1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu về luật thuế bảo vệ môi trường ở việt nam – thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện

112 1,6K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế bảo vệ môi trường, người viết đưa ra những so sánh, đối chiếu giữa lí luận và thực tiễn áp dụng để thấy

Trang 1

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS: LÊ THỊ NGUYỆT CHÂU NGUYỄN THỊ CẨM GIANG

MSSV:5106043

Lớp: Luật Thương Mại 2 – K36

Tháng 5/2013 Cần thơ, tháng 5/2014

Trang 2

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 4

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

MỤC LỤC

-◄♣► -

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cơ cấu luận văn 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 5

1.1 Giới thiệu về Luật thuế bảo vệ môi trường 5

1.1.1 Mục tiêu, yêu cầu của Luật thuế bảo vệ môi trường hiện hành 5

1.1.1.1 Mục tiêu 5

1.1.1.2 Yêu cầu 6

1.1.2 Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường 8

1.1.3 Các yếu tố chi phối đến sự ra đời của Luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam 8

1.1.3.1 Yếu tố chính trị 8

1.1.3.2 Yếu tố kinh tế 10

1.1.3.3 Yếu tố xã hội 13

1.1.3.4 Các yếu tố khác 15

1.2 Lí luận chung về Thuế bảo vệ môi trường 17

1.2.1 Khái niệm, vai trò của Thuế bảo vệ môi trường 17

1.2.1.1 Khái niệm 17

1.2.1.2 Vai trò 18

1.2.2 Các quy định chung về Thuế bảo vệ môi trường hiện hành 19

1.2.2.1 Những quy định chung về đối tượng và phạm vi áp dụng Thuế bảo vệ môi trường 19

1.2.2.1.1 Phạm vi áp dụng 19

1.2.2.1.2 Đối tượng chịu thuế 19

Trang 5

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

1.2.2.1.3 Đối tượng không chịu thuế 25

1.2.2.1.4 Người nộp thuế 26

1.2.2.2 Cách tính Thuế bảo vệ môi trường 27

1.2.2.2.1 Căn cứ tính thuế 27

1.2.2.2.2 Phương pháp tính thuế 28

1.2.2.2.3 Biểu khung thuế 28

1.2.2.3 Khai thuế, thời điểm tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường 35

1.2.2.3.1 Khai thuế, tính thuế, nộp thuế 35

1.2.2.3.2 Thời điểm tính thuế 40

1.2.2.3.3 Hoàn thuế 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ THU VÀ NỘP THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 42

2.1 Ưu và nhược điểm của của pháp luật về thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam so với các nước trong khu vực 42

2.1.1 Ưu điểm 42

2.1.2 Nhược điểm 46

2.2 Khái quát tình hình thực hiện các quy định pháp luật về nộp và thu thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam trong thời gian qua 50

2.2.1 Ý thức của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong việc việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế bảo vệ môi trường 50

2.2.2 Trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong việc thu thuế bảo vệ môi trường 52

2.2.3 Thủ tục thực hiện việc nộp và thu thuế bảo vệ môi trường 54

2.3 Đánh giá thực trạng thu và nộp thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam thời gian qua 60

2.3.1 Vấn đề thu 60

2.3.1.1 Thành quả đạt được 60

2.3.1.2 Tồn tại và nguyên nhân 62

2.3.2 Vấn đề nộp 64

2.3.2.1 Thành quả đạt được 64

2.3.2.2 Tồn tại và nguyên nhân 66

Trang 6

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 68 3.1 Tìm hiểu pháp luật về thuế bảo vệ môi trường của một số nước trên thế giới

3.2 Một số đề xuất về giải pháp hoàn thiện các quy định về thuế bảo vệ môi

trường 75

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về thuế bảo vệ môi trường hiện nay 75 3.2.2 Điều chỉnh mức thuế suất đối với một số đối tượng chịu thuế 76 3.2.3 Tăng cường công tác truyền thông, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế

bảo vệ môi trường 78 3.2.4 Đẩy mạnh công tác của các cán bộ và cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi

trường 80 3.2.5 Chú trọng công tác thanh tra thuế 85

KẾT LUẬN 89

Trang 7

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

LỜI MỞ ĐẦU -◄♣► -

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã và đang từng bước trên con đường Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa Đất Nước gắn liền với định hướng xây dựng một nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa bền vững và ổn định, không ngừng mở rộng mối quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới nhằm mục đích hòa bình, hữu nghị và cùng phát triển trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường Trong xu thế hội nhập đó, Chính phủ Việt Nam đã kí kết rất nhiều văn bản kể từ khi hội nghị quốc tế về “Môi trường con người” đầu tiên của Liên hợp quốc được tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển đã thông qua bản kế hoạch hành động về môi trường và khuyến nghị thành lập chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 (Braxin) đặt vấn đề môi trường trong mối liên kết với các hoạt động của con người theo quan điểm

“bảo vệ môi trường và phát triển bền vững”, điển hình như: Công ước Basel về kiểm

soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng (13/5/1995); công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu 1992 (16/11/1994); công ước

về đa dạng sinh học 1992 (16/11/1994)…Trong đó, vấn đề hạn chế ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành mục tiêu ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định và bền vững đối với những nước đang phát triển Tuy nhiên đây là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải được giải quyết bằng cách phối hợp nhiều biện pháp hữu hiệu khác nhau Một trong những công cụ kinh tế hiệu quả đã được nhiều nước trên thế giới sử dụng là xây dựng và ban hành thuế môi trường nhằm mục đích bảo vệ và tái tạo môi trường sinh thái Hiện nay khi tình trạng môi trường tiếp tục xuống cấp đang là một thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững của nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Chính vì thế, sau khi nghiên cứu về các quy định pháp luật được áp dụng trong việc đánh thuế môi trường ở nhiều quốc gia khác nhau cũng như trong quá trình xem xét thực tiễn tại Việt Nam, các nhà làm luật đã có những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc nghiên cứu và ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường một cách độc lập nhằm áp dụng một cách triệt để và có hiệu quả trong hoạt động bảo vệ môi trường Việc ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường là vô cùng cần

Trang 8

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

thiết nhằm tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định, điều chỉnh toàn diện các hành vi tác động tiêu cực đến môi trường Bên cạnh đó, mục tiêu chính của thuế bảo vệ môi trường là khuyến khích phát triển kinh tế đi đôi với giảm ô nhiễm môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, từ đó thay đổi nhận thức và điều tiết hành vi của người dân cũng như doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu dùng

Tại kì họp thứ 8, ngày 15 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội khóa XII, Quốc hội

đã thông qua Luật thuế Bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 Ngày 29/11/2010, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 14/2010/L-CTN về việc công bố Luật thuế bảo vệ môi trường Luật thuế bảo vệ môi trường có hiệu lực từ ngày 01/01/2012, một số quy định của luật này sẽ thay thế quy định về thu phí xăng, dầu tại Pháp lệnh về phí và lệ phí trước đó Đây không phải là giải pháp đặt ra nhằm thu tiền mà được dùng làm công cụ thuế để hạn chế những hành vi gây ô nhiễm, khuyến khích công nghệ xanh, sản xuất ra các sản phẩm thân thiện với môi trường,góp phần hạn chế sản xuất, tiêu dùng những sản phẩm

có tác động xấu đến môi trường Mặc dù sự ra đời của luật Thuế bảo vệ môi trường dần đi vào thực tiễn đã mang lại không ít những ảnh hưởng tích cực, cụ thể như: Tạo một hành lang pháp lý để điều chỉnh trực tiếp hành vi của các chủ thể có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp gây ô nhiễm môi trường và nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, chống chuyển dịch công nghệ bẩn vào Việt Nam, đồng thời tạo lập và sử dụng nguồn kinh phí trực tiếp đó để đầu tư xây dựng các biện pháp cải thiện môi trường, tạo nguồn chi phí cho việc bảo vệ môi trường, tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường… Tuy nhiên trong thời gian luật này chưa có các văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể đã vướng phải không ít những khó khăn, điển hình là việc nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thể thoát khỏi tình trạng lúng túng, bị động vì đối tượng chịu thuế còn chung chung và mức thuế quá cao, vấn đề thu

- nộp thuế và tuyên truyền nội dung về thuế bảo vệ môi trường chưa đạt được hiệu quả cao nhất

Chính vì thế, theo cái nhìn chủ quan của người viết, hệ thống pháp luật về thuế bảo vệ môi trường đã được xem xét, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện, tuy nhiên vẫn còn gặp không ít khó khăn trong quá trình áp dụng Từ thực tiễn này, người viết

chọn đề tài “Nghiên cứu pháp luật về Thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam – thực

Trang 9

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện” để nghiên cứu và tìm hiểu làm luận văn tốt

nghiệp cử nhân Luật của mình với mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống hơn, đầy đủ và toàn diện hơn những quy định của pháp luật Việt Nam về Thuế bảo vệ môi trường, bên cạnh đó đưa ra những đề xuất mới mang tính hiệu quả hơn trong việc áp dụng các chính sách này một cách hiệu quả và triệt để hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu của các nhà luật học đi trước cùng với những kiến thức được tích lũy trong gần bốn năm Đại học và các tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, người viết phân tích một cách có hệ thống các

quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng các chính sách này

Để hiểu rõ hơn các quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam,

đề tài nghiên cứu có mục đích như sau:

+ Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý luận của những quy định của pháp luật Việt Nam về thuế bảo vệ môi trường một cách có hệ thống, đầy

đủ và toàn diện; nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về quản lí và thu thuế bảo vệ môi trường, đồng thời ghi nhận những điểm tiến bộ mà Việt Nam cần học hỏi

+ Thứ hai, trong nội dung trình bày, từ thực trạng của việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường ở nước ta, kết quả quản lí và thu thuế từ khi có Luật thuế bảo vệ môi trường đến nay, người viết sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá những điểm chưa phù hợp và những vấn đề bất cập trong việc áp dụng quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường

+ Thứ ba, đưa ra xu hướng cải cách thuế bảo vệ môi trường trong thời gian tới, các mục tiêu cần đạt được và đề xuất một số biện pháp sửa đổi, bổ sung Luật thuế bảo

vệ môi trường cũng như các điều kiện để qua đó nêu lên những kiến nghị có thể áp dụng cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này, đồng thời xây dựng cơ chế cho việc áp dụng chúng một cách phù hợp với pháp luật và tập quán quốc

tế

3 Phạm vi nghiên cứu

Trang 10

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

Do thời gian có hạn và kiến thức thu thập tương đối hạn chế nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam thông qua hệ thống pháp luật Việt Nam cụ thể như: Luật Thuế bảo vệ môi trường, Luật Quản lý thuế, Luật môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành Bên cạnh đó, để khách quan hơn người viết còn nghiên cứu pháp luật về thuế bảo vệ môi trường của một số quốc gia trên thế giới nhằm so sánh và làm rõ hơn tình hình thực hiện nội dung pháp luật về thuế bảo vệ môi trường tại Việt Nam Đồng thời, luận văn còn đề cập đến thực tiễn áp dụng và một số khó khăn, vướng mắc tồn tại trong việc quản lí và thu loại thuế này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài luận văn này, người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau: phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở; phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết, phương pháp tổng hợp các thông tin thông qua các bài viết, các văn bản pháp luật có liên quan, một số sách, các công trình nghiên cứu có giá trị và tạp chí chuyên ngành Bên cạnh đó, dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thuế bảo vệ môi trường, người viết đưa ra những so sánh, đối chiếu giữa lí luận và thực tiễn áp dụng để thấy được những hiệu quả tích cực đã đạt được từ việc thực hiện các quy định về quản lí thu và nộp thuế nhằm đánh giá các quy định đưa ra

là phù hợp hay chưa phù hợp với thực tế Đồng thời, thông qua đó nêu ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và hợp lí hơn hệ thống pháp luật về thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam

5 Cơ cấu luận văn

Kết cấu đề tài gồm 3 phần: Lời nói đầu, phần nội dung và kết luận

Phần nội dung gồm 3 chương:

 Chương 1: Những vấn đề chung về pháp luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam

 Chương 2: Thực trạng về vấn đề quản lí thu và nộp thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam

 Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về thuế bảo vệ

môi trường tại Việt Nam

Trang 11

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

Trang 12

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

1.3 Giới thiệu về Luật thuế bảo vệ môi trường

1.3.1 Mục tiêu, yêu cầu của Luật thuế bảo vệ môi trường hiện hành

1.3.1.1 Mục tiêu

Luật thuế môi trường ra đời đã được các đại biểu Quốc hội đề ra mục tiêu chính

là khuyến khích phát triển kinh tế đi đôi với giảm ô nhiễm môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế một cách bền vững, đồng thời hạn chế những hành vi tiêu cực của các tổ chức và cá nhân trong quá trình sản xuất và sử dụng gây hậu quả xấu đến môi trường sinh thái Theo các đại biểu Quốc hội, việc áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường như giai đoạn hiện nay là vô cùng cần thiết bởi lẽ nó đã góp phần tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ, ổn định, điều chỉnh toàn diện các hành vi tác động tiêu cực đến môi trường Cách đây hơn một năm, ngày 01/01/2012, khi Luật Thuế Bảo vệ môi

trường đã chính thức “đi vào cuộc sống” đã thực hiện một cách vượt trội mục tiêu

khuyến khích phát triển kinh tế gắn với giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường, đồng thời thay đổi nhận thức, hành vi của tổ chức, cá nhân trong đầu tư sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm có tác động đến môi trường và mặt khác, tạo nguồn thu cho nhiều hoạt động bảo vệ môi trường khác Bên cạnh đó, Thuế môi trường đặt ra góp phần làm con người thay đổi thái độ đối với môi trường sống, chú trọng khai thác tài nguyên một cách tiết kiệm, hiệu quả và thân thiện hơn với hệ sinh thái xung quanh

Thuế bảo vệ môi trường còn đồng thời làm tăng giá hàng hóa, dịch vụ, từ đó sử dụng thuế để điều chỉnh sản xuất, tiêu dùng theo hướng bảo vệ môi trường Đối với người tiêu dùng khi muốn mua với giá thành hợp lí và nhà sản xuất muốn bán được nhiều sản phẩm với chi phí ít, lợi nhuận cao thì thuế bảo vệ môi trường sẽ có nhiều tác dụng khuyến khích điều chỉnh định hướng sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường Khi đó người tiêu dùng sẽ phải cân nhắc hơn khi quyết định lựa chọn những sản phẩm không thân thiện với môi trường Ví dụ điển hình là sản phẩm thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và các loại thuốc bảo quản lâm sản thuộc nhóm thuốc hạn chế sử dụng Đồng thời các nhà sản xuất cũng phải tính toán lại kế hoạch sản xuất, lựa chọn công nghệ sản xuất sạch hơn, ít chất thải hơn, giảm được chi phí xử lí chất thải ra

Trang 13

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

ngoài môi trường và mang lại hiệu quả tối ưu nhất Từ đó sẽ thúc đẩy nghiên cứu tìm

ra những nguồn năng lượng mới, công nghệ sản xuất mới hiệu quả hơn Tuy nhiên, giá

cả chỉ là một trong nhiều yếu tố tác động đến hành vi của nền kinh tế Thành công của thuế bảo vệ môi trường trong việc điều chỉnh hành vi kinh tế còn phụ thuộc vào từng thị trường cụ thể đối với từng đối tượng đánh thuế

Giảm ô nhiễm môi trường là mục tiêu chính của những nổ lực làm thay đổi hành

vi Đó cũng là một trong những mục tiêu được đặt ra hàng đầu nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, giảm phát thải ô nhiễm tại nguồn Thuế là công cụ hiệu quả nhất về chi phí trong việc giảm ô nhiễm môi trường so với việc ban hành các quy định hành chính khác Nghĩa vụ đóng thuế tạo động cơ thúc đẩy người gây ô nhiễm tìm phương pháp giảm ô nhiễm mới, đây cũng là một ưu điểm của thuế và là một trong những lí do khiến công cụ thuế cho phép giảm chi phí quản lí ô nhiễm, khuyến khích các công cuộc cách mạng bảo vệ môi trường

Ngoài ra, thuế môi trường còn hướng đến mục tiêu thúc đẩy các doanh nghiệp cải cách đổi mới công nghệ, bởi vì khi đánh thuế bảo vệ môi trường mà giá nhiên liệu tăng

sẽ dẫn đến tâm lí e ngại cho nhà sản xuất khi điều đó làm giảm đáng kể nguồn thu tài chính của họ, do vậy nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng mới, đó cũng là nguyên nhân dẫn tới sự

ra đời của nhiều chu trình sản xuất mới và các sản phẩm mới Để sản xuất ra nhiều sản phẩm đạt chất lượng cao với chi phí xử lí nguồn chất thải hợp lí, ít hao tốn nhiên liệu

và giảm ô nhiễm môi trường thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải dần cải tiến dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại hơn và hiệu quả hơn

Rõ ràng việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường như hiện nay đã góp phần chuyển dịch nền kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả đối với các loại năng lượng và nguồn lực cho việc tăng giá sản phẩm tự nhiên Thuế bảo vệ môi trường còn có tác động làm thay đổi cả quy mô và cơ cấu sản xuất – tiêu dùng, đặc biệt khi có các dấu hiệu được

dự báo dần dần vượt qua mức giá dự kiến trong kế hoạch dài hạn của nền công nghiệp 1.3.1.2 Yêu cầu

Điều 112 Luật bảo vệ môi trường 2005 có quy định: “Tổ chức, hộ gia đình, cá

nhân sản xuất, kinh doanh một số sản phẩm gây tác động xấu, lâu dài đến môi trường

Trang 14

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

và sức khỏe con người thì phải nộp Thuế môi trường” Như vậy, khi Luật thuế bảo vệ

môi trường được ban hành, áp dụng trong thời gian qua và song song tồn tại cùng với các Luật thuế khác như: Luật quản lí thuế, Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã phần nào đảm bảo yêu cầu xây dựng một hệ thống thuế đồng

bộ, phù hợp với các quy định của Hiến pháp, tạo tính thống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật khác có liên quan, thực hiện cam kết của Chính phủ với cộng đồng quốc tế

Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính; kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; phối hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; tăng cường áp dụng công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống Đây là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Do vậy, yêu cầu đặt

ra của Luật thuế bảo vệ môi trường là các quy định trong Luật không quá phức tạp, phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ quản lí Tuy nhiên thực tế cho thấy không phải như vậy, ví dụ: sau gần hai tháng áp dụng thuế bảo vệ môi trường nhiều doanh nghiệp (DN) ngành sản xuất bao bì nhựa vẫn chưa thể thoát khỏi tình trạng lúng túng, bị động

vì đối tượng chịu thuế còn chung chung và mức thuế quá cao Qua đó, các doanh nghiệp cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội, tuy nhiên, các cơ quan chức năng cũng cần định nghĩa cụ thể về mặt hàng chịu thuế để đánh thuế chứ không thể đánh thuế chung chung và tràn lan như vậy

Ngoài yêu cầu trên, Luật Thuế bảo vệ môi trường còn đặt ra yêu cầu là phải động viên hợp lý đóng góp của xã hội, tạo thêm nguồn thu để giải quyết vấn đề môi trường, đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm chủ yếu của Việt Nam

Trang 15

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

Tuyên bố Stockholm năm 19721

được xác định là cột mốc đầu tiên cho sự gắn kết hai vấn đề tưởng chừng là hai lĩnh vực riêng biệt trong hoạch định chính sách công, nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong tuyên bố Stockholm, nguyên tắc thứ nhất đã thiết lập nền tảng mối quan hệ giữa quyền con người với bảo vệ môi

trường, rằng: “Con người có các quyền cơ bản về tự do, bình đẳng và điều kiện sống

tối thiểu trong môi trường trong lành, bình đẳng cho phép con người có cuộc sống trong nhân phẩm và hạnh phúc” Tiếp đó, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về Môi

trường và phát triển bền vững năm 1992, đã đưa ra công thức liên kết giữa quyền con người và bảo vệ môi trường trong một số thuật ngữ có tính thủ tục Nguyên tắc thứ

mười tuyên bố: “Vấn đề môi trường phải được giải quyết một cách tốt nhất với sự

tham gia của tất cả các cá nhân liên quan, ở cấp độ thích hợp Cấp độ quốc gia, mỗi

cá nhân sẽ được tiếp cận thông tin thích hợp liên quan đến môi trường, do các cơ quan công quyền lưu giữ, bao gồm cả thông tin về các chất và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng của họ, và có cơ hội được tham gia trong quá trình ban hành các quyết định Các quốc gia cần khuyến khích, tuyên truyền và tạo điều kiện cho sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến những thông tin rộng rãi Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bản luật pháp và hành chính kể cả uốn nắn và sửa chữa”.2

Như vậy, có thể thấy rằng, bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội, không chỉ những tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế của Luật thuế bảo vệ môi trường mới có thể thực hiện nghĩa vụ này mà đối với tất cả mọi chủ thể khác, với khả năng của mình, chúng ta hãy cùng chung tay đóng góp một phần công sức của mình vào sự nghiệp bảo vệ và cải tạo môi trường sinh thái Hiện nay, các nước OECD đã sử dụng khá phổ biến công cụ tài chính, nhất là thuế để chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường Gần đây, công cụ tài chính và cụ thể là công cụ thuế nhằm bảo vệ môi trường

đã bước đầu vận dụng có kết quả ở nhiều nước như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Singapo

Trang 16

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

1.3.2 Bố cục của Luật thuế bảo vệ môi trường

Luật thuế bảo vệ môi trường gồm 4 Chương, 13 Điều, cụ thể:

- Chương I: Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 5) Chương này xác định phạm vi điều chỉnh, giải thích từ ngữ, đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế

- Chương II: Căn cứ tính thuế (từ Điều 6 đến Điều 8) Chương này quy định về

căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế, biểu khung thuế

- Chương III: Khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế (từ Điều 9 đến Điều

11) Chương này quy định về thời điểm tính thuế, cách khai thuế - tính thuế - nộp thuế

và các trường hợp được hoàn thuế

- Chương IV: Điều khoản thi hành (Điều 12 và điều 13) Chương này quy định

hiệu lực thi hành, các quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

1.3.3 Các yếu tố chi phối đến sự ra đời của Luật thuế bảo vệ môi trường ở Việt

Nam

1.3.3.1 Yếu tố chính trị

Chính trị được coi là một trong những biện pháp quan trọng của vấn đề bảo vệ môi trường Chính trị là mối quan hệ phát sinh giữa các giai cấp, các nhóm người trong xã hội nhằm thực hiện quyền lực chính trị Các biện pháp chính trị được thực hiện nhằm xây dựng hoặc củng cố quyền lực và ảnh hưởng chính trị

Ở các nước phát triển, vấn đề môi trường được các đảng phái, tổ chức sử dụng triệt để thu hút sự ủng hộ chính trị từ quần chúng và các tổ chức xã hội Nhiều đảng phái chính trị mang màu sắc môi trường đã xuất hiện Đảng Xanh (Green Party) ở các nước Châu Âu là tổ chức chính trị của những người bảo vệ môi trường Hoạt động của các đảng này ngày càng thu hút sự quan tâm của xã hội và càng có vị trí ngày càng vững chắc ở trong các cơ cấu quyền lực điển hình như Đức, Thụy Điển3

Ở Việt Nam, các biện pháp chính trị được sử dụng trong bảo vệ môi trường mang sắc thái khác Đảng cộng sản Việt Nam đưa vấn đề môi trường vào cương lĩnh, chiến lược hành động của mình nhằm tăng thêm tính chất toàn diện, đúng đắn và khả thi của

3

Xem: Giáo trình Luật môi trường, tái bản lần thứ 6, trường Đại học Luật Hà Nội,Nxb Công An Nhân Dân năm

2009, 96-2009/CXB/91-11/CAND, trang 22- trang 23

Trang 17

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

cương lĩnh, nâng cao vai trò lãnh đạo Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường

trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nhấn mạnh: “Bảo vệ

môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh

tế quốc tế của nước ta” Bằng vận động chính trị, vấn đề bảo vệ môi trường đã được

thể chế hóa thành các chính sách, pháp luật

1.3.3.2 Yếu tố kinh tế

Vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm Trong chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2010 do Đại hội toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX thông qua, vấn đề môi trường được nhấn mạnh:

“Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến

bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”.4

Muốn xây dựng một nền kinh tế bền vững thì trước hết cần phải duy trì và cải tạo môi trường, nói cách khác yếu tố cơ bản của phát triển bền vững là quyền phát triển và

sự cần thiết phải chăm sóc môi trường Đó là hai yếu tố không thể tách rời nhau Mối liên kết này được đề cập lần đầu tiên trong Báo cáo Brundtland Báo cáo này nhấn

mạnh: “Môi trường sinh thái và nền kinh tế ngày càng trở nên hòa quyện lẫn nhau xét

cả ở cấp độ vùng, khu vực, quốc gia lẫn quốc tế” 5

Mối liên kết này cũng được khẳng

định trong nguyên tắc thứ 13 của Tuyên bố Stockholm: “Nhằm đạt được việc quản lí

tài nguyên hợp lí và tiến đến cải thiện môi trường, các nước cần phải chấp nhận cách tiếp cận tổng hợp và phối hợp trong quy hoạch phát triển nhằm bảo đảm phát triển tương hợp với nhu cầu bảo vệ và cải thiện môi trường vì lợi ích của nhân dân các nước” 6

Chẳng hạn, trong những nghiên cứu của Brundtland, phát triển bền vững phải

thỏa mãn các yếu tố sau: “Sự xóa bỏ nghèo đói và bóc lột; sự giữ gìn và tăng cường

các nguồn tài nguyên mà chỉ với chúng mới có thể đảm bảo việc xóa nghèo được liên

Trang 18

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

tục; phải bao gồm sự tăng trưởng cả kinh tế lẫn văn hóa xã hội; và sự thống nhất giữa môi trường sinh thái và kinh tế trong hoạch định chính sách”.7

Lấy ví dụ điển hình như ở Chính phủ Canada tiếp cận phát triển bền vững theo ba tiêu chí mang tính định

mục tiêu: “Mục tiêu kinh tế là phải tạo ra được sản xuất hàng hóa và dịch vụ với

nguyên tắc chi phối là hiệu quả; mục tiêu môi trường là giữ gìn và quản lí tốt các nguồn tài nguyên thiên nhiên với nguyên tắc chi phối là bảo vệ đa dạng sinh học và tính thống nhất của sinh thái”.8

Ở Việt Nam, quan điểm ấy được thống nhất và thể hiện cụ thể tại khoản 4 Điều 1

Luật bảo vệ môi trường năm 2005 là “Phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ

hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường ” Như vậy, để phát triển kinh tế một cách vững mạnh cần

phải đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trường một cách chặt chẽ, điều đó đòi hỏi một công

cụ mới ra đời nhằm thực hiện mục tiêu thiết thực trên, và đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy Luật thuế bảo vệ môi trường được ban hành như hiện nay

1.3.3.3 Yếu tố xã hội

Trên thế giới hiện nay, sự thay đổi của khí hậu toàn cầu dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau như: rừng bị tàn phá, đặc biệt là các khu rừng nhiệt đới ở Nam Mĩ và châu Á; sự gia tăng của chất thải chứa khí CFCs ở mức độ lớn; sự gia tăng của dân số

và tác động của nó tới các thành phần môi trường.9

Toàn bộ những yếu tố trên đã góp phần làm không khí nóng lên, dẫn đến những thay đổi bất thường của khí hậu

Ở Việt Nam hiện nay, cùng với sự gia tăng dân số và nhu cầu sản xuất tiêu dùng dẫn đến sự gia tăng chất thải Vào những năm đầu của thập kỉ thứ 7 của thế kỉ XX, dân

số nước ta có hơn 30 triệu song chỉ hơn 40 năm sau đã đạt tới 90 triệu, tăng gấp ba lần Dân số tăng làm cho các nhu cầu của con người đối với tài nguyên thiên nhiên, đối với

Trang 19

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

môi trường vốn không phải là vô tận ngày càng cao đã dẫn đến sự gia tăng của các yếu

tố gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường Về vấn đề gia tăng chất thải nếu không được xử lí thì chỉ có thể thải vào môi trường Thực tiễn cho thấy do thiếu công nghệ tiên tiến và các nguồn tài chính cần thiết nên một khối lượng rất lớn các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt chưa được xử lí Phần lớn các chất thải được đưa xuống sông, hồ đã tạo nên những hồ chết, sông chết Sông Tô Lịch ở Hà Nội, các kênh rạch ở thành phố Hồ Chí Minh đã ô nhiễm đến mức không có sinh vật nào sống nổi trong dòng nước của những kênh rạch mới Nhiều khu dân cư phải sống trong tình trạng môi trường bị ô nhiễm nặng Không khí ở các thành phố và thị trấn đã bị ô nhiễm tới mức đáng lo ngại Tất cả những điều này đã tác động rất lớn đến sức khỏe của toàn thể cộng đồng

Một trong những biểu hiện rõ nét về vai trò bảo vệ môi trường và cần có một loại thuế đặt ra nhằm khống chế các hành vi tiêu cực chính là việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề môi trường Trong quá trình khai thác, sản xuất, sử dụng cũng như xử lí chất thải từ các nhiên liệu, khoáng sản và nhiều loại thuốc hóa học đã làm phát sinh nhiều tranh chấp giữa nhiều tổ chức, cá nhân, hoặc giữa các cá nhân với doanh nghiệp hoặc với các cơ quan nhà nước Ví dụ điển hình nhất chính là tranh chấp giữa Công ty bột ngọt VEDANS với các cư dân tỉnh Đồng Nai sống xung quanh địa bàn của công ty này Sự việc này xảy ra khi pháp luật nước ta chưa ban hành Luật thuế bảo vệ môi trường, có thể nhận thấy rằng hậu quả hiện hữu và tiềm ẩn mà Công ty này gây ra là không nhỏ từ sự thờ ơ và thiếu trách nhiệm từ phía VEDANS Bởi lẽ, tất cả mọi chất thải từ quá trình sản xuất cứ vô tội vạ thải ra nguồn nước sông Giả thiết đặt

ra, nếu như trong giai đoạn này thuế bảo vệ môi trường được áp dụng thì VEDANS sẽ phải có nghĩa vụ nộp thuế bảo vệ môi trường do nhập khẩu một số nhiên liệu thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định pháp luật nhằm phục vụ quá trình sản xuất.10

Có thể nói, so với nhiều nước khác, vấn đề môi trường ở Việt Nam đang nằm trong trạng thái báo động cấp bách hơn Bởi lẽ, cũng như nhiều nước đang phát triển, Việt Nam có xu hướng xuất khẩu khoáng sản như nhiều loại than đá để đáp ứng những nhu cầu công nghiệp hóa hoặc trả các món nợ nước ngoài Việc khai thác tài nguyên

10

Xem Khoản 1 Điều 5 Luật thuế bảo vệ môi trường năm 2010

Trang 20

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

và khoáng sản còn thiếu quy hoạch, khai thác không tính đến khả năng tái sinh các nguồn tài nguyên này đã dẫn đến những hủy hoại nghiêm trọng về môi trường

Thuế bảo vệ môi trường ban hành trong thời gian qua đã kịp thời hạn chế một phần nào những ảnh hưởng xấu đó, bởi lẽ, mục tiêu của việc ban hành sắc thuế này chính là thúc đẩy cải tiến công nghệ - kĩ thuật, đồng thời nguồn thu từ loại thuế trên còn được dùng vào vấn đề phục vụ các chính sách hỗ trợ cho việc khôi phục và cải tạo môi trường

1.3.3.4 Các yếu tố khác

Bên cạnh các yếu tố về chính trị, kinh tế , xã hội tác động mạnh mẽ và thúc đẩy việc ban hành Luật Thuế bảo vệ môi trường ở Việt Nam ra đời thì còn rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng như: yếu tố con người, chiến tranh, vấn đề giáo dục ý thức trong cộng đồng

“Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con

người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh mạnh hài hoà với thiên nhiên” 11

Chính vì muốn bảo vệ và tôn trọng quyền lợi của mọi người, bảo vệ sự

toàn vẹn của hệ thống môi trường và phát triển toàn cầu, nhiều công ước, hiệp định quốc tế đã đặt vị trí và tầm quan trọng của con người lên hàng đầu, nhằm nhấn mạnh con người nếu muốn phát triển trong một môi trường lành mạnh thì cần phải ý thức hơn trong tất cả mọi hoạt động liên quan đến môi trường

Ở Việt Nam những năm gần đây, ý thức bảo vệ môi trường của phần lớn các tầng lớp trong dân cư vẫn còn thấp Những khó khăn về đời sống kinh tế, những nhu cầu sinh hoạt trước mắt đã khiến con người không thấy được hết sự nguy hại của việc hủy hoại môi trường Có thể nói, chỉ mãi đến những năm cuối của thập kỉ thứ 10 của thế kỉ

XX thì vấn đề bảo vệ môi trường mới bắt đầu thực sự được pháp luật điều chỉnh Tuy Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về môi trường song việc triển khai chúng chưa thực hiện triệt để Chẳng hạn các quy định về bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước chống lại việc khai thác rừng bừa bãi hay việc hủy hoại bởi các chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp chưa được thực hiện triệt để Các cơ quan chức năng của Nhà nước

11

Xem Nguyên tắc 1 của Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị quốc gia, 1995

Trang 21

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

cũng chưa thực sự chú ý đến vấn đề môi trường, coi đó là vấn đề thứ yếu trong các kế hoạch kinh doanh hay kế hoạch hành động của mình

Mặc dù việc định hướng và kiểm soát hoạt động của con người được thực hiện chủ yếu thông qua các công cụ pháp luật và chính sách, song vai trò của dư luận xã hội, của giáo dục cộng đồng cũng cần phải được coi trọng Đáng tiếc là những công cụ định hướng và kiểm tra mang tính xã hội rộng rãi chưa được sử dụng triệt để trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở nước ta Hầu hết những đối tượng chịu thuế như: xăng, nhiên liệu bay, thuốc diệt cỏ, diệt mối, thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng12nếu không được sử dụng, bảo quản và xử lí hiệu quả sẽ gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe con người

Bên cạnh đó, sự xuất hiện của các định chế pháp lí quốc tế liên quan đến môi trường thể hiện rõ tính chất toàn cầu của vấn đề môi trường Những thập kỉ cuối của thế kỉ XX được đánh dấu bằng sự ra đời của hàng loạt các công ước quốc tế về môi trường và các tổ chức quốc tế về môi trường Rất nhiều các văn bản pháp lí quốc tế về bảo vệ môi trường được cộng đồng quốc tế xây dựng và được các quốc gia kí kết, trong đó có những công ước quốc tế về kiểm soát ô nhiễm Ngay cả trong các hiệp định về thành lập khu vực mậu dịch tự do cũng có các quy định cụ thể về môi trường Chẳng hạn, trong hiệp định về NAFTA, trong các định chế của ASEAN đều chứa đựng nhiều biện pháp bảo vệ môi trường Để thực hiện bảo vệ môi trường toàn cầu cũng như môi trường của mỗi quốc gia, các quốc gia đã và đang xem xét kí kết để tham gia các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường Việt Nam đã phê chuẩn các điều ước quốc tế khác nhau nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường, cụ thể như: Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô zôn (tham gia ngày 26/1/1994); Công ước Marpol 73/78 về ngăn chặn ô nhiễm biển do tàu gây ra (29/8/1991)… Việc tham gia các công ước quốc tế về kiểm soát ô nhiễm thể hiện chính sách mở cửa của Việt Nam trong hợp tác quốc tế nhằm giải quyết những vấn đề ô nhiễm toàn cầu Các công ước

mà Việt Nam tham gia kí kết cũng đã tạo ra khuôn khổ pháp lí quốc tế quan trọng cho

sự hợp tác trên những lĩnh vực khác nhau giữa Việt Nam với các nước khác trên thế giới nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường của Việt Nam cũng như toàn cầu

12

Xem Điều 3 Luật thuế bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2010

Trang 22

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

Trong điều kiện tích lũy nội bộ nền kinh tế còn thấp, việc tham gia các công ước quốc

tế về kiểm soát ô nhiễm sẽ giúp cho nước ta có thêm nguồn lực cho công tác phòng chống ô nhiễm và cải thiện môi trường Bên cạnh đó còn góp phần làm phát sinh những nghĩa vụ mà Việt Nam phải thực thi với tư cách là thành viên của công ước Việc triển khai thực thi các nghĩa vụ này một mặt có thể thúc đẩy hoạt động xây dựng pháp luật môi trường, xây dựng hệ thống cơ quan quản lí nhà nước về môi trường… và

từ đó cải thiện các hoạt động bảo vệ môi trường quốc gia Nắm được nhu cầu cấp thiết

đó, việc áp dụng một sắc thuế “thuế bảo vệ môi trường” là vô cùng đúng đắn trong

giai đoạn hiện nay

1.4 Lí luận chung về Thuế bảo vệ môi trường

1.4.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của Thuế bảo vệ môi trường

1.4.1.1 Khái niệm

Môi trường hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng của mọi quốc gia, dù đó là quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển Bảo vệ môi trường ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời đã được thực hiện bằng nhiều biện pháp mạnh mẽ can thiệp vào vấn đề này Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất chính là sử dụng pháp luật để khống chế những hành vi tiêu cực đến môi trường Sự xuất hiện và vai trò ngày càng tăng của các quy định pháp luật

về môi trường kể từ khi đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường là biểu hiện rõ nét về sự cấp bách của vấn đề môi trường dẫn đến hệ quả tất yếu là phải đào tạo, giáo dục công dân những kiến thức về pháp luật môi trường

Đầu tiên cần hiểu, môi trường là gì? Môi trường theo định nghĩa thông thường

“Là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một

sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy”,13

Trang 23

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

của Luật bảo vệ môi trường năm 1993 có thể tìm thấy trong Chương trình hành động của Cộng đồng châu Âu về môi trường.15

Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác hại xấu đến môi trường16

Đây là một trong những sắc thuế được xây dựng nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của nước ta đến năm 2015 với mục tiêu đánh thuế vào các đối tượng gây ô nhiễm môi trường nhằm bảo vệ môi trường sinh thái Trong thời gian qua, vấn đề tăng trưởng kinh tế, quá trình công nghiệp hoá và phát triển đô thị tăng nhanh đã tác động xấu đến môi trường sinh thái cũng như sự gia tăng phát thải nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt; gia tăng số lượng chất thải rắn trong sinh hoạt và trong công nghiệp; gia tăng phát thải các chất gây ô nhiễm không khí từ các quy trình sản xuất công nghiệp và giao thông vận tải; ô nhiễm ngày càng gia tăng cả trên mặt đất, trong lòng đất, sông hồ

và trong không khí Trước thực trạng đáng báo động trên, thuế bảo vệ môi trường ra đời là một công cụ pháp lí nhằm làm giảm đến mức tối thiểu nhất những hậu quả xấu đối với môi trường

Cũng giống như một số sắc thuế khác như Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế tài nguyên (được áp dụng đối với các sản phẩm gây ô nhiễm như ô tô, thuốc lá, rượu, bia…), Thuế thu nhập doanh nghiệp (ví dụ: sử dụng công nghệ sạch, khai thác tài nguyên quý hiếm…) thì Thuế bảo vệ môi trường đặt ra nhằm mục đích để các chủ thể nộp thuế phải đóng góp liên quan đến việc tác động vào môi trường thông qua hành vi của mình, góp phần phòng, chống ô nhiễm môi trường và đảm bảo phát triển bền vững

1.4.1.2 Vai trò

Trước đây, Nhà nước ta đã từng ban hành nhiều chính sách để bảo vệ môi trường như: miễn giảm thuế đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh thân thiện với môi trường; tuyên truyền, giáo dục nhân dân tham gia bảo vệ môi trường; thực hiện các

Trang 24

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

chương trình Quốc gia và quốc tế về bảo vệ môi trường; bố trí nguồn vốn đầu tư từ ngân sách thỏa đáng để xử lí vấn đề môi trường

Bên cạnh những chính sách khuyến khích bảo vệ môi trường thì Nhà nước cũng không ngừng áp dụng biện pháp chế tài về xử phạt vi phạm về ô nhiễm môi trường.17Tuy nhiên, nhiều chính sách ấy đặt ra vẫn chưa làm giảm đáng kể mức độ ô nhiễm môi trường như hiện nay Điều đó đòi hỏi Nhà nước cần có thêm những công cụ hữu hiệu hơn nữa, một sắc thuế có hiệu quả hơn nữa để hoàn thành xuất sắc vai trò trên

Có thể nói, trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, con người đã tạo ra không ít những hàng hóa và tiêu dùng các sản phẩm có nguy cơ trực tiếp hoặc gián tiếp gây hại đến sức khỏe của con người và ô nhiễm nặng nề đến môi trường của nhiều loại sinh vật Nhìn chung, các loại phí bảo vệ môi trường trước đó chỉ dừng lại ở mục tiêu huy động đóng góp một phần của các đối tượng xả thải vào môi trường, có tính chất pháp lí thấp nên tác dụng chưa cao Từ khi Luật thuế bảo vệ môi trường được áp dụng cho đến giai đoạn hiện nay đã không ngừng nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của toàn xã hội, phát huy những mặt tích cực trong việc điều chỉnh hành vi xã hội đối với môi trường Bên cạnh đó, việc thu thuế bảo vệ môi trường là nhằm thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, cơ cấu hợp lí, đảm bảo nguồn lực tài chính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội và chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế.18

Điều 112 Luật bảo vệ môi trường năm 2005 quy định: “Tổ chức, hộ

gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh một số sản phẩm gây tác động xấu lâu dài đến môi trường và sức khỏe con người thì phải nộp Thuế môi trường” Có thể nói, Luật

thuế bảo vệ môi trường đã góp phần rất lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật

về thuế, tạo môi trường pháp lí bình đẳng, công bằng, không phân biệt giữa các thành phần kinh tế cũng như giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư ổn định, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước cho quá trình phát triển kinh tế đất nước

Trang 25

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

Việc đánh thuế bảo vệ môi trường thể hiện sự định hướng và điều tiết của Nhà nước đối với việc tiêu dùng gây ô nhiễm nhằm hạn chế việc sử dụng các sản phẩm này; đồng thời tạo nguồn lực tài chính bù đắp chi phí bảo vệ môi trường Luật Thuế bảo vệ môi trường mang ý nghĩa xã hội, góp phần cải thiện và tái tạo môi trường sinh thái, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế một cách bền vững, ổn định và lâu dài

1.4.2 Các quy định chung về Thuế bảo vệ môi trường hiện hành

1.4.2.1 Những quy định chung về đối tượng và phạm vi áp dụng Thuế bảo vệ môi trường

1.4.2.1.1 Phạm vi áp dụng

Theo quy định tại Điều 1 của Luật thuế bảo vệ môi trường 2010 (có hiệu lực

ngày 01/01/2012) về phạm vi điều chỉnh như sau: “Luật này quy định về đối tượng

chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, căn cứ tính thuế, khai thuế, tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường.”

1.4.2.1.2 Đối tượng chịu thuế

Luật thuế bảo vệ môi trường là một trong những sắc thuế được xây dựng để hoàn thiện hệ thống chính sách thuế của nước ta đến năm 2015 với mục tiêu đánh thuế vào các đối tượng gây ô nhiễm môi trường nhằm bảo vệ môi trường sinh thái

Đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật thuế Bảo vệ môi trường và Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011 của Chính phủ được hướng dẫn

Trang 26

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

Xăng, dầu, mỡ nhờn quy định tại khoản này là các loại xăng, dầu, mỡ nhờn (sau đây gọi chung là xăng dầu) gốc hoá thạch xuất bán tại Việt Nam, không bao gồm chế phẩm sinh học (như etanol, dầu thực phẩm, mỡ động vật )

Đối với nhiên liệu hỗn hợp chứa nhiên liệu sinh học và xăng dầu gốc hoá thạch thì chỉ tính thu thuế bảo vệ môi trường đối với phần xăng dầu gốc hoá thạch

bị điện lạnh nhập khẩu.19

 Túi ni lông thuộc diện chịu thuế (túi nhựa xốp) là loại túi, bao bì nhựa mỏng làm từ màng nhựa đơn HDPE (high density polyethylene resin), LDPE (Low density polyethylen) hoặc LLDPE (Linear low density polyethylen resin), trừ bao bì đóng gói sẵn hàng hoá và túi ni lông đáp ứng tiêu chí thân thiện với môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường.20

Đối với túi ni lông đa lớp được sản xuất hoặc gia công từ màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE và các loại màng nhựa khác (PP, PA, )hoặc các chất khác như nhôm, giấy… thì thuế bảo vệ môi trường được xác định theo tỷ lệ % trọng lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE có trong túi ni lông đa lớp Căn cứ định mức lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE sử dụng sản xuất hoặc gia công túi ni lông đa lớp, người sản xuất hoặc người nhập khẩu túi ni lông đa lớp tự kê khai, tự chịu trách

19 Xem Khoản 3 Điều 1 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường

20

Xem Khoản 4 Điều 1 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường

Trang 27

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

nhiệm về việc kê khai của mình.21

Ví dụ: Doanh nghiệp A sản xuất hoặc nhập khẩu

100 kg túi ni lông đa lớp, trong đó trọng lượng màng nhựa đơn HDPE, LDPE, LLDPE

có trong túi ni lông đa lớp là 70% và trọng lượng màng nhựa khác (PA, PP, ) là 30% Như vậy, số thuế bảo vệ môi trường của doanh nghiệp A phải nộp đối với 100 kg túi ni lông đa lớp là: 100 kg x 70% x 40.000 đồng/kg = 2.800.000 đồng

 Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng

 Thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng

 Thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng

 Thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng

Chi tiết các loại thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng được xác định theo quy định tại Nghị quyết số 1269/2011/NQ-UBTVQH12 ngày 14 tháng 7 năm 2011 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về biểu thuế bảo vệ môi trường

Trên thực tế có rất nhiều sản phẩm khi sử dụng, thải bỏ đều gây ô nhiễm môi trường, nhưng mức độ gây ô nhiễm ở mức khác nhau Tuy nhiên, để đưa một sản phẩm vào đối tượng chịu thuế phải tính đến rất nhiều yếu tố như: Tác động của thuế đối với sản xuất, đối với cạnh tranh, đối với thu nhập của người tiêu dùng, mức độ gây

ô nhiễm của sản phẩm, năng lực quản lý thu Những đối tượng chịu thuế này là các sản phẩm có tính chất gây ô nhiễm cao, tác động lớn đến môi trường, mang tính thời sự, phù hợp với bối cảnh kinh tế hiện nay và thông lệ quốc tế

1.4.2.1.3 Đối tượng không chịu thuế

 Hàng hoá không quy định tại Điều 3 Luật thuế Bảo vệ môi trường và hướng dẫn tại Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP, Điều 1 Thông tư 152/2011/TT-BTC thuộc đối tượng không chịu thuế bảo vệ môi trường

21 Xem Điều 3 Thông tư số 159/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính : Sửa đổi, bổ sung Thông tư số BTC ngày 11/11/2011 hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08/08/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường

Trang 28

152/2011/TT-GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

 Hàng hoá quy định tại Điều 3 Luật thuế bảo vệ môi trường và hướng dẫn tại Điều 2 Nghị định số 67/2011/NĐ-CP, Điều 1 Thông tư 152/2011/TT-BTC không chịu thuế trong các trường hợp sau:

- Hàng hoá được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu qua cửa khẩu Việt Nam (quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu biên giới, gồm cả trường hợp đã đưa vào kho ngoại quan) nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam

- Hàng hoá quá cảnh qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam trên cơ sở Hiệp định

ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc giữa cơ quan, người đại diện được Chính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài uỷ quyền theo quy định của pháp luật

- Hàng hóa tạm nhập khẩu, tái xuất khẩu trong thời hạn theo quy định của pháp luật

- Hàng hóa xuất khẩu ra nước ngoài do cơ sở sản xuất (bao gồm cả gia công) trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu, trừ trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế bảo

vệ môi trường để xuất khẩu Ví dụ: Doanh nghiệp A nhập khẩu 40 kg túi ni lông về để gia công thêm một số chi tiết như in nhãn hoặc gia công thêm để thành sản phẩm khác

so với túi ni lông ban đầu nhập khẩu, sau đó xuất khẩu thì Doanh nghiệp A không phải

kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với 40 kg túi ni lông nêu trên khi nhập khẩu Hoặc trường hợp Doanh nghiệp B nhập khẩu 100 kg thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế

sử dụng làm nguyên liệu, vật tư để sử dụng trong quá trình gia công hàng hoá xuất khẩu thì doanh nghiệp B không phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với 100

kg thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng nêu trên khi nhập khẩu

Căn cứ vào hồ sơ hải quan của hàng hoá, cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan xác định hàng hoá thuộc đối tượng không chịu thuế bảo vệ môi trường quy định tại khoản này

1.4.2.1.4 Người nộp thuế

Điều 5 Luật Thuế bảo vệ môi trường và Điều 3 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày

Trang 29

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường quy định:

 Người nộp thuế bảo vệ môi trường là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Luật thuế

 Người nộp thuế bảo vệ môi trường trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:

- Người nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá là người nộp thuế bảo vệ môi trường, không phân biệt hình thức nhận uỷ thác nhập khẩu và xuất giao trả hàng cho người uỷ thác hay nhận uỷ thác nhập khẩu

- Tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sản xuất, nhận gia công đồng thời nhận uỷ thác bán hàng hoá vào thị trường Việt Nam là người nộp thuế bảo vệ môi trường Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận gia công nhưng không nhận uỷ thác bán hàng thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân giao gia công là người nộp thuế bảo vệ môi trường khi xuất, bán hàng hoá tại Việt Nam

- Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ, lẻ mà không xuất trình được chứng từ chứng minh hàng hóa đã được nộp thuế bảo vệ môi trường thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế

1.4.2.2 Cách tính Thuế bảo vệ môi trường

1.4.2.2.1 Căn cứ tính thuế

 Điều 6 Luật Thuế bảo vệ môi trường quy định: “Căn cứ tính thuế bảo vệ môi

trường là số lượng hàng hoá tính thuế và mức thuế tuyệt đối’’

 Số lượng hàng hoá tính thuế được quy định như sau:

- Đối với hàng hoá sản xuất trong nước, số lượng hàng hoá tính thuế là số lượng hàng hoá sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo;

- Đối với hàng hoá nhập khẩu, số lượng hàng hoá tính thuế là số lượng hàng hoá nhập khẩu

- Đối với trường hợp số lượng hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường xuất, bán và nhập khẩu tính bằng đơn vị đo lường khác đơn vị quy định tính thuế tại biểu mức thuế

Trang 30

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

Bảo vệ môi trường do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thì phải qui đổi ra đơn vị

đo lường quy định tại biểu mức thuế Bảo vệ môi trường để tính thuế.22

 Điểm 1.3 Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm

2011 xác định:

- Đối với hàng hoá là nhiên liệu hỗn hợp chứa xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch và nhiên liệu sinh học thì số lượng hàng hoá tính thuế trong kỳ là số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong số lượng nhiên liệu hỗn hợp nhập khẩu hoặc sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, đưa vào tiêu dùng nội bộ được quy đổi ra đơn vị đo lường quy định tính thuế của hàng hoá tương ứng Cách xác định như sau:

x

Tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp

- Căn cứ tiêu chuẩn kỹ thuật chế biến nhiên liệu hỗn hợp được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (kể cả trường hợp có thay đổi tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch có trong nhiên liệu hỗn hợp), người nộp thuế tự tính toán, kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với số lượng xăng, dầu, mỡ nhờn gốc hoá thạch; đồng thời có trách nhiệm thông báo với cơ quan thuế về tỷ lệ phần trăm (%) xăng, dầu, mỡ nhờn có gốc hoá thạch chứa trong nhiên liệu hỗn hợp và nộp cùng với tờ khai thuế của tháng tiếp theo tháng bắt đầu có bán (hoặc có thay đổi tỷ lệ) nhiên liệu hỗn hợp

Như vậy, có thể nói số lượng hàng hóa tính thuế được quy định cụ thể đối với từng loại hình hàng hóa ( hàng hóa sản xuất trong nước, hàng nhập khẩu ) để phù hợp với đặc thù sản xuất hàng hóa, tạo thuận lợi và hạn chế việc phát sinh chi phí trong quản lí thu thuế môi trường

 Mức thuế tuyệt đối để tính thuế được quy định theo Biểu khung thuế do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Thuế bảo vệ môi trường được quy định theo thuế

22

Xem Điểm 1.2, Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường

Trang 31

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

tuyệt đối để đơn giản, minh bạch trong thực hiện, đảm bảo ổn định số thu ngân sách Nhà nước (số thu ổn định không phụ thuộc vào sự biến động của giá hàng hóa)

x

Mức thuế tuyệt đối trên một đơn vị hàng hoá

1.4.2.2.3 Biểu khung thuế

Khoản 1 Điều 8 Luật Thuế bảo vệ môi trường xác định mức thuế tuyệt đối để tính thuế được quy định theo Biểu khung thuế:

Số thứ

Mức thuế

(đồng/1 đơn vị hàng hoá)

IV Túi ni lông thuộc diện chịu thuế kg 30.000-50.000

V Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử

Trang 32

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

+ Đối với than: Mức thuế tối thiểu theo quy định của Luật thuế bảo vệ môi trường hiện hành là 10.000 đồng/tấn, trong khi mức phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản trước đây là 6.000 đồng/tấn (tăng lên 4.000đồng/tấn) Mức thuế tối đa theo pháp luật hiện hành là 50.000 đồng/tấn (đối với hàng hóa là than antraxit), 30.000 đồng/tấn đối với hàng hóa gồm than nâu, than mỡ và các loại than đá khác Bởi

lẽ, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng về khoáng sản khoảng 60 loại, trong đó khai thác than chiếm trữ lượng rất lớn Đóng góp của ngành công nghiệp khai khoáng này khoảng 10-11% GDP cả nước (25% Ngân sách Nhà nước) Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi đó ngành khai khoáng cũng đã và đang bộc lộ nhiều bất cập, thiếu bền vững Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa phương, nhất là đối với khai thác Nhiều tổ chức, cơ sở sản xuất chưa đầu tư công nghệ cao vào khai thác, đặc biệt là chế biến sâu dẫn đến khoáng sản bị thất thoát rất lớn Vấn đề này cũng được khẳng định trong Báo cáo kết quả giám sát của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường năm 2012 Cụ thể, qua khảo sát thực tế của Đoàn giám sát, việc chế biến khoáng sản chưa được quan tâm đúng mức, chế biến với công nghệ đơn giản, không có giá trị cao về mặt kinh tế Mặt khác, quy trình và thủ tục cấp phép khai thác ở các địa phương còn lỏng lẻo Nhiều giấy phép cấp không đúng đối tượng, một số đơn vị có tiềm năng khai thác, chế biến khoáng sản thì không được cấp giấy phép, còn nhiều tổ chức, cá nhân không hoạt động trong lĩnh vực khoáng sản, không có nhân lực và trang thiết bị thì lại được cấp giấy phép

+ Đối với túi nhựa xốp (hay còn gọi là túi ni lông thuộc diện chịu thuế) là loại hàng hóa gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do đây là loại hàng hóa khó phân hủy

Trang 33

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

trong môi trường Để tác động mạnh đến hành vi của người tiêu dùng và hạn chế việc

sử dụng, Chính phủ đã quy định mức thu là 30.000-50.000 đồng/kg

+ Đối với nhóm thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng, mức thuế được quy định như sau:

- Thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng: mức thuế là 500-2.000 đồng/kg

- Đối với 3 nhóm thuốc còn lại gồm: thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản, thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng đều có chung mức thuế là 1.000-3.000 đồng/kg

Khoản 2 còn quy định:

 Căn cứ vào Biểu khung thuế quy định tại Khoản 1 Điều này, Ủy ban thường

vụ Quốc hội quy định mức thuế cụ thể đối với từng loại hàng hóa chịu thuế bảo đảm các nguyên tắc sau:

- Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế phù hợp với chính sách phát triển kinh

tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kì;

- Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế được xác định theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa

1.4.2.3 Khai thuế, thời điểm tính thuế, nộp thuế và hoàn thuế bảo vệ môi trường 1.4.2.3.1 Khai thuế, tính thuế, nộp thuế

 Điểm 1.1 Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 152/2011/TT-CP ngày 11 tháng 11 năm 2011 quy định về việc khai thế, nộp thuế như sau:

 Việc khai thuế, nộp thuế được thực hiện theo quy định của Luật thuế bảo vệ môi trường, Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế

cụ thể như sau:

 Về hồ sơ khai thuế: Hồ sơ khai thuế bảo vệ môi trường là tờ khai theo mẫu

số 01/TBVMT và các tài liệu liên quan đến việc khai thuế, tính thuế

- Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, tạm nhập - tái xuất khẩu thì hồ sơ hải quan của hàng hoá được sử dụng làm hồ sơ khai thuế bảo vệ môi trường

- Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá tự chịu trách nhiệm về việc

kê khai thuế bảo vệ môi trường Khi đó việc khai thuế phải được tiến hành một cách

Trang 34

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế.23

 Trường hợp phát hiện khai sai, gian lận, trốn thuế thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế

 Về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế:

+ Đối với hàng hoá sản xuất trong nước (trừ than đá tiêu thụ nội địa của Tập đoàn công nghiệp than-Khoáng sản Việt Nam và sản xuất kinh doanh xăng dầu), người nộp thuế bảo vệ môi trường thực hiện nộp hồ sơ khai thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuế quản lý trực tiếp

Trường hợp người nộp thuế có cơ sở sản xuất hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với trụ sở chính thì nộp hồ sơ khai thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuế quản lý trực tiếp tại địa phương nơi có

cơ sở sản xuất hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường

+ Đối với hàng hoá nhập khẩu (trừ trường hợp xăng dầu nhập khẩu để bán), người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế với cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan

 Khai thuế bảo vệ môi trường:

+ Đối với hàng hoá sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, khuyến mại, quảng cáo thực hiện khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo tháng theo quy định của Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trường hợp trong tháng không phát sinh thuế bảo vệ môi trường phải nộp thì người nộp thuế vẫn kê khai và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để theo dõi + Đối với hàng hóa nhập khẩu, hàng hoá nhập khẩu uỷ thác thuộc diện chịu thuế bảo vệ môi trường thì người nộp thuế thực hiện khai thuế, tính thuế và nộp thuế theo từng lần phát sinh (trừ trường hợp xăng dầu nhập khẩu để bán)

Thời hạn nộp thuế bảo vệ môi trường trong trường hợp này là thời hạn nộp thuế nhập khẩu theo quy định tại Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành

23

Xem Khoản 2 Điều 7 Luật Quản lí thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 đã được sửa đổi, bổ

sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, quy định về quản lý thuế

Trang 35

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

 Điều 7 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 quy định về kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường trong một số trường hợp cụ thể được thực hiện như sau: + Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh nhập khẩu túi nilông và nhập khẩu thiết

bị điện lạnh có chứa HCFC căn cứ tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá sản xuất, nhập khẩu

và các tài liệu hồ sơ liên quan để kê khai và nộp thuế bảo vệ môi trường theo quy định + Đối với xăng dầu: Các công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối thực hiện đăng

ký, kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường vào ngân sách nhà nước tại cơ quan thuế địa phương nơi kê khai, nộp thuế giá trị giá tăng, cụ thể:

- Các công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối trực tiếp nhập khẩu, sản xuất, chế biến xăng dầu (gọi chung là các đơn vị đầu mối) thực hiện kê khai, nộp thuế tại địa phương nơi các đơn vị đầu mối đóng trụ sở chính đối với lượng xăng dầu do các đơn

vị này trực tiếp xuất, bán bao gồm xuất để tiêu dùng nội bộ, xuất để trao đổi sản phẩm hàng hoá khác, xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, bán cho tổ chức, cá nhân khác ngoài

hệ thống của đơn vị đầu mối (kể cả các doanh nghiệp mà đơn vị đầu mối có cổ phần từ 50% trở xuống); trừ lượng xăng dầu xuất bán và nhập khẩu uỷ thác cho công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối khác

- Các đơn vị thành viên hạch toán độc lập trực thuộc đơn vị đầu mối; các Chi nhánh trực thuộc đơn vị đầu mối; các Công ty cổ phần do đơn vị đầu mối nắm cổ phần chi phối (trên 50% cổ phần) hoặc các Chi nhánh trực thuộc các đơn vị thành viên, các Chi nhánh trực thuộc các Công ty cổ phần nêu trên (gọi chung là các đơn vị thành viên) thực hiện kê khai, nộp thuế tại địa phương nơi các đơn vị thành viên đóng trụ sở chính đối với lượng xăng dầu do các đơn vị thành viên xuất, bán cho tổ chức, cá nhân khác ngoài hệ thống

- Tổ chức khác trực tiếp nhập khẩu, sản xuất, chế biến xăng dầu thực hiện kê khai, nộp thuế tại cơ quan thuế địa phương nơi kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng khi xuất, bán xăng dầu

- Đối với các trường hợp xăng dầu dùng làm nguyên liệu pha chế xăng sinh học

mà chưa kê khai nộp thuế bảo vệ môi trường thì khi xuất bán xăng sinh học, đơn vị bán xăng sinh học phải kê khai nộp thuế bảo vệ môi trường theo quy định

- Trường hợp xăng, dầu, mỡ nhờn nhập khẩu về sử dụng cho mục đích khác không phải để bán; dầu nhờn, mỡ nhờn được đóng gói riêng khi nhập khẩu kèm

Trang 36

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

với vật tư, phụ tùng cho máy bay hoặc kèm với máy móc, thiết bị thì người nộp thuế kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường với cơ quan hải quan

- Xăng dầu được xuất, bán ra theo sản lượng ghi trên hoá đơn, chứng từ xuất, bán thì người nộp thuế phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường theo sản lượng ghi trên hoá đơn, chứng từ xuất, bán đó

+ Đối với than khai thác và tiêu thụ nội địa:

o Đối với than do Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) quản lý và giao cho các đơn vị thành viên khai thác, chế biến và tiêu thụ việc kê khai và nộp thuế bảo vệ môi trường thực hiện như sau:

 Hàng tháng các Công ty làm đầu mối tiêu thụ than của Vinacomin thực hiện phân bổ số thuế bảo vệ môi trường phải nộp cho các địa phương nơi có than khai thác tương ứng với sản lượng than thu mua của các Công ty sản xuất khai thác than tại địa phương và lập Biểu tính thuế bảo vệ môi trường theo mẫu phụ lục số 02/TBVMT ban hành kèm theo Thông tư này

Số thuế bảo vệ môi trường phân bổ cho các địa phương nơi khai thác than được xác định căn cứ trên tỷ lệ phần trăm (%) than tiêu thụ nội địa trong tổng số than bán ra

và số lượng than khai thác tại địa phương bán cho công ty đầu mối tiêu thụ than của Vinacomin, được xác định theo công thức sau:

Tỷ lệ (%)

Sản lượng than tiêu thụ

nội địa trong kỳ

Trang 37

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

 Công ty đầu mối tiêu thụ than kê khai và nộp thuế bảo vệ môi trường cho toàn

bộ số thuế bảo vệ môi trường phát sinh đối với than khai thác và tiêu thụ nội địa theo mẫu tờ khai số 01/TBVMT và phụ lục số 02/TBVMT ban hành kèm theo Thông tư này với cơ quan thuế quản lý trực tiếp công ty đầu mối, đồng thời gửi 1 bản phụ lục số 02/TBVMT cho cơ quan thuế quản lý công ty khai thác

 Căn cứ số thuế bảo vệ môi trường được tính nộp cho từng địa phương trên phụ lục số 02/TBVMT trong kỳ tính thuế, công ty đầu mối tiêu thụ than lập chứng từ nộp thuế bảo vệ môi trường cho địa phương nơi đóng trụ sở chính (nếu có phát sinh số thuế phải nộp) và các địa phương nơi có than khai thác

Trên chứng từ nộp thuế phải ghi rõ nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế nơi công ty đầu mối đăng ký khai thuế

và cơ quan thuế địa phương nơi có công ty khai thác than

Kho bạc Nhà nước nơi Công ty đầu mối tiêu thụ than đóng trụ sở chính chuyển tiền và chứng từ thu ngân sách nhà nước cho Kho bạc Nhà nước liên quan để hạch toán thu ngân sách nhà nước phần thuế của công ty khai thác than

x

Sản lượng than mua của các đơn vị tại địa phương nơi có than khai thác trong kỳ

x

Mức thuế tuyệt đối trên 1 tấn than tiêu thụ

Trang 38

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

o Các cơ sở sản xuất, kinh doanh than khác (gồm cả trường hợp tiêu dùng nội bộ) thực hiện kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường tại cơ quan thuế địa phương nơi khai thác

o Trường hợp người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân làm đầu mối thu mua than khai thác nhỏ lẻ thì thực hiện kê khai thuế bảo vệ môi trường với cơ quan thuế trực tiếp quản lý người nộp thuế

 Đối với than nhập khẩu: người nộp thuế kê khai theo quy định tại tiết b điểm 1.3 khoản 1 điều này???? Trường hợp nhập khẩu than nguyên khai có hàm lượng than antraxít thì người nộp thuế phải kê khai riêng lượng than antraxit nhập khẩu để nộp thuế bảo vệ môi trường theo mức quy định đối với than antraxit Nếu khối lượng thực

tế than antraxit nhập khẩu khác với đã kê khai khi nhập khẩu thì người nộp thuế phải

kê khai bổ sung, điều chỉnh

 Thuế bảo vệ môi trường chỉ phải nộp một lần đối với hàng hoá sản xuất hoặc nhập khẩu Trường hợp hàng hoá xuất khẩu đã nộp thuế bảo vệ môi trường nhưng phải nhập khẩu trở lại Việt Nam thì không phải nộp thuế bảo vệ môi trường khi nhập khẩu Đối với các tổ chức, cá nhân mua hàng hoá đã được nộp thuế bảo vệ môi trường

về để sản xuất, kinh doanh thì thuế bảo vệ môi truờng của hàng mua được hạch toán vào giá vốn hàng hoá hoặc giá thành sản phẩm sản xuất Đối với các tổ chức, cá nhân bán hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường thì giá tính thuế giá trị gia tăng là giá đã bao gồm thuế bảo vệ môi trường

 Luật thuế bảo vệ môi trường hiện hành còn quy định một số trường hợp sau:

- Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hoá sản

xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho được thực hiện theo tháng và theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.24

- Việc khai thuế, tính thuế, nộp thuế bảo vệ môi trường đối với hàng hoá nhập

khẩu được thực hiện cùng thời điểm với khai thuế và nộp thuế nhập khẩu.25

- Thuế bảo vệ môi trường chỉ nộp một lần đối với hàng hoá sản xuất hoặc nhập khẩu.26

Trang 39

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

1.4.2.3.2 Thời điểm tính thuế

 Đối với hàng hoá sản xuất bán ra, trao đổi, tặng cho, thời điểm tính thuế là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hoá

 Đối với hàng hoá sản xuất đưa vào tiêu dùng nội bộ, thời điểm tính thuế là thời điểm đưa hàng hoá vào sử dụng

 Đối với hàng hoá nhập khẩu, thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký tờ khai hải quan

 Đối với xăng, dầu sản xuất hoặc nhập khẩu để bán, thời điểm tính thuế là thời điểm đầu mối kinh doanh xăng, dầu bán ra

1.4.2.3.3 Hoàn thuế

Người nộp thuế bảo vệ môi trường được hoàn thuế bảo vệ môi trường đã nộp trong một số trường hợp được quy định tại Điều 8 Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 Hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP ngày

08 tháng 8 năm 2011của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế Bảo vệ môi trường như sau:

- Hàng hóa nhập khẩu còn lưu kho, lưu bãi tại cửa khẩu và đang chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan được tái xuất khẩu ra nước ngoài

- Hàng hóa nhập khẩu để giao, bán cho nước ngoài thông qua đại lý tại Việt Nam; xăng, dầu bán cho phương tiện vận tải của hãng nước ngoài trên tuyến đường qua cảng Việt Nam hoặc phương tiện vận tải của Việt Nam trên tuyến đường vận tải quốc tế theo quy định của pháp luật

- Hàng hóa tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất được hoàn lại số thuế bảo vệ môi trường đã nộp tương ứng với số hàng tái xuất khẩu

- Hàng nhập khẩu do người nhập khẩu tái xuất khẩu (kể cả trường hợp trả lại hàng) ra nước ngoài được hoàn lại số thuế bảo vệ môi trường đã nộp đối với số hàng tái xuất ra nước ngoài

26

Xem Khoản 3 Điều 10 Luật thuế bảo vệ môi trường 2010, Nxb Chính trị Quốc gia

Trang 40

GVHD:TS Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang

- Hàng tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm được hoàn lại số thuế bảo vệ môi truờng đã nộp tương ứng với số hàng hoá khi tái xuất khẩu

ra nước ngoài

- Việc hoàn thuế bảo vệ môi trường theo quy định tại Điều này chỉ thực hiện đối với hàng hóa thực tế xuất khẩu Thủ tục, hồ sơ, trình tự, thẩm quyền giải quyết hoàn thuế bảo vệ môi trường đối với hàng xuất khẩu được thực hiện theo quy định như đối với việc giải quyết hoàn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

- Túi nilon trong tỷ lệ hao hụt không được hoàn thuế bảo vệ môi trường, đó là một trong những nội dung hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc nếu doanh nghiệp nhập khẩu túi nilon từ ngày 1-1-2012 đến hết 14-11-2012 để đóng gói sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất, gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói sẽ được hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường đối với toàn bộ số túi nilon đó, không phân biệt sản phẩm đã xuất khẩu hay chưa Bộ Tài chính lưu ý, trong số túi nilon nêu trên, lượng túi nilon nằm trong tỷ lệ hao hụt đã đăng ký định mức với cơ quan Hải quan như bị rách, thủng, nhàu nát trong quá trình sản xuất không thuộc đối tượng được hoàn thuế bảo vệ môi trường

Hồ sơ hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường phải đầy đủ các giấy tờ theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 30/2013/TT - BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn hoàn lại tiền thuế bảo vệ môi trường đối với túi ni lông làm bao bì đóng gói sẵn hàng hóa theo Nghị quyết 02/NQ - CP của Chính phủ Đối với số bao bì (túi nilon) doanh nghiệp đã có văn bản cam kết nhập khẩu để đóng gói sản phẩm nhưng không sử dụng để đóng gói sản phẩm mà dùng trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho, doanh nghiệp phải kê khai, nộp thuế bảo vệ môi trường và bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế

Ngày đăng: 05/10/2015, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
GVHD:TS. Lê Thị Nguyệt Châu SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Giang 5. Học viện Tài chính, Giáo trình thuế Nhà nước, Nxb. Tài chính, Hà Nội, năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 5. Học viện Tài chính, "Giáo trình thuế Nhà nước
Nhà XB: Nxb. Tài chính
Năm: 2008
6. Học viện Tài chính, Giáo trình Quản lí thuế, Nxb. Tài chính, Hà Nội, năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lí thuế
Tác giả: Học viện Tài chính
Nhà XB: Nxb. Tài chính
Năm: 2010
8. NCS Nguyễn Quang Tuấn – Ths. Lê Thị Thảo: Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 129 – tháng – 8 – 2008, Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, ngày 20/08/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 129 – tháng – 8 – 2008
9. Nguyễn Thị Mai Phương, Hướng tới chính sách thuế môi trường tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tài chính - kế toán, số 6/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng tới chính sách thuế môi trường tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Phương
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu tài chính - kế toán
Năm: 2007
11. The American Heritage Dictionary, Boston, 1992, trang 616 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The American Heritage Dictionary
Nhà XB: Boston
Năm: 1992
12. The Challenge of Environment, UNDP, Annual Report, trang 3. 13. The Clean Air Act.14. The Clean Water Act Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Challenge of Environment
Tác giả: UNDP
Nhà XB: Annual Report
17. The First Global Revolution, New York 1991. Trang 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The First Global Revolution
Nhà XB: New York
Năm: 1991
18. Ths. Bùi Thanh: Tăng cường quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường để phát triển bền vững, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, ngày 9/7/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường để phát triển bền vững
19. Ths.Tạ Văn Nam: Bốn nhược điểm lớn của ngành Thuế Việt Nam, Tạp chí Kinh kế và dự báo số 12, ngày 28/06/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn nhược điểm lớn của ngành Thuế Việt Nam
Tác giả: Ths.Tạ Văn Nam
Nhà XB: Tạp chí Kinh kế và dự báo
Năm: 2013
20. Tổng cục Thuế, 60 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Tài chính, Hà Nội, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 60 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Tổng cục Thuế
Nhà XB: Nxb. Tài chính
Năm: 2005
21. Tổng cục Thuế, Báo cáo tổng kết nhiệm vụ công tác thuế 2012, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác thuế năm 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ công tác thuế 2012, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác thuế năm 2013
Tác giả: Tổng cục Thuế
22. TS. Nguyễn Thị Mỹ Dung, Quản lí thuế ở Việt Nam - Hoàn thiện và đổi mới, Phát triển và hội nhập, số 7 (17), Tháng 11-12/2012, trang 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí thuế ở Việt Nam - Hoàn thiện và đổi mới
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Mỹ Dung
Nhà XB: Phát triển và hội nhập
Năm: 2012
23. TS. Nguyễn Thị Thanh Hoài: Tăng cường công tác thanh tra Thuế ở Việt Nam, Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 5 – 2013, Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, ngày 27/05/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác thanh tra Thuế ở Việt Nam
Tác giả: TS. Nguyễn Thị Thanh Hoài
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2013
26. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, trang 162.▄ Danh mục các trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
1. Doãn Công Khánh, Một số giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam, http://www.tapchicongsan.vn [truy cập ngày 30/04/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam
2. Hiệp Thịnh, Hãy thay đổi thói quen sử dụng túi ni lông, http: // www.Baoquang ngai.vn/chanel/2022/201304/Hay-thay-doi-thoi-quen-su-dung-tui-nilon-2231335, [truy cập ngày 16/4/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy thay đổi thói quen sử dụng túi ni lông
Tác giả: Hiệp Thịnh
Nhà XB: Bao Quảng Ngãi
Năm: 2022
3. Ngọc Vân, Hải quan Singapore hỗ trợ sử dụng công nghệ xanh bảo vệ môi trường, http://baohaiquan.vn [truy cập ngày 19/03/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải quan Singapore hỗ trợ sử dụng công nghệ xanh bảo vệ môi trường
4. Nguyễn Anh Tuấn, Ngành thuế: Tích cực triển khai chính sách mới – hướng về người nộp thuế, http://www.vinhphuc.vn.gdt.gov.vn [truy cập ngày 25/09/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành thuế: Tích cực triển khai chính sách mới – hướng về người nộp thuế
Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn
7. Thi Hà, Tác hại từ túi nilon đối với nhân loại, http://www.tnmtbacgiang.gov.vn [truy cập ngày 24/9/2011] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác hại từ túi nilon đối với nhân loại
Tác giả: Thi Hà
8. Ths. Cao Anh Tuấn, Cải cách thủ tục hành chính cho người nộp thuế có hiệu lực từ ngày 1/7/2013, http://www.Chinhphu.vn [truy cập ngày 01/07/2013] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục hành chính cho người nộp thuế có hiệu lực từ ngày 1/7/2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w