1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, trên thế giới khối cộng đồng chung Châu Âu ( EU) là một khối liên kết các nước mạnh nhất về kinh tế và trở thành một thị trường nhập khẩu rộng lớn đặc biệt là những mặt hàng tiêu dùng trong đó có sản phẩm dệt may. Việc khai thác hiệu quả thị trường này sẽ tạo ra được nhiều cơ hội và lợi ích cho Việt Nam như tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong ngành dệt may…. Từ lẽ đó, EU đã trở thành một đối tác quan trọng, một thị trường tiềm năng của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam trong thời gian qua và những năm sắp tới. Bên cạnh đó, dệt may Việt Nam là một ngành truyền thống có từ lâu đời và rất phát triển, đóng góp một tỷ trọng lớn vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước. Các sản phẩm dệt may đã có mặt ở rất nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên đối với một số thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản và đặc biệt là EU thì các mặt hàng dệt may của Việt Nam vẫn gặp những trở ngại lớn. Mặt khác, với một sân chơi lớn, một thị trường sôi động như EU, thì môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt và khốc liệt. Nếu các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam không nhanh chóng có những giải pháp nâng cao sức cạnh tranh thì sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi cuộc chơi của toàn thế giới. Để giải quyết những vấn đề nan giải như hiện nay, đồng thời cung cấp, hỗ trợ cho các doanh nghiệp có thêm được nhiều giải pháp và thông tin xác thực.. nhằm tăng cường sức cạnh tranh vào thị trường EU. Em quyết định chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU”. Hi vọng rằng đề tài này sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam từng bước phát triển trong hoạt động xuất khẩu sang thị trường EU và luôn giữ vững được vị trí đó trước tất cả những sức ép cạnh tranh. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Thông qua việc phân tích thực trạng về sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt nam và tình hình xuất khẩu sang thị trường EU, chỉ ra những điểm mạnh điểm yếu của nhóm hàng này so với các đối thủ cạnh tranh khác. Để từ đó đưa ra được những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường EU. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu là các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu là sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường EU xét trong giai đoạn từ 1997 – 2007. 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,phương pháp so sánh các tư liệu, số liệu về xuất khẩu và sức cạnh tranh của nhóm hàng dệt may Việt Nam trên thị trường EU. Qua đó, rút ra các kết luận làm cơ sở để đưa ra các giải pháp cho việc nghiên cứu 5. Kết cấu của đề tài Chương 1: Cơ sở lý luận về sức cạnh tranh của hàng hóa và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU Chương 2: Thực trạng sức cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường EU trong thời gian qua Chương 3: Mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU 8
1.1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ 8
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng hoá 8
1.1.1.1.Khái niệm cạnh tranh 8
1.1.1.2 Khái niệm về sức cạnh tranh 9
1.1.2.Phân loại các cấp độ của sức cạnh tranh 10
1.1.2.1 Sức cạnh tranh quốc gia 11
1.1.2.2 Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, ngành 12
1.1.2.3 Sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá 13
1.1.3.Tiêu chí đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá 14
1.1.3.1 Mức doanh thu của sản phẩm qua các năm 15
1.1.3.2 Thị phần của sản phẩm trên thị trường trong từng năm so với các đối thủ cạnh tranh 15
1.1.3.3 Mức chênh lệch về giá và chi phí của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh 16
1.1.3.4 Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm đó so với sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh và sự ổn định của chất lượng 18
1.1.3.5 Mức độ vệ sinh công nghiệp hay vệ sinh thực phẩm 18
1.1.3.6 Mức độ uy tín của sản phẩm trên thị trường 19
1.1.4.Các công cụ thường dùng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá 19
1.1.4.1 Công cụ cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm 20
1.1.4.2 Công cụ cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm 21
1.1.4.3 Cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm 23
1.1.5 Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu 24
1.1.5.1 Đặc điểm của hàng dệt may xuất khẩu 24
Trang 21.1.5.2 Các nhân tố đặc trưng ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của
hàng dệt may xuất khẩu 24
1.1.6 Kinh nghiệm của một số nước về nâng cao sức cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường EU 28
1.1.6.1 Chính sách và kinh nghiệm từ Indonesia 28
1.1.6.2.Chính sách và kinh nghiệm từ Trung Quốc 30
1.1.6.3 Chính sách và kinh nghiêm từ một số nước khác 31
1.2 SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG EU 32
1.2.1 Vai trò to lớn của hàng dệt may xuất khẩu đối với Việt Nam 32
1.2.1.1 Là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam 32
1.2.1.2 Giải quyết công ăn việc làm cho toàn xã hội 33
1.2.1.3 Góp phần mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế 33
1.2.2 EU là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may đầy tiềm năng đối với Việt Nam 33
1.2.2.1 EU là một đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam 34
1.2.2.2 Cơ cấu kinh tế EU đang có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng nhập khẩu hàng dệt may 35
1.2.2.3 EU là một thị trường lớn, có nhu cầu đa dạng 35
1.2.2.4 Chính sách ưu đãi của EU với Việt Nam 35
1.2.4 Sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU còn bị hạn chế 36
1.2.4.1 Kim ngạch xuất khẩu thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của Việt Nam 36
1.2.4.2 Chất lượng hàng hóa thấp kém 37
1.2.4.3 Hạn chế do nhập khẩu nguyên vật liệu 37
1.2.4.4 Năng lực quản trị ngành kém 38
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU 40
2.1NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ QUI ĐỊNH CỦA THỊ TRƯỜNG EU ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY NHẬP KHẨU 40
2.1.1 Giới thiệu chung về EU 40
2.1.2.2 Kênh phân phối 44
2.1.2.3 Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng 45
Trang 32.1.2.4 Chính sách thương mại của EU 45
2.1.2.5 Quy định của EU về xuất xứ hàng hoá 47
2.1.3 Các qui định của thị trường EU đối với hàng dệt may nhập khẩu 48
2.1.3.1 Qui định về chất lượng sản phẩm 49
2.1.3.2 Các qui định về môi trường và nhãn sinh thái 49
2.1.3.3 Đóng gói, nhãn hiệu và ghi nhãn 50
2.1.3.4 Qui định về hoá chất 51
2.1.3.5 Qui định về trách nhiệm xã hội 52
2.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 52
2.2.1 Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 52
2.2.2 Chủng loại mẫu mã của mặt hàng dêt may xuất khẩu 54
2.2.3 Thị trường của hàng dệt may xuất khẩu 55
2.2.4 Hình thức xuất khẩu của hàng dệt may 57
2.2.5 Biện pháp xuất khẩu của hàng dệt may 59
2.2.5.1 Chính sách của nhà nước 59
2.2.5.2 Biện pháp từ phía hiệp hội 59
2.2.5.3 Chiến lược của ngành/ doanh nghiệp 60
2.3 THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU TRONG THỜI GIAN QUA 61 2.3.1 Mức doanh thu của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu qua các năm 61
2.3.1.1 Giai đoạn áp dụng hạn ngạch ( trước năm 2005) 61
2.3.1.2 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay (Giai đoạn bãi bỏ hạn ngạch với hàng dệt may) 62
2.3.2 Thị phần của mặt hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU so với các đối thủ cạnh tranh 64
2.3.3 Mức độ chênh lệch về giá bán và chi phí so với các đối thủ cạnh tranh 67 2.3.3.1 Giá hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam 67
2.3.3.2 Chi phí sản xuất ( giá nguyên vật liệu) 68
2.3.4 Mức độ chênh lệch về chất lượng của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh 69
Trang 42.3.5 Mức độ vệ sinh công nghiệp, đảm bảo môi trường của hàng dệt may
Việt Nam xuất khẩu 70
2.3.6Mức độ uy tín của hàng dệt may xuất khẩuViệt Nam trên thị trường 71
2.4 ĐÁNH GIÁ VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 72
2.4.1 Những thành công lớn mà các doanh nghiệp đạt đựoc trong giai đoạn hơn 10 năm phát triển 72
2.4.2 Nhưng chúng ta có thể thấy rõ ràng những vấn đề còn tồn tại của hàng dệt may xuất khẩu sang EU 73
CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU 75
3.1 MỤC TIÊU 75
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG EU 77
3.2.1 Giải pháp từ phía nhà nước 77
3.2.1.1 Các biện pháp hỗ trợ 77
3.2.1.2 Biện pháp về pháp lý 78
3.2.2 Giải pháp từ hiệp hội dệt may 78
3.3.3 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 79
3.2.3.1 Giải pháp tăng doanh thu cho doanh nghiệp 79
3.2.3.2 Giải pháp nâng cao thị phần 80
3.2.3.3 Giải pháp về giá cả và chi phí 81
3.2.3.4 Giải pháp về nâng cao chất lượng sản phẩm 82
3.2.3.5 Giải pháp về công nghệ và vệ sinh an toàn sản phẩm, đảm bảo môi trường 83
3.2.3.6 Giái pháp về thương hiệu 83
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5DANH M ỤC B ẢNG
Bảng 2.1 Một số chỉ số kinh tế vĩ mô của EU 41 Bảng 2.2 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2006
57 Bảng 2.2 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU giai đoạn
áp dụng hạn ngạch ( trước năm 2005) 62 Bảng 2.3 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường
EU(2005 - 2007) 63
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
***********
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, trên thế giới khối cộng đồng chung Châu Âu ( EU) là một khốiliên kết các nước mạnh nhất về kinh tế và trở thành một thị trường nhập khẩu rộnglớn đặc biệt là những mặt hàng tiêu dùng trong đó có sản phẩm dệt may Việc khaithác hiệu quả thị trường này sẽ tạo ra được nhiều cơ hội và lợi ích cho Việt Namnhư tăng kim ngạch xuất khẩu, tạo được nhiều công ăn việc làm cho người lao độngtrong ngành dệt may… Từ lẽ đó, EU đã trở thành một đối tác quan trọng, một thịtrường tiềm năng của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam trong thời gian qua vànhững năm sắp tới
Bên cạnh đó, dệt may Việt Nam là một ngành truyền thống có từ lâu đời vàrất phát triển, đóng góp một tỷ trọng lớn vào kim ngạch xuất khẩu của đất nước.Các sản phẩm dệt may đã có mặt ở rất nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên đối vớimột số thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản và đặc biệt là EU thì các mặt hàng dệtmay của Việt Nam vẫn gặp những trở ngại lớn
Mặt khác, với một sân chơi lớn, một thị trường sôi động như EU, thì môitrường cạnh tranh của các doanh nghiệp càng trở nên gay gắt và khốc liệt Nếu cácdoanh nghiệp dệt may của Việt Nam không nhanh chóng có những giải pháp nângcao sức cạnh tranh thì sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi cuộc chơi của toàn thếgiới Để giải quyết những vấn đề nan giải như hiện nay, đồng thời cung cấp, hỗ trợcho các doanh nghiệp có thêm được nhiều giải pháp và thông tin xác thực nhằm
tăng cường sức cạnh tranh vào thị trường EU Em quyết định chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU” Hi vọng rằng đề tài này sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam từng
bước phát triển trong hoạt động xuất khẩu sang thị trường EU và luôn giữ vữngđược vị trí đó trước tất cả những sức ép cạnh tranh
Trang 72 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua việc phân tích thực trạng về sức cạnh tranh của hàng dệt may xuấtkhẩu Việt nam và tình hình xuất khẩu sang thị trường EU, chỉ ra những điểm mạnhđiểm yếu của nhóm hàng này so với các đối thủ cạnh tranh khác Để từ đó đưa rađược những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt mayxuất khẩu vào thị trường EU
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu là các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu là sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thịtrường EU xét trong giai đoạn từ 1997 – 2007
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phươngpháp phân tích, phương pháp tổng hợp,phương pháp so sánh các tư liệu, số liệu vềxuất khẩu và sức cạnh tranh của nhóm hàng dệt may Việt Nam trên thị trường EU.Qua đó, rút ra các kết luận làm cơ sở để đưa ra các giải pháp cho việc nghiên cứu
5 Kết cấu của đề tài
Ch
ươ ng 1 : Cơ sở lý luận về sức cạnh tranh của hàng hóa và sự cần
thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU
Ch
ươ ng 2 : Thực trạng sức cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của
Việt Nam trên thị trường EU trong thời gian qua Ch
ươ ng 3 : Mục tiêu và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnh
tranh của hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam vào thị trường EU
Trang 8
ƯƠ NG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT
MAY XUẤT KHẨU VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HOÁ
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh và sức cạnh tranh của hàng hoá
1.1.1.1.Khái niệm cạnh tranh
Vấn đề cạnh tranh kinh tế về mặt lý luận, từ lâu đã được các nhà kinh tế họctrước Các Mác và chính các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã đềcập đến Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất
và trao đổi hàng hoá Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của cácqui luật thị trường như qui luật giá trị, qui luật cung - cầu hay nói cách khác cạnhtranh là một trong những qui luật cơ bản của nền kinh tế thị trường
Theo C.Mác: “ Phân công xã hội khiến cho những người sản xuất hàng hoá
độc lập trở thành đối lập với nhau, họ không thừa nhận bất kỳ quyền uy nào khác
mà chỉ thừa nhận quyền uy của cạnh tranh, chỉ thừa nhận sự cưỡng chế của áp lực lợi ích giữa họ với nhau đè nặng lên chính mình”
Theo từ điển kinh tế, cạnh tranh được hiểu là quá trình ganh đua hoặc tranhgiành giữa ít nhất hai đối thủ nhằm có được những nguồn lực hoặc ưu thế về sảnphẩm hoặc khách hàng về phía mình, đạt được lợi ích tối đa
Ở nước ta, trong quá trình đổi mới nền kinh tế đã có sự thay đổi rất lớn về tưduy, quan niệm về cạnh tranh Cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực pháttriển cho nền kinh tế thị trường bởi lẽ nó đã thúc đẩy các doanh nghiệp khôngngừng cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năngsuất và chất lượng của sản phẩm nhằm mục đích chiếm đoạt được vị thế trên thịtrường và trong lòng người tiêu dùng Trong văn kiện Đại hội VIII của Đảng cũng
đã ghi rõ:
“Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành
Trang 9mạnh, hợp pháp, văn minh Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau” Trong
mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 Đảng ta khẳng định cần phải
nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Thực tế do cách tiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau, nên córất nhiều những quan niệm khác nhau về cạnh tranh Nhìn chung khái niệm cạnhtranh có các vấn đề cơ bản như sau Cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mốiquan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục đích lợinhuận tối đa Đó là sự ganh đua giữa các chủ thể nhằm giành đựoc những điều kiệnthuận lợi nhất để thu được lợi nhuận siêu ngạch về phía mình Cạnh tranh còn làphương thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tếthị trường Cạnh tranh không quyết định bản chất kinh tế - xã hội của những chế độ
xã hội đó
Tuy nhiên, trong đề tài nghiên cứu này khái niệm cạnh tranh được nhìn nhận
và đánh giá dưới góc độ sau: Cạnh tranh là hành vi hoặc quan hệ kinh tế giữa cácchủ thể kinh tế của kinh tế thị trường, cùng theo đuổi mục đích tối đa hoá lợi ích.Trong cạnh tranh, các chủ thể ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt được mụctiêu kinh tế của mình, thông thường các mục tiêu này là chiếm lĩnh thị trường, giànhgiật khách hàng, cũng như các điều kiện sản xuất và khu vực thị trường có lợi nhất.Mục đích cuối cùng của các chủ thể trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích.Với người sản xuất, đó là lợi nhuận còn đối với người tiêu dùng thì đó là lợi ích tiêu
dùng và sự tiện lợi
1.1.1.2 Khái niệm về sức cạnh tranh
Thuật ngữ “ sức cạnh tranh”, “năng lực cạnh tranh”, “ khả năng cạnh
tranh” được sử dụng phổ biến, thường xuyên được nhắc tới trên các diễn đàn kinh
tế cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, thu hút được sự quan tâm củagiới nghiên cứu và được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau
Điểm lại lý thuyết cạnh tranh và sức cạnh tranh trong lịch sử có thể thấy haitrường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại Trường phái cổđiển với các đại biểu tiêu biểu như A.Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã
Trang 10có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này Trường phái hiệnđại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: Tiếp cận theo tổ chứcngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; Tiếp cận tâm lý với đại diện
là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc trường phái Viên; Tiếp cận “cạnh tranhhoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển Hiện nay, còn nhiều quan điểm khácnhau về sức cạnh tranh trên các cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Vàhiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đókhông có lý thuyết “chuẩn” về sức cạnh tranh, chúng ta chỉ có thể hiểu rằng Nănglực (sức, khả năng) cạnh tranh của một nền kinh tế là thực lực và lợi thế mà nềnkinh tế có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnhtranh khác trên thị trường thế giới một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợiích ngày càng cao cho nền kinh tế của mình và cho quốc gia mình
Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được cácquốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất là: Phương pháp thứnhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranhtoàn cầu; Phương pháp thứ hai do Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đềxuất trong cuốn Niên giám cạnh tranh thế giới Cả hai phương pháp trên đều do một
số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên giacủa WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng
1.1.2 Phân loại các cấp độ của sức cạnh tranh
Ngày nay khi thị trường hàng hoá càng phát triển thì sự cạnh tranh diễn racàng gay gắt Một chủ thể kinh tế khi tham gia vào thị trường bao giờ cũng phảichịu sức ép cạnh tranh từ rất nhiều phía khác nhau của nền kinh tế Một quốc gia,một doanh nghiệp, hay một sản phẩm chỉ có thể đứng vững được trên thị trường khi
có một sức cạnh tranh đủ lớn để đánh bật và đối đầu được với tất cả những sức ép
đó Với từng chủ thể khác nhau, từng thời ki khác nhau, chúng ta cần xác định rõcác cấp độ của sức cạnh tranh mà chúng ta đang hướng tới Dựa vào những quansát, các nhà kinh tế học đã phân chia cấp độ của sức cạnh tranh một cách tương đốibao gồm 3 loại: sức cạnh tranh của quốc gia, sức cạnh tranh của doanhnghiệp/ngành, sức cạnh tranh của sản phẩm trong cùng 1 ngành
Trang 11Ta thấy rằng, với mỗi doanh nghiệp/ngành, mỗi sản phẩm, sức cạnh tranhgắn liền với mục tiêu duy trì sự tồn tại của sản phẩm doanh nghiệp và mang lại lợinhuận trên các thị trường ( nội địa và quốc tế ) và mục tiêu này được cụ thể, thựchiện trực tiếp nhờ vào lợi thế cạnh tranh của sản phẩm Tuy nhiên, năng lực cạnhtranh của quốc gia và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành lại gắn bó mậtthiết và phụ thuộc lẫn nhau Một quốc gia có vị thế cạnh tranh tốt trên trường quốc
tế sẽ giúp các doanh nghiệp dễ dàng thâm nhập vào các thị trường quốc tế hơn từ đóxây dựng được sức cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành tốt hơn Nói cách khác, sứccạnh tranh của quốc gia là một nguồn hình thành sức cạnh tranh của doanhnghiệp/ngành Khi các doanh nghiệp/ngành có một sức cạnh tranh tốt thì sẽ thuđược nhiều lợi nhuận, đem lại nguồn thu lớn cho kinh tế của quốc gia, tác động tíchcực đến nền kinh tế, từ đó cũng góp phần nâng cao sức cạnh tranh của quốc giadưới con mắt của bạn bè năm châu
1.1.2.1 Sức cạnh tranh quốc gia
Theo diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) năm 1997: “ Sức cạnh tranh quốc gia
là khả năng nền kinh tế quốc dân đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao về kinh
tế, thu nhập và việc làm” Sức cạnh tranh của quốc gia được cấu thành từ 8 nhómyếu tố chính (với 155 chỉ tiêu ) bao gồm: độ mở của nền kinh tế, vai trò và hiệu lựccủa chính phủ, hệ thống tài chính tiền tệ, trình độ phát triển công nghệ, cơ sở hạtầng, trình độ quản lý của doanh nghiệp, số lượng và chất lượng lao động và trình
độ phát triển của thể chế
Theo công bố mới đây trong báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu
2006-2007 của Diễn đàn kinh tế thế giới, thứ hạng của Việt Nam xếp theo Chỉ số nănglực cạnh tranh tổng hợp là 77 trên 125 quốc gia, Chỉ số năng lực cạnh tranh tăngtrưởng là 86 Trong khi đó thứ hạng tương ứng theo các chỉ số trên của Việt Nam tạibáo cáo năm 2005-2006 là 74 và 81, trong tổng số 117 quốc gia được xếp hạng.Như vậy, thứ hạng của Việt Nam theo các chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp vàtăng trưởng năm 2006 đều sụt giảm so với năm 2005
Trang 121.1.2.2 Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, ngành
Trong những năm vừa qua các doanh nghiệp của Việt Nam đang dần dần lớnmạnh và đang trên đà phát triển, đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế của Việt Nam.Song nếu so sánh với các nước khác, nhất là các nước ở khu vực Đông Á, chúng tavẫn nhận thấy còn rất nhiều vấn đề đáng lo lắng và một trong những vấn đề đánglưu tâm nhất hiện nay là về việc nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp ViệtNam trên trường quốc tế Tuy nhiên để giải quyết được vấn đề về sức cạnh tranhcủa doanh nghiệp trong thời kì hội nhập, chúng ta cần phải nắm thật rõ khái niệmsức cạnh tranh của doanh nghiệp
Thực chất sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo cách đơn giản nhất có thểhiểu là “ khả năng nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được
“ Vì vậy khi thị phần tăng lên, cho thấy sức cạnh tranh cũng đựơc nâng cao Sứccạnh tranh của doanh nghiệp còn là khả năng hãng đã bán được hàng nhanh, nhiềuhơn so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường cụ thể về một loại hàng hoá cụ thể.Quan điểm này có thể áp dụng đối với từng doanh nghiệp, cũng như đối với mộtngành công nghiệp của một quốc gia trong cuộc cạnh tranh trên thị trường khu vực
và thế giới
Trong quản trị chiến lược, sức cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năngcủa một doanh nghiệp đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn tỷ suất lợi nhuận bìnhquân của ngành Khái niệm này chỉ rõ bản chất của lợi thế cạnh tranh là hướng tớimục tiêu lợi nhuận nhưng lại không giúp nhiều cho việc phân tích các yếu tố tạonên sức cạnh tranh, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của OECD định nghĩa sức cạnhtranh là: “ khả năng của doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia hoặc khu vực tạo rathu nhập tương đối cao hơn và mức độ sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn đốimặt với cạnh tranh quốc tế ”
Xét ở góc độ ngành, một ngành kinh tế được coi là có sức cạnh tranh khi cácdoanh nghiệp trong ngành và sản phẩm chủ đạo của ngành có sức cạnh tranh trênthị trường
Trên thực tiễn ở Việt Nam, đối với cạnh tranh các ngành hàng, có thể thấy
Trang 13chúng ta có một số sản phẩm có mức xuất khẩu cao trong khu vực, thế giới và đóngvai trò quan trọng đối với đất nước như các sản phẩm thuộc nông lâm ngư nghiệp(gạo, thủy sản, cây công nghiệp chiếm 30% giá trị xuất và có vị thế cao trên thếgiới) và một số mặt hàng công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp chế biến (chiếm 70%giá trị xuất khẩu) Thêm vào đó, tỷ trọng giá trị xuất khẩu chiếm gần 50% GDP, caohơn nhiều so với các nước Đông Bắc Á và chỉ thua Singapo, Malaysia Tuy nhiên,đối với ngành công nghệ thông tin và viễn thông ICT là ngành ASEAN đang có thếmạnh hơn so với Trung Quốc thì trong khi xuất khẩu của khối ASEAN đạt 150 tỷUSD (chiếm 25% giá trị xuất khẩu cả của khối) thì Việt Nam chỉ xuất khẩu sảnphẩm ICT dưới 1 tỷ USD (chiếm khoảng 5% giá trị xuất khẩu của Việt Nam) Mặc
dù vậy, khi đánh giá về khả năng cạnh tranh tầm vi mô, các so sánh quốc tế đều ghinhận thành tựu trung bình của Việt Nam vào tốp 3 trong ngũ phân vị (xếp thứ 38/80nước), nhất là đánh giá tốt việc triển khai mạnh các dự án FDI kèm theo chuyểngiao công nghệ và việc thi hành Luật Doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho khuvực ngoài Nhà nước phát triển bình đẳng vì sự nghiệp phát triển đất nước Tuynhiên, trong nhiều lĩnh vực thì chỉ tiêu hiệu quả của Việt Nam còn rất kém (chỉ tiêu
tỷ suất vốn ICOR của toàn nền kinh tế tính bình quân 7 năm 1996-2002 xấp xỉ 5,trong đó giao thông vận tải đến 20, điện lực 10 và ngay nông lâm ngư là ngành ta cóthế mạnh thì bình quân cũng lên tới 4,5 là mức rất cao trong khi các ngành dịch vụcao cấp có hiệu quả thì còn sơ khai)
1.1.2.3 Sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá
Sức cạnh tranh của một loại sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ nào đó trên thịtrường trong nước và quốc tế là sự thể hiện tính ưu việt hay tính hơn hẳn của nó cả
về định tính và định lượng
Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của mỗi nền kinh tế thì các quan
hệ thương mại cũng phát triển, theo đó diễn ra sự mở rộng thị trường trao đổi hànghoá và dịch vụ Mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ đựơc ngườitiêu dùng phản ứng với các mức độ cao thấp khác nhau Sự phản ứng của người tiêudùng thể hiện qua việc mua hay không mua sản phẩm đó Đây chính là biểu hiệntổng quát cuối cùng về sức cạnh tranh của sản phẩm đó
Trang 14Nói cách khác, cạnh tranh giữa các sản phẩm trên thị trường là quá trình thểhiện khả năng hấp dẫn tiêu dùng của các sản phẩm đối với khách hàng trên một thịtruờng cụ thể và trong một thời gian nhất định Sức cạnh tranh của sản phẩm có thểgắn với một doanh nghiệp, một quốc gia cụ thể hoặc xét chung cho tất cả các quốcgia, các doanh nghiệp.
Cuối cùng, sức cạnh tranh của sản phẩm còn có thể hiểu là sự vượt trội so vớicác sản phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm tham giacạnh tranh đều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng Có nghĩa là, những sảnphẩm mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên 1 đơn vị giá cả là những sản phẩm cókhả năng cạnh tranh cao hơn
Trên thực tế, mỗi hộ tiêu dùng có cách lựa chọn hàng hoá riêng cho mình Tuynhiên, có những tiêu chí chung cho tất cả các loại sản phẩm, hàng hoá mà nhà sảnxuất phải đáp ứng ở mức tối thiểu thì mới có thể đem sản phẩm của mình ra thịtrường Đó là đối với hàng xuất khẩu phải đáp ứng tối thiểu tiêu chuẩn quốc tế(ISO), còn ở Việt Nam, phải đảm bảo tiêu chuẩn quốc gia (TCVN)…
Về sức cạnh tranh của sản phẩm, thứ hạng trên thực tế của một số sản phẩmcủa Việt Nam cũng khá (về giá cả, chất lượng và đôi khi cả quy mô thị trường), trởthành nguồn động lực để tăng nhanh cả quy mô và tốc độ xuất khẩu của Việt Nam.Tuy nhiên, cần xem xét các vấn đề cạnh tranh trong điều kiện động, có nghĩa là cầntính đến những nhân tố mới phát sinh về thị trường, về khoa học công nghệ, về cácquy định thể chế kinh tế, trong đó có tiến trình tự do hóa thương mại - đầu tư trongASEAN (AFTA, AIA, APEC, ASEM) Việc Việt Nam sẽ gia nhập WTO và việcthực hiện các thỏa thuận song phương khác sẽ có tác động nhiều chiều tới sự pháttriển của đất nước, của các ngành, các sản phẩm Trong điều kiện đó, vai trò năngđộng của các doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng
1.1.3 Tiêu chí đánh giá sức cạnh tranh của hàng hoá
Để đánh giá sức cạnh tranh của một mặt hàng, chúng ta có rất nhiều tiêu chídưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên đặt trong phạm vi bài nghiên cứu về cácsản phẩm xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, thì để đánh giá tổng quát về sức cạnhtranh của hàng hóa chúng ta cần so sánh các sản phẩm đó với các đối thủ cạnh tranh
Trang 15dựa trên những tiêu chí cơ bản như: doanh thu của sản phẩm, thị phần của sảnphẩm, giá, chi phí của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, mức độ vệ sinh và uy tín củasản phẩm.
1.1.3.1 Mức doanh thu của sản phẩm qua các năm
Doanh thu của một sản phẩm nào đó qua các năm là một chỉ tiêu trực tiếpphản ánh sức cạnh tranh của 1 loại hàng hóa, bởi số lượng tiêu thụ của hàng hóa thểhiện sức hấp dẫn của nó trong mắt người tiêu dùng Qua đó người ta có thể đánh giáđược sức cạnh tranh của hàng hóa này so với hàng hóa khác Khi một hàng hóađược tiêu thụ với số lượng nhiều hơn so với các hàng hóa cùng loại thì hàng hóa đóđược coi là có sức cạnh tranh cao trên thị trường đang xét
Theo kinh tế học vi mô, doanh thu được xác định bởi công thức sau:
có sức cạnh tranh lớn khi nó có khả năng thâm nhập và chiếm lĩnh được nhiều thịtrường khác nhau một cách nhanh hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác Đặc biệt
là phải liên tục giữ vững và duy trì được thị phần của mình
Để xác định qui mô thị trường thị phần, các doanh nghiệp cần liệt kê các thịtrường chính trong nứơc, thị trường xuất khẩu, phân khúc thị trường, và thị phầncủa sản phẩm, tốc độ tăng trưởng của thị phần trong 3 năm gần nhất Ngoài rachúng ta có công thức tính thị phần của hàng hóa xuất khẩu trên một thị trường nhưsau:
Trang 16MS = x100 %
M MA
Trong đó:
MS là thị phần của hàng hóa
MA là số lượng hàng hóa A được tiêu thụ trên thị trường
M là tổng số lượng hàng hóa cùng loại được tiêu thụ trên thị trường
Việc xác định chỉ tiêu này sẽ phản ánh một cách đúng nhất thị phần của mộtloại hàng hóa trên thị trường so với các loại hàng hóa cùng loại Chỉ tiêu đánh giá ởtrên càng lớn tương ứng với việc thị phần của hàng hóa đó chiếm lĩnh càng lớn thìsức cạnh tranh của hàng hóa càng lớn, và nguợc lại hàng hóa sẽ có sức cạnh tranhyếu kém nếu thị phần của nó chỉ chiếm một phần nhỏ không đáng kể trên thịtrường
1.1.3.3 Mức chênh lệch về giá và chi phí của sản phẩm so với các đối thủ cạnh tranh
Trên thị trường hàng hóa, giá cả của hàng hóa có thể được sử dụng như mộtchiến lược để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Thực tế cho thấy chiến lượcgiá cả đã đem đến thành công cho rất nhiều công ty như hãng hàng khôngSouthwest của Hoa Kỳ, công ty bách hóa tổng hợp lớn nhất thế giới Wal- Martthành công với chiến lược giá cả thấp Các công ty có thể đặt giá sản phẩm thấphơn giá thị trường để chấp nhận mức lãi suất thấp nhưng bù lại có được số lượngtiêu thụ sản phẩm lớn, và từ đó nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm với ngườitiêu dùng Tuy nhiên những công ty đi đầu về giá cả thấp cũng không thể bất cẩn vìrất có thể sẽ có một công ty khác với giá cả thấp hơn sẽ bất thình lình xuất hiện trênthị trường, làm mức độ cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường càng trở nên gaygắt Một nhân tố có liên quan trực tiếp đến giá cả hàng hóa chính là chi phí Việccân đối chênh lệch giữa hai yếu tố này là một trong những tiêu chí đánh giá nănglực cạnh tranh của sản phẩm giữa các đối thủ khác nhau trên cùng một thị trườnghoặc ở các thị trường khác nhau
Trong đó mỗi yếu tố chí phí và giá cả lại phụ thuộc vào một hệ thống các yếu
Trang 17tố khác nhau.Nhưng để có một cách đánh giá chung nhất cho vấn đề này, chúng ta
sẽ cùng xem xét và đo lường thông qua hai công thức tính sau:
b j ij
b i
n k
p a P
Aij: Hệ số chi phí đầu vào j với sản phẩm i
J = 1….k là đầu vào khả thương
J= k+i….n là nguồn lực nội địa và các đầu vào trung gian bất khả thương
i i
M T EP
iM T EP
)
* (
*
(4)Trong đó
Pi vµ Pf: Giá của sản phẩm đầu ra i và của đầu vào trung gian f
W : Tỷ lệ chi phí của đầu vào trung gian trong tổng giá trị sản phẩm đầu raP*i vµ P*f : Giá quốc tế của sản phẩm đầu ra i và của đầu vào trung gian f
E : Tỷ giá hối đoái thực
T vµ M: Hệ số bảo hộ danh nghĩa và hệ số chi phí thương mại
Bằng việc tính toán hai thông số trên chúng ta sẽ tính được mức chênh lệchgiữa giá bán và chi phí để từ đó có giải pháp cân đối 2 yếu tố này một cách hợp lýnhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
Trang 18trên thị trường quốc tế.
1.1.3.4 Mức chênh lệch về chất lượng của sản phẩm đó so với sản phẩm cùng loại của các đối thủ cạnh tranh và sự ổn định của chất lượng
Tiêu chuẩn về chất lượng hàng hóa được qui định theo ISO9000 Nhằm đảmbảo lợi ích cho người tiêu dùng, tránh tình trạng bị sử dụng những hàng hóa kémchất lượng Đây là hệ thống tiêu chuẩn quốc tế được coi là không bắt buộc, tuynhiên các sản phẩm khi được có bằng ISO 9000 sẽ nâng cao được sức cạnh tranhhơn rất nhiều so với các sản phẩm khác Bởi lẽ, điều đó thể hiện sự ổn định về chấtlượng của sản phẩm, sự minh bạch trong sản xuất của doanh nghiệp và tạo đượclòng tin với người tiêu dùng
Bên cạnh hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000, mỗi quốc gia đều có những
hệ thống đánh giá chất lượng sản phẩm riêng Vì vậy, những sản phẩm ngoài việc
có bằng ISO 9000 còn có thể thực hiện việc công nhận các tiêu chuẩn chất lượngcủa nước nhập khẩu để từ đó tạo được uy tín lớn hơn từ phía thị trường nhập khẩu
1.1.3.5 Mức độ vệ sinh công nghiệp hay vệ sinh thực phẩm
Hiện nay nhà nước và các tổ chức quốc tế đã đưa ra các qui định nhằm đánhgiá và đảm bảo an toàn cho người sử dụng hàng hóa, bảo vệ môi trường sinh thái vàtạo môi trường cạnh tranh bình đẳng trong thương mại quốc tế Các qui định nàythường được cụ thể hóa qua các tiêu chuẩn như sau:
Tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm: Được áp dụng theo hệ thống tiêu
chuẩn HACCP Theo qui định của hệ thống này, các quốc gia và các tổ chức quốc tếđưa ra qui định bằng hệ thống văn bản, trong đó các cơ sở sản xuất thực phẩm phảituân thủ về việc đảm bảo vệ sinh cơ sở sản xuất, nguồn nguyên liệu sử dụng để sảnxuất sản phẩm, trong đó hàm lượng các chất độc hại cho sức khỏe người tiêu dùngkhông được lớn hơn mức qui định Đồng thời phải đưa ra các biện pháp phòng ngừakhi các nguy cơ làm gia tăng hàm lượng độc tố trong sản phẩm và đảm bảo về sứckhỏe của người tham gia sản xuất, tránh tình trạng làm lây lan các dịch bệnh
Tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường sinh thái: Được qui định trong tiêu chuẩn
ISO14000 Trong đó qui định đối với các cơ sở sản xuất ngoài việc đảm bảo chấtlượng sản phẩm còn phải có tránh nhiệm và các biện pháp giải quyết đối với các
Trang 19chất phế thải gây ô nhiễm môi trường và việc khai thác nguồn nguyên liệu tránhtình trạng mất cân bằng sinh thái.
Tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội: là hệ thống tiêu chuẩn SA8000 Trong đó,
qui định đối với các cơ sở sản xuất phải đảm bảo điều kiện làm việc đủ tiêu chuẩn
vệ sinh an toàn, trách nhiệm bình thường cho người lao động, đảm bảo quyền lợi vàlợi ích theo các qui định của tổ chức lao động quốc tế và liên hiệp quốc đã đưa ra.Đồng thời, cấm việc sử dụng lao động cưỡng bức, lao động trẻ em và lao động quátuổi để tham gia sản xuất sản phẩm
1.1.3.6 Mức độ uy tín của sản phẩm trên thị trường
Theo tâm lý người tiêu dùng, điều gì sẽ khiến họ thực sự tin tuởng vào mộtsản phẩm và để họ đưa ra được quyết định mua sản phẩm đó? Ta thấy rằng, bêncạnh những yếu tố như giá cả, mẫu mã, chất lượng,… một yếu tố cũng góp phầnđáng kể vào quyết định của người tiêu dùng chính là uy tín hay thương hiệu của sảnphẩm trên thị trường Tỉ lệ phần trăm số luợng khách hàng mua sản phẩm có uy tín
và thuơng hiệu sẽ cao hơn rất nhiều so với các sản phẩm chưa có vị thế và thươnghiệu trên thị trường Tuy nhiên, uy tín của sản phẩm trên thị trường không thể chỉxây dựng trong một thời gian ngắn hạn mà nó còn thể hiện cả một quá trình dài cốgắng xây dựng thương hiệu, cố gắng hoàn thiện không ngừng sản phẩm, dịch vụchăm sóc khách hàng để sản phẩm luôn tồn tại trong tâm trí người tiêu dùng Chính
vì những lẽ đó, so sánh mức độ uy tín của sản phẩm trên thị trường cũng là mộttrong những tiêu chí để đánh giá sức cạnh tranh của hàng hóa
1.1.4 Các công cụ thường dùng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá
Căn cứ vào những tiêu chí đánh giá về sức cạnh tranh của hàng hóa,chúng ta
dễ dàng gặp được những công cụ thường dùng tương ứng nhằm mục đích nâng caosức cạnh tranh của hàng hóa Ví dụ như một hàng hóa để có thể tạo ra được một sứccạnh tranh lớn dựa vào yếu tố chất lượng, thì người chủ doanh nghiệp có thể đưa ramột lọat các công cụ về chất lượng sản phẩm như thay đổi kiểu dáng, mẫu mã chobắt mắt của người tiêu dùng, điều chỉnh lại công thức chế biến … Tuy nhiên,chúng
ta cũng sẽ không quá ngạc nhiên nếu một sản phẩm khác lại có khả năng cạnh tranhmạnh hơn hẳn và đánh bật các đối thủ khác chỉ nhờ vào công cụ định giá sản phẩm
Trang 20thấp hơn giá thị trường và bằng với giá kì vọng của khách hàng Vậy đâu là công cụ
sẽ đem lại hiệu quả nhất? Thực chất, để nâng cao được sức cạnh tranh của hàng hóa,chúng ta cần biết cách sử dụng linh họat đồng thời các công cụ khác nhau Sau đây
là 3 công cụ chính được áp dụng với từng tiêu chí đánh giá Bao gồm
1.1.4.1 Công cụ cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Ngày nay, chất lượng sản phẩm đã trở thành một công cụ cạnh tranh quantrọng của các doanh nghiệp trên thị trừơng Chất lượng sản phẩm càng cao tức làmức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, dẫn tới đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng khảnăng thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp Trong điều kiện hiện nay, mứcsống của người dân ngày càng đựơc nâng cao, tức là nhu cầu có khả năng thanhtoán của người tiêu dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xuhướng thay vị trí cho sự cạnh tranh bằng chất lượng
a Công cụ cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm được thể hiện qua các nội dung như sau
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiệnnhất định về kinh tế kỹ thuật Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiềumặt khác nhau tính cơ lý hoá đúng như các chỉ tiêu quy định, hình dáng mầu sắchấp dẫn với mỗi loại sản phẩm khác nhau.Do vậy để nâng cao sức cạnh tranh củasản phẩm, doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao chấtlượng sản phẩm như đáp ứng được đầy đủ tiêu chuẩn về chất lượng của nhà nước,các tổ chức, các thị trường qui định
Bên cạnh đó chất lượng sản phẩm còn phải đem lại lợi ích tiêu dùng tối đa vàđạt được kì vọng tối đa cho khách hàng Đó là điều kiện không thể thiếu nếu doanhnghiệp muốn giành được thắng lợi trong cạnh tranh đi đầu về chất lượng Khi chấtlượng không còn được đảm bảo, không thoả mãn nhu cầu khách hàng thì ngay lậptức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp và kết quả này sẽ thể hiện rõ ràng nhất sự tụtgiảm sức cạnh tranh của hàng hóa, và doanh nghiệp đó
b Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc
Trang 21tăng khả năng cạnh tranh thể hiện trên các giác độ
Chất lượng sản phẩm tăng lên sẽ thu hút được khách hàng tăng đựơc khốilượng hàng hoá tiêu thụ, tăng uy tín sản phẩm mở rộng thị trường, từ đó tăng doanhthu, tăng lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.Bởi lẽ nâng cao chất lượng sản phẩm có nghĩa là nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp
1.1.4.2 Công cụ cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm
Giá cả sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bánhay doanh nghiệp bán dự định có thể nhận được từ người mua thông qua việc traođổi hàng hoá đó trên thị trường
a Giá bán của sản phẩm chịu sự tác động của những yếu tố sau:
Các yếu tố kiểm soát được như chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí bán hàng,chi phí lưu động và chi phí yểm trợ xúc tiến bán hàng Đây thực chất là các yếu tốmang tính chất định lượng, có thể đo lường được do vậy sẽ dễ dàng kiểm soát hơn
Các yếu tố không kiểm soát được như quan hệ cung cầu cường độ cạnh tranhtrên thị trường, chính sách điều tiết thị trường của Nhà nước Ngược lại với các yếu
tố kiểm soát được, đây là các yếu tố mang tính chất định tính, không thể đo luờngđược Vì vậy để kiểm soát được các yếu tố này không phải là một việc làm dễ dàng
b Hiện nay, có rất nhiều cách để định giá bán sản phẩm Các cách thường
sử dụng bao gồm:
Thứ nhất, chính sách định giá thấp là cách định giá bán thấp hơn mức giá thịtrường Chính sách định giá thấp có thể hướng vào các mục tiêu khác nhau, tuỳ theotình hình sản xuất của thị trường và đựơc chia ra theo các cách khác nhau như: (1)Định giá thấp hơn so với thị trường nhưng cao hơn giá trị sản phẩm Cách định giánày được thực hiện khi các doanh nghiệp chấp nhận mức lãi thấp và trong trưònghợp sản phẩm mới thâm nhập thị trường, cần bán hàng nhan với khối lượng lớn,hoặc dùng giá để cạnh tranh với các đối thủ (2) Định giá bán thấp hơn giá thịtrường và cũng thấp hơn giá trị sản phẩm Khi đó doanh nghiệp sẽ bị lỗ Cách nàyđựơc áp dụng trong trường hợp bán hàng trong thời kỳ khai trương hoặc muốn bánnhanh để thu hồi vốn ( tương tự bán phá gia )
Trang 22Thứ hai là chính sách định giá cao tức là mức giá bán cao hơn mức giá thốngtrị trên thị trường và cao hơn giá trị sản phẩm Chính sách định giá cao được ápdụng trong rất nhiều trường hợp: (1) Khi sản phẩm mới tung ra thị trường, ngườitiêu dùng chưa biết rõ chất lượng của nó, chưa có cơ hội để so sánh về giá áp dụnggiá bán cao sau đó giảm dần (2) Khi doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độcquyền, áp dung giá cao (giá độc quyền ) để thu lợi nhuận độc quyền (3) Áp dụngvới các sản phẩm thuộc loại cao cấp, hoặc sản phẩm có chất lượng đặc biệt tốt phùhợp với người tiêu dùng thuộc tầng lớp thượng lưu (4) Đối với các sản phẩm thuộcloại không khuyến khích người tiêu dùng mua, áp dụng giá bán cao để thúc đẩy họtìm sản phẩm thay thế.
Thứ ba là chính sách ổn định giá bán tức là giữ nguyên giá bán theo thời kỳ
và địa điểm Chính sách này giúp doanh nghiệp thâm nhập, giữ vững và mở rộng thịtrường
Thứ tư là chính sách định giá theo giá thị trường Đây là cách định giá phổbiến của các doanh nghiệp hiện nay tức là giá bán sản phẩm xoay quanh mức giá thịtrường của sản phẩm đó Ở đây do không sử dụng yếu tố giá làm đòn bẩy kích thíchngười tiêu dùng nên để tiêu thụ được sản phẩm, doanh nghiệp tăng cường công táctiếp thị thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp giảm chi phí sản xuất kinh doanh
Thứ năm là chính sách giá phân biệt Với cùng một loại sản phẩm nhưngdoanh nghiệp định ra nhiều mức giá khác nhau dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau:(1) Phân biệt theo lượng mua như mua khối lượng nhiều hoặc giảm giá hoặc hưởngchiết khấu (2) Phân biệt theo chất lượng Trong đó các loại chất lượng ( 1,2,3 ) cómức giá khác nhau phục vụ cho các nhóm đối tượng khác nhau (3) Phân biệt theophương thức thanh toán như việc thanh toán ngay hay trả chậm, thanh toán bằngtiền mặt hay chuyển khoản (4) Phân biệt theo thời gian cụ thể như tại các thời điểmkhác nhau, giá cả khác nhau
Thứ sáu là chính sách bán phá giá Đây là chính sách định mức giá bán thấphơn hẳn giá thị trường và thấp hơn cả giá thành sản xuất Mục tiêu của bán giá là tốithiểu hoá rủi ro hay thua lỗ hoặc để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh Muốn đạt đựơc mụctiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực về tài chính, về khoa học công nghệ
Trang 23sản phẩm đã có uy tín trên thị trường Bán phá giá chủ nên áp dụng khi sản phẩm bịtồn đọng quá nhiều, bị cạnh tranh gay gắt, lạc hậu không phù hợp với nhu cầu tiêudùng, sản phẩm mang tính thời vụ, dễ hư hỏng, càng để lâu càng lỗ lớn.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội mức sống của ngườidân không ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh quan trọng nhấtcủa doanh nữa nhưng nếu doanh nghiệp biết kết hợp công cụ giá với các công cụkhác thì kết quả thu được sẽ rất to lớn
1.1.4.3 Cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, sản xuất tốtchưa đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, mà còn phải biết tổchức mạng lưới bán hàng, đó là tập hợp các kênh đưa sản phẩm hàng hoá từ nơi sảnxuất đến người tiêu dùng sản phẩm ấy Thông thường kênh tiêu thu sản phẩm củadoanh nghiệp được chia thành 4 loại sau: A là kênh trực tiếp ngắn, từ doanh nghiệpđưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng (NTD), B là kênh trực tiếp dài ( từ DN tớingười bán lẻ, sau đó đến tay NTD), C là kênh gián tiếp ngắn ( từ DN tới các đại lý,tiếp đó phân tới các người bán lẻ và sau cùng đến tay NTD)
Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng doanh nghiệp có thể tiến hànhmột loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng, tổ chứchội nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế
Ngày nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò vô cùng quan trọng,thậm trí quyết định đến sự còn của doanh nghiệp trên thị trường bởi vì nó tác độngđến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên các khía cạnh Trước nhất là làmtăng khả năng tiêu thụ hàng hoá thông qua việc thu hút sự quan tâm của khách hàngtới sản phẩm của doanh nghiệp Tiếp theo là cải thiện vị trí hình ảnh của doanhnghiệp trên thị trường ( thương hiệu, chữ tín của doanh nghiệp) Cuối cùng là mởrộng quan hệ làm ăn với các đối tác trên thị trường, phối hợp với các chủ thể trongviệc chi phối thị trường, chống hàng giả
1.1.5 Đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng dệt
Trang 24may xuất khẩu
1.1.5.1 Đặc điểm của hàng dệt may xuất khẩu
Đặc trưng của sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu mặt hàngphong phú, đa dạng tùy thuộc vào thị hiếu, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo,địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi tác và thu nhập của người tiêu dùng của thị trườngnhập khẩu
Sản phẩm dệt may xuất khẩu mang tính thời trang cao, vì vậy phải thường
xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng được tâm lýchuộng cái mới, có những nét độc đáo riêng và gây ấn tượng đối với người tiêudùng Bên cạnh đó, nhà sản xuất phải tạo ra được thương hiệu hay nhãn hiệu sảnphẩm của riêng mình Nhãn hiệu của sản phẩm dệt may theo quan điểm xã hộithuờng là yếu tố chứng nhận chất lượng hàng hóa và uy tín của nhà sản xuất
Ngoài ra, khi buôn bán các sản phẩm dệt may còn rất chú trọng đến yếu tố
thời vụ trong năm Vì hàng hóa xuất khẩu đến các thị trường khác nhau thì có thời
tiết và khí hậu khác nhau Do đó việc giao hàng đúng thời hạn để đảm bảo cung cấphàng hóa kịp thời vụ cũng là một trong những đặc điểm rất quan trọng của hàng dệtmay xuất khẩu
Dệt may còn là ngành thu được lợi nhuận cao, thời gian thu hồi vốn tương
đối nhanh do qui mô vốn đầu tư thấp ( ngành may là 2,6triệu USD/dự án, ngành dệtđạt trên 16triệu USD/dự án)
Cuối cùng, đặc điểm của hàng dệt may là một trong những ngành đóng góp
chủ chốt và tạo công ăn việc làm, thu hút một lượng lớn lao động so với các ngành
khác Theo thống kê của Cục Thống kê, năm 2006 số lượng lao động của ngành dệtmay chiếm 82,75% so với các ngành thủy sản, điện tử, ô tô, vận tài biển, ngân hàng,viễn thông, bảo hiểm
1.1.5.2 Các nhân tố đặc trưng ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu
Việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu
là rất cần thiết Qua đó, chúng ta có thể biết đưa ra những giải pháp liên quan đếnnhân tố nào để góp phần nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu
Trang 25a Cho đến nay, không ai có thể phủ nhận được vai trò và vị trí quan trọng của yếu tố chất lượng sản phẩm trong cạnh tranh Bởi lẽ
Chất lượng là một yếu tố cấu thành nên sản phẩm và tạo nên giá trị sử dụngcho sản phẩm đó Nếu sản phẩm đó không hội tụ đủ yêu cầu về chất lượng ở mộtmức độ cần thiết thì sản phẩm sẽ không mang giá trị tiêu dùng và không được coi là
1 sản phẩm Đây là một trong những tiêu chí ban đầu để người mua đưa ra quyếtđịnh tiêu dùng của mình Thuộc tính này không loại trừ bất kì một loại hàng hóanào, trong đó có cả hàng dệt may
Một doanh nghiệp không thể phát triển bền vững nếu không quan tâm đếnvấn đề chất lượng của sản phẩm mặc dù có đưa ra chiến lược kinh doanh nào đichăng nữa Khi chất lượng của hàng hóa được nâng cao và thỏa mãn được nhu cầucủa người tiêu dùng thì sự tác động sẽ trở nên rất mạnh mẽ đến sức cạnh tranh củamặt hàng đó trên thị trường Và đây chính là sự lựa chọn phát triển theo chiều sâucủa doanh nghiệp
Trong thời đại hội nhập như hiện nay thì vấn đề nâng cao sức cạnh tranh củahàng hóa bằng biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm là một lựa chọn thông minh
và đúng đắn cho các doanh nghiệp Đặc biệt khi đưa sản phẩm vượt biên giới đếnvới tay của những người tiêu dùng của các nước khác như sản phẩm dệt may xuấtkhẩu thì yếu tố này trở nên vô cùng quan trọng, ảnh hưởng sâu đậm đến sức cạnhtranh của hàng hóa đó trong môi trường quốc tế Trên thực tế, chất lượng của cácsản phẩm Việt Nam mới chỉ đạt ở mức độ trung bình, chưa đạt được những yêu cầucao từ phía lớp người tiêu dùng khó tính Do vậy trong thời gian tới, việc tập trungphát triển chất lượng cho hàng dệt may xuất khẩu là một vấn đề hàng đầu của cácdoanh nghiệp
b Khi ta đặt mình vào một thị trường với rất nhiều đối thủ cạnh tranh thì giá
cả luôn giữ một vai trò tương đối quan trọng
Vì đây là một quá trình cạnh tranh rất gay gắt Giá cả đôi khi trở thành mộtchiến lược cho các doanh nghiệp trong việc tranh giành lợi ích, vị trí và tìm kiếm thịphần trên thị trường
Thực tế khi các doanh nghiệp cung ứng những sản phẩm cùng loại thì vẫn
Trang 26luôn xuất hiện tình trạng giá cả chênh lệch với nhau Đặt giả thiết những sản phẩmnày tương đối giống nhau về mẫu mã, chất lượng, dịch vụ liên quan thì ngay lập tứcnguời tiêu dùng sẽ lựa chọn những sản phẩm phù hợp với túi tiền của họ Bởi lẽ,mức độ tiêu dùng của khách hàng bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thu nhập củachính bản thân họ và chỉ khi đạt được cả 2 điều kiện là đạt lợi ích tiêu dùng và tronggiới hạn ngân sách cho phép Khi đó khách hàng mới chấp nhận trao đổi buôn bán
Cho đến nay, qua quá trình so sánh, giá hàng dệt may xuất khẩu Việt Namluôn đạt ở mức giá khá cao so với các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc - mộtnước xuất khẩu hàng dệt may giá rẻ hàng đầu trên thế giới Chính điều đó đã lànhân tố tác động lớn đến sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam, khiến sứccạnh tranh của mặt hàng này luôn giữ ở vị trí trung bình khó đứng vững trên thịtrường đầy biến động như hiện nay
c Thế giới là tập hợp của hàng trăm quốc gia khác nhau.Mỗi quốc gia lại mang trong mình những đặc trưng văn hóa và thị hiếu tiêu dùng hoàn toàn khác nhau Nguyên nhân căn bản của vấn đề này là
Sức mua của hàng hóa thể hiện sức hấp dẫn và mức độ ưa thích của ngườitiêu dùng đến sản phẩm đó.Khi sản phẩm phù hợp với thị hiếu, phong cách và xuhướng tiêu dùng của họ thì tỉ lệ phần trăm họ lựa chọn mua sản phẩm sẽ khá cao
Mặt khác, một doanh nghiệp khi tiến mình vào một thị trường mới thì việcnghiên cứu thị trường để từ đó hình thành một hệ thống, nắm bắt được tổng hợp các
xu hướng tiêu dùng như (thời trang, màu sắc, mẫu mã, chất liệu ) được ưa chuộngtại thị trường đó.Việc nghiên cứu này, sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu rất rõ việcmình phải làm, cần làm, để đạt được mục tiêu và thị phần trên thị trường, và nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm
Với mặt hàng dệt may, thời trang, mẫu mã, chất liệu, luôn là yếu tố cấu thànhriêng đặc trưng tạo nên sản phẩm Hầu hết các doanh nghiệp dệt may đều hiểu rất rõvấn đề này, do vậy khi bắt đầu tấn công vào một thị trường nào, việc tìm hiểu yếu tốthị hiếu tiêu dùng luôn được đặt lên trước nhất Vì vậy các doanh nghiệp dệt mayxuất khẩu Việt Nam đã dần thâm nhập được vào rất nhiều thị trường khác nhau trênthế giới
Trang 27d Yếu tố thời vụ cũng là một trong những yếu tố rất đặc trưng của hàng dệt may xuất khẩu
Như đã đề cập ở trên, thế giới là tổng hòa của rất nhiều những yếu tố khácnhau cấu thành Mỗi nước lại có một khí hậu thời tiết riêng biệt Vì vậy yếu tố thời
vụ đóng vai trò hết sức quan trọng đối với hàng dệt may xuất khẩu Chúng ta sẽ chỉđạt được hiệu quả doanh thu cao, một sức cạnh tranh lớn khi hiểu biết rõ về khí hậuluân chuyển của thị trường đang hướng tới Dĩ nhiên, người tiêu dùng không thểmua một loại quần áo mùa hè trong khi khí hậu ở đó đang trong mùa đông
Ngoài ra, một vấn đề cũng rất đáng chú ý, đó là ngay cả khi doanh nghiệp đãhiểu biết rõ về thị trường đưa ra được mẫu mã phù hợp cho người tiêu dùng nhưnglại quá chậm trễ trong việc vận chuyển Sẽ dẫn tới một trường hợp không mongmuốn là khi hàng dệt may được chuyên chở đến nơi thì thời tiết đã chuyển mùa vàhàng hóa lúc đó bất đắc dĩ sẽ khó có thể tiêu thụ được Do vậy các doanh nghiệp dệtmay Việt Nam cần nhanh nhạy hơn về các thông tin của thị trường và có hình thứcchuyên chở nhanh chóng để tránh ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa
e Tính thương hiệu là một yếu tố gắn liền và có ảnh hưởng trực tiếp đến hàng dệt may xuất khẩu
Ngay nay, quá trình diễn ra ngày càng gay gắt Do vậy hàng hóa không chỉcần có một chất lượng tốt, một giá thành hợp lý, cùng các yếu tố khác đã nêu ở trên
là đủ mà còn cần phải có một uy tín và thương hiệu trên thị trường Một hàng hóacàng có uy tín cao nhãn hiệu càng nổi tiếng thì khách hàng càng ưa chuộng và đặtlòng tin hoàn toàn vào sản phẩm họ chọn mua Điều này hoàn toàn đúng ở các thịtrường lớn như các nước phát triển Thậm chí đây còn là một trong những đặc trưngtiêu dùng của những người tiêu dùng ở đây
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải thừa nhận rằng, các doanh nghiệp củaViệt Nam vẫn chưa có hoặc có rất ít thương hiệu quốc tế nổi tiếng Thông thườngcác doanh nghiệp Việt Nam thường làm giá công xuất khẩu cho các nuớc khác vàcác sản phẩm đó được đóng nhãn mác là sản phẩm của nước đi thuê gia công.Những trường hợp đó xảy ra rất nhiều với mặt hàng dệt may xuất khẩu và trở thànhmột hình thức thông thường của quá trình xuất khẩu sản phẩm này ra thị trường
Trang 28nước ngoài Đó là nguyên nhân của việc sức cạnh tranh của các sản phẩm dệt mayViệt Nam chỉ được đánh giá rất thấp và gặp nhiều trở ngại khi tiến vào các thịtrường khó tính như EU Trong thời gian tới, các doanh nghiệp Việt Nam cần chútrọng hơn đến nhân tố này để nhằm nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trêntrường quốc tế và so với các đối thủ khác
1.1.6 Kinh nghiệm của một số nước về nâng cao sức cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường EU
Hàng dệt may Việt Nam hiện đang phải đối đầu với những nước có khả năngcạnh tranh rất cao,các nước này có rất nhiều thuận lợi và kinh nghiệm hoạt độngtrong cơ chế thị trường về các mặt như: vật tư, thiết bị, quản lý, tài chính, tiếp thị,nghiên cứu và phát triển Theo số liệu thống kê cho thấy VN đã lọt vào top 10 nước
và vùng lãnh thổ XK dệt may lớn nhất thế giới Theo tứ tự xếp hạng trong top 10nước dẫn đầu về XK dệt may, VN hiện đang đứng sau TQ, EU, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn
Độ, Mexico, Hong Kong (TQ), Bangladesh và gần bằng với Indonesia, Mỹ
Do vây với mục đích có được định hướng và giải pháp đúng đắn để pháttriển mặt hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường EU,, dưới đây tôi xin được đề cậpđến một số kinh nghiệm của các nước xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU
đã đạt được thành công trong thời gian qua như Inđônêsia, Trung Quốc, Ấn Độ
và để từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trên con đường pháttriển
1.1.6.1 Chính sách và kinh nghiệm từ Indonesia
Ngành dệt may hiện nay của Indonesia được đánh giá là một trong nhữngngành công nghiệp có triển vọng và được Chính phủ quan tâm hỗ trợ In đô nê xi a
là nước có số lượng sản phẩm dệt may đứng thứ ba sau Trung quốc và Ấn độ, hàngmay mặc xuất khẩu chiếm thị phần 1,7% ( xếp thứ 9) và có mặt ở trên 200 nước
Sự phát triển của ngành dệt may xuất khẩu của Inđonêxia trong thời gian qua là nhờvào những chiến lược đúng đắn của nhà nước Bao gồm:
Chiến lược thứ nhất là cơ cấu lại máy móc tại các nhà máy do máy móc quá
cũ hoặc lạc hậu Để thực hiện chiến lược này Bộ Công nghiệp Indonesia và Ngânhàng Trung ương Indonesia (BI) đã thành lập một nhóm công tác nhằm tìm cách đổi
Trang 29nguồn vốn ngắn hạn hiện có tại BI thành nguồn vốn trung và dài hạn thông qua các
kỹ thuật ứng dụng tài chính do việc tái cơ cấu máy móc cần các nguồn vốn trung vàdài hạn Đây là một bước tiến nhảy vọt về công nghệ, nhằm bắt kịp với sự thay đổichóng mặt của các công nghệ hiện đại trên thế giới
Bước chiến lược thứ hai, chính phủ sẽ hỗ trợ bảo đảm việc cung cấp cácnguyên vật liệu chính cho ngành dệt may, trong đó có các sản phẩm hoá dầu hiệnkhá khan hiếm Trong kế hoạch tổng thể phát triển hệ thống khí đốt đặc biệt nhằmphục vụ các ngành công nghiệp trong nước, chính phủ sẽ đảm bảo việc cung cấp khíđốt cho ngành hóa dầu Việc làm này đã giúp các doanh nghiệp phần nào giảm điđược gánh nặng về chí phí nguyên vật liệu sản xuất Từ đó, tăng mức chênh lệchgiữa giá cả và chi phí và đem lại tác động tích cực đến sức cạnh tranh của sản phẩmdệt may trên thế giới
Thứ ba, chính phủ sẽ nỗ lực nhằm bảo hộ ngành công nghiệp trong nướctrước môi trường kinh doanh không lành mạnh như buôn, nhập lậu ồ ạt hàng maymặc Ông Fahmi cho rằng, cần siết chặt cơ chế nhập khẩu hiện nay và yêu cầu sốhàng hoá này phải đi qua “ cửa đỏ “ của hải quan ( hàng hoá cần khai báo) Ông hivọng đến cuối năm nay, Indonesia sẽ có một cơ chế nhập khẩu thích hợp và lànhmạnh Bộ Công nghiệp nước này cũng tìm cách ngăn chặn hiện tượng chuyển tải “ma” các sản phẩm may mặc của Trung Quốc qua Indonesia, nghĩa là chỉ các chứng
từ xuất khẩu “ quá cảnh” của Indonesia, trong khi hàng hoá lại được xuất thẳng từTrung Quốc Để ngăn chặn tình trạng này, Bộ Công nghiệp đã hợp tác với các cơquan liên quan nhằm thẩm tra xem hàng hoá có thực sự được xuất khẩu từ Indonesiahay không và đánh giá mức độ buôn lậu dưới hình thức quá cảnh Đây là một hìnhthức bảo vệ các ngành sản xuất trong nước, để tạo nên một môi trường kinh doanhlành mạnh cho các doanh nghiệp trong nước, và từ đó tạo đà cho các doanh nghiệptăng sức bật cạnh tranh so với các đối thủ khác
Thứ tư, Bộ Công nghiệp sẽ khuyến khích các công ty dệt may tăng cườngsản xuất các mặt hàng có giá trị cao từ sợi tự nhiên như lụa và chính phủ sẽ hỗ trợbằng một kế hoạch tổng thể phát triển ngành sản xuất lụa quốc gia Với kế hoạchđổi mới này trong ngành dệt may xuất khẩu, Indonesia sẽ có được một đặc trưng
Trang 30riêng cho sản phẩm Đó là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnhtranh của sản phẩm.
1.1.6.2.Chính sách và kinh nghiệm từ Trung Quốc
Hiện nay Trung Quốc là cường quốc hùng mạnh nhất thế giới trong lĩnh vựcdệt may Với nguồn cung cấp nguyên liệu bông, len, sơ sợi, vải, máy móc thiết bị,hóa chất, thuốc nhuộm cho đến nguồn lực lao động, Trung Quốc đã tạo được khảnăng cạnh tranh rất lớn và trở thành nhà cung cấp dệt may lớn nhất của EU Năm
2003 lượng hàng dệt may xuất khẩu của Trung quốc sang EU chiếm 17,5% so vớitổng lượng hàng dệt may được nhập khẩu tại đây Năm 2005, chủ yếu là tăng nhậpkhẩu hàng Trung Quốc trên quy mô lớn (chiếm 71%), trong khi hàng sản xuất của
Mỹ lại giảm từ 2,6 tỉ đơn vị năm 2004 xuống còn 2,2 tỉ Đến nay Trung Quốc đãchiếm 28% thị phần hàng dệt may xuất khẩu trên toàn thế giới Để vươn lên vị tríđứng đầu như hiện nay về xuất khẩu dệt may, Trung Quốc đã thực hiện một số biệnpháp căn bản sau:
Nhờ vào chính sách hỗ trợ của nhà nước như: năm 1998/1999 trợ giá chomỗi kg bông 0,60 USD (giá bông lúc đó khoảng 1,2 USD), ngoài ra còn hỗ trợ vàkhuyến khích các mặt hàng xuất khẩu thông qua tỷ giá, cước phí vận tải… nên hàngdệt may Trung Quốc dễ dàng đánh bại hàng cùng loại của bất cứ nước nào
Để chuẩn bị cho giai đoạn hậu hạn ngạch ( hiệp định dệt may ATC hết hiệulực sau ngày 31/12/2004), từ năm 1998, Trung Quốc đã tiến hành nhiều chính sáchcải cách để phát triển ngành dệt may mạnh mẽ hơn như: mạnh dạn tư nhân hóa, chophá sản các DN Nhà nước làm ăn thua lỗ, đổi mới trang thiết bị, áp dụng công nghệmới, dám loại bỏ 10 triệu cọc sợi trong 3 năm 1998-2000, chuyển hơn 1,2 triệungười sang làm việc khác hoặc đào tạo lại, thu hút đầu tư nước ngoài để thúc đẩynăng lực cạnh tranh Kết quả của sự chuẩn bị này đã nâng mức kim ngạch xuất khẩuhàng dệt may của Trung Quốc lên 50 tỷ USD trong năm 2000, tăng 30% so năm
1999 Năm 2003 đạt khoảng 70 tỷ USD, tăng 12% so năm 2002 Nếu các nước nhậpkhẩu không có những rào cản mới Trung Quốc có thể dễ dàng đạt 100 tỷ USD(không kể Hồng Kông và Ma Cao) trong tổng kim ngạch thương mại dệt may thếgiới 350 tỷ USD vào năm 2005
Trang 31Dù các nước nhập khẩu có Luật Chống bán phá giá hoặc có điều khoản “tự
vệ đặc biệt” có thể áp đặt hạn ngạch khi cần thiết như Hoa Kỳ, song cũng khôngmấy dễ dàng cản trở Trung Quốc, vì nước này đã trở thành thành viên của WTO,nhiều DN Hoa Kỳ đã đầu tư vào Trung Quốc Việc chống lại hàng dệt may TrungQuốc khi đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính quyền lợi của người Mỹ.Các nhàphân tích khẳng định, kể cả Mỹ và EU cũng không thể ngăn chặn được Trung Quốcchiếm lĩnh thị trường dệt may trong những thập kỷ tới như Nhật Bản hiện nay(khoảng 80% thị phần)
1.1.6.3 Chính sách và kinh nghiêm từ một số nước khác
Một số nước có khả năng cạnh tranh hàng dệt may cao cũng đã có sự chuẩn
bị cho mình Để có được những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, bài nghiên cứutổng hợp một số chính sách đặc trưng của một số nước như Ấn Độ, Parkistan,ASEAN như sau
Ấn Độ với mức xuất khẩu mặt hàng dệt may sang EU chiếm 27,38% trongtổng lượng hàng xuất khẩu, hiện đang triển khai chương trình hiện đại hóa ngànhdệt với giá trị 6 tỷ USD, điều chỉnh chính sách thu hút đầu tư nước ngoài Dự kiếnnăm 2010 xuất khẩu 50 tỷ USD, trong đó 50% là hàng dệt, 50% là hàng may mặc
Tiếp đến là Pakistan, nước có nguồn nguyên liệu bông dồi dào và ngànhcông nghiệp dệt phát triển, chiếm tới 46% sản lượng công nghiệp, kim ngạch xuấtkhẩu hàng dệt may năm 2002 đạt 7,17 tỷ USD, chiếm trên 2/3 tổng kim ngạch xuấtkhẩu Từ năm 1998, 1999 nước này đã có những chính sách đầu tư mới, đổi mớicông nghệ, hiện đang triển khai xây dựng các khu “đô thị dệt” ở một số thành phốlớn Dự kiến sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 13,8 tỷ USD vào năm 2005
Các nước ASEAN như Singapore, Thái Lan, Philippines cũng có những lợithế riêng vì đã và đang đàm phán ký kết các Hiệp định Thương mại tự do songphương với Mỹ, EU Và dĩ nhiên hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt cácnước chậm phát triển lại càng bi quan hơn khi phải đối mặt với một cuộc cạnh tranhkhốc liệt không cân sức
Tóm lại, thông qua một số những biện pháp cụ thể đối với ngành dệt may
Trang 32xuất khẩu của một vài nước điển hình, Việt Nam đã có những bài học kinh nghiệm
và định hướng riêng cho mình để có được những giải pháp xác thực nhất với hoàncảnh của đất nước
1.2 SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG EU
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay và đặc biệt là sau sựkiện năm 2007 Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức thương mại WTO Đồngthời, mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU được bãi bỏhoàn toàn hạn ngạch thì sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của mặt hàng này
là bởi các nguyên nhân chính sau đây:
1.2.1 Vai trò to lớn của hàng dệt may xuất khẩu đối với Việt Nam
Thực tế cho thấy, hàng dệt may xuất khẩu đóng một vai trò rất quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam Được biểu hiện qua các mặt sau:
1.2.1.1 Là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam
Do đặc điểm rất thuận lợi như thời gian thu hồi vốn tuơng đối nhanh do qui
mô vốn đầu tư thấp, công nghệ đơn giản, đặc biệt với nguồn lao động khéo léo.Dệtmay được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Namthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành dệt may Việt Namhiện nay đang được xem là ngành sản xuất mũi nhọn và có tiềm lực phát triển khámạnh không chỉ đáp ứng mặt hàng nội địa mà còn trở thành ngành hàng xuất khẩuhàng đầu, trở thành lợi thế của Việt Nam
Bên cạnh đó, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 55/2001/QĐ-TT,
đã xác định phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành trọng điểm,mũi nhọn về xuất khẩu Chỉ tiêu đặt ra đối với ngành là đến năm 2010 đạt kimngạch xuất khẩu 8-9 tỷ USD Từ số liệu của Tổng cục Thống kê về doanh thu, lợinhuận, thuế và tỷ lệ tăng trưởng so với năm trước, cho thấy tốc độ tăng trưởng củadoanh thu, lợi nhuận toàn ngành luôn ở mức cao
1.2.1.2 Giải quyết công ăn việc làm cho toàn xã hội
Với đặc trưng riêng của ngành là sử dụng nhiều lao động với quá trình đào
Trang 33tạo nhanh đã có thể đi vào sản xuất Ngoài ra Việt Nam lại là nước có nguồn laođộng dư thừa rất nhiều và đặc điểm chung là khá khéo léo Do vậy đây là một trongnhững ngành thu hút được nhiều công việc nhất Theo thống kê của Hiệp hội DệtMay Việt Nam, hiện có khoảng 2 triệu lao động đang làm việc trong ngành dệtmay( chưa kể lao động gián tiếp, làm việc theo lĩnh vực cung cấp nguyên liệu nhưtrồng bông, trồng dâu tằm) chiếm một tỉ trọng tương đối lớn trong các ngành côngnghiệ.Bên cạnh đó về mặt xã hội, đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dântrong toàn xã hội, đem lại lợi ích lớn cho quốc gia.
1.2.1.3 Góp phần mở rộng mối quan hệ hợp tác quốc tế
Kể từ khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa sau thời kì tập trung bao cấp, nhànước đã đưa mục tiêu mở rộng mối quan hệ với các nước trên thế giới trên mọi lĩnhvực kinh tế - xã hội Cho đến nay, quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế ngày mộttrở nên sâu đậm và đạt được những kết quả như mong muốn, và thành tựu lớn nhấtchính là việc Việt Nam gia nhập tổ chức WTO Để có được những thành công đáng
kể như thế thì hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu hàng dệtmay nói riêng là rất lớn Góp phần mở rộng hơn, tạo mối quan hệ bền chăt hơn vớicác nước và các tổ chức khác nhau trên thế giới Tuy nhiên, với thực trạng yếu kém
về sức cạnh tranh của các mặt hàng cụ thể xuất khẩu trọng điểm của đất nước nhưgiày dép, dệt may, thuỷ sản….thì việc nâng cao sức cạnh tranh của những hàng hoátrong đó có Việt Nam là rất cần thiết trong điều kiện hiện nay
Như vậy, thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may và phát triển mặt hàng này trên
mũi tiến thương mại ra nước ngoài là một trong những chủ trương và chính sách rấtđúng đắn của Đảng và Chính phủ, phù hợp với tình hình phát triển của Việt Namtrong thời kì hiện nay
1.2.2 EU là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may đầy tiềm năng đối với Việt Nam
Khi mối quan hệ giữa Việt Nam và EU được tạo dựng, nó đã trở thành một
cơ hội và động lực rất lớn đối với các doanh nghiệp Bởi lẽ, cho đến nay, EU vẫnluôn là một thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam, đặc biệt là đối với thị trườnghàng dệt may Cụ thể như sau:
Trang 341.2.2.1 EU là một đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam
Kể từ năm 1995 đến nay, quan hệ thương mại của Việt Nam với các nướcthành viên của EU đã tăng nhanh, trao đổi thương mại trung bình khoảng15-20%/năm Năm 2002, kim ngạch hai chiều tăng gấp 20 lần so với năm 1990.Kim ngạch thương mại Việt Nam - EU năm 2003 đạt 6,8 tỷ USD (theo số liệu thống
kê của phía EU), đứng thứ hai sau Mỹ, trong đó ta tiếp tục xuất siêu (khoảng 1 tỉUSD) Xuất khẩu vào thị trường EU tăng mạnh (hơn 15%), nhất là với Anh, Pháp,Đức, Thuỵ Điển , Hà Lan Số liệu qua các năm về hoạt động thương mại Việt Nam– EU, đã khẳng định một cách rõ nét cho thấy rằng từ trước cho đến nay, EU vẫnluôn là một thị trường mục tiêu, một bạn hàng lớn của Việt Nam Hiện nay các họatđộng giao dịch trao đổi thương mại với EU chiếm 17% tổng giao dịch thương mạicủa Việt Nam và quốc tế Do đó Chính phủ, nhà nước và các doanh nghiệp luôn chútrọng và phát triển cũng như duy trì mối quan hệ thương mại tốt đẹp này Một trongnhững động lực thúc đẩy sự gia tăng trong hợp tác thương mại giữa Việt Nam và
EU, là do hai bên đã dành cho nhau ưu đãi thuế quan liên tục trong nhiều năm.Chính phủ Việt Nam cũng đã ban hành Đề án tổng thể về quan hệ Việt Nam - EU(14/6/2005) và Chương trình hành động về Quan hệ Việt Nam-EU giai đoạn 2006-
2010 và định hướng đến 2015 nhằm thúc đẩy quan hệ song phương
Cùng với Hiệp định khung, Việt Nam và EU cũng đã ký một số hiệp định,thỏa thuận về kinh tế-thương mại, đáng chú ý như Hiệp định Dệt may, Hiệp địnhtiếp cận thị trường Việt Nam và EU đã kết thúc đàm phán song phương về việcViệt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới từ năm 2004
Những năm gần đây, cộng đồng người Việt tại các nước EU cũng là một cầunối tích cực trong quan hệ thương mại giữa hai bên Hàng năm, cộng đồng ngườiViệt tại EU đã nhập khẩu một lượng hàng Việt Nam để bán tại các trung tâmthương mại và các cơ sở kinh doanh của người Việt tại các nước này Với tiềm nănglớn và những thuận lợi trong quan hệ thương mại như vậy, việc xuất khẩu hàng dệtmay sang thị trường EU đã và đang trở thành mục tiêu và mối quan tâm của các đơn
vị, tổ chức của Việt Nam
1.2.2.2 Cơ cấu kinh tế EU đang có xu hướng chuyển dịch theo hướng tăng nhập
Trang 35cơ cấu ngành hàng nhập khẩu của EU, nhu cầu với các sản phẩm dệt may đang ngàymột tăng lên Đó chính là một điểm thuận lợi rất lớn với các doanh nghiệp xuấtkhẩu hàng dệt may của Việt Nam.
1.2.2.3 EU là một thị trường lớn, có nhu cầu đa dạng
Theo các chuyên gia Vụ Xuất nhập khẩu, đặc điểm của khu vực thị trường
EU là nhiều thị trường “ngách” có mức sống và nhu cầu hàng dệt may rất đa dạng
từ hàng có phẩm cấp thấp đến hàng có chất lượng cao phù hợp năng lực sản xuấtnhiều thành phần của Việt Nam Bên cạnh đó, EU là khối thương mại chung lớnnhất thế giới gồm có 27 quốc gia, hoạt động giao thương buôn bán giữa các nướcliên thông với nhau Vì vậy, hàng hoá một khi thâm nhập vào được một thị trườngbất kì nào trong khối sẽ dễ dàng tiếp cận được với các thị trường còn lại
Như thông tin từ Vụ châu Âu, hàng năm, tổng giá trị giao dịch của thị trường
EU đạt ở mức 8.000 tỷ Euro, trong đó lượng hàng hoá phải nhập khẩu mỗi nămluôn chiếm đến 10% tổng giá trị của thị trường tương ứng với khoản 800 tỷ Euro.Vìvậy đưa hàng hoá thâm nhập thị trường Liên minh châu Âu (EU) là tham vọng củahầu hết các doanh nghiệp sản xuất và nhà xuất khẩu trên thế giới
1.2.2.4 Chính sách ưu đãi của EU với Việt Nam
EU được đánh giá là thị trường tiềm năng của VIệt Nam còn được thể hiệntrong chính sách của EU đối với Việt Nam, trong hợp tác giữa EU và ASEAN đượcphát triển mạnh vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước; nhất là sau khi hai bên kýcác hiệp định về hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật với các mục tiêu:Bảo đảm các điều kiện cần thiết để thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư trên cơ sởcùng có lợi và dành cho nhau Quy chế Tối huệ quốc (MFN); Trợ giúp phát triển
Trang 36kinh tế bền vững ở Việt Nam, đặc biệt chú trọng cải thiện đời sống cho các tầng lớpdân cư nghèo và trợ giúp các nỗ lực của Việt Nam trong chuyển dịch cơ cấu nềnkinh tế theo cơ chế thị trường nhằm bảo vệ môi trường và sử dụng nguồn tài nguyênthiên nhiên theo hướng phát triển bền vững.
Kể từ 11/01/2007, khung pháp lý về thị trường thương mại, dịch vụ giữa ViệtNam và EU đã được mở hoàn toàn Một thời kỳ mới với nhiều cơ hội và thách thứcđang mở ra Vấn đề quan trọng và có tính quyết định là các doanh nghiệp cần nắmvững và vận hành thật tốt các chính sách, thể chế, quy định của WTO nói chung và
EU nói riêng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụcủa đơn vị, ngành hàng mình, nhằm góp phần đưa Việt Nam hội nhập sâu vào nềnkinh tế thế giới
1.2.4 Sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam vào thị trường EU còn bị hạn chế
Bên cạnh những cơ hội lớn được đặt ra trước mắt cho các doanh nghiệp ViệtNam thì một hạn chế gây cản trở rất lớn của hàng dệt may Việt Nam chính là sứccạnh tranh của sản phẩm Thể hiện qua các mặt sau:
1.2.4.1 Kim ngạch xuất khẩu thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của Việt Nam
Từ năm 1993, hàng dệt may Việt Nam bắt đầu tìm đường ra thế giới, và đến
1996 lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu vượt qua mức 1 tỷ USD, trong đó sản phẩmdệt may từ vị trí khiêm tốn trong các sản phẩm xuất khẩu chủ lực đã dần vươn lên vịtrí số 1 và đến nay thì ổn định ở vị trí số 2 với kim ngạch xuất khẩu luôn tăng Đặcbiệt EU là thị trường xuất khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất, chiếm 80%tổng kim ngạch xuất khẩu có hạn ngạch của Việt Nam Theo số liệu thống kê, trongnhững giai đoạn 2005 – 2008 kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may đã đạt trên 1tỷUSD Tuy nhiên, nếu so sánh tổng thể và so sánh với các nước khác, ta thấy rằngkim ngạch xuất khẩu đó vẫn được coi là thấp, bởi lẽ nó chưa phải là kết quả nhưchúng ta mong muốn và chờ đợi với những nguồn lực đã bỏ ra Thực tế, kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng mà chúng ta đang có nhưnguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ nhất so với các nước xuất khẩu dệt may
Trang 37Bên cạnh đó, những ưu đãi về thương mại mà Việt Nam được hưởng từ phía EUcũng không phải là một cơ hội dễ dàng mà tất cả các nước đạt được So sánh vớiTrung Quốc, mặc dù trong những năm gần đây, Trung Quốc gặp rất nhiều tháchthức từ phía các nước nhập khẩu EU, Hoa Kỳ, về việc hạn chế số lượng hàng TrungQuốc Nhưng liệu vấn đề này có thể trở thành một cơ hội tốt cho dệt may Việt Namđược hay không? Thì câu trả lời lại hoàn toàn ngược lại, mặc dù vướng mắc vớinhững hạn chế đó nhưng Trung Quốc vẫn luôn là đối thủ cạnh tranh lớn của ViệtNam trên thị trường dệt may xuất khẩu nói riêng.Số liệu thống kê cho thấy, trongnăm 2006, các công ty Trung Quốc đã xuất khẩu quần áo, vài vóc và xuất khẩu cácsản phẩm hàng dệt may trị giá khoảng 144 tỷ USD, tăng ở mức hai con số, cho dù
có nhiều vụ tranh chấp với một số các khách hàng chủ chốt
1.2.4.2 Chất lượng hàng hóa thấp kém
Bãi bỏ quota vào thị trường EU là tín hiệu đáng vui mừng nhất của dệt mayViệt Nam năm 2005, nhưng thực tế lại không như mong muốn của các doanhnghiệp và các nhà hoạch định chính sách Bãi bỏ quota có ý nghĩa là giảm bớt khókhăn cho doanh nghiệp xuất khẩu để có được một điều kiện cạnh tranh bình đẳng.Tuy nhiên, với khách hàng khó tính như EU, các nhà doanh nghiệp Việt Nam vẫn
cứ phải e dè Bởi chất lượng và yêu cầu đòi hỏi của thị trường EU phức tạp và cầu
kỳ hơn Mỹ Trong khi đó, chất lượng hàng dệt may của Việt Nam hiện nay chỉ đạtmức độ trung bình và chỉ đáp ứng được nhóm khách hàng cấp 2, và cấp 3 của thịtrường EU
1.2.4.3 Hạn chế do nhập khẩu nguyên vật liệu
Ngành dệt may Việt Nam vẫn đang có nhiều khó khăn, thách thức để pháttriển bền vững ở thị trường EU Khó khăn đầu tiên lại xuất phát từ ngay trong ngànhdệt may, đặc biệt khi các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển tương xứng Dothiếu công nghiệp phụ trợ nên ngành dệt may Việt Nam gần như phụ thuộc vào thịtrường thế giới cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu Cho đến thời điểm này, ngoài lợi thế laođộng ra, còn lại đều phải nhập khẩu với tỷ lệ lớn như: 100% máy móc thiết bị, phụtùng; 100% xơ sợi hoá học: 90% bông xơ thiên nhiên chủ yếu nhập từ Mỹ; 70% vảicác loại; 67% sợi dệt cũng là nhập khẩu Các loại phụ liệu như chỉ may, mex dựng,
Trang 38khoá kéo cũng phải nhập khẩu từ 30-70% tổng nhu cầu Tính đến 2006, năng lựcsản xuất toàn ngành về nguyên liệu của Việt Nam là: xơ bông 10.000 tấn/năm (5%nhu cầu); xơ sợi tổng hợp 50.000 tấn (30% nhu cầu); sợi xơ ngắn: 260.000 tấn (60%nhu cầu) Đối với sản xuất dệt nhuộm: vải dệt kim 150.000 tấn (60% nhu cầu); dệtthoi 680 triệu m2 (30% nhu cầu) Từ số liệu trên có thể thấy, ngành dệt may ViệtNam đang “đi trên đôi chân của người khác” Đây là một trong những nguyên nhânchính làm hạn chế khả năng cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp dệt may ViệtNam so với các cường quốc xuất khẩu dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan.
1.2.4.4 Năng lực quản trị ngành kém
Toàn ngành dệt may hiện có khoảng 2.000 doanh nghiệp, trong đó: DNNNchiếm 0,5%, FDI chiếm 25% và phần lớn là doanh nghiệp tư nhân và công ty cổphần Xét trên quy mô, phần lớn các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thuộc loại vừa
và nhỏ Với quy mô đó, nếu không liên kết với một số doanh nghiệp lớn thì nhữngdoanh nghiệp này khó tồn tại chứ chưa nói dến việc cạnh tranh quốc tế Thực tế chothấy, cứ xoá bỏ hạn ngạch đến đâu thì hàng dệt may Việt Nam mất hoặc giảm thịphần đến đó vì các doanh nghiệp thiếu những nhà quản trị giỏi, thiếu kỹ năng tiếpcận thị trường và năng suất lao động lại thấp nên không thể cạnh tranh ngang bằngvới Bangladesh, Srilanca, Thái Lan, Indonesia và cường quốc dệt may Trung Quốctrên thị trường EU Và kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU bị giảm sút nghiêmtrọng nhất trong 3 thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam
**************
Tóm lại, Chương 1 đã hệ thống và phân tích được những lí luận cơ bản liên
quan đến cạnh tranh và sức cạnh tranh Để đánh giá được sức cạnh tranh của sảnphẩm có hệ thống các tiêu chí như doanh thu, giá bán, chi phí, chất lượng, vệ sinh
an toàn và mức độ uy tín của sản phẩm trên thị trường Các tiêu chí đánh giá trên sẽ
là cơ sở để đưa ra các công cụ, biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao sức cạnh tranh vềsản phẩm cho các doanh nghiệp
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, hàng dệt may xuấtkhẩu Việt Nam cần phải nâng cao sức cạnh tranh của mình vào thị trường EU là do:
Trang 39vai trò chủ lực của ngành dệt may xuất khẩu đối với Việt Nam, EU là một thịtrường nhập khẩu hàng dệt may đầy tiềm năng của Việt Nam, bên cạnh đó sức cạnhtranh của mặt hàng này còn có nhiều hạn chế đặc biệt là trên thị trường EU.
Bằng những chính sách và kinh nghiệm từ các nước như Indonesia, TrungQuốc, Ấn Độ….đã đưa ra cho Việt Nam những bài học quí báu để từ đó có đượcchính sách cho riêng mình, phù hợp với hoàn cảnh và định hướng phát triển ngànhdệt may xuất khẩu của Việt Nam đặc biệt là đối với thị trường EU Toàn bộ những
lý luận cơ bản sức cạnh tranh, bài học kinh nghiệm được rút ra từ các đối thủ cạnh
tranh là cơ sở quan trọng để đánh giá và phân tích chương 2 “ Thực trạng sức cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU”.
Trang 40CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH HÀNG DỆT MAY XUẤT KHẨU
CỦA VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNG EU
2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VÀ QUI ĐỊNH CỦA THỊ TRƯỜNG EU ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY NHẬP KHẨU
2.1.1 Giới thiệu chung về EU
Ngày 1-1-1994 Cộng đồng Châu Âu ( EC ) đổi tên thành liên minh Châu Âu(EU) Cộng đồng Châu Âu ( EU) có trụ sở đạt tại Brucxen - thủ đô của Bỉ Trướcnăm 1995, EU chỉ có 15 thành viên bao gồm: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lucxambua, Ailen, Anh, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, ThuỵĐiển, Phần Lan Tuy nhiên đến ngày 1/5/2004 con số này đã tăng lên 25, với 10thành viên mới được kết nạp là Séc, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva,Latvia, Ostonia, Malta, Síp Với sự phát triển không ngừng về kinh tế - xã hội, khốicộng đồng chung EU lại tiếp tục mở rộng qui mô và cho đến ngày 1/1/2007 sốlượng thành viên đã tăng lên 27 thành viên với Rumania, Bulgaria
Lĩnh vực quan trọng nhất cho quá trình hợp nhất hoá của các thành viên cóảnh hưởng đến thương mại đó là sự thống nhất các quy định giữa các nước trongkhối EU Do sự hợp nhất cho phép các luồng vốn, hàng hoá, dịch vụ và con người
tự do lưu chuyển, ranh giới giữa các quốc gia phải được dỡ bỏ và hàng hoá sản xuấthoặc nhập khẩu vào một nước thành viên này có thể di chuyển giữa các quốc giakhác mà không bị giới hạn hoặc quản chế Đặc biệt là vào ngày 1 tháng 1 năm 1999,đồng Euro đã trở thành đồng tiền hợp pháp giữa 11 nước thành viên của EU gồm:
Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Ailen, Luc-xăm-bua, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ ĐàoNha Đồng tiền riêng của các quốc gia này hiện đã trở thành những đơn vị tiền tệnhỏ hơn của Euro những vẫn được tiếp tục được lưu hành hợp pháp cho hết năm
2002.Sự hình thành của cộng đồng chung EU đã tác động rất lớn đến toàn diện củanền kinh tế
Hiện nay, cơ cấu tổ chức của EU bao gồm có 4 cơ quan chính là: Hội đồng