1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội

112 486 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội loài người và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh trên phạm vi toàn thế giớ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Kim Chi

Trang 3

MỤC LỤC

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT ……….……… 1

DANH MỤC BẢNG BIỂU ……… 2

PHẦN MỞ ĐẦU ……… 3

CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH ………… 8

1.1 Tổng quan về du lịch 8

1.1.1 Khái niệm về du lịch 8

1.1.2 Thể loại du lịch 12

1.1.3 Vai trò của phát triển du lịch 14

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch 18

1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước trong khu vực và bài học cho Việt Nam 21

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước……….21

1.2.2.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam……… ………24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ NỘI 27

2.1 Vị trí du lịch Hà Nội trong chiến lược phát triển du lịch cả nước và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô 27

2.1.1 Vị trí của Hà Nội trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước 27

2.1.2 Vị trí của du lịch trong chiến lược phát triển KTXH của Hà Nội 29

2.2 Tiềm năng du lịch của Hà Nội 30

2.3 Thực trạng hoạt động du lịch của Hà Nội………41

2.3.1 Khái quát kết quả kinh doanh của ngành Du lịch Hà Nội 41

2.3.2 Kết cấu hạ tầng phục vụ cho du lịch……… 43

2.3.3 Thị trường khách du lịch……….44

2.3.4 Doanh thu, thu nhập từ du lịch……… 47

2.3.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch……… 49

2.3.6 Tuyến, điểm, sản phẩm du lịch………53 2.3.7 Các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh trong

Trang 4

lĩnh vực du lịch……….54

2.3.8 Nguån nh©n lùc du lÞch………58

2.4 Đánh giá chung………59

2.4.1 Một số kết quả đạt được trong hoạt động phát triển du lịch 59

2.4.2 Hạn chế……… ……… ……61

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ NỘI… …64

3.1 Những xu thế phát triển và một số dự báo chủ yếu của du lịch thế giới và khu vực … ……….64

3.1.1 Xu thế phát triển của du lịch thế giới……… 64

3.1.2 Một số dự báo thị trường du lịch thế giới và khu vực ASEAN 66

3.2 Dự báo phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020 69

3.2.1 Định hướng phát triển du lịch Hà Nội đến 2020………69

3.2.2 Mục tiêu chiến lược phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020 …….70

3.2.3 Một số chỉ tiêu phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020 71

3.3 Giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2020……… ……… 76

3.3.1 Giải pháp về phía cơ quan quản lý nhà nước……….………….76

3.3.2 Giải pháp về phía doanh nghiệp du lịch của Hà Nội…… ……… 87

3.3.3 Đề xuất và kiến nghị………… ……….… 95

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………….……… ………… 102

PHỤ LỤC ……… ……… 105

Trang 5

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 AFTA Khu vực mậu dịch tự do của ASEAN

2 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông nam Á

5 ICOR Hệ số đầu tư tăng trưởng

6 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

7 GDP Tổng sản phẩm quốc nội

9 SNG Các nước thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập

15 VAT Thuế giá trị gia tăng

16 WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Kết quả kinh doanh Du lịch……… ……… 51

Bảng 2.2 L-ợng khỏch du lịch quốc tế đến Hà Nội và Việt Nam thời kỳ 2003 – 2007……… ……… 52

Bảng 2.3 L-ợng khách của các thị tr-ờng hàng đầu đến Hà Nội………… … 54

Bảng 2.4 Số lượng cơ sở lưu trỳ trờn địa bàn Thành phố Hà Nội 59

Bảng 2.5 Số l-ợng doanh nghiệp lữ hành và vận chuyển khách du lịch 65

Bảng 2.6 Thống kê số l-ợng lao động của ngành Du lịch Hà Nội……… 69

Bảng 3.1 Dự bỏo số lượng khỏch đến 2010 và tầm nhỡn 2020 83

Bảng 3.2 Dự bỏo doanh thu từ du lịch……….……… 84

Bảng 3.3 Dự bỏo về số phũng khỏch sạn cần cú 2010-2020………….……….85

Bảng 3.4 Nhu cầu lao động trong ngành du lịch 2010-2020……….….86

DANH MỤC BIỂU Biểu đồ 2.1 Cơ cấu chi tiờu của du khỏch tại Hà Nội……….57

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống

xã hội loài người và phát triển với tốc độ ngày càng nhanh trên phạm vi toàn thế giới, nó đã thu hút khoảng 200 triệu lao động với doanh thu 3.500 tỷ USD/năm

Ở nước ta, thực tế ngành du lịch chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP Là một nước do xuất phát điểm từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, các chỉ tiêu mức sống còn chênh lệch lớn so với nhiều quốc gia trên thế giới; trong điều kiện đó với nước ta phát triển du lịch là điều kiện tốt nhất để thu hút được nguồn ngoại tệ, khai thác được nguồn lao động dư thừa, thực hiện xuất khẩu tại chỗ và xuất khẩu vô hình, tạo tiền đề cho phát triển các ngành kinh tế khác và chuyển dịch cơ cấu kinh

tế sang công nghiệp hoá, hiện đại hoá Trong điều kiện đổi mới kinh tế theo hướng thúc đẩy hợp tác quốc tế thì du lịch giữ một vai trò hết sức quan trọng, thông qua

du lịch làm cho thế giới hiểu rõ đất nước, con người, nền văn hoá phong phú lâu đời và lịch sử hào hùng của dân tộc, trên cơ sở đó tranh thủ được cảm tình của nhân dân thế giới, tăng cường tình hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân ta với nhân dân thế giới, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho việc duy trì hoà bình

và hợp tác quốc tế

Bắt nhịp vào xu hướng phát triển du lịch của cả nước, hoạt động du lịch của

Hà Nội trong những năm qua đã đạt được những hiệu quả kinh tế - xã hội bước đầu đã góp phần cho kinh tế vùng phát triển, dân trí được nâng cao, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nhân dân thủ đô, góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá, bảo vệ môi trường sinh thái, gìn giữ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Kết quả đó

đã thể hiện sự nhất quán giữa nhận thức và hành động, thể hiện sự quan tâm chỉ đạo của Thành phố và Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Tuy nhiên, trong thời gian qua tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động, ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển du lịch, mặt khác bắt đầu từ ngày 1 tháng 8 năm 2008 Hà Nội được mở rộng lãnh thổ, Hà Tây sát nhập vào Hà Nội, đặt cho ngành du lịch của Thành phố

Trang 8

trước những thách thức mới Thực tế, trong thời gian qua hoạt động của du lịch Hà Nội đã có kết quả tốt, tuy nhiên, kết quả đó chưa tương xứng với tiềm năng và yêu

cầu nhiệm vụ mới đề ra, đó là phát triển nhanh du lịch trở thành ngành kinh tế

mũi nhọn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng

Trong hoàn cảnh hiện tại, hoạt động du lịch của Hà Nội thực sự cần những giải pháp toàn diện và đồng bộ để mở đường định hướng và thực thi đổi mới hoạt động du lịch của Thành phố và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao Xuất phát từ

những tiếp cận đó, tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sỹ ngành Quản trị kinh doanh

2 Tình hình nghiên cứu

Thời gian qua, ở nước ta cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch như:

- "Đào tạo Marketing và xúc tiến du lịch bền vững ở Việt nam" Đề tài của

Viện nghiên cứu phát triển du lịch thuộc Tổng Cục Du lịch

- "Nghiên cứu và đánh giá một số đặc điểm của thị trường Nhật Bản và Trung

Quốc nhằm phát triển nguồn khách của Du lịch Việt Nam" Đề tài của Viện nghiên

cứu phát triển du lịch thuộc Tổng Cục Du lịch

- “Du lịch Hải phòng - Thực trạng, phương hướng và giải pháp” luận văn cao

học của tác giả Phạm Thị Khánh Ngọc, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia

Hà Nội

- “Thị trường du lịch quốc tế ở Việt Nam Hiện trạng và giải pháp” luận văn

cao học của tác giả Trịnh Minh Phương, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội

- “Các giải pháp thu hút khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài tại Công ty cổ

phần Thương mại và Du lịch quốc tế Vinatour” luận văn cao học của tác giả

Trang 9

Liên quan đến du lịch của Hà Nội có các đề tài như: “Nghiên cứu những giải pháp phát triển du lịch lữ hành của Thủ đô”, “Thực trạng hoạt động kinh doanh và một số định hướng, giải pháp chủ yếu để các khách sạn Hà Nội kinh doanh có hiệu quả”, “Các giải pháp nâng cao chất lượng các tour du lịch trên địa bàn Hà Nội”,

“Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của du lịch phục vụ chiến lược hội nhập đối với kinh tế Hà Nội”

Các đề tài và bài viết trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của du lịch cũng như phát triển du lịch, các giải pháp du lịch và giải pháp thu hút khách cho

du lịch địa phương Tuy nhiên, nhiều vấn đề về du lịch của TP Hà Nội mới chỉ có những bài báo, xã luận đề cập những khía cạnh nhất định, mà chưa có bài viết một cách hoàn chỉnh, hệ thống, sâu sắc; hơn nữa, từ khi Hà Tây sát nhập vào Hà Nội thì có nhiều vấn đề đã được thay đổi và nhiều câu hỏi được đặt ra như giải pháp nào để phát triển du lịch Hà Nội mới trong điều kiện có thêm nhiều di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh…, có sự thay đổi về không gian, cấp quản lý… nhiều vấn đề phức tạp hơn

Do vậy, giải quyết được vấn đề nêu trên sẽ góp phần quan trọng vào sự hiểu biết thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch của Hà Nội và các giải pháp khắc phục những tồn tại, thúc đẩy phát triển tiềm năng du lịch nơi đây, thu hút khách du lịch cho một địa phương có rất nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn như Hà Nội Đặc biệt trong tình hình Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO vào tháng 11-2006, và Hà Tây sát nhập vào Hà Nội vừa qua, sẽ có nhiều vấn

đề mới liên quan, tác động đến du lịch nước ta nói chung và du lịch Hà Nội nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển du lịch Hà Nội Phân tích đánh giá và chỉ rõ nguyên nhân, tiềm năng phát triển ngành du lịch của Hà

Trang 10

Nội trong bối cảnh tiếp tục đổi mới và hội nhập quốc tế Từ đó, đưa ra các giải pháp để phát triển du lịch Hà Nội trong điều kiện mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động du lịch của Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu là thực trạng phát triển du lịch Hà Nội từ năm 2003 -

2007, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nhằm phát triển du lịch Hà Nội trong thời gian tới

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử là chủ yếu, ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như: Phương pháp thống kê so sánh, Phương pháp phân tích hệ thống, Phương pháp quy nạp cùng một số biểu, bảng, tài liệu tham khảo để nhìn nhận giải pháp đang nghiên cứu một cách thống nhất, xâu chuỗi, phân tích giải pháp trong mối quan hệ tác động giữa các yếu tố khác nhau

6 Những đóng góp mới của luận văn

Thứ nhất, hệ thống hoá và phát triển những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển

du lịch

Thứ hai, Đánh giá một cách toàn diện thực trạng, tiềm năng, cơ hội và thách

thức đối với sự phát triển du lịch của Hà Nội trong điều kiện mới

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động du lịch của Hà Nội đến

năm 2020

7 Bố cục của luận văn

Trang 11

Chương 1 Những cơ sở lý luận về phát triển du lịch

Chương 2 Thực trạng phát triển du lịch Hà Nội

Chương 3 Định hướng và biện pháp phát triển du lịch Hà Nội

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1 Tổng quan về du lịch

1.1.1 Khái niệm về du lịch

Con người vốn tò mò về thế giới xung quanh, muốn có hiểu biết về cảnh quan, địa hình, hệ động, thực vật và nền văn hoá của những nơi khác Vì vậy, du lịch đã xuất hiện và trở thành một hiện tượng khá quan trọng trong đời sống của con người Đến nay, du lịch không còn là một hiện tượng riêng lẻ, đặc quyền của

cá nhân hay của một nhóm người nào đó mà du lịch đã trở thành một nhu cầu xã hội phổ biến đáp ứng mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho con người Tuy nhiên, khái niệm du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau Sau đây là một số quan niệm về du lịch theo các cách tiếp cận phổ biến

1.1.1.1 Tiếp cận du lịch dưới góc độ nhu cầu của con người

Du lịch là một hiện tượng: Trước thế kỷ XIX, đến tận đầu thế kỷ XX du lịch

hầu như vẫn được coi là đặc quyền của tầng lớp giầu có và người ta chỉ coi đây như là một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế - xã hội Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó

họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được Các giáo sư Thụy Sỹ là Huziker và Krapf đã

khái quát: Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan hệ phát sinh từ việc

đi lại và lưu trú của người ngoài địa phương - những người không có mục đích định cư và không liên quan tới bất cứ hoạt động kiếm tiền nào Với quan niệm du

lịch này mới chỉ được giải thích ở hiện tượng đi du lịch Tuy nhiên đây cũng là một khái niệm làm cơ sở để xác định người đi du lịch và là cơ sở hình thành cầu

Trang 13

Du lịch là một hoạt động: Theo Mill và Morrison, du lịch là một hoạt động xảy ra khi con người vượt qua biên giới (một nước, hay ranh giới một vùng, một lĩnh vực) để nhằm mục đích giải trí hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm Như vậy có thể xem xét du lịch thông qua những hoạt

động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi Du lịch có thể

được hiểu là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình

nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định

Du lịch dưới góc độ là khách du lịch Một quan niệm khác xem xét khái niệm

và bản chất của du lịch dưới góc độ người đi du lịch Theo cách tiếp cận này, nhà

kinh tế học người Anh, Ogilvie quan niệm khách du lịch là tất cả những người

thỏa mãn điều kiện rời khỏi nơi ở thường xuyên trong một khoảng thời gian dưới một năm và chỉ tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó" Khái

niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được mục đích của người đi du lịch

và qua đó để phân biệt được với những người cũng rời khỏi nơi cư trú của mình nhưng lại không phải là khách du lịch

Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch tại Rome (1963) thống nhất quan điểm về khách du lịch ở hai phạm vi quốc tế và nội địa, sau này Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) chính thức thừa nhận như sau:

Khách du lịch quốc tế: là một người lưu trú ít nhất một đêm nhưng không

quá một năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú, với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến

Khách du lịch nội địa: là một người đang sống trong một quốc gia, không kể

quốc tịch nào, đi đến một nơi khác không phải là nơi cư trú thường xuyên trong quốc gia đó, trong thời gian ít nhất là 24 giờ và không quá 1 năm với các mục đích

có thể là giải trí, công vụ, hội họp, thăm gia đình ngoài hoạt động làm việc để tính lương ở nơi đến

Trang 14

Quán triệt quan điểm của Tổ chức du lịch thế giới, trong Pháp lệnh du lịch của Việt nam có quy định:

Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước

ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại

Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

1.1.1.2 Tiếp cận du lịch dưới góc độ là một ngành kinh tế

Cùng với sự phát triển của xã hội, du lịch phát triển từ hiện tượng có tính đơn

lẻ của một bộ phận nhỏ trong dân cư thành hiện tượng có tính phổ biến và ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống của mọi tầng lớp trong xã hội Lúc đầu, người đi du lịch thường tự thoả mãn các nhu cầu trong chuyến đi của mình Về sau, các nhu cầu đi lại, ăn ở, giải trí…của khách du lịch đã trở thành một cơ hội kinh doanh và du lịch lúc này được quan niệm là một hoạt động kinh tế nhằm thoả mãn các nhu cầu của du khách Một ngành kinh doanh được hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người trong chuyến đi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên -

đó là ngành du lịch Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch năm 1971 cũng đi đến thống nhất cần phải quan niệm rộng rãi ngành du lịch như là người đại diện cho tập hợp các hoạt động công nghiệp và thương mại cung ứng toàn bộ hoặc chủ yếu các hàng hoá và dịch vụ cho tiêu dùng của khách du lịch quốc tế và nội địa Như vậy, khi tiếp cận du lịch với tư cách là một hệ thống cung ứng các yếu tố cần thiết trong các hành trình du lịch thì du lịch được hiểu là một ngành kinh tế cung ứng các hàng hoá và dịch vụ trên cơ sở kết hợp giá trị các tài nguyên du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn đặc biệt của du khách

1.1.1.3 Tiếp cận du lịch một cách tổng hợp

Các quan niệm đều tiếp cận du lịch dưới góc độ một hiện tượng, một hoạt

Trang 15

thể(thành phần) tham gia vào hoạt động du lịch mới có thể khái niệm và hiểu được bản chất của du lịch một cách đầy đủ Các chủ thể đó bao gồm:

Khách du lịch: Đây là những người tìm kiếm các kinh nghiệm và sự thoả

mãn về vật chất hay tinh thần khác nhau Bản chất của du khách sẽ xác định các nơi đến du lịch lựa chọn và các hoạt động tham gia, thưởng thức

Các doanh nghiệp cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch : Các nhà kinh

doanh coi du lịch là một cơ hội để kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường khách du lịch

Chính quyền sở tại: Những người lãnh đạo chính quyền địa phương nhìn

nhận du lịch như là một nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua triển vọng về thu nhập từ các hoạt động kinh doanh của dân địa phương, ngoại tệ thu được từ khách quốc tế và tiền thực thu được cho ngân quỹ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp

Dân cư địa phương: Dân cư địa phương thường coi du lịch là một nhân tố tạo

ra việc làm và giao lưu văn hoá Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là ở đây là hiệu quả của sự giao lưu giữa số lượng lớn du khách quốc tế và dân cư địa phương Hiệu quả này có thể vừa có lợi và vừa có hại Như vậy, để phản ánh một cách đầy đủ và toàn diện các hoạt động, các mối quan hệ của du lịch, theo cách

tiếp cận này, du lịch được hiểu là tổng hợp các biện pháp và các mối quan hệ nảy

sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền

và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình đón tiếp khách du lịch

Với cách tiếp cận này, khách du lịch là nhân vật trung tâm làm nảy sinh các hoạt động và các mối quan hệ để trên cơ sở đó thoả mãn mục đích của các chủ thể tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệ đó

Tóm lại, du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận xuất phát từ tính chất phong phú và sự phát triển của hoạt động du lịch Chính vì vậy, tuỳ thuộc vào từng mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng các quan niệm đó một cách phù hợp

Trang 16

1.1.2 Thể loại du lịch

Căn cứ vào mục đích chuyến đi

Mục đích chuyến đi là động lực thúc đẩy hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu

du lịch của con người Do đó, cách phân loại này còn được gọi là căn cứ vào động

cơ, căn cứ vào nhu cầu Gồm có: Du lịch thiên nhiên, Du lịch văn hoá, Du lịch lễ

hội, Du lịch hoạt động, Du lịch giải trí, Du lịch thể thao, Du lịch chuyên đề, Du lịch tôn giáo, Du lịch sức khỏe, Du lịch dân tộc học

Để đơn giản hoá và hệ thống hoá có tác giả phân các thể loại du lịch theo mục đích chuyến đi làm hai nhóm chính:

Nhóm có mục đích du lịch thuần tuý: bao gồm các thể loại du lịch tham quan,

giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao(chơi, tập luyện ), khám phá

Nhóm có mục đích kết hợp du lịch: bao gồm các thể loại du lịch tín ngưỡng

học tập nghiên cứu, hội họp, thể thao (thi đấu cổ vũ), kinh doanh, công tác, chữa

bệnh, thăm thân

Mặc dù mỗi thể loại du lịch có những đặc trưng riêng, nhưng trong thực tế thường không thể hiện nguyên một dạng mà có thể kết hợp một vài thể loại du lịch với nhau trong cùng một chuyến đi Ví dụ du lịch nghỉ ngơi với du lịch văn hoá, học tập; du lịch giải trí nghỉ ngơi với thăm hỏi…

Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ

Các tác giả Mclntosh và Gocldner đã sử dụng tiêu thức này để phân chia thành các thể loại du lịch sau:

Du lịch quốc tế: liên quan đến các chuyến đi vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ

biên giới quốc gia của khách du lịch Thể loại du lịch này được phân chia làm hai loại nhỏ:

- Du lịch quốc tế: là chuyến đi viếng thăm của những người từ các quốc gia

khác

Trang 17

Du lịch trong nước: là chuyến đi của những cư dân chỉ trong phạm vi quốc

gia của họ

Du lịch nội địa: bao gồm du lịch trong nước và du lịch quốc tế đến

Du lịch quốc gia: bao gồm du lịch nội địa và du lịch ra nước ngoài

Trong thực tế ở Việt Nam, thuật ngữ du lịch nội địa được sử dụng để chỉ những chuyến đi du lịch trong nước của người Việt Nam và trường hợp người nước ngoài đang sinh sống tạm thời hoặc làm việc tại Việt Nam khi đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài về Việt Nam du lịch được quan niệm là khách du lịch quốc tế và thuộc thể loại du lịch quốc tế đến Còn người nước ngoài cư trú tại Việt nam khi ra nước ngoài du lịch được quy định là khách du lịch quốc tế và thuộc thể loại du lịch ra nước ngoài

Các cách phân loại khác

Ngoài hai cách phân loại phổ biến và có ý nghĩa nói trên còn có rất nhiều cách phân chia du lịch thành các thể loại khác Đó là:

* Căn cứ vào sự tương tác của du khách đối với nơi đến du lịch bao gồm Du

lịch thám hiểm, Du lịch thượng lưu, Du lịch khác thường, Du lịch đại chúng, Du lịch thuê bao

* Căn cứ vào địa điểm địa lý của nơi đến du lịch bao gồm du lịch Biển, du

lịch núi, du lịch thành phố (đô thi), du lịch nông thôn (đồng quê, điền dã, trang trại, miệt vườn)

* Căn cứ vào phương tiện giao thông bao gồm du lịch xe đạp và các phương

tiện thô sơ(xích lô, xe ngựa, lạc đà), du lịch xe máy, du lịch ô tô (ô tô du lịch hoặc

xe buýt đường dài), du lịch tầu hoả, du lịch tàu thuỷ(bao gồm cả thuyền, ca nô), du lịch máy bay (bao gồm cà tàu lượn, trực thăng, khinh khí cầu) Trong thể loại này

du khách có thể có nhu cầu về dịch vụ chuyên chở hoặc thuê phương tiện vận chuyển

Trang 18

* Căn cứ vào phương tiện lưu trú bao gồm du lịch ở khách sạn, motel, nhà

trọ, bãi cắm trại và làng du lịch

* Căn cứ vào thời gian du lịch bao gồm du lịch dài ngày và du lịch ngắn

ngày

* Căn cứ vào lứa tuổi bao gồm du lịch thiếu niên, du lịch thanh niên, du lịch

trung niên và du lịch cao niên

* Căn cứ vào hình thức tổ chức du lịch bao gồm du lịch theo đoàn, du lịch

gia đình và du lịch cá nhân (du lịch "ba lô")

* Căn cứ vào phương thức hợp đồng bao gồm du lịch trọn gói và du lịch từng

phần

1.1.3 Vai trò của phát triển du lịch

1.1.3.1 Vai trò về mặt kinh tế trong nền kinh tế quốc dân

Du lịch tác động vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân

Phát triển du lịch tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân, làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội thông qua các hoạt động như: sản xuất ra

đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật Đồng thời

nó cũng góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng Hay nói một cách khác là du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cấu trúc của thu nhập

và chi tiêu của nhân dân theo các vùng

Phát triển du lịch tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

Cùng với hàng không dân dụng, kiều hối, cung ứng tàu biển, bưu điện quốc

tế, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, du lịch quốc tế hàng

Trang 19

lịch đối với nền kinh tế, nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã thu hàng tỷ USD mỗi năm thông qua việc phát triển du lịch Cụ thể, trong vòng 30 năm (1960

- 1991) thu nhập từ du lịch của thế giới đã tăng lên khoảng 38 lần, từ 6,8 tỷ USD năm 1960 lên 102 tỷ USD năm 1980, tới 260 tỷ USD năm 1991 và 423 tỷ USD vào năm 1996, bằng hơn 8% kim ngạch xuất khẩu hàng hoá toàn thế giới

Ở Việt Nam, từ năm 1990 trở lại đây, du lịch đã có những bước phát triển khá mạnh, đem lại lợi ích kinh tế đáng kể Theo thống kê của Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 1990 doanh thu của du lịch Việt Nam mới chỉ đạt đến con số là

650 tỷ đồng thì đến năm 2008, tổng doanh thu toàn xã hội từ du lịch đã đạt tới 64.000 tỷ đồng

Du lịch là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao nhất

Tính hiệu quả cao trong kinh doanh du lịch thể hiện trước nhất ở chỗ, du lịch

là một ngành “xuất khẩu tại chỗ” những hàng hoá công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chế, nông lâm sản…theo giá bán lẻ cao hơn so với việc xuất khẩu theo giá bán buôn Đồng thời, thông qua con đường du lịch, các hàng hoá được xuất khẩu mà không phải chịu hàng rào thuế quan mậu dịch quốc

tế

Ngoài ra, du lịch còn là ngành “xuất khẩu vô hình” các hàng hoá du lịch như: các cảnh quan thiên nhiên, khí hậu, những giá trị của những di tích lịch sử - văn hoá, tính độc đáo trong truyền thống, phong tục tập quán…Qua mỗi lần đưa ra thị trường, những hàng hoá vô hình này không bị mất đi mà thậm chí, giá trị và uy tín của nó còn được tăng lên rất nhiều

Hai hình thức xuất khẩu trên cho thấy hàng hoá, dịch vụ bán thông qua du lịch đem lại lợi nhuận kinh tế cao hơn do tiết kiệm được đáng kể các chi phí đóng gói bao bì, bảo quản và thuế xuất nhập khẩu Ngoài ra nó còn cho phép thu hồi

Trang 20

vốn nhanh và lãi suất cao do nhu cầu du lịch là nhu cầu cao cấp có khả năng thanh toán

Du lịch khuyến khích và thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới hiện nay thì giá trị ngành dịch vụ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội và trong số người có việc làm Do vậy, đối với các nhà kinh doanh đi tìm hiệu quả của đồng vốn thì du lịch là một lĩnh vực kinh doanh hấp dẫn so với nhiều ngành kinh tế khác

Du lịch đem lại tỷ suất lợi nhuận cao vì vốn đầu tư vào du lịch tương đối ít

so với ngành công nghiệp nặng, giao thông vận tải mà khả năng thu hồi vốn lại nhanh, kỹ thuật không phức tạp Đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ bổ sung thì nhu cầu về vốn đầu tư lại càng ít hơn (so với lĩnh vực kinh doanh dịch vụ

cơ bản) mà lại thu hút lao động nhiều hơn, thu hồi vốn nhanh hơn

Du lịch thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo

Ngành du lịch phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của một loạt các ngành khác như vận tải, bưu điện, thương nghiệp, tài chính, các hoạt động phục vụ sinh hoạt cá nhân, các dịch vụ phục vụ nhu cầu giải trí, các hoạt động văn hoá thể

thao

Mặt khác, sự phát triển của du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các

cơ sở vật chất kỹ thuật ở các ngành kinh tế khác

Phát triển du lịch sẽ mở mang, hoàn thiện cơ sở hạ tầng kinh tế như: mạng lưới giao thông công cộng, mạng lưới điện nước, các phương tiện thông tin đại chúng…Đặc biệt là ở những vùng phát triển du lịch, do xuất hiện nhu cầu đi lại,

Trang 21

1.1.3.2 Vai trò về mặt xã hội đối với đất nước

Du lịch góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động

Theo như thống kê năm 2000 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm quan trọng Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến du lịch chiếm 10,7% tổng số lao động toàn cầu Cứ 2,5 giây du lịch tạo ra được một việc làm mới Đến năm 2005, cứ 8 lao động thì có 1 người làm trong ngành du lịch so với

tỷ lệ hiện nay là 1/9 Theo dự báo của UNWTO, năm 2010, ngành du lịch sẽ tạo thêm khoảng 150 triệu việc làm, chủ yếu tập trung ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương

Tại Việt Nam, nếu như thời điểm 1990, toàn ngành du lịch chỉ có khoảng 20.000 lao động thì nay, lực lượng này đã lên đến trên một triệu lao động Trong

đó, bao gồm khoảng 285.000 lao động trực tiếp và trên 750.000 lao động gián tiếp

Và dự báo nhu cầu nguồn nhân lực du lịch Việt Nam trong 5-10 năm tới sẽ rất lớn

Cụ thể, năm 2010, tổng số lao động trực tiếp trong ngành sẽ hơn 333.000 người Đến năm 2020, con số này sẽ lên đến hơn 503.000 người

Du lịch củng cố và phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế

Du lịch góp phần củng cố và phát triển các quan hệ kinh tế quốc tế thông qua các mặt như: các tổ chức quốc tế mang tính chính phủ và phi chính phủ về du lịch tác động tích cực trong việc hình thành các mối quan hệ kinh tế quốc tế; du lịch quốc tế phát triển tạo nên sự phát triển đường lối giao thông quốc tế; du lịch quốc tế như một đầu mối “xuất-nhập khẩu” ngoại tệ, góp phần làm phát triển quan

hệ ngoại hối quốc tế

Du lịch làm giảm quá trình đô thị hoá ở các nước kinh tế phát triển

Thông thường tài nguyên du lịch thiên nhiên thường có nhiều ở những vùng núi xa xôi, vùng ven biển hay nhiều vùng hẻo lánh khác Việc đầu tư về mọi mặt giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hoá, xã hội…để khai thác, đưa những tài nguyên này vào sử dụng góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội ở các vùng đó và

Trang 22

cũng góp phần làm giảm sự tập trung dân cư căng thẳng ở những trung tâm dân

Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho các nước chủ

nhà; làm tăng thêm tầm hiểu biết chung về xã hội của người dân thông qua người

ở địa phương khác, khách nước ngoài (về phong cách sống, thẩm mỹ, ngoại ngữ…); làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết của nhân dân giữa các vùng với nhau và của nhân dân giữa các quốc gia với nhau…

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch

Thời gian rỗi của người dân : Muốn thực hiện một cuộc hành trình du lịch,

đòi hỏi con người phải có thời gian Do vậy, thời gian rỗi của người dân, là nhân

tố tất yếu cần thiết phải có để con người tham gia vào hoạt động du lịch Thời gian rỗi của dân cư ở từng nước được qui định trong bộ luật lao động hoặc theo hợp đồng lao động được ký kết

Nhờ có thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, ngày nay năng suất lao động ngày càng cao, kinh tế ngày một phát triển và mức sống của con người ngày một cải thiện Xu hướng chung bây giờ là giảm bớt thời gian làm việc và tăng số thời gian rỗi Các cơ sở du lịch đóng vai trò trung tâm trong việc kích thích sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thỏa mãn nhu cầu thể chất và tinh thần cho toàn dân

Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa chung của người dân cao : Thu

nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất để họ có thể tham gia đi du lịch Con người khi muốn đi du lịch không phải chỉ cần có thời gian mà còn phải có đủ tiền mới có thể thực hiện được mong muốn đó Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi du lịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán Trình độ văn hóa chung của một dân tộc được đánh giá chủ yếu theo các yếu

Trang 23

trình độ văn hóa, chính trị, khoa học, nghệ thuật cao, các phương tiện thông tin đại chúng phát triển, các hoạt động phim ảnh, ca hát, nhạc , kịch phong phú Nếu trình

độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt Mặt khác, nếu trình độ văn hóa chung của một đất nước cao, thì đất nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn minh và làm hài lòng khách đi du lịch đến đó

Giao thông vận tải phát triển: Từ xưa giao thông vận tải là tiền đề cho sự

phát triển du lịch Ngày nay, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân

tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông trong du lịch phát triển cả về số lượng và chất lượng Tiến bộ của vận chuyển hành khách còn thể hiện trong sự phối hợp các loại phương tiện vận chuyển Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong sự phát triển của du lịch

Sự phối hợp đó có hai mức độ: mức độ dân tộc và mức độ quốc tế Cả hai mức độ đều có vai trò quan trọng trong vận chuyển hành khách du lịch Việc tổ chức vận tải phối hợp tốt cho phép rút ngắn thời gian chờ đợi ở các điểm giữa tuyến và tạo

ra điều kiện thuận lợi khi phải đổi phương tiện vận chuyển và làm vừa lòng khách

đi du lịch

Không khí chính trị hòa bình, ổn định trên thế giới : Đó là nhân tố đảm

bảo cho việc mở rộng các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các quốc gia trên thế giới Trong phạm vi các mối quan hệ kinh tế, sự giao lưu về du lịch giữa các nước trong khu vực, trên toàn cầu không ngừng phát triển Nếu một vùng có chiến tranh hoặc xảy ra các cuộc xung đột, nhân dân ở các nước tại vùng đó khó có điều kiện ra nước ngoài du lịch và ngược lại, khách du lịch trên thế giới cũng khó có điều kiện đến các nước ở vùng đó để du lịch

Tình hình và xu hướng phát triển của đất nước : Khả năng và xu hướng phát triển du lịch của một đất nước phụ thuộc ở mức độ lớn vào tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của nước đó Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của

đất nước được phân tích và đánh giá dựa vào thực trạng và xu hướng phát triển

Trang 24

của GDP, GDP/người, tỷ trọng và xu hướng phát triển của các ngành sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng và các ngành sản xuất, xu hướng phát triển của nội, ngoại thương, tỷ trọng dân đang trong độ tuổi lao động tích cực trong tổng dân số

Tình hình chính trị hòa bình, ổn định của đất nước và các điều kiện an toàn đối với du khách : Tình hình chính trị hòa bình, ổn định là tiền đề cho sự

phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của một đất nước Một quốc gia cho dù

có nhiều tài nguyên về du lịch cũng không thể phát triển được du lịch nếu như ở

đó luôn xảy ra các sự kiện hoặc thiên tai làm xấu đi tình hình chính trị và hòa bình Các điều kiện an toàn đối với du khách như tình hình an ninh, trật tự xã hội, lòng hận thù của dân bản xứ đối với một dân tộc nào đó, các loại dịch bệnh

Tài nguyên du lịch : Một quốc gia, một vùng dù có nền kinh tế, chính trị văn

hóa, xã hội phát triển cao, song nếu không có các tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển được du lịch Tài nguyên du lịch gồm có tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn

Tài nguyên thiên nhiên gồm có địa hình đa dạng, khí hậu ôn hòa, động thực vật phong phú, giàu nguồn tài nguyên nước và vị trí địa lý thuận lợi

Tài nguyên nhân văn là các giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị

và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho sự phát triển của du lịch ở một địa điểm, một vùng hoặc một đất nước Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục đích khác nhau của chuyến du lịch có hứng thú hiểu biết

Nhân tố về sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch gồm các nhân tố về tổ chức

như bộ máy quản lý, hệ thống các thể chế quản lý, các tổ chức doanh nghiệp chuyên trách về du lịch; các nhân tố về kỹ thuật như cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội; nhân tố về kinh tế

Tất cả các nhân tố trên đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự phát

Trang 25

1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước trong khu vực và bài học cho Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm của một số nước

1.2.1.1 Thái Lan

Hầu hết các quốc gia trong khu vực đều chú trọng phát triển du lịch nhờ được thiên nhiên ưu đãi về các điều kiện tự nhiên, khí hậu Vào những năm 1960, Thái Lan với chiến dịch Xanh đã nổi bật lên như một quốc gia hàng đầu trong khu vực

về du lịch Thuật ngữ “ngành công nghiệp không khói” được ra đời để mô tả đầy

đủ quy mô và kỹ nghệ kinh doanh du lịch ở đất nước Chùa Vàng này Khách đổ về đây từ khắp nơi trên thế giới nhờ giá rẻ, những ấn tượng mới trong phục vụ và văn hóa phương đông Nhờ các dự án đầu tư tốn kém, Thái Lan có những khu du lịch nổi tiếng thế giới Với chủ trương chú trọng vào kinh doanh lớn, lợi dụng quy luật lợi thế theo quy mô, Thái Lan nhanh chóng đáp ứng nhu cầu mọi mặt của một lượng khổng lồ du khách, và cũng thu về nguồn ngoại tệ tương ứng Du khách đến Thái Lan không chỉ được hưởng thụ về vật chất mà còn cả thưởng thức nghệ thuật dân gian, tham quan đền chùa và các di tích, tắm biển với đầy đủ tiện nghi, mà còn mua sắm thoải mái Hàng hóa xuất khẩu tại ch của nền kinh tế này chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng doanh số bán hàng, điển hình là hàng dệt, da, may mặc, hàng điện tử, hàng cơ khí tiêu dùng, ngoài ra du khách còn tiêu thụ một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm và các sản phẩm công nghiệp ngành chế biến thực phẩm Ngành hàng không, tầu biển cũng vì thế được mở mang nhanh chóng Trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính, ngành du lịch Thỏi Lan được biết đến như một thiên đường dành cho khách du lịch Ngày nay, tuy không còn là hình mẫu số một của khu vực, ngành du lịch Thái Lan vẫn còn là đối thủ cạnh tranh đáng nể của các quốc gia lân cận Thành công của quốc gia du lịch này có được nhờ chiến lược tăng tốc vào những năm 1960 – 1970, các kế hoạch 5 năm liên tiếp, bắt đầu từ kế hoạch năm năm lần thứ nhất 1961 – 1965, đã vạch ra con đường

Trang 26

và tiến độ thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh ở các khu vực trung tâm, mà điển hình là Bangkok, với kỳ vọng tạo sức mạnh “lan tỏa” sang các vùng lân cận Trên thực tế Thái Lan đã tăng trưởng nhanh bằng mọi giá Cái giá phải trả cho tốc độ tăng trưởng cao là các vấn đề xã hội, y tế trên toàn quốc, và vấn đề kinh tế, đời sống ở phần bên ngoài Bangkok và một số ít trung tâm du lịch của đất nước rộng lớn này

Khi bàn về nguyên nhân của “cái giá của tăng trưởng kiểu Thái Lan”, trong

đó có du lịch, nhiều nhà phân tích đã cho rằng, tăng trưởng và tăng trưởng nhanh

là mục tiêu duy nhất trong chiến lược phát triển của Thái Lan Tiếp đến là họ thiếu đầu tư cho các yếu tố nền tảng của tăng trưởng, mà trước hết là con người Hoạt động kinh doanh du lịch ở đất nước này theo quy mô lớn, tập trung vào tay các tập đoàn và doanh nghiệp lớn Trong khi Thái Lan chú trọng tăng trưởng trước, bình đẳng sau, thì vấn đề phân phối thu nhập hoàn toàn do thị trường quyết định Đại đa

số dân chúng không được tiếp cận giáo dục Công nghiệp, thương mại và du lịch lấn át nông nghiệp và các ngành nghề truyền thống, cũng đồng thời tước bỏ việc làm và thu nhập ở hầu hết các tầng lớp dân cư Thất nghiệp và nghèo đói đẩy người lao động chấp nhận kiếm sống bằng mọi hình thức kể cả từ bỏ đạo đức và các quy tắc cộng đồng Ngoài ra, không thể không nói đến nguyên nhân từ sự buông lỏng trong quản lý của các cấp chính quyền Tại Thái Lan, tham nhũng là hiện tượng phổ biến, luồng du khách dồi dào đã khó quản lý cộng với sự thờ ơ của chính quyền càng làm tăng các vấn đề xã hội Khi cuộc khủng hoảng tài chính cuối những năm 1990 xảy ra ở đây, người ta không thấy ngạc nhiên vì những dấu hiệu

đe dọa dường như đã lộ quá rõ ràng từ trước đó rồi

1.2.1.2 Malaysia

Bán đảo rộng lớn với những công trình nhân tạo nổi tiếng này có chiến lược phát triển du lịch điềm đạm hơn người láng giềng Thái Lan của họ Từ chiến lược

Trang 27

không nôn nóng, không ồn ào, Malaysia dần chiếm các điểm chốt trên con đường

tiến tới mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển

Du lịch của Malaysia được đánh giá cao trong khu vực Sự thay đổi trong chính sách kinh tế của Malaysia được thể hiện rõ trong các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Bắt đầu từ hình thức kinh doanh (trong mọi ngành, kể cả du lịch) kiểu Ali-Baba thời chưa dung hòa quyền lợi các sắc tộc (Ali là người Mã Lai, đứng tên kinh doanh, Baba là người Hoa, đứng đằng sau), kinh tế Malaysia trì trệ, phân chia đẳng cấp rõ rệt Tình hình thay đổi khi chính phủ đưa ra chính sách kinh

tế mới trong chiến lược 20 năm 1970- 1990 mang tên kế hoạch triển vọng lần thứ nhất Đến lúc này sự phân biệt sắc tộc không còn nữa, các ngành dịch vụ, du lịch, thương mại, sản xuất vật chất ở bán đảo này đều được điều chỉnh bởi các chính sách dựa trên quan điểm thống nhất đó là tăng trưởng đi đôi với công bằng xã hội Sau 20 năm thực hiện chiến lược này, Malaysia đã trở thành nước xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo lớn thứ sáu châu á sau Nhật Bản và 4 nền kinh tế công nghiệp hóa mới Vì thế, khách du lịch vào Malaysia có thể hưởng thụ kỳ nghỉ tại các khu vui chơi hiện đại, tham quan các công trình nổi tiếng, và đặc biệt kết hợp mua sắm với giá cả rất rẻ Không thể bỏ qua chi tiết cuối cùng này vì hàng hóa của quốc gia châu á này đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế

Phát triển vững chắc bắt đầu từ nông nghiệp, trong bước thực hiện công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu, đảm bảo ổn định chính trị là chìa khóa thành công của Malaysia Tuy nhiên, đến Malaysia, du khách chưa hoàn toàn bằng lòng với các thủ tục hành chính, nạn tham nhũng và sự phiền hà vẫn chưa rời bỏ đội ngũ công chức ở đây Vì vậy, khách có xu hướng chuyển sự chú ý sang đảo quốc láng giềng của quốc gia này nhiều hơn, đó là Singapore

1.2.1.3 Singapore

Ra đời muộn mằn hơn, quốc gia nhỏ bé này lại có những bước đi mạnh mẽ hơn trên tất cả các lĩnh vực Nhờ lợi thế về vị trí địa lý, du lịch Singapore có sức hút mạnh Nhưng một hòn đảo nhỏ bé liệu giữ chân du khách được bao lâu nếu

Trang 28

không có phương thức triển khai độc đáo Nét nổi bật trong hành trình đến đảo quốc này là du khách cảm thấy được quan tâm đến từng chi tiết, đến mức người ta

có cảm tưởng rằng ngành du lịch Singapore đang phục vụ du khách một cách miễn phí Những chuyến bay giá rẻ bằng hàng không là ví dụ điển hình cho bí quyết thành công trong quản lý và kinh doanh du lịch của họ

Singapore đã biết kết hợp khéo léo, điều chuyển doanh thu giữa các ngành hàng không, dịch vụ, du lịch, thương mại, môi trường, văn hóa, nghệ thuật, v.v để tạo thành một chuỗi dịch vụ du lịch - mua sắm đan xen với sự tiện lợi nhất cho du khách Tuy nhiên, hạn chế về diện tích không cho phép Singapore khai thác thị trường một cách tối đa Ý tưởng hợp tác với các quốc gia láng giềng được đưa ra

để khai thác tối ưu các tiềm năng của từng nước và hạn chế thấp nhất những phiền

hà thủ tục hành chính ở hai quốc gia nói trên Ngày nay, một tour du lịch Singapore-Malaysia-Thailand cung cấp cho du khách chuyến đi đầy thú vị

1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Có chiến lược phát triển ngành du lịch bền vững

Phát triển du lịch phải tuân thủ một lộ trình được xây dựng trên những căn cứ khoa học Việc nóng vội đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng du lịch đã trở thành nguyên nhân gây hiệu ứng tiêu cực về xã hội ở một số quốc gia

Chiến lược phát triển bền vững ngành du lịch phải được xây dựng phù hợp với các đặc điểm dân tộc, các nguồn lực cho du lịch, các mục tiêu phát triển kinh

tế – xã hội của quốc gia và địa phương

Phát triển du lịch kết hợp phát triển sản xuất, thương mại và dịch vụ đồng bộ

Du lịch không thể phát triển đơn độc Các ngành phụ trợ cho nó là sản xuất vật chất, dịch vụ, thương mại, giao thông vận tải, văn hóa, nghệ thuật Đến lượt

nó, du lịch lại thúc đẩy kinh tế phát triển, gia tăng việc làm và thu nhập cho dân

Trang 29

Nếu Chính phủ không chú ý tạo điều kiện để du lịch và các ngành kinh tế khác phát triển tương xứng, các quan hệ kinh tế sẽ bị biến dạng, phát triển du lịch sex ở Thái lan là một ví dụ Để thực hiện được điều đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý ngành và được điều chỉnh bởi các quy định thống nhất

Không buông lỏng quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh du lịch của doanh nghiệp, các hoạt động của du khách, nhằm bảo vệ những giá trị quốc gia, giá trị dân tộc truyền thống

Tính đa dạng trong thành phần du khách, mục tiêu lợi nhuận tối đa của doanh nghiệp dễ dẫn đến những hậu quả bất lợi cho xã hội Có chính sách phù hợp, triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực, coi trọng công tác quản lý nhà nước là cơ sở để đảm bảo ổn định xã hội

Có chính sách bảo vệ tài nguyên, môi trường, các điểm du lịch

Đây cũng là một trong những yếu tố tạo nền tảng cho phát triển du lịch bền vững Singapore với màu xanh thảm thực vật nhân tạo giữa biển khơi là quốc gia

có lượng du khách đông hơn dân số cả đảo quốc Việc tôn tạo, gìn giữ cảnh quan thiên nhiên và chú ý phát triển các điểm vui chơi, nghỉ ngơi, giải trí là một bộ phận không tách rời của du lịch

Phát triển du lịch rộng khắp ở các địa phương để khai thác tối ưu tiềm năng

du lịch, giải quyết việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo

Đây là một trong những giải pháp xóa đói giảm nghèo Du lịch không thể đứng ngoài chiến lược phát triển chung của nền kinh tế, phát triển du lịch cần góp phần thực hiện mục tiêu của quốc gia

Nhiều địa phương có tiềm năng cho du lịch, biết khai thác, nuôi dưỡng tiềm năng đó là công việc của các cấp chính quyền Kết hợp giữa phát triển du lịch với phát triển các ngành kinh tế khác, địa phương có cơ hội nhanh chóng gia tăng việc làm và thu nhập cho dân cư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi bộ

Trang 30

mặt nông thôn Phân cấp QLNN về du lịch có thể tạo điều kiện tốt hơn cho việc triển khai công tác này ở các cấp chính quyền địa phương

Những bài học rút ra từ thành công cũng như thất bại của các nước trong khu vực ít nhiều có tác dụng đối với công tác quản lý nhà nước về du lịch ở nước ta Tuy không thể dập khuôn những giải pháp đã được kiểm định ở nước ngoài, song

sẽ là tham khảo cho các chính sách ở nước ta

Trang 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ NỘI

2.1 Vị trí du lịch Hà Nội trong chiến lược phát triển du lịch cả nước và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô

2.1.1 Vị trí của Hà Nội trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước

Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 4 năm 2002 và trong định hướng phát triển du lịch Việt Nam theo các vùng lãnh thổ thì Hà Nội là trung tâm của vùng và của địa bàn động lực tăng trưởng du lịch Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long Sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng là du lịch văn hóa, sinh thái kết hợp với du lịch tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng.

Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ trù phú và nổi tiếng từ lâu đời, Hà Nội có vị trí và địa thế đẹp, thuận lợi để trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của cả nước

Hà Nội, Thủ đô của Việt Nam đã có một lịch sử ngàn năm Nằm giữa ngã ba hợp lưu sông Hồng và sông Tô Lịch Mùa xuân năm 1010, vua Lý Thái Tổ, người

mở đầu vương triều Lý quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Đại La Theo truyền thuyết, khi thuyền của nhà vua đến gần thành thì thấy một con rồng vàng từ thành bay lên Nhà vua liền đặt tên cho kinh đô là Thăng Long

Qua hàng nghìn năm thăng trầm, bộ mặt Hà Nội đã trải nhiều thay đổi Do những công trình xây dựng xưa chủ yếu làm bằng gỗ nên phần lớn đã bị huỷ hoại theo thời gian Thành phố nhiều lần bị tàn phá do thiên tai, hoả hoạn hoặc do bàn tay kẻ xâm lược, chưa kể sự biến đổi sau mỗi triều đại, nhất là sau cuộc chinh phục của người Pháp năm 1882 Thành phố cũng đã được tái thiết nhiều lần Hà Nội ngày nay đã trở nên rất rộng lớn so với nửa thế kỷ trước Thủ đô gồm có 9 quận nội thành: Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Tây Hồ, Thanh

Trang 32

Xuân, Cầu Giấy, Long Biên và Hoàng Mai và 18 huyện ngoại thành: Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm, Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, Thạch Thất, Quốc Oai,Phú Xuyên, Thường Tín, Chương Mỹ, Mỹ Đức, Ứng Hoà, Thanh Oai, Mê Linh và 2 thành phố Hà Đông, Sơn Tây

Hà Nội đang ngày càng phát triển Song song với việc xây dựng những khu phố mới, việc phục hồi nguyên trạng những khu phố xưa cũng là chủ trương của thành phố Nhiều khu đô thị mới, trung tâm thương mại, khu công nghiệp nối tiếp nhau mọc lên Bên cạnh đó ta vẫn thấy một Hà Nội với phố cổ rêu phong, với ngôi chùa tĩnh mịch, với mái đình lãng đãng bóng thời gian, cùng những con đường dài xanh mướt bóng cây Chính những kiến trúc còn sót lại như các đình chùa, mà đáng chú ý nhất là Chùa Một Cột, hay quần thể các đền chùa giữa hồ Hoàn Kiếm vẫn được gìn giữ trân trọng, tạo cho thành phố một nét cổ kính đáng yêu

Trong quá trình phát triển, Hà Nội cũng không quên bảo vệ và tôn tạo những

hồ lớn, vừa là nơi nghỉ ngơi giải trí của người dân, vừa là nơi đem lại những không gian xanh và điều hoà khí hậu cho thành phố Du khách khi đến Hà Nội sẽ không thể quên những địa danh đã trở thành niềm tự hào của Hà Nội như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chùa Một Cột, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm

Hà Nội còn là chiếc nôi của những bàn tay thủ công tài hoa và tinh xảo Những làng nghề như Bát Tràng, Ngũ Xã, Yên Thái vẫn đang góp phần giữ gìn nét đẹp truyền thống cho Hà Nội

Bảo tồn, tôn trọng những giá trị của nghìn xưa, đồng thời phát triển những tinh hoa của thế giới hiện đại, Hà Nội đang ngày ngày tự đổi mới, phát huy trí tuệ

và tài năng của mình để xứng đáng là trái tim của Việt nam và là điểm dừng chân

lý tưởng cho du khách bốn phương

Hà Nội là thủ đô, đồng thời cũng là một trung tâm chính trị, văn hóa và du

Trang 33

2.1.2 Vị trớ của du lịch trong chiến lược phỏt triển KTXH của Hà Nội

Xác định vị trí quan trọng của ngành Du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và để khai thác hợp lý các tiềm năng du lịch phong phú, Hà Nội đã coi phát triển du lịch là một trong những thế mạnh chủ yếu trong chiến l-ợc phát triển kinh tế của Thủ đô Vì vậy, quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội đã

đ-ợc xây dựng và điều chỉnh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội chung của Thủ đô

Trong quy hoạch đó đ-a ra những các dự báo, ph-ơng án phát triển du lịch trong 20 năm tiếp theo và xây dựng định h-ớng, xu thế phỏt triển một cách đồng

bộ, mặt khác, cũng đ-a ra những giải pháp phù hợp trong từng thời kỳ, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô trong t-ơng lai

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội là căn cứ để xây dựng kế hoạch phát triển du lịch hàng năm và triển khai các ch-ơng trình, dự án đầu t- cho du lịch theo h-ớng thúc đẩy du lịch Thủ đô phát triển nhanh, bền vững, đạt hiệu qủa cao trên cơ sở khai thác hợp lý tài nguyên du lịch và các nguồn lực, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, du khách trong và ngoài n-ớc, trên cơ sở giữ gìn các giá trị văn hoá lịch sử và môi tr-ờng; góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thủ đô

Trên cơ sở quy hoạch du lịch đã đ-ợc phê duyệt, cơ quan có thẩm quyền thực hiện tụt công tác quản lý nhà n-ớc theo đỳng định hướng và hoàn thành cỏc chỉ tiờu mang tớnh chiến lược của ngành, đồng thời, đõy cũng là cơ sở để cỏc ngành cú liờn quan khỏc như: thương mại, cụng nghiệp, giao thông, bưu chớnh viễn thụng, dịch vụ, ngõn hàng phối hợp đồng bộ để thực hiện quy hoạch phỏt triển của ngành mỡnh và có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa ph-ơng có liên quan cùng phối hợp tham gia thực hiện

Trong quỏ trỡnh thực hiện quy hoạch du lịch, cũng đề cập nhiều đến vấn đề phỏt triển hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch, phõn bố cụ thể tại từng địa bàn quận

Trang 34

huyện, từ đó, làm nền tảng cho việc hoạch chiến lược kinh tế của từng địa phương Đồng thời, Thành phố cũng đã có chính sách chiến lược khôi phục, phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống phục vụ du lịch Mặt khác, dựa trên cơ sở quy hoạch phát triển du lịch Hà Nội, bản thân từng địa phương (quận, huyện) cũng xây dựng chiến lược phát triển các hoạt động phụ trợ phục vụ du lịch như: quy hoạch phát triển c¸c khu th-¬ng m¹i; khu, làng trồng hoa, rau, quả

Thủ đô đã đạt những kết quả rất đáng ghi nhận: Tốc độ tăng trưởng GDP quý 1/2009 đạt 10,7%, là mức tăng cao nhất trong 6 năm gần đây Tính chung, trong 4 tháng đầu năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 15,2%, mức huy động vốn

xã hội đạt 12 ngàn tỷ đồng, tăng 15%, trong đó vốn đầu tư nước ngoài đạt 650 triệu USD, tăng hơn 2 lần; tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tăng 28%; kim ngạch xuất khẩu đạt 1,7 tỷ USD, tăng 27% so với cùng kỳ năm trước Đặc biệt, việc huy động nội lực của Thủ đô phát triển mạnh từ nhiều thành phần với việc ra đời, đi vào hoạt động của hơn 3.600 DN mới với tổng vốn đăng ký hơn 37 ngàn tỷ đồng, tăng 80% Thu ngân sách đạt 25.800 tỷ đồng, tăng 64,6%

2.2 Tiềm năng du lịch của Hà Nội

đã mang lại cho Hà Nội nguồn tài nguyên du lịch quý giá để có thể tạo ra các sản phẩm du lịch vừa độc đáo, vừa đa dạng và hấp dẫn

Trang 35

2.2.2 Đặc điểm địa hình

Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng Bắc Bộ Địa hình cơ bản là đồng bằng Trừ huyện Ba Vì có địa hình đồi núi, các huyện Sóc Sơn, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức, thành phố Sơn Tây và một phần huyện Đông Anh có địa hình gò đồi Ở Hà Nội có nhiều điểm trũng Việc đắp đê ngăn lũ sông Hồng từ cách đây hàng trăm năm dẫn tới việc các điểm trũng do sông Hồng không tiếp tục được phù sa bồi lấp và như vậy nền đất vẫn trũng cho đến tận ngày nay, còn ở Sóc Sơn vẫn còn những điểm trũng xen kẽ với gò đồi

Hà Nội còn có nhiều ao, hồ, đầm là vết tích của con sông Hồng trước đây đã

đi qua Ở huyện Thanh Trì và Hoàng Mai có nhiều hồ lớn và nông, trong đó có hồ Linh Đàm và hồ Yên Sở Do có nhiều ao hồ, nên có tên Thanh Trì Trước khi đắp

đê, sông Hồng hay đổi dòng chảy, khiến cho một số đoạn sông bị cắt riêng ra thành hồ lớn và sâu Tiêu biểu cho loại hồ này là Hồ Tây Hồ Hoàn Kiếm từng là một hồ rất rộng, nhưng thời thuộc Pháp đã bị lấp tới hơn một nửa Các hồ Giảng

Võ, hồ Ngọc Khánh, hồ Thủ Lệ trước kia thông nhau, nay bị lấp nhiều chỗ và bị chia cắt thành các hồ riêng biệt

Ngoài các sông lớn như sông Hồng (đoạn đi qua Hà Nội gọi là Nhĩ Hà), sông

Đà, sông Tích, sông Đáy còn có các sông nhỏ như sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Nhuệ, v.v

Địa hình đồi núi chỉ chiếm một phần nhỏ phía Tây Bắc với đỉnh Ba Vì cao nhất l296m, phía Tây Nam là các đồi đá vôi thấp giáp với đường 21A và huyện

Mỹ Đức có hai dãy núi Hương Sơn và Lương Ngãi dạng đại hình Kast với hệ thống hồ, phễu, máng, trũng, tạo nên những khối núi đá vôi riêng biệt dáng tháp và tháp cui, cùng với những hang động rất có giá là đối với du lịch như động Hương Tích, động Hinh Bồng động Tuyết Sơn …với cấu tạo địa hình như trên thì vùng đồng bằng là những cảnh quan quen thuộc gần gũi với mọi người đó là những làng quê trù phú ẩn mình trong những luỹ tre xanh mang nét đặc trưng riêng biệt của

Trang 36

miền Bắc kết hợp với các dãy núi có hang động đẹp (hang Cắc Cớ…) rất hấp dẫn khách du lịch

• Từ tháng 5 đến tháng 8 là mùa hè: nóng và thi thoảng có mưa rào

• Từ tháng 9 đến tháng 11 là mùa thu Thời tiết khô ráo, trời cao, xanh ngắt, gió mát, nắng vàng

• Từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau là mùa đông: Thời tiết lạnh, khô ráo

• Từ tháng 2 đến tháng 4 là mùa xuân: Cây cối xanh tốt với hàng ngàn loài hoa khoe sắc, mùa của những lễ hội truyền thống độc đáo, mở đầu là Tết nguyên đán, lễ hội lớn và quan trọng nhất của người Việt Nam

• Nhiệt độ thấp nhất là 2,70C (tháng 1/1955)

• Nhiệt độ cao nhất: 42,80C(tháng 5/1926)

Khách du lịch có thể tới thăm Hà Nội quanh năm Tuy nhiên, mùa xuân, mùa thu

và mùa đông rất thích hợp với du khách ở những vùng hàn đới

2.2.4 Cây xanh

Một trong nhiều lý do để du khách yêu mến các thành phố của Việt Nam,

Trang 37

Từ thế kỷ XIX, các giống cây này được đưa về từ khắp nơi trên thế giới, trồng dọc theo những con phố làm dịu đi ánh nắng chói chang của mặt trời nhiệt đới Nhiều cây còn tồn tại cho đến ngày nay có kích thước khá lớn

Một trong những loài cây trồng nhiều nhất là phượng vĩ đơm hoa rực đỏ mỗi khi hè về

Trong khu phố cổ Hà Nội có rất nhiều dâu da xoan với chùm hoa màu sữa Những hàng cây nhỏ phù hợp với khung cảnh nơi này đến nỗi các hoạ sỹ luôn luôn đưa chúng vào trong tranh vẽ phố cổ

Những cây bàng có hoa nhỏ li ti màu xanh nhạt, bám dọc thành một cụm nhỏ Lá bàng lớn, thuôn dài, có màu xanh đậm, toả bóng mát dịu giữa trưa hè Đến tháng chín, lá cây chuyển sang màu vàng và đỏ để cuối cùng rực đỏ vào mùa thu Đây là một trong số ít các loài cây ở Hà Nội đổi màu lá theo mùa vào dịp cuối năm

Xà cừ là một trong những cây cao nhất ở Hà Nội, được lấy giống về từ châu Phi nên rất hợp với khí hậu nóng khô

Người Hà Nội khi đi xa luôn gắn liền với những kỷ niệm về hoa sữa Tháng mười, những đoá hoa màu trắng xanh toả hương nồng nàn trên các dãy phố như Quang Trung, Nguyễn Du

Thậm chí cả đến những cây non cũng trổ hoa màu cam nho nhỏ

Mỗi mùa có một niềm vui riêng Mùa hè ở Hà Nội có thể khá oi ả nhưng vẻ đẹp của những hàng cây xanh mát cũng đủ làm dịu đi cái nắng gắt gao

Trên đây chỉ là một vài loại cây đặc trưng cho Hà Nội Ngoài ra còn có hàng trăm loại cây và hoa khác nhau góp phần tạo nên một Hà Nội xanh nên thơ trong con mắt khách thăm

2.2.5 Dân cư

Dân số của Hà Nội có 6.1 triệu người Dân cư Hà Nội phân bố không đều giữa các lãnh thổ hành chính và giữa các vùng sinh thái Mật độ dân số trung bình của Hà Nội là 2881 người/km2 (mật độ trung bình ở nội thành 19163 người/km2

, riêng quận Hoàn Kiếm là 37265 người/km2, ở ngoại thành 1721 người/km2) Mật

Trang 38

độ này cao gấp gần 12 lần so với mức trung bình của cả nước, gần gấp đôi mật độ dân số của vùng đồng bằng sông Hồng

2.2.6 Kinh tế

Theo UBND thành phố Hà Nội, trong 5 năm từ 2001-2005, kinh tế thủ đô liên tục phát triển với tốc độ cao và ổn định Bình quân trong 5 năm, GDP của Hà Nội tăng 11,1%/năm, bằng 1,5-1,6 lần tốc độ tăng GDP bình quân của cả nước Trong giai đoạn 2006-2010 Hà Nội phấn đấu đạt mức tăng trưởng GDP chung từ 11% đến 12%; tổng đầu tư xã hội tăng bình quân 17% đến 19% Giao thông công cộng sẽ đáp ứng khoảng 35% nhu cầu đi lại của nhân dân; 100% dân cư nội thành được sử dụng nước sạch với tiêu chuẩn 150-160 lít/người/ngày đêm

Báo cáo Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố khoá XIV cho biết, về lĩnh vực kinh tế, 3 tháng đầu năm 2009, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thành phố ước đạt 3,1% Đây là con số tăng trưởng thấp nhất từ trước đến nay Các hoạt động thương mại, dịch vụ, tăng nhưng không cao, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1,5 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm ngoái Du lịch và sản xuất nông nghiệp bị suy giảm mạnh nhất; trong đó, nông nghiệp giảm 18,4%

so với năm 2008

2.2.7 Văn hóa

Tất cả các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản cấp quốc gia đều đóng tại

Hà Nội Tin tức của mọi vùng lãnh thổ trên đất nước cũng được phát ra từ đây trên sóng phát thanh và truyền hình Hàng trăm tờ báo và tạp chí, hàng chục đầu sách mới của gần 40 nhà xuất bản trung ương phát hành khắp nơi, ra cả nước ngoài, làm phong phú đời sống văn hóa của nhân dân và giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới

Hà Nội có riêng một Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội, một tờ báo hàng ngày là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô: tờ "Hà Nội

Trang 39

chục bản tin chuyên đề Nhà xuất bản Hà Nội mỗi năm ra hàng trăm đầu sách, mà sách về đề tài Hà Nội chiếm tỷ trọng hàng đầu

Đi trên đường phố thủ đô, ta thường bắt gặp các khuôn mặt quen thuộc của nhiều văn nghệ sĩ và nhà khoa học danh tiếng Trụ sở trung ương các hội văn học - nghệ thuật, các hội khoa học - kỹ thuật, các xưởng phim, nhà hát quốc gia của các

bộ môn nghệ thuật đều đóng ở thủ đô

Về số lượng nhà bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, câu lạc bộ, rạp hát, chiếu bóng, hiệu sách, di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc và cách mạng, Hà Nội đứng hàng đầu, 521 trong số hơn 2000 di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận xếp hạng

Bên cạnh các nhà hát nghệ thuật quốc gia, riêng Hà Nội có sáu nhà hát và đoàn nghệ thuật Vốn nghệ thuật dân gian truyền thống được quan tâm bảo tồn và phát huy Đoàn múa rối nước Thăng Long không chỉ sáng đèn hằng đêm ở nhà hát bên Hồ Hoàn Kiếm mà còn đi lưu diễn nhiều lần ở các châu lục

Câu lạc bộ chèo truyền thống Nguyễn Đình Chiểu vẫn thường xuyên trình

diễn các trích đoạn chèo cổ của ông cha để lại Vở Kiều của Nhà hát cải lương Hà

Nội đã có hơn 2000 đêm diễn Nhà hát kịch Hà Nội, Nhà hát ca múa Thăng Long

là những đơn vị nghệ thuật có hạng của cả nước với tuổi đời hơn 40 năm Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội với chín hội thành viên, gần 2000 hội viên

Hà Nội là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về xây dựng nếp sống văn minh và gia đình văn hóa mới

là các công trình nghệ thuật đặc sắc

Trang 40

Quảng trường Ba Đình (tên thời Pháp thuộc là Rond-point Pugininer, tên cũ

là vườn hoa Ba Đình) là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước lăng chủ tịch Hồ Chí Minh, mang nhiều dấu ấn lịch sử trong truyền thống dân tộc Việt Nam Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại đây Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Đây

là nơi diễn ra các cuộc diễu hành nhân dịp các ngày lễ lớn của Việt Nam, và cũng

là nơi vui chơi, dạo mát của người dân thủ đô Hà Nội

Lăng Hồ Chí Minh, hay Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác, là nơi đặt thi hài của

Chủ tịch Hồ Chí Minh Lăng Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi ông đã từng chủ trì các cuộc mít tinh lớn

Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975 Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp Ở mặt chính có dòng chữ: "Chủ tịch Hồ-Chí-Minh" bằng đá hồng màu mận chín Lăng được xây theo kiểu kiến trúc hiện thực xã hội chủ nghĩa, lấy nguyên bản của Lăng Lênin

Chùa Một Cột hay Chùa Mật, còn có tên khác là Diên Hựu tự hoặc Liên

Hoa Đài, là một ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam

Phủ Tây Hồ nằm trên một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây, trước là một làng cổ

của kinh thành Thăng Long nằm ở phía đông của Hồ Tây Ở ngay đầu làng có một ngôi đền thờ bà chúa Liễu Hạnh, một người đàn bà tài hoa, giỏi đàn ca, thơ phú, đức độ nên đã được dân gian thần thánh hoá tôn làm Thánh Mẫu (Thánh Mẹ) Hàng năm vào rằm tháng riêng âm lịch, khách hành hương về đây rất đông, vừa đi

Ngày đăng: 17/03/2015, 15:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, (1998), “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1998
2. Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, (1998), “Kết luận của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trong tình hình mới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trong tình hình mới
Tác giả: Ban Kinh tế Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1998
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, (2008), “Tài liệu Hội thảo phát triển nguồn nhân lực du lịch trong điều kiện nước ta gia nhập WTO”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Hội thảo phát triển nguồn nhân lực du lịch trong điều kiện nước ta gia nhập WTO
Tác giả: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Năm: 2008
4. Chính phủ nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, (2007), “Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 1/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Du lịch”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 92/2007/NĐ-CP ngày 1/6/2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Du lịch
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2007
5. Trương Đình Chiến (2004), Quản trị kênh phân phối, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, Khoa Marketing, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị kênh phân phối
Tác giả: Trương Đình Chiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
6. Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà, (2004), Giáo trình Kinh tế du lịch, Trường đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Du lịch và khách sạn, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hoà
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động - Xã hội
Năm: 2004
7. Đinh Trung Kiên, (2004), “Một số vấn đề về du lịch Việt Nam”, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về du lịch Việt Nam
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2004
8. Vũ Đức Minh, (1999), Tổng quan du lịch, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan du lịch
Tác giả: Vũ Đức Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
9. Trần Ngọc Nam, Trần Huy Khang, Marketing Du lịch, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing Du lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
10. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, (2005), “Luật Du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/6/2005
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI
Năm: 2005
11. Robert Lanquar, (2002), Kinh tế du lịch, Bộ sách giới thiệu những kiến thức thời đại, Nhà xuất bản Thế giới, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch, Bộ sách giới thiệu những kiến thức thời đại
Tác giả: Robert Lanquar
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
Năm: 2002
13. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lich Hà Nội, “ Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội
14. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Báo cáo các năm 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo các năm 2003, 2004, 2005, 2006, 2007
15. Vũ Phương Thảo, Giáo trình nguyên lý Marketing, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nguyên lý Marketing
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
16. Trần Đức Thanh, (2000), Nhập môn khoa học du lịch, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. Tổng cục Du lịch, (10/2007), “Đề cương phát triển du lịch trên nền tảng phát triển văn hóa”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương phát triển du lịch trên nền tảng phát triển văn hóa
18. Tổng cục Du lịch (2006), “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Năm: 2006
19. Tổng cục Du lịch, (2007), “Giải pháp tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam”, tài liệu Hội nghị chuyên đề, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng trưởng khách quốc tế đến Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Năm: 2007
12. Robert Lanquar & Robert Hollier, (2002), Marketing du lịch, Bộ sách giới Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT - Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 5)
Bảng 2.1. Kết quả kinh doanh Du lịch - Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội
Bảng 2.1. Kết quả kinh doanh Du lịch (Trang 46)
Bảng 2.2. L-ợng khỏch du lịch quốc tế đến Hà Nội và Việt Nam thời kỳ  2003 – 2007 - Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội
Bảng 2.2. L-ợng khỏch du lịch quốc tế đến Hà Nội và Việt Nam thời kỳ 2003 – 2007 (Trang 47)
Bảng 2.3. L-ợng khách của các thị tr-ờng hàng đầu đến Hà Nội - Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội
Bảng 2.3. L-ợng khách của các thị tr-ờng hàng đầu đến Hà Nội (Trang 49)
Bảng 2.4. Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn Thành phố Hà Nội - Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội
Bảng 2.4. Số lượng cơ sở lưu trú trên địa bàn Thành phố Hà Nội (Trang 54)
Bảng 3.1. Dự báo số lƣợng khách đến 2010 và tầm nhìn 2020 - Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội
Bảng 3.1. Dự báo số lƣợng khách đến 2010 và tầm nhìn 2020 (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN