Những người này đi từ biển Đồng vào định cư ở ven bít biển suốt chiều dài từ Bắc đến Nam m ang đến sự tiiao lưu văn hoá Lục địa - Biển, để lại dấu ấn của nền văn hoá Biển trên các nền vã
Trang 2MỤC LỤC
IThời tiền sử và sơ sử
II
Thời sơ kỳ vương quốc (TK II-X)
Chương 1 Giai đoạn Sinhapura
Chương 2 Giai đoạn Virapura
Chương 3 Giai đoạn Indrapura
IIIThời kỳ Vijaya (Tk X - XV)
Chương 4 Sự thống nhất và phát triển
Chương 5 Giai đoạn phát triển thịnh đạt
C hươns 6 Giai đoạn khủ n2 hoảng
IV
Sự phát triển kinh tè - xã hội của C ham pa thời Vijaya
Chương 7 Sự phát triển kinh tế xã hội
Chương 8 Sự phát triển kinh tế và phàn hoá xã hội
Chương 9 Bộ máy quản lý nhà nước
C hươns 10 Sự phút triển văn hoá
V
Đ A i H O C Q U Ố C G í A TRUNG TÀIV: THÒNG TIN ĨH
Trang 3Champa thời hậu kv
Chương 11 Sự xuất hiện tình thế mới
Chương 12 Tôn giáo và tín nsưỡng
C h ư ơ n g '13 Từ trấn Thuận thành tới tinh Binh Thuận Chương 14 Sự hội nhập và phát triển
194
Trang 4giữ vãn hoá truyền thống Champa vẫn sinh sống ờ đất cũ ven hicn miổn
Trung, hoặc đổng bằng sông Cửu Long ờ miền Nam
Một bộ phận khác khổng ít khoànc 2 vạn người, sống ờ lính Bình Định và Phú Yên, lự gọi là người Chăm Hơrni, cũng nói liốnu Malayo - Chamic, nhưng lại không biết chữ Chăm và kliòrm iỉấn bó gì với văn hoá Champa
Ngoài ra, còn có gần 400.000 nu ười nói liêng Malayo - Polynesian sống thành vùng trên Tây Nguyên như nuười Raalai, Hdc, Giarai Churu
Như vậy hẳn là vốn không có một Lộc gọi là Chăm ricnư biệt niiiiv
lừ dầu mà chỉ là m ộl bộ phận dàn cư nói liếng Malayo - Polynesian Những người nói tiếng Malayo - Polynesian cư trú rấl rỏ nu liên vùrni dáo Tây Nam Tliái Bình Dương, Tây An Độ Dưưng mà mội bộ phận của họ lự
gọi ỉà "Người Biển (Orcniq Laitty một bộ phận khác lự 2 0i là "Nmrời
Rùng" (Ọrang Giai/ Raulai/ G iaL ai); như muốn đối xứng vói nhũnu dân
nói ngôn ngữ Nam Á - Môn Khm er cùnti sống ở Ciio niiuyên miền Tru ne
Việt Nam có lẽ xưa hơn, tự gọi là n^ười miền Núi (Muong, PììOìVị) Như
thế, một bộ phận sống ử ven biển miền Trung Việt Nam nỵàv nav được gọi là người Chăm là do gắn với Champa từ khi họ lập vươniĩ quốc Champa
Nhưng như thế, cư dân cổ nhiĩl sốnii Irẽn lãnh ihn mien Tiiiii'j Việt
N a m là ai ? N i i ư ờ i C h ă m đ ã c ó m á t l ừ b a o í i i ừ ? H o c ó đ ú n ụ là đ ã láp nƯỚC C h a m p a k h ò n i ĩ 7 s ử h ọ c đ ã t h e o đ u ố i n g h i ê n c ứ u v ấ n đC‘ nì i v tĩr hàiiỊi
chục nám nay mong lìm ra lời uiai đáp iláuụ lin củv.
Trang 5Cuộc khai quậl khải) cổ học có quy mỏ tương đối lớn, klioảng 12.000m2, Irên vùng hồ Yaly có thổ bị ngâp nước khi làm thuỷ điện Yaly
vào tháng 7 - 8 năm 2001, đã đem lại nhiều hiểu biết lý lliú Theo báo
cáo, ử lớp dưới, hên trong và bên dưới lớp đấl laierit lioá đã Ihấv mộl sò cồng cụ đá ghè đẽo, có vài viên bans cuội, rất iriốntỉ đá cũ hịiu kỳ Lớp đất và dạng cồng cụ khiến hoàn toàn có thể tin được (V đâv có một thời đá
cũ hậu kỳ của dân bản địa trước đầu Ihiên kỷ I trước Công nguyên Việc
phát hiôn đồ đá cũ trong tẩniĩ vãn hoá cỏ nicn đại sớm ờ Tíly Nguyên là
điều tương đối hiếm và như thế, điều đỏ cũniĩ nói lên cư dân ban địa đã sinh sống từ rất lâu đời trên Tây Níiuvôn Có lẽ họ là lớp cư dân nói tiốniĩ
M ôn-K hm er (đúng ra là Môn cổ) còn sinh sống hiện nay ỏ đây với tỷ lệ khá cao, khoảng 400.000 trên 1.000.000 dân Từ đầu Ihiên kỷ I trước Công nguyỏn, có sự biốn chuyển dán cư ử đổng bàng ven biến và không thể không ảnh hường tới dàn cư trên Cao nguyên Bên trên của một lớp văn hoá đá cũ hậu kỳ khá mỏng, lại lliấy đột ngộl và dày đặc những mộ chum có đựng m ảnh gốm nhữnn cônỵ cụ đá mới hậu kỳ đồ Irang sức một ít dấu vết của đồ đồng và sắt, cho thấy có mối liên hệ hiển nlĩièn giữa
vãn hoá sơ kỳ sắt trên Cao nguyên và vùng ven hiển miền Truns Một số
nhà khảo cổ nghĩ dường như trên Cao nguyên, nhất là ở đây, ở Kon Turn,
không thực sự có m ột thời kỳ đá mới mà lừ đá cũ nhảy thẩn li sansr, sự có mặt của m ột lớp cư dân mới có nền vãn hoá cao hơn đến cộne cư cùnu xây dựng Cao nguvên và vẫn giữ mối liên hệ với dân ven biển Dường như
có một sự đi chuyển dân cư, đặc hiệt là của người Nam Đảo (Austronesians) Điều này đã được nhiều học giả quan tâm thảo luận Những người này đi từ biển Đồng vào định cư ở ven bít biển suốt chiều dài từ Bắc đến Nam m ang đến sự tiiao lưu văn hoá Lục địa - Biển, để lại dấu ấn của nền văn hoá Biển trên các nền vãn hoá sơ kỳ kim khí, như Hạ Long, Quỳnh V ăn cho đến Long Thạnh Bình Châu ở miền Trung, nhữniĩ nền văn hoá tiền sử, được coi là ván hoá tiền Sa Huỳnh, như vãn hoá H àns Gòn, Cần Giờ ở m iền Nam, tương đươne và gần gũi Sa Huỳnh, cổ thể coi
là Tiền Óc Eo, góp phíìn chuẩn bị cho sự ra đời của vãn hoií ó c Eo - Phù Nam ở châu thổ sồng Cửu Long
ở m iền Truniĩ tiếp nối vãn hoá Tiền Sa Huỳnh, có niên đại khoãns: nứa đàu thiên kỷ I Lrưức Công niiuyCn vãn lioá Sa Huỳnh llic hiện đâm đặc dường như gắn lien với sự di cư đến từ biển Irpng mội ỉàn sóng mạnh
mẽ hơn đến mien T rim s Việt Nam Irong đó, môi địa điểm liêu hiểu là Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảnt: Niiãi, tiêu hiểu cho mộl giai đoạn văn hoá mới
Trang 6phát triển, giai đoạn sơ kỳ đổ sắt có niên đại lừ khoảng giữa thiên kỷ I trước Công nguyên cho đến khoủnii đầu Công nguýên.
Như thế chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh nền văn hoá sắt sớm m an s độm dấu ấn văn hoá hiển Nam Đáo có thổ là tiền ihân trực liốp của n lĩ ười Chăm, dân nói tiếng Malayo- Polynesia, cúa vãn hoá Chăm và của vưưnc
quốc Champa Vãn hoá Sa Huỳnh xuất hiện Irước Champa về mặt niên đại
văn hoá khảo cổ và về phạm vi lãnh lliổ của nó IIIV nhiên, vãn hoá Sa Huỳnh có phải là tiền thàn trực tiếp nay nói cách khác, Chăm có phái là sư tiếp nối trực liếp của Sa Huỳnh và lrC*n cơ sở văn hoá Sa Huỳnh hay không thì từ trước đến nay, không phải là khòntĩ có sự nghi vấn khoa học.'-Đương nhiên đó cũng là mối bận tâm kliôim nhó của các nhà khảo cổ, và cùa những ngưừi nghiên cứu lịch sử, ván lioá Champa Từ giai đoạn văn hóa kháo cổ học được gọi là giai đoạn Tiền Sa Huỳnh, thể hiện trên cái' di lích Bình Châu Long Thạnh (cũng thuộc Quảng Ngiĩi) mà niĩiríti ta có lliổ thấy, chỉ riêng ở Long Thạnh khá nhiều đồ gốm II Ồm những chum, vò hình trứng, cổ nắp đậy, khá nhiều lô có chân, hoa văn trang trí là vãn ihừng, khắc vạch, các hăng hình SÓ11U, vãn in hãn ti răng sò, cọng rơm; các băng tô màu, được miết láng bỏ nu đẹp: một sô được miốl chì đen hóng
Đó là những nét đạc trưng cho gốm Tiền Sít Huỳnh lưu giữ Irong gốm Sa Huỳnh
Một nét nổi bật của văn hoá Sa Huvnh là tục chốn nu ười chết trong
vò đất nung, còn gọi là chum; Luy nhiên cho đốn nay chưa kháng định được các vò đó là vò quan dùnti tỉể chôn niĩuyOn cái tá nu hay tlìlrm Iro xương hoả táng
Từ đẩu thế ) ỷ , trong nhiều năm các nhà klioa học lliuộc Trưòìm
Viễn Đông Bác cổ đã khai quật mộl số địa điểm thuộc văn hoá Sa Huỳnh,
m ột vùng bờ biổn lỉnh Quảng Ngải, trên các địa điểm Thanh Đức, Plní Khương, Tân Long, m ấy bãi mộ chum (vò) nằm cách mặt đất cát không sâu hơn 400 vò gốm Tiếp tục cho đến nay, các nhà khoa học nước rmocU
và Việt Nam lại phát hiện thêm nhiều hãi mộ vò, rải rác Irên hừ biển Việt
Nam từ Quảng Bình đến Quántỉ Nam lừ Quáng Ngãi đến Hàng Gòn, Phú Hoà thuộc tỉnh Đổng Nai cho tới vùnii ven hiển Thành phô Hồ Chí Minh Bên cạnh và nhất là bên trong vò, nu ười ta còn thấy cỏ đ<‘> Irang sức, như vòng tay xuyến bằng đá, vòni: cổ barm hạt đá quý mã não hạt thuv tinh, tỉuiỷ linh mầu, đôi khi còn có cá viỏn ihuv linh lam đỏ mánh ihuv linh Điều đó dẫn lới mộl số nhà nnhiOn cứu cho ni nu cir dân Sa lluvnh dã hiêl
n iThề luyện thuỷ linh, nấu ihuỷ tinh Nliữim kốl quả phân lích thạch hoc
Trang 7gần đây cho biết thuỷ tinh được gia conn them tại chỗ, nhưng chính Ihuỷ
tinh thì có nguồn gốc từ nước ngoài
Lãn trong số đồ trang sức nàv còn có loại mậl dây chuvồn hình con
thú 2 đầu bàng đá mầu đá quý Loại mặt dây chuyền (pendant) này dường như là m ột kiểu đồ Irani: sức đặc Irưng của dân Nam Đáo (Austronesians) nên người la đã thấy khá nhiều di chỉ khảo cổ học lluiỘL'
văn hoá Sa Huỳnh hay giốne văn hoá Sa Huỳnh ở ven hiển Viội Nam,
Thái Lan và ở cả vùng đảo niĩoài biển Đôn*: Ở di t h ỉ Ban Don Ta Phet, có mặt dí\y chuyền (pendant) hình hai đầu thú và cả hình sư lử quỳ biiny dá camelian (Ian Glover, 1989) v ỏ ốc liền đục lỗ xâu dây làm vòn” cổ cũng là m ột đặc trưng đổ trang sức cũa dân đánh cá ntĩoài khơi
Cùnỉĩ lỏp văn ho á vò mộ Ví"i đòi khi củ Iroim vò, các nhà kháo cố phái hiện được khuôn dííc đổng, m;inli nồi nấu đồng, nhiều xi đồng, nhưng đặc hiộl là có mộl số lượng đáng kể đổ Síil c ỏ vũ khí sắt, như gươm và nhất là cô nu cụ sắL, như cuốc llniổim, liềm, dao, rìu, tổng cộ nu đến nay có tới vài trăm hiện vật Cìinu vỏi đồ sắL, cả trong vò, còn cỏ mội khối lượng không nhỏ công cụ đá các rìu, hổn bằng đá mài nhẩn,phổ hiến
cỏ vai Niên đai của vãn hoá Sa Huỳnh là cuối thời đồ đổng và fiatdau thừi đồ sắt Phán tích hiện vật và đo C |4 mội số mẫu gốm, người ta
có niên đại của văn hoá này là khoaim uiữa 1Ỉ1 ten niên kỷ I trưức Công nguyên, cụ Ihổ hơn là khoảng thố kv V trước cỏniĩ nguyên Một số tác giả muốn dẩy niên đại lên sớm hơn một chút vào đấu thiên kỷ I Irước Cônu nguyên, v ề đại thể, có the thấy vào khoảng thố kỷ V Irước Công nguyên,
có một nền văn hoá mới mang đặc Irưntĩ vãn hoá hiển xuất hiên và phổ biến trên vùng ven biển Việt Nam (V một số nơi còn mử rộng lên cả Cao nguyên
Trong vò, ngoài đồ trang sức công cụ và vũ khí bàng đá đồng, sắt còn có cả đồ dùng thường nhật Nil tine đồ dùnc này là nồi, hình vò tô hát bằng gốm, để nguyỏn hay đập ra đổ cho vừa một số vật trong vò, chum Như vây, vật gốm troniĩ vò và nil fit là bàn thân vò chum là một tập hợp hiện vật gốm Sa Huvnh rất nhiều vổ sò lượng, phong phu về loại hình
và rất đặc tnmg.
Nét độc đáo li-ước hết 1Ì1 hình dáng các "vò qu an ” Vò hình trứng hay hình trụ, đáy cnnu; một số ít có hình dáng khác, như kiểu nồi hình nón cut Trú nhiên phải lớn, vì ilium làm quan tài Cái lơn cao KO-[OOcm đườn<T kính thủn 5()cm-fificm: nliữnii cái vừa và hơi nhỏ cat) 40cm, 50cm
4
Trang 8bụng rộng 40 - 50cm Vì thế có ngưíti gọi là vò, có ngưcìi gọi là chum (người Pháp gọi trước là jarre = lu lọ, hình, vại, vò, chum).
Các vò này phần lớn làm hầnu đất sél pha CÚI phù sa nên xương gốm thỏ, phổ biến có mầu hồn II nhại, vàng nhạt, đôi nơi có màu vàn SI
sẫm, cứng do có độ nung cao: dàv lừ lem - 2cm Tliiiửng để mộc Mội sò
vò thuộc giai đoạn m uộn có áo gốm mầu hồng thủm được miốl láng hónu
có hoa văn trang trĩ trông khá đep.
Những vật gốm "tuỳ tánc" nhỏ hơn và là đồ đựng nên thườn*: đươc chế tác cẩn thận hơn Các nồi, vò, hình, bát, tô có chân: một số làm bíuiii bàn xoay, cỏ hình dáni! cân đối đẹp có xươni> gốm mịn nunu kỹ có phú một lớp áo gốm có màu đậm hơn Hoa văn trang trí đỏ nu vai trò rấl quan trọng Về kỹ thuật làm có vãn thừng, khắc vạch; văn in; văn tô mầu, dùrm cọng rơm tạo vãn tròn, răng vỏ sò Vồ hình dạníi vãn, có vạch đường xiên chéo, vftn vạch chữ chi, điiừim hình làn soil" lấy llùíny lliô đụp lừ vai lú'i đáy, lấy vỏ sò in Ihành tìrnu harm hình chữ V lăn lãn Mộl số được miốl trên cổ hay vai nhữniĩ dải hột chì (ìiraphite) rồi miết Ihùnh đài băniĩ đcn hóng khá lạ mắt Tóm lại, các cồ nu cụ, (lụng cụ hằng đá mài phần đáng ke
cỏ vai, hiện vật đồng, sắt và nhất là sất, cùng với đồ Irang sức và đổ uỏYn
cù nu với cả hình dáng, chất liệu, hoa vãn trang trí phát hiện được iron Li các di chí vãn hoií Sa Huỳnh cũnu chính là Irình độ phát Iriòn và đặc Irưnu độc đáo của vãn hoá Sa Huvnh, cúa cư dân Síi Huỳnh Với trình độ đó họ đang đứng Irước ngưỡng cửa của thời đại văn minh, của sự liìnli llùmh xã hội cổ phân hoá có Nhà nước
Cuộc khai quật lóín di chí Liinu Le nu (YaLv - Konlum) nói trèn, cho thấy dườnỵ; như cư dân bản địa lâu đời, nhữnu người rtíiàv nav nói tiếng Môn -Khmer, ngày xưa là tiống Môn cổ, vẫn sống ở đó đã sứ dụníi các công cụ đá cũ từ hàng nghìn năm trước và vẫn kéo dài như thế cho đến khoảng nửa đầu thiên kỷ I Irưức Công ntĩuyên: dường nlur có sự di cư cùa m ột hộ phận dân nói tiếng Mã Lai - Đa Đảo chuyên đốn sống bên cạnh, thâm chí hơi bị dồn về phía Tây mang đốn một phẩn của yếu tố mới của văn hoá Sa Huynh, với mộ vò, đồ Irang sức Irùm lẽn bc*n trên, muộn hơn Một lượng công cụ đá mài cùng lớp mộ vò cho thấy có sự XUĨÍI hiên hơi đôt neộl từ hiển vào phần định cư ở nuav các vù nu thấp ven biển, phần tìm thêm đất cư trú Irèn cao nguyên
Cho đốn nui'iv nav phần l«ín ilíìn Kontum là nmrừi Banar.nói nu ôn ngữ Mồn-Khmer khoảng 150.000 người, trong khi ử Sa Thầy, trên đất
Trang 9Lung Leng ơ phía Tây Kontum là n uười Gia Rai, nói tiếng Malavo, chỉ có
một số nhỏ chỉ bằng khoảng l/io
Những dfln nói tiếng Malayo khác đến nhiều hơn ở phần phía Nam Cao nguyôn Có lẽ càng có cơ sờ để nghĩ dân nói liống Mala vo ít ra là ở Viọt Nam là từ bidn vào Với trình độ phát triổn của vãn lioá Sa Huỳnh, cir diln đứng tnrớc ngưỡng cửa của thời đại văn minh, của sự chu án bị liiành lộp nhà nước Chuẩn bị thôi, mà chưa thổ làm được neay bởi vì lúc nàv vùng lãnh thổ của cư diln Sa Huvnh phần lớn miền Trung Việt Nam nuày nay cũng như cả miền Bắc, vùnu chàu lliổ sôniỉ Hồnsỉ vẫn đanu còn hị Trung Quốc thời nhà Hán xâm chi ốm và đô hộ
Năm 11 1 trước Công nsuyèn nhà Hán lliay thố nhà Triệu xâm lược
và thống Irị nước Âu Lạc Ngoài hai quận Giao Chí, Cửu Chíìn nhà Hán lập lliêm quẠn Nhạt Nam Quăn Nliậl Nam là miền đất từ Hoành Sơn có 1C* đôn đèo Cù Mỏng, chia làm 5 huyện Tày Quyển, Chu Niiỏ, Tv Canh (hav
Tỷ Ảnh theo T h u ỷ Kinh Chú) Lô Dung và Tưựniĩ Lam (Tiền Hán thư
q.28, lờ l()h) Tượng Làm là huyện xa nhất về phương Nam trong các đấi chiếm đóng của nhà Hán, là đấl Quántỉ Nam, Quãng Nìiãi Bình Định niĩày nay
Khôn lĩ chịu được sự thống trị và hóc lột tàọ bạo cúa nhà Hán nhàn dân gốc vùng bị chiếm đóng đã khò ne nu ừng nổi dậy chống lại Nhàn dân Nhậl Nam đã nhiều lần eùnn với nhàn dân Giao Chí, Cửu Chân vùnu lên khởi nghĩa Mùa xuân năm 40, dàn Nhật Nam đã lừniỊ hườn Ví ứim mạnh
mẽ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưnu Sau cuộc đàn áp đẫm máu cíia Mã Viện, nền thốnỉĩ trị của nhà Hán được lãng cưừnỵ về mọi mặt và các chính sách bóc lộu các thủ đoạn đồnu hoá cũnii được thực hiện ráo riốl h<m Phong trào đấu Iranh bị lắng xuốnu môi thời uian rồi lại trỗi dậv mạnh mẽ
Mở đầu cuộc khởi niihĩa của lictn 2000 (lân Tượnii Lâm ớ cực Nam quận Nhậl Nam vào mùa hè nftm ìno Chính quvền đô hộ phải điều quàn của quận và các huyện đốn đàn áp sát hại thú lĩnh của nghĩa quân và dập tát cuộc khởi nuhĩa, nhưns sau đó nhà Hán phải phát chẩn cho dân nuhèo
ở Nhạt Nam và tha tiền lao dịch, tô ruộniĩ Ihuế cỏ khỏ Irons: hai năm cho dân Tượng Lâm đô’ xoa dịu lònii hất hình của họ: đồng thời nhà Hán đặt
them chức Binh irưởng sứ ờ Tirợns: Lâm đế đổ phòng và sẩn sànu itìm iíp
moi hành động phãn kháng
Năm 136 nhân dân Tươnu Làm lại noi dậy: năm sau 137 hìmii no mọt cuộc khởi niiliĩa lớn của nhfm diìn Nluìl Nnm Nỉỉhìa quàn "đánh
ís
Trang 10huyện Tượng Lâm đốt thành và clùia, giết Irướniĩ lụi" (Ỉlộỉi ỉ ỉ ủn ihư
q l 16, tờ 6b) Thứ sử Giao Chỉ là Plùm Diễn điều h<fn I vạn quàn của hai
quận Giao Chỉ, Cửu Chíìn vào đàn áp Nlurnu binh lính Criai) Chỉ CứuChíln đã cliống lại CIIÔC hành quàn, tị May sanií cĩánli phá tịiiận li'ị Cuộc
Hiiili hiên đó lĩã k ìm cliàn hon líò liõ lan (tiều kiỌn ilinẠn lợi cho CIIÒC (tiíu
Iranh của nhcln dân NhẠt Nam phá 1 Irièn
Lúc hấy gi('r, viên lliị riỉiự sử của nhà Mán đ;mi> đi sứ (V nhụi Nam làGià Xương, cùng với bọn quan lụi đò hộ Iroim quận, hợp sức lại tố chứccuộc đàn áp Nghĩa quân đã đánh lliắni: họn chúng và bao Vày chime lu in một nãm trời
Cuộc khởi nghĩa của nhân ilân Nhật Nam (ỉã uâv chấn động khá mạnh Iron lĩ triều đình nhà Hán Hán Tluiận đố (126-144-) rất lo lắnii đã pliải họp các công khanh hácli qu;m v;'i dnvC'11 thuộc 4 phũ lại để h;'wi plurttiii’ liíực đối phó Triều đình bàn nen sai mội dại tirờiii: huy clộim 4 vạn quAn ở các chilu Kinh, Dươnu Duvôn, Dư snnti tìnn áp cuộc khới nuhĩa của nhân diìn Nhật Nam Nlnrnti đại lướiii! Lý Cố đã nèu lèn 7 lí do
để hác kố hoạch điều quân viễn chinh Theo Lý Cô tình hình nhà Hán đaiiiỉ có nhiều khó khăn, ngay ử các chíìii Kinh Dirơniỉ ciìnu dune có uiặc cirrtp lụ họp không lan, nên việc trưnu pliál hiiim đại quân khòrm dễ và sò Uíìy ra nhiều mối lo Hơn nữa quân viễn chinh "đi xa muôn dặm" tiếp lô tốn kém, thuỷ thổ không hợp sẽ chối mòn, bỏ trôn và mội mói kliòrm còn
đủ sức chiến đấu Lý Cố cho rànti "nav ở Nhật Nam quân ít lương cạn iiiữ khônu đủ sức mà đánh cũnti khônv: xonu "nen rút ra Giao Chí, rồi (Jùng quv kế" chiêu mộ họn man (Ji khiến chúim tự đánli lần nhau, cho vàng ỉụa đến cấp cho chúng, ké nào làm phán eián lấv đirực đà ưu ìỉiậc thì
phong hầu cắt đất mà thưởng cho (ỈỈỤÌI ỈIÚIÌ ihỉí q.l Í6.R;0.
Vua nhà Hán cử Chúc Lưonu làm lliái ill LÌ Cửu Chăn, Trưưne Kiều kìm thứ sử Ciiao Chỉ lliực hiện kê Iv uiáii lliâm đôc cúa ỉ V c ỏ Cuôc khới ru’hTa ở Nlìât Nam lan rã dần sau hơn 1 năm hoại đnnii (vào năm 138)
Nhưnn 6 nảm sau, nãm 144 dân Nhật Nam lại nổi dây liên kỏl vói dàn Cửu Chân cùng chốn.ỉĩ kc ill ù chnniz Hìinu nuhìn nuhìa quàn đánh phá các huyện trị thành ấp của hon quan lai dô hộ nhà I hín Thứ sử tìiao Chí là Hạ Phương phai dùnu nliicti ill ứ doiin lĩiiVi (lẹp vên diícíc
Níìm 157, m ộl cuộc kliời Iiụhĩa lứn no ra (í Cứu Chân do Chu Đat cầm đầu NuhTa quàn đã Irìmu phai lèn luivộn ỈỌnh klict 'iônu tliam hịio ứ
Cư Phonii, đánh phá quân trị Cửu Glim SIÌGÍ chối ihái ihú Nnhè Tluíe Nhà Mán cử Ngụy La nu sang làm đô MÝ quàn Cửu Chrin tu chức đ;iri áp l;in
Trang 11khốc, tàn sát hơn 2000 người Niiliĩa quân lùi vàn chiếm iĩiữ Nhật Nam
cùng với dAn ở đay liếp tụt; cuộc clríu tranh tmniĩ 3 năm (157-160), lực
ỉirợng có lúc phái triổn lên đốn lum 2 vạn nu trời
Tinh thán đoàn kết đáu tranh của nhàn dàn Ha quận Giao Chỉ Cứu Chân, Nhạt Nam được thể hiện và phái U'iổn cao hơn tronti cuỏe khời
nghĩa do Lương Long đứng đầu năm 17X Cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Giao
Chỉ, lan sanỉi Hợp Phố, Ô Hử và lôi cuốn hànt: vạn dân Cửu Chân Nhàt Nam tham gia Nghĩa quân đánh chiếm các quận huyện và làm chú lình
hình trong 3 năm (178-181).
Như vẠy là trong thế kv II nhân (lân Nhại Nam nni chu nu, <.!;ìn Tượng Lâm nói riêng đã liên liếp nổi dậy khởi nghĩa Những cuộc kiiứi nuhĩa này luôn luôn được sự đồ ne tình v;'i ỉinn hộ và nhiều khi Cíí sự iham uia hưởntĩ ứn« của nhân dân Giao Chỉ Cứu Chân Đó là nliữnu hưức
c h u ẩn hị, Lộp dượt quan Irọnìĩ dẫn đốn lluinỵ lợi ui;'inh đ ộ c lập.
Cuối thố kỷ II, đời Sơ Bình (niim 190-193) nhân Trunti Quốc loạn lạc, dân Tirợng Lâm ở nơi xa xôi nhái đã đạt được ihắng lợi trước liên Hn
đã nổi dậy, giết huyện lệnh, giành quvổn lự chủ và lập nước Cuộc khới nghía tiến hành trong hoàn cảnh thuận lợi: dân Ciiao Chi và Cửu Chân cũng đang đứng lên đấu tranh chônu sự thống trị hà khắc eúa Trunn Quốc, đánh phá Q iâ u Thành, giết thứ sử Chu Phù (nãm 190) khiến tronu mấy nãm khổng ]Ạp nổi quan cai trị Ngưừi lãnh đạo khởi nuhĩiì ớ NhạL Nam có Lên là Khu Lic*n (có sách viốl là Kim Quỳ Khu ĐạL hay Khu Vươnn) lòn làm vua Chữ "Quỳ" và Đạl viốl hơi giốim nhau, cho nên đây chắc khõnu phải lên người mà có thể là sự ch uy ổn âm từ nsiôn ngữ L'ổ; Khu Liên -
K u m n g , có ntĩhTa là lộc trưởng, thủ lĩnh vua Quốc gia mới lập của dân
Tương Líìm một ihừi gian dài đưực các lliư tịch a i Trum: Hoa uọi là nước
Lâm Ấp: sách Tì lì IX Kinh Chú ìiiai thích rõ: Lâm Ảplíì luivện Tượnsi Lâm
sau bỏ clũr "Tượng", chỉ gọi là Làm Ap
Lươn ạ ihư lức bộ sử nhà Lươnu (502-556) do Diên Tư Liêm soạn
vào dầu thố kỷ VII đã dựa vào các lài liệu uhi chép của các lh('íi trước cho hiốl một cách hệ thống vổ nước Lâm Âp và các vtia kố tiếp nhau ứ nước Lâm Ấp: Khu Liên Phạm Hìmi: Phạm Dậl Phạm Vãn Phạm Hồ Đai "làm vua" vào khoánn cuối lliê kv II đèn dấu lliố kv V Tronii lliời I’ian nàv, các quan lại Trunc Ho;i nhiều líỉn (ícm quân điìnii Làin Âp nhưng khôniĩ thuniĩ vì Lâm Âp dựa vào địa ihế hiểm Irở chrínu cự được
Thư lịch Tnuiii Hoa iiọi tC'11 l.ỉìm \p cho dốii Tán Dirònạ ihư lliố ký
VIII nhưnu lừ tho' ký IV có ihôm n.miõn lài liệu bi kỷ cho phép íl nliiôu
X
Trang 12so sánh các lên vua qua cách gọi của hi ký và tlur tịch CŨI1ỊỊ dược bi ôi lèn nước được gọi chính thức Irons vãn hill là Champa, có Ihể là !ấv theo tôn
một loài hoa đẹp - hoa Nuọc lan Champara Unnae, cũnn có thể như (V
một số nơi khác, gọi llieu địa danh inòl vùnu c'f Ân Độ ớ phía Bíie hạ lưu sông Hằng - Cianga Tôn lỉọi Champa được hiếl xuất hiện lần đầu liên liên văn bia của vua Champa là Sambhuvamnan (5c)5-íS2^), tức khoàniỊ cuối ihè kỷ VI, và trên cả hia Chân í,ạp uoi là hia Aim Chumnik có mòn đièm
668 Nước LAm Ấp rồi đốn Champa ihành lập và phát triển, nhưng có đúng là trôn cơ sở vãn hoá Sa Huỳnh và tiếp nối Sa Huỳnh khô nu 7 Có phải trên địa bàn của vãn hoá Sa Huỳnh, của mrứe Charnpa sau nàv liíc Irẽn suối chiều dài của miền Trunu Việi Nam, từ sôniĩ Ciianh (V Quanu Bình đèn sông Dinh ở ninh Tluùm khõnii 7 vân đề nàv tíã làm bận líìm những nhà nghiên cứu Iroim nhiều năm
Đốn những cuộc khai quẠl kliỉtn cố hoc gần đây ớ Mậu Xá (Quáiiu
Nam) nãm 1995-1996 phát hiện được lilng văn hoá cho thấy sự phái Iricn tiếp nối từ gốm Sa Huỳnh đốn gốm Chăm, lức là lừ Irưức Cô nu nguyC'n đến mấy thố kỷ đầu Conn nmiyên Đặc biệl là cuộc khai quậl kháo cổ họe liên đấl Bãi Chợ hỏn cạnh kill! di lích Đồng Dươni: phái liiệii uíim vãn hoá sAli l , l m gồm 2 lớp Lớp dưới, dày 6()cm có nhiều gôm Sa Huỳnh lừ lliò đốn mịn, có áo gốm hồng nhạt, lớp liL'ti tlày 50cm là gốm Sa Huỳnh inuộti xen lẫn gốm đấl sét pha cái màu xám nhạt, xương mỏniỊ mà cứng cỏ đọ nung cao, át) gốm màu vànti nhạt, có vfm in ca-rô, ảnli hướnu của gốm Trung Quốc thời Hán
Lớp trên cùniĩ lẫn cả lớp đất canh tác là gốm Chãrn, xương gốm là đất sét pha cát, hồng nhạt, để mục hoặc có áo gốm cứ ne màu hồnu nhạt, lẫn một íl mảnh gốm Irunsi Quốc muôn, lliố kỷ VĩIĩ-X- Di chí khán co Đồng Dương khai quật năm 1996 là một hà nu d ú m II rõ ràng và chắc chắn về sự phát Iriển liên tục từ văn hoá Sa Huỳnh lừ sớm đốn muộn, đốn giai đoạn chịu ảnh hườni: văn hoá Hán và liếp lục đốn nhữnu ihế kỷ IX -
X khi đã cỏ gốm Chăm, văn hon Chăm và sự giao lưu vơi văn hoá Truniì Quốc thời Tuỳ - Đường
Năm l c)99-2000 ứ Phú Yen, livn hừ cửa sônu Dà Ríiim dã đào dưực
2 chum lởn chứa đựnu khoãnu 500ku liền đổnu: niìm 2(H) 1, ớ Bình Đinh lại đào được 1 chum liền cổ có gần 9000 dồ nu liền, nạng hơn lOOku Các
đồnn tiền này phần lớn là tiền Tning Quốc từ thòi ỉ lán n h ố ky Ĩ1I đốn lliiíi
Thanh - đầu thố kỷ XX) Đó là những bằnìi cứ nói lên môi mãt là sự phái tri ổn liủn tục theo thời iiian cúa một quốc liiii lì; đầu Cô nu nuuyên dên
M
Trang 13thời gian gần đây, quan hệ buôn hán trao đổi rộng rãi và thường xuyên và của một lãnh lh(S nối liền Đáne cluì ý là chum tiền ơ Bình Định còn cho thấy không có sự đứt đoạn nào ironu nhiều thê kỷ phái triển và biên chuyển dù trải qua nhữns: biến độn*: cùa lịch sử.
Trang 14T H Ờ I S ơ KỲ V1Í(ÍN<; Q U Ố C CH AM PA
(TH Í: KY I-X)
1- G iai (loạn Sinliapura (từ chiu (lên khoảng nám 750).
Lương Thir tức hộ sử nhà Lươnsi (năm 502-556) do Diêu Tư Liêm soạn vào đíỉu thè kỷ VII cho biôi môl cách hô ihônu vổ nước Lâm ấp từ khi mới lập
Khu Liên làm vua mây chục năm rồi vì khôn‘4 có con cluíu nuoại
là Phạm Hùng thay, cho đốn khoánỈĨ cuối thố kỷ III Tiếp đó con là Phạm Dậl nối ngôi, làm vua trong 12 niim (nãm 337- 349) Phạm Vãn vốn là người [lim cú 11 viên quan võ huyện Tíìy Quyến qniìn Nhật Nam (có lẽ cĩiim li'i người han xứ), sail theo hầu D;ìl có lìii được l;'im lirứn" Sỉiu Vrm li'i
Phạm Dại con của Văn ờ nuôi từ năm 349 đốn san năm 361, rồi đến
Phạm Tu Đạl (hay Phạm Hổ Đạt) cháu của Phậl làm vua vào cuối thè kỷ
IV - đầu thố ky V.
Dưứi thời Phạm HÌIIIIỈ và Phạm Dật các quan lại Irung Quốc nhiều lần đcm quân đánh Lâm Ap, nlurnu khônsỉ thắnu vì Lâm Ấp dựa VÍIO ctịíi lhế hiểm trơ chống cự được
Từ thời Phạm Văn khoảnti the kỷ ĩÍI đã chú ý xâv (Jưng bộ máy chính quyền, quân đội nhàn thố rrụmh đã item quân đánh các nước làn cận như "Đại Kỳ Giới, Tie’ll Kỳ Giới” Lại đem quân irìrnỵ trị họn quan lại nhà Hán tham tàn, hà khắc, đánh phủ quận Nhật Nam, hắt ỵiếl thái IỈHÍ
Hà Hầu Lẫm lấy thày tố trời, rồi chiếm quận Nhụi Nam lấy Hoỉinh Sưn làm cưcíntĩ giới phía Bắc, xàv ihành Klni Túc để phònii tiiữ
Các vua k ế sau cùa Lâm Âp vẫn phái ihiíờim xuvèn chốnii cự đ<’i
p h ó với c á c q u â n n h à H á n b ả o v ệ l ã n h tỉ i ổ đ ô i k h i c ò n đ á n h l â n ra tới Cii
phía nam quận Cửu Chân Tuy nhiên, có lần vào nãm 446 thứ sử Giao Châu thuộc nhà Tiền Tốníĩ là Đàm Hoà Chi (tã đem quân itiínli Lfuri Ap
ihắnii, cướp đ o ạ t n h iề u củ a cái cư ớ p phá kinh d ỏ rồi n il VC.
Đôn nãm 605 tướnu Lưu PhiroiiL! nhà Tuỹ lại đem quàn (tiínb Làm
Ấp lliắng vua Phạm Phạn Chí, cướp doịit của cái, tàn phá kinh du lòi lại phai rúl quàn vổ Tuy gặp phải nhiều khó khăn Làm Ap vẫn eiữ itươc quyền tự cliii và đang hắl đầu phát triển
I I
Trang 15Kinh đô ở đAu? Thuỷ Kinh chú mô lả "Đô thành có điện quav vo
hướng Đông, cao hơn ihành quá một trượng rưỡi dùng phiìn hò trát tương vách m àu xanh (7) Phi lần chôn tiêu phònu, không có cun li quán ớ fiông Đền Ihcìn lliííp quỷ lứn nhỏ X miếu: đài lạ nhiều hum ỊỊÌônu nlur tháp Phạt Ngoài thành khònỉi có phố xá, ít nmrfti ớ; bờ hò lièu điều,
không phải là nơi người ta ử được ”(?)
Nhưng như iho chưa llìổ uiúp gì cho việc đoán xcrn vị Lrí kinh đò
Lâm Ap à chỗ nào, cĩirm rất khó hình duntì diện mạo kinh đỏ đó elura kê’
là có những điều khác với ghi chép của lài liệu khác Charm hạn nlur
"Phạm Văn nhiều lẩn buôn hán, học được (ỞTnint: Hoa) dạy vua Lâm Âp Phạm Dật xây dựnn ihành trì, lầu điỌn " Tục nước đó chỗ (V làm uác ìiọi
là Vu lan hay Can lan (nhà sàn 'ĩ) Nam nữ đổu quấn ngang người lấm
vái từ lưnii IriV xuốnỵ iiọi là đô man hav can man đco vòníi tai nhỏ nu ười
sang đi ùirìy Ún "(Nam T é thư LưoiiỊỊ ilní, liệt Intyừn).
Từ thố kv IV có thêm nmiồn v;ìn minh hi;i ký qua íìó có thể hi ỐI lên chữ của các vua Cluìm làm hằnu chứng cúii điều ulii Ironii llìư lịch
"nuười Lâm Ap viếl chữ Hồ", cho hiêl Ihêm nhiều sự kiện xã hội vãn hoá lịch sử Ngciy ở thô' kỷ IV cổ 4 vãn minh rất có ý nghĩa:
1- Chữ hòn Cụt (Chiêm Sơn - Duy Xuyên - Quanụ Nam) có mól
dòng nyắn: N am n bỉutỊỉavatn M ahadevaya Bhadresvarơsvamiiìah si rasa
panapaíyu (Kính ỉạy thần Bhadrasvaru hanh vận vĩ dại): (V đây là thần
Isvara -.Siva mà vua Bhadravarman lòn thờ và lự đồnu nhất
2 Minh văn ở chợ Dinh (Phú Yc>n) cung nhắc tới lên vị vua Bhadravarman nói trên
3 Bia MT Sơn là một loại bia dài, nói vổ việc vua Bliadravarman lập
đ c n t h ờ l í i ần B l i a d r c s v a r a , c ú nu r u ộ n i i d ấ t c h o đ ề n ( c íi n i i Vl'ii đ ị a tỉiới đ ư ợ c
ke- khá cụ thổ)
Niên đai thố kỷ IV không phiii đươc Iilii Irên hia mà do các hoc giá đoán theo tự dạng chữ Phan cổ Lại có tác gia cho rằng (V llìê kỷ IV có một ònu vua Irị vì, lên uni là Bhadravannan và có vé là ônu đã thỏiiu nhất đươc lãnh ihổ cai quản được từ đèo Hái Vân đốn đèo Cá và có thò là nước Champỉi cái tên nọi cluunpa dã có từ dày
Tuy nhiên, đó vẫn chí là SIIV đoán mà dura ihật níiữnu hnnụ chứnu chắc chiin
ớ lliòn Võ Ọ m h nav lliiiôc xii VTnli Truim huyên Diên Klìánh lính Khánh Hoà, cách thành phố Nha Tninụ fíkm về phía Nam Iiiiay lừ dầu ihê
n
Trang 16kỷ XX đã pliát hiện itirợe môt lâm bin kliắc nổi trôn } in;Ịt cú;i mòi phiên
đá graníì lớn cao Intn 2m nói về việc Clint: lluỉn cíia ITÌÔI ilòim vua uoi lit
Sri Mara Tiìm bia này cung cấp nhiều hiỏti hièi vổ Víìn lioá phium lục về
(Ịimn niỌm lễ* nụíii H indu iiiiío nhirtif’ ifm u ilcm l;ii nltiiMi liicii Ii>y> nliiìn
khá xa Có tác giả đồng nhất Sri M;ira với Phạm Sư Man cúa Iiưóv Phù
Nam nôn coi vùng này (cả mien Trung Nam Mộ ùr (lèn CYi liên I làm 'lVm
là một vùng Ihuộc quốc cúa phù Nam) Qii;m IIièm niụ cim e itn được
chứng minh lù kliông đúng.
Một học giả căn cứ vào lự đạrm cố (.toán định niên đại cùa bia Võ
Cạnh là thô' kỷ II hoặc muộn nhííl ciìnsi là thố kỷ III nen có lác ỵiíi suy
luận Sri Mill’ll là Kill! LiC‘11 vua drill liên và cai cỊtiiin Ihốnii lìhiVl c;i eliiiinpn
từ Bắc đến Nam Bia Võ Canh đã là đổ tài nuhiêii cứu và I ra nil 1V 1 làn kéo*
dài liên nửa ihố kỷ và rồi tỉốn 1 Pillỉo/Hl (toán định nội chilli: Irnni: (tó Si*i
M a ra ỉà s ự l ự n h â n llicci t ậ p Cịiián CIÌ;| 1T1ỘI d ò n u viiii Pal hi vi il i Niiiĩi A n Đ ô
c ũ n g d ự a v à n s ự p h í ì n l í c h tự d a n g và nhâ't là v à o n ộ i (l um: c ó l i è n I| imn
đốn mòi dònti Vỉia N;im An, ôim đoíín itịiili niên (.tại cún hi;i Võ C;mh là
kliuiiiiii cuối í ho kỷ III - drill t h í ký IV Liiííi lliídi và lự nliiOit Kíc b(’i nliicti
cách hiểu sai lừ Iníức một cách tỉmvốt phục
4 Cũnu ở Đông Yc*n Cliàu lluiộc Quảim Num Nmròi la pluíi hiện được mộl văn minh nhỏ nói VC việc llùí CIÍI1U ihrìn rắn Naua Iiluíiiii có một
sò' c h ừ đ ư ợ c v i ò ì b ằ n li m ộ l c h ữ k i ể u C h ă m c ổ s ơ k h a i v à c ũ n u d ư ợ c đ o á n
định n iâ i đại lliố kỷ IV và như llií đíìy là sự sáuLL lạo văn lự han đùi vào
loại sớm nhấl mà nmrời la được hioí
Phổ hệ virưim triều Siiihiipiira haV Cìaimaraja (o') s đò'i vua) iltiọc
biêl chú yêu C|iia 2 bia MT Sơn lĩl \'ì\ IV có Ihổ bict khá đíìy đíi nhưng
cũng khôn*: ÍI nic rối như sau: Đầu liừn In ÔI1L1 vua mil ngơừi la kliong hiôl
uì vổ ôim:
1 Monaralliavairnan nliưnt: cĩinụ dược hiẽt ònụ có mội ngtrừi chill,
sẽ nói lứi dưứi dilv
2 X, là con? Và
I í
Trang 173 Có lẽ là cháu, Bhadravarman, tác giả bia Mĩ Sơn I, Uiế kỷ IV (?); đến
4 Rudravarman, có lẽ chính là chấl của vua l người "rực rỡ như
mặt trời", đôn
5 Sambhuvarman "người con Irai" của vua IV, có "ánh sáng lire
rỡ", người có dựng bia, lập đcn thực lố (khoáng 595 - 629) (?)
ố Kandarpadharma, con vua thứ 5, ngưừi như một dhavmư Ihứ hai
tái sinh mà tên gọi đã cho thấy như thế (khoảng 630 - 640):
7 PrabhasadhaiTna là "con trai của người" (vua 6) mà "tình yêu quý của mọi thần dân đều hướng về" (khoang 640 - 650) Nhưny đốn ônII này thì bắt đầu có sự rắc rối Ông có người cm gái út lấy chổng là mội giáo sĩ
(có lẽ bà là người Bà Lamôn) lên là Chandasya Salya Kausika Sviimin
sinh hạ được 3 người con trai, vãn bia kể tên của cá 3 người là Bhadresvaravannan, Anangarupa và Visvarupa Theo tên gọi có tác giá iưởng ngưừi anh cả Bhadresvaravarman đã làm vua kế niĩỏi, tuy nhiên không thể xếp ông này vào chỗ nào cho hợp vói thứ tự vương triều Ôníi vua thứ 7 này, ngoài người em gái ÚI, có 3 cháu trai, thì còn một người nữa, không rõ là con hay cháu, tên là Jatĩ’idharma "nổi tiếng vì sự qua cám lớn lao", chẳng hiều vì lý do gì mà lại phải đi đến Bhavapum (nước Chân Lạp), rồi kết hôn với công chúa nưức này tên là Sarvani, con gái của vua Isanavarman (khoảng 615 - 655), sinh được người con trai, lên là Prakasadharma, đoán là vào năm 630, đên khoảng 650 thì trử về làm vua
Champa.
8 Prakasadharm a (650 - 687) có-"phẩm chất vương giả và kill phách anh hùng", rồi cũng không hiểu sự tình như thế nào mà do "những chiến thắng mà người dành được” (hiểu ỉà không phải do truyền ngòi bình
thường) để lên làm đại vươn í toàn Cliampa (M aharaja Campapurư -
p a ra m esva ra ), m ang.tôn hiệu Vikrantavaraman, kể lai lai lịch và tôn sùng
vua 7 (ổ n g T u ã n ĩìn h ) là vị "tôn sư của mọi ihế giới" (Bia M7 Sưn III, niên điểm 657 sau đó làm lỗ tế thần, cúng mộl kosa và cá mukula như "mặl trời m oc không tì vết bởi đức vua Vikrantavarman", năm 867 (bia Mĩ Son IV) Có tác gia iưửng nhầm có 2 ông Vikranlavarman và kéo dài nicn dại của ông này ra để lấp chỏ trống Thực sự từ khoảng 650 đèn 687 gán 40 nãm chỉ có 1 ông này, lác giả của lì nhấl 7 minh văn từ Quáng Nam lới Khánh Hoà (3 ở MT Sơn 3 ở Quảng Nam và 1 ở Lệ Cam - Khánh Hoà)
14
Trang 18Hoà (khổng kổ hia Vo cạnh), 1 hia ứ Hue, cỏ lới 4 bi:i ử chính mĩ Still và tạp trung ở trước cửa đền A l Một số còng Irình xây dựng (đồn Iháp) thấy
nói đến nhưng không còn Một ngôi đồn không thấy nói ở bia nào còn lại
tuy không còn đầy đủ nhưng còn một phần thân í ạ ch, và nhiíl là đài thò hằng sa thạch, đcn E1 và cà F1 kém quan Irọnii lit in cũng đã liêu hiểu cho
kiến trúc vào loại cổ nhài, đẹp và đặc sắc nhất [vở Ihành một mốc, mộl
liêu chí đổ phàn định tiến trình kiến Ink" Chĩímpa
Đài thờ E l có hình nhạc công, vũ nữ múa lụa hối sức mềm mại, có
tu sĩ ngồi tham ihiổn, điiu tóc Ihắt jalamukutii 2 vòng/lần,li phần tóc trên
đổ xoã lự nliiỏn thành một nấm trên đầu và nliấl là hình vòm cửa tháp thổ hiỌn lại Irôn đài thở là một dải bănu rất ihoánu dãriỉi, mềm mại với hai đầu dải băng cuộn lai theo hai chiều ntiirơc nhau, rất sinh đỏM.u Ph.Slern cho^ • * *— • crằng M7 Sơn E l chịu ảnh hưởng của dải hăng P rd Khmeng, kiến trúc Tiền Ăni>co, nhưng lại là liền thân Irực liếp của Prasal Damrci Krap (Phnom Kulcn, năm 802), đến nỗi có Hi; ười uọi Damrci Krap là tháp El Iron đãi Khmer Từ đó lại gợi ý tiếp cho sự hắl chước của các tháp Chăm ở miền Nam Như thế, E1 có niên đại vào khoảng nửa sau ihố kỷ VIII có lliể được xây vào thừi vua cuối của vươniĩ Iriổu này có the chính là Prakasadharma
Sự cống hiến của vương triều này với viíơnu quốc Chăm troniĩ môl tlùíi gian chừng 5 i h ố k ỷ có vẻ là khôim nhiều, nlurnii rất Ciìn hán: với sự thống nhất bước đầu, gồm miền Bác, miền Trung và mộl phiin Nam Chãm, nam đèo Cả, tức là đất Khánh Hoà, sự sáng tạo chữ Chăm cổ sự sáng tạo một kiểu kiến trúc, một nền rmliệ thuật, tiêu hiểu là nghệ thuậl
HI, còn để dấu ấn ảnh hưởng về sau đến Nam Chăm và đốn cá Chân Lạp - Campuchia Đó là sự mở đầu và sự đặt nền móniĩ cho cả Champa Vươrm Iriều này, có tác giả gọi theo tên ôntĩ vua huyền thoại, mở đầu là vua
Hầng Hà (Gangaraja), ở đây, để thống nhấl vơi các giai đoạn sau được
uọi theo tên kinh đô - giai đoạn Sinlmpura
Có lẽ kinh đỏ đã phải dược đặt cơ sở từ thời này nlurnu lên gọi thì ngư<M ta lại biết khá muộn Có lẽ lần đầu tiên được nhắc tơi là bia Mi SơnXII kí hiệu Bảo tàng là B.2-5, dựng trước đền G l Từ trước, kinh đô và đền lliừ hị phá do chiên tranh và thời iiian mấv tho kỷ đến niim 10X0 vua Havivarman ( vươnt: triều trunc mtn” -Vijava) mt'ii Siìĩ Phó vươn*:
(Yuvaraja) ra lệnh " cho clâìì rlìỉĩìiỊỊ Siiìlmpnrd ilựnụ lai ní' i cúng lỗ tu hố
đirờnti sá, tấl cií như Irưức Đồnii thời, nhấn manh lòn Ibừ thần ch ú của
cả nước, là thần Srisanabhadresvarn Đốn bia MT Still XX của vua Java
Trang 19Harivarman, niôn điểm 1157, lại nói về việc cúng thần chủ Srisanabhadresvara và hiến cho ctcn nhiều ruộng, Ironu dó có ruộng
Salamvan, từ sông Shỉhapura đến rừng Lak Bia M7 Sơn XXIV, niên điểm
1 114, lại cho biết cúng mộl số vật quý như sadmuklia, kanap ớ Sinhapura
cho Sri sana bhadresvara
Việc tìm tòi, dấu vết thành đất phế tích đền Iháp, đài ihờ ở Trà Kiệu (làng Trà Kiệu, xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, lính Quảng Nam), nằm trên bờ sông Thu Bồn (sồng Sinhapura ?) khiến nhiổu tác giả đoán định Sinhapura (thành phố Sư Tử) chính là Trà Kiệu; lại ill ấy hi ký nói đốn việc xây nhà lập đền, sửa đường Ironu khi vua van ở Vijaya (gần Quy Nhơn) dựng bia ở Mỹ Sơn, lại đốn khi nãm 1927, Ỉ.Y.CIeays k h a iq u ụ ^ d i tích Trà Kiệu có phế lích đền Iháp, Lhìinli thì có c ăn 'đ ể till rầns kinh đô
thời sơ kỳ chính là ở Trà Kiệu hoặc vùnsi Trà Kiệu Nlur ihế cỏ ihể ở iỉiai
đoạn dầu của Ihời sơ kỳ, kinh đò có lên uọi là Sinluipura và cũng cỏ Ihc là nằm trôn địa điểm Trà Kiệu nu ày nay Nliưng điều chú ý lới (V đây không phải chủ yếu là vân đồ kinh đỏ, cũng khônti phải là vấn đề Sinhapura-Trà Kiệu Bởi vì Sinhapura bị phá 2 lần hởi các iướng Trunii Hoa là Đàn Hoà Chi (năm 446 ) và Lưu Phươnti (năm 605), lức là đã lâu và chính Sinhapura mất vai trò cũng đã lâu Trừ phế lích E1 đfi nói trC‘n, những di lích và di vật nghệ thuật rất đặc sắc gắn với địa danh Trà Kiệu lại xuấl hiện sau thời Sinhapura hơn 2 Ihế kỷ và kinh đồ đã di chuyển đi nơi khác rồi Cho nên vấn đề ở đây là vùng dân eir một vùng dàn cir phía Bắc có Irình độ kinh tế và vãn hoá phái Iriổn lừ lâu đời nên các vua Iruntỉ irơnti
của ChiUTlpa ở Vijaya cần dựng lại đổn thờ ở đấl khơi nghiệp, lức là Làm
Âp cũ, dựng tượng thừ và lập bia ở M7 s<m nơi có những đồn từ thuở han đầu, để nhấn m ạnh sự tổn sùng, đề cao ihần đưực coi là thần chú thần lối cao của quốc gia, là thần Srisanabhadresvara, có lẽ nhtim mục đính quy lụ lòng người, kêu gọi sự phụt; tùntĩ Irunii ưưng, tức là các vua ở Vijaya (mà thực chấl không hoàn toàn là trung ưưnu như sẽ nói lới đây) cần quan tâm dựng lại đền Ihờ ở đất khởi nghiệp, tức lù Lâm Âp cũ dựng iưựng thừ ớ bia M ĩ Sơn, nơi có những đền lừ ihuơ han dấu đổ nhấn mạnh sự lỏn sùng, lie cao thẩn được coi là Ihẩn chủ, thần lối cao của quốc gia là I lì rin Srisanabhadresvara, cỏ lẽ nhàm mục đích quy lụ lòng người, kêu gọi SƯ phục tùng trung ương, lức là vua (V Vijava
Thần chủ Srisanabhadresvara thực ra cũníi phái điều iiì la lẫm Thực
tế vẫn kì thànSiva, đã có tiền cté hav liền thân tên tioi lừ thuớ han dấu Từ thế kỷ ĨV (M ĩ Sơn 1) vua Bhadravnrman đã lôn thờ Siva dưứi lỏn thờ đồng nhất vua Bhiuỉravaman + Siva = Rhat!rcsỊvĩụ^Ẹ đ,cụllyệ’;Jý\v:ỵỊIỊ_ị<-1n.,t-rớ ;
Ị TRƯNG ĨÃ ív' TMQr\'G tin thư VIẼi'j ị
O ĩ / 3 0 3
Trang 20Srisana, Isanatha, Srisancsvaranalha Đến đây, sự nhấn mạnh ià muốn
nhấn lôn 3 lẩn Siva: Sri (thiống liêng) +Isana Chình iláng Mại Trời CIIÍI
Siva) + Bhava (Hình dáng Nước cua Siva cũníi là môt phần của Bhíidra)
+ĩsvara (Siva), nói cách khác, chính là Siva-nhicu Irìn Siva.
Tuy nhiôn "chính sách đoàn kết tôn giáo- thống nhất lòn aiáo " này vãn chỉ có hiệu quả, khổniĩ hoàn loàn
Vương triều Đ ồng Dương-Indrapura sau Sinhapuni trước Vijava lliì cũng với tinh Ihcìn "xin quy tliUỊin Lokusa, lức đấnịị Lokcsvara tối Ihượng lại có đức tính của Isvara", lại nhấn mạnh theo cách riêng đôn Sambhubhsdresvara, lức là đồnc nhàt các vua khởi nghiêp với Siva hoặc
ỉà theo tinh thần loàn cục mà vươnu triều này muốn theo đuổi llụrc lố, đổ lỏn thờ Campapuraparamesvara- Si va cùa toàn Champa Những nơi khác như bia Bàn Lanh (xã Đa Hoa, huyện Duy Xuyên), râì uíìn Trà Kiệu, lại tôn thnf Sivalingesvara còn Po Namir thì cíínu thần Jaya Harilintiesvara Tấl cả vẫn đều là Siva, nhưng vni nliữnu hình ihưc lên gọi khúc nhau,
là mảnh gốm có văn in ca rô của vfm hoá Hán có niên đại cuối thê kv Ị giữa thố kỷ II đầu Công nguyên Có môt khoảng đứt đoạn, hoặc mội khoảníĩ cách, nên khôn Lĩ thổ măc nhiên nói có sự phát Iriổn licp nối lièn tục từ Sa Huỳnh đốn Champa, vì lliê mà "lliích gọi là Liìm Ap " lum là Champa (!) nói môl cách khác, các nhà kháo cổ học vẫn lo ra Ihận Irọng khi chưa thấy trong cùng một tầm: vãn hoá dâu vô! cua sư kèi llìiìc Sa Huvnh và của sự hắt đầu của văn hná Chanipa Từ nám 2000 (tên 2002
N ,Tuyễn M ạnh Gft'tntz và cộng sự rồi (lốn Rìii Viln Liêm v;'i cô ne sư đào khản cổ ííoìi Diêm ( Khiính Hoi'0 Siiu CIIÔC khai cỊiiât Xóm Cun cùa Vũ
Trang 21Quốc Hiổn; các nhà khảo cổ học cho rầng Ihậm chí lìm Iháy hằnii chứiiii của m ột sự phái tridn liôn tục lừ viín hoá Sa Huỳnh đốn Cluimpa Soils’ lại
có những lác giả hoài nghi sự đánh giá đặc điểm v;vi lính chài của c;íc ilíìu lích văn hoá (tó Cling có ý kiến cho rằnu di cliỉ nni Chợ ó' DỒI1U Dưóuu
mà nhóm Trịnh Cao Tưởng khai qiiiìi có sự Iham uia của Sciclỉi Kikuchi thuộc Đại học Sô Oa, Hồ Xuíìn lịnh VÌ1 cìiim làm việc còn có Lươim Ninh,
có thổ coi nơi đây có sự phái Iriển liòti lục cúa các lớp vãn hoá lừ Sa Huỳnh sớm đốn muộn, qua các di vại unm và ớ l('vp trcn In uòm Chăm và
CM gốm nước nuoài, Trung Quốc, lừ Ihê' kỷ II đến lliè ký VII Tiêc num địa hàn hẹp, diôn tích đào thăm dò còn họp chỉ khoản tỉ 2()m:
Tuy nhiên, hầu nlnrtấl cả các nhà nuhicii cứu đồII lin laim khòiiìi có
COI1 đ ư ờ r m n à o k h á c n ạ o à i đ ư ừ n i i c h u y ế n l ừ v ã n h o á S a H u v n l l i đ ố n L ã m
Ap rồi Champa Một sô lác giá chưa li 11 vì chưa lliấy hang cứ li ực liếp cùa khái) cổ học cúíi sự diễn liến lừ Sa Huvnh từ sớm đốn muôn chưa lliiíy sự nối liền của Châm - Champa Từ itó mộl vấn dề đặl ra là yen lù văn luuí Chìim, Champa sớm là gì 7 Nêu là đòi phải có một móng uạch cùa kiên Irúe, mộl iTiíinh pliù d ie II đá là một điều khòm: iưỡtm Dtrònu như uỏm Chăm iúc đầu và cả gốm Cao nguyên hiện nay vím lĩươc cho 1;>C banu lav (không đùnìí hàn xoay) đô môc (khôrm có áo iỉốm men) Irony mòi lliùi gian dài trôníĩ khá thô và khó phân hiệt Môl yếu lố vãn lioá nào đó Irước Hán hoặc rất Íí anh hưửnìi văn hoá Hán trong vài thế kỷ đầu Công nguyên
cũnti khổ lìm khôniĩ kém iiì Tuv vẫn có thể hỏi lliê lliì nluìng cư dàn dã
nặn iỊốm Sa Huỳnh đep đên như Ihê chay đi đâu mà không lìun tièp hay
có những cư dân khác đôn Ihố chỏ ? đây I;'| một vấn đề khá pliức lạp
Từ Khu Liên khưi ntihĩa Ihímh còn ù lập Lâm Ấp trài qua các dời
vua Phạm Hùnsỉ Phạm DẠI Phạm Cliuỳ Phạm Phậl Phạm I ỉổ Đạl (Tán
ỈÌIIÍ q /)7 Líim Âp), Irong đi> có lliô biêl khá LÌKlc, nhu n:im i4S, \ ;m dáiih
Cửu Chân, sau đỏ chinh lây đốc hộ Điing Tuấn lấn còng Viln nhirny hi thua: khoảng san năm này Vãn cliôl, con là Phậl nói Iigni riSi klioáng nam
373 405, Phâl iại sai sứ sane "cống", nên một số nhà sir hoc lấy thời gian Uíơnu đương, coi Phạm Phậl chính I;'| Blìiidmvarman trong hi ký có tới 3 minh văn nói lới ten ôn ụ có niôn ilíii ihè kv IV Tuv nhiL'11 đay Cling v;ìn lit suv đoán Sau nhfrni* nãm này chắc Lâm Âp hưng khới manh Trưng Ọuốc nhiều lần sai quàn tướng sang đánh
N;ìm 420 nhà Tấn sai n ỗ Tuệ FVi (tem qnãn ihính "phá đirơunước"
1«)
Trang 22Năm 446, nhà liền Tống sai Đàn Hoà Chi dem lịuàn đánh "đánh được”.
Năm 605 là IrẠn lỉín công của l.iru Phươnii nhìi Tnỳ Trước itiiy F);'ui Hoa Chi clii hạ thành Khu Túc (hav Khu Lội), mi (tiínli vào Tưưnu Phò
Chữ Lạt (quả lạo và chữ Túc (hạt lúa) viết rất lĩiốnu nhau Theo Tuỳ thu
Lưu Phương kổ, Khu Túc li'i "tiền dồn", lập hĩHiíĩ ràn luỹ í:ọi ]à lliìinh nhưng không phái là đắp điít cao ImV xiìv Tnrớc ttỉìv (lira Vi'io sư mô t;i vi
Irí theo 77///V kiìilì chú, Tấn ihư Tnỳ thu', hoc ui;i Đào Duy Anh cho rang
thành này ở Vein ihương nuuồn sônii Oianh hắc Qiiíiim Bình Tòi đã Liitvi IhiỌu ý kiến này và bítn lại cùng dưa vào các mô lá cúa các illư lịch Truim Hoa và tính thêm độ dài của hóim nhộl quỹ đoán là IU ì pluii (V vìinu iiiữa Ọuảng Trị (Lương Ninh 1980) Từ đàv đi vào quốc đô Làm Ấp Tượng
L â m T ư ợ n g P h ố đ ư ờ n g d à i k h o i i i m 3 (>0 k m h ì i nli LỊiiân 1 TKÌI X Iiii.'iv L ư u
Plurơim phá rào luỹ Klui Túc, tiến đốn quốc đô vua Phnin Plum Chí bỏ chạy, tìr trước cũng đã thườnÍI "dưa vào rừnu núi hiểm Ir<V’ rái khó đánh, không hổ thây nói "phá Ihcinh, hạ Ihi'inh" mà chí nói "pliií CUI1U tliiìi" chắc lìi bằng Irc, lá như mỏ lả Iliu lirưnu VÌII1U nặng hà nu vụn càn chắc là cư(íng điệu chiến lợi phẩm "cho oai"
Sách cũ chép hình dung khá rõ vổ Lâm Ấp:
Người Lâm Ấp có tài đi núi quen ờ nước, không quen đất harm
(hiếu là di llniyền trC‘ 11 sỏnii hièn làm nhà sàn đố chính Vãn irước khi làm Vua, ihườim chăn Irâu trên khe núi: họ "cậy no'i hiếm trớ kliònti chiu thần phục"; có giết được (nuười cầm đầu) rồi lợi dụníi núi sâu han” vắnii
VII dirừiii! như chưa có kiên trúc eạcli đắp luỹ xíìy t h n n h C á c d r ill lích
t h à n h , đ ồ n m i ê u , pliìi đic*u n i ỉ h ọ lluiụl m à J \ C l a c y s pliiít h i ê n IỈCII c u
nitMi đại muôn Ihố kỷ X kế cá tiền dồn thành Kim Túc c fill ị: chí IÌI rào
luỹ.
Nlnm<’ lliố Ihì kinh (ĩô là ỡitàti I nrn Áp là ừ it;'ui 7 Tư<íuu Plió là <’v
dâu '! Nơi ilỉìII là ngirừi dãn có lài di núi IMĨ dâu hiểm Irờ mìi sãu hanụ
''t \
Trang 23vãng, đường khó Ihồng ? Kinh đô là nơi vua ờ cu nu tliàì là nhà iiỗ có sàn
gác, 'dựng gỗ rào làm thành", một vài nuôi đền miếu, chắc cíỉim ha nu iiỗ
có thờ thẩn chủ hằng vàng ? Nơi di)II hr> lạc iiỏc sònu tịiiàv quần khi kliới nghĩa vừa mới thành con ị! CỊIIỈI nhiều l;ìn hị đfin úp lùi đoán lúc drill chắc khong phíỉi I*1 ơ Trà KiC’11 ha lưu sòng lim IVm, mà sòiiii Mỉiíiv Iriniu ihung lũng MT Scta N(ti đây điều kiện mòi sinh khá khó khăn, mùa mưa thì lũ cuốn, nước ngẠp, mùa khô thì cạn nónti nhưniĩ khoảntỉ 500 - 1000 díỉn với vua sống trong giai đoạn đầu là thích hợp lại kín đáo và hiếm Irớ
Tuy nhiên số dí\n chúng làm ruộng, đánh cá ở vcn sóim Thu Bồn ờ nỵay
trẽn đâì Trà Kiệu ngày nay và đã lập nên Tượnii Phố uiậc đèn thì hò diiiv Chính những c ư dân này m ớ i l ạ o n ô n nổn ú n g k i n h lò' xã h ộ i hail drill c ù a
Líìm Ap
Họ cĩã tiếp nhận quan Ỉ1Ộ vứi Iiiiirời An Đò và víin hná Ân Độ đỏ đèn Ihế kỷ IV độl n íộ l xuấl hiện 2 minh Viìn chữ Phạn cố là chữ Hòn Cụi (Quảng Nam) và minli vãn MT Sơn ! Kliònu chắc Iicíi dây hay VÌI11!: ctũi phía Nam, Phú Yên và Khánh Hoà niíi nTu> có trước Ii(fi kia lâp I|ii;m lie vói Ân Độ, mà cĩíng có thổ đồng thívi Inr<v sau khônu hao nliiôu CO Ilia Chợ Dinh (Phú Yên) và có lừ cuối thố kỷ III ĩà hia Võ Cạnh (Khánh I lon) Nhưng (V Ọuảng Nam cũng tmnsi 1 hè kỷ IV, liii có minh vãn chữ Ciifun cố thê' kỷ IV, thì quá Irình uiao lưu văn hiúí và sáim lỊH> văn hoá lại còn phái diễn ra sớm hơn Trước đó lừ thố kv II khòng phâi chỉ có sự đô Ỉ1Ô của nhà Hán lại có cả văn hoá Hán, miốnụ 'phonti nô", "nắn xi" hằnu đàì SÓI Nuoài ra không còn cỏ gì khác, hoàn loàn lĩnh lặnu tmnu litín 2 iliố kỷ đầu liên Nhưng đây là Ihời UI an dầy biến độniỊ, CŨIII! là thòi uian phát triển han đầu, vừa muôn cố dựa vào thế hiôm trớ đổ lự vệ vừa muốn mơ mnsĩ đia bàn cư trú làm ăn sinh sốnu và ụiao lưu tron li dicu kiên mới lực? ■ *“ *- *-
do Sự xáo trộn và thay đổi địa bàn cư trú, lìm đến nơi dal múi LÌÒ sinh sống đã diễn ra Việc phíU hiện sự xáo Irộn đứl cìoạn Irong tầng viin lu lá khảo cổ, hắn là điều dỗ hiếu Đày hoàn loàn không phái là sự đoán mò mà
là sự phỏng đoán có căn cứ Cũtm 11011 lính (-tôn llụrc lê là việc chon c;ìl
nu ười chối của các bộ lạc Sa Huỳnh í mộ chum vò) với dãn Chăm Lâm Ap chịu ảnh iiưởnti Ân Độ và cả Mán chắc có the khác nhau, nhu can sứ dụng (tồ "ốm cũng khác nhau Hơn nữa mong muốn lìm Iliâv những thành In Vtinu chắc, nliữnu đồn ihấp cutm diêu \;tv 1111 Cling CHII là lioi Mím Inin lại, có thể im h ĩrằn u cuim vua và Jen \ã v dựng Viing v;ìl liệu nhẹ <f Mi Sim
ùr lliê kỷ 11 đốn IV Inmii khi đó dân cỊiiần phô lẠp tụ dòng till <í vùng Trà Kiệu ‘Tần cửa sônii Thư Bồn T h c k v VIII xâv Jen iiạclì (V Mĩ Sơn llìô ký
1X - X nV<i c ó d ề n l h : í p ớ T r à K i ệ u , mó' i c n l ò n iini S inhí ipmVI l u v l ú c n à v
Trang 24kinh đò đã chuyển vào Nam Virapura; Trà Kiệu - Sinhapura chi là vùiiỉi quđn cư cổ, !à cố đô.
Sau cuộc tấn eôrm cúíi Lưu Phiftfnu năm 605 nhà Tuy suy von", nhà Đirttnịi ihay liìp An Nam đò Ỉ1Ộ phủ, nlmnu cfinu kliônu thế có iluim vọng vượt quá phú đô hộ này, nên liirímg như nhận thức iTiftfc lĩicu đó Lam Âp yên tâm phát iriổn, mở rộnu quan hệ Iroim pliần còn lại cùa tho'
kỷ VII Chắc đã có lỊiian hệ với nước Bluivitpma (Chùn L;ip) mói lạp qua
đường hộ ngang C a o n g u y ê n , đến S am b o r n ằm (ròn vùnu Iruni! !iru SÔI1U
mê Kông, nền một ông hoàng Chfim mới sansi làm phò mã của nước Bhavapura Khỏng phải chỉ có C |u a n hộ hòn nhàn, có khi chỉ là lình cờ mà qua đó, còn có quan hệ vãn hoá Bới the sau thời gian niìv riLiười Cliãm xíly dựntĩ đền MT Sơn E l mà cái vòm cửa chịu iính hirn'nu khá lõ của Prci Khmeng (khoảniỉ giữa lliố kỷ VIII) cúii Chân Lap MT Son GI có niôii đại khoảnu san năin 750 là mộl tmnu sỏ vài kiến trúc iitich đầu lic-n cúa nuuoi Chìím, nhưng như thố cìinu đủ đè’ họ đúc kC’ì kinh nehiệm li'im ỉỉựch x;ìy gạch, đom pliổ hiên lại cho nu ười Klimer và còn uiiìp n^ười Klimcr \iìv dựng tháp Prasat Damrei Krap năm Xí'2 Cũng chưa liieu tại sao sau Mì Sơn E L sau năm 750, nmrừi Chăm chuyên kinh (lô vào mien Nam v;'io
Rajapura lức Virapura ở phía Nam Đèn Ca mà klìônii lliấy do Iranh chấp,
xung dột nào Hay là họ vẫn lo sợ, lie pliùnu nhà Đưòng mới lập 7 Mien Bắc Tưựng Phố ngày nào, có 7 - X thê kỷ yôn ổn plìál Iricn dườim như được độc quyền quan hộ với nước ntioài trờ ill à nil vùng quần cư đỏnti đúc
và phong túc, mới trở thành Sinhapura đúntivới danh của nó trớ thành Trà Kiệu với kiến Iríic đồn iháp và nhữim phù đicti đií vào him ti dẹp nhài của người Châm, khi nó không còn là kinh dò nữa, Tượng Phố Làm Apvà sau
đó trong khoảng từ năm 190 - 750 AD vai trò "Irunìỉ Uìm" cùa nó xcm ra
khá m ờ nhại Tuy niên 3 minh văn tronii đó có minh văn chữ Châm Đtuiii
Yên Châu và kiến trúc đền M7 Sơn E1 eíine đem lại cho 111) giá Irị cua
b i l ứ c đi drill l i ê n , s ự c h u ẩ n bị c h o tàì c á n h ữ n g g i a i đ o ạ n s au và d o IÌI
những vấn đồ khúc m ắc của giai đoạn Sinhnpura vừa khó liiếu, vừa lý
111II-2- Giai đoạn V ỉrapura - khoảng 750 - 850
Trước đây mộl sò nhà riìihièn cứu chưa hiếu lên iỊọi Hoàn Vương
mà Tân fìỉ{'ởni> ílỉỉíTvuũii Quốc chỉ định iỉiai ct(vạn nìiv (JÓ ỷ ntiliíii gi chưn
hiếu Virapura = Rajapiim mà hi kí «14li umnụ ứng vứi thực lê 11.1 0 có
n»’ h ĩa là Ìiì nên vẫn đ in h n in h là có m ột tic’ll q n ô c p ;m ilu i;m u ;i n;\m IroiiLi
vươn<’ quốc Champa, mà Po Naỵar (chi mộl cụm kiên inìc xiìy ilựnt! [lên
Trang 25đính mộl quá núi nhỏ Irèn cửa sòn" Cái - sònu Lau uẩn hÌL*n) IÌI ihíi pluì hoặc là môl "thánh địa" của Pandur.in.ija.
Panduranga là cách chuvếiì ;ìm Sanskrit của lừCIiăm Piinnm 11'Hiồn
tiốc ctìa lòn uọi Phan R aim nuàv ĩiiiy nlurnu nó kliô n j: lie Iliiìn IÓIT1 Pn
Nauar, cũnu nlur loàn bù Nam Châm, loan hô đất miền Níim Tnmii Bò
Po Nagar theo hi ký tên íiọi đồn thừ Quốc chú là cách i:ọi tắl cúa Yang Pu/Po = (Vua) Nasxar lắt của Natiiir (Nước/ Quốc gia): 111 ực lố là thờ thiln Si va mà vua đã tự đồn” nhất với Ihiìn đổ uọi, như Yan Po Kli Sri (Đức vua) Harivarmadevii tức Harivarman cú nu thần Harilinuesviini (Po Na<’ar
I, niên điểm 1 145) Thần là đàn ôn SI vua cũ nu là đàn ôim (hờ ngẫu tirợnu
Ịinga Tuy nhiên, ở Po Naear tục lliừ cún*: còn Ịzắn với chuyện ilfm uian
về cô còng chúa Chrim chc*t theo cliốnu do hi đắm thuyền ở LI rì n biển, tliìn lliíí pliụniĩ nữ tliíìn thần me llico Iniyền thốn” milu họ vì\ ỵoi chệch lên đồn mộl cách cố ý là p<> Incu Gai\ có ỷ ill'llm nhài với Unia vợ Siva, lliừ
Quốc mẫu, cũ nu lức là Quốc chủ theo dân gian, cùn hàm V mẹ của cò iiái hán trầm, Iríy lioàniỊ tử nước nuoài bị chối đuôi ớ chính niíi (t;ìv Thực 10
phần lứn hi ký quan Irọnu ờ Po Naỵíir lại !<ì bia á m nhà vư;i Imim irtinu: (V
Vijavih như bia Po Natiar I noi trên, cũim như Po N;m;w 2 niC'n diem
1170 cúa cùnỉi ông vua Làm như lliố như kicu "Vĩin pliòne liại diện", tie khárm định quyền lỏn chủ của vua ở cá micn Nam, cà virơnu quốc Điều này Ihc hiên tiêu hiểu nhất như Ironu hi;\ MT Sơn XXV: "Vua Sri Java Paramesvanivarmacleva trị vì vứi ehièc lọnu ill IV nliấi tronu xứ sớ
Campa đã khỏi phục toàn bộ linua ứ miền Nam như ờ Yan Pn NíiiỊíira
và các linụa (1 miền Rắc như ơ Siisnnabhađrcsvani "
Mặl khác, gọi là Po Nnuar cũ nu khônu phai chí có ờ Tháp Bà trên
núi gần ihànli phô Nlia Trunu mà còn có Po N;»u;ir Mònu Đức (lên làng,
xã Hữu Đức huvện All Phước Iiav là Ninh PhưtVc lính K h;ínil ỉỉoà), kí hiệu C l4 , nói về viộe cò nu cluía Survalaksmi dựni: lượm: lh('t Ihrin Rluimivijaya dưới th('íi IndravaiTníin Po Natiíir không pliai là iliánli địa I.I lliíi pliỉi Nam Chăm thì cũnii khônu chắc nì là thủ phú cúa xứ Kuulluira (có nghĩa là lưỡi hái) Chỉ có l minh vãn của I ỉarịívaiTnan I (kiiPiinu H00- XI7) cho hiốl nhà vua lập đồn thừ llifm M;tl;uì;i Kulhani Pliony đoán là vị thần của xứ Kaulhara ớ đâu đày "ngài dưng lifting Mukhalingíi hèn cạnh
nữ tliần Hạnh vụn Bhauavati nữ IỈIHI1 của Kanlliai a ” Đoán la lĩiìl Nha Tran*’ và Po Nagar nhưnu là suy iWm h;’in thân Kanlhaia cũ nu kliõnu phải là mòi vùng lãnh llin có irim trong yì lìãc Hicl dối V('<i lịch sứ
Trang 26Champa, ngoại trừ là vùng ctííl có Pn Naiiar, dúng hơn là mội vùnu Ji'uj cư
sứm liếp xúc với người An Độ hoc hói đổ có nền vãn hoá của mình, bill
điìu từ hiii Vo Cạnh, khoang thô kv IV, đèn 2 CỘI đồn (V Phan Ranẹ 2 mạt
khác 42 dòng chữ Cluìm cổ, niên dicin 1227
Trôn điit Phan Rang có khoảnti 10 minh văn, Irotiii đó mòi phiỉn là các minh văn muộn, của các vua trung tritnu cố ý đặt ở mien Nam:
- Trụ của đền Lom No lìm ill ày ứ phía Tây làniỉ Chưttiiii Mỹ Irưóc đây, bị uọi nhầm là Yaniĩ Kill*, niên dại 1227;
- Cộl đền (Pilicr) ớ Phan R;uiiĩ (ký hiệu B.2.15 và B.2.16) 2 CỘI đều của vua Jay a Paramesvaravnrman II, dint* thrill Svayiimutparma nicn đại
1223, 1227;
- Đà ngang (linttíiiux) 2 cái kí hiệu B.2.17, và B.2.18: Vua Jaya ỉnclravarman VI cũng cú nu vị lluìn Svayamulpaima Iiiôn dại 1244 và 1254;
- Minh vãn BalíUi Tahhili sjian còn mũ là Đa Né) niêu dại
1160.
Ngoài ra ở Phan Rang còn một số minh vãn khác, có ý niihTa quan
t r ọ n ti đ ạ c b i ệ l đ ố i vclfi I ị c h s ử v à v ã n hníí N ; i m C’h r un (V o ị a i đ o ạ n n n y :
1- Giai Lamau (Rừnii Câv) ờ Phan ranii niên điểm 801 tìm thấy ờ
làng Vĩnh Thuận, xã Hữu Đức, huyện An Phước, nay là luiyện Ninh Phước, rất gần Po Nauar Mòng Đức đã biết Bia nìiy kổ vua Indravarman [ (khoảng 787-801) lập đổn thờ Indraparamcsvara liên nền hoììng cunụ cũ của vua Salvavaiman và cú ne (dựng lượrm?) IỈ1Ừ Siinkani-Naniva (mòi hình thức kèì hợp của Siva -Visnu ?)
2- Yang Tikuli (Chuột thiôim) dân gian còn gọi là Đá Trắng, ke vua Harivarman I (khoảntỉ 801-817) xíìv đen lli('í ihrìn Sri Bhatliadhipai Isvara
"ở phía Tíìy" Minh văn này rai qiiíin Imng; nó nin lứi lòn thần được gọi môi cách tra nu trọn tỉ khác llurờnii đirợc nlicp mn'i hni kliác iliinmiỊ và (ỉ
phía Tây", nôn phai ohánu đâv chính lii cụm di tích Po Dam !
3- Còn một bia khác ờ Nha Tran.ii cũng u<'i 1-1 p<> Nauar ờ Nha
Tran*' (kí hiệu R.2.10) là một hiíi cao (>.X()Sm J-Ộnỵ (I.5í)m Bia này ciinỊi dặc sắc khônu kém tin (lược cluiycn VC í tru lại Biio tàiìii Mil Mòi iL Finoi
Trang 27cũ), n ăm 1910 Bia có 4 mặt: A,B,C,D, cùng với 4 phán chân, tạm đánh số
là C2 dưới B, D2 dưới c và E dưới D, khá phức tạp vì độ dài nìĩắn khác nhau và niên đại cũng rất khác nhau Măt A, 1 8 dònii cho biốt 6atyavarman đựng m ội linga, năm 781: mặt B ,c và một phần D kể về
Vikrântavarman, cháu họ của Satyavarman cúng Ihần trước năm 854; đốn C2, D2 dưới B và c , có 2 dòng Sanskrit cho biốl vua Indravarman (II) của Iriều đại Đ ồng Dương sau này eúntĩ một lượng vàng ihần năm 918 Sẽ phải trở lại sự kiện này dưới đủy khi đổ cập đốn várơnu triổu nàv ử Đổnii Dương đã thấy sự cíìu kỳ của ông vua này, khi cho người lận lọi lùinu tríira
ki lô mét, tìm đến Po Nagar để khắc vào chân bia của triều vua trước đã
có từ trước 2 thê kỷ đc khoe công đức của mình Rồi cũng hia nàv, Iron một phần chân, đ ược gọi là E, có 13 dòng Sanskrit, khấc chữ rấl nhỏ chỉ cao hơn Icm, ke liêp việc pho iưựnu vàng Blia^avati đã được dựnii lừ trước năm 918 nói trên đã bị quân Cam hot cướp vào khoang năm 945, nav được vua Jaya Indravarman dựng lại iượníỊ Bhagavati bằng đá, nãm 887 saka = năm 965
Mặt D2 và E liên quan tới 2 ông vua cuối của triều Đồng Dươntĩ sau này, sẽ phải trở lại dưới đay
Một điều lạ là trừ Po Nagar và Po Klong Garai, cỏ cá iháy 5 minh văn muộn của các vua Trung ươntĩ, thì ử các kiến Irúc miền Nam đểu không thấy có bi kí
T h ế kỷ XI và XIII, miền Nam Champa cỏ động loạn, có sự chia rẽ dẫn tới những cuộc chiến tranh ly khai, những cuộc tấn công chinh phục, nhờ đó mà người ta mới biết tên gọi cùa kinh đô và của xứ sờ miền Nam, trong khi chính bi ký miền Nam lại Không cho biết gì
Chẳng han như minh vãn Paneluranga 6 (nãm 1050), những người con của xứ sở Panran này còn Panduranga 12 thì kể: Hoàng tliủn
A bhim abyudeva đến nhân chức tư lệnh Panran
Đ ăc bièt bia M ĩ Sơn 21 nói VC cuôc chiên Iranh ơ ia m p a - Cambói
đã kể quân hai hèn đánh nhau ử cánh đổng Rajapura lạt phái một đạo
Virapura "còn m ình thì lên ngôi vua ơ Rajapufil ơ Panrnn Những đoạn này, khiến người ta hiểu rằng: Raịapura (Thành phố Đức Vua hay
hTĩĩinẽ'thành cỊniĩ tức là Virapiirư (Thành p h ố ĩ n h i Ị ỉ s ĩ hay người trai irè)
T i c V Châm Pô Tàm ('Người Pháp phiòn âm là Po Dam) cùn người Châm
Trang 28xưa tự dịch sang Phạn ngữ là Virapura và đều ờ Phan Rang Đó là lý do
các học giả Pháp gọi cụm di tích này ở phía TAy Phan Rang là Po Dam, có
lẻ vốn là do được xây dựng bửi hoặc tòn Ihờ vị vua trẻ có chiến eônu mà bia Yang Tikuh còn gọi là Virapura (=Po Dam) là "Kinh thành cùa lluỉn
thánh', có thể là vua Harivarman I cm rể của [ndravaiTTum (ỉ) (SOI - S I 7
có lôn hiệu là Virajava Sri Harivarmdeva lên ngôi còn khá trỏ) Sau 2 cuộc tấn cong cướp phá của người Java, năm 774 và 778 cũng là giai đoạn
mà thư lịch Irung Hoa đổi tên gọi nước Lâm Âp tà Hoàn Vương (dịch nghĩa của Rajapura) Tuy nhiên Hoàng cung không phải ở Iron địa điểm Virapura - Po Dam, vì nơi đâv là đỉnh núi và eliíìn núi, đấl hẹp và ft nguồn nước, mà cổ lẽ được dựng bằng nỗ Iheo thói quen, Irên cánh đồniỉ bầnii phang, ử phía Đông Po Dam và iiần biển hơn rnri mà sau này nhiều Ihuyền buôn nước ngoài đã đến đây, kể lại
Po Nagar thực sự không phải được sử dụng nhiều, đưực xây dựiiíi nhiều, đã cỏ m ột số đền miếu được xây dựng, rồi bị phú hoại hay hị hư hại qua thời gian, lại được trùng tu mà đốn nay râì khó biết chác chắn dấu vèl của những sự thay đổi đó; đã có mộl ngôi đền, trong đó vua Sutayvannan đựng một lượng thần năm 781 là một linga, nhưng lại là lòn chú cùa nữ thần" (devisanalinga) (?) nhưng đã bị bọn cướp hiển lấy đi rrùíl, sau khi
đốl phá "nơi ở của thần" Vua Vikantavarman II đã đuổi đánh ra lận biổn
sonii đầu urựnií đã bị chìm mất rồi- Đó cũng là lòn chủ của nữ thán, lỏn chủ của chủ Hạnh vận Bhagavati (Bhauavatfsvara) nữ ihíin của Kauthara Devi) Po Nagar còn có bia 4 mặt đã nói trên, cho hioì 2 niên dại 7X1 -
784, ngồi đền tây bắc có mấy dòng chữ trên tường gạch, có ghi niên đại, đoán là năm 813, nhưníĩ các nhà minh vãn học, từ A Bergaigne đều cho rằng việc đọc niên đại hoàn toàn không chắc chắn Ironiĩ khi phần neoài
và mái tiiấp đã được tu sửa ở thời sau, muộn hưn Po Nagar bị cướp, đối phá 2 lần vào nãm 774 và 787 Cũng khoảng Ihời gian này, những hoạt động khác lại không diễn ra ử Po Nagar mà ử Phan Rang, bia Giai Lamau năm 810 kể việc vua Satyavarman xây dựng lại ngôi đền bị phá huỷ trên nền cũ của ngồi đền do ông vua truyền thuyết ]à Vichilrasagara đã xây dựn^ Bia Ycing Tikuh nảm 799 kể việc vua Indravarman III xàv dung lại rW)i đền thờ "ở phía tây" đã bị phá năm 787 Đây cũng chính là ihùi gian các ônơ vua đã chuẩn bị cho xây 3 cụm tháp cổ ở miền Nam Sau thời
1’ian này ở Po N aỵar khòne có minh vãn xây dim II hay lu hố của vươn í:
triều miền Nam m à cả Po Niiuar và Punran dồu l;'i ncti láp đền dựng bia
của các vương triều sau nhằm khắnii định và cúng cn vương quyền tối cao
và ihốnư nhất ở lãnh thổ miền Nam Po Nagar không còn ihấy nói l('ri
Trang 29Bhagavati, mà chỉ nói tới Yang Pu Nagara Đền miếu được xây dựni:
muộn, th ế kỷ XII; riêng pho tượng nữ thần ngổi hai lay đặt trên đẩu gối thì theo J Boisselier vật cầm tav khônsĩ tiêu hiểu, quần áo không rò rà nu,
th ă n g co đồ nữ trang nào, Irông tám ihưìínti, ngosii Irír bỏ tóc đổ xoã trôn vai, giống tượng Phú Ninh (Quảng Nam), được đoán định niên đại khoiìrm cuối thế kỷ VIII, nửa đầu thế kỷ IX (?), tuy thực ra theo niên điểm văn biii thì phải m uộn hơn, thế kỷ X Mien Nam Champa mở đìiu bằng bia Võ Cạnh mà từ cuối thế kỷ XIX, neười ta đã đoán định khônn chính xác niên
đại là thế kỷ II - IĨI từ đó iưửns nhầm dò nu vua Sli Mara là Sư Man, nên
cho đây là đất của Phù Nam và theo Phật giáo Thực ra theo Filliozal là Iruyền thống Nam An Sri Mara có niên dại của văn hoá An Độ đòn vùnii dân cư đồng bằng Khánh Hoà Bia Võ Cạnh li ước đày được thông báo là thuộc làng Võ Cạnh, ngoại Ihành Nha Trang, nay Bảo limy Khánh Hoà đã chỉ dãn lới tân nơi, cho biết địa điểm Um thấy bia lìi mội phố lích gạch, giữa mấy thửa ruộnt>, nay khôntí; còn (?) lliuôc làng Võ Cạnh, cách Nha Trang 6km về phía Nam
Tiếp theo là chữ Chợ Dinh ở dưới vách đá chân mộl quả đồi ử phía bắc mũi Ba (Varela), tự dạng thố kỷ IV, cùng lên nmrừi và niOn dại vói chữ Hòn Cụt và M ĩ S(tn Iĩĩ đã kể, thời Sinhapura (Xcm phụ lục)
Năm 781 được biết qua bia 4 mật ở Po Nauar, mặt A kô’ vua
Satyavarman dựng lại linga ở Kauthara mà ông vua huyổn thoại Vichitrasagara đã dựng từ trước, nhtrniĩ lại bị "những kẻ trông rấi đcn và Ưầy gò đi thuyền từ nơi khác đốn cướp mấl năm 774: vua Satyavarman đã đuổi đánh thắng ra đến tận bỉcn nhưng "đầu lượng đã bị chìm mấl"
Nám 779 bia Yang Tikuh đă kê’ Irên cho biết vua Indravarman dựn^ lại đền ở Virapura trên nền cũ của cung điện SalyavaiTĩian
Năm 803 Senapati Par đại tưứnu của Harivarman đánh Campuchia (vua Jayavarm an II)
Nãm 813 vua Harivarman xây ngòi đồn nhỏ lây biic (phía sau đồn chính khắc trên gạch mấy dòng chữ rãì khó đọc, chỉ đoán dược như sau:
"năm 735 saka (tức năm 813), dưới thời vua Vi ra Java Sri H an v am m ìcv a chiến thắm1 tràn đai iướnii Pare ớ Manis í lúc) ử Panran : lai cúng tlvìn " Niên đại được coi là đọc không chắc chán Ngni đồn đã được lu
hổ ở thời m uôn hơn rất nhiều, nhat là hộ mái
Trang 30Năm 817 Senapati Par lại cúnu ờ Po Na»ar
Năm 854, bia Po Nagar ử Mỏng Đức, nói về vua Vikrantiivarman
II.
Đây là niên đại cuói cùng có <í vương triều miền Nam Virapura
Cho đôn đây, số lượng minh văn ơ p<> Natĩar và ớ Phan Rang có hầntT nhau và có tầm quan trọng như nhau Panran và Po Naear mỗi nơi có 3 minh vãn sớm.
Sau đũy ơ Po Nagar chỉ có minli vãn và di lích của các vươniĩ Iriồu
sau, và gần nhất là triều Đổng Dưưnii:
Cũng Uôn hia Pi) Nagar 4 mặt đã nói trên, ta hiếl liièm:
Năm 918; mặt E, vua ĩndravannan 3 dựnu urơrm Bhaỉĩavati bằrm vàng, đến năm 944 lại bị quân Camhốt (vua Rajcndravarman II) đánh
cướp đi mất.
Năm 965 vua Jaya Indravannan đã dựntỉ lại pho tượng này hằnu clá
là Yang Pu Nagara hay Bhagavali Kaulharesvari Đây chính là pho tưựng
nữ thẩn ngồi trên toà tháp chính hiện nay và niên đại % 5 cĩiim là niên đ;ii
củ a tượng Ớ bồn cạn h , n h ỏ hơn là pho lirựniĩ nữ thần q u v (nay được Irani:
phục hiện đại) đặt trên bàn thờ cạnh lườnti bên trái Pho lượng nàv có 6 dòng chữ khắc vòng quanh thần, nét chữ không đều: nữ ihán đaì
(Bhumisyari) Yan pan kỉi Sri Java ỉmỉrưvarman Yan pon kỉi Siva
Dharma pada Yan poll kỉt (Đức vua đức lối thượng) Sri paìa pu pon
ơ ia m p a đã khôi phục toàn hộ linsa ờ miền nam, nlur ỡ Yan Pu Nagaru và
các linga ở m iền bác như ở SrisanabHadrcsvara "
Sự sùng kính Bhagavata bắl nmiồn từ ý niệm của Upaiiishad phổ
hiến ở Nam Ấn, sùng kính cá Visnu và Si va mặc dù ớ Po Dam Irons’ I ngôi đền lứn và 6 ntỉỏi đen nhỏ đều có ở mỗi nuôi ! urợniỉ liniza lớn nhỏ tuỹ Lheo kích thước của đổn ở đây còn là sự mớ rộn li lliừi yian và khòne iiian có củ sự tham gia của cúc vua tliừi muộn h(fn ihẽ kỷ X thừi Indrapura sau này Và [ẽ nào bia hiếm đốn mức độ cà 6 ône vua cách nhau hơn thế kỷ, phcỉi chen chúc vào I chỏ hay là chỗ đó quan Irong như thố nào đố cần phải được ghi nhận ứ iló ?
Dù sao đến đâv nỵưừi la cũnìi được hiêl từ giữa thê kỷ VIII cn Mí
‘Mán đoạn rõ ràng của dònn vua miền Bắc Sinhapura rồi xiiấl hiên dònii
1 V
Trang 31vua miển Nam, được biết gián tiếp qua lời kd của các bia miền Nam, gồm
có khoảng 6 đời vua:
1- Rudravarman (II) được nói đốn vào năm 750
2- Prithivindravarman -Rudraloka được biêì qua Giai Lamau năm
756
3- Salyavarman - Isvaraloka con của chị gái vua Irên ỏ nuôi
khoảng 774 - 784, được biết qua bia 4 mặl Po Nagar ở nha Trang
4- Indravarman (I), em vua trôn, làm vua khoảng 787-801, được biết qua minh văn Giai Lamau, Yanc Tikuh
5- Harivarman (ĩ), em rổ vua trên ở ntĩỏi khoảnii 801-817
6- Vikrantavarman (II), con vua trên, ở ngòi khoảng 829-854
Xem như thế, Po Nagar khổng phải là "thánh địa" của vương quốc Champa, cũng không phải là thánh địa của miền nam Champa Nó là vùng Kauthara, có núi, có thể ỉà nơi xây một số dền sớm nhất của vương Iriều miền Nam, cùng với Panran và có vị tri' tương tự Panran Có một điều lạ ớ Bình Thuận, có kiến trúc sớm nhưng khỏniĩ íhấy có minh vãn Dường như
Panran, về sau được gọi là Panduranga, thậm chí Nagara Panran là đại
diện và là tên gọi chung cho cả miền nam, nhưng "không phải là mộl địa khu thống nhất" cả Nam Chăm
Một điều lạ là, trừ Po Nagar và Po Klong Garai có cả ihảy 5 minh văn từ sớm đến m uộn của các vua Trunn ương, thì ử các di tích kiến trúc miền Nam đều không thấy có bi ký
•$ã có thể biết khá chắc chun một số ngôi đổn Tháp Bà Po Nagar, cùng cụm kiến trúc Po Klong Garai và Po Rome có /ỉniên đại ihố kỷ x u XIII và XVII, thì ở N am Chăm có 3 cụm kiến trúc sớm, lất đẹp rấl đặc
a- P h ố H ài, xưa có đạo Phố Hài, bởi có sôniĩ Phố Hài nay dổi gọi
là Phú Hải, di tích kiến trúc toạ lạc trên dính đổi, phúi nam của sông Phố Hài (Bình Thuận) nên di Lích cũ n s được £ỌÌ llico địa danh này Cìrin dâv theo dfm ỉĩian gọi nhám tên tháp là Po Shall í ne 11 (?} cách thị xã Plutn
Thiếl khoảnii 5km về phía Đông, gần hiển.
Trang 32Cụm di tích này gòn có 3 ngòi đồn và một phố lích, iươne, nền đã
sụp đỏ
Ph Slcrn elio rằuy ngoi đcii nàv Ịiluíi xêp nuoài lồ của hệ llnuiii kicn trúc Champa vì nó muni: dáng vẻ "nửa Khmer nửa Cliãm K)irơng nhiên,
tường gạch xây tương đối nhẹ nhàng, thanh ihoái Irụ cửa vuôniĩ với vòm
cửa hình cung duỗi là dấu ấn Chăm rò net, nhấl là tluíp Đỏng và tháp Bắc nhưng iháp Nam, tháp chính, lỏn nliitt có 2 Irụ cửa irùn với 3-4 hànu
"nhẫn" lại mkang dấu ấn "Tiền Ảngco" Cho nèn tháp nàv và nói cliunu cụm tháp này có trước Prasal Dam I'd Krap giìn IƯƠIIU đươniỉ với MT Sưn
E l, niên đại nửa sau thố kỷ VIII VÌI nliư tliố, đày là tháp sớm nhất ở miền Nam
b Tiếp Iheo là ỉ ỉo à Lai (Ninh Thuận), gồm 3 tháp urơng đôi lớn
cạnh đáy khoiínn 12m đứng theo chiều dọc Bắc, Giữa Nam ngay hcn đưòng số 1, cách thị xã Phan Ransi khoíinii 20km về phúi Bắc Tluíp Ciiữii
đã sụp đci hoàn toàn, tháp Nam hị hư hại nặng, còn tháp Bấc đã bị hư hại
ít nhiều, đantĩ được trùng tu Gân liíừnỉĩ (pilastrc) và trụ cửa có văn cành
là, sinh động, dẹp; vòm cửa lừ hình cung duỗi đã cliuyủn Uùmli hộ cành lá uốn lượn làn sổng Tháp Nam xưa nliất nên gân urờny còn để trơn chưa
có vãn Như thế, Hoà Lai có nét tiếp nối E l, nhưng đã có nét phát Iricn, sau Damei Krap, xây vào khoảng 810-R20
c- Bình Thuận còn có cụm tháp nữa là Po D am (=Po Tằm), dựnìi
trên đất xã Phú Lạc, huyện Tuv Phone, ìĩđn như nằm tĩiữa đường, cách Phan Tliiết 60km về phía Bắc và cách Phan Rany 40km về phía Nam Trên đỉnh một núi đất nhỏ, dựng chen clnic mộ Ị cụm tluíp, gồm 1 tháp vừa, canh 6,5m, 3 tháp nhỏ phía Nam cạnh 3m, mậl quay hướng Nam ('?)
3 tháp nhỏ phía Bắc, cạnh 3m, mặl quay hướng không rõ vì đã sụp đổ hoàn toàn T hật lạ là vì cách bố trí của nó Dù còn hay đã đổ mọi tháp đều có 1 bộ linga-yoni, lớn nhỏ iheo kích thước của llváp Pô Tằm khá giống Hoà Lai, gổn như là sự thu nhô của Ị loà Lai 0 1 loà Lai, vãn cành
lá trên trụ lường còn chưa có và thu non thì đền Pô Tằm đã lliành hô lan
ra đốn mép, niên đại liếp sau Hoà Lai khoanu 830-850 Nlnr vậy nhừ khi hậu khô, nóng ở miổn Nam mà đốn nuv còn uẩn dủ 3 nhóm lliáp cổ nhái
và dẹp nhất của nghệ thuật kiến inìc Champa, dược xốp vào phong cách
cổ Cùnti loai với nỏ, lại có ihể cả 2 tháp Iiiiỏi A2 v à‘E7 ứ Mĩ Sưn Ba cụmc * *— *tháp trôn ở vào địa hàn 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, vừa nòi liếp nhau vổ ngliệ lliuậl lại vừa đirnu ric-nu hiọi nhau Ri Ong địa hàn llìứ }
Trang 33vùng Po Nagar và Nha Trang - Khánh Hoà, thì lại đứnii riònii rõ rệl hơn
ơ đily có hi ký từ thố kỷ VIII, lừ tlu'fi các vua Virapura qua Indrapuru đốn Vijaya thè kỷ XII Kiên trúc cũng được phản ánh rthư Ihố Ngoài ra nuhọ inuật Đòng Dương cũng k ế thừa phonii cách cổ này (V vãn cành lá hình bó xoè Riỏng sự Ihể hiôn Irên nghệ thuật kiến i n k , ta có thể thấy có sự liếp nối, thóng nhất Irong mộl hệ Ihống, nlnrng xem ra lại L'ó sự khác nhan,
giữa các vùng có vỏ riêng hiệt nhau, như giữa Ninh Thuận - Hoà Lai vỏi
Bình Thuân - Po Tằm và với Phố Hài 7 ớ giữa hai vùniỉ nàv, trẽn cánh đồng nối liền 2 tỉnh ngày nay ôntĩ vua trỏ Haiivarman 1 đã cho xây Pô Tằm đem lại cho nó cái lên Virapurn và cũnii lập ở gần đó hoàng cunii, đưực gọi tm ng hi ký là Hoỉinu lliành (Uajapura) mil Ihư tịch nhà Đườnu ghi là Hoàn Vương tuy rằriìĩ hi ký nói liến lên nọi đúng râì muộn, nhàn sự kiện chiốn tranh xẩy ra Irên cánh đổ nu ỡ Virapura cũnii lức là Rajiipura Đến nay nu ười ta vẫn chưa thật rõ nuuvcn II lùm nào có sự cluivển đổi độl ngộl lìr vương triều miền Bắc Sinliapura đốn vương triều miền Nam Virapura Miổn Nam có vè như một địa phương nhỏ cách hiệu lại có võ như hình thành những vùng nhỏ hơn nữa Nhưnti mặt khác, nliấl là về vãn hoá, lại cổ vẻ như vãn có sự tiếp nôi lic-n tục Các vua miền Nam còn cho xây đền Iháp ở M ĩ Sơn dưỏi thời của mình (?) luôn lự coi mình IÌI vim dìa
nu ười Chăm, cai quản loàn hộ Champa "Cainpan ra Mtkiilam blỉiikiVíi'
VYýị lư thố dó mà Champa đem quàn đánh Chân Lạp -Khmer trước năm
802, lúc mới khôi phục đất nước khói sư xàm chiếm của người Java, mi đốn nãm 802 và 809 lại đem quân tấn công 2 lần đến vùng cai quán của
An Nam đô hộ phủ còn thuộc nhà Đưừnti và không chịu cống nạp cho nhà Đường
3- Giai đoạn Iiiclrapura (khoảng năm 850 - ()82)
Sau bia Yang Tikuh, nói tới Vikrantavarman (II) có niên điểm cuối
854 người ta khỏníĩ ihây có hia bào co niên điểm cùng thời hoặc lic*n sau cho biết thêm về dòng vua Virapura miền Nam nhưng người ta tại phái hiên được hai minh văn khác trên tí in tìicin phô tích (í làng Đong Dươnu (xã Bình Định, huyện Tháng Bình, lính Quang Nam), cách dà Náng 40km, lức cách Trà Kiệu 20km về phía Nam và cách 10km nữa về phía Tây vào gần rừng núi, nên dược goi là hia Đồnt: Dương I va II (kí liiôu C96 C97) nòi tiếp nhau về nội dunu và iỉần nlur tlồntí lluíi mà niòn dicni được uỉii rõ trong bia: Nãm 797 saka = năm 875 niC'11 đại liêp nối giai đnỉin Virapura Bia Đồm: Dương I và [[ cho hiốl mòl phố ho mói: Sau 3 nhàn vụt huvồn thoại Paramesvara - Urojii - Dhannunija liên vim drìu
Trang 34vương triôu, Rudravarrrum, Bliíìvíiviimiiin Ronii viiii nfiv 1THT I'ii [TIÒI ‘'iiii
đoạn mới lạp kinh đù mới mang tên llùin chủ Indrii - Indrapura chác là ỡ
chính địa điổm Đ ồng Dương này Irử lại mien Bắc nhưn«Ị khôn" ớ ilịii íiOiti cu, mu lui vò phía Num ciích diíi iliôm CII vĩũ cliuc km, kín dáo liơu nlnmg vẫn tiện đuítng giao lliòng Bắc - Nam và ra hiển, lòn lliờ Ihiìn Siva dươi tên gọi mới, Samhhuhhudrasvnra lức là Campa - pumparamesvara
Đến nay người ta vẫn chưa hiểu rõ nguyên nhàn nào dẫn đốn sự thay đổi
dòng VIKI và địa đidm kinh đù, lừ Sinhapura đốn Virapura rồi lại đốn Indrapura Có điều đã hiểu là 3 giai đoạn mà thư lịch Tru nu Quốc íiọi là
Lâm Ap Hoàn Vương và đốn đây là ChiOm Tliành (Tân Diíờnx ihir) vừa
có sự khúc nhau, vừa có sự liếp nôi và đuừnu như là 1 iòti lục vổ vãn hoá và Cii về li ch sử ?
Giai đoạn này gọi là Indrapum lôn kinh dù hay còn uoi là ĐỎIÌU Dương, địa danh ngày nay là một tiiai đoạn đặc sắc hơn nữa còn 1ÌI mội hước ngoặt Irong lịch sử và vãn hoá Chăm Vươnu Iriồu Đo nu Dư<mu có tới 20 minh văn khắc và phố tích kiến liiic trai qua trôn mội địa bàn rộnu
từ Quảng Bình, Quảng Trị đốn Quiínu Nam, Quãng Ngãi, đốn cá Cao nguyền (Kon Klor - Kontum) (C167) Khánh Ho à (Po Nanar - C3X) và Ninh Thuận (Phú Quý, C122, năm 889)
Indrapura (II), 875-898 là người lập kinh đô ỉndrapura ơ Đồ 11«: Dương, một bước ngoặt mà thư lịch Trung Quốc lừ năm 8(H) đổi gọi là Chiêm Thành, do đó có thuyết cho "thành của Chiêm = Kinh đò Chiêm", lúc đầu có thổ khổng phíii là ở Đồnsi Dưưniĩ, cho đèn 875 (7) Nhưng có lẽ cũntĩ cần tỏi mấy chục năm đe xác định đia điểm cụ thể giữa Trà Kiệu và Đồnií Dirơnu tuv cũnìỉ chỉ ở quanh đâu đây như cuộc khai t[uậl kháo cu ơ hãi chợ Đ ồng Dương ít nhiều cho thấy Mãl kluic hoàng cung lưc là nhà (í bans gỗ lá và dền đài thừ thần xây lỊạch có thể ơ gần nhau, nhưng là 2 kiến trúc khác nhau và cách xa nhau VC thni gian Ong này con đưực noi lới, được khảng định qua vãn minh Bỏ Mưng (huyện Điện bàn Quảng Nam), phía nam Đà Nấng và bia Châu sa (K93) ơ Quáng Ngãi Người Ui còn đươc hiếl lên tục của ỏnti là Laksminđra BhumFsvara Gramasvamiu tôn thuy là Sri Avalokitcsvara và tôn hiêu khi lên ngôi là ỉmlrav;urnan Ro
là một ổng vua sùng Phậl, theo Phàt uiád Tuy nhiên klii làm vua thì vãn phải đồng Lhừi lh(t thần chủ "quốc ilia" Sambhuhhađrcsvara là Siva Ufclà
k ít hợp cá hai, "đã xin (Ịiiy thuận Lokcsa (Ọiiíin Am) lại ct 1 line lính cua Isvara"
: ■>
Trang 35Bia Đ ồng Dương I- câu XVII-XV1II cho biết tòn và lui lịch của mỏl
số vua đầu của vương triều và các bia khác hợp lại cho biết phổ hệ vươriii triều gổm có 12 vua:
và 6 là con 5 Mặt khác vua 6 ĩnđravarman lại lên ngôi haiii: "tài đức củamình" chứ khổng phải được kế ngôi cúa ônu vu:i ch 11 Còn vua 7Sinhavarman cũng không lluíy nói kế niiôi của ai, tuv được nói đến tront: các vãn khắc Châu Sa, Bàn Lanh Đại Hữu
Được kể Irong vãn khấc, vua 4- Rudravannan còn đirực xác nhạn
trên một chiếc đôn (a d h a ra ) bạc khắc tên ông và nói one ciine thần vật này, một chiếc ấm bạc (kalcisa) cũnu kổ tôn ông cúng thần, vua 5
Bh a dỊ va rm a n , c o n c ủ a ô n g c ũ n g đ ư ự c x á c n h ậ n Irên m ộ l c h i ê c m â m b ạ c
(hhajana) có khắc ten vua cúniỊ thần
Bia Đ ồng Dương II vừa kể Irên kinh đô Inđrapura, vừa cung cap thêm chi tiết đoán định môi quan hệ cùa vươnti triều nàv như sau:
Vua 4 lấy vự A, sinh con Bhadraviirman líim vua 5 Ông vua 5 nàylấy vợ X sinh con Indravarman làm VLUt 6 Nỏ 11 theo mẫu hệ ông này
k h ô n t i l ự n h i ề n l ỏ n n y ô i m à p h ả i hần«Ị "lài đ ứ c c u a m ì n h " O n g V1IÍI 4 c u n
có thứ phi (vợ B), sinh 2 con gái Con uái 1 lây chổng Y, siuli COI1 là Sinhavaiman, vua 7 Vậy ỏng vua nàv là cháu ngoại vua 4 cháu hìi thư phi B Ô ng này có viếl bia ca ngợi dì ruột em mẹ đó dựng lượng ilití cha là vua 4 và thờ vua 6 vua tiền hối
Như thố, Indravarman khònu the Lhìni k ế tỉưiíĩiii nhiên của ònjỊ và
cha, c ò n S h in h a v a r m a n lại k h ô n g nằm Iron SI quan hệ nàv, n lum 41 dì ruột.
Trang 36em mẹ của Sinhavurman lại dựng lượng Ihừ vua Iriíức và thờ cha ỈÍI VIIÌI
thư 4, lây chổng đội ten PhiỊt (Purciniu Ịịudhưìokư) nhưne khỏnti ờ ntTôi
•- í?8- Jaya Saktyavarman (908- 7) là unn vua 4 được nói tới irtin** bia Nhan Biều (huyện Triôu Phong, Quàng Trị), nhưntĩ hình nil ư òriii vua nìiy
khồng ở ngỏi được bao lâu vì cùng năm này, lại thây nói đốn mộl ônII vua
khác.
9- Sri Bhadi-dvarman (III) (90S -9 1 6 ) chưa rõ ỏnìi nìiy quan hộ lliố nào với các vua ti-ước, nhưng lại chính IÌ1 nmrfti được nói tới Imn« Ch Au
Sa, Bằng An (Hạ Nông, Điện Bàn, Ọuánu Niim), Hoá Ọuò Nhan Biều
10- Indravarman (III) (917- 960?) dược nói tới tmnu bia Po Naiiar 113C (nam 918) và Lai Trung (Hue), nuười đã dựim iượnu Bhauavaũ năm
kế Liếp ở ngồi trong khoảng 960-972 rồi sau đó đốn vua lliứ 12.
12- Phê Mi Thuế, được kê’ tronu Đại viựl MÍ' kí locìĩi lliĩi' làm vua
khoảng 972- 982 Đến đây kết thúc vươrm Iriều ĐỔI1L1 Dươnti- Indrapura Cũniĩ hởi sự diễn biến như thè nên có tác eiủ cho rằnu vương Iricu này chi
S a m b h u h h a d r esv a ra , đ ã đ ư ợc tôn thừ lừ llnfi vua SatnhluivaiTnan và
Bhadravarman, các vua đầu triều Sinhapura thíin chủ quốc ui;i dưực đong nhấl với các vua này Cũng chính ờ hia này (mãt B,VI) nhà vua còn ló IÒI1ỈI sùnự kínli đối với Prilhivindravíirman là vua thứ 2 của vơơnii tncn
■ĩ 1
Trang 37Virapura ờ m iền Nam thuở trước, đã đồng nhất V('ti Ihần ỉndra Như thê là
kết hợp được nhiều mật vương triều Đồng Dương vừa muốn k h iW đinh
sự k ế lục Iricu Sinhapura (qua Samhhtivanníin) Cií sự kê luc triều Virapura (qua Prilhivindrravarmun) vừa muốn đồ cao ihiin chủ cùa riònsi
mình (llián Indra) m à kinh đỏ được maim lùn gọi vừa liòp ihu đức lĩnh
của Isvara (Siva), vừa " bối rối vì đau khổ đã xin quy Ihuận Lokesa" ( môt hình thức Quan Âm trong Phạt giáo), dể trên cơ sở đó mà cai quản loàn
ơ iã m p a "Campapitra pưrư m esvurừ ' Chính là tròn vị thế này ma nhà vua
đã đẩy lùi cuộc xâm lăng của Chân Lạp (890) và còn Iruy kích quân địch
đến tận kinh đô của nó (Sambhupura) Nói tóm lại vương Iriền mỏi tái lập
ờ miền Trung muốn kháng định sự kế tiếp và cai quản cá miền Bắc và
miền Nam
Mộl số lác giả l hườn lĩ tiọi vươn*: Ii'icti hay uiai đoạn Đồng Dươnn là vương triều Phạt giáo, mội số người khác lại pluin đối Mâu ihuẫn này lại thể hiện ngay ở tên gọi của kinh đô - Indrapura, của sự tổn thờ Ihần chủ quốc gia, thẩn Siva qua hình tượng; linua của Sambhubhadresvara nhưng mật khác, Indravarman còn tự tay mình dựntĩ (iưựnu) Lokesa (Quan Âm), xin quy ihuận Lokcsa và man II lC-n thay là Phạt quan Âm -Sri Avalokitcsvara Tuy nhiên, ấn urợiiii mạnh hơn háu là chính phố tícli Đổng Dương, phát hiện được nhiều tượnti Phật bằnii đá phù điêu tròn đá của đài thờ Ihể hiện sự tích Phật đi tìm chùn lý Nhưng ấn tưựnu mụnh
hơn còn là ở pho tượng Phật dựnỵ hằnti đồntĩ thiia cao tới lmOS, đổ sộ,
đẹp vô cùng, hiếm vô cùnu Ngưừi ta đã nói nhiều về pho tưựnií nàv
Theo J Bnissclicr (1963 p.24-25') pho tượníi nhìn qua có nét niốnu
nghệ thuật Amaravali An Độ, hay niihọ thuật Anuradhapiira ở Sri Lanca
rất khó định niên đại vì k h ò n s được phát hiện Ironu địa ui nu kháo co nhưng thuộc loại cìinn Irung tâm Phật iỉiáo cuối thố kỷ IX Thuộc loại nàv
có thể xếp 1 pho tượng phật nhỏ hơn lìm thấv ớ Khoral (Đỏng Bác Thái Lan), 1 m ảnh thân (torse) tìm thấy ở Quả nu Khê (Quail” Trị - Việt Nam) Nhộn xểt giống Amaravati mà lại định vào cuối thê kỷ IX (hì kỳ lạ vô lỷ Tuy nhiên về mặl lịch sử, có vẻ là ônn rất khỏ định niên dại khác Rõ ràng ơây là một pho tượng Buđdliapad nil Amaravali: còn yiữ lư the đung pho hiến thuở ban đáu, lay Irái túm mép nílnt: vạt áo thành tà Iníi cùa antaravasaka soniỉ sonìi với thân rmưừi vai phải đổ hở, tay Irái láp ân vũ
uý (abhaya m udra), thân trước áo cà sa uốn lượn làn són” lãn lãn duyên dániĩ rất Amaravati Nốu như thì phái dịnh niên dai sớm hơn ihê kv 1Ỉ-I\
mới pliãi Gần dày, Giáo sư vậl ]ý Pluun Văn lỉưiVnụ ớ Đai hoc Bordeaux
Trang 38cho biết qua rọi quang phổ pho tượng Đồng Dưưniĩ, cùniỉ một pho lượng
ờ Sulawesi còn rất ít đirợe biết, có niên đại the' kỷ ĩĩĩ Có lẽ thuộc loại này
có cả 2 pho lượng Phạt chiều cao chí clnìnii OmfiO Inrng hỉiy (1 Bào lfuu>
quốc gia Bangkok có nguồn gốc Sri Lanca, hoặc có nguồn iiốc Khoral Dù sao nliư thế cũng đú khiến cho vấn ttc Irớ nèn lý thú và phức lạp lum Các
pho lượng được đúc (rong thế kỷ III IV rồi m aiiíỉ ilốn u I iữ iiị : nơi Iiàv
nguy, hay đến sau thố kỷ VI -VIII ? và đúc (ừ Ấn Độ hay lừ nưi đâu 7 ÍI nhất thì nơi đAy, vùng dàn cư này lừ thố ký III, đốn IX cìíntĩ đã sìmu Phại giáo để có thổ hoặc c h ế lác hoặc bỏ một số liền lớn để nhập khấu mội pho tượng quý giá như thố Sự có mặt ciia liirơng đồnu lliời Hán (V phía Bắc (V Quảng Bình, tiền Ngũ thù thời Hán và sau đó ơ Bìnli Định Phú Yòn cũng cho thấy phíin nào sự íĩiỉíd hrn kinh lố và vãn ho;í cún Champa với nư(Vc ngoài không phai là nhỏ họp
Bíin ihân Đ ổng Dươniỉ -Indrapura míi vừa là hoànụ cune vừa là dền miêu thở ihần Plựil vẫn đưực coi là kiến trúc lứn nliấl cúa Champa Một con đường đắp cao dẫn vào cửa chính phía Đònu hình cune uẫy, kiỏu dániĩ độc đáo, đốn nav vẫn còn gọi là Ciopura Quanh Gopura là vòim Iháp nhỏ (slupa), nay không còn hao nhiêu Mộl con đườnii dẫn đốn sân phía Irong rộng !ỏn, chính giữa là tháp chính và 18 miếu nhỏ dựnu xung quanh, nay cũng không còn được mấy Tron ì: tháp chính có hàn thờ lựa lưnti vào iườniĩ phía Tây, m ột hức tường đỡ lưng cho nó ihêrn vữnn chắc, liên đó có một hệ nhỏ có vỏ đổ đỡ một pho lirợniĩ Quan Am hằnu dồnu còn chính pho tượng Phậl lớn bằrm đồnii đứnii vữnìi trên chân hộ thì đặt (V chồ nào hiện chưa biết rõ Từ sân đền này có con đường nỉĩắn đi vổ phía Tây dẫn đến một phònu rộng, dường như là nơi để các nhà lu hành tham thiền nhập định Một bức Uiủníi íiach xây cao viìnu chắc liên ncn đất đắp can
hcU) q u a n h t o à n b ộ k i ê n t r úc t rên m ộ t k h u ô n v i ê n khii Itín c h i ề u dài 3(H)m
rộng 150m Bức tường này vẫn còn vài đoạn ngắn cao hơn lm đung vũng trên nền đất cao, hoàn toàn xứnti đá nu đô’ được cui là tường thành Trong khuôn viên, trên nhữmj sân rònti này là đất Irồng rau xưa kia có lliò là nơic * c ^dưnu nhà gác, và cung quán hằn LI vàl ĩ i ộ 11 nhọ Phía Irưưc cưa con điíóng
p h í a Đ ô n g d ẫ n đOn m ộ l h ồ n ư ớ c rô nu n ằ m c h c c l i h ư t í n y Đ o n g - N a i n n a y
vẫn còn dùng được làm nước lưứi tiêu, nôi vứi inôi hệ lining klie lạch chạy xung quanh, vừa là đirờntĩ dẫn nước, vìra có chức nímg làm h a o Kliony ct'
h o ặ c rất ít c ó dấu VỐI g iố n g c ổ V ồ m òi sinh, (tày là m õi lliunụ lung 3 bỏ
là núi rim*:, trtrcírc mặl là đầm hồ, một nơi rất dỗ bị khô hạn (mội niim 3-4
t h á n ' 1) v à c ũ n í r ấ t d ễ bị l ũ n s i à p l u i n ơ i c ó l l i ẽ p h ò n n t h u n h ư n g k h ô n u
vữnu chắc, nơi có the sốnìi nhirnn khnnu Ihiìl lluiận !(íi lâu dài Voi
V.
Trang 39Champa, cả 3 ctịa điểm, lừ Sinhapura Virapura đến Indrapura, không nơi
nào Lhạt thuẠn lợi chỉ có thổ giữ vni (rò Ihú phũ vìing ih;Ịm chí là mộl
trong S(J m íly v u n g Đ n là n g u y õ n Iiliíìn mil m ỗi ru ti chỉ J u y In đư ợc Irong
nfí)t hoặc hơn mộl thê kỷ Vijava sau nàv có điều kiện hưn có línli cliál chung rộng hơn nên duy Irì tồn lại được 5 thố kỷ
Tuy tìhièn nlìững gì Đồng Dirơim lie lụi cũnti lluỊl là khòng nhỏ Nhưng pho lượng Đồng Dương có vóc tlárm klioẽ khoắn nói mạnh mạnh
mẻ bít moi dày ro ncl, hộ ria và làu quai nón ilàv dặn, cùng với lông mày dài rậm đc*n mức nối lien nhíiu thành đườnu thẳng lòn thêm nél mạnh mẽ của khuon mặt Các pho tươnu thirờiiii lĩco hoa tai lứn đôi mũ chóp có limli 3 bong hoa đại đoá plìía Inrức và 2 hC‘n lỏn 1 hỏm vó hùim vĩ, cương n^hị của tượng Đồng Dươnn Vòm cửa đã cliuvOti lừ díìi hăng hoa lá hình cung duỗi kiêu đáy chậu đến chỗ co licp vào, cỏ đỉiili kiểu quả đào đổ nmrợc và cn văn trang trí kiểu Đồrm Dươnu Trôn vòm cửa, uân urờnu và
đồ Irang sức cổ hoa văn hình "sâu đo" (Yơrniinthiic) hoặc uiốnii như hình
’'ruột non" cuộn vòng, nối dài Hình sàII đo và sự dậm dặc ciia văn Irang Irí ử khắp mọi chỗ là mộl điểm đậL' sắc cúa niihệ lliuậl Đồnu Dương, đến nỗi có tác giả nliận XÓI là một phonu cách nghọ llmậl có "nỗi sợ khoảng trống" Nét này nổi bật đễ nhận đốn nỗi khô nu cun phải là nhà chuyên mòn cũnỵ có lliổ thấy nuav "phone cách Đồnu Dưưnu" NhirniZ cũniỉ
c h í n h n h ừ l ư t h ố m à n u l i ệ thuẠl Đ ồ nu D ư ư n u đ;ìc s ắ c đtrực n h à n x é t là
"íỉầv sức sốnv của ihiên bám han địa có sư kỳ la mạnh mẽ lùm ụ vT (Ph Slcrn), "nó m ạnh khoe, han địa và kỳ lạ" (Puhinnc) "Toàn hộ phong cách Đồniĩ Dươnti đcm lại ấn iượntỉ VC một nuhị lực vô han" (Ph.Rawson) Vànói cluiniĩ là rấl khoe khoắn, rất độc đáo nil hán địa, râì íl ánh lurớníi bèn
ntỊoài kố ca từ An Độ
Với sức sốnt! manh mẽ dó vư< niu triều Đồn ụ DirơiiịỊ có ý Ilurc vươn lèn cai quản cả lãnh thổ vương quốc, nhưng rồi chính sự lớn lèn của lự thân nó lại tạo nên nhữnu vìirm lãnh thổ khác nhau, nlũrng thố lực của quvền quý địa plurơnu
T l i ả l là l a k h ô m r c ó m ộ t v ư c í m : I r i c u n à o t r ư ớ c đ â v c ó ý I h ứ c v ề s ự
lliốni’ nhất, tập I run tì về quyền cai quán tfììin hộ lãnh llid vunnụ quốc như virơmT triều này nhưnu mạt khác chưa hao giờ sự ihê' hiện lính riêng hiệt cùa vùnti hũ m ạnh me như ìiiiii đoụn Đnim Dương
Các nhà kháo cổ học đã phái hiện tlưiíc Ironu nhiều n;ìm qua hên canh hiìng trám giống cổ kè đ;í sun! (Inc mien Ti ling, nhất là Ọiiánu Trị
Trang 40(M Colani, 1944) là hàng chục vãn bia và di tích kiến trúc, nhiều nưi là cụm di tích, trải dài từ cực Bắc (tỉnh Quảng Bình ngày nay) đến Ninh
Thuận ở phía Nam, thuộc niỏn đại vươniỉ triổu Đồng Dươn<T- Indranura-
Đb là:
- Các cụm di tích Trung Quán, Đại Hữu, Mỹ Đức ứ Quảng Bình:
- Các cụm di tích Trà Liên, Dươnv: Lệ, Nham Biều ở huyện Triệu
Phong, Quảng Trị;
- Các cụm di tích Trâm Lý, Trung Đơn Cầu Hoan, Hải Xuàn Trà Lóc ở huyện Hải Lãng, Quảrm Trị;
- Các cụm di tích Trung Sơn, An Xá ỏ huyện Gio Linh, Quànu Trị:
- Các cụm di lích ở Vân Trạch I loà, Lai Trung Mỹ Khánh ứ ThừaThiên
- Các cụm di lích ở Đổnti Dương NÍT Sơn Phú Thuận Bằng An, An Thái, Bàn Lanh, Dương Mổnc, Đai Lộc, Bồ Mưng ở Quảng Nam;
- Các cụm di tích ở Châu Sa (Quảnii Ngãi, Kon Klor (Konlum)
- Kiến trúc và vãn khắc Po Nanar ở Khánh I Ioà
Có thể nói là liên tiếp và dày đặc diện rấl rộng
Đáng chú ý, ở đất "khởi nghiệp" ở Quảng Nam là nhữne công trình
đồ sộ, lâu dài, xứng với địa vị đất khởi nỵhiệp, trung tâm của vương quốc;
Cũng đáng chú ý là trên đất "mở rộng", phía Bắc đèo Hải Vân lại
có rất nhiều di tích, đến mức hầu như xã nào cũng có, có những di tích lớn, đủ cả cụm tháp, văn khắc, hiện vậl rất quý, như Trung Quán, Đạ Hữu,
Mỹ Đức (Quảng Bình), Trà Liên, Nham Biều (Quảng Trị), Lai Trung, Hà Trung (Thừa Thiôn) vv Dù sao như the cũng đLÌ đê thày không có mội vương triều nào đến đây có những vùng ngoại vi rộng lớn như thê, hơn nữa ngày càng thấy rõ sự lớn m ạnh của các quan chức dù gần hay xa kinh
đò mà nhiều người Irong số họ đã xàv đền dựnu lượng, dưng bia Khòng
phải ch ỉ c ó nhà vu a h a y hoànsi thất, m à cả c á c quan ở Xii c ũ n g lập đồn
dựnti bia Đ ã biếl lừ Đại Hữu, Nhan Biổu (Quáng Bình- Quàng Trị), đốn Lai Trung, Châu Sa, còn đến c;i một vị thủ lĩnh ứ Thượne Nuuyẻn ở Kon Klor (Kontum), bia cỏ niên điổm 916 Sự lớn mạnh, phái Iriổn của các