Du lịch phát triển đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của đất nước, góp phần cải thiện đáng kể về cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ lực lượng lao
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 5
MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 9
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 9
3.2 Nội dung nghiên cứu 9
4 Phạm vi và đối tượng nghiêncứu 10
4.1 Phạm vi nghiên cứu 10
4.2 Đối tượng nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1.1 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội 12
1.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển du lịch 15
1.3.Quản lý nhà nước về du lịch trong phát triển nguồn nhân lực du lịch 16
1.4 Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam hiện nay 17
1.4.1 Yêu cầu chung 18
1.4.2 Yêu cầu cụ thể 19
1.4.2.1 Phát triển nguồn nhân lực du lịch đảm bảo yêu cầu về số lượng, chất
lượng và cơ cấu hợp lý .19
1.4.2.2 Phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM 24
2.1 Một số nét khái quát về du lịch Việt Nam 24
2.1.1 Tài nguyên và các loại hình du lịch ở Việt Nam 24
Trang 42.1.2 Một số kết quả hoạt động du lịch 30
2.1.2.1 Đón và phục vụ du khách 30
.1.2.2 Thu nhập du lịch 31
2.1.2.3 Đầu tư phát triển du lịch 32
2.1.2.4 Cơ sở kinh doanh du lịch 33
2.1.2.5 Hợp tác, hội nhập quốc tế 35
2.2 Thực trạng số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực du lịch 36
2.2.1 Về số lượng nguồn nhân lực du lịch 36
2.2.2 Về chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực du lịch 38
2.2.2.1 Chất lượng nguồn nhân lực du lịch 39
2.2.2.2 Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch , 45
2.3 trạng hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch 53
2.3.1 Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực du lịch 53
2.3.1.1 Hệ thống quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực dulịch 53
2.3.1.2 Hoạt động quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực du lịch 55
2.3.2 Hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch 61
2.3.2.1 Số lượng tuyển sinh 61
2.3.2.2 Chương trình đào tạo 62
2.3.2.3 Đội ngũ giáo viên 63
2.3.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo bồi dưỡng 64
2.3.2.5 Hợp tác quốc tế về đào tạo bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch 66
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY 69
3.1 Kiện toàn tổ chức và nhân sự phụ trách công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch 69
3.1.1 Đối với công tác quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương 69
3.1.2 Đối với công tác quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương 71
3.1.3 Đối với công tác phát triển nguồn nhân lực tại các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động du lịch 72
3.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển
Trang 5nguồn nhân lực du lịch 73
3.2.1 Thực hiện chủ trương ưu tiên phát triển cán bộ du lịch 73
3.2.2 Cụ thể hóa chính sách khuyến khích xã hội hoá phát triển nguồn nhân lực du lịch 74
3.2.3 Bổ sung, hoàn thiện danh mục chức danh, tiêu chuẩn cán bộ, công chức, viên chức và lao động du lịch 75
3.2.4 Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp với đào tạo kỹ năng thực hành nghề du lịch 75
3.2.5 Quy định tiêu chuẩn bậc nghề đối với các hệ đào tạo nghề du lịch 77
3.2.6 Quy định trách nhiệm của các cơ sở hoạt động du lịch trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực 77
3.2.7 Chính sách thu hút tài năng trong phát triển nguồn nhân lực 78
3.3 Nâng cao năng lực cơ sở đào tạo phát triển nguồn nhân lực 78
3.3.1 Phát triển, hoàn thiện mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch 78
3.3.2 Xây dựng, hoàn thiện chương trình khung cho các bậc đào tạo du lịch 80
3.3.3 Xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phá triển 80
3.3.4 Chú trọng các hoạt động hỗ trợ, khuyến khích đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch 81
3.4 Duy trì và mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế 82
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC .89
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết
tắt
Viết đầy đủ tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
APEC Asia Pacific Economic
Mạng lưới các cơ sở đào tạo du lịch khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
ASEAN Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á ATF Asian Tourism Forum Diễn đàn du lịch ASEAN
GMS Greater Mekong Subregions Tiểu vùng Sông Mekong mở rộng
WEC West - East Corridor Hành lang Đông - Tây
WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng khách du lịch (2000-2008) 29
Bảng 2.2 Thu nhập du lịch giai đoạn (2000-2008) 31
Bảng 2.3 Tỷ lệ tăng thu nhập du lịch giai đoạn (2000-2008) 31
Bảng 2.4 Dự báo số lao động trực tiếp ngành Du lịch 2010-2015 37
Bảng 2.5 Lao động du lịch trực tiếp theo khu vực trên cả nước 45
Biểu đồ 2.1 Số lượng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam 36
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu trình độ chuyên môn du lịch của lao động trực
Biểu đồ 2.4 Cơ cấu lao động phục vụ trực tiếp thuộc các ngành nghề 48
Biểu đồ 2.5 Cơ cấu độ tuổi nguồn nhân lực du lịch Việt Nam 50
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch Việt Nam với tiềm năng to lớn về tự nhiên, xã hội và nhân văn, trong những năm qua đã bước đầu phát triển đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Nhận thức của Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân về du lịch với vai trò là một ngành kinh tế quan trọng dần được hình thành Du lịch phát triển đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung của đất nước, góp phần cải thiện đáng kể về cơ sở hạ tầng, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát triển, tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước sang hướng kinh tế công nghiệp - dịch vụ, tác động trực tiếp đến việc tái phân chia thu nhập trong xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống cho một bộ phận nhân dân, khai thác những tiềm năng sẵn có của đất nước, giữ vai trò quan trọng trong việc tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế, nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Tuy nhiên, so với tiềm năng và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì đến nay du lịch phát triển chưa thực sự tương xứng Những thành tựu đã đạt được thời gian qua mới chỉ là kết quả bước đầu, chưa toàn diện, chưa vững chắc và còn nhiều hạn chế Điều đó đặt ra cho du lịch nước nhà một nhiệm vụ nặng nề trong tiến trình chinh phục chặng đường dài phía trước để đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Là một ngành kinh tế mới bước đầu phát triển, du lịch nước ta chưa tạo lập được đầy đủ những yếu tố cơ bản, toàn diện để thúc đẩy tiến trình phát triển nhanh và bền vững; lực lượng sản xuất còn nhiều hạn chế, thiếu đồng
bộ, trình độ chuyên môn hoá chưa cao; các yếu tố về kiến trúc thượng tầng như cơ sở luật pháp, cơ chế chính sách còn đang trong quá trình xây dựng và
Trang 9hoàn thiện, chưa theo kịp sự phát triển của hoạt động thực tiễn Hệ thống tổ chức bộ máy, nhân sự quản lý Ngành, các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực du lịch và nhất là nguồn nhân lực du lịch vốn đã không được phát triển trong một môi trường ổn định từ khi thành lập Ngành, lại chịu ảnh hưởng của một thời gian dài hoạt động trong cơ chế kinh tế tập trung bao cấp, nay trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đã bộc lộ những khiếm khuyết cần được nhanh chóng khắc phục, nhất là công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển chung của Ngành Đây là một trong những điều kiện tiên quyết, góp phần thực hiện thành công mục tiêu “Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” như Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra
Để giải quyết yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của ngành Du lịch, việc phân tích, đánh giá về thực trạng và công tác phát triển nguồn nhân lực
du lịch, xác định những điểm mạnh, ưu thế cần phát huy; đồng thời tìm ra những vấn đề còn hạn chế, yếu kém, nhằm đề xuất những giải pháp thiết thực, khả thi, góp phần nhanh chóng phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu cả về số lượng, chất lượng và có cơ cấu phù hợp là một việc làm cần thiết
Vì vậy, đề tài “Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam hiện nay” được chọn làm đề tài luận văn
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu một cách đầy đủ, chi tiết về các giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam Tuy nhiên, có một số tài liệu của Tổng cục Du lịch, của các đơn vị như Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Tạp chí Du lịch, các cơ sở đào tạo du lịch
và một số tài liệu khoa học khác có đề cập một phần nội dung mà luận văn nghiên cứu Nội dung chủ yếu thường được đề cập trong các tài liệu khoa học
Trang 10này là thông tin về thực trạng, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch và có
đề xuất một số giải pháp chung cho đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch Cụ thể như:
Năm 2006, Tổng cục Du lịch có đề tài nghiên cứu cấp ngành về “Thực trạng và giải pháp chủ yếu phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” đề cập một số nội dung, trong đó có hai nội dung chủ yếu là: (i) thực trạng ngành Du lịch Việt Nam; (ii) các định hướng, giải pháp hiện nay để thực hiện mục tiêu đưa Du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn;
Nhóm tác giả trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và chuyên gia tư vấn Viện Nghiên cứu Chính sách Quốc gia Nhật Bản năm 2006 phối hợp xây dựng Báo cáo “Tăng cường năng lực quản lý và xúc tiến các hoạt động thương mại dịch vụ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” thuộc Dự án VIE/02/009 Nội dung Báo cáo tập trung làm rõ một số vấn đề về: (i) thực trạng, xu hướng phát triển của ngành Du lịch Việt Nam, (ii) đánh giá sản phẩm du lịch Việt Nam, (iii) điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và một
số khuyến nghị, giải pháp phát triển bền vững đối với du lịch Việt Nam;
Kỷ yếu hội thảo: “WTO - Những giải pháp phát triển Du lịch Việt Nam”
do Tạp chí Du lịch Việt Nam phối hợp với Ban Quốc tế - Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức năm 2006, có nội dung thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tốc độ phát triển Du lịch Việt Nam và công tác đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực trong ngành Du lịch
Tài liệu dùng trong Hội thảo phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch:
“Báo cáo công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch thời gian qua và phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đến năm 2010” của Tổng cục Du lịch, tháng 9/2004 đã nêu (i) tình hình, kết quả đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch; (ii) những hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch và nguyên nhân; (iii) phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục
Trang 11đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch đến năm 2010
và những năm tiếp theo
Tài liệu về: “Chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam đến năm 2015” của Tổng cục Du lịch năm 2006, tập trung vào các nội dung: (i) thực trạng và định hướng phát triển nguồn nhân lực du lịch; (ii) chương trình hành động phát triển nguồn nhân lực du lịch đến năm 2015
3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm ra các giải pháp khả thi, góp phần thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực du lịch cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động du lịch, đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch nhanh và bền vững Trên
cơ sở phân tích thực trạng và công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam thời gian qua, phát hiện những mặt tích cực và những hạn chế, bất cập,
để đề xuất các giải pháp khả thi trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch ở cả 3 khu vực lao động: quản lý nhà nước, sự nghiệp và kinh doanh du lịch
3.2 Nội dung nghiên cứu
Để giải quyết được mục tiêu đã đề ra, luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung chính như sau:
- Vị trí vai trò quan trọng của nguồn nhân lực trong phát triển du lịch Việt Nam
- Yêu cầu phát triển về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động du lịch du lịch Việt Nam;
- Thực trạng nguồn nhân lực và hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam Phân tích, đánh giá những mặt tích cực và những điểm còn hạn chế cần khắc phục
Trang 12- Đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam hiện nay, tập trung vào các nhóm giải pháp về: Tổ chức bộ máy, nhân sự làm công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch; cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triển nguồn nhân lực du lịch; nâng cao năng lực các cơ sở đào tạo du lịch; duy trì và mở rộng hợp tác quốc tế về phát triển nguồn nhân lực du lịch
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi và không gian nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu
các yếu tố liên quan đến nguồn nhân lực du lịch, tập trung vào lực lượng lao động trực tiếp của ngành Du lịch; công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực
du lịch và đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch trong phạm vi cả nước dưới góc độ quản lý nhà nước về du lịch
- Về thời gian: Các tài liệu thứ cấp đưa vào nghiên cứu, phân tích
được thu thập trong thời gian từ năm 2000 đến 2009; các tài liệu, số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2008, 2009 Các giải pháp đưa ra để thực hiện trong giai đoạn từ nay đến năm 2015, tạo cơ sở phát triển đến năm 2020
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các yếu tố về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động du lịch, chủ yếu tập trung vào lao động du lịch trực tiếp; hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam thời gian qua; phát hiện những điểm mạnh, những yếu tố tích cực cần phát huy cũng như những khó khăn, bất cập cần được giải quyết; đề xuất các giải pháp phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển ngành Du lịch hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là phương pháp luận cho quá trình phân tích, kết luận các vấn đề nghiên cứu
Trang 13Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Nghiên cứu tài liệu, thống kê, so sánh
và tổng hợp các thông tin, số liệu được khai thác từ các tài liệu thứ cấp hoặc phỏng vấn, thu thập trực tiếp từ các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực du lịch, mạng internet
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Vai trò và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch
1.1 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển du lịch Việt Nam 1.3 Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với phát triển
nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
2.1 Một số nét khái quát về du lịch Việt Nam
2.2 Thực trạng về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động du lịch
2.3 Thực trạng hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch
Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam
hiện nay
3.1 Kiện toàn tổ chức và nhân sự về phát triển nguồn nhân lực du lịch 3.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển nguồn nhân lực du lịch
3.3 Nâng cao năng lực cơ sở đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch 3.4 Duy trì và mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế
Trang 14Chương 1 VAI TRÒ VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
DU LỊCH VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội
Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực luôn được xác định là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên động lực cho
sự phát triển Trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản rồi xã hội chủ nghĩa, yếu tố con người luôn được xếp vào vị trí trung tâm trong mọi hoạt động phát triển Con người, trước hết mang những bản năng cơ bản chung của động vật trong thế giới tự nhiên Trong thời kỳ sơ khai, mông muội, để tồn tại và phát triển được trong thiên nhiên hoang dã, con người phải sống quần tụ với nhau, cùng hợp sức đấu tranh với các mối hiểm họa bên ngoài để tồn tại và phát triển Tuy nhiên, con người ngay từ thuở sơ khai đã không chỉ có khả năng về hoạt động cơ bắp, mà điều quan trọng là khả năng tư duy, biết nhìn nhận, tổng kết, đánh giá, đúc rút kinh nghiệm, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn và dùng ngôn ngữ để trau dồi, tích lũy và truyền lại hiểu biết cho các thế hệ tiếp sau Chính khả năng tuy duy và công cụ ngôn ngữ đã giúp con người có một khả năng đặc biệt để vượt lên và làm chủ thế giới Cùng với sức lao động, con người với kinh nghiệm, kiến thức, khả năng tư duy và công cụ ngôn ngữ ngày càng phát triển thông qua hoạt động thực tiễn đã tạo nên một yếu tố cơ bản, xuyên suốt trong mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, mà ngày nay chúng ta quen sử dụng với khái niệm nguồn nhân lực Trong xã hội hiện đại, khi nền kinh tế thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang kinh tế tri thức, ngồn nhân lực lại càng đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại trong phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại, từng quốc gia, cũng như của mỗi địa phương, đơn vị Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế
Trang 15giới (WTO), chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố tác động từ hoạt động của tổ chức này Có thể hình dung việc Việt Nam ra nhập WTO cũng giống như con thuyền nhỏ ra với biển lớn, cơ hội rất nhiều, nhưng thách thức cũng lớn Ngoài những khó khăn, thách thức do việc chuyển đổi về cơ chế, từ cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, thách thức lớn nhất mà Việt Nam gặp phải không phải là nguồn lực tự nhiên hay các yếu tố khách quan khác, mà chính là nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập sâu và toàn diện trong nền kinh tế thị trường hiện đại Nguồn nhân lực của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế bộc lộ rõ sự bất cập về nhiều mặt như số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, phân bố lao động và điều quan trọng là cơ chế chính sách phát triển chưa phù hợp, nên chưa thực sự tạo ra bước đột phá mạnh mẽ Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận được vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nhấn mạnh nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội này, tại Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thông qua Nghị quyết
về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [5, tr.66 -101] Yếu tố con người được Đảng xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh
tế - xã hội giai đoạn 1991-2000, Đảng ta đã đặt con người vào vị trí trung tâm phát triển: “Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người” [7, tr.8] Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX xác định một trong ba khâu đột phá để làm chuyển động toàn bộ nền kinh tế - xã hội là:
“Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực” [1, tr.159] Gần đây,
để cụ thể hóa hơn nữa nhiệm vụ phát triển, hoàn thiện, nâng cao chất lượng nhân lực của những nhóm đối tượng chủ lực trong hoạt động phát triển kinh tế
Trang 16- xã hội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua các nghị quyết về lãnh đạo, chỉ đạo và định hướng phát triển giai cấp công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên Đó là các thành phần xã hội có vai trò trực tiếp, quan trọng trong suốt tiến trình cách mạng của dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đặc biệt trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, để đạt được mục tiêu phát triển “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [13, tr.11]
Trên cơ sở các định hướng lớn của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch hoạt động
để phát triển nguồn nhân lực Thực hiện đẩy mạnh xã hội hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực, nhằm tận dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của xã hội ở trong và ngoài nước cho nhiệm vụ phát triển con người, nguồn lực lao động hàng đầu của đất nước Nhiều ngành, nghề, vị trí công việc trước đây đều do chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm thì hiện nay ở hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, đã không còn phải phụ thuộc nhiều vào nhân lực nước ngoài, thậm chí ở một số lĩnh vực, Việt Nam đã có thể xuất khẩu chuyên gia ra nước ngoài, giúp các nước phát triển chậm hơn
Để không ngừng nâng cao năng lực, tính năng động xã hội của mỗi cá nhân
và sức cạnh tranh của nhân lực Việt Nam trên trường quốc tế và phát huy hiệu quả năng lực, sức cạnh tranh đó trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định “về việc xây dựng Chương trình quốc gia phát triển nhân lực đến năm 2020” (Quyết định số 221/2005/QĐ-TTg ngày 09/9/2005) Trong đó, có yêu cầu đánh giá thực trạng nhân lực và công tác phát triển nhân lực của đất nước ta hiện nay, thông qua những nội dung cơ bản như: Quan điểm cơ bản về phát triển nhân lực; mục tiêu phát triển nhân lực; giải pháp, chính sách phát triển nhân lực; cơ sở hạ tầng, tổ chức quản lý và phân công tổ chức thực hiện giữa các bộ, ngành, các
Trang 17cơ quan, đơn vị Trên cơ sở chương trình quốc gia, từng bộ, ngành, lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội đã và đang xây dựng trình Chính phủ phê duyệt để
tổ chức thực hiện chương trình phát triển nhân lực của mình từ nay đến năm
2015, tầm nhìn 2020
1.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển du lịch
Luật Du lịch được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ bảy thông qua tháng sáu năm 2005 có quy định: “Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch” là một trong tám lĩnh vực mà “Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đầu tư” [9, tr.14] Theo kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về đào tạo theo nhu cầu xã hội giai đoạn 2008-
2015, tại phiên họp lần thứ nhất (tháng 11/2008) của Ban Chỉ đạo thì năm
2009, tập trung triển khai có kết quả sáu chương trình đào tạo nhân lực cho sáu ngành, trong đó có ngành Du lịch (Công nghệ thông tin, Du lịch, Tài chính - Ngân hàng, Đóng tàu, Y tế và Nông nghiệp) Như vậy, vai trò của nguồn nhân lực và công tác phát triển nhân lực du lịch đã được Nhà nước quan tâm, chỉ đạo thúc đẩy phát triển
Trong thực tế phát triển du lịch ở Việt Nam những năm qua cho thấy, phát triển du lịch chủ yếu mới dựa vào nguồn tài nguyên có sẵn, trong đó có yếu tố con người với một số ưu thế mang đậm nét văn hóa truyền thống; chưa
có được hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch hiện đại và đồng bộ, các loại hình du lịch nhìn chung còn đơn điệu, chất lượng sản phẩm du lịch cũng còn nhiều hạn chế, nhưng vẫn thu hút được một lượng du khách nhất định nhờ thái độ phục vụ nhiệt tình và lòng hiếu khách vốn là thế mạnh truyền thống của người Việt Nam Hình ảnh cô gái đội nón lá với nụ cười tươi trẻ trên môi đã từng được Tổng cục Du lịch chọn làm biểu trưng mời gọi của Du lịch Việt Nam với du khách bốn phương trong khuôn khổ Chương trình hành động quốc gia
về du lịch giai đoạn 2001-2005 Du lịch đã được xác định là một trong những
Trang 18ngành kinh tế quan trọng và đang phấn đấu để thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Nhưng thực tế, cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị trong Ngành còn nhiều yếu kém, chất lượng sản phẩm du lịch phụ thuộc vào tài nguyên sẵn
có và phụ thuộc vào năng lực chuyên môn nghiệp vụ và thái độ phục vụ của đội ngũ những người trực tiếp phục vụ du khách ở từng công đoạn trong chương trình du lịch Đặc điểm của sản phẩm du lịch nói chung là dịch vụ chiếm vai trò chủ đạo Số lượng và chất lượng sản phẩm du lịch phụ thuộc vào sức sáng tạo và trí tuệ của con người và chính nhân lực du lịch đã tạo ra
sự khác biệt và quyết định đến chất lượng, giá trị của sản phẩm du lịch
Tuy nhiên, nhìn chung trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ của lao động du lịch Việt Nam còn ở mức hạn chế, cơ cấu lao động chưa thực sự hợp lý, chưa đáp ứng kịp thời với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững, chưa tương xứng vị thế tiềm năng của một ngành kinh tế mũi nhọn Chính vì vậy, nhiệm vụ quan trọng, bức thiết hiện nay là nhanh chóng nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô hoạt động, để du lịch có khả năng đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của nhiều đối tượng du khách, nhiều loại hình du lịch Người làm du lịch ngoài sự nhiệt tình và lòng hiếu khách, cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ của một ngành dịch vụ phát triển nhanh và hội nhập quốc tế sâu sắc Do đặc điểm của hoạt động du lịch là
tỷ lệ dịch vụ chiếm một phần rất quan trọng để tạo ra chất lượng sản phẩm, vì vậy mỗi hoạt động, mỗi công đoạn trong hành trình du lịch như hoạt động lữ hành, hướng dẫn, vận chuyển, lưu trú, vui chơi giải trí và các dịch vụ liên quan khác, đều mang đậm vai trò của người trực tiếp phục vụ “Sản phẩm du lịch có chất lượng hay không, có sức cạnh tranh và phát triển bền vững hay không đều phụ thuộc vào con người và trình độ tay nghề của họ Điều đó chứng tỏ rằng, công tác đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ nguồn nhân lực
du lịch là yếu tố vô cùng quan trọng, bức thiết, liên tục và lâu dài” [19, tr.4]
Trang 191.3 Quản lý nhà nước về du lịch trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch
- Phát triển nguồn nhân lực du lịch: Bao gồm các hoạt động tạo nguồn
lao động du lịch mới và đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang làm việc trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp du lịch, nhằm xây dựng đội ngũ lao động du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển ngành Du lịch, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Nội dung quản lý nhà nước về du lịch trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch:
Nhà nước quản lý các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực du lịch, quản lý các hoạt động phát triển du lịch, trong đó có hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch Nội dung hoạt động quản lý bao gồm: Việc xây dựng để trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản pháp luật, các chủ trương, định hướng, chính sách, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực du lịch và tổ chức triển khai thực hiện sau khi được ban hành; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của nhà nước về công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch; giải quyết khiếu nại, tố cáo về phát triển nguồn nhân lực du lịch trong phạm vi chức năng quản lý của ngành
Du lịch; thực hiện công tác hợp tác quốc tế về đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch
- Điều kiện thực hiện:
Để thực hiện có hiệu quả công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của nhà nước, các địa phương, đơn vị liên quan để triển khai đồng bộ
Trang 20các hoạt động quản lý phát triển nguồn nhân lực du lịch; đề xuất với cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch
1.4 Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam hiện nay
Theo đánh giá của Viện Chiến lược phát triển thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong Báo cáo đề án xây dựng chiến lược phát triển đất nước thời kỳ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2045, thì các hạn chế, yếu kém về kinh tế hiện nay ở nước ta thể hiện chủ yếu là: “lực lượng sản xuất (nhất là yếu kém
về trình độ, năng lực của lao động, trình độ công nghệ và kết cấu hạ tầng), cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động (hay cơ cấu ngành nghề) ”[20, tr.63] Chính
vì vậy mà một trong ba vấn đề được Viện đề nghị tập trung để xây dựng bước đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước thời kỳ đến năm
2020 là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Đối với ngành Du lịch, nguồn nhân lực đến nay cũng không đứng ngoài tình trạng chung của cả nước, giống như các ngành, lĩnh vực khác, chưa tạo được bước phát triển đột phá, “Nguồn lực con người chưa có giải pháp phát triển đủ tầm, đủ mức Từ khi nước ta thực thi đổi mới đến nay đã có tới gần hai chục năm mà tại sao chúng ta chưa có nguồn nhân lực chất lượng cao?” [20, tr.69] Mặc dù thời gian qua, du lịch đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, tạo một số điều kiện thuận lợi cho phát triển, nhưng tốc độ phát triển và trưởng thành của ngành Du lịch có thể nói còn ở mức khiêm tốn, thiếu bền vững, chưa tương xứng với yêu cầu và tiềm năng của đất nước, ba nhiệm kỳ Đại hội Đảng đã sắp trôi qua nhưng du lịch chưa khẳng định được
vị trí “thực sự” của ngành kinh tế mũi nhọn, GDP du lịch hiện nay chỉ chiếm
tỷ lệ 4,05% tổng GDP toàn quốc, trong khi mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 GDP du lịch đạt 6,5% GDP toàn quốc [16, tr.12] Hạn chế này do nhiều
Trang 21nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là nguồn nhân lực chưa phù hợp với yêu cầu phát triển của Ngành
1.4.1 Yêu cầu chung
Để thực hiện mục tiêu: “Phát triển Du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn; , đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực" [6, tr.178], Du lịch Việt Nam cần tập trung phát triển nguồn nhân lực sớm đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, ngoại ngữ và cơ cấu hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển của Ngành trong tiến trình hội nhập du lịch khu vực và quốc tế, nhất là đối với lực lượng lao động du lịch trực tiếp
1.4.2 Yêu cầu cụ thể
1.4.2.1 Phát triển nguồn nhân lực du lịch đảm bảo yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý
Yêu cầu cơ bản, quan trọng đối với phát triển nguồn nhân lực du lịch là
đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng và có cơ cấu lao động hợp lý Yêu cầu này đòi hỏi không chỉ phát triển đội ngũ lao động đang trực tiếp kinh doanh
mà đòi hỏi phát triển cả đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về du lịch và viên chức các đơn vị sự nghiệp về du lịch Lao động du lịch cần được trang bị kiến thức chuyên môn, du lịch, ngoại ngữ, tin học, có kỹ năng nghiệp
vụ phù hợp với từng vị trí công tác, bảo đảm vai trò quyết định đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch, tăng cường khả năng cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững
- Về số lượng:
Theo dự báo của Tổng cục Du lịch về khả năng phát triển cơ sở vật chất
kỹ thuật và nhân lực ngành Du lịch, cũng như kết quả tổng hợp số liệu thống
Trang 22nước, đến năm 2015, nguồn nhân lực du lịch đạt khoảng hơn 500.000 lao động trực tiếp và gián tiếp đạt khoảng 1.500.000 lao động [15, 2009, tr.8]
Tuy nhiên, do công tác thống kê của ngành Du lịch chưa đầy đủ, đến nay chỉ có số liệu thống kê chi tiết về lao động trực tiếp; chưa có đầy đủ những số liệu thống kê chi tiết về lao động gián tiếp Do đó, trong phạm vi luận văn này, các số liệu cụ thể về định lượng chỉ tập trung vào lực lượng lao động trực tiếp trong ngành Du lịch Trong đó, có lao động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch; các đơn vị sự nghiệp du lịch (cơ sở đào tạo, viện, trung tâm, báo, tạp chí về du lịch) và các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh
du lịch theo các ngành nghề kinh doanh quy định trong Luật Du lịch
- Về chất lượng:
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua nhiều tiêu chí như sức khoẻ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ Hiện tại, về tiêu chí sức khoẻ nguồn nhân lực du lịch, chưa có điều kiện và cơ sở để điều tra, đánh giá chi tiết mà phụ thuộc vào những đánh giá và cải thiện chung của nguồn nhân lực xã hội của Việt Nam Nhưng xét một cách tổng thể, do điều kiện lịch sử để lại, về sức khỏe và thể trạng của người Việt Nam tuy đã được cải thiện trong những năm gần đây, song còn nhiều hạn chế Trong phạm vi luận văn này, chưa có điều kiện đề cập chi tiết tiêu chí sức khỏe nguồn nhân lực du lịch
* Yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ:
Mục tiêu phấn đấu đến năm 2015, lao động du lịch thuộc khối quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp kinh doanh du lịch đạt trình độ chuyên môn nghiệp vụ ở mức tương đối cơ bản, như trong Chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch [18, tr.52] , đã đề ra như sau:
+ 70-80% cán bộ quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương và địa phương được đào tạo cơ bản về du lịch
Trang 23+ 60-70% cán bộ quản lý, giám sát và lao động phục vụ trong các doanh nghiệp du lịch được đào tạo chuyên sâu về du lịch
+ 80% cơ sở đào tạo du lịch có chương trình đào tạo chuẩn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, với 80-90% giáo viên được đào tạo và chuẩn hoá về chuyên môn du lịch và sư phạm; cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy được trang bị, nâng cấp đồng bộ đảm bảo cơ sở đào tạo hiện đại
* Yêu cầu về ngoại ngữ, tin học:
Phấn đấu sớm đạt 100% lao động du lịch sử dụng tốt ngoại ngữ và tin học trong phạm vi hoạt động nghề nghiệp
Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ, có đối tượng phục vụ rất đa dạng, phong phú, gồm cả người Việt Nam và người nước ngoài, có phạm vi hoạt động cả trong và ngoài nước Mặt khác, Việt Nam mới mở cửa hội nhập chưa lâu, trình độ ngoại ngữ còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
du lịch Vì vậy, ngoài kiến thức chuyên môn, đòi hỏi lao động du lịch phải có khả năng sử dụng thành thạo công cụ ngoại ngữ và tin học trong hoạt động tác nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ du lịch, thúc đẩy hội nhập quốc tế về du lịch
- Cơ cấu nguồn nhân lực:
Cơ cấu theo tính chất lao động: Việt Nam phấn đấu có cơ cấu lao động giữa các khu vực: quản lý nhà nước, sự nghiệp và doanh nghiệp tiến gần tới tỷ
lệ tương ứng của các nước phát triển du lịch [15, 2009, tr.14], cụ thể như sau:
+ Lao động trong các cơ quan quản lý ngành và đơn vị sự nghiệp du lịch: Có tỷ lệ tối thiểu là 5% trong tổng số lao động trực tiếp toàn Ngành;
+ Lao động quản lý, giám sát trong các doanh nghiệp kinh doanh du lịch: Có tỷ lệ 10% trong tổng số lao động trực tiếp toàn Ngành;
Trang 24+ Lao động kỹ thuật trực tiếp sản xuất: Có tỷ lệ 85% trong tổng số lao động trực tiếp toàn Ngành
Cơ cấu theo ngành nghề trình độ chuyên môn, vùng miền, cũng cần phát triển để đạt được mức độ cân đối giữa các ngành nghề và phân bố hợp lý trong phạm vi cả nước theo quy hoạch và chiến lược phát triển ngành Du lịch Theo đó, nguồn nhân lực tập trung ở những trung tâm du lịch lớn, nhưng đồng thời cũng cần phát triển nguồn nhân lực cả ở vùng sâu, vùng xa, nơi có tiềm năng và tài nguyên để phát triển du lịch, đáp ứng nhu cầu phát triển (xem phụ lục 11,12,13,14,15,16)
1.4.2.2 Phát triển nguồn nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế
- Trong thời kỳ phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ, khoảng cách, địa giới hành chính và các quy định riêng biệt tiến tới sẽ không còn là rào cản đáng kể cho các quan hệ kinh tế quốc tế Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ Các quốc gia dù muốn hay không đều chịu tác động, ảnh hưởng của hiện tượng này Vì thế, để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay, các quốc gia trên thế giới không thể không tham gia quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Nếu tính trên phương diện lợi ích quốc gia thì hội nhập kinh tế quốc tế sẽ mang lại nhiều lợi ích như: Tạo mối quan hệ đa dạng để phát triển; dễ dàng tiếp thu kinh nghiệm, thành tựu của nhau; xác lập vị thế bình đẳng trên trường quốc tế; có điều kiện
để phát triển toàn diện về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội ; hòa mình vào dòng chảy và xu hướng phát triển tất yếu của nhân loại
- Một số yêu cầu và cách tiếp cận cụ thể về hội nhập khu vực và quốc tế đối với phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam:
+ Phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, trình độ nghiệp vụ đạt chuẩn
so với các nước trong khu vực và trên thế giới;
Trang 25+ Công nhận văn bằng, chứng chỉ nghiệp vụ lẫn nhau giữa các quốc gia;
+ Hợp tác phát triển về cơ sở đào tạo, chương trình đào tạo, giảng viên + Tạo uy tín, thương hiệu về phát triển nguồn nhân lực du lịch;
+ Nhân lực du lịch có thể dễ dàng di chuyển và tìm được việc làm không chỉ ở phạm vi trong nước mà còn mở rộng tới các nước khác;
+ Chủ động tham gia vào quá trình phân công lao động du lịch quốc tế; + Xác lập vị trí xứng đáng trong chuỗi cung cấp dịch vụ du lịch có chất lượng của khu vực và thế giới
Tiểu kết chương 1:
Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại, con người luôn luôn là yếu tố hàng đầu quyết định mọi sự tiến bộ của xã hội Ở xã hội có trình độ phát triển thấp, mối giao lưu xã hội còn hạn hẹp, nhưng xã hội càng phát triển, con người trong xã hội càng có điều kiện giao lưu rộng rãi, và hệ quả tất yếu là giao lưu rộng rãi sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Việt Nam sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá, rồi lại bị bao vây cấm vận, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội gặp rất nhiều khó khăn Nay đất nước đã mở cửa hội nhập, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tất yếu có nhiều cơ hội đan xen với những thách thức rất lớn trong tiến trình phát triển So với các quốc gia đã có nền kinh tế thị trường phát triển từ hàng trăm năm nay, thì Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn chập chững những bước đầu tiên để hòa vào dòng chảy của nền kinh tế quốc tế Do đó, những mục tiêu Việt Nam cần phấn đấu để đạt được là rất nặng nề, nhưng cũng vô cùng quan trọng, trong đó có nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực nói chung
và nhân lực du lịch nói riêng Tuy là rất cấp bách, nhưng không thể trong một thời gian ngắn có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển con người, mà cần
Trang 26nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập Ngành Du lịch đã được Đảng và Nhà nước xác định quyết tâm phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, tức là phấn đấu để Du lịch thực sự là một trong những ngành kinh tế quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Muốn thực hiện thành công mục tiêu đó, điều kiện tiên quyết đối với Du lịch là nhanh chóng xây dựng được đội ngũ lao động của Ngành đầy đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng, có cơ cấu hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Trong đó, cần đặc biệt quan tâm đến việc phát triển lực lượng lao động trực tiếp của Ngành, bao gồm: cán bộ, công chức các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch; cán bộ, viên chức sự nghiệp, chủ yếu là cán bộ giáo viên các cơ sở đào tạo du lịch và lao động của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch
Trang 27Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
DU LỊCH VIỆT NAM
2.1 Một số nét khái quát về du lịch Việt Nam
2.1.1 Tài nguyên và các loại hình du lịch ở Việt Nam
2.1.1.1 Tài nguyên du lịch
* Tài nguyên du lịch tự nhiên:
Tài nguyên du lịch tự nhiên của Việt Nam phong phú và đa dạng Các đặc điểm đa dạng về cấu trúc địa chất, địa hình, địa mạo, các vùng biển đảo, đồng bằng, đồi núi, cao nguyên, tạo cho Việt Nam sự phong phú về cảnh quan thiên nhiên và các hệ sinh thái, có giá trị cho phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là các hệ sinh thái biển - đảo; hệ sinh thái sông - hồ; hệ sinh thái rừng - núi - hang động
Bờ biển Việt Nam trải dài trên 3.260 km, qua 15 vĩ độ, với 125 bãi biển
có các điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghỉ dưỡng, tắm biển và vui chơi giải trí, trong đó có nhiều bãi biển hấp dẫn như Trà Cổ, Sầm Sơn, Cửa Lò, Cửa Tùng, Thuận An, Lăng Cô, Non Nước, Văn Phong - Đại Lãnh, Nha Trang, Phan Thiết, Long Hải, Vũng Tàu, Hà Tiên, Phú Quốc Đặc điểm hình thái địa hình vùng ven biển tạo ra nhiều vịnh đẹp có tiềm năng phát triển du lịch lớn như vịnh Hạ Long, vịnh Vân Phong, vịnh Cam Ranh Trong đó, vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Trong tổng số hơn 2.700 đảo lớn nhỏ ven bờ, nhiều đảo như Cái Bầu, Cát Bà, Tuần Châu, Cù Lao Chàm, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc với các hệ sinh thái phong phú, cảnh quan đẹp, là nơi có điều kiện hình thành các khu, điểm
du lịch hấp dẫn
Trang 28Nguồn nước khoáng ở nước ta có ý nghĩa lớn đối với phát triển du lịch Đến nay đã phát hiện được hơn 400 nguồn nước khoáng tự nhiên với nhiệt độ
từ 270C đến 1050C Thành phần hoá học của nước khoáng rất đa dạng, từ bicabonat natri đến clorua natri với độ khoáng hoá cao, có giá trị đối với du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh
Hệ sinh thái động - thực vật của Việt nam rất đa dạng Hiện cả nước có
30 vườn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hoá - lịch
sử - môi trường với tổng diện tích lên đến hàng triệu héc ta Đây là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái quý giá, nơi bảo tồn khoảng 12.000 loài thực vật, gần 7.000 loài động vật với nhiều loài đặc hữu quí hiếm, trong đó có vườn quốc gia Ba Bể với hồ thiên nhiên được đánh giá vào loại lớn trên thế giới đang được đề nghị UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
* Tài nguyên du lịch nhân văn:
Không chỉ phong phú về tài nguyên du lịch tự nhiên mà tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam cũng không kém phần đa dạng, hấp dẫn, được tích cóp, chắt lọc từ hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Một kho tàng với số lượng lớn các di tích lịch sử văn hoá có thể khai thác phục vụ
du lịch Trong số khoảng 40.000 di tích, có hơn 2.500 di tích được Nhà nước chính thức xếp hạng Tiêu biểu là quần thể di tích triều Nguyễn ở cố đô Huế (Thừa Thiên-Huế); đô thị cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam) đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới Ngoài những di sản đã được
Trang 29công nhận, gần đây một số di chỉ khảo cổ có giá trị ở khu Hoàng thành Thăng Long (Hà Nội), Hoà Bình và nhiều nơi khác được phát hiện và khai quật đang làm giàu thêm quỹ tài nguyên văn hoá vật thể của đất nước Một số công trình
có ý nghĩa lớn về kinh tế - xã hội như thuỷ điện Hòa Bình, Sơn La, Yaly, Sê San đã và đang được xây dựng, góp phần làm tăng số lượng tài nguyên du lịch nhân văn ở nước ta Tuyến đường Trường Sơn huyền thoại (đường Hồ Chí Minh) giúp làm tăng khả năng tiếp cận với hệ thống di tích có ý nghĩa lịch sử thời kỳ chống Mỹ cứu nước và tiếp cận với những sắc thái văn hoá phong phú, đa dạng của các dân tộc sinh sống trên suốt dải Trường Sơn hùng
vĩ, trong đó có các dân tộc ở Tây Nguyên
Tài nguyên du lịch văn hoá phi vật thể gồm các lễ hội, các làn điệu dân
ca, các hình thức trình diễn nghệ thuật, âm nhạc, nhiều nghề thủ công truyền thống với kỹ năng độc đáo cùng các phong tục, tập quán của đại gia đình các dân tộc Việt Nam được gìn giữ, bảo tồn, phát huy, tạo cơ sở phát triển và đa dạng hóa sản phẩm du lịch Đến nay, một số giá trị văn hóa phi vật thể đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca quan họ và Ca Trù Nhiều làn điệu dân ca các dân tộc Việt Nam và các giá trị văn hóa khác đã và đang được chú ý bảo tồn, khai thác và tiếp tục được đề nghị để UNESCO công nhân là di sản văn hóa thế giới
2.1.1.2 Các loại hình du lịch
* Du lịch tham quan:
Được thiên nhiên ưu đãi, con người Việt Nam lại anh dũng, cần cù, với quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài đã tạo nên một kho tài nguyên, di sản phong phú, có sức hấp dẫn đối với du khách cả trong và ngoài nước Đó là những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên ban tặng, nhiều nơi đã được thế giới công nhận là tài sản thiên nhiên của nhân loại; những công trình văn hóa,
Trang 30lịch sử, kiến trúc do sức sáng tạo của con người và đồng hành với nó là cả một kho tàng những giá trị văn hóa truyền thống, với sự đa dạng về ngôn ngữ, dân tộc, phong tục, tập quán của các tộc người trên đất nước; tồn tại cùng đất nước và con người Việt Nam là âm vang, dấu tích của những chiến công lừng lẫy trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của dân tộc Tất cả đã tạo ra cho du khách sức hấp dẫn, thôi thúc và mong ước được tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm, thưởng thức
* Du lịch lễ hội:
Lễ hội là một sinh hoạt cộng đồng mang đậm nét đặc trưng văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc; là một yếu tố sinh động, có sức lan tỏa và thu hút du khách một cách tự nhiên, bền vững Tham gia vào lễ hội, du khách được hoà mình vào không khí tưng bừng, náo nhiệt như những cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tình đoàn kết của cộng đồng, cảm nhận được những sắc thái tôn giáo nhiều màu sắc, tạm quên đi những áp lực của cuộc sống đời thường, tắm mình trong không gian văn hóa bản địa một cách tự nhiên Hơn nữa, đối với người Việt Nam, việc tham dự các lễ hội còn là một hoạt động giữ gìn, bảo tồn và phát huy vốn truyền thống văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng, tinh thần tự tôn dân tộc Với tần suất các lễ hội khá cao, đặc biệt là sau dịp Tết
cổ truyền của dân tộc, việc khai thác loại hình du lịch lễ hội đã và sẽ là một thế mạnh cần được quan tâm, phục vụ có hiệu quả cho phát triển du lịch
* Du lịch nghỉ duỡng, giải trí:
Nhu cầu nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe cũng như nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn giải trí sau những thời gian làm việc căng thẳng để lấy lại trạng thái bình thường, phục hồi sức khẻ là yêu cầu ngày càng lớn đối với xã hội phát triển Khi xã hội càng phát triển, con người càng có nhu cầu và điều kiện để tham gia những kỳ nghỉ dưỡng, giải trí nhằm tách ra khỏi những mối lo toan, công việc và khung cảnh đơn điệu thường ngày, để đi đến những nơi có phong
Trang 31cảnh hữu tình, môi trường trong lành, yên tĩnh, hoặc những nơi có điều kiện tốt cho các hoạt động vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe Ở Việt Nam, nhiều nơi có tài nguyên tự nhiên phong phú, hấp dẫn đối với du khách để nghỉ dưỡng, giải trí như: hệ thống bãi biển đẹp trải dài theo đất nước, nhiều suối nước khoáng có thể khai thác sử dụng tốt cho sức khỏe, nhiều tiểu vùng khí hậu gắn với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng hoặc những địa hình, địa vật đặc biệt, vừa thích hợp cho nghỉ dưỡng, lại thuận tiện cho hoạt động vui chơi giải trí; nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao diễn ra hầu như quanh năm, giúp tạo cho du khách không khí vui vẻ, hào hứng, sôi động Tuy nhiên, ở Việt Nam chưa có nhiều địa điểm có những khu vui chơi giải trí tập trung, hiện đại có thể đáp ứng nhu cầu giải trí đa dạng của nhiều loại đối tương du khách trong và ngoài nước
* Du lịch thăm thân:
Đối với những nước có nhiều ngoại kiều, loại hình du lịch này rất được coi trọng vì nó đáp ứng nhu cầu giao tiếp, thăm hỏi của những người thân giữa các miền, các nước Với Việt Nam, số khách du lịch thăm thân chiếm khoảng 20% trong tổng số khách du lịch quốc tế Tuy khách thăm thân nội địa chưa được thống kê cụ thể, nhưng do điều kiện sinh sống không tập trung của những người có quan hệ họ hàng, thân thích, gần gũi, gắn bó về mặt tình cảm, nên nhu cầu thăm thân của khách du lịch nội địa cũng không nhỏ Khi điều kiện giao thông trở nên thuận tiện, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao, thì nhu cầu đi lại, thăm hỏi lẫn nhau càng phát triển đối với cả du khách nội địa và quốc tế
* Du lịch kết hợp với mục đích hội nghị, hội thảo, hội chợ (MICE):
Là loại hình du lịch mới phát triển ở nước ta, du khách của loại hình du lịch này thường là khách công vụ, hoặc người đi du lịch theo chế độ được bao cấp nên được đảm bảo tương đối đầy đủ các phương tiện vật chất, khả năng
Trang 32thanh toán khá cao Nơi tổ chức thường tập trung tại các thành phố lớn, những
đầu mối giao thông thuận tiện, có phong cảnh hấp dẫn, giàu tài nguyên du lịch
và có cơ sở vật chất, kỹ thuật đồng bộ, có thể tổ chức được các sự kiện như hội nghị, hội thảo, hội chợ, triển lãm trong nước cũng như quốc tế Ở Việt Nam hiện nay, do điều kiện kinh tế đã có bước cải thiện, phát triển, nên nhiều nơi có thể phát triển loại hình du lịch này
Ngoài ra, Việt Nam có các loại hình du lịch khác như: du lịch học tập, nghiên cứu, du lịch thể thao, mạo hiểm, du lịch tĩnh tâm - thiền, chữa bệnh
Đánh giá chung về tài nguyên và các loại hình du lịch:
Có thể nói Việt Nam có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng; có thể khai thác, phát triển được nhiều loại hình du lịch, đáp ứng nhu cầu của hầu hết các đối tượng du khách trong và ngoài nước Tuy nhiên, cho đến nay việc khai thác tài nguyên du lịch chỉ mới dừng lại ở mức độ giản đơn, phát triển theo bền rộng, chưa có chiều sâu Để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch phong phú của đất nước, cần nghiên cứu, đánh giá một cách cụ thể, chi tiết và rất cần sự quan tâm của nhà nước và toàn
xã hội để thực hiện tốt việc quy hoạch, đầu tư, bảo tồn, tôn tạo, phát triển tài nguyên Việc này đòi hỏi trước hết cần có nguồn nhân lực du lịch đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng chuyên môn Vì theo kinh nghiệm phát triển du lịch của thế giới, thì ngay cả ở những nơi tưởng như không hề có tài nguyên du lịch, nhưng chính con người với trí tuệ và sức sáng tạo, đã đưa hoạt động du lịch của vùng đó hoặc đất nước đó phát triển một cách ngoại mục Ví dụ điển hình như ở Las Vegas (Mỹ) hay ở Singapore
Như vậy, tài nguyên du lịch là điều kiện cần cho phát triển du lịch, nhất
là đối với những nước chưa phát triển như Việt Nam Nhưng tài nguyên không quyết định được sự phát triển du lịch mà chính nguồn nhân lực mới là yếu tố quyết định sự phát triển của du lịch Thực tế đã chứng minh rằng có tài
Trang 33nguyên du lịch nhưng không có nguồn nhân lực tốt thì rất khó phát triển du lịch, và ngược lại dù không giàu có về tài nguyên, nhưng có nguồn nhân lực
du lịch có chất lượng và trí tuệ cao thì hoạt động du lịch vẫn có thể phát triển
và nếu kết hợp được cả hai yếu tố là tài nguyên và nguồn nhân lực thì chắc chắn du lịch sẽ phát triển mạnh mẽ Mỗi loại hình du lịch chỉ có thể phát triển bền vững và hỗ trợ, thúc đẩy các loại hình du lịch khác phát triển khi được con người đánh giá và khai thác một cách phù hợp, đảm bảo sự hài hòa trong hoạt động phát triển du lịch của đất nước
2.1.2 Một số kết quả hoạt động du lịch
2.1.2.1 Đón và phục vụ du khách
Từ năm 1990 đến năm 2008, số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng 17 lần, từ 250.000 lượt khách lên 4.253.740 lượt; khách du lịch nội địa tăng 20,5 lần, từ 1 triệu lượt lên 20,5 triệu lượt Năm 2008, lượng khách
du lịch bị chững lại, số khách quốc tế đạt hơn 4,2 triệu lượt; khách nội địa hơn
20 triệu lượt (con số này năm 2007 lần lượt là hơn 4,2 triệu và hơn 19 triệu) Sáu tháng đầu năm 2009, lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giảm 19,1%, khách nội địa tăng 13% so với cùng kỳ năm 2008 Tỷ lệ tăng trưởng
về khách du lịch quốc tế giai đoạn 2000-2008 đạt trung bình 9,07%./năm, khách du lịch nội địa là 7,83%/năm (xem bảng 2.1)
Trang 34Nếu tính từ 1990 đến nay số lượng khách du lịch quốc tế của Việt Nam tăng, giảm phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của kinh tế khu vực và thế giới; trong khi khách du lịch nội địa lại hầu như ít bị ảnh hưởng của yếu tố kinh tế bên ngoài, chưa có năm nào số lượng khách du lịch nội địa bị giảm mà liên tục tăng (xem phụ lục số 2) Tuy nhiên, nếu so với chỉ tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn 2001-2010 là đến năm 2010 đón 5,5 - 6 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 25 - 26 triệu khách du lịch nội địa, thì cả hai chỉ tiêu này chắc chắn sẽ không đạt được do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, trong đó có nguyên nhân do nguồn nhân lực còn nhiều bất cập
2.1.2.2 Thu nhập du lịch
Theo tài liệu báo cáo hàng năm của Tổng cục Du lịch, thu nhập từ du lịch tăng khá mạnh, giai đoạn 2000-2008, tăng trưởng trung bình đạt 16,7%/năm Năm 2000 đạt 17,4 nghìn tỷ đồng, năm 2005 đạt 30 nghìn tỷ đồng, năm 2008 đạt 64 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2007 (xem bảng 2.2 và bảng 2.3);
Bảng 2.2: Thu nhập du lịch giai đoạn (2000-2008)
Trang 35tăng 17,8 12,1 -5 18,1 15,3 70 9,8 7,1 16,7
Nguồn : Tổng cục Du lịch [17]
So với tổng sản phẩm quốc nội GDP của cả nước, tổng thu nhập GDP
du lịch chiếm tỷ trọng khoảng 4,15 % trong giai đoạn 2000-2008 Trong đó, năm cao nhất là 5,23% trong tổng GDP của cả nước (năm 2006), và năm thấp nhất là 3,57% (năm 2005) (xem phụ lục 3) So với yêu cầu đóng góp phần trăm GDP của một ngành kinh tế mũi nhọn, thì Du lịch Việt Nam chưa đạt mức yêu cầu tối thiểu (khoảng 6% GDP của cả nước)
2.1.2.3 Đầu tư phát triển du lịch
Đầu tư phát triển du lịch chủ yếu tập trung vào mục tiêu phát triển cơ
sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch; bảo tồn, tôn tạo và khai thác các giá trị của tài nguyên và môi trường du lịch; tuyên truyền quảng bá du lịch; đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực du lịch chiếm tỷ trọng nhỏ
Về nguồn và quy mô vốn đầu tư: Vốn ngân sách nhà nước Trung ương
đã đầu tư hỗ trợ phát triển, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch trong 9 năm 2009) là trên 4.836 tỷ đồng Trong đó, có hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch cho 4 khu du lịch tổng hợp, 17 khu du lịch chuyên đề quốc gia và các khu du lịch trên địa bàn 59 tỉnh và thành phố trong cả nước; tạo động lực thu hút hàng nghìn tỷ đồng từ các nguồn vốn khác vào việc phát triển cơ sở hạ tầng
(2001-và cơ sở vật chất kỹ thuật ngành Du lịch Riêng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) vào du lịch giai đoạn 2000 - 2009 là 14.178,47 triệu USD, chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực xây dựng cơ sở lưu trú, các khu du lịch nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí Riêng năm 2008, đã có một số dự án nước ngoài với vốn đầu
tư cực lớn đã và đang làm thủ tục để được cấp phép đầu tư như:
Khu du lịch liên hợp cao cấp Phú Yên do Công ty TNHH New City Việt Nam (100% vốn từ Brunei) đầu tư tổng mức trên 4,3 tỉ USD tại huyện Tuy An và T.P Tuy Hòa; Khu du lịch Asian Coast, tổng vốn đầu tư 4,2 tỷ
Trang 36USD, do tập đoàn ACDL của Canada đầu tư xây dựng tại xã Phước Thuận, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu; Khu du lịch có diện tích từ 1.000-1.500 ha với quy mô khu nghỉ dưỡng, khách sạn lên đến khoảng trên 5.000 phòng tại khu vực đèo Hải Vân, Đà Nẵng, do Tập đoàn OakTree dự kiến sẽ đầu tư khoảng 4,5 đến 5 tỷ USD
Ngân sách nhà nước Trung ương ngoài việc đầu tư hỗ trợ phát triển cơ
sở hạ tầng du lịch, còn hỗ trợ cho công tác tuyên truyền, quảng bá, nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện cơ chế chính sách Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2001 - 2009 nhà nước đã đầu tư hơn hai trăm tỷ đồng
Việc đầu tư phát triển cơ sở lưu trú du lịch được các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm, phát triển, đầu tư Nếu vào năm 1990
cả nước có 350 cơ sở lưu trú với 16 nghìn buồng, thì đến năm 2009 các số đó
đã là 10.800 cơ sở, tăng 31 lần và 212 nghìn buồng, tăng 13 lần (xem phụ lục 4)
2.1.2.4 Cơ sở kinh doanh du lịch
Cơ sở kinh doanh lữ hành, theo số liệu của Tổng cục Du lịch, tính đến giữa năm 2009, cả nước đã có 758 doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế Trong đó, chủ yếu là loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn (432 doanh nghiệp, chiếm 57%), tiếp đến là công ty cổ phần (241 doanh nghiệp, chiếm 32%), còn lại là doanh nghiệp nhà nước, liên doanh, tư nhân và hàng nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn
Về cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, trong số 10.800 cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn cả nước đang hoạt động, với 212.000 buồng, đã có 5.239 cơ
sở với 131.152 buồng đã được xếp hạng, từ loại đạt tiêu chuẩn tối thiểu đến 5
Trang 37sao Số còn lại 5.561 cơ sở, với 80.848 buồng cần được xếp hạng trong thời gian tới (xem phụ lục 5)
Cùng với sự phát triển các cơ sở lưu trú, hệ hống các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống cũng phát triển nhanh về cả số lượng và qui mô, từng bước đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ đều có phòng ăn, quầy bar, không chỉ phục vụ cho khách nghỉ tại khách sạn mà còn phục vụ cả khách vãng lai và khách là người địa phương Các cơ sở ăn uống nằm ngoài khách sạn cũng phát triển mạnh, các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh dịch vụ này rất đa dạng Tuy nhiên, vấn đề quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm đối với dịch vụ ăn uống còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới người tiêu dùng, giảm bớt sức thu hút đối với du khách
Về kinh doanh vận chuyển, song song với việc nâng cấp, phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường không, đường sông, đường sắt và cảng biển, phương tiện vận chuyển du khách tăng nhanh về số lượng, đa dạng về chủng loại và chất lượng Hiện nay, nghị định hướng dẫn về biển hiệu xe du lịch đang được các cơ quan chức năng xây dựng, sẽ được ban hành trong thời gian tới đây, góp phần tăng cường quản lý và nâng cao hơn nữa chất lượng vận chuyển khách du lịch
Việc mở rộng, phát triển các cơ sở vui chơi giải trí là xu hướng của du lịch hiện đại, bởi vậy các khu du lịch, trung tâm thể thao, sân golf, công viên chủ đề và cơ sở vui chơi giải trí đã được xây dựng và đưa vào hoạt động đang trở thành những điểm thu hút khách du lịch Tuy nhiên, do công tác quản lý nhà nước và cơ chế chính sách không phù hợp nên nguy cơ lợi dụng phát triển
du lịch để đầu cơ về đất đai, bất động sản đã trở thành hiện thực Ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, các dự án xây dựng sân golf phát triển rầm rộ quá mức, xâm hại hàng nghìn hecta đất nông nghiệp, đe dọa an ninh lương thực quốc gia, tài nguyên đất nông nghiệp bị xâm hại, đe doạ suy thoái môi trường,
Trang 38ảnh hưởng không tốt đến đời sống của một bộ phận nông dân, không bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững
Hoạt động mua bán hàng hoá và quà lưu niệm trong du lịch là một yếu
tố khuyến khích phát triển nhiều ngành sản xuất, tạo công ăn việc làm, góp phần làm tăng thu nhập, tăng giá trị hàng hoá tại chỗ, cải thiện đời sống cho nhân dân Đồng thời, việc khôi phục, phát triển các ngành nghề sản xuất truyền thống cũng sẽ góp phần tạo nên sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với du khách Nhiều hội chợ thương mại với hoạt động mua bán hàng hoá và ẩm thực Việt Nam đã được tổ chức ở các địa phương trong toàn quốc thời gian qua là những hoạt động thu hút du khách Bên cạnh đó, hệ thống cửa hàng phục vụ cho du khách, nhất là khách quốc tế cũng đã được hình thành ở nhiều thành phố lớn, nơi thường xuyên có du khách quốc tế như ở Hà Nội, Quảng Ninh, Hội An, TP Hồ Chí Minh Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng, cơ sở cho hoạt động này
ở Việt Nam còn thiếu thốn; công tác quy hoạch và đầu tư phát triển chưa được quan tâm đúng mức, chậm đáp ứng được nhu cầu của du khách và yêu cầu phát triển du lịch
2.1.2.5 Hợp tác, hội nhập quốc tế
Hợp tác quốc tế là một trong những hoạt động giữa vai trò quan trọng trong phát triển du lịch trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Thông qua hoạt động hợp tác song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực, du lịch Việt Nam đã dần khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế trong lĩnh vực du lịch
Đối với hợp tác đa phương, Việt Nam đã và đang tham gia tích cực, đầy đủ các chương trình hoạt động của các tổ chức chuyên ngành du lịch trong và ngoài khu vực Tham gia đàm phán mở cửa dịch vụ du lịch trong khuôn khổ hợp tác kinh tế quốc tế với các tổ chức như Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương
Trang 39(APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ; tham gia các tổ chức du lịch
đa phương như Diễn đàn du lịch ASEAN (ATF), Tiểu vùng Sông Mekong mở rộng (GMS), Hành lang Đông-Tây (WEC), Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), Hiệp hội Lữ hành Châu Á - Thái Bình Dương (PATA)
Quan tâm thiết lập các mối quan hệ và ký kết các hiệp định hợp tác du lịch song phương Đến nay, Việt Nam đã ký 40 hiệp định, thỏa thuận hợp tác song phương cấp Chính phủ và cấp ngành (Nghị định thư, tuyên bố chung, chương trình hợp tác) về du lịch với các nước, các tổ chức trên thế giới Việc
ký kết này đã góp phần tích cực củng cố quan hệ hợp tác toàn diện với các nước, tạo cơ sở pháp lý đẩy mạnh hợp tác du lịch; tạo điều kiện cho các đơn
vị, doanh nghiệp du lịch đẩy mạnh hợp tác kinh doanh với các đối tác trong khu vực và các thị trường trọng điểm, tiềm năng
Hoạt động hợp tác quốc tế trong du lịch đã góp phần duy trì và mở rộng thị trường cho Du lịch Việt Nam, tăng cường trao đổi thông tin, hoạt động du lịch giữa các nước; tranh thủ được sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế trong các lĩnh vực như xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, Pháp lệnh Du lịch, Luật Du lịch, các quy định về tiêu chuẩn
kỹ thuật trong du lịch; thu hút nguồn vốn đầu tư vào phát triển cơ sở vật chất
kỹ thuật, phát triển sản phẩm du lịch và đào tạo bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch Hoạt động hợp tác quốc tế trong du lịch đã giúp cho Việt Nam có được những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch, hạn chế bớt rủi
ro và đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiến bộ vào quản lý và phát triển du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch Việt Nam hội nhập sâu
và toàn diện với khu vực và quốc tế Đây là hoạt động quan trọng giúp Du lịch Việt Nam có cơ hội đi tắt, đón đầu trong tiến trình phát triển Vì vậy, cần được Đảng, Nhà nước, nhất là ngành Du lịch quan tâm, tạo điều kiện để phát triển
Trang 402.2 Thực trạng số lƣợng, chất lƣợng, cơ cấu nguồn nhân lực du lịch
2.2.1 Về số lượng
Theo số liệu báo cáo thống kê của các sở quản lý du lịch địa phương về Tổng cục Du lịch, tính đến tháng 31/12/2008, nguồn nhân lực du lịch Việt Nam bao gồm khoảng một triệu lao động Trong đó, có 262.200 lao động trực tiếp trong ngành Du lịch (bao gồm lao động thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các đơn vị sự nghiệp du lịch và các doanh nghiệp kinh doanh
du lịch), chiếm 33,75% tổng số lao động và 737.800 lao động gián tiếp (các đối tượng có liên quan đến hoạt động du lịch, nhưng không thuộc ba nhóm đối tượng của lao động du lịch trực tiếp), chiếm 66,25% Nếu so với năm
2006, nguồn nhân lực du lịch năm 2008 tăng gấp 1,17 lần, với số lượng tăng thêm là 150.000 người, trong đó lao động trực tiếp tăng 12.200 người, lao động gián tiếp tăng 137.000 người So với tổng số lao động của cả nước, nguồn nhân lực du lịch chiếm 2,2% (năm 2008, tổng số lao động cả nước ước tính 45 triệu) Nếu chỉ tính số lao động du lịch trực tiếp thì tỷ lệ so với tổng số lao động cả nước chỉ chiếm 0,58% (xem biểu đồ 2.1; phụ lục 8)
Biểu đồ 2.1: Số lƣợng nguồn nhân lực du lịch Việt Nam