịp bao nhiêu mảng màu sắc của đời thực, đầy nghĩa khí, trí tuệ nhưng cũng vô cùng bi thương”, nó làm toát lên tầm vóc lớn lao của Phan Châu Trinh và những người đồng chí cộng sự trong quá trình lãnh đạo phong trào Bên cạnh đó là tác giả Đỗ Thị Hòa Hới với các công trình nghiên cứu đầy tâm huyết về tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh, trong đó tác giả đã làm nổi bật được quá trình hình thành và phát triển, mặt tích cực và hạn chế trong tư tưởng dân chủ của cụ Phan cũng như ý nghĩa to lớn của nó Tư tưởng của Phan Châu Trinh còn được nhiều học giả đưa ra phân tích và đánh giá cao trong các kì hội thảo khoa học về Phan Châu Trinh

nhân kỉ niệm ngày sinh của cụ Đó là nhận định của Nguyễn Đức Sự: “Trong

mấy thập kỷ đầu của thế kỷ này, tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh như một ánh hào quang rực rỡ” hay thạc sĩ Trần Mai Ước, Phó trưởng khoa

Lý luận chính trị, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM thì cho rằng: “những

tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh mang đậm tính nhân văn, nhân đạo”,

“là ngọn đèn soi sáng, là sự thức tỉnh cho dân tộc ta bước ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế hàng ngàn năm Nó có một vị trí xứng đáng trong lịch

sử tư tưởng Việt Nam, đặc biệt trong những năm đầu của thế kỷ XX”… Thậm

chí còn có ý kiến cho rằng chương trình cải cách của Phan Châu Trinh là một chương trình vĩ đại đang bị dở dang mà chúng ta hiện nay cần có trách nhiệm tiếp tục,…

Ngoài ra, một số tác giả không đi sâu vào nghiên cứu về tư tưởng hoặc hoạt động của Phan Châu Trinh mà dày công tập hợp những tư liệu về cuộc

Trang 9

đời, tác phẩm hoặc hoạt động cứu nước của cụ như Nguyễn Quang Thắng với

cuốn Phan Châu Trinh, cuộc đời và tác phẩm, Nguyễn Văn Dương với Tuyển tập Phan Châu Trinh; đặc biệt là tác phẩm Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, một công trình rất có giá trị do chính cháu ngoại của

Phan Châu Trinh là Lê Thị Kinh sưu tầm và biên soạn

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về Phan Châu Trinh cũng khá là

đồ sộ Tuy chưa có điều kiện để tiếp cận được nhiều nhưng những công trình được nêu ở trên đã giúp chúng tôi có có cái nhìn khác hơn về Phan Châu Trinh so với cách nhìn truyền thống và cung cấp những tư liệu quan trọng để chúng tôi hoàn thành được đề tài nghiên cứu của mình

2.2 Nghiên cứu về Phan Bội Châu

Trong lời tựa của tác phẩm “Phan Bội Châu toàn tập” do ông Chương Thâu sưu tầm và biên soạn, giáo sư Trần Văn Giàu viết: “Phan Bội Châu - nhà cách mạng dân tộc, nhà văn hóa yêu nước, nhà tư tưởng dân chủ lớn nhất Việt Nam đầu thế kỉ XX” Đây là một đánh giá tổng quát về Phan Bội Châu

Nhà sử học Tôn Quang Phiệt (1900-1973) trong tác phẩm “Phan Bội Châu và một giai đoạn lịch sử chống Pháp của nhân dân Việt Nam” đã viết:

“Chúng ta có thể nói rằng trong lịch sử giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trước Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu là một nhân vật vĩ đại”

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đánh giá Phan Bội Châu là “vị anh hùng, bậc thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập dân tộc được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng”

Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm cũng viết “Tìm hiểu Phan Bội Châu, chúng ta cố gắng khám phá ra một mảng thứ hai của ông, một mảng mà xưa nay chưa được chú ý đúng mức, đó là việc xây dựng một nước Việt Nam mới, từ xã hội nông nghiệp cổ truyền chuyển sang một xã hội công nghiệp hiện đại”

Tiến sĩ Davit G.Marr (người Mĩ) khi giới thiệu bản dịch “Ngục trung thư” của Phan Bội Châu do nhà xuất bản O.hio University ấn hành tại Mĩ năm

Trang 10

1988, có viết “sau hơn nửa thế kỉ can thiệp của Pháp, Nhật và Mỹ, người Việt Nam từ đây có thể thở không khí độc lập Điều đó một phần không nhỏ là do những tác phẩm dịch ở đây Phan Bội Châu từng giữ vai trò lãnh đạo ở chỗ hướng đầu óc tư duy con người rời khỏi những công thức chính trị cổ xưa và rời khỏi tình trạng bi quan của bản thân vì bị người Pháp cướp mất nước Ông kêu gọi mọi người hãy phóng mắt ra ngoài, và trước hết không để cho người Pháp thuyết phục rằng mình thua kém họ hay là cần phải có sự che chở của chính quyền thuộc địa Đây là một lập trường khó khăn, thậm chí nguy hiểm

để duy trì hơn 20 năm đầu thế kỉ XX ở Việt Nam”

Đó là một số trong nhiều ý kiến đánh giá về tầm vóc, công lao của Phan Bội Châu đối với dân tộc, trong đó có lĩnh vực tư tưởng mà đề tài đang nghiên cứu

Có những tác giả như Chương Thâu đã gắn gần trọn đời mình cho việc nghiên cứu Phan Bội Châu Ông đã có công sưu tập và cho in 10 tập “Phan Bội Châu toàn tập” với nội dung nói về thân thế và sự nghiệp của Phan Bội Châu Ông còn có một số công trình nghiên cứu sâu về tư tưởng cụ Phan trên

nhiều lĩnh vực, tiêu biểu là tác phẩm Phan Bội Châu, nhà yêu nước, nhà văn

hóa Ngoài ra, Chương Thâu đã dày công sưu tầm gần 100 bài báo, hồi ký,

sách khảo cứu về cụ Phan để biên soạn nên tập sách Phan Bội Châu trong

dòng thời đại(bình luận và hồi ức).Trong tác phẩm ấy, chúng tôi được tiếp

cận với nhiều ý kiến đánh giá về cụ Phan trên các lĩnh vực của các tên tuổi

nổi tiếng như: Tôn Quang Phiệt với bài Cụ Phan Bội Châu trong lịch sử giải

phóng dân tộc của chúng ta, Trần Huy Liệu với Sự nghiệp đấu tranh cứu nước của Phan Bội Châu, Đặng Thai Mai với Phan Bội Châu, con người của một thời đại, một xứ sở, Nguyễn Đăng Thục với Dân trị và quân trị - Hai chủ nghĩa, một tâm hồn, Võ Nguyên Giáp với Cụ Phan Bội Châu là một đấng thiên sứ, một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa lớn,…

Đặc biệt, chúng tôi còn được đọc bài viết của tác giả Nguyễn Văn Hòa

với nhan đề là Quan niệm của Phan Bội Châu về dân quyền đăng trên Tạp

Trang 11

chí Triết học năm 2008 Đây là một trong số ít bài viết chuyên khảo nghiên cứu về tư tưởng dân quyền của cụ Phan Bội Châu

Nhìn chung, khối lượng tác phẩm, báo chí trong và ngoài nước viết về Phan Bội Châu thật lớn Những công trình đó đã giúp cho chúng ta có cái nhìn toàn diện, đa chiều về tài năng của Phan Bội Châu trên nhiều lĩnh vực,

về con đường cứu nước của cụ, trong đó có tư tưởng dân quyền, một lĩnh vực

mà lâu nay chúng ta ít chú ý đến khi nói hay viết về cụ Phan

3 Đối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề dân quyền trong tư tưởng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào

nghiên cứu vấn đề trên thì luận văn sẽ khái quát về truyền thống dân chủ làng

xã Việt Nam và những nét cơ bản về tình hình Việt Nam đầu thế kỉ XX Tìm hiểu những vấn đề này sẽ giúp chúng ta hiểu được nội dung cốt lõi của đề tài

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn trình bày về bối cảnh lịch sử và xã hội của sự ra đời tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu - đó là giai đoạn đầu thế kỉ

XX Đây là cơ sở để chúng tôi có sự nhận định và có sự đánh giá đúng mức

về tư tưởng dân quyền của hai ông

Nhiệm vụ chính của luận văn là tập trung nghiên cứu sâu về các nhân

tố tác động dẫn đến việc hình thành tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh

và Phan Bội Châu, nội dung tư tưởng dân quyền của hai ông và giá trị lịch sử của nó trong lịch sử tư tưởng của dân tộc và phong trào yêu nước của nhân dân ta đầu thế kỉ

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung tìm hiểu tư tưởng dân

quyền của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu trong giai đoạn đầu thế kỉ XX, chủ yếu là thời kì hoạt động sôi nổi của hai ông từ 1905 - 1925

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử và phương pháp logic đồng thời sử dụng các thủ pháp chuyên ngành như sưu tầm, chọn lọc, xử lý số liệu, thống kê, đối chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp các nguồn tư liệu để có sự đánh giá chân thực, khách quan, khoa học

tư tưởng dân quyền của hai chí sĩ yêu nước nổi tiếng của Việt Nam đầu thế kỉ

XX Ngoài ra còn có một số phương pháp khác

5 Nguồn tư liệu

Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi lấy các nguồn tư liệu khác nhau ở:

- Thư viện tỉnh Nghệ An

- Thư viện Nguyễn Thúc Hào, trường Đại học Vinh

- Nhà lưu niệm và thư viện Phan Bội Châu ở thị trấn Nam Đàn

- Các tài liệu trên các báo điện tử Các nguồn tư liệu này gồm:

- Tài liệu gốc: Tuyển tập Phan Châu Trinh, 5 tập Phan Bội Châu toàn tập

- Tài liệu nghiên cứu: Các công trình khoa học bao gồm sách, các bài báo trên tạp chí khoa học, kỉ yếu hội thảo khoa học, luận án, luận văn

6 Đóng góp của đề tài

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến việc hình thành tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, những nét nổi bật (cả tích cực và hạn chế) trong tư tưởng dân quyền của hai ông

- Qua đó, luận văn cũng làm sáng tỏ vai trò của tư tưởng dân quyền của hai ông đối với lịch sử tư tưởng của dân tộc và phong trào yêu nước của nhân dân ta đầu thế kỉ XX

Trang 13

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Bối cảnh lịch sử và xã hội của sự ra đời tư tưởng dân quyền

của Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu Chương 2 Phan Châu Trinh với tư tưởng dân quyền Chương 3 Phan Bội Châu với tư tưởng dân quyền

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ XÃ HỘI CỦA SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG DÂN QUYỀN CỦA PHAN BỘI CHÂU VÀ PHAN CHÂU TRINH

1.1 Khái lược về dân quyền

Dân quyền là một khái niệm có nhiều định nghĩa khác nhau Trong một

bài diễn thuyết của mình, Tôn Trung Sơn, vị lãnh tụ vĩ đại của cuộc cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, người đề ra học thuyết Tam dân nổi tiếng đã

nay thì dân quyền chính là “quyền công dân” để phân biệt với nhân quyền là

“quyền con người” Quyền công dân là phạm trù triết học dùng để biểu thị mối quan hệ của cá nhân con người với quốc gia nơi mà người đó có quốc tịch Theo một nghĩa khái quát nhất, có thể hiểu quyền công dân là những lợi ích pháp lý được các nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho những người có quốc tịch của nước mình Có thể nói, quyền công dân không phải là hình thức toàn diện của quyền con người, nó có nội hàm hẹp hơn quyền con người Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với nhà nước, được xác định thông qua một chế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những quyền được pháp luật của một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng chủ yếu dành cho những người có quốc tịch của nước đó Không phải ai cũng được hưởng các quyền công dân của một quốc gia nhất định, và không phải hệ thống quyền công dân của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như đều hoàn toàn tương thích với hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người

Dân quyền hay quyền công dân không phải là quyền tự nhiên vốn có của con người mà là sản phẩm của những cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt

Trang 15

trong lịch sử nhân loại Có thể nói, dân quyền manh nha xuất hiện từ thời cổ đại, ở một số quốc gia Hi Lạp, Rô Ma mà tiêu biểu là thành bang A ten Thời

kì này công dân đã có quyền bầu cử ra những người đứng đầu bộ máy nhà nước, có quyền phát biểu ý kiến và biểu quyết những vấn đề quan trọng của quốc gia Đến thời cận đại, dân quyền mới trở thành khái niệm, được nhắc đến nhiều trong các cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng ở các nước Âu - Mĩ nhằm dọn đường cho các cuộc cách mạng tư sản Cách mạng tư sản thành công đã đưa con người từ địa vị thần dân trở thành công dân-với tư cách là những thành viên bình đẳng trong một nhà nước, và pháp chế hóa các quyền

nhân loại tiến bộ không ngừng tiến hành những cuộc đấu tranh bảo vệ nhân quyền và dân quyền

Ở Việt Nam, vấn đề dân quyền xuất hiện trên diễn đàn chính trị nước nhà bắt đầu từ đầu thế kỉ XX Nó gắn liền với tên tuổi của bộ phận nhỏ sĩ phu phong kiến yêu nước tiến bộ đã tiếp thu tư tưởng tư sản qua các tân thư, tân văn và khởi xướng nên khuynh hướng cứu nước dân chủ tư sản ở nước ta Tiểu biểu trong bộ phận sĩ phu đó chính là Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu, hai chiến sĩ tiên phong trong việc khởi xướng dân quyền

1.2 Vài nét về truyền thống dân chủ làng xã của nhân dân Việt Nam

Vấn đề dân quyền mới được xuất hiện trên diễn đàn chính trị nước ta vào đầu thế kỉ XX nhưng ý thức của nhân dân Việt Nam về quyền của mình trong việc tham gia giải quyết những vấn đề trọng đại của đất nước thì lại có

từ lâu đời trong lịch sử Việt Nam Chính việc thường xuyên phải đối mặt với thiên tai, địch họa trong quá trình dựng nước và giữ nước đã hình thành nên ý thức đó Mặc dù Việt Nam thời cổ-trung đại chưa bao giờ hình thành thể chế nhà nước dân chủ nhưng ngay từ buổi đầu dựng nước, trong các làng xã, nhân dân ta đã sớm cố kết với nhau, tự tổ chức lấy đời sống của mình, tạo nên tính

Trang 16

tự trị của làng xã Trong mỗi làng xã đều có những tục lệ riêng của làng mình Tục lệ đó đó chi phối sâu sắc đời sống tình cảm và hành động của mỗi người dân trong làng xã ấy Nó có sức mạnh lớn đến mức nhiều lúc “phép vua” thua

cả “lệ làng” Điều đó được chứng minh trong bộ luật Hồng Đức thời nhà Lê, một số phong tục tập quán dưới dạng luật tục dân gian có hiệu lực lâu đời khiến nhà nước phải công nhận và pháp chế hoá thành những điều luật của Nhà nước phong kiến Lệ làng ít nhiều phản ánh tính chất dân chủ công xã

Nó được biểu thị trong mối quan hệ tương đối bình đẳng giữa các thành viên trong việc chia ruộng đất công và trong các sinh hoạt cộng đồng, trong sự tôn trọng người già bất cứ thuộc đẳng cấp nào, trong việc thừa nhận vai trò to lớn của người mẹ và người phụ nữ trong đời sống gia đình và làng xã Lệ làng trở thành chỗ dựa để nhân dân đứng lên chống lại sự áp bức bất công của giới

cầm quyền, hình thành nên tư tưởng bình đẳng “được làm vua, thua làm

giặc”, “bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa”, “quan

có cần nhưng dân không vội” Tính dân chủ làng xã đó còn thể hiện trong

khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo” trong phong trào nông dân Tây Sơn và nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân khác

Chính thực tế ấy đã làm cho giới cầm quyền của các triều đại Việt Nam

ý thức được rằng: Muốn chống được thiên tai địch họa để bảo vệ đất nước và

lợi ích của chính giai cấp mình thì phải biết dựa vào dân “khoan thư sức dân

để làm kế sâu rễ, bền gốc” là “thượng sách để giữ nước” (Trần Hưng Đạo),

“việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Nguyễn Trãi) Chính tinh thần dân chủ của

nhân dân được nhà Trần phát huy tại hội nghị Diên Hồng, hội nghị Bình Than

đã tạo nên sức mạnh to lớn để nước Đại Việt ta 3 lần đủ sức chiến thắng quân Mông - Nguyên hung bạo Đó cũng là cội nguồn sức mạnh để làm nên những chiến công khác thời Ngô, Đinh,Tiền Lê, Lí, Đến thời nhà Hồ dù có thành cao, hào sâu, quân đội mạnh, vũ khí tốt nhưng vì thiếu sức mạnh của lòng dân

Trang 17

nên cuộc kháng chiến chống Minh đành thất bại Không biết phát huy sức mạnh đoàn kết, tinh thần dân chủ của nhân dân cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhà Nguyễn đầu hàng, để nước ta rơi vào ách thống trị của Pháp năm 1884

Như vậy, thời cổ - trung đại, dù ở nước ta chưa hình thành chế độ dân quyền nhưng đã sớm hình thành truyền thống dân chủ trong các làng xã tuy

nó còn gắn liền với tính cục bộ, địa phương của công xã và những hẹp hòi của các hình thức dân chủ công xã Công xã chỉ thừa nhận quyền bình đẳng và dân chủ giữa các thành viên khi họ là thành viên của công xã, là bộ phận tạo thành của cộng đồng, nhưng hoàn toàn không công nhận quyền của cá nhân, của con người với tư cách là một thực thể độc lập Dân chủ công xã không dựa trên sự giải phóng con người và tôn trọng quyền của con người, mà trói chặt con người trong quan hệ cộng đồng và chỉ bảo đảm quyền lợi bình đẳng của con người với tư cách là thành viên của cộng đồng Tuy vậy, những tư tưởng dân chủ sơ khai trong làng xã này cũng có thể xem là yếu tố truyền thống góp phần hình thành nên tư tưởng dân chủ, dân quyền ở nước ta đầu thế

kỉ XX

1.3 Bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX

1.3.1 Phong trào Cần Vương thất bại và sự chấm dứt của ngọn cờ cứu nước theo hệ ý thức phong kiến

Sau hiệp ước Patơnốt, mặc dù Pháp đã chiếm được nước ta nhưng phong trào yêu nước chống Pháp vẫn tiếp tục diễn ra sôi nổi Sau cuộc phản công ở kinh thành Huế(7.1885) thất bại, phái chủ chiến trong triều đình dựa vào sự ủng hộ của nhân dân đã phát động phong trào Cần Vương, kêu gọi văn thân sĩ phu cùng với nhân dân phò vua cứu nước Đây là phong trào do vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết cùng các văn thân, sĩ phu lãnh đạo theo hệ ý thức phong kiến Phong trào kéo dài hơn 10 năm, diễn ra trên quy mô cả nước

Trang 18

với những trung tâm khởi nghĩa lớn như Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê nhưng cuối cùng cũng bị thất bại Cùng với sự thất bại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884) do vương triều Nguyễn lãnh đạo, sự kết thúc của phong trào Cần Vương lần này đã cho thấy ngọn cờ phong kiến không còn đủ khả năng để lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi Phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam lâm vào khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước Lịch sử đặt ra yêu cầu cần tìm ra một con đường cứu nước mới cho dân tộc Việt Nam Làm thế nào và đi theo con đường cứu nước nào? Đó vừa là câu hỏi, vừa là động lực thúc giục các sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX mạnh dạn tiếp thu những khuynh hướng tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài dội vào

1.3.2 Việt Nam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến

Cuối thế kỉ XIX, sau khi chiếm được Việt Nam, Pháp thực hiện chính sách chia để trị, chia nước ta thành ba kì với ba tên gọi khác nhau: Nam Kì là

xứ thuộc địa, Bắc Kì là đất nửa bảo hộ, Trung Kì là đất bảo hộ Sau đó nó sáp nhập ba kì của Việt Nam cùng Lào và Cao Miên vào Liên bang Đông Dương Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ thế giới

Cùng với việc thành lập Liên bang Đông Dương, Pháp bắt đầu thực hiện chế độ toàn quyền Đứng đầu liên bang Đông Dương là một viên chức cao cấp người Pháp, gọi là toàn quyền Đông Dương Giúp việc cho Toàn quyền Đông Dương có Hội đồng tối cao Đông Dương và một số tổ chức phụ trách các công việc thuộc các ngành chức năng như chính trị, kinh tế, giáo dục… Triều đình phong kiến nhà Nguyễn vẫn được duy trì với danh nghĩa là quản lí vùng đất Trung Kì nhưng trên thực tế, đại diện của Pháp ở Huế trực tiếp điều khiển các công việc ở Trung Kì; mọi việc giao thiệp của Việt Nam với nước ngoài (kể cả Trung Quốc) đều do Pháp nắm giữ Như vậy, thế lực phong kiến chỉ là lực lượng bù nhìn, làm tay sai cho Pháp

Trang 19

Về kinh tế, từ năm 1897, Pháp bắt đầu tiến hành khai thác chương trình thuộc địa lần thứ nhất ở Việt Nam Chúng tăng cường cướp đoạt ruộng đất, đầu tư khai thác mỏ và xây dựng cơ sở hạ tầng Bên cạnh việc duy trì hình thức bóc lột kiểu phong kiến, thông qua hầm mỏ, nhà máy, đồn điền, Pháp còn thực hiện thêm hình thức bóc lột kiểu tư bản chủ nghĩa Đời sống nhân dân Việt Nam điêu đứng, cực khổ, kinh tế Việt Nam phát triển què quặt, phiến diện, ngày càng lệ thuộc vào kinh tế Pháp

Về văn hóa - giáo dục, đầu tiên Pháp muốn lợi dụng nền giáo dục Nho học phong kiến với chế độ khoa cử lỗi thời để giam hãm nhân dân ta trong vòng

u tối, lạc hậu Tuy nhiên nền giáo dục này lại nuôi dưỡng đội ngũ văn thân, sĩ phu có khí tiết và lòng tự tôn dân tộc sâu sắc, có sức phản kháng mạnh mẽ, lãnh đạo nhân dân chống lại thực dân Pháp Chính vì vậy, năm 1906, Pháp tiến hành cải cách giáo dục, xây dựng nền giáo dục Pháp - Việt Năm 1919, Pháp hủy bỏ hoàn toàn nền giáo dục Nho học, xây dựng nền giáo dục của thực dân nhằm đào tạo đội ngũ trí thức làm tay sai cho Pháp đồng thời truyền bá tư tưởng, sách báo phản động nhằm nô dịch nhân dân Việt Nam

Với những chính sách nói trên, xã hội Việt Nam thực sự trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Chế độ quân quyền ở Việt Nam về cơ bản đã chấm dứt Nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho nhân dân Việt Nam lúc này là vừa phải đứng lên chống Pháp vừa phải đánh đổ thế lực phong kiến tay sai để để giành độc lập và đem lại dân chủ, dân quyền cho nhân dân Muốn giải quyết được những nhiệm vụ này thì rõ ràng các nhà yêu nước Việt Nam không thể dựa vào con đường cứu nước cũ của cha ông mà phải hướng ra bên ngoài tìm con đường cứu nước mới

1.3.3 Sự biến chuyển trong xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX

Do chính sách thống trị và khai thác nói trên của Pháp, xã hội Việt Nam từ đầu thế kỉ XX bắt đầu có sự thay đổi nhanh chóng

Trang 20

Các giai cấp cũ phân hóa Một bộ phận lớn trong giai cấp địa chủ được thực dân Pháp nâng đỡ nên thế lực kinh tế và chính trị của chúng ngày càng tăng lên Bộ phận địa chủ vừa và nhỏ còn lại bị thực dân và đại địa chủ chèn

ép nên ít nhiều có tinh thần chống Pháp

Giai cấp nông dân bị bần cùng hoá do mất hết ruộng đất và phải chịu cảnh sưu cao, thuế nặng Một bộ phận đã phải đi vào các đồn điền, hầm mỏ,

xí nghiệp làm thuê cho tư bản Pháp và trở thành công nhân Nhìn chung, do

bị áp bức nặng nề nên nông dân là giai cấp hăng hái tham gia các phong trào chống thực dân và phong kiến

Bên cạnh các giai cấp cũ, một số giai cấp và tầng lớp mới ra đời, đầu tiên là giai cấp công nhân Do bị tư bản Pháp bóc lột tàn bạo nên họ sớm đứng lên đấu tranh Tuy nhiên, giai đoạn này, cuộc đấu tranh của công nhân còn mang tự phát, công nhân chưa ý thức được mình là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Ngoài giai cấp công nhân, còn xuất hiện tầng lớp tư sản và tiểu tư sản thành thị Ngay từ đầu thế kỉ XX, đã có một lớp người đứng ra hoạt động công thương nghiệp, kêu gọi mở cửa hiệu buôn bán hoặc lập xưởng sản xuất

Đó là bộ phận đầu tiên của tầng lớp tư sản dân tộc Vì bị thực dân Pháp chèn

ép nặng nề nên tư sản Việt Nam phát triển chậm chạp về mọi mặt: số lượng ít, tiềm lực kinh tế - chính trị yếu ớt Mãi đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất,

tư sản Việt Nam mới thực sự trở thành một giai cấp

Tiểu tư sản xuất hiện xuất hiện cùng thời điểm với tầng lớp tư sản và cũng trở thành giai cấp sau chiến tranh thế giới thứ nhất Tiểu tư sản bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên… Địa bàn cư trú của họ chủ yếu là ở đô thị Họ luôn bị thực dân Pháp chèn ép, bạc đãi, khinh rẻ, cuộc sống bấp bênh nên có tinh thần chống Pháp Trong giai cấp tiểu tư sản thì bộ phận trí thức (gồm trí thức Nho học và trí

Trang 21

thức Tây học) do có trình độ và khá nhạy cảm với thời cuộc nên có vị trí hết sức quan trọng trong phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, ở giai đoạn này, tiểu tư sản cũng mới chỉ là một tầng lớp như tư sản nên chưa thể đứng lên đảm đương sứ mệnh mà lịch sử đặt ra

1.4 Tình hình thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam

Giai đoạn cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, trong khu vực Châu Á diễn

ra dồn dập nhiều sự kiện mà Lê Nin gọi đây là “Châu Á thức tỉnh” Đó là khái niệm mà Lênin muốn dùng chỉ những trào lưu tư tưởng muốn thoát khỏi chế

độ phong kiến để vươn tới những nền văn minh mới ở Châu Âu Phong trào

ấy bắt đầu ở Nga với xu hướng cải tổ nhằm thủ tiêu chế độ Nga Sa hoàng, thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa ở Nga Sau đó trào lưu tư tưởng này xuất hiện ở các nước Nhật Bản, Xiêm, Trung Quốc, trở thành một trào lưu cứu nước mới của các dân tộc châu Á

Ở Việt Nam, các nhà yêu nước tiếp thu tư tưởng mới này chủ yếu từ Nhật Bản và Trung Quốc.Trước hết tấm gương tự cường của Nhật Bản đã làm cho các sĩ phu Nho học trẻ Việt Nam ngưỡng mộ Đặc biệt, sự kiện Nhật, một nước châu Á da vàng, đánh thắng đế quốc da trắng Nga (1904), làm cho Nhật Bản trở thành một hiện tượng của châu Á, được nhân dân Châu Á tôn làm

“anh cả” của các dân tộc da vàng ở châu lục này Nhiều dân tộc bị áp bức ở châu Á, trong đó có Việt Nam, đều hướng về Nhật Họ muốn học tập theo tấm gương Nhật Bản và cũng mong muốn nhận được sự giúp đỡ của Nhật Bản trong sự nghiệp đấu tranh chống đế quốc phương Tây

Ngoài Nhật Bản, trong thời kì này, các sự kiện của Trung Quốc cũng liên tục tác động đến nước ta Đối với Việt Nam, Trung Quốc là một nước láng giềng lớn có chung hệ tư tưởng Nho giáo, là một nước “đồng bệnh” Nhân dân Trung Quốc cũng phải tiến hành cuộc đấu tranh nhằm đưa nước mình thoát khỏi sự lệ thuộc các đế quốc và sự thống trị của phong kiến Họ

Trang 22

đã tiếp nhận tư tưởng dân chủ tư sản, học tập các cuộc cách mạng tư sản ở phương Tây đưa phong trào đấu tranh của họ đi theo khuynh hướng dân chủ

tư sản Tiêu biểu là cuộc vận động biến pháp của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (1898) nhằm biến Trung Quốc thành nước quân chủ lập hiến hay cuộc cách mạng Tân Hợi(1911) do Tôn Trung Sơn lãnh đạo đã lật đổ chế độ phong kiến Mãn Thanh, thiết lập nền cộng hoà tư sản

Đầu thế kỉ XX, những sự kiện trên cùng với các tân thư, tân văn từ Trung Quốc đã bắt đầu thổi vào Việt Nam một luồng gió mới Lực lượng đón nhận luồng gió này không phải là các giai cấp, tầng lớp mới trong xã hội mà vẫn là các sĩ phu yêu nước Tân thư, tân văn thực sự hấp dẫn họ Các sĩ phu say mê Tân Thư không phải là để thỏa mãn lòng yêu thích cái mới lạ, mà là

để tìm phương sách giải quyết vấn đề dân tộc Qua các tân thư, tân văn, các sĩ phu thấy khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản là con đường cứu nước mới mà Việt Nam cần lựa chọn Họ bắt đầu hướng ra bên ngoài để tiếp nhận khuynh hướng cứu nước này Có thể nói, luồng tư tưởng tư sản qua các tân thư, tân văn dội vào Việt Nam chính là cơ sở lí luận cho tư tưởng dân quyền của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đầu thế kỉ XX

1.5 Các xu hướng tư tưởng của Việt Nam đầu thế kỉ XX

Như trên đã nói, đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam đã trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội bên trong kết hợp với sự tác động của các nhân tố bên ngoài kéo theo sự biến đổi của hệ tư tưởng ở Việt Nam, hình thành nên các nhóm tư tưởng sau đây:

Nhóm tư tưởng bảo thủ:

Trước sự biến đổi nhanh chóng trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của Việt Nam đầu thế kỉ XX, nhóm này không có khả năng thích ứng với thực tiễn sôi động, từ chối mọi sự vận động biến đổi Họ muốn giữ nguyên các nguyên lí, mệnh đề đã từng làm cốt lõi của hệ tư tưởng phong kiến lạc

Trang 23

hậu, trung thành mù quáng với tư tưởng chuyên chế cũ, tin theo một cách máy móc, dập khuôn những giáo lí của Nho giáo Thực dân Pháp lợi dụng tư tưởng này để kìm hãm nhân dân ta trong vòng ngu dốt, lạc hậu, làm mất sức đề kháng, mất khả năng nhận thức chân lý của nhân dân để dễ bề thống trị Tư tưởng này thành lực cản sự phát triển của tư tưởng dân tộc, ngăn cản mọi sự đổi mới, tiến bộ

Nhóm tư tưởng phủ nhận quá khứ:

Đây là tư tưởng của một bộ phận trí thức Tây học, sản phẩm đào tạo của nền giáo dục Pháp - Việt mà Pháp xây dựng ở Việt Nam Lực lượng này đòi phủ nhận quá khứ, mau chóng quên đi quá khứ vẻ vang của dân tộc Họ hướng ngoại một cách mù quáng, sùng bái Phương Tây một cách vô lối Tư tưởng này muốn nhân dân bằng lòng với địa vị nô lệ thực dân Đây cũng là lực lượng ngăn cản sự phát triển của lịch sử tư tưởng dân tộc, cản trở phong trào yêu nước chống Pháp giành độc lập của nhân dân ta

Tư tưởng mới của các sĩ phu phong kiến tiến bộ:

Trong cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân phải sống cuộc sống lầm than

nô lệ, có một bộ phận không nhỏ sĩ phu yêu nước đã ngày đêm trăn trở, tìm con đường giải phóng dân tộc Trước bối cảnh lịch sử đầy biến động đầu thế

kỉ XX, họ đủ tỉnh táo chấp nhận hiện thực khách quan Từ đó, trên cơ sở phát huy những giá trị tư tưởng truyền thống tốt đẹp của dân tộc, họ vươn tới tiếp nhận luồng tư tưởng tư sản qua các tân thư, tân văn và tìm cách đưa nó đến với nhân dân Việt Nam, chấp nhận hi sinh, gian khổ Họ đã có sự suy tính, cân nhắc, đưa thêm những giá trị mới vào tư tưởng dân tộc cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam Mặc dù có những hạn chế không thể tránh khỏi do những quy định của lịch sử và giai cấp nhưng các sĩ phu phong kiến tiến bộ này thực sự đã góp phần nâng tư tưởng dân tộc lên một trình độ mới

Do điều kiện lịch sử và hạn chế giai cấp, con đường cứu nước của các

cụ còn chia làm hai xu hướng khác nhau:

Trang 24

Xu hướng thứ nhất do Phan Bội Châu đứng đầu chủ trương đoàn kết nhân dân bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc kết hợp với canh tân xã hội để nâng cao dân trí, dân khí

Xu hướng thứ hai do Phan Châu Trinh khởi xướng chủ trương dựa vào Pháp đánh đổ phong kiến và tiến hành canh tân xã hội, noi theo phương Tây

tự cường dân tộc, sau đó giành độc lập

Tuy chia thành hai xu hướng nhưng giữa hai xu hướng này luôn có mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau Đồng thời cả hai đều hướng đến mục tiêu

là không những đánh Pháp, giành độc lập dân tộc mà còn chủ trương lật đổ chế độ phong kiến để đưa Việt Nam sang một chế độ mới mang lại dân chủ cho nhân dân, theo gương Âu - Mĩ, Nhật Bản, Trung Quốc Trong nội dung dân chủ mà hai xu hướng này đề cập đến, nội dung cốt lõi là vấn đề dân quyền mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau

Nói tóm lại, vào đầu thế kỉ XX, sau khi bình định được Việt Nam, Pháp tăng cường ách thống trị và bắt đầu khai thác nước ta Phong trào yêu nước chống Pháp theo hệ ý thức phong kiến thất bại, cuộc đấu tranh của nhân dân ta rơi vào tình trạng bế tắc về đường lối Trong bối cảnh đó, luồng tư tưởng tư sản qua các tân thư, tân văn đã tràn vào nước ta Xã hội Việt Nam lúc này đã hình thành các giai tầng mới nhưng còn non yếu, chưa đủ sức đón nhận luồng tư tưởng đó để gánh vác nhiệm vụ mà lịch sử giao phó Vì vậy, một bộ phận sĩ phu yêu nước tiến bộ phải tiếp tục đứng lên tiếp thu tư tưởng mới, lãnh đạo phong trào yêu nước Việt Nam đi theo khuynh hướng dân chủ

tư sản Tiêu biểu cho bộ phận sĩ phu này là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, hai chí sĩ yêu nước được lịch sử đánh giá là hai ngôi sao sáng nhất trên bầu trời cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX Tuy đường lối cứu nước khác nhau nhưng trong quá trình hoạt động cách mạng, hai ông đều có công truyền

bá tư tưởng dân quyền đến với nhân dân Việt Nam, tạo nên nét đặc sắc trong

tư tưởng dân tộc đầu thế kỉ XX

Trang 25

Chương 2 PHAN CHÂU TRINH VỚI TƯ TƯỞNG DÂN QUYỀN

2.1 Những điều kiện dẫn đến sự hình thành tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh là một trí thức Nho học, sản phẩm của nền giáo dục khoa cử thời phong kiến nhưng lại là người đề xướng tư tưởng dân quyền sớm nhất và lớn nhất nước ta Đây là hiện tượng lịch sử phản ánh buổi giao thời trong tư tưởng dân tộc Việt Nam ở đầu thế kỉ XX Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh, chúng ta không thể không đề cập đến những điều kiện chủ quan và khách quan dẫn đến sự hình thành nó, khiến cho

tư tưởng của ông vừa mang dấu ấn thời đại vừa chứa đựng nét riêng Nếu như tiền đề khách quan quy định nội dung tư tưởng thì tính chất và mức độ của nội dung này lại phụ thuộc vào năng lực chủ quan của con người cụ thể là Phan Châu Trinh

2.1.1 Điều kiện chủ quan

Phan Châu Trinh tự là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh ngày 9.9.1872 tại làng Tây Lộc, xã Tam Phước nay là xã Tam Lộc, Tam Kỳ, Tỉnh Quảng Nam Ông lớn lên trong tình trạng đất nước đang bị Pháp xâm chiếm Mẹ là Lê Thị Trung, một người có học Cha là Phan Văn Bình tham gia phong trào Cần Vương, làm chức quan trông coi việc quân lương Thuở niên thiếu, Phan Châu Trinh thường theo cha tập luyện võ nghệ cùng nghĩa quân Cần Vương Vì thế, ông được tận mắt chứng kiến nhiều tấm gương hi sinh anh dũng của nghĩa quân Trong thời gian này đã xảy ra một biến cố lớn của gia đình đã ảnh hưởng khá nhiều đến tư tưởng, tình cảm của ông: Cha ông

- Phan Văn Bình - đột ngột bị ám hại Sự kiện này khiến Phan Châu Trinh rời khỏi căn cứ của nghĩa quân với nhiều trăn trở Nó đã cho ông thấy được mặt

Trang 26

trái của phong trào Cần Vương Chúng tôi nghĩ đây cũng là một trong những

lí do khiến cho Phan Châu Trinh sau này kịch liệt phản đối bạo động, chủ trương chống Pháp bằng con đường ôn hòa

Về ở với anh trai là Phan Văn Cừ, ông dành thời gian chú tâm vào con đường học hành, thi cử Với học vấn rộng, Phan Châu Trinh đã đậu cử nhân năm 1900 và đậu phó bảng năm 1901 Đây cũng là thời kì ông kết giao rộng, nhất là giai đoạn ông được lên học trường tỉnh với đốc học Trần Đình Phong Nghe ai tài giỏi hoặc có gì khác lạ, ông tìm đến tiếp xúc, biện luận Ông đã kết thân với Ngô Đức Kế và Nguyễn Sinh Sắc, những người cùng thi Hội cùng ông năm 1901 Với chí hướng muốn cứu nước, giúp đời, sau khi đậu phó bảng, Phan Châu Trinh đã ra nhậm chức ở Huế, làm quan thừa biện bộ

Lễ Nhưng chốn quan trường cũng làm ông thất vọng, chán nản Hóa là làm quan không phải là để phò vua giúp nước mà suốt ngày nịnh nọt lấy lòng quan trên để vinh thân phì gia mà thôi Một người có tính ngang tàng, khí khái như Phan Châu Trinh, tất nhiên không thể chấp nhận được điều này Ông

đã vẽ ra bức tranh của chốn quan trường:

“… Một ông tướng lác đứng trong cung

Sĩ tượng khoanh tay chẵng vẫy vùng… ”[12; 44]

Mấy thằng hiệu đói đứng khoanh tay… ” [12; 44]

Càng tiếp xúc nhiều với chốn quan trường, ông càng thấy sự thối nát,

hủ bại của con đường cử nghiệp Là người có trách nhiệm với đất nước nhưng

ở chốn quan trường ông không thể phát huy và cũng không thể tìm được được người đồng thanh, đồng khí nên Phan Châu Trinh cảm thấy mình là một người bất đắc chí Tuy vậy, ông vẫn hoài trăn trở về trách nhiệm của người trí thức trước non sông, đất nước:

Làm trai trót gánh gánh giang san Dám nại xa xôi bỏ giữa đàng [ 12; 42]

Trang 27

Chính sự suy tư trăn trở này trở thành động lực thúc đẩy ông đi tìm con đường cứu nước mới

Có thể nói, tiểu sử của Phan Châu Trinh trong giai đoạn này đã hé mở chúng ta phần nào lí do ông đi theo chủ nghĩa dân quyền Trong bối cảnh Phan Châu Trinh đang vô vọng với con đường vũ trang chống Pháp của phong trào Cần Vương và thất vọng với cả đám quan lại chốn Nam Triều, không có gì ngạc nhiên khi bắt gặp Tân thư, tân văn, ông đã say mê và giương cao ngọn cờ Duy tân cứu nước

Truyền thống quê hương cũng ảnh hưởng đến tư tưởng cứu nước của Phan Châu Trinh Ông sinh ra ở Quảng Nam Đây là vùng đất có địa thế rất

lạ, gồm có những hai cửa bể cực kì quan trọng là Hội An và Cửa Hàn (Đà Nẵng) Hai cửa bể này là nơi lui tới của nhiều tàu buồm ngoại quốc Nhất là Hội An đóng vai trò là hải cảng số một của Đàng Trong, nằm trên trục đường giao thông quốc tế lúc bấy giờ Chính vị thế đặc biệt này đã giúp cho nhân dân Quảng Nam không chỉ phát triển kinh tế thương mại mà còn sớm thu nhận được nhiều luồng tư tưởng bên ngoài mang đến Nó tạo nên cho người dân Quảng nam một tính cách phóng khoáng, cởi mở, dễ tiếp thu cái mới Tính cách ấy có ít nhiều trong bản thân con người Phan Châu Trinh, góp phần đưa ông tìm đến với tư tưởng dân chủ tư sản để trở thành nhà tư tưởng dân chủ sớm nhất, lớn nhất Việt Nam đầu thế kỉ XX Chính đặc điểm của quê hương như vậy mà Phan Châu Trinh đã chọn nơi đây là nơi xuất phát và là căn cứ chính của phong trào Duy tân do ông phát động

2.1.2 Điều kiện khách quan

Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, Phan Châu Trinh sinh ra và lớn lên trong thời nước nhà loạn lạc Sự thất bại của cuộc kháng chiến chống Pháp do nhà Nguyễn lãnh đạo và phong trào Cần Vương đã cho thấy sự suy tàn, bất lực của giai cấp phong kiến và hệ tư tưởng của nó trước nhiệm vụ lịch

Trang 28

sử Bối cảnh đó đã tạo điều kiện cho các tân thư, tân văn được dịch sang chữ Hán từ Trung Quốc, Nhật Bản tràn vào nước ta Ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX cũng xuất hiện các tác phẩm của nhiều nhà canh tân nổi tiếng như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ… Trong thời gian đi thi và làm quan tại kinh đô, với tính cách thích giao lưu, ham thích hiểu biết, nhất là những chuyện mới lạ, Phan Châu Trinh sớm được đọc những sách báo mới

đó, đầu tiên có lẽ là cuốn “Thiên hạ đại thế luận” của Nguyễn Lộ Trạch, sau

đó là các tác phẩm của Lương Khải Siêu và các nhà khai sáng nước Pháp như Rousseau, Montesquieu, Vonltaire,… Tinh thần chung của các tân thư ấy là phê phán sự hủ bại, thối nát của xã hội phong kiến, ca tụng văn minh Âu -

Mỹ, hô hào học theo Âu - Mỹ Những sách báo mới này đến thật đúng lúc và

đã tác động lớn đến tư tưởng của Phan Châu Trinh khi ông đang bế tắc về con đường cứu nước: “như trận gió mát thấu vào trong óc, thổi sạch cả những đám mây mù che đậy thuở nay” [12; 46] Những băn khoăn day dứt trong ông được giải tỏa Ông coi đây sự kiện đánh dấu bước ngoặt về tư tưởng của mình Trong cuốn “Pháp - Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam”, ông bộc lộ: Đến khi tôi đọc được sách mới năm Nhâm Dần (1902) ông Đào Nguyên Phổ tặng) thì lấy làm sướng quá nói: Đây là lúc dùng cái khùng, cái ngu này vậy… Tôi lấy cái ngu cái cuồng của tôi mà làm cái thằng cuồng thằng ngu, chưa chắc đã không chút bổ ích gì cho quốc dân [12; 45] Những sách báo mới đã

mở cho Phan Châu Trinh một con đường cứu nước mới mà suốt phần đời còn lại ông kiên trì theo đuổi nó: Con đường cải cách theo khuynh hướng dân chủ

tư sản Trong chương trình cải cách của ông sau này có bóng dáng tư tưởng canh tân của Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ nhưng được nâng cao hơn, bổ sung nội dung mới hợp với thời đại lúc đó

Tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh được hình thành từ khi ông đọc các tân thư, tân văn và nó tiếp tục được bổ sung đầy đủ hơn là thông qua

Trang 29

các chuyến khảo sát thực tế của ông ở Nhật Bản và Pháp Năm 1905, do tác động của tổ chức Duy Tân hội (mà Phan Bội Châu là người đứng đầu), trong nhân dân ta đang nảy sinh tâm lí cầu viện Nhật Bản để đánh Pháp Phan Châu Trinh vốn không tin tưởng vào lòng tốt vô tư của Nhật nên điều này khiến ông hết sức lo lắng Ông quyết định đi sang Nhật Mục đích sang Nhật của ông như lời Ngô Đức Kế thuật lại là: Trước xem dân tộc Nhật Bản tấn tới thế nào, sau đó để gặp ông Phan Bội Châu mà bàn định cái phương châm về việc nước[ 12; 63] Sang Nhật, ông đã cùng Phan Bội Châu đi các trường học, khảo sát những công việc chính trị giáo dục của Nhật Bản, chú ý xem xét kỹ các việc mở mang dân trí, thực hiện quyền dân, xây dựng tư cách con người của Nhật Bản Phan Châu Trinh thấy rõ Nhật đã chú trọng phát triển một cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục, cả quốc lập lẫn dân lập, có nhiều biện pháp nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài song song với phát triển kinh tế quốc dân, nhờ đó

mà nhanh chóng trở thành cường quốc Ông và Phan Bội Châu cũng hết sức tâm đắc và cảm phục trình độ dân trí và dân khí của người Nhật Họ đều có tinh thần tự tôn dân tộc, tự giác giữ kỉ luật, đúng là có tư cách đáng quý của người dân nước độc lập Phan Châu Trinh còn được Phan Bội Châu cho xem các thủ bút của Lương Khải Siêu qua bút đàm, ông rất thấm thía lời khuyên của Lương Khải Siêu, nhất là việc nhấn mạnh thực lực trong nước gồm dân trí, dân khí, nhân tài Mặt khác, trong thời gian ở Nhật, ông cũng thấy được sức mạnh và tham vọng của Nhật Bản, một đế quốc trẻ đang trên đà phát triển

đi lên ở Châu Á Những hiểu biết thực tiễn đó khiến cho Phan Châu Trinh sau khi đi Nhật về, nhìn lại trình độ dân trí non yếu của dân ta, càng không tán thành con đường bạo động và cầu viện của Phan Bội Châu Đồng thời ông càng quyết tâm theo đuổi đường lối duy tân của mình Ông cho rằng, Nhật Bản hùng cường được là nhờ học hỏi các nước Phương Tây Sức ta còn yếu nên cũng phải cố gắng nhịn nhục học hỏi các nước để tự cường, sau đó dần đi

Trang 30

tới độc lập Và Phan Châu Trinh đã vận dụng những điều mình học hỏi được

ở Nhật đem ra thực hành trong phong trào Duy tân mà ông phát động

Không chỉ đến Nhật, Phan Châu Trinh còn có chuyến sang 1925) sau khi ra khỏi nhà tù Côn Đảo Trong thời gian dài hơn 10 năm sống ở Pháp, Phan Châu Trinh trực tiếp được tiếp xúc với đời sống chính trị - xã hội Pháp, tiếp xúc với nền văn minh Phương Tây nên nhận thức của ông về vấn

Pháp(1911-đề dân chủ, dân quyền được nâng lên rất nhiều Những hiểu biết mới đó được

ông thể hiện qua bài diễn thuyết cuối cùng của mình:Quân trị chủ nghĩa và

dân trị chủ nghĩa Nội dung bài diễn thuyết đã đánh dấu bước phát triển trong

tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh Đáng tiếc là ông không còn có thời gian để tiếp tục con đường cải cách mà ông đã lựa chọn và suốt đời kiến trì theo đuổi

2.2 Tư tưởng dân quyền của Phan Châu Trinh

Phan Châu Trinh không chỉ là người đề xướng dân quyền sớm nhất và lớn nhất nước ta mà đấu tranh đòi lại dân quyền cũng là mục đích lớn lao trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Cũng giống như Phan Bội Châu

và một số nhà yêu nước cùng thời, Phan Châu Trinh nhìn thấy được sự thống trị thối nát của chế độ phong kiến nhà Nguyễn đã làm cho nước ta suy yếu, không đủ sức chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp Nhưng khác với nhiều người, Phan Châu Trinh còn nhìn thấy chúng ta mất nước không chỉ vì sự thua kém kẻ thù về phương tiện, vũ khí mà quan trọng hơn là

sự thấp thua về trình độ văn hóa Có thể nói ông là người đầu tiên nhận ra phương Tây, không chỉ có trình độ kỹ thuật tiên tiến mà các nhà canh tân trước đó như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, đã thấy và từng lo lắng,

mà là một phương Tây văn hóa, văn minh, khác hẳn và cao hơn cái thế giới hạn hẹp phương Đông mà dân tộc ta vẫn còn đắm chìm trong đó Văn hóa Việt Nam lạc hậu cả một thời đại so với thế giới văn minh rộng lớn toàn cầu

Trang 31

Từ đó, ông đã tìm thấy nguyên nhân mất nước, dân tộc sa vào vòng nô lệ bi thảm chính ở trong văn hóa Ông lo sợ sự mất nước không chỉ mất về lãnh thổ, mà nghiêm trọng hơn là kéo theo đó là mất “một sự sống còn về sau với

tư cách là người Việt Nam” Tại sao nên nông nỗi ấy? Theo Phan Châu Trinh, chính chế độ phong kiến chuyên chế lạc hậu với nền giáo dục khoa cử lỗi thời

đã làm cho nhân dân Việt Nam dốt nát về trí tuệ, dân khí ngu hèn, phong tục tập quán lụn bại Với thảm trạng này, Phan Châu Trinh cho rằng, dân ta chưa thể đủ sức giành độc lập Mà có giành được độc lập thì cũng chưa phải hạnh phúc cho dân Chính vì vậy, dù đau xót trước cảnh thực dân Pháp ngược đãi người dân Việt Nam nhưng theo Phan Châu Trinh, cái cần làm trước mắt chưa phải là khôi phục chủ quyền quốc gia mà nhiệm vụ cấp bách là phải: Xóa bỏ chế độ quân chủ chuyên chế, khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh Khi dân ý thức được quyền của mình rồi thì họ sẽ đấu tranh với Pháp giành các quyền về kinh tế, chính trị, xã hội, từ đó dần đi đến độc lập Có lần ông đã nói với Phan Bội Châu: “Chỉ nên đề xướng dân quyền Dân đã biết có quyền thì việc khác đều có thể tính làm được” [37; 158] Để làm được những điều

đó, ông chủ trương tạm thời dựa chính quyền thực dân, vin vào những lời hứa hẹn của nhà cầm quyền để làm chính trị công khai, mưu dân quyền, dân chủ

và hạnh phúc cho nhân dân chứ không bạo động, không nhờ ngoại viện Như vậy, cùng chung mục đích cứu nước, cứu dân nhưng con đường đi đến mục đích đó của ông và Phan Bội Châu có những điểm khác nhau về căn bản Nhận xét về điều này, trong Phan Bội Châu niêu biểu, Phan Bội Châu đã nói

rõ: "Cụ (tức Phan Châu Trinh) thì muốn đánh đổ quân chủ, mà cốt vun trồng

lấy nền tảng dân quyền, dựa vào Pháp mà đánh đổ quân chủ Còn ý tôi thì trước muốn đánh đổ người Pháp, chờ nước mình độc lập rồi, mới bàn đến việc khác Vì thế mà đương lúc đánh với Pháp, phải lợi dụng quân chủ ( ) Cụ thì muốn đi theo lối dựa Pháp đánh đổ vua, tôi ưng đi theo lối bài Pháp phục Việt, sở dĩ mâu thuẫn với nhau là vì thế”[ 37; 158]

Trang 32

Đặc biệt, tuy cả hai cụ Phan đều đề xướng dân quyền nhưng Phan Bội Châu chủ yếu coi đó là một phương pháp để cổ vũ, giác ngộ nhân dân ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình đối với đất nước nhằm tập hợp sức mạnh

để bạo động chống Pháp giành độc lập Còn đối với Phan Châu Trinh, việc làm cho dân ý thức được các quyền của mình để đưa dân tộc tự cường đi lên

và đấu tranh đòi các quyền lợi ấy lại là nhiệm vụ to lớn, lâu dài trước khi giành độc lập Có thể nói, lý tưởng dân quyền là tư tưởng căn bản quyết định hành động cách mạng của Phan Châu Trinh Theo ông, không thể nôn nóng đặt ra mục tiêu độc lập dân tộc ngay mà phải đi dần đến mục tiêu ấy theo kiểu

"Ngu công dời núi", “Tinh vệ lấp biển" Phải kiên nhẫn tuyên truyền giáo dục cho nhân dân được thức tỉnh, nắm được ngọn cờ dân chủ, dân quyền, toàn dân một ý để đến ngày "đông tay vỗ nên bộp"

Như chúng tôi đã trình bày ở phần trước, việc lựa chọn hướng đi của Phan Châu Trinh không phải là một sự ngẫu hứng mà được suy ngẫm, đúc rút

từ những kinh nghiệm đấu tranh của bản thân, quê hương, dân tộc Như ta đã biết, ông đã từng theo cha tham gia phong trào võ trang chống Pháp và đã tận mắt chứng kiến kết cục đau thương của phong trào này Gia đình đã phải ly tán, chia lìa vì mang tội "theo nghịch đảng" Ông đã quay về với sách vở thánh hiền, tham gia vào quan trường, tưởng là để thực thi chí lớn cứu nước

an dân, nhưng ông đã thất vọng vì sự hư hại, thối nát của chế độ đương thời

Từ đó, với óc quan sát đặc biệt sâu sắc và tinh tế kết hợp với tư tưởng mới trong tân thư, tân văn mà ông đã đi tới quyết định trên, khác xa với những người đương thời với ông Cũng với óc quan sát ấy, trong chuyến “Nam du” năm 1905 để khảo sát thực tiễn, khác với Phan Bội Châu cho rằng: nhân dân Nam Kì chịu ơn chúa Nguyễn nhiều, còn muốn thờ chúa cũ, Phan Châu Trinh lại thấy: lòng người dân Nam yêu nước chưa bao giờ hết Chỉ có chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu với hệ thống khoa cử cổ hủ của nó là chất độc

Trang 33

dược làm chết lòng! Bởi vậy, việc đầu tiên là phải đánh tan tư tưởng quân chủ

cổ hủ, phải đánh tan mộng khoa cử, mới mong phục hồi lại hồn nước, từ đó mới dần đi tới độc lập tự chủ

Chủ trương “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của Phan Châu Trinh có thể hiểu là:

Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc

ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa

Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, mọi người giác ngộ

được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế

Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội

buôn, sản xuất hàng nội hóa nhằm nâng cao cuộc sống của người dân

Thực hiện chủ thuyết mà mình đã định, ngay từ những ngày đầu tiên (năm 1905), Phan Châu Trinh đã cùng với hai đồng chí của mình là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp bắt đầu từ Quảng Nam lên đường làm chuyến

“Nam du” để tuyên truyền con đường cứu nước theo lối mới mà trước đây chưa từng có Cuối năm đó ông lại cùng Ông Ích Đường làm chuyến hành trình ra Bắc Nhưng hoạt động truyền bá tư tưởng mới của Phan Châu Trinh

có những nét rất riêng, không thể lẫn với người khác Ông không những có tài

văn thơ, viết nhiều tác phẩm nổi tiếng như Tỉnh quốc hồn ca, Giai nhân kì

ngộ,… để thể hiện tư tưởng của mình, khích lệ, thức tỉnh lòng dân mà ông còn

có tài hùng biện Với tài hùng biện này, suốt cuộc hành trình, Phan Châu Trinh và những người bạn của mình tìm gặp và tuyên truyền đến nhiều đối tượng: sĩ phu, quan lại, dân thường… Tùy từng hạng người, trình độ, học vấn, tâm tính mà Phan Châu Trinh có lối kết giao và tuyên truyền không ai giống ai Các ông đi tới đâu đều đưa đến tư tưởng dân quyền đổi mới làm cho mọi người sửng sốt, suy nghĩ, tỉnh ngộ Thậm chí, nhờ tài hoạt động, cách xử

sự linh hoạt, ăn nói hấp dẫn nên Phan Châu Trinh còn lôi kéo được nhiều người đứng lên thực hiện các công tác của phong trào

Trang 34

Nội dung truyền bá đầu tiên của Phan Châu Trinh là bài xích uy lực của thần quyền, đế quyền, lực lượng đã làm thủ tiêu quyền của người dân Ông cho người dân thấy, nguyên nhân mất nước là bởi:

“Vua ngồi thăm thẳm cung sâu Một đời chỉ biết đè đầu dân đen

Dưới đại thần đua chen tước lộc Ngoài trăm quan trì trục thân danh Cúi lòn đút lót, đủ vành,

Làm quan cốt để rán sành dân ngu… ” [7; 291]

Ông dốc sức vào đả phá, vạch trần trật tự của chính thể quân chủ chuyên chế:

“Vua tôn như thánh như thần Phận tôi rơm rác, phận dân trâu bò!” [7; 290]

Ông chỉ rõ, đây là chính thể độc tôn, độc đoán Vua có quyền tối thượng về cả lập pháp, hành pháp và tư pháp Chính thể chuyên chế bóp nghẹt mọi nhân quyền và dân quyền:

"Cấm chẳng cho hỏi đon việc nước Cấm chẳng cho ao ước thở than” [7; 290]

Vua đã thế, quan lại thì mục nát, tham nhũng, hủ lậu và bất lực:

“Người cương trực lo lui bước trước,

Lũ nịnh tà sấn sướt đầy sân” [7; 290]

Ông nêu toạc vấn đề chức trách, phẩm giá và cơ chế hoạt động của cả tập đoàn quan liêu từ triều đình đến những tên nha lại hào lý hằng ngày sách nhiễu đè nén những người dân lương thiện:

“Chẳng qua là quơ quào ba chữ, May ra rồi ăn xớ của dân

Khoe khoang rộng áo, dài quần,

Trang 35

Tráp giày bệ vệ, rần rần ngựa xe

Còn bậc dưới ngo ngoe vô kể,

Họ cúi lòn kiếm thế vơ quào

Thầy tư lại, bác kỳ hào, Gặm xương, mút đũa lao nhao như ruồi” [7; 128]

Với thực trạng xã hội này, nếu cứ như thế mãi thì theo ông, dẫu có giành được độc lập thì “cũng không phải hạnh phúc cho dân” Vì vậy, Phan Châu Trinh luôn kiên quyết đánh đổ tập đoàn vua quan để giành lại dân quyền Ngày 15 tháng 8 năm 1906, ông đã viết một bức thư dài gửi cho toàn

quyền Pôn Beau(Đầu Pháp chính phủ thư) Trong bức thư đó, ông đã vạch

trần sự nhũng nhiễu, hũ bại của hệ thống quan lại đương thời và mạnh dạn tố cáo chính sách cai trị tàn khốc của chính quyền thực dân - phong kiến đã gây nên thảm cảnh đau lòng cho người dân Việt Nam đồng thời yêu cầu đồng thời yêu cầu Pháp phải cải cách hệ thống quan lại ấy Tệ tham quan ô lại này còn

được ông nói đến trong nhiều bài viết, nhất là trong tác phẩm Đông Dương

chính trị luận Trong tác phẩm này, ông đã không ngần ngại phơi bày hết bộ

mặt của chế độ chính trị Việt Nam lúc này Năm 1922, khi vua Khải Định

sang Pháp, Phan Châu Trinh còn viết Thư thất điều kể tội Khải Định Kết

thúc bức thư, ông còn ngang nhiên nói lời tuyên chiến với vua: “vì 20 triệu đồng bào, cùng Bệ hạ tuyên chiến quyết liệt, nguyện cho cái đầu của Trinh cùng với quân quyền chuyên chế dã man của Bệ hạ đồng thời rơi xuống đất, quyết không nỡ thấy vài mươi dặm vuông giang sơn đất nước, vài mươi triệu cha mẹ anh em phải giao đứt vào tay hôn quân vậy”[ 31; 446] Đây là lời tuyên chiến xưa nay chưa từng có trong lịch sử phong kiến Trong chế độ phong kiến, chỉ có vua mới có quyền quyết định sự sống chết của dân chứ không có điều ngược lại Trong bức thư, Phan Châu Trinh xưng hô với vua Khải Định là “tôi” hoặc “Trinh” - một cái tôi độc lập, có ý thức về nhân cách

Trang 36

độc lập Có thể nói, lời tuyên chiến của ông chính là lời tuyên chiến của tư tưởng dân quyền đối với chế độ quân quyền:

“xô ngã chuyên chế, ủng hộ tự do”[ 31; 445]

Bên cạnh đả kích vua quan phong kiến, Phan Châu Trinh còn tấn công vào nền giáo dục - khoa cử Nho học, yếu tố đã đẩy nhân dân vào tình trạng tăm tối, lạc hậu, ươn hèn, dân tộc đứng lì một chỗ rồi rơi vào con đường bại vong Trước hết, hành động của ông từ bỏ chốn quan trường đi làm cách mạng, còn hai người bạn của ông là Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp, 2

vị đậu đại khoa mà không ra làm quan đã thể hiện rõ tinh thần đấu tranh đó

Nó cũng cho thấy nền giáo dục - khoa cử Nho học thực sự đã lụi tàn Năm

1905, trên con đường Nam du, đến tỉnh Bình Định, gặp kì thi hạch, họ mượn tên Đào Mộng Giác vào ứng thí Phan Châu Trinh nghĩ rằng: Cái học khoa cử làm hại nước ta đã lâu, ngày nay đã trở thành đồ bỏ mà sĩ phu còn chui đầu vào như kiến Giấc mộng mê say này không cho một cái gậy ngang đầu thì không thể nào thức dậy được Chính vì thế, ông đã cùng 2 người bạn của

mình bèn mượn đề mục bài hạch đó, làm một bài thi (Chí thành thông thánh)

và một bài phú (Danh Sơn Lương Ngọc), thể hiện tư tưởng chống đối thái độ

vào luồn ra cúi của quan lại, bài xích cái lối học cử nghiệp cùng lối kén chọn nhân tài hủ lậu, thái độ dửng dưng của đám học trò nhà nho trước thực trạng

xã hội… Đây là hành động bài xích khoa cử, phản kháng chế độ rất táo bạo của các ông Nó như tiếng sét nổ tung giữa bầu trời vẫn đục vì cái từ chương làm cho nhiều nhân tài mai một Nó làm cho nhiều sĩ tử sửng sốt, bừng tỉnh

và nghĩ đến trách nhiệm của mình đối với đất nước Bài xích khoa cử, chống đối Hán học sai lầm, nhưng Phan Châu Trinh không phải chối bỏ những tinh túy của Hán học và đạo Nho Truyền bá tư tưởng dân quyền tư sản Phương Tây nhưng ông vẫn nhắc đến tư tưởng thân dân trong truyền thống Nho giáo phương Đông:

Trang 37

“Sao không nhớ những câu kinh thánh Quốc tương hưng tắc thỉnh chư dân” [7; 143]

Để thay đổi hệ thống chính trị trên, như chúng tôi đã nói, trong bối cảnh lúc này, Phan Châu Trinh chủ trương dựa vào Pháp Ông đã từng nói:

"Nước Pháp là một nước làm tiền đạo văn minh của hoàn cầu, nay hiện bảo

hộ nước ta, mình nhân đó mà học theo, chuyên tâm về mặt khai tự trị sinh, các việc thực dụng, dân trí đã mở rộng, trình độ ngày sẽ một cao, tức là cái nền độc lập ngày sau ở đây" [16; 176] Trong bức thư gửi toàn quyền Pôn Beau mà chúng tôi đã nhắc đến, ông khéo léo đề nghị Pháp thay đổi lại chính sách cai trị “Nếu chính phủ thật lòng đổi chính sách đi, kén chọn người hiền tài trao quyền bính cho, lấy lễ mà tiếp… mở đường sinh dưỡng cho dân nghèo, trao quyền nghị luận cho thân sĩ, rộng quyền báo chí để thấu đạt dân tình, phân minh thưởng phạt để trừ lại tệ, ngoài ra như sửa đổi pháp luật, bãi

bỏ khoa cử, chấn hưng học hiệu, đặt dựng thư cục, đào tạo sư phạm cho đến học công thương, khoa kỹ nghệ, phép thuế dịch, không cái gì là không lần lượt cải lương, thì người dân yên ổn làm ăn, kẻ sĩ vui lòng phục vụ” [7; 354] Chính sách đó vừa đem lại quyền lợi cho dân vừa tạo điều kiện để Phan Châu Trinh hợp pháp hóa hoạt động của mình Tư tưởng “ỷ Pháp cầu tiến bộ” còn được ông nhắc đến trong tác phẩm “Tỉnh quốc hồn ca II”:

“ Pháp luật dựa Lang sa làm chủ Lợi quyền cùng nghĩa vụ cho cân

Có việc thay mặt quốc dân,

Có quan trách nhậm đại thần phụng công…

Niên hạn chẳng kỳ kèo lâu chóng Cốt cho ta hiệu phỏng tinh thần,…

Trang 38

… Được như thế thỏa tình ao ước Nghĩa thầy trò sau trước yếm âu Lợi quyền chung chạ dài lâu, Trắng vàng một họ, Á Âu một nhà” [7; 317-318]

Tuy còn phải dựa vào Pháp nhưng đây là chính quyền tự trị, trong đó nhiều quyền của dân được đảm bảo: Quyền tham gia bàn luận vấn đề chính trị, quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận “Để ta được vào vòng chánh trị, từ hội hè, suy nghĩ, nói năng” [7; 317] và một số quyền lợi kinh tế khác Ông mong ước đến ngày chế độ quân quyền bị gạt bỏ, thay vào đó là chế độ dân quyền:

“Quyền vua đổi lại quyền dân, Chánh cang trước phải mười phần khai minh”

Đặc biệt, Phan Châu Trinh nhiều lần nhắc đến pháp luật với vai trò công cụ để đảm bảo cho vấn đề dân quyền được thực hiện “Pháp luật dựa Lang Sa làm chủ” Đây là điểm tiến bộ hơn hẳn của tư tưởng Phan Châu Trinh so với nhiều người cùng thời với ông trong vấn đề dân quyền

Trong thời gian ở Hà Nội(1907-1908) và thời kì ở Pháp(1911-1925), Phan Châu Trinh cũng có nhiều cuộc gặp gỡ các trí thức Pháp và một số quan chức trong chính quyền Pháp có tư tưởng tiến bộ nhằm thuyết phục họ lưu tâm đến việc tác động đến chính phủ thay đổi chính sách, mở rộng quyền dân chủ có lợi cho hai nước Ông còn viết nhiều tác phẩm có nội dung đấu tranh

vì dân quyền như Trung Kì dân biến tụng oan thủy mạt kí và Đông Dương chính trị luận Đặc biệt, năm 1912, sau khi Albert Saraut có gặp gỡ và hứa

hẹn với Phan Châu Trinh sẽ lưu tâm đến yêu cầu của ông khi y sang làm toàn

quyền Đông Dương, Phan Châu Trinh còn viết cả dự thảo: Pháp - Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam để thuyết phục

Không những tấn công vào hệ thống chính trị, Phan Châu Trinh còn rất quan tâm đến việc “chấn dân khí”, thay đổi tư duy, nếp nghĩ, lối sống của

Trang 39

nhân dân theo chiều hướng tiến bộ Muốn có được dân quyền thì trước tiên nhân dân phải tự đổi mới mình Ông chỉ ra cho nhân dân thấy được hạn chế của mình:

“Thôi đừng trách kẻ bề trên Dưới thì cũng trách ngu hèn tại ta,

Nọ phong tục kiêu ngoa cẩu thả Kia nhân dân kiếp đọa xai nghi, Người còn lòng đã chết đi… ” [7; 123]

Ông cũng không ngại ngần phê phán cả thói xấu của người dân:

“Người trên đã lam nham như thế, Những dân ngu kể lể làm chi, Rượu chè, cờ bạc li bì,

Sinh ra trộm cướp nghề gì mà mong” [7; 129]

Những lời của ông có vẻ mạt sát tàn nhẫn nhưng không phải là lời khinh miệt mà là sự uất ức đau xót của một người vốn thiết tha yêu dân, yêu nước Càng xót xa hơn khi so sánh thực trạng xã hội này với thế giới văn minh phương Tây Trong tác phẩm Tỉnh quốc hồn ca I, tác giả đã so sánh nhiều phương diện về dân khí, dân trí của các nước văn minh trên thế giới với dân tình của nước Việt đại ý như sau:

1 Trong khi người nước ngoài có chí cao, dám chết vì việc nghĩa, vì lợi dân ích nước; thì người nước mình tham sống sợ chết, chịu kiếp sống nhục nhã đoạ đày

2 Trong khi người ta dẫu sang hay hèn, nam hay nữ ai cũng lo học lấy một nghề; thì người mình chỉ biết ngồi không ăn bám

3 Trong khi họ có óc phiêu lưu mạo hiểm, dám đi khắp thế giới mở mang trí óc thì ta suốt đời chỉ loanh quanh xó bếp, hú hí với vợ con

4 Trong khi họ có tinh thần đùm bọc, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau thì

ta lại chỉ quen thói giành giật, lừa đảo nhau vì chữ lợi

Trang 40

5 Trong khi họ biết bỏ vốn lớn, giữ vững chữ tín trong kinh doanh làm cho tiền bạc lưu thông, đất nước ngày càng giàu có thì ta quen thói bất nhân bất tín, cho vay cắt cổ, ăn quỵt vỗ nợ, để tiền bạc đất đai trở thành vô dụng

6 Trong khi họ biết tiết kiệm tang lễ, cư xử hợp nghĩa với người chết thì ta lo làm ma chay cho lớn, đến nỗi nhiều gia đình bán hết ruộng hết trâu

7 Trong khi họ ra sức cải tiến phát minh, máy móc ngày càng tinh xảo thì ta đầu óc thủ cựu, ếch ngồi đáy giếng, không có gan đua chen thực nghiệp

8 Trong khi họ giỏi tổ chức công việc, sắp xếp giờ nghỉ giờ làm hợp lý thì ta chỉ biết chơi bời, rượu chè cờ bạc, bỏ bê công việc

9 Trong khi họ biết gắng gỏi tự lực tự cường, tin ở bản thân thì ta chỉ

mê tín nơi mồ mả, tướng số, việc gì cũng cầu trời khấn Phật

10.Trong khi họ làm việc quan cốt ích nước lợi dân, đúng là “đầy tớ” của dân, được dân tín nhiệm thì ta lo xoay xở chức quan để no ấm gia đình, vênh vang hoang phí, vơ vét áp bức dân chúng, v.v…

Phan Châu Trinh so sánh không phải là để coi thường nhân dân ta, dân tộc ta Trong rất nhiều bài viết của mình, Phan Châu Trinh đã bộc lộ rõ sự thấu hiểu, tràn ngập tình thương yêu người dân bị áp chế, nghèo khổ và cực lực chống lại mọi kẻ quyền thế, giàu có, tàn ác…

"Nhớ vợ, thương con, dạ nặng trì, Lên non còi túc, lệnh đòi đi

Ba quân hiệu giáp nghe vang cả, Hai mối tình sâu rẽ sá chi

Non nước trót vương cơn bấn loạn, Cửa nhà đành chịu kiếp phân ly

Gươm thiêng một lưỡi anh từ giã

Giọt máu anh hùng lụy nữ nhi" [7; 269]

Hay

Ngày đăng: 21/08/2023, 00:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w