Tính cấp thiết của đề tài Kể từ khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc được bình thường hóa 11/1991 đến nay, nhiều văn bản, hiệp định đã được ký kết giữa hai nước, đã tạo cơ sở pháp lý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN KIM BẢO
HÀ NỘI - 2008
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 6
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1.1 THUYẾT TỰ DO THƯƠNG MẠI 6
1.1.1.1 LÝ THUYẾT “BÀN TAY VÔ HÌNH” CỦA ADAM SMITH 6
1.1.1.2 LÝ THUYẾT “BÀN TAY HỮU HÌNH” CỦA JONH MAYNARD KEYNES 8
1.1.1.3 LÝ THUYẾT “KINH TẾ HỖN HỢP” CỦA SAMUELSON 9
1.1.2 LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 11
1.1.2.1 CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG 11
1.1.2.2 THUYẾT “LỢI ÍCH TUYỆT ĐỐI”CỦA ADAM SMITH (1723 – 1790) 12
1.1.2.3 TƯ TƯỞNG CỦA RICARDO (1772-1823) VỀ LỢI ÍCH SO SÁNH 12
1.1.2.4 ĐỊNH LÝ HECKSCHER - OHLIN 13
1.1.3 LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN 15
1.1.4 QUAN ĐIỂM CỦA TRUNG QUỐC VỀ NGOẠI THƯƠNG TRONG THỜI KỲ CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA 18
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 19
1.2.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 19
1.2.1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 19
1.2.1.2 KHÍ HẬU 20
1.2.1.3 TÀI NGUYÊN BIỂN 21
Trang 41.2.1.4 TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN 21
1.2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 22
1.2.2.1 XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA, KHU VỰC HÓA KINH TẾ 22
1.2.2.2 CHÍNH SÁCH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 24
1.2.2.3 CHÍNH SÁCH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA TRUNG QUỐC 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 30
2.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC 30
2.1.1 GIAI ĐOẠN TỪ 1991 - 1995: THỜI KỲ KHỞI ĐỘNG 30
2.1.2 GIAI ĐOẠN TỪ 1996 – 2000: THỜI KỲ PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH 33
2.1.3 GIAI ĐOẠN TỪ 2001 ĐẾN NAY: THỜI KỲ HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ 37
2.2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC 40
2.2.1 KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 40
2.2.2 CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU 42
2.2.3 CHỦ THỂ THAM GIA XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 50
2.2.4 PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN 52
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC 52
2.3.1 NHỮNG THÀNH TỰU 53
2.3.2 NHỮNG HẠN CHẾ 56
2.2.3 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG HẠN CHẾ 60
Trang 5CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ HƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 65 3.1 BỐI CẢNH MỚI TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 65
3.1.1 TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM ĐỀU LÀ THÀNH VIÊN CỦA
WTO 653.1.2 TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM ĐỀU THAM GIA VÀO HỢP
TÁC KHU VỰC 663.1.3 VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC THAM GIA HỢP TÁC KINH TẾ
VÙNG 68
3.2 MỘT SỐ ĐIỀU CHỈNH VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH CỦA HAI NƯỚC SAU KHI HAI NƯỚC GIA NHẬP WTO693.2.1 VỀ PHÍA TRUNG QUỐC 693.2.2 VỀ PHÍA VIỆT NAM 71
3.3 TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 73
3.3.1 NHỮNG NHÂN TỐ THUẬN LỢI THÚC ĐẨY QUAN HỆ
THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI 733.3.2 TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG
QUỐC TRONG NHỮNG NĂM TỚI 75
3.4 NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VIỆT NAM-TRUNG QUỐC 79
3.4.1 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CHO
PHÙ HỢP VỚI THÔNG LỆ QUỐC TẾ, TẠO CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC 79 3.4.2 NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO ĐỊA PHƯƠNG CỦA HAI
NƯỚC 81
Trang 63.4.3 NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH
HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC 82 3.4.4 THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH HỢP TÁC XÂY DỰNG “HAI HÀNH
LANG VÀ MỘT VÀNH ĐAI KINH TẾ” 86 3.4.5 TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI
TẠI CÁC CỬA KHẨU VÀ TRÊN TOÀN TUYẾN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC 88 3.4.6 TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHỢ BIÊN GIỚI VÀ
QUẢN LÝ VIỆC MUA BÁN, TRAO ĐỔI HÀNG HOÁ TẠI CÁC CHỢ BIÊN GIỚI 89 3.4.7 HOÀN THIỆN THỦ TỤC THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG Ở
KHU VỰC BIÊN GIỚI 903.4.8 TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG BUÔN LẬU VÀ
GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 90
KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc được bình thường hóa (11/1991) đến nay, nhiều văn bản, hiệp định đã được ký kết giữa hai nước, đã tạo
cơ sở pháp lý thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển và đạt được một số thành tựu quan trọng Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước ngày càng tăng Năm 1991, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Trung Quốc đạt 37,7 triệu USD, đến năm 2007 đạt 15.559 triệu USD, gấp 413 lần so năm 1991 Với tốc độ tăng trưởng nhanh, hiện nay Trung Quốc đang trở thành bạn hàng lớn nhất của Việt Nam Việc tham gia vào kinh tế toàn cầu và khu vực đã mở ra cho hai nước nhiều cơ hội, cụ thể là hệ thống pháp luật và chính sách thương mại ngày càng minh bạch, thị trường xuất khẩu được mở rộng, hàng rào thuế quan đang dần được
dỡ bỏ giữa hai nước, cơ sở hạ tầng thương mại cũng đang được hai nước quan tâm phát triển Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng đưa lại những thách thức, đó là cạnh tranh hàng hóa của Việt Nam với hàng hóa của các nước trong khu vực và hàng hóa của Trung Quốc ngày càng diễn ra gay gắt Chất lượng sản phẩm yêu cầu ngày càng cao hơn Bên cạnh đó, quan hệ thương mại giữa hai nước còn nhiều vấn đề phải tiếp tục giải quyết như việc triển khai các văn: Thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc còn quá lớn, tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại có dấu hiệu gia tăng, ô nhiễm môi trường đang trở thành hiện tượng phổ biến, các doanh nghiệp Việt Nam còn thụ động, phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc
Đề tài “Quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc” được lựa chọn nghiên cứu góp phần đáp ứng yêu cầu trình bày ở trên, nhằm tìm ra các giải pháp chủ yếu làm cho quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc không ngừng mở rộng và phát triển bền vững trong những năm tới
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay đã có tài liệu trong và ngoài nước nghiên cứu về quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc, song chưa nhiều và đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau Nhưng chưa có tài liệu nào nghiên cứu đánh giá một cách tổng quát quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ 1991 đến nay, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc trong những năm tới, nhất là trong bối cảnh mới Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của WTO
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển quan hệ
thương mại hai nước Đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc từ 1991 đến nay và đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
hoạt động thương mại hàng hóa giữa hai nước
* Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận cơ bản về thương mại quốc tế;
nghiên cứu bối cảnh mới trong nước và quốc tế tác động tới thương mại hai nước; khảo sát và đánh giá thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc; đánh giá triển vọng phát triển thương mại hai nước trong thời gian tới; đề xuất một số giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại hai nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc dưới góc độ kinh tế chính trị
* Phạm vi nghiên cứu: Thương mại hàng hoá giữa Việt Nam – Trung Quốc
1991 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện
chứng; Sử dụng phương pháp thống kê; Kết hợp mô hình phân tích, so sánh và dự báo kinh tế
6 Những đóng góp mới của luận văn: Trên cơ sở phân tích quan hệ thương
mại Việt Nam - Trung Quốc hiện nay Đề tài đưa ra một số vấn đề gợi mở cho Việt Nam nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa hai nước
7 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thương mại quốc tế
Chương 2: Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc từ
1991 đến nay
Chương 3: Các giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Thuyết tự do thương mại
Ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII, thuyết Tự do thương mại phát triển thịnh hành vào thế kỷ XIX trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tại Tây Âu và Bắc Mỹ Thuyết Tự do thương mại xuất hiện đầu tiên ở Anh, sau đó là ở nước Tây Âu như Hà Lan, Pháp, Đức Tuy nhiên, mức độ áp dụng những quan điểm này ở các nước, ở các thời kỳ lịch sử là khác nhau Điều này được thể hiện rõ nét qua các học thuyết sau
1.1.1.1 Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith
Lý thuyết về “Bàn tay vô hình” của Adam Smith có ảnh hưởng lớn ở các nước phương Tây vào cuối thế kỷ XVII đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX Với tư tưởng tự do kinh tế, Adam Smith cho rằng, nền kinh tế phải được phát triển trên cơ
sở tự do kinh tế, tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch A Smith
đề cao vai trò của “bàn tay vô hình” và cho rằng, hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa được phát triển theo sự điều tiết của bàn tay vô hình Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế mà chỉ có thể thực hiện những chức năng kinh tế khi mà chức năng đó vượt quá khả năng của các đơn vị kinh doanh đơn lẻ
1.1.1.2 Lý thuyết “Bàn tay hữu hình” của Jonh Maynard Keynes
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản lâm vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, thất nghiệp diễn ra thường xuyên Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 hay còn gọi khủng hoảng thừa Học thuyết kinh
tế “Chủ nghĩa tư bản được điều tiết” của Jonh Maynard Keynes ra đời
Cùng với quan điểm của chủ nghĩa Trọng thương, Keynes ra sức tán thành xuất siêu, phản đối nhập siêu Ông chủ trương mở rộng xuất khẩu bằng mọi cách, đồng thời nhờ sự giúp đỡ của việc bảo vệ thuế quan và khuyến khích “mua hàng của Anh” để hạn chế nhập siêu
Theo Keynes, để đảm bảo sự cân bằng của nền kinh tế thì phải cần đến sự can thiệp của nhà nước Từ đó Keynes đã đưa ra lý thuyết về bàn tay hữu hình Theo thuyết đó, thông qua những hỗ trợ của nhà nước như là những biện pháp để duy trì cầu đầu tư, thông qua hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, thông qua hệ thống các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống thu mua của nhà nước để tạo ra
sự ổn định về môi trường kinh doanh, ổn định thị trường, ổn định về lợi nhuận cho
Trang 10các công ty
1.1.1.3 Lý thuyết “Kinh tế hỗn hợp” của Samuelson
Lý thuyết “Kinh tế hỗn hợp” của Samuelson là sự kết hợp giữa cơ chế thị trường và nhà nước Samuelson cho rằng, cơ chế thị trường là hình thức tổ chức kinh tế, nó mang nặng yếu tố tự phát, nhưng là trật tự kinh tế có tính quy luật Trật tự này có nhiệm vụ kết nối các kết giao kinh tế của hàng triệu cá nhân với nhau Để thực hiện được nhiệm vụ này, ông cho đó là sức mạnh của thị trường Theo ông, cơ chế thị trường sẽ đưa nền kinh tế đạt được những thành tựu đáng
kể Ngược lại, nó cũng gây ra một số khuyết tật của thị trường, đó là khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát
Samuelson cho rằng, nhà nước nên tập trung vào 4 chức năng sau: (1) Thiết lập khuôn khổ pháp luật (2) Sửa chữa những thất bại của thị trường (3) Ổn định kinh tế vĩ mô (4) Đảm bảo sự công bằng xã hội Theo Samuelson, việc đưa ra những chính sách và phương án lựa chọn của nhà nước không phải lúc nào cũng đúng Vì vậy, vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng có những giới hạn Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường và khắc phục những giới hạn trong vai trò của nhà nước, theo Samuelson phải kết hợp cả cơ chế thị trường và vai trò nhà nước trong điều hành nền kinh tế hiện đại, hình thành nên một nền kinh tế hỗn hợp
1.1.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế
1.1.2.1 Chủ nghĩa Trọng thương
Chủ nghĩa Trọng thương là trường phái kinh tế lớn đầu tiên của lịch sử nhân loại, nó ra đời ở giữa thế kỷ XV Tư tưởng chính của chủ nghĩa Trọng thương là: Muốn gia tăng khối lượng tiền tệ phải phát triển ngoại thương và thực hiện chính sách xuất siêu, tăng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu Lợi nhuận đạt được trong buôn bán là kết quả của trao đổi không ngang giá và lường gạt
Những người theo học thuyết Trọng thương kêu gọi nhà nước phải can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế như: Lập hàng rào thuế quan; miễn thuế nhập khẩu cho các loại nguyên liệu phục vụ cho sản xuất; cấm xuất khẩu tài nguyên thô; tài trợ xuất khẩu, duy trì quota và đánh thuế suất nhập khẩu cao đối với nhập khẩu hàng tiêu dùng Có thể nói, chủ nghĩa Trọng thương là những học thuyết kinh tế đầu tiên mở đường cho việc nghiên cứu hiện tượng và lợi ích của thương mại quốc tế
1.1.2.2 Thuyết “lợi ích tuyệt đối”của Adam Smith (1723 – 1790)
Trong tác phẩm “Sự giàu có của các dân tộc”, năm 1776, A Smith đã đưa ra
Trang 11thuyết “lợi ích tuyệt đối” Adam Smith cho rằng: một nước phải sản xuất những sản phẩm sở trường nhất của nước mình, tức là những sản phẩm mà giá thành sản xuất tuyệt đối rẻ, rồi dùng những sản phẩm này trao đổi với các nước khác, đem về những sản phẩm không phải sở trường sản xuất của mình nhất, tức là những sản phẩm mà giá thành sản xuất cao Kiểu phân công quốc tế này sẽ làm hai nước tiết kiệm được nhiều lao động, nâng cao hiệu suất bố trí sắp xếp tài nguyên sản xuất, từ đó thu được một số lượng hàng hóa nhiều hơn là trong điều kiện đóng cửa giữ mình, tức là thu được lợi ích tuyệt đối của mậu dịch
1.1.2.3 Tư tưởng của Ricardo (1772-1823) về lợi ích so sánh
Ricardo đưa ra quan điểm mậu dịch quốc tế trên cơ sở thuyết lợi ích tuyệt đối của Adam Smith Ricardo cho rằng: Tăt cả các quốc gia ở bất kỳ trình độ và điều kiện sản xuất nào, khi tham gia vào mậu dịch quốc tế thì đều có lợi Những quốc gia có lợi thế tuyệt đối hơn các nước khác hoặc kém các nước khác trong sản xuất sản phẩm vẫn có thể và có lợi khi tham gia phân công lao động, vì một nước có lợi thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh các mặt hàng khác
có thể sản xuất những sản phẩm đòi hỏi sử dụng một số lượng lớn yếu tố giá rẻ loại này, từ đó có ưu thế giá thành so sánh về mặt sản xuất sản phẩm đó Vì vậy, một nước phải xuất khẩu những sản phẩm trong sản xuất tập trung sử dụng những yếu
tố sản xuất tương đối phong phú của mình, nhập khẩu những sản phẩm trong sản xuất tập trung sử dụng những yếu tố sản xuất tương đối khan hiếm thiếu của mình Các nước dựa vào yếu tố sản xuất phong phú và hiếm thiếu để tiến hành phân công quốc tế, làm cho yếu tố sản xuất được sử dụng hữu hiệu nhất
1.1.3 Lý thuyết thương mại quốc tế trong điều kiện các quốc gia đang phát triển
Để đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu về kinh tế, các nước đang phát triển đã trải qua một trong những chiến lược phát triển kinh tế sau:
- Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu: Sử dụng thuế và các hạn
Trang 12ngạch nhập khẩu nhằm bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước Với chiến lược này, nhiều nước đã khai thác, phát huy được tiềm năng, thế mạnh về lao động, tài nguyên và đã đạt được tốc độ cao về tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, việc bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ đã khiến nhiều quốc gia hoàn toàn không có khả năng đối mặt với sự cạnh tranh trên thế giới
- Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế: chiến lược này thường áp dụng cho những nước ở vào thời kỳ đầu công nghiệp hóa, nhờ có lợi thế so sánh về một số sản phẩm xuất khẩu như cao su, cà phê, dầu dừa, dầu cọ, quặng kim loại Tuy nhiên, các sản phẩm này thường bị tác động bởi sự biến động giá cả trên thị trường thế giới, giá cả thấp, gây hậu quả xấu về môi trường sinh thái
- Chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu: khuyến khích việc sản xuất và xuất khẩu các loại hàng hóa các nước đang phát triển có lợi thế so sánh Tuy nhiên, việc xuất khẩu các sản phẩm sang các nước phát triển gặp nhiều khó khăn, do các nước phát triển đã và đang sử dụng nhiều biện pháp nhằm hạn chế nông sản nhập khẩu từ các nước đang phát triển
- Chiến lược phát triển hỗn hợp: là sự kết hợp hai hay ba loại chiến lược nói trên Mặc dù cho đến nay chưa có sự tổng kết đầy đủ về những nước đã áp dụng chiến lược này, song tấm gương của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Indonexia, Trung Quốc đã thành công lớn trong việc phát triển kinh tế nhờ kết hợp cả hai chiến lược hướng nội, hướng ngoại, trong đó ưu tiên phát triển mạnh hướng ngoại Chiến lược này đang trong xu thế phát triển đầy hứa hẹn, hiện đang được thế giới (đặc biệt là các nước đang phát triển) quan tâm
1.1.4 Quan điểm của Trung Quốc về ngoại thương trong thời kỳ cải cách và
mở cửa
Một số quan điểm mới về ngoại thương của Trung Quốc những năm qua Cụ thể: 1) Xóa bỏ tư tưởng tự cấp tự túc và khẳng định lợi ích của nền kinh tế khi tham gia phân công lao động và cạnh tranh quốc tế 2) Thừa nhận lý thuyết về lợi thế so sánh trong buôn bán quốc tế, khẳng định rằng: để mở rộng xuất khẩu, Trung Quốc cần tận dụng đầy đủ các lợi thế của mình, đặc biệt là lợi thế về lao động rẻ 3) Cần phi tập trung hóa việc quản lý ngoại thương 4) Khẳng định giá cả hàng hóa
về cơ bản do cung cầu thị trường quyết định 5) Phát triển kinh tế nhiều loại sở hữu, coi kinh tế công hữu là chủ thể, kinh tế nhiều loại sở hữu cùng phát triển
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Những điều kiện thuận lợi thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam –
Trang 13Trung Quốc
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Việt Nam và Trung Quốc có chung đường biên giới dài khoảng 1353 km, bao gồm 7 tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam tiếp giáp với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây Trung Quốc Đặc biệt, Việt Nam nằm ở điểm trung gian nối Trung Quốc với ASEAN trên các tuyến đường xuyên á, hành lang Đông – Tây, cũng như trong khuôn khổ hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng Với vị trí địa lý nêu trên, Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển việc mua bán, trao đổi hàng hóa và phát triển các hoạt động hợp tác về kinh tế – xã hội khác
1.2.1.2 Khí hậu
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới và Trung Quốc với khí hậu ôn đới Với khí hậu trên đã tạo điều kiện cho hai nước phát triển một số cây trồng và nông sản nhiệt đới và ôn đới Những mặt hàng này đang được trao đổi với khối lượng lớn giữa hai nước, thể hiện sự bổ sung, hỗ trợ các mặt hàng khan hiếm trong nước cho nhau
1.2.1.3 Tài nguyên biển
Với nhiều sông ngòi và bờ biển dài,Việt Nam rất có tiềm năng phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản Hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới Trung Quốc cũng là một trong những thị trường xuất khẩu thủy sản truyền thống của Việt Nam
1.2.1.4 Tài nguyên khoáng sản
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú và dồi dào Mỏ than Hòn Gai là mỏ than gầy nổi tiếng của thế giới, ngoài ra các tỉnh biên giới còn
có nguồn tài nguyên phong phú như quặng sắt, nhôm, mangan v.v đây là những mặt hàng có nhu cầu lớn ở thị trường Trung Quốc
1.2.2 Cơ sở thực tiễn thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc
1.2.2.1 Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa kinh tế
* Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế:
Trong những năm gần đây, xu hướng tự do hóa thương mại diễn ra theo chiều hướng phạm vi ngày càng được mở rộng Nội dung ngày càng được phát triển theo
bề sâu Các nước đang phát triển muốn liên kết để khẳng định tiếng nói của mình
Vị trí của Trung Quốc có lợi cho các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước trong khu vực có vị trí và cơ cấu sản xuất gần với Trung Quốc Việc mở rộng phạm vi và tăng độ sâu của tiến trình đa phương cũng như vai trò ngày càng tăng của các nước đang phát triển làm cho tiến trình trong đàm phán thương mại đa phương có dấu hiệu giảm tốc độ
Trang 14* Xu hướng khu vực hóa kinh tế
Quá trình tự do hóa thông qua các Hiệp định mậu dịch tự do và quá trình nhất thể hóa về kinh tế đang diễn ra một cách mạnh mẽ Đặc biệt là xu hướng này đang bùng nổ mạnh mẽ trong khu vực Đông Á So với thập kỷ 90, xu hướng khu vực hóa gần đây đã có nhiều khác biệt, cụ thể là: diễn ra giữa các nước có hoặc không cùng một khu vực địa lý; nội dung hết sức khác biệt về phạm vi, mức độ cam kết, không theo chuẩn mực thống nhất; Việc ký kết thường tập trung vào một khu vực địa lý, do một số nước khởi xướng
Nhận thức được tầm quan trọng của hội nhập quốc tế, hai nước đã không ngừng vun đắp quan hệ láng giềng thân thiện, tích cực tham gia vào WTO , APEC, ASEM, ACFTA, GMS nhằm đẩy nhanh tiến trình tự do hóa thương mại, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế theo nhiều hình thức, nhiều cấp độ, tạo điều kiện cho hai nước phát huy lợi thế so sánh, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phù hợp với quốc tế hóa
1.2.2.2 Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
Trong chính sách phát triển kinh tế các vùng núi phía Bắc của Việt Nam thời
kỳ 2001-2010, Việt Nam đã đưa ra giải pháp đẩy mạnh giao lưu kinh tế với Trung Quốc qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc Cùng với quá trình hội nhập kinh tế khu vực, Việt Nam đã tham gia vào ACFTA, GMS Gần đây, Chính phủ Việt Nam
đã có chủ trương cùng Trung Quốc xây dựng “Hai hành lang và một vành đai kinh tế” Với chủ trương trên, Việt Nam có thể tận dụng tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có, điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển một số lĩnh vực như du lịch, vận tải hàng hóa và hành khách, phát triển thủy sản và kinh tế biển, xây dựng
và khai thác hệ thống cảng biển, sản xuất, chế biến nông thủy sản, sản xuất công nghiệp, khai thác và chế biến khoáng sản…đây cũng là điều kiện để đưa quan hệ thương mại giữa hai nước lên tầm cao mới
1.2.2.3 Chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế của Trung Quốc
Trong chính sách phát triển kinh tế, Trung Quốc thi hành chính sách “Đại khai phá miền Tây” với chủ trương ưu tiên phát triển vùng biên giới Tây Nam Gần đây nhất, ngày 20/7/2006, Trung Quốc đã đưa ra Chiến lược một trục hai cánh
với 3 nội dung chính sau: Một là, hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng với Quảng Tây;
Hai là, hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông với Vân Nam; Ba là, thực hiện trục hành
lang kinh tế Nam Ninh – Singapore dài 3.900 km qua nhiều nước Đông Nam Á Với chính sách mở cửa và chính sách phát triển kinh tế của Trung Quốc đã mang lại những có hội hợp tác thương mại với Việt Nam về đường sắt, cảng biển, điện
Trang 15lực, khoáng sản cho Trung Quốc
Tóm lại, những cơ sở lý luận và thực tiễn trên cho chúng ta thấy quan hệ thương mại giữa hai nước xây dựng trên cơ sở lý luận khoa học Nó thể hiện rõ những luận điểm của Chính phủ hai nước cùng với sự tiếp thu lý luận của các trường phái kinh tế trong việc lý giải vấn đề thương mại quốc tế Đây là nhân tố quan trọng giúp cho hai nước xây dựng và phát triển quan hệ thương mại với nhau
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC 2.1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC
2.1.1 Giai đoạn từ 1991 - 1995: Thời kỳ khởi động
Sau khi bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, nhiều văn bản, hiệp định liên quan đến thương mại được ký kết giữa hai nước nhằm đẩy mạnh quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau Ngày 7/7/1995 Mỹ bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam; Ngày 28/7/1995 Việt Nam chính thức trở thành hội viên của ASEAN, đây là cơ hội tốt cho Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, tăng khả năng cạnh tranh đối với hàng xuất khẩu Đồng thời, thông qua cầu nối giữa Trung Quốc với các nước ASEAN, Việt Nam và Trung Quốc còn phát triển thêm nhiều loại hình kinh doanh Bên cạnh việc thúc đẩy hợp tác song phương, Chính phủ hai nước cũng chú trọng đến hợp tác đa phương Những sự kiện trên đã mở ra một không gian rộng lớn cho việc phát triển quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế giữa hai nước
2.1.2 Giai đoạn từ 1996 – 2000: Thời kỳ phát triển ổn định
Về phía Việt Nam, tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ Việt Nam cho phép Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng được áp dụng thí điểm một số chính sách tại khu vực kinh tế cửa khẩu Bên cạnh
đó, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành Nghị định 57/1998/NĐ- CP ngày 31/7/1998 về việc quy định chi tiết Luật thương mại, sửa đổi Luật khuyến khích đầu tư trong nước, miễn thu thuế nhập khẩu đối với hàng tạm nhập tái xuất, bãi bỏ thuế xuất khẩu tiểu ngạch, đơn giản hóa thủ tục gia công, áp dụng thuế