Khi nói đến GPS (hệ thống định vị toàn cầu), người ta thường nghĩ tới máy thu, chẳng hạn máy thu GPS trên máy bay, tàu thủy, xe hơi, hay hầu hết smartphone cũng tích hợp GPS để định vị, và cùng với các ứng dụng bản đồ chúng trở thành công cụ dẫn đường hữu hiệu. Thực tế GPS là một hệ thống định vị vận hành dựa vào 27 vệ tinh (trong đó có 3 vệ tinh dự phòng) chuyển động trên các quỹ đạo quanh trái đất, do Mỹ phát triển ban đầu cho mục đích quân sự, nay đã mở rộng ra cho cả dân sự. Các vệ tinh được bố trí sao cho tại bất kỳ thời điểm nào và ở nơi nào trên mặt đất, cũng có thể thấy ít nhất 4 vệ tinh.
Trang 3nguyên tửtử loạiloại celiumcelium TuổiTuổi thọthọ vệvệ tinhtinh làlà 77,,55 nămnăm
Hình 1.2 Vệ tinh GPS Hình 1.3 Mô phỏng quỹ đạo
vệ tinh GPS
Trang 4Cách sử dụng máy thu tín hiệu GPS.
Hình 1.4 Mạng lưới trạm điều khiển GPS (1994)
Trang 51.3 CƠ SỞ CỦA KỸ THUẬT ĐO GPS
1
Bảng 1.1 Các đại lượng vật lý cơ bản liên quan
ϕ
= d
fdt
Tần số tức thời được định nghĩa là đạo hàm
riêng của pha theo thời gian t:
Phương trình pha sóng điện từ:
Trang 8Các thành phần Tần số
(MHz)
Bước sóng (cm)
Trang 15khoảng cáchcách màmà khôngkhông gọigọi làlà khoảngkhoảng cáchcách
Hình 1.6 Trị đo giả khoảng cách
Trang 16Khoảng cáchcách hìnhhình họchọc vệvệ tinhtinh máymáy thuthu::
Độ
Độ lệchlệch đồngđồng hồhồ
∆δjj
ii (t)(t) == δδjj (t)(t) δδii (t) ((11 33))Về
Về saisai sốsố đồngđồng hồhồ vệvệ tinhtinh jj::
δδjj (t)(t) == aa0 ++ aa1 (t(t –– tt0)) ++ aa2 (t(t –– tt0))2 ((11 44))
Ta viết lại phương trình (
Ta viết lại phương trình (22 11) như sau:) như sau:
Trang 17Hình 1.7 Trị đo pha sóng tải
Thay ((11 33)) vàovào ((11 66)) tata sẽsẽ cócó::
φφjj
ii (t)(t) == ((11//λλ))ρρjj
ii (t)(t) ++ NNjj
ii ++ ffjj δδjj (t)(t) ffjj δδii (t)(t) ((11 77))Ta
Ta thấythấy trongtrong ((11 77)) còncòn 55 ẩnẩn sốsố đóđó làlà 33 ẩnẩn sốsố
Trang 18tìm cáchcách loạiloại bỏbỏ hoặchoặc giảmgiảm thiểuthiểu
Hình 1.8 Minh hoạ một trượt chu kỳ
Trang 19loại bỏbỏ mộtmột cáchcách hiệuhiệu quảquả trongtrong saisai phânphân nàynày
Hình 1.9a Sai phân bậc 1 máy thu
Trang 20Hình 1.9b Sai phân bậc 1 vệ tinh
Nếu máy thu thu tín hiệu đồng thời của hai
hay nhiều vệ tinh thì chúng sẽ cùng chứa sai số
đồng hồ máy thu giống nhau, nên khi ta lấy hiệu
giữa hai trị đo này thì sai phân nhận được đã loại
bỏ một cách hiệu quả sai số đồng hồ máy thu Sai
phân này được gọi là sai phân bậc 1 vệ tinh
Trang 22Lưu ý:
- Tất cả ba loại sai phân này đều có thể tạo ra
đối với trị đo pha hay trị đo giả khoảng cách, máy thu
1 tần hoặc máy thu 2 tần
- Đối với máy 2 tần ta có thể tạo được tổ hợp
tuyến tính L3 được tạo ra từ trị đo trên L1 và trị đo
tương ứng trên L2 Loại bỏ đáng kể ảnh hưởng của
độ trễ tầng ion nên hay gọi là tổ hợp tuyến tính phi
ion
- Các trị đo trên sóng tải L1 và L2 còn cho phép
tạo ra trị đo cổng rộng (Wide-land) với bước sóng
86cm và trị đo cổng hẹp (Narow-land) bước sóng
11cm, để tìm lời giải số nguyên đa trị hiệu quả hơn
1.4.1 Các hệ toạ độ trắc địa
Một hệ toạ độ được định nghĩa bởi một tập
hợp các quy tắc nhằm xác định toạ độ của các
điểm Nó bao gồm các thông số định nghĩa gốc toạ
độ và định hướng các trục Ta phân biệt: hệ toạ độ
một chiều (1D), hệ toạ độ hai chiều (2D) và hệ toạ
độ ba chiều (3D) và sử dụng chúng vào các mục
đích và đối tượng khác nhau Ta cũng phân biệt các
hệ toạ độ theo mặt quy chiếu, gốc toạ độ hay góc
định hướng trục toạ độ
Đối với hệ toạ độ 3D, ta chú ý tới hệ toạ độ
vuông góc không gian (x, y, z) và hệ toạ độ địa lý
1.4 CÁC HỆ TỌA ĐỘ QUY CHIẾU TRONG CÔNG NGHỆ
GPS
Trang 23a, Hệ toạ độ vuông góc không gian (x, y,
z) được giới thiệu trên Hình 1.12, ở đây cả ba trục
cắt nhau tại gốc toạ độ C
Hình 1.12 Hệ toạ độ không gian ba chiều (x, y, z)
b, Hệ toạ độ địa lý nhận mặt quy chiếu là
mặt ellipsoid tròn xoay, gốc toạ độ và các trục của
nó được xác định bằng hai mặt phẳng: mặt phẳng
kinh tuyến đi qua trục quay Trái đất (trục z) và mặt
phẳng xích đạo của ellipsoid đã chọn
Hệ toạ độ địa lý có vai trò đặc biệt đối với các
ứng dụng công nghệ GPS Trong hệ toạ độ này, vị
trí điểm được xác định bởi tập hợp 3 thành phần:
độ vĩ (ϕ), độ kinh (λ) và độ cao trên mặt ellipsoid
(H) Ta có các công cụ hữu hiệu để tính chuyển toạ
độ trắc địa (ϕ, λ, H) sang toạ độ không gian ba
chiều (x, y, z)
Trang 24c, Hệ toạ độ sao quy ước được sử dụng
trong Trắc địa vệ tinh là hệ toạ độ 3D (X,Y,Z), có
gốc trùng tâm Trái đất, trục Z ứng với vị trí trục
quay Trái đất tại thời điểm quy ước (hiện nay là 0h
ngày 15/01/2000 theo giờ trọng tâm động lực (BDT)
kí hiệu là J-2000 và trục X hướng từ tâm Trái đất
đến điểm Xuân phân tại thời điểm quy ước này, sau
khi đã hiệu chỉnh tuế sai và chương động Trục Y
được xác định theo trục Z và X Đây là hệ toạ độ
quán tính, trong đó định luật vận vật hấp dẫn của
Newton được tuân thủ, nên dùng để biểu thị vị trí
và trạng thái của vệ tinh trên quỹ đạo
1.4.2 Hệ toạ độ Trái đất quy ước (CTRS)
Hệ toạ độ Trái đất quy ước (Conventional
Terrestrial Reference System) là hệ toạ độ 3-D địa
tâm – gốc hệ trùng với tâm Trái đất CTRS được
gắn chặt với Trái đất, nghĩa là quay cùng Trái đất
Các trục của Hệ toạ độ Trái đất quy ước được
định nghĩa như sau:
- Trục z đi qua cực quay quy ước của Trái đất
(CTP) là vị trí trung bình của trục quay Trái đất
trong khoảng thời gian 1900÷1905
- Trục x là giao tuyến của mặt xích đạo Trái
đất và mặt phẳng kinh tuyến chứa vị trí đài thiên
văn Greenwich
Trang 25- Trục y được chọn để tạo nên hệ toạ độ
thuận chiều phải (tức là vuông góc với trục x và
nằm ở phía đông trên mặt xích đạo)
Hệ toạ độ Trái đất quy ước quan trọng nhất là
hệ toạ độ Trái đất quốc tế (ITRS) mà các thành
phần hợp thành của nó được Hiệp hội Trắc địa và
địa vật lý quốc tế phê chuẩn
Khung quy chiếu Trái đất quốc tế (ITRF)
hiện thực hoá những định nghĩa của ITRS vào thực
tiễn, tạo nên hệ toạ độ Trái đất quy ước chính xác
nhất hiện nay Nó bao gồm hàng trăm điểm phân
bố rộng khắp trên Trái đất được đo bằng các kỹ
thuật không gian rất chính xác như Giao thoa
đường đáy dài (VLBI), GPS, Nó đồng thời là hệ
toạ độ động bởi ngoài toạ độ điểm ứng với thời
điểm người ta còn xác định vận tốc chuyển động
của điểm theo thời gian Không những thế, cứ vài
năm một, nó được hoàn thiện và cập nhật mới, vì
vậy nó thường được gắn thêm mốc thời gian cập
nhật, chẳng hạn ITRF1997, ITRF2000
Trang 261.4.3 Hệ toạ độ WGS-84
Hệ toạ độ WGS 84 được định nghĩa bởi:
- Ellipsoid WGS 84,
- Gốc toạ độ trùng với tâm hệ Trái đất (bao
gồm cả đại dương và khí quyển) với độ chính xác
1m,
- Định hướng các trục (định hướng của đường
xích đạo ellipsoid và đường kinh tuyến gốc) trùng
với đường xích đạo và đường kinh tuyến gốc của Uỷ
ban giờ quốc tế tại thời điểm 1984.0
- Từ 1984.0 định hướng các trục và của
ellipsoid được thay đổi sao cho chuyển động trung
bình của các mảng kiến tạo so với ellipsoid bằng 0
Điều này bảo đảm trục Z của hệ quy chiếu WGS84
trùng với Cực quay quy chiếu quốc tế và kinh tuyến
gốc của ellipsoid trùng với kinh tuyến quy chiếu
quốc tế
- Hình dạng và kích thước của ellipsoid WGS84
được xác định bởi cặp tham số bán kính lớn và độ
dẹt
- Giá trị vận tốc góc quay chuẩn của Trái đất
và hằng số trọng lực trái đất được nhận theo các
giá trị quy ước
Trang 27Một số lưu ý:
- Ellipsoid WGS 84 được xác định theo nghĩa
thích hợp nhất với Geoid trên quy mô toàn cầu
- Các trục của hệ toạ độ WGS 84 được thay
đổi sao cho chuyển động trung bình của các mảng
kiến tạo so với ellipsoid bằng 0 và do đó các đường
kinh tuyến và vĩ tuyến của nó không cố định đối với
một quốc gia cụ thể
- Khách hàng GPS khai thác thông điệp đạo
hàng quảng bá sẽ tính được toạ độ của mình trong
hệ WGS 84 Khi sử dụng quỹ đạo vệ tinh chính xác
từ Tổ chức IGS, ta sẽ nhận được toạ độ trong ITRF
- Hiện nay Việt Nam cũng sử dụng ellipsoid
WGS 84, được định vị cho thích hợp với lãnh thổ
của mình trên cỡ 25 điểm đo GPS khá chính xác
kèm theo đo thuỷ chuẩn chính xác trong hệ độ cao
Hòn Dấu, nên gọi là hệ quy chiếu riêng Đối với hệ
quy chiếu địa phương kiểu này, tâm ellipsoid không
trùng với tâm Trái đất và thậm chí trục của nó cũng
không song song với các trục tương ứng của hệ
WGS 84 Việt Nam xây dụng hệ quy chiếu riêng gọi
là VN2000 Mỗi điểm trong số 25 điểm trên có sai số
định vị cỡ 1÷3m trong hệ WGS 84
Trang 281.4.4 Tính chuyển giữa các hệ toạ độ
Trước kỷ nguyên GPS, hệ toạ độ mặt phẳng
và hệ toạ độ độ cao tách riêng độc lập nhau, ngoài
ra hệ toạ độ mặt bằng không phải là địa tâm vì
ellipsoid được định vị cho thích hợp nhất với lãnh
thổ từng quốc gia Cho nên, ta thường gọi chúng là
hệ toạ độ địa phương
Muốn chuyển từ hệ toạ độ địa phương sang
hệ toạ độ toàn cầu WGS 84 (và ngược lại) cần biết
9 tham số tính chuyển, bao gồm hai tham số mô tả
kích thước hình dáng của ellipsoid (a và f) và 7
tham số tính chuyển toạ độ không gian là 3 giá trị
độ lệch gốc toạ độ, 3 giá trị góc quay Euler của trục
toạ độ và 1 tham số về tỷ lệ dài
Hình 1.13 Hệ toạ độ địa tâm và Hệ toạ độ địa phương
Trang 291.4.5 Các hệ độ cao
Độ cao của một điểm được định nghĩa là
khoảng cách thẳng đứng tính từ mặt quy chiếu độ
cao tới điểm đó Mặt Geoid thường được chọn là
mặt quy chiếu độ cao Độ cao của một điểm so với
mặt Geoid được gọi là độ cao chính; nó có thể
dương (ở trên) hay âm (ở dưới Geoid) Loại độ cao
này có ý nghĩa vật lý rõ ràng nên thường được sử
dụng trong thực tiễn, vẽ nên mặt địa hình mặt đất
Trong công nghệ GPS, độ cao điểm đo lại
được quy chiếu về mặt ellipsoid, nên được gọi là độ
cao trên mặt ellipsoid Loại độ cao này không có ý
nghĩa vật lý như độ cao chính, nên các thiết bị đo
đạc khác, chẳng hạn toàn đạc không thể đo được
Hình 1.14 Các hệ độ cao
Khoảng cách giữa geoid và ellipsoid được gọi
là độ cao geoid hoặc sóng geoid hay dị thường độ
cao
Mối quan hệ giữa độ cao trắc địa và độ cao
thủy chuẩn: H = h + N
Trang 30CHƯƠNG 2:
CÁC LOẠI SAI SỐ TRONG ĐO GPS
2.1 Sai số đoạn không gian
2.1.1 Sai số toạ độ vệ tinh
Đoạn điều khiển mặt đất có nhiệm vụ thu tín
hiệu từ các vệ tinh, xử lý và dự báo toạ độ của vệ
tinh theo thời gian rồi gửi lên các vệ tinh, để rồi vệ
tinh lại gửi toạ độ vệ tinh theo thời gian này xuống
máy thu trong gói Thông tin đạo hàng thông dụng
Do các mô hình quỹ đạo này không thật chính xác
như thực tế, nên toạ độ vệ tinh dự báo trước chứa
sai số, gọi là sai số quỹ đạo Sai số quỹ đạo thông
thường đạt danh nghĩa trong khoảng 2÷5m.
Sai số quỹ đạo của một vệ tinh sẽ giống
nhau cho tất cả các trạm đo trên toàn cầu Song,
các trạm đo khác nhau lại nhìn tới vệ tinh dưới
những góc khác nhau, nên ảnh hưởng của sai số
quỹ đạo vệ tinh đối với trị đo cạnh và do đó đến
định vị điểm cũng khác nhau Có nghĩa là việc tính
sai phân bậc 1 máy thu nhìn chung không thể loại
bỏ hoàn toàn sai số quỹ đạo vệ tinh, trừ trường
hợp hai máy thu đặt gần nhau (cạnh ngắn) Trong
định vị tương đối, đã xác định được mối quan hệ
giữa sai số đo cạnh và sai số quỹ đạo vệ tinh như
sau:
Sai số đo cạnh / chiều dài cạnh = sai số quỹ
đạo vệ tinh / khoảng cách tới vệ tinh
Trang 31Ví dụ: Khi sai số quỹ đạo là 5m và chiều dài
cạnh là 10 km thì sai số đo cạnh do ảnh hưởng của
sai số quỹ đạo vệ tinh là 2,5 mm
Trong các ứng dụng GPS đòi hỏi độ chính xác
cao như thành lập khung quy chiếu toàn cầu, khu
vực quốc gia, nghiên cứu động lực vỏ Trái đất, ta
sử dụng toạ độ vệ tinh chính xác (do Tổ chức IGS
cung cấp) thay cho toạ độ vệ tinh trong Thông điệp
đạo hàng Toạ độ vệ tinh chính xác này có sai số cỡ
5 cm
Loại orbit Sai số [m] Khả năng tiếp cận Địa chỉ tiếp
cận
Quảng bá 3,0 Thời gian thực Máy thu GPS
Mã dự báo 0,2 Thời gian thực FTP
IGS kết 0,05 Sau 13 ngày IGS
Bảng 2.1 Các loại lịch vệ tinh hiện có
Trang 322.1.2 Sai số đồng hồ vệ tinh
Cứ mỗi khối (Block) vệ tinh thế hệ II và IIA
được trang bị 4 đồng hồ nguyên tử gồm 2 đồng
hồ cesium và hai đồng hồ rubidium Các khối vệ
tinh sau IIR chỉ mang đồng hồ rubidium Các đồng
hồ này để tạo tần số và thời gian
Các đồng hồ vệ tinh rất chính xác nhưng vẫn
chưa hoàn hảo tuyệt đối Độ ổn định của nó đạt
khoảng (1÷2).10-13 trong vòng 1 ngày Nghĩa là,
sai số đồng hồ vệ tinh khoảng 8,64 ÷ 17,28 nano
giây/ngày, gây nên sai số đo cạnh từ 2,59 m đến
5,18m
Các trạm kiểm soát mặt đất theo dõi hoạt
động của đồng hồ vệ tinh, tính độ lệch và cấp lên
vệ tinh để gửi lại về máy thu trong Thông điệp
đạo hàng dưới dạng các hệ số của đa thức bậc
hai
Các sai số đồng hồ vệ tinh dĩ nhiên gây nên
sai số trong trị đo GPS Tuy nhiên sai số này
chung cho tất cả các máy thu cùng quan trắc tới
một vệ tinh và do đó có thể loại bỏ nó trong sai
phân bậc 1 máy thu Ngoài ra, khi sử dụng các trị
hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh chứa trong Thông điệp
đạo hàng, ta cũng giảm nhỏ được ảnh hưởng của
sai số này trong định vị xuống còn vài nano giây,
gây nên sai số đo cạnh vài mét
Trang 332.1.3 Độ suy giảm độ chính xác do đồ hình vệ tinh
Độ chính xác kết quả đo GPS còn phụ thuộc
vào đồ hình phân bố vệ tinh so với điểm đo trên
mặt đất, đặc trưng bởi hệ số suy giảm độ chính xác
(viết tắt theo tiếng Anh là DOP) DOP là tỷ số giữa
sai số vị trí điểm đo và sai số trị đo DOP càng nhỏ
thì vị trí điểm đo được xác định càng chính xác;
DOP thông thường lớn hơn 1, trừ phi có trị đo dư
thừa hay nhận được tín hiệu từ trên 8 vệ tinh
DOP được sử dụng như là cơ sở để lập kế
hoạch đo, DOP được chia thành:
- GDOP - hệ số suy giảm độ chính xác hình
- VDOP - hệ số suy giảm độ chính xác độ cao,
- TDOP - hệ số suy giảm độ chính xác thời
gian
Trang 34Hình 2.1 Đồ hình vệ tinh so với máy thu
GDOP tốtGDOP kém
2
2 22 SaiSai sốsố đoạnđoạn sửsử dụngdụng
2
2 22 11 SaiSai sốsố đồngđồng hồhồ máymáy thuthu
Đồng hồ máy thu chỉ là loại đồng hồ thạch
anh rẻ tiền, có độ chính xác kém xa đồng hồ vệ
tinh Tuy nhiên ta có thể loại bỏ sai số đồng hồ
máy thu bằng sai phân bậc 1 vệ tinh hoặc bằng
cách coi nó là ẩn số bổ sung trong quá trình xử lý
Trang 352.2.2 Sai số tâm pha ăng ten
Như đã biết, ăng ten nhận tín hiệu GPS từ vệ
tinh đến và chuyển đổi năng lượng thành dòng điện
để chuyển vào máy thu Điểm mà tín hiệu GPS được
tiếp nhận gọi là tâm pha ăng ten Nhìn chung, tâm
pha ăng ten không trùng với tâm vật lý (hình học)
của ăng ten Đối với mỗi điểm đo, độ lệch này thay
đổi tuỳ thuộc góc ngưỡng nhận tín hiệu, phương vị
của vệ tinh phát tín hiệu xuống cũng như cường độ
của tín hiệu Mức độ sai số này tuỳ thuộc vào loại
ăng ten Cũng giống như đối với sai số khúc xạ đa
đường dẫn, ta rất khó mô hình hoá sự thay đổi tâm
pha ăng ten và do đó không thể loại bỏ trong quá
trình xử lý số liệu đo
Tuy nhiên ảnh hưởng của sai số này tới định
vị không lớn nên thường được bỏ qua trong các ứng
dụng thông thường
2.2.3 Sai số khúc xạ đa đường dẫn
Sai số khúc xạ đa đường dẫn là nguồn sai số
đáng quan tâm đối với cả trị đo pha sóng tải lẫn trị
đo giả khoảng cách Nguyên nhân do sóng tín hiệu
từ vệ tinh đến ăng ten máy thu bằng nhiều đường
khác nhau: trực tiếp từ vệ tinh và từ các vật cản
chung quanh điểm đo phản xạ tới
Sai số đa đường dẫn làm biến dạng tín hiệu
gốc do giao thoa với tín hiệu phản xạ tại ăng ten
máy thu Nó ảnh hưởng tới trị đo giả khoảng cách
lớn hơn so với trị đo pha sóng tải Đối với trị đo
sóng tải, sai số này đạt tối đa là 1/4 chu kỳ bước
sóng (khoảng 4,8 cm đối với sóng L1), còn đối với
trị đo giả khoảng cách sai số cực đại lên tới mấy
chục mét đối với mã thông dụng C/A
Trang 36Ảnh hưởng này không như nhau tại mỗi
điểm đo và thông thường nó không có tính tương
quan giữa các điểm đo Cho nên nó không bị loại
bỏ hay giảm thiểu thông qua việc sử dụng các sai
phân như các loại sai số kể trên; nó cũng rất khó
mô hình hoá Tuy nhiên có thể giảm sai số này
thông qua các giải pháp công nghệ nâng cao chất
lượng ăng ten (công nghệ Choke ring hay giải
pháp lắp thêm vành chống nhiễu xạ) và nâng cao
chất lượng máy thu Thiết thực nhất đối người sử
dụng là thông qua việc chọn điểm đo có độ thông
thoáng tốt ngoài thực địa với góc ngưỡng cao
thích hợp (thông thường dưới 15°) Trong quá
trình xử lý số liệu đo, phải tiếp tục giảm thiểu ảnh
hưởng này
Hình 2.2 Khúc xạ đa đường dẫn
Trang 372.2.4 Độ trễ tầng điện ly
Được phát từ độ cao hơn 20.200km xuống
máy thu đặt trên Trái đất, các tín hiệu vô tuyến phải
xuyên qua tầng điện ly và tầng đối lưu Ảnh hưởng
của tầng điện ly và tầng đối lưu gây nên cái gọi là
độ trễ Cả hai đều gây nên sai số hệ thống
Các điện tử tự do trong tầng ion gây nên độ
trễ nhóm phụ thuộc vào tần số tín hiệu vệ tinh; độ
trễ này là nguồn sai số tiềm năng trong trị đo theo
thời gian Mặt khác, tốc độ lan truyền tín hiệu tăng
tỷ lệ nghịch với bình phương tần số của tín hiệu, và
tỷ lệ thuận với mật độ điện tử trong tầng điện ly
Độ trễ tín hiện của L2 nhỏ hơn nhiều so với L1
Mật độ điện tử thay đổi theo mấy yếu tố sau:
(1) vị trí địa lý nơi đo: mật độ electron tối
thiểu ở vùng độ vĩ trung bình cao hơn ở hai cực và
vùng xích đạo;
(2) thời gian trong ngày: mật độ electron ban
ngày thấp hơn ban đêm;
(3) thời gian trong năm: mật độ electron vào
mùa đông cao hơn mùa hè;
(4) năm trong chu kỳ 11 năm hoạt động đốt
nóng của Mặt trời với một cực đại và một cực tiểu