Hoàn thiện chính sách tín dụng” để nghiên cứu về tình hình tài chính, tình hình thu nợ tại công ty Cổ Phần Kim Khí Miền Trung
Trang 1MỤC LỤC
GIỚI THIỆU 4
LỜI CẢM ƠN 5
PHẦN I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ KHOẢN PHẢI THU 6
1.1 Cơ sở lý luận về tín dụng 6
1.1.1 Định nghĩa tín dụng 6
1.1.2 Bản chất của tín dụng 6
1.1.3 Chức năng của tín dụng 7
a Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả 7
b Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội 8
C Chức năng phản ánh một cách tổng hợp và kiểm soát quá trình hoạt động của nền kinh tế 8
1.1.4 Các hình thức tín dụng 9
a Tín dụng thương mại 9
b Tín dụng ngân hàng 10
1.1.5 Chính sách tín dụng 11
1.1.5.1 Tiêu chuẩn tín dụng 11
1.1.5.2 Thời hạn tín dụng 12
1.1.5.3 Chiết khấu tiền mặt 14
1.1.5.4 Chính sách thu hồi nợ 16
1.1.6 Tối đa hóa việc cấp tín dụng 18
1.1.6.1 Phân biệt giữa những khách hàng "tốt" và những khách hàng "xấu" 18
1.1.6.2 Quyết định cấp tín dụng 21
1.1.6.3 Xác định thời hạn thanh toán tín dụng 21
1.2 Khoản phải thu 23
1.2.1 Khái niệm 23
1.2.2 Vai trò của khoản phải thu 23
a Đối với người bán tín dụng 23
b Đối với người hưởng tín dụng 24
1.2.3 Theo dõi khoản phải thu 24
Trang 2a Kỳ thu tiền bình quân 24
b Phân tích thời gian của các khoản phải thu 25
c Ma trận chuyển hóa tiền mặt 25
PHẦN II : TÓM TẮT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KIM KHÍ MIỀN TRUNG 26
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần kim khí Miền Trung 26
2.1.1 Giới thiệu về công ty Cổ Phần Kim Khí Miền Trung 26
a giới thiệu về công ty 27
b lịch sử hình thành công ty 27
2.1.2 Quá trình phát triển của công ty 28
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Công ty 28
a chức năng của công ty 28
b Nhiệm vụ của Công ty 29
c Quyền hạn của Công ty 29
2.1.4 Các ngành nghề kinh doanh 29
2.1.5 Cơ cấu tổ chức công ty 31
a Sơ đồ tổ chức Công ty 31
b Chức năng quyền hạn nhiệm vụ và mối quan hệ của các phòng ban 32
2.2 Môi trường tác nghiệp của Công ty 36
2.2.1 Khách hàng 36
2.2.2 Nhà cung cấp 37
2.2.3 Đối thủ cạnh tranh 37
2.2.4 Các trung gian 38
2.3 Phân tích tình hình hoạt động của công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung: 39
2.3.1 Các mặt hàng kinh doanh của công ty và đặc điểm của nó: 39
2.3.2 Tình hình thực hiện kinh doanh sản xuất năm 2009: 40
2.3.2.1 Công tác kinh doanh: 40
2.3.3 Tình hình nguồn lực của công ty: 43
2.3.3.1 Tình hình sử dụng nguồn nhân lực: 43
2.3.3.2 Tình hình tài chính của Công ty qua các năm: 46
2.4 Thực trạng chính sách bán hàng tín dụng tại công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung 49
2.4.1 Tiêu chuẩn tín dụng 49
Trang 32.4.2 Thời hạn tín dụng 50
2.4.3 Chính sách chiết khấu 51
2.4.4 Chính sách thu hồi nợ 52
Những nguyên nhân làm tăng công nợ 55
PHẦN III : HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KIM KHÍ MIỀN TRUNG 56
3.1 Các tiền đề nhằm hoàn thiện chính sách tín dụng: 56
3.1.1 Mục tiêu, chiến lược kinh doanh của công ty: 56
3.1.2 Mục tiêu của chính sách tín dụng: 56
3.1.3 Phương pháp thực hiện: 57
3.3 Hoàn thiện chính sách tín dụng tại công ty: 57
3.3.1 Mục tiêu của chính sách tín dụng: 57
3.3.2 Xây dựng chính sách tín dụng và quyết định về khách hàng tín dụng: 58
3.3.2.1 Xác định tiêu chuẩn tín dụng và lựa chọn khách hàng: 58
3.3.2.2 Quyết định thời hạn tín dụng: 68
3.3.2.3 Xác định chính sách chiết khấu cho các nhóm khách hàng: 75
3.3.2.4 Chính sách thu nợ: 82
3.3.2.4 Tổ chức thực hiện: 87
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 89
PHỤ LỤC 90
Phụ lục 1: Bảng cân đối kế toán công ty qua các năm: 90
Phụ lục 2: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 91
Phụ lục 3: Danh sách các nhóm khách hàng 92
Phụ lục 4: Các thông số tài chính qua các năm 93
Phụ lục 5: Chi phí cơ hội vốn của khách hàng 94
Phụ lục 6: Kết quả thu nợ khó đòi năm 2009 95
Phụ lục 7: Giá trị doanh số mua của khách hàng tại Công ty năm 2009 97
Trang 4GIỚI THIỆU
Nhìn chung, các công ty đều muốn thu tiền ngay hơn là bán hàng tín dụng,
tuy nhiên, áp lực cạnh tranh buộc phải đưa ra chính sách tín dụng, nhờ thế mới có
thể tiêu thụ được hàng hóa, giảm tồn kho mặt khác bán hàng tín dụng cũng làm
tăng khối lượng công việc cũng như chi phí cho bán hàng, quản lý khoản phải thu,
thu nợ
- Xuất phát từ nhu cầu ổn định và lành mạnh hoá môi trường tài chính của
công ty, góp phần hoàn thiện các nhận biết và vận dụng chính sách tín dụng vào
trong Công ty, việc nghiên cứu và hoàn thiện chính sách tín dụng đối với công ty
là yêu cầu có tính thời sự và cấp bách cần được giải quyết
- Chính sách tín dụng thương mại được coi là một công cụ cạnh tranh sắc bén
của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.”bán hàng tín dụng là một vũ khí
cạnh tranh không bằng giá” 1
- “Việc bán hàng tín dụng làm tăng lượng bán và làm tăng tốc độ chuyển hóa
hàng tồn kho, tăng cường mối quan hệ với khách hàng” 2
- Trong quá trình hoạt động công ty không ngừng quan tâm đến vấn đề củng
cố và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng Tuy nhiên, do nhiều nhân tố khách
quan và chủ quan mà chất lượng tín dụng vẫn chưa hoàn toàn được đảm bảo, còn
có những vấn đề tồn tại, vướng mắc như sự dây dưa công nợ của khách hàng, sự
thiếu cân nhắc khi cấp tín dụng, cần tiếp tục được nghiên cứu tìm ra giải pháp giải
quyết hữu hiệu để đem lại chất lượng và hiệu quả tốt nhất
- Hệ quả của công tác thẩm định, cấp tín dụng thiếu chính xác dẫn đến công
nợ tăng nhanh
Chính vì vậy trong thời gian thực tập tại công ty cổ phần Kim Khí Miền
Trung, em chọn đề tài “Hoàn thiện chính sách tín dụng” để nghiên cứu về tình hình
tài chính, tình hình thu nợ tại công ty
Mục đích thực hiện đề tài này của em là (1) Tìm hiểu cơ sở lý luận về chính
sách tín dụng và khoản phải thu, (2) xác định các nhân tố của tổ chức ảnh hưởng
1 Quản trị tài chính - Nguyễn Thanh Liêm
Trang 5đến chính sách tín dụng, (3) trên cơ sở nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp hoàn
thiện chính sách tín dụng tại công ty Cổ Phần Kim Khí Miền Trung
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt bài luận văn tốt nghiệp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới quý thầy cô trong khoa quản trị kinh doanh, trường Đại học kinh tế Đà
Nẵng đã tận tình giảng dạy và cung cấp cho em những kiến thức quý báu trong quá
trình thực tập Đặc biệt là cô, Th.S Đoàn Thị Liên Hương, người đã trực tiếp
hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực tập, nghiên cứu, cũng
như cung cấp cho em những tài liệu liên quan quý giá cho đến khi hoàn thành
chuyên đề tốt nghiệp này
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Công ty Cổ Phần Kim
Khí Miền Trung, và trực tiếp là các anh chị trong phòng kinh doanh và toàn thể các
anh chị em công nhân viên trong công ty đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số
liệu, những thông tin cần thiết cho em nghiên cứu và những kinh nghiệm thực tế
để em hoàn thành tốt đề tài của mình
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn cho phép em được gửi tới cô và tất cả các anh
(chị) lời chúc sức khoẻ, thành công và hạnh phúc!
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 6“Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi
vay và người cho vay dự trên nguyên tắc hoàn trả” 3
Tín dụng được biểu hiện qua sơ đồ sau:
Cho vay vốn
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa, có quá trình ra đời, tồn tại và
phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa Tín dụng có một số tính chất
sau:
- Tín dụng trước hết là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền hoặc tài
sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không thay đổi quyền sở hữu chúng
- Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được hoàn trả
- Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ
lợi tức tín dụng
1.1.2 Bản chất của tín dụng
Tín dụng là quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có
mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới
hình thái tiền tệ hoặc hàng hoá Quá trình vận động qua ba giai đoạn sau :
Trang 7- Giai đoạn 1: Phân phối tín dụng dưới hình thái cho vay ở giai đoạn này,
vốn tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hoá được chuyển từ người cho vay sang người
đi vay Như vậy khi cho vay giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay,
đây là đặc điểm cơ bản khác với người mua hàng hoá thông thường Bởi vì trong
quan hệ mua bán hàng hoá thì giá trị chỉ thay đổi hình thái tồn tại Trong việc cho
vay chỉ có một bên nhận được giá trị và cũng chỉ một bên nhượng đi giá trị mà thôi
- Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất Sau khi nhận
được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để thoả mãn
một mục đích nhất định ở giai đoạn này vay vốn được sử dụng trực tiếp nếu vay
bằng hàng hoá, hoặc vay vốn để sử dụng mua hàng hoá , nếu vay vốn bằng tiền để
thoả mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của người đi vay Tuy nhiên người đi
vay không có quyền sở hữu giá trị đó , mà chỉ có quyền sử dụng trong một thời
gian nhất định
- Giai đoạn 3: Sự hoàn trả của tín dụng, đây là giai đoạn kết thúc một vòng
tuần hoàn của tín dụng Sau khi vốn dụng đã hoàn thành một chu kỳ sản xuất để
trở về hình thái tiền tệ thì vốn dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người vay
Như vậy, sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất của tín
dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng với phạm trù kinh tế khác Mặt khác
sự hoàn trả là quá trình quay trở về của giá trị Hình thái vật chất của sự hoàn trả là
sự vận động dưới hình thái hàng hoá hoặc giá trị Tuy nhiên sự vận động đó không
phải với tư cách là phương tiện lưu thông, mà tư cách là một lượng giá trị được
vận động Chính vì thế sự hoàn trả luôn luôn được bảo tồn về giá trị và có phần
tăng thêm dưới hình thức lợi tức
Vậy bản chất của tín dụng được thể hiện là hình thức vận động của vốn tiền
tệ trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống cho dân chúng
1.1.3 Chức năng của tín dụng
a Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả
Đây là chức năng quan trọng nhất của tín dụng, nhờ chức năng này mà các
nguồn vốn trong xã hội được điều hòa từ nơi thừa sang nơi thiếu nhằm phát triển
nền kinh tế Tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi của nền kinh tế và phân
phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổ sung vốn cho doanh nghiệp, cá nhân
có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng
Trang 8Ở mặt tập trung vốn tiền tệ: nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà các
nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân chúng, vốn
bằng tiền của các doanh nghiệp, vốn bằng tiền của các tổ chức xã hội
Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ, vốn tiền tệ dưới hình thức tín dụng được thực
hiện bằng hai cách : phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp Phân phối trực tiếp
là việc phân phối từ chủ thể có vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng sang chủ thể
trực tiếp sử dụng, nó được thực hiện trong tín dụng thương mại và việc phát hành
trái phiếu của công ty Phân phối gián tiếp là việc phân phối được thực hiện thông
qua tổ chức tài chính trung gian như: Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng, công ty tài
chính
Cả hai mặt tập trung và phân phối lại vốn đều được thực hiện theo nguyên tắc
hoàn trả vì vậy tín dụng có ưu thế rõ rệt, nó kích thích mặt tập trung vốn, nó thúc
đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả
b Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội
Nhờ hoạt động của tín dụng mà nó có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền
mặt và chi phí lưu thông cho xã hội điều này thể hiện qua các mặt sau đây:
- Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và phát
triển đa dạng, tạo điều kiện cho sự ra đời của các công cụ lưu thông tín dụng như
thương phiếu, kỳ phiếu, các loại séc, các phương tiện thanh toán hiện đại như thẻ
tín dụng, thẻ thanh toán Điều này làm giảm được khối lượng giấy bạc trong lưu
thông, làm giảm chi phí liên quan đến việc in tiền, đúc tiền, vận chuyển, bảo quản
tiền…
- Hoạt động của tín dụng đã mở ra một khả năng lớn trong việc mở tài khoản
và giao dịch thanh toán thông qua ngân hàng dưới các hình thức chuyển khoản
hoặc bù trừ cho nhau
- Nhờ hoạt động của tín dụng mà các hoạt động trong xã hội được huy động
để sử dụng cho các nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ tăng tốc trong phạm
vi toàn xã hội Đồng thời hoạt động tín dụng cho phép Nhà nước điều tiết một cách
linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và
lưu thông hàng hoá phát triển
Trang 9c Chức năng phản ánh một cách tổng hợp và kiểm soát quá trình hoạt động của
nền kinh tế
Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm
phục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và
nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế, do đó tín dụng còn được coi là một
trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để kiểm soát, thúc đẩy quá trình
thực hiện các chiến lược hoạch định phát triển kinh tế
Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm, gắn liền với phát triển
thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh, tín dụng có thể phản ánh và kiểm
soát quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế
1.1.4 Các hình thức tín dụng
Dựa vào chủ thể của quan hệ tín dụng trong nền kinh tế tồn tại các hình thức
tín dụng sau:
a Tín dụng thương mại
Khái niệm tín dụng thương mại
“Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các công ty, xí nghiệp, các tổ
chức kinh tế với nhau, được thực hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa cho
nhau” 4
Tín dụng thương mại là một hình thức nợ ngắn hạn, phát sinh từ doanh thu
tín dụng và được coi là một khoản phải thu của người bán và khoản phải trả của
người mua Thực chất của tín dụng thương mại là một nguồn tài trợ ngắn hạn
không do vay mượn, là nguồn ngân quỹ phát sinh trong quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp
Tín dụng thương mại là phương tiện đơn giản hóa việc thanh toán nhiều hơn
làm công cụ cho vay Khách hàng thường thấy các thuận lợi khi được trì hoãn việc
thanh toán cho đến khi các khoản mua bán hay giao hàng đã được thực hiện
Đặc điểm của tín dụng thương mại
- Tín dụng thương mại là hình thức tín dụng phát triển rộng rãi nhưng không
phải là một loại hình tín dụng chuyên nghiệp Sự tồn tại và phát triển của nó dựa
trên sự tín nhiệm cũng như mối quan hệ về cung cấp hàng hóa dịch vụ giữa những
người sản xuất kinh doanh
- Đối tượng của tín dụng thương mại là hàng hóa chứ không phải tiền tệ
4 Lý thuyết tài chính tiền tệ, 2009, Nguyễn Đăng Dờn, NXB Đại học quốc gia TPHCM.
Trang 10- Sự vận động và phát triển của tín dụng thương mại bao giờ cũng phù hợp
với sự phát triển của nền sản xuất và trao đổi hàng hóa
Các lý do thực hiện chính sách tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là một công cụ có sức mạnh tạo thuận lợi cho việc bán
hàng Việc thực hiện một chính sách tín dụng thương mại có thể mang lại những
thuận lợi hoặc bất lợi cho các bên và nó có thể dẫn đến vấn đề đôi bên cùng có lợi
trong việc thỏa thuận thực hiện một chính sách tín dụng với những lý do sau:
C1 Đối với người được hưởng tín dụng thương mại:
Thứ nhất: Người mua tận dụng việc mua chịu như là một nguồn tài
trợ ngắn hạn, họ có thể hưởng lợi từ khoản chiết khấu ( nếu chấp nhận trả sớm )
hoặc có thể chiếm dụng được một khoản vốn trong một thời hạn cho phép với một
chi phí hợp lý
Thứ hai: Gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh trong điều kiện hạn
chế về vốn (trong quá trình kinh doanh nhu cầu về vốn gia tăng nên việc đáp ứng
nhu cầu đòi hỏi phải có một nguồn vốn tích lũy Do đó vịêc thực hiện chính sách
tín dụng như là một cơ hội để họ tận dụng gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh
của mình)
Thứ ba: Nó không gây ảnh hưởng bất lợi đối với các hệ số kinh
doanh của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn
Thứ tư: Thủ tục đơn giản, không rắc rối bởi vì tín dụng thương mại
mang tính sẵn sàng và mềm dẽo, nó không cần một nghi thức chính thức nào để
thực hiện việc tài trợ Doanh nghiệp không phải ký nợ, thế chấp hoặc gắn với các
cam kết chặt chẽ
Về thời gian Sự quá hạn trong tín dụng thương mại được xem nhẹ
nhàng hơn so với trễ hạn trong các khoản vay nợ
c.2 Đối với người cấp tín dụng:
Thứ nhất: Ở một khía cạnh nào đó tín dụng thương mại nó trở thành
công cụ khuyến mại của người bán, có nhiều trường hợp ngành sản xuất chế biến
hầu như tài trợ hoàn toàn cho các doanh nghiệp mới bằng cách bán chịu với thời
hạn thật dài
Thứ hai: Có khả năng kích cầu gia tăng khối lượng sản phẩm tiêu
thụ
Trang 11 Thứ ba: Cải thiện được mối quan hệ với khách hàng, tạo được hình
ảnh, ấn tượng với khách hàng
Thứ tư: Tín dụng thương mại là hình thức tài trợ bằng hiện vật nên
hạn chế được ảnh hưởng của lạm phát, không làm teo dần vốn tài trợ
b Tín dụng ngân hàng
Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ Tín dụng giữa một bên là Ngân hàng với mộtbên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội trong đó Ngân hàng giữ vai trò vừa làngười đi vay vừa là người cho vay
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu chiếm vị trí đặc biệt quan
trọng trong nền kinh tế Tín dụng ngân hàng ra đời và phát triển cùng với sự ra đời
và phát triển của hệ thống ngân hàng Khác với tin dụng thương mại, tín dụng ngân
hàng là hình thức tín dụng chuyên nghiệp, hoạt động của nó hết sức đa dạng và
phong phú
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
- Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ, nghĩa là ngân hàng huy
động vốn và cho vay bằng tiền
- Trong tín dụng ngân hàng, các chủ thể được xác định một cách rõ ràng,
trong đó ngân hàng là người cho vay, còn các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là
người đi vay
- Tín dụng ngân hàng vừa là tín dụng mang tính chất sản xuất kinh doanh gắn
với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa là tín dụng tiêu dùng,
không gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Vì vậy quá
trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phù hợp với
quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa
Tín dụng nhà nước
Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước (bao gồm chính phủ ,
chính quyền địa phương…) với các đơn vị và cá nhân trong xã hội Trong đó chủ
yếu nhà nước đứng ra huy động vốn của các tổ chức và cá nhân bằng cách phát
hành trái phiếu để sử dụng vì mục đích và lợi ích chung của toàn xã hội
1.1.5 Chính sách tín dụng
Giá bán, chất lượng sản phẩm, danh tiếng của Công ty, quảng cáo, phạm vi
bảo đảm, thoả thuận giao nhận và dịch vụ hậu mại là yếu tố quyết định mức cầu
đối với sản phẩm mà ban lãnh đạo Công ty có thể kiểm soát được Trong khi đó,
Trang 12chính sách tín dụng là một yếu tố quyết định quan trọng khác liên quan đến mức
độ chất lượng và rủi ro doanh thu bán hàng
Do vậy, chính sách tín dụng của Công ty được thức hiện thông qua việc kiểm
soát 4 yếu tố sau:
1.1.5.1 Tiêu chuẩn tín dụng
Là nguyên tắc chỉ đạo định rõ sức mạnh tài chính tối thiểu và có thể chấp
nhận của những khách hàng mua chịu Theo nguyên tắc này những khách hàng nào
có sức mạnh tài chính hay vị thế tín dụng thấp hơn những tiêu chuẩn có thể chấp
nhận được sẽ bị từ chối cấp tín dụng theo thể thức tín dụng thương mại Về mặt lý
luận, tiêu chuẩn tín dụng có thể hạ thấp đến mức mà tính sinh lời của lượng bán
tăng thêm vượt quá chi phí cho khoản phải thu tăng thêm
Chi phí tăng thêm khi hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng:
Qui mô bộ phận tín dụng tăng lên
Công việc hành chính nhiều và phức tạp hơn
Chi phí quản lý khoản phải thu tăng
Mất mát tăng thêm
Chi phí cơ hội vốn tăng thêm
Để đánh giá những thay đổi trong chính sách tín dụng có thể bằng cách thay
đổi những tiêu chuẩn tín dụng Một doanh nghiệp có thể tác động lên doanh số bán
của họ khi tiêu chuẩn tăng lên ở mức cao hơn, doanh số bán sẽ giảm và ngược lại,
khi các tiêu chuẩn tín dụng được hạ thấp thì doanh số bán sẽ tăng lên Thông
thường, khi các tiêu chuẩn tín dụng được hạ thấp sẽ thu hút được nhiều khách hàng
có tiềm lực tài chính yếu hơn Hơn nữa, khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên thì khả
năng gặp những món nợ khó đòi hay thua lỗ cùng tăng lên và chi phí thu tiền cũng
cao hơn Do đó, về nguyên tắc khi quyết định thay đổi tiêu chuẩn tín dụng được
lựa chọn khi ra quyết định nhưng trong thực tế chỉ có một lượng hạn chế trong đó
được sử dụng
Tóm lại, chi phí cơ hội vốn có thể xuất hiện từ việc tăng khối lượng bán và
làm chậm trễ thời gian thanh toán từ khách hàng Chính sách tín dụng tối ưu bao
gồm việc mở tín dụng sao cho khả năng sinh lời biên tăng thêm ở lượng bán tăng
thêm cân bằng với chi phí cần thiết của khoản đầu tư tăng thêm vào khoản phải thu
để có lượng bán này
Trang 131.1.5.2 Thời hạn tín dụng
Là độ dài thời gian từ ngày giao hàng đến ngày nhận được tiền bán hàng Nếu
điều kiện bán hàng là “2/10 NET 40” thì thời hạn bán tín dụng là 40 ngày Nhà
quản trị tài chính có thể tác động đến doanh số bằng cách thay đổi thời hạn tín
dụng
Khi thời hạn tín dụng tăng đòi hỏi doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn vào các
khoản phải thu, nợ khó đòi sẽ tăng lên cao hơn và chi phí thu tiền bán hàng cũng
tăng lên Nhưng doanh nghiệp sẽ thu hút được nhiều hơn khách hàng mới và doanh
số sẽ tăng, lợi nhuận cũng tăng
Chiết khấu tiền mặt và thời hạn tín dụng chỉ rõ hình thức tín dụng, chẳng hạn:
một thương vụ bán hàng qui định như sau:
- “2/10 NET 30” nghĩa là tỷ lệ chiết khấu 2% sẽ được áp dụng nếu hoá đơn
bán hàng thanh toán trong 10 ngày đầu kể từ ngày giao hàng, đồng thời toàn bộ số
tiền bán hàng phải được thanh toán trong vòng 30 ngày
- “2/10 NET EOW” như trên nhưng tín dụng cho phép 30 ngày đối với các
khoản nợ trước cuối tháng
- “2/COD NET 45” nghĩa là thời hạn tín dụng 45 ngày kể từ khi ghi hoá đơn,
nếu trả ngay được giảm 2%
Thời hạn cấp tín dụng tuỳ theo từng ngành kinh doanh và tùy doanh nghiệp
Tuy nhiên, khi thiết lập thời hạn tín dụng các doanh nghiệp đều phải xem xét các
yếu tố sau:
- Độ lớn của khoản tín dụng:
Đối với những khoản tín dụng có giá trị nhỏ, thì thời gian bán chịu sẽ nhỏ
hơn và đây là những giao dịch tốn kém với những khách hàng kém quan trọng
- Xác suất về tình trạng khách hàng sẽ không trả tiền:
Trong trường hợp khách hàng là những doanh nghiệp thuộc những ngành có
rủi ro cao, hay là những doanh nghiệp có vị thế tài chính yếu thì cần áp dụng
những điều kiện tín dụng hạn chế nhằm loại bỏ rủi ro
- Tính chất đặc trưng của hàng hoá:
Nếu hàng hoá có giá trị thấp và thuộc loại mau hỏng thì không nên áp dụng
tín dụng thương mại
Độ dài của thời gian cấp tín dụng có tác dụng đến giá cả, thời gian càng dài
thì giá cả càng cao và ngược lại
Trang 14Việc mở rộng thời hạn tín dụng cho khách hàng còn dựa vào việc xác định
thời hạn tín dụng tối thiểu và thời hạn tín dụng tối đa
- Thời hạn tín dụng tối thiểu: được xác định dựa trên cơ sở:
+ Kỳ thu tiền bình quân hiện tại của Công ty
+ Chu kì kinh doanh của nhóm khách hàng tốt nhất
+ Thời hạn tín dụng của đối thủ cạnh tranh
- Thời hạn tín dụng tối đa: được xác định dựa trên cơ sở:
+ Khả năng tài chính của khách hàng
+ Chức năng của khách hàng
+ Đặc điểm kinh doanh sản phẩm, tiêu dùng sản phẩm
- Thời hạn tín dụng tối ưu: được xác định bằng cách cho dao động thời hạn
tín dụng tối thiểu và thời hạn tín dụng tối đa
1.1.5.3 Chiết khấu tiền mặt
Là phần tiền chiết khấu đối với những khoản giao dịch mua bằng tiền, chiết
khấu tạo ra những khuyến khích thanh toán sớm các hoá đơn mua hàng
Chiết khấu tiền mặt là việc giảm giá bán hàng hóa nhằm khuyến khích khách
hàng trả tiền sớm cho công ty Được áp dụng để tăng tốc độ thu hồi khoản phải thu
và bằng cách mở rộng chiết khấu, công ty giảm mức đầu tư vào khoản phải thu và
các chi phí liên quan Tuy nhiên, bên cạnh các lợi ích mang lại này thì công ty phải
mất đi chi phí chiết khấu trên phần doanh thu của các hóa đơn Chiết khấu tiền mặt
là yếu tố sau cùng trong quyết định về chính sách tín dụng và việc sử dụng chiết
khấu tiền mặt để được trả tiền sớm, được phân tích bằng cách cân bằng giữa các
chi phí và lợi ích thuộc các loại chiết khấu tiền mặt khác nhau
Thí dụ: một công ty có thể quyết định thay đổi các điều kiện tín dụng từ “Net
30”, có nghĩa là các khách hàng phải trả tiền trong vòng 30 ngày đến “2/10, Net
30”, có nghĩa là sẽ áp dụng 2% chiết khấu nếu trả tiền trong vòng 10 ngày Việc
thay đổi này đã tạo ra hai lợi ích:
Nó phải thu hút khách hàng mới, xem việc chiết khấu là việc giảm giá hàng
hóa
Việc chiết khấu khiến giảm bớt thời gian cần thiết để thu tiền bán chịu
(DSO), vì một số khách hàng hiện có sẽ trả tiền nhanh hơn để nhận được việc giảm
giá
Trang 15Khả năng khách hàng chấp nhận hay từ chối tín dụng tuỳ thuộc vào các yếu
tố sau :
- Chi phí cơ hội vốn của khách hàng
- Khả chậm trễ của khách hàng trong thanh toán so với thời hạn bán tín dụng
- Khả năng tìm kiếm nguồn tài trợ, vay ngân hàng
Khi tham gia chiết khấu, khách hàng sẽ hưởng được phần chiết khấu giảm
giá, lúc này họ sẽ cân nhắc giữa lợi ích và chi phí để đi đến quyết định chấp nhận
chiết khấu hay không Tuỳ thuộc vào sự tính toán, cân nhắc của khách hàng mà có
những phản ứng khác nhau để đảm bảo mục tiêu cuối cùng là vẫn có lợi cho họ
Cơ sở để xác định chính sách chiết khấu đối với các nhóm khách hàng là đưa
ra 2 biến số cơ bản của chính sách chiết khấu là:
- Xác định thời hạn (d) cho chính sách chiết khấu:
Để được hưởng phần chiết khấu này khách hàng phải thanh toán lượng tiền
hàng hoá đã mua sớm hơn kỳ hạn và vì vậy khách hàng phải huy động từ nhiều
nguồn vốn khác nhau như đi vay hay rút tiền hàng gửi ngân hàng, dùng nguồn vốn
chiếm từ chính sách tín dụng đối thủ hay lượng tiền bên trong (d-l) ngày đối với
khách hàng của họ (l là thời hạn mà khách hàng cho khách hàng của họ hưởng
chiết khấu) Căn cứ vào thời gian mà các thủ tục trên hoàn tất hay thời gian mà từ
lúc nhận hàng cho đến khi hàng hoá chuyển thành tiền thì ta chọn thời hạn chiết
khấu d
- Xác định tỷ lệ chiết khấu (k):
Tỷ lệ chiết khấu (k) dựa trên chi phí cơ hội vốn của Công ty và chi phí cơ hội
vốn của khách hàng và Công ty chỉ áp dụng chiết khấu cho những khách hàng có
chi phí cơ hội vốn nhỏ hơn so với Công ty Vì vậy một tỷ lệ chiết khấu đưa ra thoả
mãn các điều kiện sau:
C01 < C0(k) và C0(k) < C02
Với C01 : Chi phí cơ hội thấp nhất của khách hàng trong một nhóm
khách hàng
C02 : Chi phí cơ hội vốn của Công ty
C0(k) : Chi phí cơ hội vốn ở mức chiết khấu k
Như vậy, tại mức chiết khấu này lợi ích của Công ty được vẫn đảm bảo
không bị tổn hại và lợi ích của khách hàng được cải thiện
Trang 16- Dự đoán tỷ lệ phần trăm khách hàng chấp nhận mức chiết khấu mà Công ty
đã đưa ra:
Thông thường, khách hàng có doanh số chiếm trong tổng doanh số của công
ty càng lớn thì chi phí cơ hội của họ càng nhỏ Nên ta có thể dựa vào sự cách biệt
về doanh số của các khách hàng trong nhóm để dự đoán tỷ lệ khách hàng chấp
nhận mức chiết khấu mà Công ty đưa ra
- Sau khi tìm được giới hạn của tỷ lệ chiết khấu, ta cho k dao động trong
khoảng đó và đưa ra những phương án chiết khấu khác nhau: k = k1, k2, k3 và
cuối cùng chọn tỷ lệ chiết khấu k với phương pháp phân tích biên
1.1.5.4 Chính sách thu hồi nợ
a Chính sách theo dõi tình thanh toán nợ của khách hàng
Sau khi nhà quản trị đã quyết định chính sách tín dụng đối với các nhóm
khách hàng, tức là các quyết định tín dụng mở như thế nào? Điều kiện kèm theo ra
sao? Trong đó, chính sách theo dõi tín dụng như là biện pháp đảm bảo chính sách
vận hành tốt nhất Vì vậy, các nhà quản trị tài chính phải thường xuyên theo dõi
các khoản phải thu để xác định đúng thực trạng của chúng và đánh giá tính hiệu
quả của chính sách thu tiền của doanh nghiệp Qua đó, nhận diện những khoản tín
dụng có vấn đề và thu thập những thông tin liên quan để quản lý những khoản hao
hụt Nếu Công ty thường xuyên theo dõi để đánh giá lại khách hàng theo một chu
kỳ nào đó thì chính sách tín dụng của Công ty sẽ mang lại hiệu quả cao hơn Và
việc theo dõi chính sách tín dụng của Công ty có thể sử dụng các công cụ sau đây:
- Kỳ thu tiền bình quân
- Phân tích “tuổi” của khoản phải thu
- Mô hình số dư khoản phải thu
Mỗi công cụ có những ưu nhược điểm riêng, nó có thể thích hợp ở trường
hợp của doanh nghiệp này nhưng không thể phù hợp với trường hợp của doanh
nghiệp khác Do vậy, cách tốt nhất là Công ty nên phân loại và theo dõi số dư nợ
của từng nhóm khách hàng theo tập quán thanh toán của họ
b Chính sách thu hồi nợ
Việc thu nợ liên quan đến việc định thời hạn cho việc chi tiêu các nguồn lực,
dĩ nhiên chi phí của việc thu nợ phải được xem xét toàn diện từ quá trình đánh giá
các yêu cầu tín dụng cho đến chi phí thu nợ và các món nợ quá hạn
Việc đưa ra một thủ tục thu nợ chúng ta phải xem xét những giá trị kỳ vọng mà
Trang 17Biến số cơ bản của chính sách thu nợ là giá trị kỳ vọng của các thủ tục thu nợ.
Trong một giới hạn nhất định, số tiền chi tiêu tương đối cho hoạt động thu nợ càng
cao, tỷ lệ mất mát càng thấp và kỳ thu tiền càng ngắn song mối quan hệ giữa chi
phí thu nợ và mất mát cũng như kỳ thu tiền không phải là quan hệ tuyến tính Ban
đầu sự gia tăng chi phí thu nợ có thể giảm đáng kể các mất mát và thời hạn thu
tiền, càng về sau việc gia tăng chi phí thu nợ sẽ không còn tác dụng tích cực nữa
Điều này thể hiện qua hình vẽ dưới đây:
Hình 1: QUAN HỆ GIỮA MẤT MÁT VÀ CHI PHÍ THU NỢ
Mất
Mát
Nợ khó đòi có thể quy
cho chính sách tín dụng
vào việc thu tiền
Vì vậy, để cân nhắc cho chi phí của các thủ tục thu nợ, ta giả sử lượng bán
không còn ảnh hưởng đến nỗ lực thu nợ Như vậy cần cân nhắc giữa một bên là
giảm đầu tư vào khoản phải thu và giảm mất mát, còn bên kia là tăng chi phí kiểm
soát tín dụng, tăng cường hoạt động thu nợ Một khoản phải thu chỉ tốt như mong
muốn khi nó được thanh toán đúng hạn Công ty không thể chờ quá lâu đối với các
hóa đơn quá hạn trước khi khởi sự thủ thu tiền Song nếu khởi sự các thủ tục thu
tiền quá sớm, không hợp lý có thể làm mất lòng những khách hàng thực chất có lý
do chính đáng cho sự chậm trễ của họ Trước khi thực thi các thủ tục thu nợ cần
phải đặt ra các vấn đề sau:
- Khoản nợ quá hạn có giá trị bao nhiêu ?
- Thời hạn quá hạn bao nhiêu ?
Tóm lại, bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách thu nợ đều có ảnh hưởng
đến doanh số và kỳ thu tiền, tỷ lệ mất mát Chính vì vậy, nhà quản trị phải xem xét
các tác động trong chính sách thu nợ cùng với các thay đổi trong các biến số tín
dụng khác để xây dựng một chính sách tín dụng hợp lý nhưng vẫn đảm bảo mục
tiêu của khoản phải thu
Trang 18Thủ tục thu nợ thường bao gồm trình tự hợp lý cho các giải pháp mà công ty
áp dụng như điện thoại, thư tín, viếng thăm cá nhân, hoạt động luật pháp, chẳng
hạn:
Thời gian quá hạn Hành động cần thiết
Sau 15 ngày Gửi thư kèm hoá đơn nhắc nhở trả tiền
Sau 45 ngày Gửi thư kèm thông tin hoá đơn thúc dục
Sau 75 ngày Gửi thư kèm hoá đơn khuyến cáo sẽ huỷ bỏ giá trị tín dụng
Sau 80 ngày Gọi điện khẳng định thông báo cuối cùng về huỷ bỏ tín dụng
Sau 105 ngày Gửi thư huỷ bỏ giá trị tín dụng
Sau 135 ngày Liệt kê vào nợ khó đòi, nếu giá trị lớn có thể đòi bằng con
đường pháp luật
1.1.6 Tối đa hóa việc cấp tín dụng
Việc lựa chọn những khách hàng để cung cấp các chính sách tín dụng là một
trong những quyết định cơ bản của quản trị các khoản tín dụng thương mại Trong
phần này chúng ta sẽ giải quyết ba câu hỏi sau:
- Làm sao phân biệt những khách hàng "tốt" và những khách hàng "xấu"?
- Làm sao quyết định cấp một tín dụng và sẽ cấp cho ai?
- Làm sao xác định thời hạn tín dụng?
1.1.6.1 Phân biệt giữa những khách hàng "tốt" và những khách hàng "xấu"
Vấn đề là phải trang bị những công cụ hợp lý nhằm xem xét chất lượng về
mặt tài chính của người xin cấp tín dụng Có hai vấn đề đặt ra cần giải quyết:
Người mua có thể tín dụng hay không? Tuỳ theo câu trả lời để cung cấp
những ưu tiên trong thanh toán Tìm hiểu một cách có hệ thống về khả năng vận
hành tốt (khả năng sinh lời) của người mua để quyết định cấp tín dụng hay từ
chối?
a Các thủ tục đánh giá chất lượng tín dụng
Không thể cho rằng một khách hàng cũ có lịch sử thanh toán nợ tốt trong quá
khứ sẽ có thể giữ được sự tín nhiệm của Công ty cho tới hiện tại Rõ ràng, trừ
những trường hợp đặc biệt, một khách hàng mới không thể được đánh giá là tốt
hay xấu một cách chính xác nhờ Công ty Điều này cho thấy việc điều tra khả năng
vận hành tốt của một khách hàng là cần thiết trước khi quyết định chấp nhận hay từ
chối cấp tín dụng
Trang 19Có hai cách để nắm được thông tin này
- Cách đơn giản nhất nhưng cũng áp đặt nhất là tham khảo ý kiến về chất
lượng của một khách hàng bằng cách thu nhập toàn bộ các thông tin có chất lượng
Tuy nhiên, các thông tin thu được từ phương pháp này không phải sẽ đúng cho tất
cả các trường hợp và nó chỉ mang tính chỉ dẫn Dưới đây xin được nêu ra một vài
nguồn thông tin :
"Dư luận" về sự nổi tiếng, sự đáng tôn trọng hay lòng nhân đạo của những
nhà lãnh đạo đôi khi mang tính quyết định
Không thể bỏ qua các tham khảo từ phía chính quyền: một khách hàng
thường xuyên bị hầu toà vì các lỗi trong thanh toán thì không thể là một khách
hàng tin cậy của Công ty
Sự chấp thuận của một Công ty hay một cá nhân có uy tín sẽ là một dấu hiệu
tốt về tính vững chắc tài chính của khách hàng
Ta có thể biết thông tin về khả năng thanh toán của một khách hàng nếu là
khách hàng cũ bằng cách sử dụng thống kê hay bảng phân tích tuổi của các khoản
phải thu
Một vài tư vấn từ phía các Công ty khác, có thể tốn kém nhưng lại chính xác
hơn:
+ Các ngân hàng hay các Công ty tín dụng với những thông tin rất cụ thể
+ Các văn phòng tư vấn thương mại
Chúng ta cũng có thể sử dụng các phương pháp cổ điển hay hiện đại đã từng
được áp dụng:
Phương pháp "5 C" :
Các Công ty có thể có một số kinh nghiệm trong việc đánh giá tín dụng từ
những nghiên cứu nhanh về các đặc tính vắn tắt theo nguyên tắc 5C, bao gồm:
+ Character (tư cách tín dụng): là tính cách riêng hay thái độ tự nguyện đối
với các nghĩa vụ trả nợ Tất nhiên, tuy không thể đo lường một cách chính xác về
tư cách tín dụng của khách hàng, nhưng cũng có thể đánh giá điều đó dựa trên các
dữ liệu về những lần mua chịu trước, qua đó có thể thấy khách hàng tiềm năng đã
thanh toán các món nợ nhanh chóng đên mức nào
+ Collateral (thế chấp hay đồ ký quỹ): là bất cứ loại tài sản riêng nào mà
khách hàng có thể sử dụng để bảo đảm cho các khoản nợ
Trang 20+ Capital (vốn): là sự đo lường về sức mạnh tài chính dài hạn của khách
hàng Yếu tố này được đánh giá bằng việc phân tích các báo cáo tài chính
+ Capacity (Năng lực trả nợ): đề cập đến khả năng thanh toán nhanh các món
nợ Có thể đánh gía các tiêu thức này dựa trên khả năng thanh toán hiện tại và
dòng lưu kim dự kiến liên quan đến tổng số nợ, cũng như thời điểm phải trả chúng
+ Conditions (điều kiện kinh tế): đề cập đến tiềm năng mở rộng của nền kinh
tế hay xu thế phát triển của ngành kinh doanh Thực tế cho thấy khả năng trả nợ
của khách hàng giảm xuống khi các điều kiện kinh tế trong tình trạng xấu Có thể
đánh giá khả năng thích ứng của khách hàng thông qua những điều kiện kinh tế bất
lợi Chỉ có những khách hàng nào có tình hình tài chính lành mạnh có khả năng
thích nghi cao, được quản trị tốt mới có thể vượt qua những giai đoạn suy thoái
kinh tế
Tuy nhiên phương pháp này chủ yếu dựa vào các phán đoán do đó cần khắc
phục tính chủ quan khi thu thập thông tin
Phương pháp "LAPP"
Với cách gọi tên trên cơ sở những chữ đầu, phương pháp này mang tính
chuyên môn nhiều hơn
+ Liquidity : tỷ số giữa tài sản có lưu động trên tổng nợ ngắn hạn (khả
năng thanh toán nhanh) hay tỷ số giữa tài sản có lưu động trừ tồn kho trên tổng nợ
ngắn hạn (khả năng thanh toán tạm thời)
+ Activity : khối lượng bán, khối lượng mua, quay vòng tồn kho (tỷ số
giữa chi phí hàng bán được trên tồn kho trung bình)
+ Profitability : tỷ số giữa lợi nhuận ròng trên doanh thu (tỷ suất sinh lời
biên) hay lợi nhuận ròng trên tổng tài sản có
+ Potential : khả năng lãnh đạo, chất lượng của những sản phẩm, những
đảm bảo,
b Phân tích chi phí - lợi nhuận của việc nghiên cứu thông tin thêm
Đối diện với một yêu cầu tín dụng, doanh nghiệp có thể phản ứng theo ba
cách khác nhau:
Chấp nhận (với một số tiền và thời hạn tín dụng nhất định),
Từ chối dứt khoát (tránh không xem xét chiết khấu trả ngay),
Nghiên cứu thêm thông tin trước khi quyết định
Trang 21Trong trường hợp cuối cùng, nếu thu nhập thu được từ nghiên cứu và sở hữu
thông tin lớn hơn hoặc bằng chi phí mua thông tin thì nhà tài chính cần phải cân
nhắc lại Để thu được những thông tin hiệu quả, quá trình tìm tòi nghiên cứu có thể
được tổ chức dựa trên những cơ sở sau:
Tham khảo tài liệu lưu trữ của doanh nghiệp (áp dụng đối với các khách hàng
cũ),
Xin ý kiến của các chuyên gia (các nhà phân tích tài chính, các chuyên gia
ngân hàng, các văn phòng tư vấn ),
Các phân tích về khách hàng được cung cấp từ phía các bộ phận chuyên trách
của doanh nghiệp với việc sử dụng những công cụ phân tích tài chính hiệu quả
(các tỷ số và các mô hình đánh giá hiệu quả tài chính)
Trong quá trình trên, chúng ta có thể dừng quá trình nghiên cứu ngay sau mỗi
giai đoạn và không tiếp tục nghiên cứu tiếp hay bỏ qua việc xem xét chi tiết tất cả
các cơ hội
1.1.6.2 Quyết định cấp tín dụng
Trên cơ sở cho rằng ta đã có thể phân biệt những khách hàng tốt và xấu,
quyết định cấp tín dụng bao hàm việc xác định chính sách tín dụng tối ưu mà
doanh nghiệp chuẩn bị áp dụng
- Đầu tiên, phải sắp xếp các khách hàng (doanh nghiệp) theo các tiêu chuẩn
rõ ràng và khách quan Ví dụ, chúng ta có thể phân biệt những doanh nghiệp thành
doanh nghiệp lớn, nhỏ và vừa trên cơ sở so sánh tổng tài sản có, nguồn vốn sở hữu,
doanh thu, số lượng nhân viên
- Cần thiết thực hiện một nghiên cứu chuyên sâu để biết được khách hàng có
thể tín dụng hay không (không nên bỏ qua các cuộc điều tra thêm)
- Thống kê tất cả các hoạt động có thể áp dụng được (bao gồm cả việc không
làm gì cả) cho tất cả các khách hàng hay cho một bộ phận khách hàng Ta có thể
tưởng tượng doanh nghiệp bán hàng trả tiền ngay cho các khách hàng nhỏ, tín
dụng cho các khách hàng trung bình hay khách hàng lớn
- Thử định vị tất cả các phản ứng có thể của khách hàng (ngay sau giai đoạn
3) theo các quyết định mà doanh nghiệp áp dụng (không bán, bán trả tiền ngay,
hay bán với hình thức tín dụng) Những phản ứng này là các biến số ngẫu nhiên
được biểu hiện bằng những phân phối xác suất khách quan và chủ quan theo
trường hợp
Trang 22- Nhờ vào tất cả các sự kiện vừa rồi, chúng ta có thể thiết lập những kết quả
đầy đủ mà các quyết định đã được phối hợp với các sự kiện, ta cũng đánh giá lợi
nhuận tăng thêm của mỗi kết quả và lựa chọn quyết định có tính sinh lời cao nhất
1.1.6.3 Xác định thời hạn thanh toán tín dụng
Việc lựa chọn tín dụng chưa dừng lại ở việc chọn được khách hàng nào sẽ
được tín dụng mà nó còn phải xác định được số tiền tín dụng và số ngày tối đa mà
khách hàng có thể có để thanh toán nợ của mình Một cách tiếp cận mang tính kinh
nghiệm là cây quyết định sẽ giải quyết vấn đề này
Mô hình này dựa vào sự phân tích ảnh hưởng của biến thời hạn tín dụng trên
hai biến khác là mức độ bán và thu hồi các khoản tín dụng thương mại Lý luận
cũng tương tự như trương hợp xây dựng cây quyết định ở phần xác định chiết khấu
trả tiền ngay Nó bao gồm việc nghiên cứu thời hạn tín dụng có thể tối đa kỳ vọng
toán của lợi nhuận biên tăng thêm của mỗi loại khách hàng (nhỏ, trung bình và
lớn)
1 Đầu tiên, ta thiết lập một ma trận chỉ ra phân phối xác suất của doanh số
bán được đối với mỗi thời hạn có thể của chính sách tín dụng: vì thế, cũng có
chừng đó chính sách tín dụng mà thời hạn tín dụng được chấp nhận cho mỗi loại
khách hàng Ta nhân đôi ma trận quan hệ giữa thời hạn thanh toán và phân phối
xác suất của thu hồi nợ, xem như tất cả các khách hàng hưởng tín dụng chấp nhận
những điều kiện đưa ra bởi doanh nghiệp nhưng bên cạnh đó phải xem xét sự thay
đổi của xác suất thu hồi nợ theo thời hạn thanh toán được chấp nhận
2 Việc xây dựng này được hình thành trên cơ sở hai giả thuyết sau đây:
- Chấp nhận một thời hạn tín dụng càng dài càng giảm cơ hội thu được tiền;
- Mối quan hệ giữa thời hạn tín dụng, mức độ bán và thu hồi nợ là biết trước
chắc chắn; phân phối xác suất của mức độ bán và thu hồi nợ đã được thiết lập
3 Trên cơ sở một thời hạn tín dụng đưa ra, lợi nhuận biên được xác định
bằng cách quan tâm tới khoản tiền có thể thu được từ bán hàng và những xác suất
của thu hồi nợ Quá trình được miêu tả qua bảng sau
Bảng 1: TÍNH TOÁN LỢI NHUẬN BIÊN THEO CÁC THỜI HẠN THANH
TOÁN
Doanh thu
- chi phí trực tiếp của hàng bán
Trang 23= lợi nhuận gộp
- chi phí vốn đầu tư trong thời hạn hưởng tín dụng
= lợi nhuận biên
x xác suất của thu hồi nợ
= lợi nhuận biên kỳ vọng
1.2 Khoản phải thu
1.2.1 Khái niệm
Khoản phải thu là giá trị của tất cả hàng hoá và dịch vụ mà khách hàng còn
nợ Công ty
Khoản phải thu tồn tại một cách tất yếu trong doanh nghiệp Mọi Công ty đều
muốn hạn chế độ lớn của khoản phải thu Tuy nhiên, khoản phải thu của Công ty
chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như thời gian, tốc độ thu hồi nợ cũ và tạo ra nợ
mới cũng như sự tác động của nền kinh tế nằm ngoài tầm kiểm soát của doanh
nghiệp
Khoản phải thu thực chất là khoản tiền mà Công ty cho khách hàng vay hay
nói cách khác là Công ty tài trợ rẽ tiền cho khách hàng Khách hàng có thể dựa vào
nguồn tài trợ thông qua hình thức bán hàng trả chậm của các Công ty để có hàng
hoá, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất Hình thức bán hàng trả chậm này là
nguồn tài trợ ngắn hạn quan trọng đối với hầu hết tất cả các doanh nghiệp và nhất
là đối với Công ty thương mại
1.2.2 Vai trò của khoản phải thu
a Đối với người bán tín dụng
Để có thể đứng vững và cạnh tranh được trên thị trường thì mọi Công ty đều
phải cố gắng tận dụng triệt để mọi khả năng, nguồn lực cũng như các công cụ mà
Công ty hiện có Trong đó, chính sách tín dụng là một thứ vũ khí sắc bén nhằm
giúp cho Công ty đạt được mục tiêu về doanh số Vì khi Công ty nới lỏng các biến
số của bán hàng tín dụng thì ngoài việc tăng số lượng hàng bán ra còn tiết kiệm
được định phí do phần sản lượng tăng thêm Tín dụng thương mại có thể làm cho
Công ty ngày một có uy tín, tạo danh tiếng trên thị trường và làm cho khách hàng
mua sản phẩm của mình thường xuyên hơn Mặt khác, khi nới lỏng tín dụng sẽ
giúp cho Công ty giải toả được lượng hàng tồn kho, đồng thời giảm được các chi
phí liên quan đến tồn kho Về cơ bản tín dụng thương mại đó là sự tin tưởng của
Trang 24người cấp tín dụng và người hưởng tín dụng nên nó sẽ làm cho khách hàng hưởng
được một khoản tín dụng với các thủ tục tương đối đơn giản Đây là thủ tục cấp tín
dụng chứ không phải thủ tục vay nợ, do đó sẽ kích thích nhu cầu mua hàng và mở
rộng qui mô kinh doanh Ngoài ra, nó còn giúp cho khách hàng gắn bó với Công ty
hơn, duy trì được mối quan hệ thường xuyên với khách hàng truyền thống và kiếm
thêm khách hàng mới
Bên cạnh những thuận lợi trên thì nới lỏng chính sách tín dụng sẽ làm cho
khoản phải thu của Công ty tăng từ đó làm tăng vốn đầu tư nên dễ mất đi cơ hội
tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động khác Mặt khác khi mở rộng các điều kiện tín
dụng sẽ làm tăng khả năng mất mát, rủi ro không đòi được nợ Đồng thời, phải tốn
chí phí quản lý nợ của khách hàng cũng như các chi phí thăm viếng giao dịch
b Đối với người hưởng tín dụng
Người được hưởng tín dụng hay người mua hàng sẽ được hưởng một phần lợi
nhuận trích từ nhà cung cấp đó là các khoản chiết khấu hay thời hạn trả nợ được
kéo dài hơn hoặc khi khách hàng thiếu vốn kinh doanh hay muốn đầu tư vào cơ hội
khác thì tín dụng thương mại là biện pháp tài trợ vốn hữu hiệu
1.2.3 Theo dõi khoản phải thu
a Kỳ thu tiền bình quân
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ chuyển
nhanh khoản phải thu từ khách hàng thành tiền trong quỹ của doanh nghiệp
Kỳ thu tiền bình quân là khoảng thời gian bình quân mà các khoản phải thu
của Công ty có thể chuyển thành tiền
Khoản phải thu x Số ngày trong một năm
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh số bán tín dụng trong một năm
Có khá nhiều yếu tố tác động vào tỷ số này như: Các phương pháp áp dụng
mang tính nghề nghiệp trong tín dụng khác nhau
Tính chất của việc doanh nghiệp chấp nhận bán chịu: một số doanh nghiệp có
chính sách mở rộng bán chịu và chấp nhận thời hạn thanh toán dài hơn các đối thủ
cạnh tranh để phát triển thị trường
Loại khách hàng cũng có ảnh hưởng đến điều kiện bán chịu Các doanh
nghiệp thường đồng ý bán chịu dài thời gian cho :
+ Doanh nghiệp lớn có nhu cầu cung cấp đều đặn
Trang 25+ Doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài
+ Doanh nghiệp nước ngoài đã giúp doanh nghiệp phát triển xuất khẩu
+ Doanh nghiệp chi nhánh
+ Doanh nghiệp đưa ra được những đảm bảo an toàn cho giao dịch mua bán
đó
Ngành sản phẩm: Thời hạn bán chịu các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày ngắn
hơn so với thời hạn bán chịu các trang thiết bị
Tình trạng của nền kinh tế: Khi nền kinh phát triển thuận lợi, các doanh
nghiệp có khuynh hướng chấp nhận dễ dàng việc kéo dài thời gian bán chịu và
ngược lại
Chính sách tín dụng và chi phí bán chịu: Khi lãi suất tín dụng cấp cho các
doanh nghiệp để tài trợ cho kinh doanh tăng, các doanh nghiệp có xu hướng giảm
thời hạn bán chịu, vì nếu tiếp tục kéo dài thời hạn sẽ rất tốn kém về chi phí tài
chính
Kỳ thu tiền bình quân ngắn nói lên khả năng chuyển hoá nhanh thành tiền của
khoản phải thu song điều này chưa hẳn đã là một dấu hiệu tốt vì có thể Công ty
thực hiện chính sách tín dụng hạn chế quá mức đến mức làm mất khách hàng, giảm
hiệu quả kinh doanh
b Phân tích thời gian của các khoản phải thu
Một công cụ khách giúp chúng ta nhận ra khả năng thanh toán của các khoản
phải thu là sử dụng phân tích độ chín của các khoản phải thu Với phương pháp
này tại một thời điểm người ta xếp loại các khoản phải thu theo tỷ lệ % các hoá
đơn ghi tại các thời điểm khác nhau so với tổng khoản phải thu
Sự phân tích theo phương pháp này có tác dụng rất hữu hiệu, nhất là khi các
khoản phải thu được xem xét dưới giác độ sự biến động về mặt thời gian Bởi vậy,
nó có thể tạo ra một phương thức theo dõi hiệu quả đối với các khoản phải thu
Một yếu điểm của phương pháp này là nó chịu chi phối rất mạnh mẽ của
doanh số bán theo mùa vụ Hay nói cách khác, nếu doanh số bán thay đổi thất
thường thì biểu thời gian sẽ cho thấy có sự thay đổi rất lớn dù rằng mô hình thanh
toán không thay đổi
c Ma trận chuyển hóa tiền mặt
Ma trận cho ta biết lượng bán tín dụng ở mỗi tháng và tình hình thu tiền ở các
tháng Lợi ích của công cụ này là nhà phân tích chú ý cả đến mô thức thanh toán
Trang 26của khách hàng và có thể theo dõi mức tiến bộ trong việc thu tiền Đặc biệt ngay cả
khi lượng bán thay đổi, nhà phân tích vẫn có thể tách bạch được đâu là thói quen
trả tiền và đâu là do lượng bán thay đổi Một ưu điểm nữa của mô hình này so với
mô hình phân tích tuổi của khoản phải thu là nó hoàn toàn không chịu tác động của
yếu tố mùa vụ Mức biến động doanh số bán không ảnh hưởng đến sự phân bố hợp
lý những khoản nợ còn tồn đọng theo thời gian
Tuy nhiên, cũng có thể có những độ lệch ngẫu nhiên xuất phát từ mô hình
bình quân, và khi theo dõi các khoản phải thu chúng ta phải quyết định hoặc là
chấp nhận độ lệch chuẩn trong những giới hạn xảy ra ngẫu nhiên hoặc là phải thay
đổi mô hình
Mặt khác, như chúng ta đa biết, cung cách thanh toán các khoản tín dụng
thương mại của khách hàng trong cá ngành công nghiệp khác nhau và tại các khu
vực địa lý khác nhau thì rất khác nhau Do đó, nếu mô hình số dư khoản phải thu
áp dụng chung cho tất cả các khoản phải thu của một Công ty, trong tất cả các
vùng và khách hàng trong tất cả các ngành thì sẽ không phù hợp Chẳng hạn khi có
một sự thay đổi về sự phân bố các khoản bán chịu của doanh nghiệp trong nhiều
ngành hay địa phương, sẽ dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu dư nợ và doanh nghiệp
cần phải thay đổi chính sách thu hồi nợ và bán chịu Bởi vậy, cách tốt nhất là Công
ty phân loại và theo dõi số dư nợ của từng khách hàng theo tập quán thanh toán
của họ
Ngoài ra, phương pháp này còn một hạn chế nữa đó là nếu bạn là một người
ngoài Công ty bạn sẽ không có được những thông tin như vậy bởi chúng không hề
thể hiện trên báo cáo tài chính
PHẦN II TÓM TẮT VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CHÍNH
SÁCH TÍN DỤNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KIM KHÍ MIỀN TRUNG
2.1 Tổng quan về công ty cổ phần kim khí Miền Trung.
2.1.1 Giới thiệu về công ty Cổ Phần Kim Khí Miền Trung.
Tên Doanh Nghiệp : CÔNG TY CỔ PHẦN KIM KHÍ MIỀN
TRUNG
Tên giao dịch tiếng Anh : CENTRAL VIETNAM METAL CORPORATION
Trang 27Số hiệu tài khoản : 710A00177 tại ngân hàng công thương Đà Nẵng
361100101177 tại ngân hàng hàng hải Đà Nẵng
36200770360 tại ngân hàng công thương ĐN
a giới thiệu về công ty
Trước đây, Công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung - CEVIMETAL là Công ty
Kim khí Miền Trung là Doanh nghiệp Nhà nước hạch toán độc lập, thành viên của
Tổng Công ty Thép Việt Nam (VSC)
Công ty cổ phần kim khí miền trung là đơn vị chuyển kinh doanh các mặt hàng
kim khí, vật tư thứ liệu, phế liệu kim loại, vật tư tồng hợp, vật liệu xây dựng, sản
xuất kinh doanh thép xây dựng vằn và tròn từ D10 – D32, kinh doanh các loại phôi
thép nhập khẩu, thép thứ liệu trong và ngoài nước, tổ chức gia công chế biến các
sản phẩm kim loại và phế liệu kim loại, đầu tư kinh doanh khách sạn, văn phòng
cho thuê và chung cư cao tầng, kinh doanh dịch vụ cho thuê kho bãi, đại lý tiên thụ
sản phẩm cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước
b lịch sử hình thành công ty
Năm 1995, Công ty Kim khí và Vật tư tổng hợp Miền Trung được thành lập
theo Quyết định số 1065 QĐ/TCCBĐT ngày 20/12/1994 của Bộ trưởng Bộ Công
nghiệp nặng trên cơ sở hợp nhất Công ty Kim khí Đà Nẵng và Công ty Vật tư thứ
liệu Đà Nẵng
Năm 2004, Công ty được đổi tên thành Công ty Kim khí Miền Trung theo
quyết định số 221/QĐ-T-TC ngày 10/02/2004 của Hội đồng quản trị Tổng Công ty
Thép Việt Nam và giữ nguyên tên gọi này tới thời điểm cổ phần hoá
Ngày 31 tháng 12 năm 2004, Bộ Công nghiệp ra quyết định số
3568/QĐ-TCCB về việc cổ phần hoá Công ty Kim khí Miền Trung
Ngày 30 tháng 09 năm 2005, Bộ Công nghiệp ra quyết định số: 3088/QĐ-BCN
về việc phê duyệt phương án và chuyển Công ty Kim khí Miền Trung thành Công
ty Cổ phần Kim khí Miền Trung
Công ty được cổ phần hoá và chính thức đi vào hoạt động theo hình thức Công
ty cổ phần từ ngày 01/01/2006 Đây là bước ngoặt đánh dấu một mốc chuyển đổi
quan trọng trong lịch sử hoạt động Công ty, tạo thế chủ động cho Công ty trên con
đường hội nhập và phát triển
Trang 28Công ty hoạt động theo Luật doanh nghiệp Điều lệ, các quy định của Công ty, các
nghị quyết của đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị được thông qua hợp lệ
phù hợp với luật pháp liên quan là những quy tắc và quy định ràng buộc để tiến
hành hoạt động của Công ty
Hơn 30 năm hoạt động trong ngành thép, Công ty Cổ Phần Kim Khí Miền
Trung luôn nhận thức rằng: “Chất lượng sản phẩm và dịch vụ là uy tín, quyết định
đến sự ổn định và phát triển bền vững của Công ty”, và đó cũng là phương châm
hàng đầu của Công ty trong suốt quá trình hoạt động
Công ty Cổ phần Kim khí Miền Trung hiện đang áp dụng Hệ thống quản lý
chất lượng phù hợp ISO 9001:2000 ( Tổ chức SGS - Anh Quốc chứng nhận ) Sản
phẩm thép Miền Trung thương hiệu “MT” đã nhận được giải thưởng sao vàng đất
việt và cúp vàng Đà Nẵng năm 2004
Năm 2003 và 2004 Công ty Cổ phần kim khí Miền Trung được xếp hạng trong
Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam do báo điện tử VietNamNet kết hợp với
Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (VietNam Report) công bố
“Sử dụng sản phẩm và dịch vụ của công ty Cổ Phần Kim Khí Miền Trung, quý
khách hàng sẽ được bảo đảm 100% về chất lượng với giá cả cạnh tranh.”
2.1.2 Quá trình phát triển của công ty.
- Giai đoạn từ khi hợp nhất đến năm 1997: Bước đầu hợp nhất, công ty vẫn hoàn
thành tốt các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh, làm tốt các nghĩa vụ đối với nhà nước,
mở rộng thị trường tiêu thụ, đổi mới phương thức quản lý và đạt được những thành
tựu đáng khích lệ
Song song với việc mở rộng mạng lưới kinh doanh, công ty đã mạnh dạn đầu tư
đổi mới máy móc trang thiết bị và công nghệ, củng cố kho bãi, nhà xưởng, đào tạo
nguồn nhân lực… nhằm tạo ra các nguồn hàng ổn định để phục vụ nhu cầu kinh
doanh tìm kiếm lợi nhuận
- Giai đoạn từ năm 1998 đến 31/12/2003: Công ty đã mở rộng thị trường ở phía
Bắc và phía Nam trên cơ sở tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được trong
những năm qua, tiếp tục nhiệm vụ bình ổn và điều tiết thị trường Miền Trung
Ngoài ra công ty đã xây dựng xong và đưa vào hoạt động nhà máy cán thép Miền
Trung (10/1998)
- Giai đoạn từ 2004 đến nay: Công ty bắt đầu triển khai kế hoạch sản xuất kinh
doanh do tổng công ty giao trong điều kiện thị trường có nhiều biến động mạnh
Đến ngày 10/2/2004, ban lãnh đạo công ty quyết định đổi tên công ty thành công
ty Kim Khí Miền Trung và đến ngày 17/3/2004 được áp dụng toàn công ty
- Ngày 01/01/2006 công ty đổi từ hình thức công ty nhà nước sang hình thức công
ty Cổ Phần theo quyết định số 3088/QĐ – BCN ngày 30/9/2005 của bộ trưởng bộ
công nghiệp, sau khi cổ phần hoá công ty đã có những thay đổi cơ bản về cấu trúc
tổ chức cũng như một số chức năng cơ bản Vốn của công ty bao gồm vốn của nhà
Nước (51%) và vốn của các cổ đông (49%)
Trong suốc quá trình phát triển của công ty không chỉ hoàn thành tốt công tác
nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà Nước mà còn góp phần làm tăng giá trị kinh tế cho
Trang 29địa phương, tăng thu nhập và giả quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động thành
phố
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Công ty.
a chức năng của công ty
- Tổ chức kinh doanh các mặt hàng: Kim khí các loại, vật liệu xây dựng, vật tư
tổng hợp, khai thác phế liệu, nhập khẩu Kim khí về kinh doanh
- Tổ chức gia công, chế biến các laọi sản phẩm thép từ nguyên liệu ban đầu
- Tổ chức kinh doanh các mặt hàng Kim khí
b Nhiệm vụ của Công ty
Thực hiện tốt các chính sách, các quyết định về tổ chức quản lý cán bộ Sử
dụng an toàn lao động, bảo vệ môi trường an ninh chính trị Chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định của pháp luật co sliên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh
trong Công ty
Xây dựng kế hoạch dài hạn trình lên cấp trên là Tổng Công ty Thép Việt Nam phê
duyệt và triển khai các kế hoạch được duyệt Sử dụng vốn cổ phần huy động được
từ các cổ đông, đồng thời tiến hành vay vốn của Ngân hàng để đầu tư cho việc
kinh doanh Để có thể hoạt động hiệu quả Công ty còn phải điều tra nghiên cứu thị
trường, nắm bắt nhu cầu thị trường về việc sử dụng các loại thép xậy dựng và các
laọi hàng hoá cùng loại khác để có chính sách bán hàng và dự trữ hàng hoá cho
thích hợp
Tổ chức kinh doanh các mặt hàng theo chức năng của Công ty, tiếp nhận hàng
của Công ty tại Đà Nẵng Duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng
một cách hiệu quả trên cơ sở có sự tham gia của mọi người và trên nền tảng TCVN
ISO – 2000
Không ngừng nâng cao nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên: đào tạo và bồi dưỡng
cũng như bổ sung kỹ năng làm việc, nâng cao trình độ quản lý nhân viên để thích
nghi với hoạt động kinh doanh mới Mặt khác, tiến hành tuyển dụng, bồi dưỡng
cán bộ nhân viên trẻ có năng lực thừa kế và phát huy tiềm năng, năng lực hiện có
của Công ty Công ty cũng nhận và sử dụng vốn của Nhà nước giao một cách hiệu
quả Thực hiện vay vốn tại Ngân hàng ngoại thương
c Quyền hạn của Công ty
- Chủ động trong việc giao dịch đàm phán, ký kết các hợp đồng kinh tế
- Chủ động sử dụng vốn cấp trên giao và được quyền vay vốn từ các Ngân hàng
trong nước
- Tổ chức văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố trong cả nước
- Bổ nhiệm, bãi nhiệm, đào tạo tuyển dụng, khen thưởng kỷ luật, nâng hạ bậc
lương của cán bộ trong Công ty Điều động, bố trí cán bộ công nhân viên theo cấp
quản lý tại Công ty
Trang 302.1.4 Các ngành nghề kinh doanh.
Sản phẩm kinh doanh chính của Công ty trong các năm qua chủ yếu là các mặt
hàng thép như thép xây dựng (trong đó có thép MT là sản phẩm thép do Công ty
sản xuất); phôi thép; thép phế liệu; thép chính phẩm (thép tấm - lá – hình); kinh
doanh dịch vụ cho thuê văn phòng và kho bãi
Thép xây dựng: Bao gồm thép tròn cuộn, thép tròn trơn, thép cây, thép vằn… do
các nhà máy trong nước sản xuất như Công ty Thép Miền Nam, Công ty Thép
Vinakyoei, Công ty Thép Pomina, Công ty Gang thép Thái Nguyên, Công ty Thép
Việt Úc, Công ty Thép Việt Hàn Công ty Thép Hoà phát …
Thép cuộn: (D6-D8) Dùng để xây dựng các công trình dân dụng, công
nghiệp, gia công kéo dây …
Thép cây, thép vằn: Dùng để xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp
(D10-D32), xây dựng các công trình yêu cầu chịu lực cao, toà cao ốc, hầm,
cầu đường (D10-D42)
Phôi thép: Bao gồm phôi thép chất lượng Q195, Q235, 20MnSi… với nhiều kích
cỡ khác nhau, chủ yếu được nhập khẩu từ các nước (Nga, Trung Quốc, Thái Lan,
Mailaisia…) và một số được cung cấp bởi các nhà sản xuất trong nước như Công
ty thép Đà nẵng, Công ty thép Đình Vũ Sản phẩm phôi thép chủ yếu phục vụ cho
việc cán thép
Thép phế liệu: Bao gồm thép phế liệu HMS1/2, ray, phế lon ép bánh, ống cắt,…
chủ yếu được nhập khẩu từ các nước (Mỹ, Nga, Philippin…) và một số được thu
gom trong nước
Thép chính phẩm: Bao gồm thép tấm, lá, hình H,U,I và thép ống đạt tiêu chuẩn,
được nhập khẩu từ các nước (Nga, Trung Quốc…) và cung cấp bởi các nhà máy
sản xuất thép trong nước như Công ty thép miền Nam, Công ty gang thép Thái
Nguyên
Kinh doanh dịch vụ: Đây là lĩnh vực hoạt động phụ của Công ty, bao gồm dịch vụ
cho thuê kho hàng và văn phòng làm việc Tuy nhiên công ty vẫn chưa khai thác
hết tiềm năng và trong tương lai sẽ mở rộng hoạt động này
Dưới đây là một số hình ảnh về sản phẩm của Công ty
Thép tròn
Trang 312.1.5 Cơ cấu tổ chức công ty.
a Sơ đồ tổ chức Công ty
Đại hội đồng cổ đông
Trang 32b Chức năng quyền hạn nhiệm vụ và mối quan hệ của các phòng ban.
Đại hội đồng cổ đông
Bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan quyết định cao
nhất của Công ty, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Pháp luật và Điều
lệ Công ty Đặc biệt đại hội đồng cổ đông sẽ thông qua các báo cáo tài chính hàng
năm của công ty và ngân sách tài chính cho năm tiếp theo, sẽ bầu hoặc bãi nhiệm
thành viên hội đồng quản trị và ban kiểm soát của công ty
Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý do Đại hội đồng cổ đông bầu hoặc miễn
nhiệm Hội đồng quản trị có nhiệm kỳ là 04 (bốn) năm Hội đồng quản trị là cơ
quan có đầy đủ quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh Công ty đề giải
quyết mọi vấn đề liên quan đến mục đích quyên lợi của công ty: Quyết định chiến
lược phát triển của công ty, phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường, cơ
cấu tổ chức, trừ những thẩm quyền thuộc về Đại hội đồng cổ đông
Nhiệm vụ và quyền hạn của chủ tịch hội đồng quản trị: Lập chương trình, lên
kế hoạch hoạt động của hội đồng quản trị, tổ chức thông qua quyết định của hội
đồng quản trị, theo dõi quá trình tổ chức thực hiện các quyết định của hội đồng
quản trị
Ban kiểm soát
Ban kiểm soát thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất, kinh
doanh, quản trị và điều hành Công ty Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu
và bãi miễn với đa số phiếu bằng thể thức trực tiếp hoặc bỏ phiếu kín, trong đó ít
nhất phải có một thành viên có chuyên môn về kế toán Ban kiểm soát bầu một
thành viên làm Trưởng Ban, ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp lý, hợp
pháp trong điều hành hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính của công ty Ban
kiểm soát hoạt động độc lập với hội đồng quản trị và ban giám đốc công ty
Ban Giám đốc
Trang 33Tổng giám đốc là người điều hành mọi hoạt động của Công ty và chịu trách
nhiệm trước HĐQT và trước pháp luật về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền
hạn được giao Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của Công ty điều
hành mọi hoạt động hàng ngày của công ty, chịu trách nhiệm trước hội hội đồng
quản trị về trách nhiệm quản lý và điều hành Công ty cũng như thực hiện các quyết
định của hội đồng quản trị, thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư,
kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty
Các Phó Tổng Giám đốc giúp việc Tổng Giám đốc và chịu trách nhiệm trước
Tổng Giám đốc về các nội dung công việc được phân công, chủ động giải quyết
những công việc đã được Tổng Giám đốc ủy quyền theo quy định của Pháp luật và
Điều lệ Công ty Các Phó tổng giám đốc tham mưu cho Tổng giám đốc về kế
hoạch sản xuất kinh doanh, tổ chức cán bộ nhân viên, kỷ luật, tài chính,…Mỗi
Phó tổng giám đốc được phân công một hoặc một số lĩnh vực nhất định chịu trách
nhiệm trước tổng giám đốc về công tác đơn vị giao
Phòng kế toán tài chính
Chức năng: Tham mưu cho Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong lĩnh vực
kế toán và tài chính Thực hiện các chế độ về kế toán, tài chính doanh nghiệp theo
pháp luật quy định
Nhiệm vụ:
- Theo dõi ghi chép, thống kê, cập nhật hoá đơn, chứng từ để hạch toán kế toán
- Kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh bằng nghiệp vụ, tổ chức thực
hiện công tác tài chính đúng chế độ, thể lệ, nguyên tắc tài chính của Nhà nước, quy
định của Công ty
- Chấp hành nghiêm chế độ báo cáo, quyết toán kiểm kê đảm bảo yêu cầu chính
xác, trung thực kịp thời, đầy đủ, tổng hợp tình hình sản xuất kinh doanh, công tác
nhập khẩu kinh doanh phôi, thứ phế liệu phục vụ công tác hạch toán kinh tế
- Định kỳ tổng hợp và phân tích tình hình hoạt động kinh tế của Công ty báo cáo
Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc
- Theo dõi, phản ánh chính xác, kịp thời, liên tục có hệ thống tình hình tiền vốn,
chi phí sản xuất, kết quả lỗ lãi, các khoản thanh toán, nộp ngân sách
- Thông qua kết quả thực hiện kế hoạch tài chính hàng năm, xây dựng kế hoạch tài
chính, vốn, phí, đảm bảo sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm nhằm tăng lãi
- Quản lý, kiểm tra, đề xuất giải pháp xử lý các trường hợp công nợ nhằm thu hồi
hạn chế tối đa thất thoát vốn
- Tiến hành tự kiểm tra định kỳ công tác Tài chính Kế toán ở các Đơn vị trực
thuộc
- Xây dựng các quy chế, quy định về các lĩnh vực trực thuộc chức năng tham mưu
của Phòng
- Chấp hành pháp luật của Nhà nước, quy định quản lý của công ty
Phòng kế hoạch – kinh doanh
Trang 34Chức năng: Tham mưu cho Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc về các lĩnh vực:
công tác kinh doanh, kế hoạch phương án kinh doanh, tổng hợp, thống kê, báo cáo,
quản lý kho hàng hoá
Nhiệm vụ:
- Xây dựng kế hoạch toàn diện, tính toán cân đối kế hoạch hàng năm giao cho các
Đơn vị, đồng thời hướng dẫn, kiểm tra các Đơn vị thực hiện các kế hoạch của Hội
đồng quản trị, Tổng giám đốc giao
- Tổ chức thực hiện các tác nghiệp cụ thể về kinh doanh, bao gồm: kinh doanh
trong nước, kinh doanh xuất nhập khẩu, kinh doanh thứ phế liệu, kinh doanh vật tư
tổng hợp và các mặt hàng theo đăng ký kinh doanh; tổ chức giao nhận hàng hoá,
kể cả hàng hoá xuất nhập khẩu tại các ga, cảng trong nước
- Tổ chức công tác marketing, nghiên cứu dự báo thị trường như: thông tin, quan
hệ cung cầu, giá cả, tiếp thị, tìm hiểu đối tác kinh doanh thuộc lịnh vực các mặt
hàng kinh doanh của Công ty
- Theo dõi, quản lý các hợp đồng kinh tế trong toàn Công ty (kể cả các hợp đồng
uỷ quyền cho các đơn vị ký kết thực hiện)
- Thống kê, tổng hợp, báo cáo theo định kỳ hoặc đột xuất theo chế độ quy định và
theo yêu cầu của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc
- Xây dựng quy trình, quy chế quản lý các mặt công tác thuộc chức năng, nhiệm vụ
- Xây dựng kế hoạch toàn diện hàng năm về công tác kinh doanh XNK trình Tổng
Giám đốc phê duyệt;
- Khai thác nguồn hàng, khách hàng và tổ chức thực hiện các Hợp đồng kinh
doanh XNK; Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các hoạt động có liên quan đến lĩnh
vực kinh doanh XNK đối với các Đơn vị trực thuộc(nếu có);
- Tổ chức công tác Makerting, nghiên cứu dự báo thị trường như: thông tin, quan
hệ cung cầu, giá cả, tiếp thị, khách hàng, thuộc lĩnh vực các mặt hàng kinh doanh
XNK của Công ty;
- Theo dõi kiểm tra, quản lý các hợp đồng kinh tế về công tác XNK;
- Thống kê, tổng hợp, báo cáo theo định kỳ hoặc đột xuất theo quy định và yêu cầu
của HĐQT, Tổng Giám đốc công ty;
- Tham mưu xây dựng các quy trình, quy chế quản lý các mặt công tác thuộc chức
năng, nhiệm vụ của Phòng
Phòng tổ chức – hành chính
Chức năng: Tham mưu cho Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc về các lĩnh vực:
tổ chức cán bộ, lao động tiền lương, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo vệ, quân sự,
thanh tra, kiểm tra và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, công tác pháp chế (trừ
Trang 35pháp chế hợp đồng kinh tế), quản trị hành chính, an toàn lao động, thi đua khen
thưởng, kỷ luật
Nhiệm vụ:
- Xây dựng phương án mạng lưới tổ chức phù hợp với tình hình thực tế sản xuất
kinh doanh
- Xây dựng quy hoạch cán bộ, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo,
đào tạo lại, bồi dưỡng nâng bậc
- Xây dựng kế hoạch lao động, tiền lương hàng năm, thực hiện các chế độ, chính
sách theo quy định của Nhà nước Tổ chức quản lý tốt lực lượng lao động toàn
Công ty
- Phối hợp với Công đoàn phát động phong trào thi đua, tổng kết khen thưởng kịp
thời, chính xác, tham mưu xử lý các vụ việc vi phạm kỷ luật theo quy định hiện
hành
- Xây dựng mạng lưới bảo vệ, phòng chống cháy nổ, công tác bảo mật trong Công
ty, tổ chức đăng ký nghĩa vụ quân sự, quản lý chặt chẽ quân dự bị, tổ chức huấn
luyện quân sự hàng năm
- Thường xuyên kiểm tra, theo dõi công tác an toàn lao động, lập các thủ tục hồ sơ
theo quy định khi có tai nạn lao động xảy ra
- Làm tốt công văn thư bảo mật ở văn phòng Công ty, kiểm tra hướng dẫn các Đơn
vị trực thuộc, thực hiện công tác văn thư lưu trữ đúng quy định, quản lý tốt kho lưu
trữ tài liệu của Công ty
- Hàng năm xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch chi phí hành chính
của văn phòng công ty, xây dựng nền văn hoá hành chính trong công sở, trong hội
họp, tiếp khách
- Phối hợp với các phòng xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra (định kỳ hoặc đột
xuất) việc chấp hành pháp luật Phối hợp với các phòng chức năng triển khai thực
hiện các kế hoạch, nội dung thanh tra, kiểm tra được Hội đồng quản trị, Tổng giám
đốc phê duyệt, đồng thời tổng hợp tình hình báo cáo Hội đồng quản trị, Tổng giám
đốc
- Phối hợp với cơ quan thanh tra cấp trên, cơ quan hữu quan và địa phương, Ban
kiểm soát, Uỷ ban kiểm tra của Đảng Uỷ, Công đoàn các cấp thực hiện thanh tra,
kiểm tra, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo phù hợp với các quy định và pháp
luật hiện hành, đồng thời đề xuất các biện pháp xử lý
- Là bộ phận thường trực tiếp công dân của Công ty, ghi nhận nguyện vọng và trực
tiếp giải đáp những thắc mắc, phản ánh của công dân theo phân cấp và uỷ quyền
của Tổng giám đốc
Phòng đầu tư và phát triển
Chức năng: Tham mưu cho Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc về các lĩnh vực:
Công tác đầu tư phát triển, công tác kỹ thuật, công tác xây dựng cơ bản, công tác
công nghệ thông tin, công tác quản lý hệ thống chất lượng
Nhiệm vụ:
Trang 36- Nghiên cứu, xây dựng các dự án đầu tư, phát triển; nghiên cứu, quản lý, sử dụng
có hiệu quả tối đa nguồn lực cơ sở vật chất trang thiết bị hiện có của Công ty
- Xây dựng các định mức kinh tế, kỹ thuật, định mức tiêu hao nguyên vật liệu, định
mức sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị, dự trữ nguyên nhiên vật liệu
- Xây dựng các quy trình, quy phạm về công tác an toàn kỹ thuật PCCN, quy trình
quản lý tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm,
- Lập dự toán, theo dõi, quản lý các hạng mục công trình xây dựng cơ bản
- Quản lý, vận hành hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000
- Vận hành, quản lý Website của Công ty, quản lý toàn bộ thiết bị tin học, thiết bị
điện tử, điện lạnh trong toàn Công ty
- Nghiên cứu áp dụng khoa học công nghệ mới, theo dõi công tác sáng kiến, cải
tiến hợp lý hoá trong toàn công ty
- Tham mưu, trực tiếp làm việc với các cơ quan chức năng khi có các phát sinh liên
quan đến nhà và đất đang thuộc quyền quản lý và sử dụng của Công ty
- Nghiên cứu, lập phương án sử dụng có hiệu quả nhà và đất hiện có của Công ty,
nghiên cứu đề xuất đầu tư, mua mới nhà và đất nhằm phục vụ có hiệu quả cho
công tác sản xuất kinh doanh của Công ty trước mắt và lâu dài
Ban thu hồi nợ và pháp chế hợp đồng kinh tế
Chức năng: Tham mưu cho Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc về công tác thu
hồi công nợ khó đòi, đề xuất các biện pháp xử lý nợ, công tác pháp chế Hợp đồng
kinh tế và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế
Nhiệm vụ
- Phối hợp với các Phòng chức năng tổng hợp, theo dõi và xây dựng các phương
án, các biện pháp xử lý thu hồi toàn bộ công nợ khó đòi phát sinh cho đến khi thu
hồi nợ xong
- Tham gia ý kiến về mặt pháp lý đối với các dự thảo Hợp đồng kinh tế khi được
yêu cầu
- Đề xuất các hình thức, quy trình tiến hành các thủ tục tố tụng Hợp đồng kinh tế
phù hợp với tính chất của từng vụ việc đảm bảo thủ tục khi khởi kiện/hầu toà
- Tham mưu cho Tổng giám đốc và Hội đồng xử lý công nợ về các cơ sở pháp lý
theo quy định của pháp luật cũng như Quy chế quản lý của Công ty để xử lý thu
hồi công nợ
- Hàng tháng, quý, lập kế hoạch, xử lý thu hồi công nợ cho từng đơn vị, cá nhân có
liên quan Thường xuyên đôn đốc các cá nhân, đơn vị thu nợ và trực tiếp là Người
tổ chức việc thu nợ đối với những khoản công nợ cũ mà hiện nay Người gây nợ
không còn làm việc tại Công ty hoặc Lãnh đạo Công ty giao nhiệm vụ cho ban trực
tiếp thu
Nhận xét:
Nhìn chung cơ cấu tổ chức quản lý của công ty thiết lập theo mối quan hệ chỉ
đạo trực tuyến tham mưu Ban lãnh đạo công ty chỉ đạo trực tiếp xuống các phòng
ban, các chi nhánh và các xí nghiệp, các bộ phận chức năng phối hợp với nhau và
Trang 37tham mưu cho tổng giám đốc những vấn đề kinh tế tài chính nhằm tạo điều kiện
cho các đơn vị trong toàn công ty hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
2.2 Môi trường tác nghiệp của Công ty
2.2.1 Khách hàng.
Thị trường của Công ty bao gồm thành phố Đà Nẵng, các tỉnh, thành phố Miền
Trung và Tây Nguyên, Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh Ở các khu vực này
đang có sự phát triển mạnh của hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng dân
dụng, quy hoạch đầu tư phát triển các khu đô thị khu dân cư, khu công nghiệp,…
do đó nhu cầu sắt thép là rất lớn đặc biệt miền Trung là khu vực phải hứng chịu
nhiều bão lụt trong mua mưa vì vậy nhu cầu các công trình kiên cố càng trở nên
quan trọng hơn bao gời hết
Trong các thị trường chính của Công ty thì Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đông Hà, Tây
Nguyên là khu chiếm đến hơn 70% sản lượng bán ra Ngoài ra đây còn là khu vực
đang trong giai đoạn phát triển tăng trưởngvề hoạt động xây dựng cơ bản có tiềm
năng lớn và có nhiều đại lý nằm rải rác các khu dân cư
Khách hàng hiện tại của Công ty bào gồm khách hàng mua bán lại, khách hàng
sản xuất, khách hàng tiêu dùng (các nhân) đặc biệt là khách hàng tổ chức hoạt
động trong lĩnh vực xây dựng luôn mua với khối lương lớn và trong thời gian dài
Các khách hàng đều có mối quan hệ làm ăn tốt với công ty do công ty luôn tạo
được uy tín cao đối với tất cả các khách hàng của mình bằng chất lượng sản phẩm
và sự phục vụ chu đáo, tuy nhiên cũng tuỳ từng khách hàng mà công ty có những
chính sách bán hàng khác nhau như chiết khấu số lượng lớn hay bán tín dụng…
2.2.2 Nhà cung cấp.
Các nhà cung cấp là yếu tố rất quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty Công ty phải có máy móc thiết bị nguyên
vật liệu thì mới hoạt động được, công ty luôn tìm kiếm các nhà cung cấp có uy tín
trên thị trường và xây dựng mối quan hệ lâu dài với họ để đảm bảo cho hoạt động
sản xuất kinh doanh diễn ra một cách đều đặn Nguyên liệu chính để sản xuất thép
là phôi thép hoặc thép tấm, thép lá cho xây dựng Nguồn sản phẩm đầu vào này
chủ yếu được cung cấp từ các nhà sản xuất thép trong nước và một phần được
nhập khẩu nước ngoài (20%) từ các nước như Trung Quốc, Nga, Ucraina Do đó
hoạt động kinh doanh của Công ty cũng sẽ bị ảnh hưởng khi có sự biến động về
giá cả nguyên vật liệu Các nguồn cung cấp nguyên liệu trong nước cho Công ty
như Công ty Gang thép Thái Nguyên, Liên doanhViệt – Úc (Vinausteel), nhà máy
thép Nassteel, Liên doanh Việt – Nhật (Vinakyoei), nhà máy thép Miền Nam và
các nhà máy khác Trong những năm qua, nguồn hàng này chiếm khoản 80% tổng
giá trị mua vào của Công ty
2.2.3 Đối thủ cạnh tranh.
Hiện nay trên thị trường sự cạnh tranh của các doanh nghiệp là rất quyết liệt và
gay gắt dưới nhiều hình thức khác nhau như chất lượng chủng loại và về giá, Do
đó đòi hỏi doanh nghiệp cần phải nỗ lực kinh doanh để có được chỗ đứng trên thị
trường
Tại Đà Nẵng và khu vực Miền Trung Công ty cổ phần Kim khí Miêng Trung
Trang 38được xem là rất mạnh và có uy tín cao Song hiện nay, dưới sự phát triển mạnh mẽ
cùng với tốc độ đô thị hoá làm xuất hiện nhiều doanh nghiệp kinh doanh các mặt
hàng kim khí có năng lực cạnh tranh cao với các thế mạnh và điều kiện thuận lợi
riêng của nó Các đối thủ cạnh tranh của Công ty bao gồm:
- Công ty vật tư tổng hợp Quảng Nam: Sản phẩm cạnh tranh là sắt thép Thái
Nguyên, Thép liên doanh, Điểm mạnh là mạgn lưới phân phối đều khắp trong
tỉnh , giá cả tương đối thấp, chất lượng sản phẩm tốt Tuy nhiêm họ kinh doanh
phân tán không tạo đước sức mạnh tổng hợp giữa các đơn vị kinh doanh
- Các doanh nghiệp kinh doanh vật tư tư nhân tại Đà Nẵng như Công ty TNHH
Nhân Luật, Công ty TNHH Tứ Hưng, Công ty TNHH Hưng Thịnh, Công ty
TNHH Hùng Cường, sản phẩm cạnh tranh chủ yếu là sắt thép Thái
Nguyên, Điểm mạnh là chất lượng sản phẩm tốt, giá cả phù hợp, giao hàng đúng
hẹn Điểm yếu là nguồn hàng của họ còn hạn chế và không ổn định, quy mô nhỏ
cũng nhu khu vực thị trường không lớn
- Công ty Gang thép Thai Nguyên sản phẩm chính là sắt thép Thái Nguyên, có chất
lượng tương đối tốt, giá cả phải chăng và giao hàng đúng thời hạn Nhưng Công ty
ở xa khu vực miền Trung nên khó nắm bắt sự thay đổi của thị trường
- Công ty Kim khí Thành Phố Hồ Chí Minh, sản phẩm cạnh tranh chủ yếu là săt
thép Thái Nguyên, tuy nhiên ở xa khu vực miền Trung khó có thể cung cấp sản
phẩm nhanh chóng và khó nắm bắt thị trường tại khu vực này
Tóm lại các đối thủ cạnh tranh của Công ty rất đa dạng và mỗi đối thủ có
những ưu thế riêng Đòi hỏi Công ty phải có những chính sách hợp lý và nỗ lực
lớn Để hạn chế những yếu kém, phát huy thế mạnh sẵn có tạo lập được uy tín cao
để có thể đứng vững trên thị trường và sẵn sàng cho những cuộc cạnh tranh khốc
liệt với các đối thủ nước ngoài
2.2.4 Các trung gian.
Là các cơ sở kinh doanh hỗ trợ công ty trong việc cổ động bán hàng, giao hàng đến
tận tay người tiêu dùng Công ty có các trung gian như:
- Trung gian tài chính: Công ty có quan hệ thường xuyên với các Ngân Hàng trong
khu vực Thành phố Đà Nẵng như NH Công Thương, NH Ngoại Thương, NH
Hàng Hải và một số ngân hàng cổ phần khác là trung gian tài chính của công ty,
nhờ vào sự tạo được uy tín của công ty đối với các trung gian này nên họ rất quan
tâm và đảm bảo nguồn vốn kinh doanh cho công ty, ưu đãi tín dụng cho công ty
trong việc vay vốn tín dụng tạo điều kiện thuận lợi cho công ty trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, thanh toán
- Trung gian vận chuyển: Việc vận chuyển hàng hoá của Công ty là các đơn vị vận
chuyển đương biển (Cảng Đà Nẵng), đội xe Minh Hải và rất nhiều các nhà vận
chuyển khác trên địa bàn Đà Nẵng cũng như trong khu vực miền Trung Các trung
gian này đảm bảo hàng hoá đực vận chuyển đến các chi nhánh, cửa hàng ở các
tỉnh, thành phố trong cả nước và vận chuyển hàng hoá đến các công trình, dự án
đang thi công Các đơn vị vận chuyển này quan hệ với Công ty qua các hợp đồng
Trang 39thoả thuận Nhờ có được uy tín cao với các trung gian vận chuyển nên hàng hoá
của Công ty luôn đến tay khách hàng một các nhanh chóng và đúng lúc tạo sự tin
tưởng cao cho khách hàng
- Trung gian phân phối: Là hệ thống các đại lý phân phối các loại sản phẩm của
công ty Đó là điểm thuận lợi cho công ty trong việc tồn trữ sản phẩm gần nơi
khách hàng cư trú tạo nên sự sẵn có cho việc mua hàng, tiện lợi về thời gian vì nó
mở cửa nhiều giờ trong ngày đáp ứng mọi lúc mọi nơi theo nhu cầu của khách
hàng Ngoài ra, nó còn là nơi tiện lợi nhất cho việc trưng bày giới thiệu sản phẩm
đến khách hàng một cách nhanh nhất Công ty hiện có mạng lưới cửa hàng, chi
nhánh tập trung ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên và rải rác khu vực phía Nam,
Phía Bắc Trong đó tập trung chủ yếu ở Đà Nẵng với hơn 20 cửa hàng phân phối
trực tiếp cho khách hàng
- Trung tâm thông tin: Công ty tìm hiể thị trường thông qua các cơ quan quản lý
thương mại như: Sở Thương mại, Sở tài chính vật giá, Văn phòng đại diện
VCCI…hoặc qua các tạp chí chuyên ngành Các cơ sở dịch vụ marketing như là
các công ty quảng cáo, các hãng truyền thông Các hãng tư vấn về marketing hỗ
trợ cho công ty trong việc hoạch định các chính sách marketing và cổ động giới
thiệu sản phẩm
Tóm lại qua việc phân tích môi trường kinh doanh chúng ta có thể nhận diện ra các
cở hội và các đe doạ để từ đó có những bước đi phù hợp nhằm đưa Công ty ngày
càng phát triển hơn Các cơ hội và đe doạ của Công ty như sau:
Cơ hội: Công ty có nhiều nhà cung ứng tốt có uy tín và chất lượng sản phẩm tốt,
thị trường rộng khắp toàn quốc đặc biệt là khu vực miền Trung, nguồn lao động
được đào tạo tốt có tay nghề cao và nhiệt tình với công việc sản phẩm thép “MT”
đạt chất lượng cao và uy tín
Đe doạ: Hiện nay đối thủ cạnh tranh trực tiếp của công ty ngày càng nhiều không
những trong khu vực, trong nước mà càn cả các đối thủ nước ngoài Áp lực cạnh
tranh về thị trường, về sản phẩm tiêu thụ Ngoài ra các quy định của Bộ thương
mại về giá và các văn bản quy định của Nhà nước cũng có tác động không nhỏ đến
công ty
2.3 Phân tích tình hình hoạt động của công ty Cổ phần Kim khí Miền
Trung:
2.3.1 Các mặt hàng kinh doanh của công ty và đặc điểm của nó:
Công ty cổ phần Kim khí Miền Trung kinh doanh nhiều kĩnh vực, bao gồm:
- Xuất nhập khẩu kim khí (phôi thép, thép thứ phế liệu, thép tấm lá, hình
thép đặc biệt…)
- Lĩnh vực kinh doanh thương mại gồm các mặt hàng:
+ Sắt thép xây dựng từ Φ 6 đến Φ 32 chiếm chủ yếu doanh số bán ra của
công ty
+ Thép hình L, U, I các loại kích cỡ khác nhau, các loại đinh, nẹp, thép tấp
dùng để đóng tàu, phôi thép dùng để sản xuất
Trang 40+ Lĩnh vức sản xuất: chủ yếu là thép xây dựng do nhà máy cán thép Miền
Trung sản xuất
+ Lĩnh vực kinh doanh dịch vụ: Công ty kinh doanh khách sạn, nhà hàng,
cho thuê kho bãi và ký gửi hàng hóa
+ Ngoài lĩnh vực kinh doanh thương mại và dịch vụ, công ty có nhà máy
cán thép Miền Trung – sản xuất các sản phẩm tròn vằn “MT” có ký hiệu “MT12,
MT14, MT16, MT18, MT20, MT22, MT25, MT28” trên thanh thép, được in
nghiêng theo chiều xoắn của đốt thép, cách đều nhau, khoảng cách từ 790mm đến
870mm (Đối với D12 – D22) và từ 940mm đến 1.130mm (Đối với D25 và D28)
đạt tiêu chuẩn TCVN 1651-85 và JIS G3112, hai đầu thanh thép sơn vàng đậm
hoặc đỏ
Mặt hàng kinh doanh chủ yếu của công ty có đặc điểm sau:
- Hàng cồng kềnh gây khó khăn trong việc chuyên chở và bốc dỡ Đây
chính là điểm cần lưu ý của công ty trong việc lựa chọn phương tiện vận tải để
- Hàng để tồn kho lâu sẽ bị giảm chất lượng, nhất là trong điều kiện khắc
nghiệt ở Miền Trung
2.3.2 Tình hình thực hiện kinh doanh sản xuất năm 2009:
2.3.2.1 Công tác kinh doanh:
Năm 2009 do tình hình thị trường thép trên thế giới vẫn còn nhiều biến
động; giá phôi thép tăng giảm bất thường, thị phần kinh doanh thép cạnh tranh gay
gắt đã tác động mạnh đến tình hình kinh doanh- sản xuất của Công ty, một số chỉ
tiêu không đạt kế hoạch và giảm so với năm 2008
a Về kinh doanh thép nội :
Năm 2009 Công ty chỉ tiêu thụ được 107.092 tấn, đạt 93% KH -TCTy giao,
giảm 11% so với năm 2008
Nguyên nhân làm cho khối lượng tiêu thụ thép nội không đạt KH và giảm
so với năm 2008, đó là:
+ Thị trường kinh doanh thép nội ngày càng cạnh tranh gay gắt hơn do có
thêm nhiều Doanh nghiệp mới tham gia vào tổ chức kinh doanh, dẫn đến thị phần
bị chia sẻ
+ Việc sắp xếp củng cố lại mạng lưới bán hàng do một số đơn vị hoạt động
không hiệu quả cũng đã ảnh hưởng đến thị phần tiêu thụ thép nội của công ty