1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong khu vực Asean

31 532 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 161 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được điều đó thì trước hết cần phải đánh giá được lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam so với các nước khác trong

Trang 1

A - LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế chung Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra cơ hội cho các nền kinh tế, vừa tăng sức ép cạnh tranh Trong điều kiện đó, nỗ lực của một nền kinh tế về cải cách, phát triển, tăng trưởng phải được so sánh với các nền kinh tế cạnh tranh khác chứ không chỉ so với nền kinh tế của chính mình trong quá khứ Những tiến bộ đạt được trước đây rất đáng trân trọng, song mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề phải tiến nhanh hơn các đối thủ cạnh tranh của mình để không bị tụt hậu và thua thiệt trong kinh doanh

Nước ta đang đứng trước những bước phát triển mới về hội nhập đòi hỏi phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh Ngành dệt may là một ngành quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế Điều đó có nghĩa là ngành dệt may Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong nền kinh tế thế giới Để làm được điều đó thì trước hết cần phải đánh giá được lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam so với các nước khác trong khu vực Asean như thế nào?

Nhận thấy sự cấp thiết của vấn đề này trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện

nay, tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong khu vực Asean”.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian hạn hẹp và hiểu biết còn nhiều hạn chế, nên đề tài thảo luận không tránh khỏi các khuyết điểm Rất mong các ý kiến đóng góp của Quý thầy Cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn!

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

B – NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm lợi thế cạnh tranh quốc gia

Lợi thế cạnh tranh quốc gia là lợi thế của một quốc gia trên thị trường quốc

tế đạt được nhờ nhiều điều kiện bên trong khác nhau

1.2 Các nhân tố tác động đến lợi thế cạnh tranh quốc gia

Tại sao một quốc gia thành công trên thương trường quốc tế ở một ngành nghề nào đó?

Câu trả lời nằm trong bốn đặc tính tổng quát của một quốc gia, hình thành nên môi trường trong đó các doanh nghiệp trong nước khi cạnh tranh thì có thế làm tăng hoặc giảm lợi thế cạnh tranh

Có bốn khía cạnh liên quan đến biểu tượng quốc gia, có tác dụng đóng góp hoặc làm giảm giá trị việc tạo ra lợi thế cạnh tranh của những hang, của những quốc gia đó Những biểu tượng này được xem như là “viên kim cương” quốc gia, bao gồm : Các điều kiện về nhân tố nguồn lực; các điều kiện về cầu; các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; cạnh tranh, cơ cấu và chiến lược của hãng; cơ hội

và chính phủ

1.2.1 Các điều kiện về nhân tố nguồn lực

Có thể hiểu một cách đơn giản nhất, các điều kiện về nhân tố nguồn lực là : lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn và cơ sở hạ tầng của một quốc gia Những nhân tố này có một tầm quan trọng rất đặc biệt trong một quốc gia, nó được phân biệt với những thứ khác mà quốc gia đó thừa kế Có năm loại nhân tố cơ bản,

đó là: nguồn nhân lực, nguồn vật chất, nguồn tri thức, nguồn vốn và cơ sở hạ tầng

* Nguồn nhân lực:

Số lượng nhân viên làm việc, kỹ năng mà họ có được, mức lương và đạo đức làm việc của lực lượng lao động, tất cả tạo thành nguồn nhân lực của một quốc gia Một đất nước với lượng cung lớn về nhân công, mức lương thấp có lợi thế rõ ràng hơn trong ngành sản xuất đòi hỏi kỹ năng thấp, sản phẩm cần nhiều lao động Mặt

Trang 3

khác, những quốc gia như vậy thường xuyên gặp phải bất lợi khi nó tiến hành sản xuất những sản phẩm tinh vi đòi hỏi khả năng, kỹ năng nhân công cao mà không có

sự kiểm soát trên phạm vi rộng

* Nhân tố tri thức

Thể hiện sự hiểu biết của một lượng dân cư đáng kể liên quan đến thị trường, khoa học, công nghệ của một quốc gia Sự hiện diện của những nhân tố này thường xuyên qua chức năng nghiên cứu của một số trường Đại học và viện nghiên cứu của Chính phủ, tư nhân tại quốc gia đó Những nhân tố này hết sức quan trọng

để đạt được thành công trong sản xuất sản phẩm và dịch vụ tinh vi, và được tiến hành trong thị trường phức tạp

* Nhân tố nguồn vốn

Các quốc gia thường thay đổi khả năng sử dụng, số lượng, chi phí và các hình thức sử dụng vốn của các ngành công nghiệp quốc gia Tỷ lệ tiết kiệm, lãi suất, luật Thuế và thâm hụt ngân sách Chính Phủ của một quốc gia, tất cả đều tác động đến khả năng sử dụng các nhân tố này Lợi thế, đối với những ngành chi phí vốn thấp thường tốt hơn những ngành khác ở những quốc gia với chi phí vốn tương đối cao, đôi khi mang tính quyết định Những hãng có chi phí vốn thấp có thể giữ mức giá của họ thấp và buộc những hãng có chi phí vốn cao hoặc phải chấp nhận lợi tức đầu tư thấp hoặc dời bỏ ngành kinh doanh

Trang 4

Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống Ngân hàng, hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống chăm sóc sức khỏe và khả năng sử dụng cũng như chi phí sử dụng của hệ thống này của một quốc gia…Cơ sở hạ tầng cũng bao gồm

hệ thống nhà ở, các tổ chức văn hóa ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc sống và mức độ quốc gia đó thu hút người dân đến sinh sống và học tập

Các nhân tố nhân lực, vật chất, vốn, tri thức có thể di chuyển giữa các quốc gia Những lao động tay nghề di chuyển giữa các nước, vì vậy kiến thức, kỹ thuật

và khoa học cũng di chuyển theo Sự di chuyển này càng ngày càng gia tăng bởi thế giới ngày càng kết nối nhiều hơn và việc di chuyển cũng dễ dàng hơn Việc có sẵn các nhân tố trong một quốc gia không phải là một lợi thế nếu như các nhân tố di chuyển đi nước khác

Lợi thế cạnh tranh quốc gia sẽ mang lại lợi ích cho ngành kinh doanh nếu một loạt các nhân tố hỗn hợp được sử dụng thúc đẩy ngành đó theo đuổi một chiến lược chung : Sản xuất với chi phí thấp hoặc tạo ra sự khác biệt Lợi thế cạnh tranh cũng có thể được các quốc gia tạo ra nếu những quốc gia này gặp bất lợi về những nhân tố đã lực chọn

1.2.2 Các điều kiện về cầu

Sự cấu thành nhu cầu nội địa giúp doanh nghiệp nắm bắt, hiểu và đáp ứng nhu cầu của khách hàng Bản chất của các điều kiện về cầu nội địa đối với những sản phẩm hay dịch vụ của một hãng hoặc một ngành là rất quan trọng bởi chúng xác định nên tỷ lệ và áp lực đối với việc cải tiến và đổi mới do các hãng thực hiện trong một quốc gia Đây cũng là nhân tố hoặc là giúp “đào tạo” các hãng có sức cạnh tranh ở tầm cỡ thế giới hoặc là bị thất bại hoàn toàn trong việc chuẩn bị để có thể tham gia cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Một số đặc điểm về cầu nội địa rất quan trọng đối với lợi thế cạnh tranh, chẳng hạn như: kết cấu cầu nội địa, quy mô

và hình thức tăng trưởng cầu nội địa…

Kết cấu cầu nội địa được xác định bằng cách các hãng nhận thức, nắm rõ và

đáp ứng được những nhu cầu của người mua Lợi thế cạnh tranh có thể đạt được

Trang 5

khi cầu nội địa mang lại cho các doanh nghiệp trong nước một bức tranh tốt hơn về những nhu cầu của người mua vào thời gian đầu so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài Lợi thế này càng được thúc đẩy khi chính những người mua nội địa buộc các doanh nghiệp quốc gia phải đổi mới một cách nhanh chóng và thường xuyên Nền tảng của lợi thế này bắt nguồn từ chỗ, khi các doanh nghiệp trở nên nhạy cảm hơn

và đáp ứng nhanh hơn nhu cầu nội địa và nếu nhu cầu ở thị trường nội địa phản ánh hoặc mô phỏng trước nhu cầu thế giới thì các doanh nghiệp quốc gia có thể giữ vị trí dẫn đầu trên thị trường

Ba đặc tính cơ bản của nhu cầu nội địa ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh: Phân khúc thị trường; Đặc tính khách hàng nội địa; Dự đoán nhu cầu

- Phân khúc thị trường: Nếu có thị trường lớn thì có lợi thế về quy mô dẫn đến có lợi thế cạnh tranh quốc gia Nếu có sản phẩm đáp ứng thị phần lớn trong nước tạo cho doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm để xâm nhập vào thị trường thế giới… và ngược lại

- Đặc tính khách hàng nội địa: Nếu khách hàng nội địa có đòi hỏi cao, có những yêu cầu bất thường về sản phẩm…điều đó tạo ra những áp lực lớn cho doanh nghiệp buộc họ phải luôn luôn cải tiến và đổi mới sản phẩm,

do đó tạo ra lợi thế cạnh tranh

- Dự đoán nhu cầu: Dự đoán nhu cầu đem lại lợi ích về cạnh tranh cho doanh nghiệp trong trường hợp: Thị trường trong nước, nhu cầu nội địa

dự báo nhu cầu thế giới

Quy mô và mô hình tăng trưởng cầu nội địa càng trở nên quan trọng khi kết

cấu cầu nội địa là phức tạp và phản ánh trước được nhu cầu bên ngoài

Sự phát triển của nhu cầu nội địa phụ thuộc vào: số lượng khách hàng độc lập, mức tăng trưởng của nhu cầu nội địa, nhu cầu nội địa ban đầu và mức độ dự báo của nhu cầu nội địa ban đầu với nhu cầu thế giới, bão hòa sớm thị trường nội địa và tăng trưởng thị trường nước ngoài

Trang 6

Sự tăng trưởng thị trường nội địa một cách nhanh chóng là một điều

khuyến khích khác nữa để đầu tư vào và chấp nhận những công nghệ mới một cách nhanh hơn và để xây dựng nên các đơn vị sản xuât có hiệu quả và quy mô lớn Một cầu nội địa mới, đặc biệt là nếu nó mô phỏng trước được nhu cầu thế giới, sẽ mang lại cho các doanh nghiệp trong nước lợi thế nhanh hơn so với các đối thủ cạnh tranh khi tham gia vào nước ngoài Một điều quan trọng hơn nữa là sự bão hòa thị trường mong đợi, điều này sẽ đặt áp lực lên một công ty phải mở rộng những thị trường quốc tế và tiếp tục đổi mới Bão hòa thị trường đặc biệt quan trọng nếu nó xảy ra đồng thời với sự tăng trưởng nhanh chóng của các thị trương nước ngoài

Đây là tác động qua lại của các điều kiện về cầu, theo đó tạo ra lợi thế cạnh tranh Do tầm quan trọng đặc biệt của mình, những điều kiện này có thể dẫn đến những khích lệ ban đầu và tiếp theo cho việc đầu tư, đổi mới và tiếp tục tăng cường cạnh tranh trên những thị trường tinh vi

1.2.3 Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có mối tương quan

Nếu các ngành bổ trợ (công nghiệp phụ trợ) ổn định và hoạt động có hiệu quả, trao đổi thông tin thuận tiện, chi phí giao dịch giảm thì tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia lớn cho ngành đó Và ngược lại

Các ngành liên quan là những ngành các doanh nghiệp có thể hợp tác hoặc chia sẻ hoạt động trong dây chuyền giá trị (sản phẩm bổ xung) Điều đó thúc đẩy sự phát triển qua lại, tạo ra sức mạnh hoặc ngành mới

Sự tồn tại của các ngành công nghiệp cạnh tranh quốc tế của một quốc gia trên thị trường có mối liên quan hoặc hỗ trợ trực tiếp cho những ngành khác, có thể đưa lại cho những ngành này một lợi thế cạnh tranh Các ngành công nghiệp cung ứng cạnh tranh ở tầm quốc tế cung cấp những sản phẩm đầu vào cho những ngành sản xuất sản phẩm cuối cùng, đến lượt mình những ngành sản xuất sản phẩm cuối cùng sẽ cạnh tranh ở tầm quốc tế về mặt giá cả và chất lượng Những ngành sản xuất sản phẩm cuối cùng sẽ dễ dàng tiếp cận với những sản phẩm đầu vào và với

Trang 7

những công nghệ để sản xuất ra chúng, với những co cấu quản lý và cơ cấu tổ chức nhằm làm cho những ngành này trở nên mạnh hơn.

Thành công của một quốc gia trong một ngành nghề sẽ đạt được nếu nước đó

có lợi thế cạnh tranh trong nhiều ngành nghề có liên quan Điểm nổi bật nhất là những ngành quan trọng giúp đổi mới ngành nghề hoặc những ngành tạo nhiều cơ hội để chia sẽ các hoạt động

1.2.4 Cạnh tranh, cơ cấu và chiến lược của hãng

Đây là bối cảnh mà doanh nghiệp được tạo dựng, tổ chức và quản lý cũng như tính chất của đối thủ cạnh tranh trong nước Hệ thống quản trị của một quốc gia thường có những nét đặc trưng riêng, phù hợp với một số ngành nghề nhất định

Các khác biệt tập trung vào : Nền tảng và định hướng của các nhà lãnh đạo, Phong cách lãnh đạo, sức mạnh cá nhân, công cụ để ra quyết định, bản chất mối quan hệ với khách hàng, khả năng phối hợp và mối quan hệ giữa lao động với nhà quản trị, quan điểm đối với các hoạt động quản trị Các khía cạnh quốc gia có thể ảnh hưởng đến bộ mặt quốc tế của doanh nghiệp

Có lẽ tác động mạnh nhất đến lợi thế cạnh tranh là từ những cuộc cạnh tranh khốc liệt trong nước Cạnh tranh trong nước thúc đẩy tính năng động của ngành và tạo ra áp lực tiếp theo cho việc cải tiến và đổi mới Cạnh tranh khốc liệt khu vực buộc các doanh nghiệp phải phát triển các sản phẩm mới, cải tiến các sản phẩm hiện có, giảm chi phí và giá cả, phát triển công nghệ mới và cải tiến chất lượng và dịch vụ Cạnh tranh trong nước sẽ phải đấu tranh với nhau không chỉ vì thị phần mà còn vì tài năng của nhân viên, vì những tiến bộ kỹ thuật mới của chương trình R&D

và uy tín trên thị trường nội địa Cuối cùng, cạnh tranh nội địa mạnh mẽ sẽ đẩy các hãng tới việc tìm kiếm thị trường quốc tế để hỗ trợ cho việc mở rộng quy mô và đầu tư R&D Việc thiếu vắng các cuộc cạnh tranh đáng kể sẽ tạo ra sự tự bằng lòng với bản thân của các doanh nghiệp nội địa và cuối cùng gây hậu quả làm cho các doanh nghiệp trở nên phi cạnh tranh trên thị trường thế giới

Trang 8

Không phải số lượng các cuộc cạnh tranh mới là quan trọng mà thay vào đó

là cường độ của cạnh tranh và chất lượng của các đối thủ cạnh tranh, điều này tạo

ra sự khác biệt Đồng thời, chúng cũng rất quan trọng bởi vì chúng tạo ra những đối thủ cạnh tranh mới và bảo vệ họ chống lại những công ty lâu đời về mặt vị trí cũng như về sản phẩm và dịch vụ thông qua một tỷ lệ phát triển các doanh nghiệp tương đối cao

1.1.2.5 Cơ hội

Cơ hội đóng vai trò trong việc phân loại môi trường cạnh tranh Cơ hội thường xuyên xuất hiện ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp và chính phủ Liên quan đến vấn đề này là những mặt như chiến tranh và thời kỳ hậu chiến, những phát minh, sáng chế mới quan trọng, những cuộc chuyển đổi đột ngột nhân tố hay chi phí đầu vào như là khủng hoảng dầu lửa, thay đổi đột ngột tỷ giá hối đoái…

Cơ hội quan trọng vì chúng tạo ra những sự gián đoạn lớn trong công nghệ

mà điều này cho phép các quốc gia và các doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh lại có thể vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh lâu đời, thậm chí là cả những người dẫn đầu ngành, trong lĩnh vực kinh doanh đã thay đổi

Từ khung cảnh của toàn bộ hệ thống, thì vai trò của cơ hội dựa trên thực tế theo đó họ thay đổi các điều kiện trong mô hình ô viên kim cương Tuy nhiên, một quốc gia với mô hình “viên kim cương” thuận lợi nhất sẽ chỉ là người duy nhất có thể tận dụng được những sự kiện này và biến chúng thành lợi thế cạnh tranh

1.1.2.6 Chính phủ

Sau khi điểm qua các nhân tố định hình vị thế cạnh tranh của một quốc gia,

ta đi đến nhân tố cuối cùng: Chính phủ Chính phủ là một nhân tố quan trọng, cần xem xét khi nói về tính cạnh tranh quốc tế Nhiều người xem đây là yếu tố sống còn, nếu không nói là quan trọng nhất, tác động đến cạnh tranh quốc tế thời nay Tuy nhiên, điều này không chính xác cũng như không phải là cách hữu hiệu để hiểu

Trang 9

vai trò của Chính phủ trong cạnh tranh quốc tế Vai trò thực sự của Chính phủ trong lợi thế cạnh tranh quốc gia nằm ở tác động của nó lên bốn nhân tố quyết định trên

Chính phủ có thể tác động lên bốn nhân tố kia theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Chính phủ tác động đến các điều kiện về cầu, vừa gián tiếp thông qua chính sách tài chính và chính sách tiền tệ, lại trực tiếp thông qua vai trò vốn có của nó như là người mua các sản phẩm và dịch vụ Chính phủ tác động lên các nguồn lực như là người ban hành các chính sách về lao động, giáo dục, phát triển vốn, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tiêu chuẩn sản phẩm Chính phủ tác động tới cạnh tranh và môi trường cạnh tranh bởi vai trò của nó như là người ban hành các quy định về thương mại Bằng cách tăng cường những yếu tố quyết định trong những ngành mà tại đó một quốc gia có lợi thế cạnh tranh, chính phủ cải tiến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp quốc gia Mặt khác, chính phủ có thể cải tiến hoặc làm yếu đi lợi thế cạnh tranh nhưng chính phủ không thể tạo ra lợi thế cạnh tranh

Chính phủ có tác động quan trọng lên lợi thế cạnh tranh quốc gia song hiển nhiên vai trò này chỉ là một phần nào đó Nếu chỉ có chính sách của chính phủ làm nguồn lực duy nhất trong lợi thế cạnh tranh quốc gia thì chính sách sẽ thất bại Chính sách của chính phủ chỉ thành công trong những ngành nghề đã có sẵn những nhân tố quyết định tiềm ẩn và lúc đó các chính sách chỉ làm nhiệm vụ cũng cố các nhân tố đó Có vẽ như Chính phủ chỉ có thể thúc đẩy lợi ích của việc giành được lợi thế cạnh tranh nhưng thiếu khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh đó

Những nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh quốc gia cho phép mỗi một công ty, trong những ngành nhất định sẽ tìm kiếm và xây dựng được lợi thế riêng biệt để đảm bảo sự thành công trên thị trường quốc tế Đó cũng là cơ sở để lựa chọn chiến lược cạnh tranh mà công ty sẽ áp dụng trên thị trường quốc tế

Trang 10

II LỢI THẾ CẠNH TRANH QUỐC GIA TÁC ĐỘNG ĐẾN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

2.1 Sơ lược vài nét về Ngành dệt may Việt Nam

Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành dệt may Việt Nam hiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển khá mạnh

Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh, tận dụng nguồn nhân lực dồi dào ở Việt Nam và có điều kiện thuận lợi để

mở rộng thị trường trong và ngoài nước với sự tham gia của nhiều thành phần kinh

tế khác nhau, dệt may Việt Nam đã có những bước tiến thần kì trong tăng trưởng xuất khẩu với hàng loạt các mặt hàng khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg ngày 10/3/2008 Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp Dệt - May Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 Với mục tiêu phát triển ngành Dệt - May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới

Năm 2010, ngành dệt may dự kiến kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt khoảng 10,5

tỷ USD, tăng trưởng 12%

Năm qua, mặc dù hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, ngành hàng gặp nhiều khó khăn bởi suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng vẫn là một năm đầy thành công đối với ngành dệt may Việt Nam

Kim ngạch cả năm 2009 đạt 9,2 tỷ USD, tăng 1% so với năm 2008, trong điều kiện xuất khẩu của cả nước tăng trưởng “âm”, đưa dệt may nằm trong top dẫn đầu những mặt hàng xuất khẩu của cả nước Không những thế, thời trang Việt Nam

đã chính thức trở thành thành viên thứ 6 của Liên đoàn thời trang châu Á (AFF)

Trang 11

2.2 Lợi thế cạnh tranh quốc gia tác động đến ngành dệt may Việt Nam

Trong phần I tôi đã đề cập đến sáu nhóm nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh quốc gia Nhưng trong bài thảo luận này, trên giác độ đánh giá lợi thế cạnh tranh quốc gia ảnh hưởng đến ngành dệt may tôi chỉ đánh giá các nhóm nhân tố sau:

+ Những lợi thế cạnh tranh quốc gia đã có:

- Nhân tố nguồn lực

- Tác động của Chính phủ+ Những nhân tố đang yếu cần phát triển hơn nữa để trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia:

- Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có mối tương quan

- Ảnh hưởng của các cơ hội

2.2.1 Những lọi thế cạnh tranh quốc gia đã có

2.2.1.1 Nhân tố nguồn lực

* Về nguồn nhân lực:

Tính đến 0 giờ ngày 1/4/2009, dân số Việt Nam là 85.789.573 người, tăng 9,47 triệu người so với năm 1999 (với sai số thuần là 0,3%) Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm trong giai đoạn 1999-2009 là 1,2%/năm, giảm 0,5%/năm so với 10 năm trước và là tỷ lệ tăng thấp nhất trong vòng 50 năm qua Như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 13 trong tổng số các nước đông dân nhất thế giới Với quy mô lớn và tốc độ tăng tương đối cao về dân số Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực

Theo dự báo của ILO, đến năm 2015 ASEAN sẽ có thêm 55 triệu lao động mới (tăng 19,8% so với mức năm 2007), nhưng mức tăng mạnh nhất vẫn ở các quốc gia kém phát triển hơn như Lào, Campuchia và Philippines… Trong khi đó, lực lượng lao động của Thái Lan, Singgapore dự đoán chỉ tăng 1%/năm Singapore

và Thái Lan tiếp tục phải đối diện với tình trạng thiếu lao động trầm trọng Do đó,

Trang 12

Việt Nam có lợi thế cạnh tranh quốc gia về nguồn nhân lực dồi dào hơn so với Singgapore và Thái Lan.

Tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động tăng từ 51% lên 65% Hiện nay, Việt Nam đang có “Cơ cấu dân số vàng” đây là một lợi thế cạnh tranh quốc gia của Việt Nam so với Singgapore, Thái Lan đang phải đối mặt với hậu quả kinh tế xã hội của lực lượng lao động già hóa

Theo báo cáo được tổ chức Business Monitor International (BMI) công bố, Việt Nam vẫn có lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài do lực lượng lao động dồi dào với chi phí thuê mướn rẻ

Vào Tháng 10/2008, chính phủ Việt Nam đã quyết định nâng mức lương tối thiểu cho lao động phổ thông làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài từ mức 1,000,000 VND/tháng lên 1,200,000 VND/tháng Mức lương tối thiểu tương ứng đối với lao động tại các nhà máy thuộc doanh nghiệp quốc nội được điều chỉnh trong khoảng 650,000 VND/tháng đến 800,000 VND/tháng Mức lương tối thiểu mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 Dù vậy, ngay cả khi áp dụng chính sách này, giá nhân công ở Việt Nam vẫn còn rẻ tương đối so với các nước

trong khu vực Asean (mức lương trả cho lao động Việt Nam cao hơn Cămpuchia, Lào, Mianma, bằng Indonesia, Philipines nhưng thấp hơn Thái Lan, Malaysia).

Ngành dệt may cũng không nằm ngoài ảnh hưởng của lợi thế này Với đặc thù riêng biệt của mình, ngành dệt may đã tận dụng triệt để lợi thế cạnh tranh này

Đó là, nhân công dồi dào, cơ cấu dân số vàng, giá nhân công tương đối rẻ…

Tuy nhiên, mặc dù Việt Nam cũng như ngành dệt may đang tân dụng triệt để lợi thế cạnh tranh quốc gia của mình về yếu tố nhân lực nhưng hiện nay Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất dần lợi thế cạnh tranh này

Theo dự kiến đến năm 2015 Việt Nam mới bước vào giai đoạn dân số già, nhưng với tỷ lệ người trên 65 tuổi năm 2008 là 7,5% thì dân số nước ta đã già

hóa.“Như vậy, quá trình già hóa dân số của chúng ta đến sớm hơn dự kiến Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới dân số già khi chưa giàu, chưa tích lũy

Trang 13

được gì thì đã già”, ông Dương Quốc Trọng – quyền Tổng cục trưởng Tổng cục

dân số - kế hoạch hóa gia đình nhận định Do đó, Việt Nam đang mất dần lợi thế cạnh tranh do hiện đang có cơ cấu dân số vàng Mặt khác, đối mặt với hiện tượng già hóa dân số là kèm theo rất nhiều vấn đề về an sinh cho những người già trong khi Việt Nam chưa giàu, đang tập trung phát triển kinh tế Điều này không chỉ tác động làm mất dần lợi thế cạnh tranh mà còn kìm hảm lợi thế khác

Giá nhân công Việt Nam đang nhích dần lên đồng thời năng suất lao động và sức cạnh tranh của Việt Nam cũng đang giảm dần: không thể cạnh tranh bằng nhân công rẻ khi mức lương tối thiểu tăng nhanh hơn 20% trong hai năm gần đây - không một nước nào trong vùng có mức tăng lương nhanh như thế Năng suất lao động của công nhân Việt Nam chỉ bằng 70 – 80% so với Trung Quốc Thêm vào đó, lực lượng lao động Việt Nam không tuân theo quy trình pháp lý khi muốn đàm phán về phúc lợi và lương bổng với ban điều hành doanh nghiệp Điều này ảnh hưởng không ít đến sản xuất của ngành dệt may nói riêng và Việt Nam nói chung

Hiện Indonesia đang là đối thủ cạnh tranh rất lớn về nhân lực đối với Việt Nam Mặc dù giá nhân công cả hai nước gần như bằng nhau, nhưng điểm mạnh của Indonesia là lực lượng lao động ổn định, năng suất cao và giá đất thấp hơn Việt Nam Ngoài ra, Indonesia còn có lực lượng doanh nghiệp địa phương hùng hậu sản xuất các mặt hàng vải nguyên liệu, dệt kim rất dồi dào, bên cạnh thế mạnh là tay nghề thành thạo của công nhân

* Về nguồn lực vật chất:

Nguồn lực vật chất ảnh hưởng nhiều mặt tới nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến hoạt động Marketing trên thị trường Đây là yếu tố vừa tạo nên thuận lợi vừa đưa đến những khó khăn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Việt Nam có sự đa dạng của tài nguyên thiên nhiên.Ở trình độ phát triển kinh

tế như hiện nay, tài nguyên đất giữ vị trí quan trọng Việt Nam có khoảng 8,0 triệu

Trang 14

thấp và các cao nguyên Nguồn nhiệt ẩm lớn, tiềm năng nước dồi dào, số lượng các giống loài động, thực vật biển và trên cạn khá phong phú, nguồn khoáng sản đa dạng v.v… là những thuận lợi mà thiên nhiên đã dành cho chúng ta.

Đối với ngành dệt may cũng vậy, việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất đang được quan tâm Trồng bông tập trung làm nguyên vật liệu cho sản xuất Trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học ở Nha Hố, Tập đoàn Dệt May Việt Nam đã cho áp dụng hai phương thức trồng bông chủ yếu là: trang trại và trong nhân dân Sau khi tích cực tìm kiếm những vùng đất thích hợp với cây bông, được sự hỗ trợ tích cực của các địa phương

và các tổ chức liên quan, các công ty bông đã xây dựng được bảy dự án trồng bông trang trại Cho đến nay đã có ba dự án được triển khai gồm: 54 ha tại xã Phong Phú, huyện Tuy Phong (Bình Thuận); 192,5 ha tại xã Ea Súp, huyện Ea Súp (Ðác Lắc); 20 ha tại xã Lương Sơn, huyện Ninh Sơn (Ninh Thuận) Các công ty bông đang tiếp tục hoàn thiện và đưa vào khai thác ba dự án mới: trang trại 200 ha tại xã Ðác Nông, huyện Cư Giút; trang trại 200 ha tại xã Ðác Gla, huyện Ðác Min (Ðác Nông); trang trại 120 ha tại huyện Ðiện Bàn (Quảng Nam)

Có thể khẳng định, lĩnh vực sản xuất nguyên liệu cho dệt may trong nước thời gian qua đã có những bước tiến, tỷ trọng nội địa hoá trong các sản phẩm dệt may đã tăng trong năm 2009 Theo số liệu ước tính của các chuyên gia thì đến nay nguyên liệu trong nước cho ngành dệt may như bông đã đáp ứng được 10%; xơ, sợi tổng hợp đáp ứng khoảng 60%; sợi 70%; vải 50%; Tuy nhiên, để tạo thành lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ thì Việt Nam còn phải cố gắng rất nhiều Hiện nay, nguyên liệu trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu; sản lượng, diện tích trồng bông trong nước còn ít; một số nguyên liệu khác trong nước đã sản xuất được thì giá thành lại không thấp hơn sản phẩm nhập khẩu mà chất lượng lại không ổn định

Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh rất lớn về nguyên liệu với các nước trong khu vực Asean, đặc biệt là Indonesia khi đây là nước có nguồn nguyên phụ liệu dồi dào, các doanh nghiệp hiểu sâu về thị trường xuất khẩu

Trang 15

Mục tiêu chiến lược của ngành Dệt may đặt ra đến năm 2010 là phải đạt sản lượng 20.000 tấn bông xơ, năm 2015 đạt 40.000 tấn Tuy nhiên hiện nay, diện tích trồng bông tại Việt Nam lại trông không đồng đều, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (42%), vùng duyên hải miền Trung (33%), miền Bắc (20%) và Đông Nam bộ (5%) Theo thống kê cho thấy trong niên vụ niên vụ 2007-2008 diện tích trồng bông trên

cả nước là 7.446ha cho sản lượng 2.709 tấn, đến niên vụ 2008-2009 diện tích trồng bông giảm mạnh còn dưới 3.000 ha Ngành dệt may đã khuyến khích và quy hoạch tăng thêm diện tích trồng bông Theo kết hoạch niên vụ 2009-2010 ước đạt khoảng 10.000 nghìn tấn Tuy vậy con số này vẫn còn xa với mục tiêu 20.000 tấn ngành đã đặt ra

Mặc dù ngành Dệt may đã có kế hoạch phát triển vùng nguyên liệu và có chính sách hỗ trợ giá cho nông dân, nhưng vấn đề giá còn rất nan giải Nếu giá thấp hơn so với các cây trồng khác sẽ khó khuyến khích được nông dân tham gia trồng bông, và mục tiêu 1 tỷ mét vải vào năm 2010 sẽ còn gặp nhiều khó khăn và thách thức Và như vậy, thách thức tiếp theo của ngành Dệt may là phải làm thế nào tạo được vùng nguyên liệu ổn định, không bị phụ thuộc vào nước ngoài như hiện nay

* Về nhân tố nguồn vốn và tri thức:

Với đặc thù kinh doang của mình ngành dệt may Việt Nam có vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh Mặt khác yêu cầu về trình độ tri thức của lao động không cao nên điều này là một lợi thế cạnh tranh quốc gia rất lớn của ngành may mặc Việt Nam

*Về cơ sở hạ tầng:

Cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong những năm gần đây đang dần được cải thiện và nâng cao Hệ thống Ngân hàng đã rộng khắp, phục vụ có chất lượng và uy tín; hệ thống giao thông vận tải ngày một mở rộng, phục vụ tốt nhu cầu; hệ thống y

tế đâ mở rộng, các chi nhánh về tận tuyến huyện, xã, thôn; hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, rộng khắp đến tận vùng sâu vùng xa, hải đảo của Tổ quốc…

Ngày đăng: 18/03/2015, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w