XÂY DỰNG VĂN HOÁ CÔNG TY
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1.1 Khái niệm văn hoá và văn hoá Việt Nam……… 4
1.2 Đặc trưng văn hoá 3 miền Việt Nam……… 14
1.3 Tác động của văn hoá Việt Nam đến văn hoá công ty………21
CHƯƠNG 2 : XÂY DỰNG VĂN HOÁ CÔNG TY……… 24
1.1 Khái niệm văn hoá công ty……… 24
2.2 Sự hình thành văn hoá công ty………24
2.3 Nội dung văn hoá công ty………25
2.4 Tác động của văn hoá công ty nhân viên và hoạt động kinh doanh của công ty……… 26
2.5 Nhận xét văn hoá công ty, của một công ty đang hoạt động……… 27
CHƯƠNG 3 : CÁC GIẢI PHÁP DUY TRÌ VĂN HOÁ CÔNG TY……… 29
3.1 Coi trọng nhân tố con người trong văn hoá công ty……….29
3.2 Giữ gìn phát huy truyền thống văn hoá công ty……… 30
3.3 Không ngừng hoàn thiện văn hoá công ty……… 31
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 34
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong một vài năm trở lại đây, văn hoá công ty trở thành một đề nóng trongcác doanh nghiệp Việt Nam Tuy nhiên, đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện nayvẫn chưa hiểu rõ về khái niệm cũng như các cấp độ biểu hiện và khía cạnh của vănhoá công ty, do đó, vẫn chưa có sự quan tâm xây dựng đúng mức yếu tố này trongcông ty mình
Văn hóa rất quan trọng đối với cuộc sống mỗi con người,đặc biệt là giao tiếpứng xử ở công ty làm việc.Trong một doanh nghiệp,đặc biệt là những doanhnghiệp có quy mô lớn,là tập hợp những con người khác nhau về trình độ chuyênmôn,mức độ nhận thức,quan hệ xã hội,vùng miền địa lí,tư tưởng văn hoá,…cùngvới sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hoá đòihỏi các doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nề nếp văn hoá đặc thù pháthuy được năng lực và thúc đẩy sự đóng góp của toàn thể nhân viên
Văn hóa nơi công sở thì ai cũng biết,ai cũng muốn thực hiện tốt để đạt hiệuquả công việc cao và thành công nhất định trong cuộc sống.Nhưng việc thực hiệnvăn hóa nơi công ty thì không đơn giản chút nào và không phải ai cũng được suôn
sẻ ,thuận lợi trong ứng xử,giao tiếp với cấp trên và cấp dưới.Đất nứơc ngày càngphát triển,con người ngày càng phải khéo léo hơn để theo kip với sự phát triểnđó.Vì vậy phát triển văn hóa nơi công sở là vấn đề cần thiết và quan trọng.Nếu vănhóa công ty được chú trọng và thực hiện tốt sẽ giúp công việc được thuận lợi và xãhội sẽ văn minh hơn
Mục đích nghiên cứu văn hóa công ty là giúp mọi người hiểu được tầm quantrọng của văn hóa nơi làm việc và chúng ta có thể tham khảo những bí quyết,kĩnăng để xây dựng văn hoá doanh nghiệp ngày càng vững mạnh
CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Trong chương này , chúng ta sẽ hiểu được khái niệm văn hoá và văn hoáViệt Nam Đặc trưng văn hoá ba miền Việt Nam và tác động của văn hoá ViệtNam đến văn hoá công ty
Chương 2: XÂY DỰNG VĂN HOÁ CÔNG TY
Chương này đề cập đến khái niệm văn hoá công ty, nội dung hình thành vănhoá công ty, tác động của văn hoá công ty đến nhân viên và hoạt dộng kinh doanhcủa công ty, nhận xét văn hoá công ty của một công ty đang hoạt động
Trang 3Chương này giúp ta hiểu được cách coi trọng nhân tố con người trong công
ty, giữ gìn phát huy truyền thống văn hoá công ty và không ngừng hoàn thiện vănhoá công ty
KẾT LUẬN
Văn hoá công ty hiện nay được xem là chỉ số nhận dạng giữa các công ty vớinhau và là yếu tố quyết định cho sự tồn tại lâu dài của công ty Tuy nhiên, văn hoácông ty bao gồm nhiều cấp độ và nhiều khía cạnh khác nhau nên việc xây dựngvăn hoá công ty đòi hỏi phải trải qua một thời gian dài và nhiều khó khăn Tronggiai đoạn toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới hiện nay, các công ty xây dựng đượcmột nền văn hoá vững mạnh, giữ gìn các giá trị cốt lõi đồng thời biết thay đổi đểphù hợp với môi trường địa phương đảm bảo sẽ phát triển và tồn tại lâu dài
Trong quá trình biên soạn bài luận này chúng tôi không tránh khỏi nhữngthiếu sót Rất mong quý thầy cô và các bạn lượng thứ và đóng góp thêm ý kiến đểbài luận của chúng tôi hoàn thiện hơn
Trân trọng
Trang 4CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm văn hoá và văn hoá Việt Nam
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Muốn nghiên cứu vai trò của văn hóa đối với phát triển, trước tiên phải cómột khái niệm chính xác và nhất quán về văn hóa cũng như cấu trúc của nó Trênthực tế, cũng đã có rất nhiều người cố gắng định nghĩa văn hóa Nhưng cho đếnnay vẫn chưa có được một sự nhất trí và cũng chưa có định nghĩa nào thoả mãnđược cả về định tính và định lượng Điều đó, theo tôi, có những nguyên nhân sauđây:
Trước hết, trong số những người nghiên cứu văn hóa, hoặc, như người tathường gọi, những nhà văn hóa, ngoài những định kiến và những hạn chế có tínhchất lịch sử, rất nhiều người bị mắc những bệnh nghề nghiệp Họ thường qui vănhóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể, thường bói văn hóa, cũng như bói cuộcsống nói chung, theo kiểu thầy bói xem voi, bằng cách xem xét những bộ phận cábiệt của nó chứ chưa có một cách tiếp cận tổng thể
Thứ hai, văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đókhái niệm văn hóa cũng đa nghĩa Khi đề cập đến nó mỗi người có một cách hiểuriêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận của họ là điều dễ hiểu
Thứ ba, giống như tất cả các ngành khoa học xã hội khác, ngành văn hóa học
có lịch sử phát sinh và phát triển lâu dài trong lịch sử loài người Trong quá trìnhlịch sử đó nội dung của khái niệm văn hóa cũng thay đổi theo
Tôi cho rằng văn hóa, nói một cách giản dị, là những gì còn lại sau nhữngchu trình lịch sử khác nhau, qua đó người ta có thể phân biệt được các dân tộc vớinhau Thông qua mỗi một chu kỳ của sự phát triển, dân tộc đó tương tác với mìnhvà với những dân tộc khác, cái còn lại được gọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hóa
Trang 5Ở đây, tôi gần gũi với cựu Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor khiông đưa ra một định nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát vàsông động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ratrong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ,nó đã cấuthành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đótừng dân tộc tự khẳng địinh bản sắc riêng của mình".
Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnhcủa đời sống Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống cũng mangnhững dấu hiệu văn hóa Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống nhau, nhưng nếuxem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt Trong thực tế, không có sự giống nhautuyệt đối
Gần đây, có ý kiến cho rằng trên thế giới đang diễn ra hiện tượng xâm lượcvề văn hóa như là sự tiếp tục của những cuộc xâm lược bằng súng đạn và kinh tế.Tôi không đồng ý như vậy Bởi văn hóa là hoà bình, văn hóa là không xâm lược.Cảm giác bị xâm lược, nếu có, chẳng qua là cái cảm giác và sĩ diện của kẻ yếu.Chúng ta đang sống trong một thế giới duy nhất và cũng có thể nói là thống nhất.Chúng ta phải bắt đầu từ mô hình kinh tế mà Alvin Tofler từng mô tả bằng hìnhảnh "con tàu vũ trụ” Trái đất là một kho chứa hữu hạn các nguồn năng lượng sốngvà toàn cầu hóa là một quá trình để tiết kiệm nguồn năng lượng ấy bằng cách đảmbảo không sản xuất thừa, không sử đụng nguyên liệu một cách bừa bãi trên phạm
vi toàn cầu Nhưng cùng với quá trình hội nhập về mặt kinh tế còn có một quá trìnhkhác luôn luôn tồn tại bên cạnh, và thậm chí đã đi trước, đó là sự hội nhập về mặtvăn hóa Sự hội nhập về mặt văn hóa chính là quá trình con người đi tìm ngônngữ chung cho một cuộc sống chung Quan niệm về sự xâm lược văn hóa là quanniệm của những cộng đồng người chỉ có kinh nghiệm hình thành trong quan hệphát triển lưỡng cực, những kinh nghiệm chiến tranh, nhất là chiến tranh lạnh Vănhóa không phải là ý thức của tôi, của anh hay của bất kỳ ai, mà thuộc về con ngườimột cách tự nhiên Con người khi sống chung với nhau sẽ gây ảnh hưởng lẫn nhau.Đến phương Tây ta sẽ nhìn thấy rằng trong ngôi nhà nào của người Mỹ, ngườiAnh, người Pháp cũng có một vài vật dụng gì đó, một vài thứ souvenirs gì đó từphương Đông Đôi khi trong xã hội phương Tây người ta có xu hướng xem sự hiệnhữu của một vài kỷ vật, một vài đồ trang trí từ phương Đông như là dấu hiệu củatầng lớp thượng lưu hoặc văn minh Đó là sự đan xen lẫn nhau của cuộc sống, đấylà sự chung sống hoà bình của quá khứ, và đấy cũng chính là cơ sở văn hóa củasự chung sống hoà bình trong tương lai
1.1.2 Văn hoá Việt Nam
Trang 6Đời sống gia đình: Trong xã hội truyền thống Việt Nam trước đây, một gia
đình điển hình thường bao gồm ba, bốn thế hệ cùng sống chung Với tâm lý “nhiềucon, nhiều lộc” nên mọi gia đình mong muốn “con đàn, cháu đống” Do ảnh hưởng
tư tưởng Nho giáo và quan niệm phong kiến “trọng nam, khinh nữ”, con trai luônđược coi là trụ cột trong gia đình và có tiếng nói quyết định Còn phụ nữ phải tuânthủ lễ giáo phong kiến ‘tam tòng, tứ đức” (Tam tòng: lúc nhỏ sống dựa vào cha,lớn lên lấy chồng phải tuân thủ theo chồng, chồng chết phải ở vậy sống theo contrai; Tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh)
Kể từ khi đất nước thống nhất, Nhà nước Việt Nam đã thông qua nhiều vănbản luật, điển hình là Luật Hôn nhân và Gia đình để điều chỉnh các mối quan hệtrong gia đình cho bình đẳng hơn Bên cạnh đó, nhiều biện pháp tuyên truyền vậnđộng cũng được thực hiện nhằm thay đổi nhận thức lạc hậu của người dân, bảođảm bình đẳng giới, đấu tranh cho quyền lợi chính đáng của phụ nữ
Ngày nay, quy mô một gia đình hiện đại Việt Nam có xu hướng thu hẹp lại,chỉ 2-3 thế hệ Số con của một cặp vợ chồng là hai (chiếm đa số), tư tưởng “trọngnam, khinh nữ” không nặng nề như xưa và dần dần bị loại bỏ Truyền thống “kínhtrên, nhường dưới” có từ xa xưa vẫn luôn được duy trì và phát huy trong mỗi giađình Việt Nam
Trang phục : Hầu hết các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều có trang phục
riêng mang đậm bản sắc truyền thống của dân tộc mình Nhìn chung đa phần trangphục của các dân tộc được trang trí hoa văn có màu sắc rực rỡ, tương phản: đen -trắng, đen - đỏ, xanh - đỏ hoặc xanh - trắng và được dệt từ sợi có nguồn gốc tựnhiên như sợi gai, tơ tằm, tơ dứa, sợi bông , vừa đẹp, vừa bền mà thoáng mát, phùhợp khí hậu nhiệt đới
Thường phục truyền thống của người Việt đối với đàn ông là quần trắng, áonâu, đầu vấn khăn, chân đi guốc hoặc dép Bộ lễ phục thêm áo dài đen bằng vảihoặc the, đầu đội khăn xếp Đối với phụ nữ, trang phục cầu kỳ và rực rỡ hơn: váyđen, yếm trắng, áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ, thắt lưng hoa lý Bộ lễ phục gồm
ba chiếc áo, ngoài cùng là chiếc áo tứ thân bằng the thâm hay màu nâu non, kế đếnlà chiếc áo màu mỡ gà và trong cùng là chiếc áo màu cánh sen Khi mặc, cả bachiếc áo chỉ cài khuy bên sườn, phần từ ngực đến cổ lật chéo để lộ ba màu áo.Trong cùng là chiếc yếm thắm Đầu đội nón trông rất duyên dáng và kín đáo Cách
ăn mặc truyền thống này đã mang đến cho người phụ nữ Việt một vẻ đẹp đằmthắm, dịu dàng, thướt tha
Trang 7Ngày nay, trang phục truyền thống của người Việt đã thay đổi Bộ âu phụcthay thế cho bộ đồ truyền thống của đàn ông Chiếc áo dài khởi phát từ thời chúaNguyễn Phúc Khoát ngày càng được cải tiến và hoàn thiện hơn, được phụ nữ ViệtNam ưa thích mặc vào nhiều dịp lễ hội quan trọng trong năm Chiếc áo dài hiện tại
có thân tương đối bó sát thân người, hai tà áo thả xuống ngang nửa ống chân, làmcho thân thể người phụ nữ hiện lên những đường cong mềm mại, dịu dàng nhưngkín đáo, phù hợp với vóc dáng nhỏ nhắn của người phụ nữ Việt Nam
Hiện nay, việc giao lưu giữa các nền văn hóa trên thế giới ngày càng mởrộng, trang phục của người Việt nam ngày càng phong phú và mang tính hòa nhậpvà thời trang hơn, nhất là trong giới trẻ ở thành phố
Một số lễ hội lớn của Việt Nam: Sinh hoạt lễ hội là loại hình văn hóa dângian đặc trưng tại mọi miền trên đất nước Việt Nam Trong tâm lý và tình cảm, lễhội mang lại sự thanh thản cho con người Việt Nam, gạt đi những lo toan thườngnhật, tăng thêm sự gắn bó và tình yêu đối với thiên nhiên, đất nước Là một nướcnông nghiệp, nên hầu hết các lễ hội diễn ra vào lúc “nông nhàn” - mùa xuân vàmùa thu, trong đó có một số lễ hội chung cho mọi người trên khắp đất nước nhưTết Nguyên Đán, Rằm Tháng Bẩy, Rằm Tháng Tám, Giỗ tổ Hùng Vương
Tết Nguyên Đán (thường vào cuối tháng Một, đầu tháng Hai hàng năm): Là Lễ hội lớn nhất trong các Lễ hội truyền thống Việt Nam Đây là dịp cả
gia đình xum họp, cùng nhau thưởng thức những món ăn truyền thống, đi thăm hỏivà chúc tụng những người trong gia tộc, bạn bè, đồng nghiệp Trong quan niệm củamọi người, Tết là sự kết thúc của năm cũ - kết thúc của những điều xấu, rủi ro đểbước sang năm mới với những điều tốt lành sẽ đến Giao thừa là lúc thiêng liêngnhất; mọi gia đình đều lấy khoảnh khắc này để đặt lễ, thắp hương thờ cúng thầnlinh, tổ tiên Ngoài việc cúng giao thừa, còn nhiều tập tục vẫn được duy trì vào dịpTết như xông đất, hái lộc, mừng tuổi
Lễ Vu Lan (Rằm tháng Bảy âm lịch): Lễ Vu Lan là một đại lễ báo hiếu
cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã khuất - một tập tục đáng quý, đáng trọng của người Việt,thể hiện tấm lòng ”ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Theo Phật giáo, ngày này các âm hồnđược lên trần hưởng lộc Hầu hết các gia đình đều làm cỗ cúng gia tiên; cúng xongđốt vàng mã cho vong hồn dùng Rằm tháng Bảy cũng là ngày xá tội vong nhân màgọi nôm na theo dân gian là ngày cúng chúng sinh Lễ vật gồm có cháo, bỏng gạo,bánh đa, bánh kẹo, hoa quả… để cúng cho những cô hồn lang thang, không ngườihương khói
Trang 8Tết Trung Thu (Rằm tháng Tám âm lịch): Tết Trung thu, còn gọi
là ”Tết trông Trăng”, là ngày Tết dành cho trẻ em Trẻ em rất mong đợi được đónTết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi như đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéoquân, bánh nướng, bánh dẻo Tối đêm Rằm, hầu hết các gia đình có trẻ em đều cómâm cỗ trông trăng Cỗ trung thu chủ yếu là bánh kẹo và hoa quả được tạo thànhcác con giống bày trên mâm cỗ Đêm Rằm, không khí thật náo nhiệt bởi tiếng vuiđùa, múa hát của trẻ nhỏ, kết hợp với ánh sáng của trăng, đèn và nến Một số nơicòn tổ chức các trò chơi như rước đèn, múa Lân, múa Sư tử, múa Rồng cho các
em nhỏ vui chơi
Giỗ tổ Hùng Vương: Ngày 10/3 âm lịch hàng năm là ngày Giỗ tổ Vua
Hùng Ngày Giỗ tổ được tổ chức tại khắp mọi miền đất nước Việt Nam và cả ởnhiều nước trên thế giới, nơi có đông cộng đồng người Việt Nam sinh sống Nơi tổchức Lễ Giỗ tổ chính thức là Phú Thọ (kinh đô của Nhà nước đầu tiên của ViệtNam – Văn Lang), nơi đặt Đền thờ 18 vị Vua Hùng Những lễ phẩm có tính chấttục lệ của Việt Nam được làm ra và dâng cúng vào dịp này gồm đèn, hương, rượu,trầu cau, nước lã, bánh trưng, bánh dày Từ năm 2007, Giỗ tổ Hùng Vương chínhthức được công nhận là ngày Quốc lễ của Việt Nam Đền thờ Vua HùngPhong Châu, Phú Thọ
Văn học: Việt Nam có một nền văn học phát triển khá sớm mang bản sắc
riêng Là một quốc gia có nhiều dân tộc sinh sống, mỗi dân tộc đều có nền văn họcriêng của mình, tất cả tạo nên một nền văn học Việt Nam đa bản sắc
Văn học cổ: bao gồm dòng văn học dân gian, văn học chữ Hán và văn
học chữ Nôm Dòng văn học dân gian xuất hiện trong quá trình lao động sản xuất,xây dựng và đấu tranh ngay từ thuở sơ khai, chủ yếu là truyền miệng dưới nhiềuhình thức khác nhau như truyện kể, thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyệncười, truyện ngụ ngôn, truyện thơ, tục ngữ, ca dao, câu đố, vè được truyền từ đờinày sang đời khác Dòng văn học chữ Hán: Chữ Hán bắt đầu du nhập vào ViệtNam từ đầu thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất Sau khi giành được độc lập dân tộc(năm 938), các triều đại phong kiến Việt Nam, với tinh thần tự lực, tự cường đãphát triển nền văn học Việt Nam và sử dụng chữ Hán để ghi lại Nhiều áng văn thơbất hủ bằng chữ Hán còn lưu lại đến ngày nay như Bài thơ Thần của Lý ThườngKiệt, Hịch Tướng Sỹ của Trần Hưng Đạo; Đại Việt Sử ký của Lê Văn Hưu Dòngvăn học chữ Nôm: Chữ Nôm được Việt hóa từ chữ Hán Văn học chữ Nôm xuấthiện từ thế kỷ VIII, được phát triển đỉnh cao vào thế kỷ XVIII và tiếp tục phát triển
Trang 9tới đầu thế kỷ XX Nhiều tác phẩm nổi tiếng được lưu danh tới ngày nay như BìnhNgô Đại Cáo, Quốc Âm Thi Tập với 254 bài thơ của đại danh nhân Văn hóa Thếgiới Nguyễn Trãi; tác phẩm Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập của Vua Lê Thánh Tông;Bách Vân Thi Tập của nhà học giả Nguyễn Bỉnh Khiêm; Chinh Phụ Ngâm củaĐặng Trần Côn; những bài thơ thể hiện khát vọng cho quyền bình đẳng nam nữtrong chế độ phong kiến của “Bà Chúa Thơ Nôm” Hồ Xuân Hương… Đỉnh caophát triển của văn học của thời kỳ này là Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.Bên cạnh đó, những tác phẩm lịch sử viết bằng chữ Nôm cũng xuất hiện nhiều nhưbộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của các sử thần nhà Lê (Phan Phu Tiên, Ngô Sỹ Liên,
Vũ Quỳnh) hay Lê Triều Thông Sử của học giả Lê Quý Đôn…
Văn học hiện đại: Việc xuất hiện chữ Quốc ngữ là tiền đề sản sinh nền văn
học mới, văn học hiện đại đầu thế kỷ 18 Dòng văn học hiện thực phê phán vàphong trào thơ mới lãng mạn đã đóng góp những tác phẩm nổi tiếng cho nền vănhọc hiện đại Việt Nam với các tên tuổi như Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách,Nguyễn Trọng Thuật, Trương Vĩnh Ký, Tản Đà, Thế Lữ, Ngô Tất Tố, NguyễnCông Hoan, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nam Cao…
Văn học Cách mạng Việt Nam bắt đầu từ 1945 đến nay:
Thời kỳ 1945-1975: Văn học thể hiện khát vọng của toàn dân tộc mong
muốn hòa bình, độc lập, kêu gọi mọi người dân đứng lên đấu tranh giành độc lậpdân tộc, thống nhất đất nước.…
Kể từ khi đất nước thống nhất năm 1975, với chủ trương “xây dựng một nềnvăn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, giới văn nghệ sỹ Việt Nam đi sâu phảnánh nhiều mặt đời sống xã hội, kêu gọi toàn dân chung sức xây dựng một đất nước
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh” Nền văn học ViệtNam, với sự đóng góp của hàng nghìn nhà thơ, nhà văn, ngày càng phát triểnnhanh với các loại hình: văn xuôi, thơ, phê bình lý luận đóng góp to lớn cho sựphát triển của nền văn hóa Việt Nam
Nghệ thuật biểu diễn: Trong nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam, có nhiều
thể loại như chèo, tuồng, cải lương, rối nước, ca múa nhạc cung đình, hát quan họ,chầu văn, ca trù, hát then, lý Nam Bộ… nhưng phổ biến nhất và thường được biểudiễn nhiều nhất là chèo, tuồng, cải lương, hát quan họ, rối nước, lý Nam Bộ vànhã nhạc (một hình thức của ca múa nhạc cung đình) Dưới đây là sơ lược một vàiloại hình trong nghệ thuật biểu diễn
Trang 10Ca múa nhạc cung đình: Ca múa nhạc cung đình phát triển mạnh vào triều
đại vua Lê Thái Tông với nhiều loại hình ca múa nhạc phong phú như Trung cungchỉ nhạc, Yến nhạc, Nhã nhạc, Đại nhạc, Văn vũ, Võ vũ… Dưới triều nhà Nguyễn,
ca múa nhạc cung đình phát triển rực rỡ với những điệu múa Bát dật biểu diễntrong các lễ tế trời của các vị vua Triều Nguyễn tại Đàn Nam Giao, Múa quạt, Tamtinh Chúc thọ, Bát tiên hiến, Lục triệt hoa mã đăng, Lục cúng hoa đăng trong cácnghi lễ của triều đình phong kiến Nhiều điệu múa, bản nhạc cung đình còn đượclưu giữ và phát triển cho đến ngày nay Nhã nhạc cung đình Huế đã đượcUNESCO chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới năm2003
Múa rối nước: Múa rối nước xuất hiện từ thời Lý (1009 - 1225) Một vở rối
nước thường có nhiều nhân vật Mỗi nhân vật (con rối) là một tác phẩm điêu khắcdân gian, mang dáng vẻ khác nhau, tính cách khác nhau Con rối được làm bằng
gỗ, bên ngoài phủ lớp chống thấm nước Nhân vật tiêu biểu của rối nước là chúTễu với thân hình tròn trĩnh và nụ cười hóm hỉnh lạc quan Nghệ nhân biểu diễnmúa rối phải ngâm mình dưới nước sau màn sân khấu để điều khiển con rối thôngqua máy sào, máy dây Nhạc đệm cho cuộc diễn là bộ gõ gồm trống, mõ, thanhla… Nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam là loại hình sân khấu cổ truyền, độcđáo được khán giả nhiều nước trên thế giới ưa chuộng
Chèo: Bắt nguồn từ âm nhạc và múa dân gian, chèo là một loại hình nghệ
thuật sân khấu truyền thống tiêu biểu nhất của Việt Nam Lúc đầu xuất hiện ở cáclàng quê, dần trở thành loại hình sân khấu tiêu biểu của cư dân đồng bằng Bắc Bộ.Nghệ thuật chèo bao gồm múa, hát, âm nhạc và văn học trong tích trò Văn chèo tựsự (kể chuyện) mang đậm tính trữ tình của ca dao, tục ngữ; tràn đầy tính lạc quantrong những cái cười dân dã, thông minh, hóm hỉnh, trí tuệ; tính nhân văn rất rõnét; thể hiện khát khao vươn tới hạnh phúc và xã hội hòa thuận, bảo vệ quyền conngười; cái thiện luôn thắng cái ác Nhân vật trong chèo mang tính ước lệ, chuẩnhóa với tính cách và tâm lý không thay đổi trong suốt vở Một số vở chèo nổi tiếngthu hút sự quan tâm của nhiều thế hệ khán giả là Quan Âm Thị Kính, Chu MãiThần, Kim Nhan… được xếp vào vốn quý của sân khấu cổ truyền dân tộc ViệtNam
Tuồng: còn gọi là hát bội, bộ môn nghệ thuật cổ điển và bác học bậc nhất
Việt Nam, một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền ở Việt Nam, phát triển từ loạihình sân khấu dân gian của văn học Việt Nam, được hình thành trên cơ sở ca vũ
Trang 11nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộcViệt Nam Ðến cuối thế kỷ XVIII, Tuồng đã phát triển một cách hoàn chỉnh về mọimặt từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn Ngày nay môn nghệ thuật nàyvẫn được coi là “quốc hồn, quốc túy” của người Việt, sánh như Kinh kịch củaTrung Quốc hay kịch Noh của Nhật Bản.
Cải lương: là loại hình sân khấu kịch hát dân tộc ra đời vào đầu thế kỷ 20.
Nguồn gốc của cải lương là các bài hát lý, ca nhạc tài tử ở miền Tây Nam Bộ Cảilương sử dụng nhiều cách diễn, âm nhạc của tuồng Việt Nam Cũng như các nghệthuật kịch hát dân tộc khác, cải lương bao gồm múa, hát, âm nhạc Nhạc cụ chủđạo trong dàn nhạc cải lương là đàn ghi ta phím lõm và đàn nguyệt Nhiều vở diễnđã thu hút sự quan tâm của người hâm mộ như Lục Vân Tiên, Lưu Bình Dương Lễ,Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt và Mộng Hoa Vương, Nửa đời hương phấn, ChimViệt cành Nam, Thái hậu Dương Vân Nga…
Hát quan họ (hay Quan họ Bắc Ninh): bắt nguồn từ những lối hát đối đáp
nam nữ có từ lâu đời Hát quan họ chủ yếu chỉ được tổ chức ở mỗi làng, mỗi nămmột lần vào dịp hội làng Nó gắn liền với tục kết bạn nam nữ, kết nghĩa giữa hailàng khác nhau Hát quan họ bao giờ cũng hát đôi, trình tự hát vừa theo nội dungvừa theo làn điệu, đối lời kèm theo đối giọng Hơn 180 làn điệu quan họ còn lưugiữ đến nay đều mang nội dung giao duyên trữ tình thắm thiết, với lời hay, ý đẹp,ngôn ngữ bình dân nhưng tinh tế, ý nhị, giàu hình tượng và cảm xúc, với âm điệuphong phú, trữ tình, với lối hát mượt mà, kỹ thuật “vang rền nền nảy” độc đáo Tấtcả điều này đã làm nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn của dân ca Quan họ Bắc Ninh
Kiến trúc Việt Nam
Kiến trúc dân gian: bao gồm kiến trúc gỗ, kiến trúc gạch đá, kiến trúc tre
nứa lá khá phổ biến ở khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam Trong khi kiến trúctranh nứa lá phổ biến dưới dạng nhà ở của những cư dân tại nhiều vùng nông thônViệt Nam thì kiến trúc gỗ phổ biến và tiêu biểu nhất lại thể hiện dưới dạng chùa,đình, nhà của những gia đình giàu có trên khắp đất nước Có thể điểm tên một số ditích về kiến trúc gỗ như Chùa Một Cột, chùa Dâu, chùa Bối Khê, chùa Thái Lạc,chùa Keo, chùa Bút Tháp, chùa Tây Phương, đình Đình Bảng, những ngôi nhà cổtại các thành phố lớn, nhất là tại Hà Nội, Hội An và Huế Kiến trúc gạch đá: tiêubiểu được lưu giữ đến ngày nay là tháp chùa (tháp Hòa Phong, tháp Báo Thiên,tháp chùa Phổ Minh, tháp chùa Thiên Mụ…), cổng thành, tường thành (cổng thànhnhà Hồ, cổng thành Hà Nội…), tam quan chùa đền (tam quan Văn Miếu, tam quan
Trang 12Trấn Vũ, cửa Hiển Nhân), Cột cờ Hà Nội, cửa Ngọ Môn Huế Kiến trúc gạch đácòn một bộ phận đáng kể các đền đài do người Chăm xây dựng (thường gọi là thápChăm) nằm rải rác từ Quảng Nam vào đến Bình Thuận, tiêu biểu và tập trung nhất
ở Khu di tích Mỹ Sơn
Kiến trúc ngoại du: Từ thế kỷ 19, kiến trúc Việt Nam có sự chuyển hóa, hòa
trộn giữa hai trường phái kiến trúc của Châu Âu, Bắc Mỹ và kiến trúc truyền thốngÁ Đông Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng với những khu phố theo kiểu ô bàn cờ thuậnlợi cho việc đi lại Nhiều tòa nhà đươc xây dựng theo phong cách cổ điển Châu Âumà tiêu biểu là Phủ Chủ tịch, Tòa án Tối cao, Nhà hát lớn Hà Nội, Ngân hàngNgoại thương, Bộ Ngoại giao, Tòa Thị chính Sài Gòn, Bưu điện Trung tâm thànhphố Sài Gòn, một số biệt thự… Bức tranh kiến trúc thời kỳ này xuất hiện nhữngnét mới, đó là những nhà thờ đạo Thiên Chúa ở Sài Gòn, Hà Nội, Huế và xứ đạocác địa phương Một điều khá thú vị là ngay cả những công trình kiến trúc mangđậm phong cách châu Âu ấy khi xây ở Việt Nam lại được pha lẫn bóng dáng đìnhchùa và những nét kiến trúc truyền thống của Việt Nam, mà tiêu biểu nhất là nhàthờ Phát Diệm
Giai đoạn 1954–1975: ở Miền Bắc nhiều công trình được dựng lên theo
kiểu kiến trúc của Liên Xô (cũ) như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cung Văn hóaHữu nghị…; ở miền Nam nhiều tòa nhà được xây theo lối kiến trúc Mỹ mà tiêubiểu là Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Dinh Độc lập…
Kiến trúc giai đoạn Đổi mới: Nhiều công trình lớn hiện đại với phong cáchkiến trúc khác nhau như các khách sạn, tòa nhà văn phòng liên doanh (Horison,Tháp Hà Nội, Sophitel Plaza, Omni, New World…), các khu đô thị Phú Mỹ Hưng,Ciputra được xây dựng Giống như nhiều quốc gia khác, kiến trúc ngày naythường bao gồm 4 mảng chính: thiết kế nội thất, thiết kế kiến trúc, thiết kế quyhoạch đô thị, thiết kế môi trường và quy hoạch vùng
Hội họa và điêu khắc
Tranh dân gian: Tranh dân gian gồm hai loại, tranh Tết và tranh Thờ Tranh
dân gian gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và các vị thần linh Tranh dângian thường được in với kỹ thuật khắc ván để in với số lượng lớn Tranh dân gianphát triển khá mạnh vào thế kỷ thứ 16, sang thế kỷ thứ 18, 19 phát triển ổn định ởmức cao Dựa vào phong cách nghệ thuật, kỹ thuật in vẽ và nguyên liệu làm tranh,
có thể quy về một số dòng tranh khác nhau
Trang 13Tranh dân gian ngày nay hầu hết đã bị thất truyền Trong số ít dòng tranh còn tồntại và được bảo tồn có dòng tranh Đông Hồ được bảo tồn, phát triển và hiện có mặt
ở nhiều nước như Nhật, Pháp, Mỹ… Đông Hồ là một làng nhỏ nằm ven bờ namsông Đuống, tỉnh Bắc Ninh Nghệ thuật làm tranh Đông Hồ từ các khâu như vẽmẫu, khắc bản in, sản xuất giấy, chế biến màu, rồi đến các khâu in vẽ tranh đều cónhững điểm độc đáo về kỹ thuật, mỹ thuật (màu được chế biến từ nguyên liệu cósẵn trong tự nhiên; giấy dó làm tranh là loại giấy làm thủ công)
Hội họa đương đại: Việc thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương
năm 1924 là một bước chuyển quan trọng trong phát triển nền nghệ thuật tạo hìnhđương đại của Việt Nam Tên tuổi của lớp họa sỹ đầu tiên của Trường Cao đẳng
Mỹ thuật Đông Dương gắn liền với những tác phẩm nổi tiếng được thế giới biếtđến như “Phố cổ Hà Nội” của Bùi Xuân Phái, bức tranh lụa “Chơi ô ăn quan” củaNguyễn Phan Chánh, “Em Thúy” của Trần Văn Cẩn hay “Thiếu nữ bên hoa Huệ”của Tô Ngọc Vân, tranh sơn mài “Bên Hồ Gươm” của Nguyễn Gia Trí, tranh sơnmài “Tiễn anh khóa đi thi” của Tô Ngọc Vân Đây là những kiệt tác nghệ thuật vôgiá trong kho tàng văn hóa của Việt Nam Lớp họa sỹ ngày nay, kế tiếp lớp đànanh, chú trọng tiếp nhận tinh hoa nghệ thuật thế giới, đồng thời tìm tòi phong cáchthể hiện mới cho hội họa Việt Nam như sơn dầu, sơn mài, tranh lụa Tên tuổi lớphọa sỹ này được nhiều người biết đến thông qua những tác phẩm của họ là LưuCông Nhân, Phạm Công Thành, Nguyễn Thụ, Đặng Xuân Hòa, Thành Chương đang góp phần làm phong phú thêm kho tàng mỹ thuật đương đại Việt Nam
Điêu khắc cổ: Trong di sản nghệ thuật truyền thống, điêu khắc có một lịch
sử phát triển liên tục và cô đúc hình ảnh con người Việt Nam từng miền, từng thời,dù dưới dạng thần linh hay con người thế tục Nền điêu khắc cổ Việt Nam rất đadạng nhưng chủ yếu tồn tại các bộ phận điêu khắc sau: Điêu khắc thời tiền sử vớinhững hình điêu khắc trên đá, trong hang động, trên trống đồng, các đồ giadụng…; điêu khắc vương quốc Phù Nam và Chân Lạp ở Nam Bộ; điêu khắc Chăm
Pa ở Trung Nam Bộ; điêu khắc Đại Việt ở Bắc Bộ; điêu khắc nhà mồ của thổ dânTây Nguyên Mặc dù trải qua bao năm tháng chiến tranh, nhưng hiện nay ở nhiềunơi trên đất nước Việt Nam vẫn bảo tồn được nhiều đình, chùa miếu mạo với nhiềutượng Phật và các phù điêu
Thủ công mỹ nghệ truyền thống : Nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống của
Việt Nam có lịch sử lâu đời và phong phú với nhiều mặt hàng nổi tiếng cả trong vàngoài nước Các sản phẩm gốm, sơn mài, lụa, mây tre… có mặt tại nhiều nơi trênthế giới và được ưa chuộng Một số nghề vẫn còn lưu giữ và phát triển tới ngày
Trang 14hôm nay, tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho nhiều lao động, đóng góp lớncho xuất khẩu như nghề làm gốm, dệt lụa, sơn mài, đan lát mây tre, đan nón, đúcđồng, làm đồ gỗ…
Nổi bật trong số các nghề truyền thống là: Nghề gốm với nhiều loại sản phẩm khácnhau phục vụ nhu cầu dân dụng và công nghiệp Ở Việt Nam có nhiều nơi làmnghề gốm như Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Đồng Nai, Đồng Tháp và BátTràng của Hà Nội, gốm Chăm Nghề dệt lụa: xuất hiện từ rất sớm trên khắp đấtnước Việt Nam, nhưng nổi tiếng và còn bảo tồn và phát triển tới ngày hôm nay cóVạn Phúc (Hà Đông), Phương Tành - Trực Ninh (Nam Định) Từ thế kỷ XV, lụaViệt Nam đã theo chân các thương gia và được nhiều nơi trên thế giới biết đến.Nghề đan lát mây tre: Với lịch sử hàng nghìn năm, nghề này gắn liền với các loạinguyên liệu tự nhiên sẵn có tại khắp các miền trên đất nước Việt Nam Bàn taykhéo léo của người thợ thủ công Việt Nam đã cho ra đời nhiều mẫu mã đẹp, hấpdẫn như bàn ghế, gường tủ, khay bàn hoa quả, lẵng cắm hoa… Những địa phươngnổi tiếng làm những mặt hàng này phải kể đến Hà Tây, Thanh Hóa
1.2 Đăc trưng văn hoá 3 miền.
Miền Nam
Trong nền văn hóa chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thì mỗi dântộc, mỗi vùng miền lại có nét văn hóa riêng rất độc đáo, đa dạng và phong phú.Nam bộ tuy là vùng đất tổ tiên ta mới khai phá lập nghiệp hơn 300 năm, nhưngvăn hóa của nông thôn Nam bộ bắt nguồn từ nền văn hóa chung của cộng đồngdân tộc Việt Nam có hơn 2000 năm lịch sử Những người nông dân có mặt ở vùng đất Nam bộ này hơn 200 năm trướcđây là những nông dân đến từ nhiều vùng ở miền Trung, miền Bắc Tuy buổi đầulập nghiệp trên vùng đất hoang sơ trăm đắng ngàn cay bời rừng thiêng nước độc,thú dữ, người nông dân thiếu cả công cụ, phương tiện lao động… nhưng mọingười kiên cường bám trụ “đến đây thì ở tại đây trăm năm bám rễ xanh cây khôngvề” Tấm lòng người nông dân Nam bộ xưa nay luôn đức độ bao dung, sẵn sàngtha thứ cho những ai biết hối cải lỗi lầm, nhưng cũng không tha thử kẻ gian ác,điêu ngoa Họ coi trọng nhân-nghĩa-trí-dũng-liêm, lòng thương người bao la vôtận, nhưng rất ghét bọn gian tà, tham nhũng, xu nịnh, những kẻ “tham phú phụbần”
Nền kinh tế Nam Bộ ngày càng phát triển, đường giao thông ngày càngthuận lợi, sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội của nông dân các làng quê ngày
Trang 15càng mở rộng, các phong tục, tập quán từ việc ăn, ở, giao tiếp, sinh hoạt văn hóa,
lễ hội đến đám cưới, đám tang… của nông dân Nam bộ cơ bản là giống nhau.Thực hiện nghị quyết của Ðảng và sự hướng dẫn của Hội Nông dân, của cácngành, những năm qua nông dân Nam Bộ chẳng những phát huy nền văn hóa đậmđà bản sắc dân tộc mà từng bước xây dựng nền văn hóa tiên tiến xã hội chủ nghĩa.Cuộc vận động của Hội Nông dân xây dựng “gia đình tiêu chuẩn” trước đây vàcuộc vận động “xây dựng gia đình nông dân văn hóa”, tham gia xây dựng nôngthôn, ấp bản làng văn hóa hiện nay ngày càng có nhiều gia đình nông dân hưởngứng và đạt danh hiệu đó Cuối năm 2000 Hội Nông dân các địa phương, cơ sởcùng mặt trận, ngành văn hóa Thông tin, các cấp chính quyền đã bình xét hộ nôngdân đại tiêu chuẩn gia đình văn hóa Kết quả các tỉnh Nam Bộ mỗi nơi 5-7 vạn, cótỉnh hơn 10 vạn hộ “gia đình nông dân văn hóa” Ðể đạt được gia đình nông dânvăn hóa, cán bộ hội viên nông dân phải phấn đấu làm nhiều việc tốt ích nước lợinhà, cụ thể là thực hiện tốt các phong trào cách mạng theo sự hướng dẫn của HộiNông dân Việt Nam Và, Hội Nông dân các địa phương, cơ sở ở Nam bộ đã phốihợp với các ngành, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, các cơ quan thông tin đạichúng, cùng chung lo nâng cao dân trí, kiến thức khoa học, vốn, vật tư nôngnghiệp cho nông dân để thi đua sản xuất làm giỏi làm giàu, tổ chức các phong tràohoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, tổ chức các hội thi kiến thức nhànông, hội trại nhà nông, nhà nông đua tài, liên hoan nghệ thuật nông dân, vậnđộng nông dân tham gia kinh tế hợp tác hợp tác xã…Các phong trào cách mạng và vận động xây dựng gia đình nông dân văn hóa cònnhằm từng bước khắc phục những phong tục, tập quán lạc hậu trong sản xuất vàđời sống nông dân Ðồng thời, khắc phục những tồn tại ấy trên cơ sở khôngngừng nâng cao dân trí, kiến thức khoa học, phát triển kinh tế, tạo việc làm, nângcao đời sống vật chất, đời sống văn hóa, làm cho hàng triệu nông dân và làm chomảnh đất Nam Bộ giàu truyền thống
Miền Trung
Một miền đất khó sống cũng có nghĩa là nơi dưỡng tồn tính cách không thểdịu dàng Ta dễ dàng gặp ở chợ, những lời đay nghiến của người bán hàng lúc bị ai
đó làm mất “mày xưa”, sợi dây buộc cua biển to hơn cả cái càng cua, các món ăn
cay và mặn đến nghẹn thở
Tính cách nóng nảy, phân chia thật rạch ròi ranh giới của cái có thể chịu đựngđược và cái không thể chịu đựng được; cái khó sống và cái phải sống; cái bất
Trang 16thường của thời tiết, số phận (nghiệt ngã) với cái cần thiết lâu dài làm nên cuộcsống đã tạo ra đặc tính của người miền Trung.
Chính yếu tố này đã tạo ra những dấu ấn đặc biệt Hò Sông Mã, hát giặm, hát víNghệ Tĩnh, ca Huế, hò Huế, dân ca Nam Trung bộ và Nhã nhạc cung đình Huế - cảthảy có 7 loại hình, quả là một sự vượt trội so với 4 ở miền Bắc và 1 ở miền Nam.Tất nhiên không loại trừ các yếu tố đan xen của văn hoá Chăm pa, Tây Nguyên đãtạo nên sự cộng hưởng, biến thể và biến thái của miền Trung.Tôi cảm nhận ca dao, dân ca miền Trung không lả lướt, uyển nhẹ như dân ca Bắcbộ, không có cái tôi cô đơn, khắc khoải và sâu thẳm như dân ca Nam bộ nhưng thật
da diết và nhiều lắm những trăn trở, những nỗi buồn.
Cuộc sống nghèo khó triền miên làm cho miền Trung - nhất là Nghệ Tĩnh, QuảngBình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế quanh năm ăn khoai, sắn, cơm với muối, với
mè, mắm ruốc Vì vậy, thói ăn mặn gần như trở thành máu thịt, khẩu vị của ngườimiền Trung Ăn mặn, ăn ít, ăn lấy cảnh những món ăn ngon (bởi đâu có nhiều đểmà ăn) là thuộc tính
Cái cay đắng của cuộc sống đã tạo nên nhu cầu bứt phá, thay đổi cũng như khả
năng chịu đựng đến mức phi thường Rất nhiều người Thanh Nghệ đã đi theoNguyễn Hoàng Không ít người miền Trung đã thành đạt, có tiếng tăm từ cái nhucầu bứt phá Sự gan lỳ, ý nghĩ chấp nhận, liều mình đã làm cho miền Trung tự lâuđời là nôi thành công của Lê Lợi, nơi sinh ra của kiêu binh thời Trịnh Nguyễn, bãichiến trường của nhiều cuộc chiến tranh Không phải ngẫu nhiên mà Bắc Trung bộlà nơi đến của vua Hàm Nghi Càng không ngẫu nhiên miền Trung đã sinh ranhững con người mà sự nghiệp của họ gắn liền với cái bất tử như Lê Lợi, NguyễnHoàng, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phạm Hồng Thái, Trần Phú, Nguyễn ThịMinh Khai, Lê Duẩn, Võ Nguyễn Giáp và Hồ Chí Minh
Trong cái dòng chảy của đòi hỏi bứt phá, gắn với nhu cầu thay đổi thực sự của số
kiếp con người dưới chế độ phong kiến là sự học Miền Trung ươm gieo rồi gặthái, đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài Bắc Hà nổi tiếng với tầng lớp nho sĩuyên bác, thâm nho, sâu sắc đến từng câu chữ Miền Trung có hình ảnh tiêu biểuông đồ xứ Nghệ Tất nhiên đi kèm theo đó là cái cười đắng cay, chua chát về cáikhổ, cái chịu đựng ghê ghớm qua hình tượng con cá gỗ Rộng lắm ở miền đất chậtlắm - đó cũng là một trong những điều cao ngạo nhiều khi thái quá ở mảnh đất này
Đất miền Trung đã “phát minh” ra nhiều từ ngạo mạn Huế có từ “chơ mấy” Quảng Trị có từ “vẹ” Nghệ Tĩnh có từ “phút mốt” Đà Nẵng, Quảng Nam có từ
“nghe chưa” Đó là kết quả của sự kết hợp giữa tài năng với sự khốn cùng
Đặc điểm văn hoá miền Trung thành 5 tam hợp:
3B: Buồn, bực, bức Nghèo khổ là nỗi buồn ám ảnh nhất, gay gắt nhất Vì
thế con người miền Trung luôn là con người dễ cáu gắt, bực tức Sống trong sự đe
Trang 17doạ thường trực, người miền Trung chịu ảnh hưởng bức bối thường xuyên Nhucầu đột phá và khả năng bị stress rất cao.
3C: Cay, chậm, chắc Ăn cay thì khỏi phải bàn Nhưng cay cú là cái đáng
bàn Máu ăn thua là một thuộc tính bản chất Vì khó thay đổi được kiếp người nênsự uể oải, chậm chạp, rề rà là khá phổ biến (Huế là điển hình) Người miền Trungkhó thay đổi nhanh nếp sống, cách sống nên họ thích “ăn chắc, mặc bền”
3K: Khó, khổ, keo Sự khốn khó và nỗi khổ vẫn mãi mãi là một ám ảnh lâu
dài Cho dù đất nước có phát triển thì sự thua kém của miền Trung với miền Nam,miền Bắc là điều khó thay đổi Đà Nẵng là vùng đất ngoại lệ Cái thiếu muôn đờiđã làm cho người miền Trung rất thích câu ngạn ngữ “vắt cổ chày ra nước”
3M: Mặn, mót, méo Ăn mặn và thích ky cóp tất cả những gì có thể là bản
năng của sự sinh tồn Vì luôn phải đối chọi với những hoàn cảnh bất thường nênngười miền Trung hay có những cách nghĩ và cách làm thái quá Sự méo mó về tưduy, tình cảm là đặc tính khá phổ biến (kể cả những tài năng như Hồ Xuân Hương,Hàn Mặc Tử )
3N: Nóng, nặng, nồng Cái nóng là phạm trù bất biến Giọng nói nặng là
điều “miễn góp ý” Không ai nói lời tỏ tình “hay” như các cô gái có giọng nóiNghệ Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên! Nhưng sự nồng nàn, hết mình làmột đặc tính tuyệt vời của những người con gái miền Trung
Miền Bắc
Bắc Bộ là vùng đất mang nhiều nét truyền thống của văn hóa Việt Nam, đâyđược coi là cái nôi của văn hoá-lịch sử dân tộc Vì thế, cũng là nơi sinh ra các nềnvăn hóa lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau : Văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt vàvăn hóa Việt Nam Từ trung tâm này, văn hóa Việt lan truyền vào Trung Bộ rồiNam Bộ Sự lan truyền ấy, một mặt chứng tỏ sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt,một mặt chứng tỏ sự sáng tạo của người dân Việt Trong tư cách ấy, văn hóa châuthổ vùng Bắc Bộ có những nét đặc trưng của văn hóa Việt, nhưng lại có những nétriêng của vùng này
Cư dân ở Bắc Bộ là cư dân sống với nghề trồng lúa nước, làm nông nghiệpmột cách thuần túy Biển và rừng bao bọc quanh đồng bằng Bắc Bộ nhưng từ trong
tâm thức, người nông dân Việt Bắc Bộ là những cư dân “xa rừng nhạt biển” – chữ
dùng của PGS, PTS Ngô Đức Thịnh- Nói khác đi là, người nông dân Việt Bắc Bộlà người dân đồng bằng đắp đê lấn biển trồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển.Hàng ngàn năm lịch sử, người nông dân Việt không có việc đánh cá được tổ chứcmột cách quy mô lớn, không có những đội tàu thuyền lớn Nghề khai thác hải sảnkhông mấy phát triển Các làng ven biển thực ra chỉ là các làng làm nông nghiệp,
có đánh cá và làm muối.Ngược lại, Bắc Bộ là một châu thổ có nhiều sông ngòi,mương máng, nên người dân chài trọng về việc khai thác thủy sản Tận dụng ao, hồ