1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về luật thuế tài nguyên

33 572 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 174,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu về luật thuế tài nguyên

Trang 1

1. Bùi Nguyễn Phương Linh MSSV: K114040637

2. Nguyễn Hồng Diễm Phương MSSV: K114040532

3. Tô Ngọc QuỳnhMSSV: K114040542

4 Đỗ Nguyễn Thanh Trúc MSSV: K114040582

1

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN



Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

Tài nguyên thiên nhiên có các dạng: phục hồi và không thể phục hồi Trong quátrình khai thác tài nguyên phục vụ cho nhu cầu sản xuất, sinh hoạt, con người lại gián tiếptàn phá, gây ảnh hưởng đến các khu vực lân cận Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyênbừa bãi dẫn đến sự cạn kiệt các quặng mỏ, khoáng sản, khiến cho các thế hệ kế tiếp trongtương lai rơi vào tình cảnh khó khăn.Như vậy, đòi hỏi cần có một biện pháp hạn chế việckhai thác tài nguyên khoáng sản.Vì thế, luật tài nguyên ra đời

Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng của thuế nhằm hạn chế, giảm bớt việc khaithác vô tội vạ, đem lại nguồn thu ngân sách để có thể khôi phục lại những thiệt hại màviệc khai thác gây ra cho cảnh quan và môi trường; thuế tài nguyên vẫn còn những điểmchưa hợp lý, gây tác động mạnh đến ngành khai khoáng, cũng như tác động đến nên kinh

tế nói chung

Thông qua bài tiểu luận này, nhóm xin phép được trình bày sơ lược về “Thuế Tàinguyên” cũng như những tác động của nó tới nền kinh tế

Trong quá trình thực hiện, nhóm không tránh khỏi được sơ sót hy vọng được thầy

và các bạn tận tình góp ý để nhóm có thể hoàn thiện được đề tài này hơn

Xin cảm ơn!!!

Trang 5

NỘI DUNG

1 Định nghĩa:

Thuế tài nguyên là khoản thu của Ngân sách nhà nước, thu vào hoạt động khai tháctài nguyên hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tếcủa Việt Nam tạo nguồn thu Ngân sách nhà nước, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả cácnguồn tài nguyên của Nhà nước

2 Qúa trình hình thành và phát triển:

Thuế tài nguyên hiện đang thực hiện theo Pháp lệnh thuế tài nguyên (năm 1998) vàPháp lệnh sửa đổi, bổ sung (năm 2008) Có thể khẳng định quá trình thực hiện Pháp lệnhthuế tài nguyên trong những năm qua đã góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyêntiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và bảo đảm nguồn thu cho ngân sáchnhà nước Tuy nhiên, để khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên hợp lý, đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời gian tới, Pháp lệnh thuế tài nguyêncũng đã bộc lộ một số hạn chế cần được bổ sung và sửa đổi cho phù hợp Đứng trước yêucầu đó, Luật Thuế tài nguyên đã được thông qua vào ngày 25/11/2009 tại kỳ họp thứ 6Quốc hội khóa XII và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010

Luật thuế tài nguyên ra đời đã bãi bỏ Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998 và Pháplệnh sửa đổi năm 2008 Với 4 Chương 11 Điều, Luật thuế tài nguyên được cho rằng sẽđáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tế và xu hướng phát triển, khắc phục một số hạn chế nhằmgóp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước… Ngày14/5/2010 Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 50/2010/NĐ-CP thi hành Luật thuếtài nguyên Theo đó, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 105/2010/TT-BTCngày 23/7/2010 hướng dẫn chi tiết Nghị định số 50/2010/NĐ-CP của Chính phủ

***Những hạn chế ở Pháp lệnh thuế tài nguyên

- Về đối tượng chịu thuế:

Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành quy định về thuế tài nguyên đối với “dầu mỏ”,

“khí đốt” Tại Luật Dầu khí lại quy định “dầu thô” và “khí thiên nhiên” đối với tàinguyên dầu, khí; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008 lại bổsung thêm loại tài nguyên nữa là “khí than” Vì vậy, cần quy định đối tượng chịu thuế

Trang 6

là “Dầu thô” thay cho “Dầu mỏ”; “Khí thiên nhiên” thay cho “Khí đốt” và bổ sungthêm “khí than” vào đối tượng chịu thuế để đảm bảo tính thống nhất về thuật ngữ và sựđầy đủ về chủng loại tài nguyên.

Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành quy định đối tượng chịu thuế là “Thuỷ sản tựnhiên”, bao gồm các loại động vật, thực vật ở biển, sông, ngòi, hồ, đầm, phá, kênh, rạch

tự nhiên Trên thực tế việc khai thác thuỷ sản tự nhiên tại các sông, ngòi, hồ, đầm, phá,kênh, rạch thì người đánh bắt chủ yếu là nông dân đánh bắt thủ công theo thời vụ Một số

ít sống bằng nghề chài lưới trên sông, hồ vẫn phải làm thêm nghề khác để đảm bảo cuộcsống và một bộ phận thuộc diện hộ nghèo; Thuế tài nguyên hầu hết chỉ thu đối với thuỷsản tự nhiên khai thác trên biển (hải sản) Do vậy, cần quy định đối tượng chịu thuế làHải sản tự nhiên thay cho Thuỷ sản tự nhiên để đảm bảo tính khả thi

- Về đối tượng nộp thuế:

Theo Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành thì trường hợp Bên Việt Nam tham giadoanh nghiệp liên doanh với nước ngoài theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam màgóp vốn pháp định bằng các nguồn tài nguyên thì doanh nghiệp liên doanh không phảinộp thuế tài nguyên đối với số tài nguyên mà Bên Việt Nam dùng để góp vốn pháp định(khi đó thuế tài nguyên trở thành vốn góp của phía Việt Nam trong liên doanh) Quy địnhnày chưa phù hợp với tình hình thực tế và chưa phù hợp với Luật Đầu tư hiện hành, theo

đó nếu doanh nghiệp liên doanh được thành lập giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tưnước ngoài thì người nộp thuế là doanh nghiệp liên doanh; nếu các nhà đầu tư tổ chứcdưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh để khai thác tài nguyên thì nghĩa vụ thuế tàinguyên do các bên thoả thuận trước trong hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Về căn cứ tính thuế:

Pháp lệnh thuế tài nguyên quy định: căn cứ tính thuế tài nguyên là sản lượng tàinguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế và thuế suất

Căn cứ tính thuế tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên và khí than (sau đây gọi

là dầu, khí) được thực hiện theo các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn Luật Dầu khí.Tuy nhiên, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008 chỉ quy địnhviện dẫn: Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động dầu khí phải nộp các khoản thuếtheo quy định của pháp luật về thuế Do đó, để đảm bảo có đủ cơ sở pháp lý, cần bổ sungquy định về thuế tài nguyên đối với dầu, khí tại văn bản quy phạm pháp luật về thuế tàinguyên

Trang 7

- Về sản lượng tính thuế:

Theo Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành, sản lượng tính thuế tài nguyên là sảnlượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác Sản lượng tài nguyên thương phẩm làsản lượng tài nguyên được bán ra Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều loại tài nguyên khaithác, chưa bán ra ngay mà đưa vào để tiếp tục sản xuất ra sản phẩm khác Khi đó, sảnlượng tài nguyên tính thuế được căn cứ vào sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ vàđịnh mức tiêu hao tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm Như vậy, sản lượng tàinguyên tính thuế trong trường hợp này không phải là sản lượng tài nguyên thương phẩm,

mà là sản lượng tài nguyên thực tế khai thác

- Về giá tính thuế:

Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành quy định: Giá tính thuế tài nguyên là giá bánđơn vị sản phẩm tài nguyên tại nơi khai thác Trường hợp tài nguyên khai thác chưa cógiá bán thì Chính phủ quy định giá tính thuế tài nguyên

Trên thực tế, do chất lượng, hàm lượng tài nguyên khai thác được là khác nhau,lượng tạp chất khai thác được cùng với tài nguyên nhiều nên việc xác định giá tính thuếtài nguyên trong trường hợp tài nguyên khai thác chưa có giá bán cũng rất khác nhau vàhiện nay mỗi địa phương áp dụng một cách dẫn đến sự không thống nhất về giá tính thuế

Vì vậy, cần có quy định về nguyên tắc xác định giá tính thuế của các loại tài nguyên đểcác địa phương có cơ sở áp dụng thống nhất

Quá trình thực hiện Pháp lệnh thuế tài nguyên cho thấy có rất ít tài nguyên được bántại nơi khai thác mà chủ yếu tài nguyên được bán sau khi đã chế biến, sàng tuyển, phânloại, chọn lọc Hơn nữa, việc xác định “giá bán tài nguyên tại nơi khai thác” như tại tỉnh,huyện hoặc xã để xác định giá tính thuế là vấn đề gây tranh cãi trong quá trình thực hiện

Vì vậy, để khắc phục nhược điểm này, cần quy định: “Giá tính thuế tài nguyên là giá bánđơn vị sản phẩm tài nguyên của tổ chức, cá nhân khai thác”

- Về miễn, giảm thuế:

Theo Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành, dự án thuộc đối tượng ưu đãi đầu tư quyđịnh tại Luật Khuyến khích đầu tư trong nước có khai thác tài nguyên (trừ dầu, khí) đượcgiảm tối đa 50% thuế tài nguyên trong ba năm đầu kể từ khi bắt đầu khai thác Hiện tạiLuật Khuyến khích đầu tư trong nước không còn hiệu lực; hơn nữa, Luật Đầu tư banhành năm 2005 đã quy định thống nhất về chính sách ưu đãi giữa các loại hình đầu tư Dovậy, cần sửa đổi nội dung này để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật

Trang 8

Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành cũng quy định: Miễn thuế tài nguyên đối vớinước thiên nhiên dùng vào sản xuất thuỷ điện không hoà vào mạng lưới điện quốc gia.Việc miễn thuế trong trường hợp này không hợp lý, nhất là trong bối cảnh nhiều nguồnthuỷ điện cung cấp điện nhưng không hoà vào mạng lưới điện quốc gia như hiện nay Vìvậy, cần phải sửa đổi quy định này nhằm đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế.

Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành quy định: Đối với nước thiên nhiên dùng phục

vụ các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp và nước thiên nhiênkhai thác từ giếng đào, giếng khoan phục vụ sinh hoạt, áp dụng mức thuế suất là 0% Đểđảm bảo giảm thiểu thủ tục hành chính, cần thiết đưa đối tượng này vào diện được miễnthuế

- Về đăng ký, kê khai, nộp thuế:

Pháp lệnh thuế tài nguyên năm 1998 có 11 Điều (Điều 8, 9 và các Điều từ 11 đếnĐiều 19) quy định về đăng ký, kê khai, nộp thuế; xử lý vi phạm, khen thưởng; khiếu nại,thời hiệu; tổ chức thực hiện Trong khi đó, Luật Quản lý thuế có hiệu lực thi hành từ ngày01/7/2007 và bãi bỏ các quy định về quản lý thuế trong các luật, pháp lệnh về thuế màLuật Quản lý thuế có quy định

Thêm vào đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Luật ban hành văn bản quy phạmpháp luật thì không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng,

xử lý vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới

Do vậy, những nội dung về quản lý thuế, thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng

và xử lý vi phạm tại Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành cần phải sửa đổi lại cho phùhợp và đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật

3 Mục tiêu ban hành luật thuế tài nguyên:

Việc ban hành chính sách thuế tài nguyên nhằm các mục tiêu, yêu cầu sau:

Thứ nhất, kế thừa, luật hoá các quy định của pháp luật hiện hành về thuế liên quan

đến tài nguyên còn phù hợp Khắc phục những mặt hạn chế, chưa đầy đủ của chính sáchthuế tài nguyên hiện hành

Trang 9

Thứ hai, thể chế hoá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tiếp tục cải

cách, xây dựng hệ thống thuế đồng bộ, phù hợp với các quy định của Hiến pháp, tínhthống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật khác có liên quan

Thứ ba, tăng cường quản lý nhà nước đối với tài nguyên, bảo vệ, khai thác, sử dụng

hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả; bảo vệ môi trường.Nhà nước phải có chính sách quản lý,bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế – xã hội

Thứ tư, góp phần đảm bảo ổn định nguồn thu ngân sách nhà nước Việc tăng cường

công tác quản lý, thu thuế tài nguyên, góp phần tăng thu cho ngân sách để có nguồn kinhphí cho việc cải tạo môi trường; xây dựng, sửa chữa hạ tầng quanh khu vực khai thác,nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của nguồn tài nguyên quốc gia

4 Đặcđiểm

Thuế tài nguyên là thuế gián thu, được cấu thành trong giá bán tài nguyên, ngườitiêu dùng phải chịu thuế tài nguyên khi tiêu dùng tài nguyên thiên nhiên hoặc sản phẩmđược tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên

Thuế tài nguyên là một khoản thu của Ngân sách Nhà nước đối với người khai tháctài nguyên do Nhà nước quản lý

Thuế tài nguyên đánh trên sản lượng và giá trị thương phẩm của tài nguyên khaithác mà không phụ thuộc vào mục đích khai thác tài nguyên

Đối tượng nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thiên nhiên,không phụ thuộc vào mục đích sử dụng tài nguyên

Mức thuế suất thuế tài nguyên được phân biệt theo mức độ quý hiếm của tài nguyênthiên nhiên

5 Nội dung cơ bản của luật thuế tài ngyên:

Luật thuế tài nguyên gồm 4 chương, 11 Điều Cụ thể như sau:

5.1 Những quy định chung

Gồm 3 điều từ Điều 1 đến Điều 3

Chương này quy định phạm vi điều chỉnh, đối tượng chịu thuế, người nộp thuế tàinguyên

Trang 10

5.1.1 Đối tượng chịu thuế (Điều 2):

Đối tượng chịu thuế tài nguyên là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi đất liền,hải đảo, nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền vàquyền tài phán của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm:

1 Khoáng sản kim loại;

2 Khoáng sản không kim loại;

3 Dầu thô theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Dầu khí năm 1993;

4 Khí thiên nhiên theo quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật Dầu khí năm 1993;

5 Khí than theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Dầu khí năm 2008;

6 Sản phẩm của rừng tự nhiên, bao gồm các loại thực vật và các loại sản phẩm kháccủa rừng tự nhiên, trừ động vật và hồi, quế, sa nhân, thảo quả do người nộp thuế trồng tạikhu vực rừng tự nhiên được giao khoanh nuôi, bảo vệ;

7 Hải sản tự nhiên, gồm động vật và thực vật biển;

8 Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất;

9 Yến sào thiên nhiên;

10 Tài nguyên thiên nhiên khác do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, ngànhliên quan báo cáo Chính phủ để trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định

***Trong quá trình soạn thảo, có ý kiến đề nghị cùng với sự phát triển của khoa học

kỹ thuật và sự tiến bộ của con người thì Luật thuế tài nguyên nên quy định bao quát hếtcác loại tài nguyên hiện hành như: không khí, vùng biển, vùng trời, kho số, tần số, cácnguồn năng lượng (gió, ánh sáng mặt trời), văn hoá phi vật thể, bởi vì các loại tàinguyên này đều thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam Tuy nhiên, tham khảo kinh nghiệmthế giới cho thấy:

- Về không khí: Trên thế giới chưa có nước nào thực hiện thu thuế tài nguyên đối

với không khí; không khí là loại tài nguyên mà mọi người đều phải sử dụng nên việcđánh thuế là không khả thi

- Về gió, ánh sáng mặt trời: Hiện các nước đều khuyến khích khai thác để sản xuất

điện năng, nhằm giảm áp lực nhu cầu về điện được tạo ra từ các nguồn năng lượng truyền

Trang 11

thống; chi phí đầu tư để sản xuất loại điện năng này cao, Nhà nước đang có chính sách hỗtrợ, khuyến khích, do vậy, chưa nên đánh thuế đối với các loại tài nguyên này.

- Về vùng biển, vùng trời: Hiện đang thực hiện thu lệ phí, áp dụng mức thu cố định

trên lần sử dụng (ví dụ: Lệ phí cấp phép bay ) Các lệ phí này liên quan đến quan hệ vớicác nước, không có tính ổn định do đó tiếp tục thu dưới dạng lệ phí

- Về tần số hiện đang thu dưới hình thức lệ phí cấp phép tần số, phí sử dụng tần số.

Mức thu đa dạng và hay thay đổi do tiến bộ của công nghệ nên đề nghị tiếp tục thu dướidạng phí, lệ phí Về kho số hiện đang nghiên cứu để thực hiện thu phí, lệ phí nhằm đảmbảo tính khả thi hơn khi thực hiện, bởi vì với điều kiện hiện tại chưa cho phép xác địnhđược giá tính thuế đối với các loại tài nguyên này

- Về văn hoá phi vật thể, : Các loại tài nguyên này rất khó xác định căn cứ để tính

thuế, ngoài ra trong một số trường hợp nhất định Nhà nước khuyến khích sử dụng loại tàinguyên này

Thêm vào đó, để có thể bổ sung các loại tài nguyên nêu trên vào đối tượng chịu thuếcủa Luật thuế tài nguyên thì cần thiết phải xây dựng được các Luật chuyên ngành có liênquan để xác định đó là tài nguyên quốc gia và các tài nguyên đó có thể đo lường được

Do đó, Luật thuế tài nguyên chỉ quy định điều chỉnh các tài nguyên hữu hình, các tàinguyên được liệt kê tại pháp luật chuyên ngành về tài nguyên khoáng sản như quy địnhtại Điều 2 của Luật

Như vậy, so với Pháp lệnh thuế tài nguyên hiện hành, Luật thuế tài nguyên có điểm mới đó là:

- Bổ sung thêm “khí than” vào đối tượng chịu thuế

- Bổ sung quy định không đưa động vật của rừng tự nhiên vào đối tượng chịu thuế

do theo quy định của pháp luật cấm săn bắt

- Luật quy định miễn thuế đối với hải sản tự nhiên (bao gồm cả thuỷ sản)

5.1.2 Người nộp thuế (Điều 3)

1 Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đốitượng chịu thuế tài nguyên theo quy định tại Điều 2 Thông tư này bao gồm: Công ty Nhànước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, Hợp tác xã,Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay Bên nước ngoài

Trang 12

tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân khác, khôngphân biệt ngành nghề, quy mô, hình thức hoạt động, có khai thác tài nguyên thiên nhiêntheo quy định của pháp luật Việt Nam là đối tượng nộp thuế tài nguyên theo quy định tạiĐiều 3 Luật Thuế tài nguyên.

2 Người nộp thuế tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể nhưsau:

2.1 Doanh nghiệp khai thác tài nguyên được thành lập trên cơ sở liên doanh thì

doanh nghiệp liên doanh là người nộp thuế;

2.2 Bên Việt Nam và bên nước ngoài cùng tham gia thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh khai thác tài nguyên thì trách nhiệm nộp thuế của các bên phải được xác định cụ thể trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Trường hợp trong hợp đồng hợp tác kinh doanh không xác định cụ thể bên có trách nhiệm nộp thuế tài nguyên thì các bên tham gia hợp đồng đều phải kê khai nộp thuế tài nguyên hoặc phải cử ra người đại diện nộp thuế tài nguyên của hợp đồng hợp tác kinh doanh.

2.3 Tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai nộp thay thuế tài nguyên cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức,

cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế.

Tổ chức, cá nhân đầu mối thu mua phải lập bảng kê tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ do đơn vị mình khai, nộp thay thuế tài nguyên và gửi cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế tài nguyên cùng với hồ sơ khai thuế nộp thay của tháng đầu tiên phát sinh hoạt động thu mua gom tài nguyên để theo dõi quản lý thuế các kỳ tiếp theo; Khi có thay đổi tổ chức, cá nhân nộp thay thuế tài nguyên thì lập khai bổ sung kèm theo hồ sơ khai thuế tài nguyên của tháng có thay đổi; Khi chấm dứt việc uỷ thác nộp thuế thay thì hai bên phải lập văn bản chấm dứt việc nộp thuế thay và bên nộp thuế thay gửi cho cơ quan thuế trong tháng kết thúc việc nộp thuế thay.

2.4 Tổ chức, cá nhân nhận thầu thi công, không có giấy phép tài nguyên, nhưng trong quá trình thi công có phát sinh sản lượng tài nguyên khai thác tiêu thụ (như nhận thầu nạo vét kênh, mương, hồ, đầm có phát sinh sản lượng cát, đất, bùn bán ra; khai thác

đá dùng chế biến làm vật liệu xây dựng thi công công trình) thì đều phải khai, nộp thuế tài nguyên với cơ quan thuế địa phương khai thác tài nguyên.

Trang 13

2.5 Tổ chức, cá nhân (sau đây gọi là nhà thầu) tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm

dò, khai thác dầu thô và khí thiên nhiên tại ViệtNam theo quy định của Luật Dầu khí thì người nộp thuế được xác định từng trường hợp như sau:

a) Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng chia sản phẩm, người nộp thuế là người điều hành thực hiện hợp đồng.

b) Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng điều hành chung, người nộp thuế là công ty điều hành chung.

c) Đối với hợp đồng dầu khí được ký kết dưới hình thức hợp đồng liên doanh, người nộp thuế là doanh nghiệp liên doanh.

d) Đối với trường hợp Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc các Tổng công ty, Công ty thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam tự tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm

dò và khai thác dầu thô, khí thiên nhiên, người nộp thuế là Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam hoặc các Tổng công ty, Công ty thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam 2.6 Tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi được đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước hoặc có một phần vốn ngân sách nhà nước để phát điện là đơn vị phải nộp thuế tài nguyên và tiền sử dụng nước theo quy định.

2.7 Đối với tài nguyên thiên nhiên cấm khai thác hoặc khai thác trái phép bị bắt giữ, tịch thu thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên và được phép bán ra thì tổ chức được giao bán phải nộp thuế tài nguyên trước khi trích các khoản chi phí liên quan đến hoạt động bắt giữ, bán đấu giá, trích thưởng theo chế độ quy định.

5.2 Căn cứ tính thuế

gồm 4 điều từ Điều 4 đến Điều 7

Chương này quy định về sản lượng tài nguyên tính thuế (Điều 5), giá tính thuế(Điều 6) và thuế suất (Điều 7) Cụ thể là:

Số thuế tài nguyên phải nộp được tính như sau:

x

Giá tínhthuế đơn vị tàinguyên

x

Thuếsuất thuế tàinguyên

Trang 14

Trường hợp được cơ quan nhà nước ấn định mức thuế tài nguyên phải nộp trên mộtđơn vị tài nguyên khai thác thì số thuế tài nguyên phải nộp được xác định như sau:

Thuế tàinguyên phải nộp

trong kỳ

=

Sản lượngtài nguyên tínhthuế

x

Mức thuế tàinguyên ấn định trên mộtđơn vị tài nguyên khaithác

Việc ấn định thuế tài nguyên được thực hiện căn cứ vào cơ sở dữ liệu của cơ quanThuế, phù hợp với các quy định về ấn định thuế đối với doanh nghiệp chưa thực hiện đầy

đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ hoặc các quy định xử lý vi phạm về thuế và giá tínhthuế do UBND cấp tỉnh quy định tại khoản 4, Điều 6 Thông tư này

5.2.1 Sản lượng tài nguyên tính thuế (Điều 5) :

được quy định như sau:

1 Đối với tài nguyên khai thác xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khốilượng thì sản lượng tài nguyên tính thuế là số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng của tàinguyên thực tế khai thác trong kỳ tính thuế

Đối với loại tài nguyên khai thác thu được sản phẩm tài nguyên có nhiều cấp độ,chất lượng, giá trị thương mại khác nhau thì sản lượng tính thuế được phân loại theo sảnlượng tài nguyên có cùng cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại như nhau hoặc quy đổi rađơn vị sản lượng tài nguyên để làm căn cứ xác định sản lượng tính thuế cho toàn bộ sảnlượng tài nguyên khai thác

Ví dụ 1: Đơn vị khai thác đá sau nổ mìn, khai thác thu được đá hộc, đá dăm các ly

khác nhau thì được phân loại theo từng cấp độ, chất lượng từng loại đá thu được để xácđịnh sản lượng đá tính thuế của mỗi loại Trường hợp, sau khai thác bán một phần sảnlượng đá hộc, số đá hộc, đá dăm còn lại được đưa vào nghiền để sản xuất xi măng thìphải quy đổi sản lượng đá dăm ra đá hộc để xác định sản lượng đá hộc thực tế khai thácchịu thuế tài nguyên

2 Đối với tài nguyên khai thác chưa xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khốilượng thực tế khai thác do chứa nhiều chất, tạp chất khác nhau thì sản lượng tài nguyênđược xác định trong một số trường hợp như sau:

a) Đối với tài nguyên khai thác phải chuyển qua khâu sàng tuyển, phân loại mới bánthì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo số lượng, trọng lượng hoặc khối

Trang 15

lượng của từng chất thu được sau khi sàng tuyển, phân loại Tài nguyên qua sàng tuyển,phân loại vẫn ở trạng thái quặng, chưa thành sản phẩm khác Đối với đất, đá, phế thải, bãxít thu được qua sàng tuyển nếu bán ra thì xác định sản lượng tính thuế tài nguyên theotừng loại chất tương ứng.

Ví dụ 2: Đối với than khai thác từ mỏ chứa tạp chất, đất, đá phải vận chuyển đến

khâu sàng tuyển, phân loại mới bán thì sản lượng than thực tế khai thác để tính thuế tàinguyên là sản lượng đã qua sàng tuyển, phân loại

Trường hợp khai thác quặng phải sàng tuyển một khối lượng đất, đá lớn (không thểxác định được cụ thể sản lượng) để thu được 2 kg vàng cốm, 100 tấn quặng sắt thì thuếtài nguyên được tính trên số lượng vàng cốm và quặng sắt thu được này Đồng thời xácđịnh sản lượng loại tài nguyên khác có khai thác sử dụng cho hoạt động khai thác khoángsản, như nước khai thác sử dụng cho hoạt động sàng, tuyển

b) Đối với tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau nhưng không quasàng, tuyển, phân loại và không xác định được sản lượng từng chất khi bán ra thì sảnlượng tài nguyên tính thuế của từng chất được xác định theo sản lượng tài nguyên thực tếkhai thác và tỷ lệ của từng chất có trong tài nguyên đã được kiểm định theo mẫu quặngtài nguyên khai thác

Ví dụ 3: Đơn vị khai thác quặng tại mỏ đồng, với sản lượng quặng đồng khai thác

trong tháng là 1000 tấn, có lẫn nhiều chất khác nhau Theo Giấy phép khai thác và hồ sơthiết kế khai thác tài nguyên đã được cơ quan thẩm quyền phê duyệt và tỷ lệ tài nguyên

đã được kiểm định đối với từng chất trong quặng đồng khai thác là: đồng: 60%; bạc:0,2%; thiếc: 0,5%

Sản lượng tài nguyên tính thuế của từng chất được xác định như sau:

3 Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà đưa vào sản xuất sản phẩm khácnếu không trực tiếp xác định được số lượng, trọng lượng hoặc khối lượng thực tế khai

Trang 16

thác thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định căn cứ vào sản lượng sản phẩm sảnxuất trong kỳ tính thuế và định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm.Định mức sử dụng tài nguyên phải tương ứng với tiêu chuẩn công nghệ sản xuất,chế biến sản phẩm đang ứng dụng và được người nộp thuế đăng ký với cơ quan thuế vào

kỳ khai thuế đầu tiên Trường hợp mức tiêu hao tài nguyên để sản xuất một đơn vị sảnphẩm cao hơn 5% so với tiêu chuẩn công nghệ thiết kế thì cơ quan thuế phối hợp với các

cơ quan liên quan để thẩm định làm cơ sở ấn định sản lượng tài nguyên khai thác chịuthuế

Ví dụ 4: Để sản xuất ra 1.000 viên gạch mộc (chưa nung) thì phải sử dụng 1 m3 đấtsét Trong tháng, cơ sở khai thác đất sét sản xuất được 100.000 viên gạch thì sản lượngđất sét khai thác chịu thuế tài nguyên là 100.000 viên chia (:) 1.000 viên = 100 m3

4 Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện thì sản lượng tài nguyêntính thuế là sản lượng điện của cơ sở sản xuất điện bán cho bên mua điện theo hợp đồngmua bán điện hoặc sản lượng điện giao nhận trong trường hợp không có hợp đồng muabán điện được xác định theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng ViệtNam, có xác nhận của bên mua, bên bán hoặc bên giao, bên nhận

5 Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùngcho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng métkhối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng ViệtNam.Người nộp thuế tài nguyên phải lắp đặt thiết bị đo đếm sản lượng nước khoáng thiênnhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên khai thác để làm căn cứ tính thuế Thiết

bị lắp đặt phải có giấy kiểm định của cơ quan quản lý đo lường chất lượng tiêu chuẩnViệt Nam và thông báo lần đầu với cơ quan thuế kèm theo hồ sơ khai thuế tài nguyêntrong kỳ khai thuế gần nhất kể từ ngày lắp đặt xong thiết bị

Trường hợp do điều kiện khách quan không thể lắp đặt được thiết bị đo đếm sảnlượng nước khai thác sử dụng và không trực tiếp xác định được sản lượng tính thuế thìthực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo kỳ tính thuế Cơ quan thuế phối hợpvới cơ quan có liên quan ở địa phương xác định sản lượng tài nguyên khai thác đượckhoán để tính thuế tài nguyên theo hướng dẫn tại khoản 6 điều này

6 Đối với tài nguyên được khai thác thủ công, phân tán hoặc khai thác lưu động,không thường xuyên, sản lượng tài nguyên khai thác dự kiến trong một năm có giá trịdưới 200.000.000 đồng thì thực hiện khoán sản lượng tài nguyên khai thác theo mùa vụ

Ngày đăng: 21/03/2015, 16:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w