1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch

135 1,7K 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hầu hết các nghiên cứu chu kỳ sống điểm đến du lịch đều xác định giai đoạn phát triển của điểm đến du lịch thông qua sử dụng phân tích các nhân tố về số lượng và đặc điểm của du khách, b

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn- ĐHQG Hà Nội, Ban Chủ nhiệm khoa Du lịch - Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2014

Vũ Thị Thủy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn Thạc sỹ du lịch: “Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch ” là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phạm Trương Hoàng

Các tài liệu, số liệu, dẫn chứng mà tôi sử dụng trong đề tài là đã có thực

và do bản thân tôi thu thập, xử lý mà không có bất cứ sự sao chép không hợp

lệ nào

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Tác giả luận văn

Vũ Thị Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của đề tài 7

NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHU KỲ SỐNG CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.2 Chu kỳ sống của điểm đến du lịch 11

1.2.1 Khái niệm 11

1.2.2 Các giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến 13

1.2.3 Căn cứ nhận biết sự dịch chuyển trong các giai đoạn chu kỳ sống của điểm đến 20

1.2.4 Những vấn đề đặt ra mỗi giai đoạn trong chu kỳ của điểm đến du lịch 23

1.2.5 Các chiến lược phát triển du lịch cho mỗi giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến 24

Tiểu kết chương 1 28

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG LÝ THUYẾT CHU KỲ SỐNG CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH XÁC ĐỊNH GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH HÀ GIANG 29

2.1 Khái quát chung du lịch Hà Giang 29

2.1.1 Các điều kiện tự nhiên 29

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 32

2.1.3 Tài nguyên du lịch 32

2.1.4 Các yếu tố cấu thành điểm đến Hà Giang 42

2.2 Phân tích chu kỳ sống của điểm đến du lịch Hà Giang 51

2.2.1 Số lượt khách 52

Trang 6

2.2.2 Thu nhập từ du lịch, dịch vụ 55

2.2.3 Cơ sở lưu trú 56

2.2.4 Công ty lữ hành 58

2.2.5 Cơ cấu tổng sản phẩm 59

2.3 Phân tích chu kỳ sống điểm đến du lịch các vùng của tỉnh Hà Giang 61

2.3.1 Vùng cao phía bắc 63

2.3.2 Vùng cao phía tây 65

2.3.3 Vùng núi thấp 66

2.4 Phân tích chu kỳ sống của một số điểm du lịch 68

2.4.1 Bản Thiên Hương 69

2.4.2 Bản Tha 69

2.4.3 Bản Nậm Đăm 70

2.4.4 Bản Hạ Thành 71

2.4.5 Thị trấn Đồng Văn 72

2.5 Những vấn đề đặt ra phát triển du lịch Hà Giang 75

Tiểu kết chương 2 77

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ GIANG PHÙ HỢP VỚI GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN 78

3.1 Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh 78

3.2 Các nhóm giải pháp phát triển du lịch Hà Giang phù hợp với giai đoạn phát triển 83

3.2.1 Nhóm giải pháp quy hoạch, đầu tư 83

3.2.1.1 Giải pháp về quy hoạch du lịch 83

3.2.1.2 Giải pháp về đầu tư du lịch 85

3.2.2 Nhóm giải pháp về phát triển sản phẩm du lịch 88

3.2.3 Nhóm giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 95

3.3 Một số nhóm giải pháp khác 97

3.3.1 Nhóm giải pháp về phát triển thị trường, xúc tiến quảng bá, phát triển thương hiệu du lịch 97

3.3.2 Nhóm giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch 99

Trang 7

3.3.3 Bồi dưỡng nâng cao nhận thức cộng đồng địa phương về du lịch 101

3.4 Các nhóm giải pháp trọng tâm cho từng vùng phát triển du lịch 102

3.5 Các giải pháp trọng tâm cho một số điểm du lịch ở các thời kỳ khác nhau của một giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến 106

3.6 Các kiến nghị 107

3.6.1 Đối với chính phủ và các cơ quan trung ương 107

3.6.2 Đối với UBND tỉnh Hà Giang 107

3.6.3 Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch 108

3.6.4 Đối với người dân Hà Giang 108

Tiểu kết chương 3 109

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 116

Trang 8

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Đặc điểm các giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến 19

Bảng 1.2 Đặc điểm nổi bật củacác giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến 20

Bảng 1.3: Căn cứ nhận biết sự dịch chuyển trong các giai đoạn chu kỳ sống của điểm đến 21

Bảng 2.1 Kết quả hoạt động du lịch Hà Giang từ năm 2007- 2011 52

Bảng 2.2 Thu nhập từ du lịch, dịch vụ từ năm 2007 đến 2012 55

Bảng 2.3 Số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang giai đoạn 2002 - 2011 56

Bảng 2.4 Cơ cấu tổng sản phẩm của Hà Giang từ năm 2007- 2012 59

Bảng 2.5 Bảng tổng hợp phân tích kết quả của năm nhân tố cho chu kỳ sống của điểm đến Hà giang 60

Bảng 2.6 Bảng tổng hợp kết quả phân tích chu kỳ sống của các vùng du lịch Hà Giang 67

Bảng 2.7 Bảng tổng hợp kết quả phân tích chu kỳ sống của một số điểm du lịch 73

Bảng 3.1 Bảng tổng hợp các giải pháp trọng tâm cho từng vùng phát triển du lịch 102

Bảng 3.2 Bảng tổng hợp các giải pháp trọng tâm phù hợp cho từng thời kỳ trong giai đoạn phát triển thâm nhập của điểm đến 106

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các dạng chủ yếu chu kỳ sống của sản phẩm 12

Hình 1.2 Mô hình chu kỳ sống của điểm đến của Butler 14

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang 29

Hình 2.2: Khuynh hướng số lượt khách du lịch đến Hà Giang 54

Hình 2.3: Khuynh hướng tăng trưởng về doanh thu du lịch dịch vụ của Hà Giang 56

Hình 2.4 Khuynh hướng tăng trưởng về số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang 58

Hình 2.5 Khuynh hướng phát triển tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm tỉnh Hà Giang từ 2007- 2012 60

Hình 2.6 Lược đồ tuyến điểm du lịch tỉnh Hà Giang 62

Hình 2.7 Chu kỳ sống của một số điểm du lịch Hà Giang 74

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, du lịch đã trở thành một trong những "Ngành công nghiệp không khói" mà nhiều quốc gia phát triển chủ yếu dựa vào để phát triển Phát triển du lịch mang lại nhiều lợi ích Trước hết, đó là tạo công ăn việc làm tại chỗ ở khách sạn, nhà hàng, đại lý lữ hành, công ty vận chuyển… đồng thời thúc đẩy các Ngành công nghiệp khác phát triển và chuyên môn hóa bởi vì du lịch là ngành tổng hòa nhiều ngành khác Bên cạnh đó, du lịch tạo nguồn thu chính cho nhà nước thông qua các loại thuế Cuối cùng, du lịch thúc đẩy xuất khẩu tại chỗ sản phẩm địa phương [29,

tr 727, 728]

Giống như một vòng đời của con người có sinh thành, tuổi ấu thơ, tuổi thiếu niên, trưởng thành và lúc già, điểm đến du lịch cũng có chu kỳ của nó Tuy nhiên, quá trình phát triển này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nên nó có thể phát triển ngắn hơn hoặc dài hơn chu kỳ sống của con người Vì vậy, nếu không có kế hoạch và kiểm soát tốt, chất lượng của điểm đến có xu hướng giảm theo thời gian [30, tr.45]

Lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch của tác giả Butler là lý thuyết tiêu biểu mô tả chu kỳ sống của điểm đến được nhiều học giả trên thế giới biết đến Thuật ngữ chu kỳ sống của điểm đến xuất phát từ thuật ngữ chu kỳ sống hay vòng đời của sản phẩm trong kinh tế học Theo Butler, chu kỳ sống của điểm đến trải qua sáu giai đoạn: khai phá (exploration), thâm nhập (involvement), phát triển (development), củng cố (consolidation), trì trệ (stagnation), suy thoái (decline) hoặc phục hồi (rejuvenation) [16]

Kể từ khi Butler đưa ra lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến đến nay đã có rất nhiều tranh cãi, nhiều người đồng ý áp dụng nó như một công cụ trong phân tích sự phát triển của điểm đến Tuy nhiên, nhiều người cho rằng lý thuyết của Butler còn nhiều hạn chế, Haywood (1986) [23, tr 154] cho rằng mô hình của Butler dần dần không còn thích hợp cho việc dự đoán và lập kế hoạch bởi vì chịu nhiều chi phối và kiểm soát chủ quan của các nhà lập kế hoạch, cùng với những tác động kinh tế, xã hội Choy (1992) [17, tr 26] cũng cho rằng khả năng dự đoán của mô hình rất hạn chế trong khi áp dụng ở các điểm du lịch ở Thái Bình Dương Haywood (1986) [23,

Trang 12

tr.167 ]chỉ ra rằng hầu hết nghiên cứu của Buter đều tập trung vào kiểm tra mức độ của toàn bộ thị trường, hay đánh giá chu kỳ của điểm đến bằng các loại thị trường

du lịch (nội địa hay quốc tế), phương pháp phân bổ (qua công ty lữ hành hay tự đặt dịch vụ) hay những đoạn thị trường (gia đình hay đoàn thể) Hầu hết các nghiên cứu chu kỳ sống điểm đến du lịch đều xác định giai đoạn phát triển của điểm đến du lịch thông qua sử dụng phân tích các nhân tố về số lượng và đặc điểm của du khách, bằng việc so sánh đặc điểm nổi bật của mỗi giai đoạn trong mô hình chu kỳ sống điểm đến của Butler với các đặc điểm thực tế của điểm đến Theo đó, nghiên cứu sử dụng lý thuyết của Butler trong việc xác định giai đoạn trong chu kỳ sống của du lịch Hà giang bằng việc phân tích nhân tố nhận biết sự dịch chuyển trong các giai đoạn của chu kỳ: số lượt khách du lịch; doanh thu du lịch, dịch vụ; cơ sở lưu trú; công ty lữ hành; cơ cấu tổng sản phẩm, nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất để phát triển du lịch Hà Giang trong giai đoạn này và định hướng phát triển ở những giai đoạn tiếp theo

Hà Giang là tỉnh miền núi cực Bắc của Tổ quốc cách thủ đô Hà Nội 320km

về phía bắc theo quốc lộ 2, nơi có những ngọn núi cao lưng trời (có dãy Tây Côn Lĩnh cao 2419m), nhiều sông suối và động thực vật quý hiếm Hà Giang có cao nguyên đá Đồng Văn hùng vĩ, những ruộng bậc thang nên thơ, mảnh đất địa đầu của

Tổ quốc không chỉ thu hút du khách bởi cảnh quan thiên nhiên ngoạn mục mà còn hấp dẫn bởi truyền thống văn hóa lâu đời của hơn hai mươi dân tộc cùng sinh sống Với những tiềm năng và lợi thế to lớn để phát triển du lịch vì vậy luận văn chọn điểm đến Hà Giang là khu vực nghiên cứu Chính vì những lý do đó, được sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Trương Hoàng, đề tài chọn hướng nghiên cứu, tìm hiểu:

“Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Hà Giang dựa theo lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn không đi sâu vào đánh giá lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến cũng không nhằm mục đích đưa ra lý thuyết hoàn toàn mới Mục đích của nghiên cứu là:

- Tổng quan cơ sở lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch

Trang 13

- Xác định giai đoạn của điểm đến Hà Giang trong chu kỳ sống của điểm đến bằng việc phân tích đa dạng các nhân tố như số lượng và đặc điểm tâm lý của khách

du lịch, doanh thu du lịch, cơ sở lưu trú, công ty lữ hành, cơ cấu tổng sản phẩm

- Đưa ra các chiến lược, giải pháp phù hợp, hiệu quả với giai đoạn hiện thời trong chu kỳ sống của điểm đến Hà Giang và những giai đoạn tiếp theo nhằm nâng cao đời sống của địa phương, thu hút nhiều du khách, tối đa hóa sự hài lòng của du khách, tối đa lợi nhận của doanh nghiệp địa phương Bên cạnh đó, đảm bảo cân bằng bền vững giữa lợi ích kinh tế và văn hóa xã hội và môi trường

Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài cũng định ra các nhiệm vụ cụ thể cần phải thực hiện đó là:

- Tổng quan cơ sở lý thuyết về chu kỳ sống của điểm đến du lịch

- Bằng các nhân tố nhận biết sự dịch chuyển các giai đoạn khác nhau xác định giai đoạn phát triển của du lịch Hà Giang trong chu kỳ sống của điểm đến du lịch

- Nhiệm vụ đề xuất những giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất với giai đoạn phát triển du lịch nhằm phát triển bền vững du lịch Hà Giang trong giai đoạn này và định hướng phát triển những giai đoạn tiếp theo

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên cơ sở

lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch

Phạm vi không gian nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu đề tài là toàn bộ tỉnh

Hà Giang Bên cạnh đó có sự phân tích cụ thể vào các điểm, tuyến, cụm du lịch, trung tâm du lịch có ý nghĩa quan trọng của tỉnh; chú ý tới mối quan hệ của địa bàn nghiên cứu với các tỉnh lân cận

Giới hạn thời gian: Nghiên cứu tập trung vào các số liệu từ 2007-2012, giải pháp phát triển đến năm 2020

Giới hạn nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu sâu mô hình chu kỳ sống của điểm đến của tác giả Butler và áp dụng lý thuyết này để đánh giá điểm đến Hà Giang

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Để giải thích về sự phát triển du lịch của điểm đến, người ta đã đưa ra lý thuyết về chu kỳ sống của điểm đến du lịch Cho đến nay, đã có rất nhiều lý thuyết

Trang 14

về quá trình phát triển của điểm đến du lịch thông qua mô hình chu kỳ sống điểm đến Gilbert là người đầu tiên đưa ra khái niệm về điểm đến du lịch trên tạp chí Scottish, mô tả quá trình phát triển của điểm đến du lịch qua ba giai đoạn: khám phá (discovery), phát triển (growth) và suy thoái (decline) [22]

Walter Christaller [19, tr 95-105] đưa ra lý thuyết chu kỳ sống điểm đến du lịch năm 1963 nhận được nhiều sự quan tâm Ông mô tả những người họa sĩ là những người đầu tiên đặt chân đến những nơi hoang sơ cho những đề tài và nguồn cảm hứng của họ Sau đó, những nơi này trở thành nơi lui tới thường xuyên của giới văn nghệ sĩ để khơi nguồn sáng tạo của họ, rất nhiều bài thơ, bộ phim nói về những nơi này Kết quả là những nơi này trở thành xu hướng đi du lịch của một số bộ phận

du khách, những khách sạn và một số dịch vụ cơ bản được xây dựng lên để phục vụ

họ Khi điểm đến được nhiều người biết đến thì cũng một bộ phận lớn cư dân địa phương tham gia phục vụ du lịch Những hãng lữ hành bắt đầu xúc tiến điểm đến để phát triển du lịch tại đây, sau một thời gian điểm đến không còn hấp dẫn họ lại hướng du khách đến những nơi hoang sơ mới và chu kỳ lặp lại

Cohen (1972) [20, tr 164-182] đưa ra lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến trong quá trình phát triển của điểm đến du lịch dựa vào việc phân loại du khách thành bốn loại theo đặc điểm du khách Ông cho rằng ở mỗi giai đoạn trong quá trình phát triển điểm đến thu những loại khách khác nhau Có bốn loại du khách: những người du ngoạn (drifters), những người ưa khám phá (explorer), cá nhân (individual mass), đoàn thể tổ chức (organized mass) Những người du ngoạn và những người ưa khám phá luôn tìm cho mình những điểm đến mới mà không quan tâm nhiều đến những dịch vụ như lưu trú tiện nghi Mặt khác, hai nhóm khách còn lại là cá nhân và tổ chức đoàn thể thích ở những nơi có cơ sở vật chất tiện nghi, hoàn thiện và không đắt đỏ

Một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng Hoa Kỳ Stanley Plog cho rằng các giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến có mối tương quan khá chặt chẽ với đặc điểm tâm lý của du khách Năm 1973 Plog [30] đã chia nguồn khách du lịch thành năm nhóm tâm lý ứng với mỗi giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến: là hiếu kỳ (allocentric), khá hiếu kỳ (near-allocentric) nhóm trung gian (mid-centric),

Trang 15

nhóm có tâm lý tự kỷ (psychocentric), khá tự kỷ (near- psychocentric) Mỗi nhóm tâm lý của khách được đánh giá với mức thu nhập từ cao đến thấp Theo ông, nhóm

tự kỷ, khá tự kỷ bao gồm những người chủ yếu quan tâm đến những vấn đề xảy ra quanh họ, có quan hệ trực tiếp với họ Nhóm hiếu kỳ, khá hiếu kỳ là những người rất quan tâm đến những gì xung quanh, luôn tỏ ra thích sự tân kỳ, sẵn sàng mạo hiểm để khám phá Nhóm du khách có tâm lý hiếu kỳ ở mức độ khác nhau ưa những điểm mới phát hiện, hoang sơ, họ sẵn sàng chấp nhận cả những nơi chưa có

cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tiện nghi Họ luôn muốn tìm thấy những khung cảnh mới, hoang sơ, khác lạ và những mối quan hệ mới và đại đa số nhóm người này chấp nhận trả tiền cho các chuyến du lịch mới Khi điểm đến thu hút đa số những nhóm người có tâm lý hiếu kỳ và khá hiếu kỳ, nhiều cơ sở vật chất du lịch phục vụ cho nhóm trung gian được xây dựng Bởi vì, nhóm trung gian thể hiện sự pha trộn

về đặc điểm tâm lý giữa hai nhóm chính trên Họ cũng muốn được hưởng những gì mới lạ song lại muốn có một sự đảm bảo chắc chắn về các điều kiện thuân lợi, an toàn

Họ muốn nhìn thấy sự đổi thay nào đó trong hình ảnh du lịch mà họ đã có được trong những chuyến đi trước Điểm đến ở giai đoạn có nhiều người nhóm trung gian đến du lịch, thì sẽ cố gắng tận dụng mọi tiềm năng thu hút tối đa các nhóm khách khác nhau có thể, đó là những nhóm khách có tâm lý tự kỷ và khá tự

kỷ, những nhóm người này có thời gian lưu trú ngắn, chi tiêu ít, đặc biệt họ sẽ chọn những điểm đến tương tự nếu có thể hay chọn những điểm du lịch quen thuộc, đi cùng những người quen Họ cảm thấy an tâm, vui mừng khi đến một điểm du lịch

mà họ đã từng đến trước đó, gặp lại những người phục vụ cũ đã để lại cho họ nhiều cảm tình Nhưng khi điểm đến bị thương mại hóa nhiều, không còn nhiều hấp dẫn,

số lượng du khách cũng giảm theo, dần dần du khách chuyển hướng đến những điểm đến mới khác Khi phần lớn du khách đến đây đều là những nhóm du khách tự

kỷ, khá tự kỷ thì điểm đến đã ở giai đoạn suy thoái

Trang 16

Mô hình chu kỳ sống của điểm đến theo Stanley Plog

Nguồn: Stanley c Polg, Leisure travel: A marketing handbook, pearson

Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều học giả nghiên cứu về chu kỳ sống của sản phẩm, nhưng chưa có tài liệu nào nghiên cứu tổng quan cơ sở lý thuyết về chu

kỳ sống của điểm đến, cũng như chưa có nghiên cứu nào áp dụng lý thuyết này để đánh giá điểm đến du lịch, và tác giả chọn điểm đến du lịch Hà Giang Trong luận văn này, tác giả đi sâu nghiên cứu lý thuyết chu kỳ sống điểm đến, không chỉ khai thác khái niệm chu kỳ sống của điểm đến du lịch mà còn nghiên cứu tìm hiểu các đặc điểm trong các giai đoạn, các nhân tố nhận biết sự dịch chuyển trong các giai đoạn chu kỳ sống của điểm đến du lịch từ đó xác định vấn đề đặt ra xuất hiện ở mỗi giai đoạn trong chu kỳ của điểm đến du lịch, dựa vào đó đưa ra các chiến lược phát triển du lịch cho mỗi giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến du lịch Hà Giang

Trang 17

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu là phương pháp quan trọng trong nghiên cứu Việc thu thập tài liệu sẽ cung cấp thông tin, số liệu cần thiết phục

vụ cho quá trình nghiên cứu Đây sẽ là cơ sở dữ liệu phong phú và quan trọng cho việc thực hiện các phương pháp khác đạt hiệu quả cao

Ngoài ra còn có các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp quan sát, phương pháp điền dã thực tế

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các hình ảnh, các bảng biểu, các tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được thể hiện trong ba chương:

Chương 1: Tổng quan cơ sở lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch Chương 2: Áp dụng lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch xác định giai đoạn phát triển của điểm đến du lịch Hà Giang

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Giang phù hợp với giai đoạn phát triển

Trang 18

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHU KỲ SỐNG CỦA

ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 1.1 Một số khái niệm cơ bản

Điểm đến du lịch là một khái niệm mà có rất nhiều quan điểm khác nhau Khái niệm điểm đến du lịch xuất phát từ khái niệm điểm tham quan, điểm hấp dẫn

du lịch và điểm du lịch Điểm tham quan du lịch là những điểm có tài nguyên du lịch hấp dẫn, song không có khách lưu trú qua đêm tại cơ sở lưu trú của ngành du lịch Và điểm hấp dẫn du lịch (Attractive site) là những điểm có tài nguyền du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách Còn theo luật du lịch: “Điểm du lịch là nơi

có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [9] Như vậy điểm đến du lịch phải là nơi có tài nguyên du lịch, có sức hấp dẫn thu hút khách thì mới “là nơi mà con người thực hiện những kỳ nghỉ của họ” Steven Pike định nghĩa về điểm đến đến du lịch: “Một điểm đến du lịch là một vùng không gian địa lý ở đó có một cụm các tài nguyên du lịch tương đồng mà không bị bó hẹp bởi một ranh giới chính trị.” Tuy nhiên, khái niệm này cũng chưa phân định được ranh giới chính trị, địa giới quản lý hành chính của một điểm đến cụ thể hay tỉnh thành phố Do đó chưa xác định được chủ thể cũng như thành phẩn tham gia quản lý điểm đến

Tổ chức du lịch thế giới định nghĩa về điểm đến du lịch khá đầy đủ với các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch phù hợp với quan điểm phát triển du lịch bền vững: “Điểm đến du lịch là một không gian vật chất mà du khách ở lại ít nhất là một đêm Nó bao gồm các sản phẩm du lịch như các dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày Nó có các giới hạn vật chất và quản lý giới hạn hình ảnh, sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường Các điểm đến du lịch trong địa phương thường bao gồm nhiều bên hữu quan như một cộng đồng tổ chức và có thể kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn.” [6]

Như vậy, ta có thể hiểu là một điểm đến du lịch về phía cầu thì du khách ở lại ít nhất một đêm, về phía cung là phải có các sản phẩm du lịch như dịch vụ hỗ trợ, các điểm đến và tuyến điểm du lịch trong thời gian một ngày, về mặt quản lý thì

Trang 19

có sự quản lý xác định tính cạnh tranh trong thị trường Vì vậy, nếu đáp ứng được những điều kiện trên thì đó là điểm đến du lịch, nên có điểm đến du lịch địa phương, và nhiều điểm đến du lịch địa phương kết nối lại với nhau để tạo thành một điểm đến du lịch lớn hơn Tiếp cận dưới góc nhìn này, có thể kết luận Hà Giang là một điểm đến du lịch

Dựa vào phạm vi người ta phân loại điểm đến thành 4 loại :

- Điểm đến cấp quốc tế: Khu vực bao gồm nhiều hoặc một số quốc gia (Asean, Đông Dương

- Điểm đến là quốc gia: Việt Nam, Lào, Campuchia, Trung Quốc…

- Điểm đến cấp vùng: Bắc Trung Bộ, Tây Nam Bộ…

- Điểm đến cấp địa phương hoặc đơn vị hành chính cá biệt: Hà Nội, Hạ Long Ngoài ra ET, 2000, điểm đến độc lập: chuỗi các điểm đến trong tour, hành trình cruise

Để cấu thành điểm đến du lịch cần có những yếu tố quan trọng trong đó kể đến:

Điểm hấp dẫn du lịch: các điểm hấp dẫn của một nơi đến dù mang đặc điểm

nhân tạo, đặc điểm tự nhiên hoặc là các sự kiện thì cũng tạo ra động lực ban đầu cho

sự viếng thăm cảu du khách Các điểm hấp dẫn thường là lĩnh vực bị lãng quên của ngànhh du lịch bởi tính đa dạng và hình thức sở hữu phân tán của chúng

Giao thông đi lại (khả năng tiếp cận nơi đến): Sự phát trì triển và duy trì

giao thông có hiệu quả nối liền với các thị trường nguồn khách là điều kiện căn bản cho sự thành công của điểm đến du lịch

Nơi ăn nghỉ: Các dịch vụ lưu trú và ăn uống của điểm đến không chỉ cung

cấp nơi ăn nghỉ mang tính vật chất mà còn tạo cảm giác chung về sự tiếp đãi nồng nhiệt, lưu lại ấn tượng khó quên về món ăn hoặc đặc sản địa phương

Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ

Du khách đòi hỏi một loạt tiện nghi, phương tiện và các dịch vụ hỗ trợ tại nơi đến du lịch Khả năng cung cấp tiện nghi và dich vụ hỗ trợ biểu lộ bản chất đa ngành của yếu tố cung trong du lịch và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh doanh trong ngành du lịch

Trang 20

Các nơi đến còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ khác cho cả khách hàng và ngành du lịch thông qua các tổ chức du lịch địa phương, Những dịch vụ này bao gồm: quảng bá cho nơi đến: lãnh đạo, phối hợp và kiểm soát sự phát triển của nơi đến, tư vấn và phối hợp các doanh nghiệp khác ở đại phương, cung cấp một số tiện nghi nhất định

Khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến điểm đến du lịch theo Metin Kozak có các nhân tố bao gồm:

+ Đặc điểm của điểm đến: cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội, dịch vụ, thái độ của dân địa phương, khả năng tiếp cận, chất lượng môi trường, an toàn và an ninh

+ Đặc điểm của du khách: Sự thỏa mãn, hình ảnh, đặc điểm cá nhân, kinh nghiệm đã trải qua, khả năng tiếp cận công nghệ thông tin, khả năng về tài chính

+ Hành vi của các công ty lữ hành: Uy tín, hoạt động marketing, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin

+ Các nhân tố bên ngoài: Tỷ giá hối đoái, sự can thiệp của chính phủ, những nhân tố không thể kiểm soát được [6]

Bên cạnh đó, ta cũng cần nghiên cứu khái niệm sản phẩm du lịch dưới góc nhìn marketing, một số học giả đã khẳng định “sản phẩm du lịch là một tổng thể rất phức tạp gồm các thành phần không đồng nhất” và sản phẩm du lịch được tạo gia bởi các nhóm thành tố gồm [35]:

Trang 21

+ Các tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hóa, công nghệ có khả năng thu hút khách du lịch và thúc đẩy chuyến đi của họ

+ Hàng hóa dịch vụ, ăn uống lưu trú, vui chơi thể thao

+ Dịch vụ du lịch

Tóm lại, sản phẩm du lịch là toàn bộ chương trình du lịch, các dịch vụ du lịch cùng với tài nguyên du lịch được khai thác cho hoạt động du lịch Thành phần của sản phẩm du lịch: sản phẩm lữ hành, sản phẩm dịch vụ du lịch được cụ thể hóa trong các lĩnh vực dịch vụ khác nhau: dịch vụ lưu trú, ăn uống, bổ sung, các dịch vụ

cụ thể khi trực tiếp phục vụ khách du lịch: đồ lưu niệm, đồ uống, món ăn

1.2 Chu kỳ sống của điểm đến du lịch

1.2.1 Khái niệm

Trước hết ta có khái niệm chu kỳ trong khoa học và đời sống nói chung, chu

kỳ là khoảng thời gian giữa hai lần lặp lại liên tiếp của một sự việc, hay thời gian để kết thúc một vòng quay, một chu trình

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về chu kỳ sống của điểm đến

du lịch Tuy nhiên, hầu như các quan điểm đó đều dựa trên cơ sở lý thuyết của chu

kỳ sống của sản phẩm Vì vậy, trước hết cần nghiên cứu chu kỳ sống của sản phẩm

 Giai đoạn phát triển: là thời kỳ hàng hóa được thị trường chấp nhận nhanh chóng

và lợi nhuận tăng lên đáng kể;

 Giai đoạn bão hòa (chín muồi) : là thời kỳ nhịp độ tăng mức tiêu thụ chậm dần lại do hầu hết những người mua tiềm ẩn đã chấp nhận sản phẩm;

 Giai đoạn suy thoái: là thời kỳ mức tiêu thụ có chiều hướng đi xuống và lợi nhuận giảm

Trang 22

Không phải tất cả các sản phẩm đều có chu kỳ sống hình sin Các nhà nghiên cứu sản phẩm đã phát hiện ra hàng chục dạng chu kỳ sống khác nhau Có ba dạng phổ biến được trình bày trong hình:

 Dạng “phát triển - giảm đột ngột -bảo hòa” (hình a) đặc trưng cho những sản phẩm có doanh số tăng nhanh khi mới tung ra thị trường rồi sau đó sụt giảm rất nhanh chóng do những người sớm chấp nhận sản phẩm này thay thế chúng, sau đó doanh số chững lại do những người chấp nhận muộn bắt đầu mua sản phẩm

 Dạng “chu kỳ - chu kỳ lặp lại” (hình b) biểu thị chu kỳ sống của những sản phẩm (ví dụ như dược phẩm mới) mà thời gian đầu nhờ quảng cáo mạnh mẽ nên doanh số tăng nhanh, điều này đã tạo ra chu kỳ thứ nhất Sau đó doanh số bắt đầu giảm và doanh nghiệp lại tiếp tục mở một đợt quảng cáo sản phẩm đó một lần nữa làm xuất hiện chu kỳ thứ hai thường có qui mô nhỏ hơn và thời gian ngắn hơn

 Dạng PLC hình sóng (hình c) tiêu biểu cho những sản phẩm mà doanh số của chúng trải qua một chuỗi chu kỳ sống do phát hiện ra những đặc tính mới của sản phẩm, những công dụng mới hay những người sử dụng mới Ví dụ nilon có chu sống dạng hình sóng, vì nó có thêm nhiều công dụng mới như làm dù, bít tất, đồ lót,

áo sơ mi, thảm được phát hiện dần qua thời gian

Hình 1.1 Các dạng chủ yếu chu kỳ sống của sản phẩm Nguồn: Philip Kotler, Marketing Management, 11th

edition, Prentice Hall, 2003, trang 32 Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu chu kỳ sống sản phẩm, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau Tác giả thu thập, phân tích trên các quan điểm đó cho rằng chu kỳ sống của điểm đến du lịch (Tourism area life cycle – Viết tắt là TALC) hay còn gọi là vòng đời của điểm đến là một khái niệm mô tả quá trình phát triển du lịch của điểm đến qua các giai đoạn của chu kỳ sống bằng những nhân

tố nhận biết dịch chuyển

Trang 23

Tương tự chu kỳ sống của sản phẩm, chu kỳ sống của điểm đến du lịch của tác giả Butler mô tả khi mới khai phá, chỉ có một số du khách hiếu kỳ biết đến điểm đến, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng như nhận thức của cộng đồng địa phương

về du lịch còn hạn chế Khi cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tăng lên, thì nhận thức về

du lịch cũng tăng lên, vì vậy số lượng khách du lịch phát triển hơn Bằng việc đầu

tư quảng bá điểm đến và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, điểm đến nhanh chóng trở thành điểm đến du lịch Nhưng khi số lượng khách du lịch đạt mức cao nhất thì điểm đến đã có dấu hiệu suy thoái Nhiều yếu tố được xác định là môi trường (thiếu đất, nước, chất lượng không khí), cơ sở vật chất (đường xá, cơ sở lưu trú), hay nhân tố xã hội (đông đúc, cảm giác khó chịu đối với du khách) Số lượng

du khách thực tế sẽ giảm khi sự hấp dẫn của điểm đến giảm đi

Việc xác định giai đoạn của chu kỳ sống rất có ý nghĩa không chỉ với việc giúp các nhà chiến lược, cơ quan quản lý, chính quyền địa phương nắm được diễn biến phát triển của điểm đến thông qua các đặc điểm nổi bật của các giai đoạn trong chu kỳ sống và xây dựng chiến lược phù hợp, hiệu quả phát triển du lịch của nhằm duy trì số lượng du khách và doanh thu du lịch, xác định được thái độ của cư dân địa phương đối với du khách thay đổi qua các giai đoạn của chu kỳ sống của điểm đến chủ yếu được giải thích bằng sự tiếp xúc của du khách với cư dân địa phương hay chỉ tính thông qua số lượng du khách

1.2.2 Các giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến

Mô hình chu kỳ sống của điểm đến của Butler đề cập tới sáu giai đoạn: Khai phá (Exploration), Thâm nhập (Involvement), Phát triển (Development), Củng cố (Consolidation), Trì trệ (Stagnation), Suy thoái (Decline) hoặc Phục hồi (Rejuvenation) [16, tr 5-12]

Trang 24

Hình 1.2 Mô hình chu kỳ sống của điểm đến của Butler Nguồn: R.W Butler, the concept of a tourist area cycle of evolution: Imlications

formanagemant of resourse, Canadian Geographer, 1980

Giai đoạn khai phá (Exploration): được đặc trưng bởi số lượng du khách,

điểm đến mới chỉ thu hút được một số khách du lịch có tâm lý hiếu kỳ, ưa khám phá

họ bị hấp dẫn bởi những nét độc đáo hay sự khác biệt về tự nhiên hay văn hóa của điểm đến Sự tiếp xúc giữa du khách và cư dân bản địa khá cao, hầu hết các dịch vụ

ăn ngủ đều ở tại nhà người dân Chính điều này hấp dẫn với nhiều du khách Du lịch không tác động nhiều đến kinh tế, môi trường, văn hóa xã hội của địa phương

Giai đoạn thâm nhập (Involvement): số lượng khách tăng đều, cư dân địa

phương cung ứng những dịch vụ cơ bản (cơ sở lưu trú, nhà hàng…), sự tiếp xúc giữa khách du lịch và dân cư bản địa vẫn ở mức cao Điều kiện kinh tế, xã hội của một bộ phận dân cư tham gia hoạt động du lịch đã dần thay đổi Việc quảng bá điểm đến bắt đầu dần được thực hiện

Giai đoạn phát triển (Development): giai đoạn này thu hút được đầu tư bên

ngoài và xác định rõ được thị trường mục tiêu Việc tiếp cận điểm đến (giao thông, thông tin), xúc tiến điểm đến ngày càng được nâng cao hơn Những dịch vụ du lịch được cung cấp bởi cư dân địa phương thay thế bởi những cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch tiện nghi, sang trọng của các đơn vị tư nhân bên ngoài Giai đoạn này cũng có nhiều sự can thiệp của cơ quan quản lý, chính quyền địa phương trong việc lập kế hoạch và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Vì vậy, đặc trưng của

Trang 25

giai đoạn này là số lượng khách đến du lịch có thể tăng hơn cả dân số của điểm đến Nhiều dịch vụ bổ sung bên cạnh những dịch vụ cơ bản như giải trí, thẩm mỹ, làm đẹp, thể thao phát triển và lao động phục vụ ngành du lịch tăng nhanh đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của du lịch Tuy nhiên, giai đoạn này việc tham gia của cư dân địa phương vào hoạt động du lịch là giảm đi nhiều

Giai đoạn củng cố (Consolidation): khi bước vào giai đoạn củng cố, số

lượng khách vẫn tăng nhưng tốc độ giảm sút Một phần kinh tế của điểm đến lệ thuộc với du lịch Nỗ lực của các bên tham gia vào quảng bá điểm đến nhằm kéo dài mùa vụ du lịch và thị trường du lịch Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được sở hữu chủ yếu bởi công ty, tập đoàn lớn, hay được nhượng quyền thương hiệu Vì vậy, sự đối đầu của một bộ phận dân cư không tham gia hoạt động du lịch ngày càng tăng

Giai đoạn trì trệ (Stagnation): sức chứa du lịch hạn chế đã dẫn đến nhiều

vấn đề liên quan đến kinh tế, văn hóa- xã hội và môi trường Hình ảnh của điểm đến vẫn khá tốt nhưng không còn là điểm đến được ưa chuộng Du khách không còn lưu lại dài, nhưng khu vui chơi giải trí, dịch vụ bổ sung khác hấp dẫn du khách hơn sự hấp dẫn của tự nhiên hay văn hóa Giai đoạn này đặc trưng bởi sức chứa du lịch hạn chế

Giai đoạn suy thoái (Decline): Trong giai đoạn suy thoái điểm đến sẽ không

thể cạnh tranh nổi với những điểm đến mới, vì vậy sẽ phải đối mặt với suy giảm thị trường về cả phạm vi và số lượng Điểm đến chỉ còn là nơi lui lại của du khách những ngày cuối tuần, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch sẽ phục vụ cho mục đích khác; một số ngành khác như khách sạn sẽ trở thành khu phục hồi chức năng, nhà dưỡng lão…Vì vậy duy trì, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là một vấn đề Chính điều này làm mất dần đi tính hấp dẫn của điểm đến Ở giai đoạn này, một lần nữa có nhiều sự can thiệp của chính quyền địa phương, các cơ quan quản lý nhằm cứu vãn tình thế Trong nhiều trường hợp, khu vực này trở thành những nơi hoang phế, hay mất hẳn đi chức năng du lịch

Giai đoạn phục hồi (Rejuvenation): giai đoạn này có thể sẽ xảy ra, tuy

nhiên trong một vài trường hợp, giai đoạn này sẽ không xảy ra nếu không có sự

Trang 26

thay đổi hoàn toàn tính hấp dẫn du lịch Có hai cách thức thực hiện nhằm tạo nên sự thay đổi lớn cho điểm đến Thứ nhất, có thể xây dựng các khu giải trí mới như sòng bạc, thẩm mỹ viện, công viên giải trí, khu giải trí liên hợp Thứ hai, là sử dụng các tài nguyên du lịch trước đây chưa được khai thác Sự phát triển của những khu vui chơi giải trí sẽ làm tăng lên tính hấp dẫn của điểm đến Trong nhiều trường hợp, một trong những hoạt động hiệu quả trong giai đoạn này là nỗ lực của cơ quan quản

lý kết hợp với đơn vị tư nhân trong việc tìm kiếm thị trường mới tiềm năng Nhưng rất khó có thể phục hồi sự hấp dẫn ban đầu của điểm đến khi nó đã mất tính cạnh tranh Chỉ trong một vài trường hợp khi điểm đến mang tính hấp dẫn độc đáo nhất hay thị hiếu du lịch được duy trì trong một thời gian dài Ví dụ như tháp nước Niagara, hay những khu vui chơi giải trí lớn và thành công như khu vui chơi giải trí Disneyland hay Disneylandworld, có thể duy trì tính cạnh tranh cao trong một thời

kỳ dài bởi họ luôn biết cách bổ sung, thay đổi sản phẩm của mình theo thị hiếu du lịch của thời đại

Tuy nhiên cũng phải nhấn mạnh rằng sau giai đoạn trì trệ (Stagnation) có thể xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố Ta có thể thấy sự tái phát triển thành công như thành phố Cantic làm cho điểm đến phát triển sung mãn hơn giai đoạn trước như đường cong A Sự thay đổi nhỏ trong điều chỉnh sức chứa

và các nguồn lực phát triển, cũng có thể giúp điểm đến phát triển ở mức B (đường cong B) Khi sự tái điều chỉnh nhằm duy trì phát triển ổn định được thực hiện sau sự thất bại của lần tái điều chỉnh đầu tiên đã kéo đường cong xuống điểm C (đường cong C) Sự tồi tàn của cơ sở vật kỹ thuật du lịch cũng như sự suy giảm của tính canh tranh so với những điểm đến du lịch khác sẽ dẫn đến suy thoái thị trường (đường cong D) Cuối cùng là những nguyên nhân như chiến tranh, bệnh dịch, thảm họa khác có thể dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng số lượng khách (đường cong E) Nếu suy thoái tiếp tục kéo dài, điểm đến sẽ không còn hấp dẫn phần lớn du khách nữa kể cả các vấn đề được giải quyết

Bên cạnh đó, hình dáng của các đường cong cũng rất đa đạng ở những đoạn khác nhau, phản ánh sự đa dạng những yếu tố như tỷ lệ phát triển, số lượng du

Trang 27

khách, khả năng tiếp cận, can thiệp của cơ quan quản lý, số lượng các điểm đến cạnh tranh Rõ ràng nếu tăng cải thiện đầu tư trong khả năng tiếp cận điểm đến thì

số lượng du khách cũng tăng lên Nếu sự phát triển cơ sở vật kỹ thuật du lịch và khả năng tiếp cận điểm đến bị hạn chế vì bất cứ lý do gì (sự đối đầu của cư dân địa phương, thiếu đầu tư…) thì giai đoạn khai phá và thâm nhập sẽ mất rất nhiều thời gian Những điểm đến phát triển theo cách truyền thống thường phải trải qua lần lượt các giai đoạn và sự phát triển của điểm đến được kéo dài khi lường trước được sức chứa du lịch và những cạnh tranh tiềm ẩn của điểm đến khác

Mặc dù mỗi điểm đến đều có chu kỳ sống hay còn gọi là vòng đời, nhưng không phải tất cả các điểm đến đều phải trải qua lần lượt các giai đoạn của chu kỳ sống Nghĩa là chu kỳ sống của điểm đến có thể bỏ qua một số giai đoạn, ví dụ như

ở CanCun của Mexico thì giai đoạn khai phá và thâm nhập là rất ngắn và khá mờ, một số trường hợp giai đoạn phát triển trở thành giai đoạn khởi đầu của chu kỳ Vì vậy, cũng có một số mô hình khác nhau của chu kỳ sống của điểm đến, nhưng chủ yếu có 4 dạng sau:

Trang 28

Hình 1.3: Các dạng chủ yếu của chu kỳ sống của điểm đến du lịch

Nguồn: Michael Haywood, Can the tourist-area life cycle be made operat

Tourism Management, Sep 1986

Trang 29

Bảng 1.1 Đặc điểm các giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến

Khai phá -Số lượng nhỏ khách du lịch có tâm lý hiếu kỳ

-Ít hoặc không có cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

- Điểm đến hấp dẫn du khách bởi yếu tố tự nhiên hay văn hóa bản địa

Thâm nhập - Có đầu tư của địa phương cho du lịch

- Quảng bá điểm đến

- Chính quyền địa phương có đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

- Xác định thị trường mục tiêu -Có những dịch vụ cơ bản của người dân địa phương phục vụ cho

du khách

Phát triển -Số lượng khách có thể nhiều hơn cả dân số điểm đến

-Tăng cường quảng bá điểm đến -Đầu tư từ bên ngoài dẫn đến mất kiểm soát của địa phương -Phát triển nhiều dịch vụ bổ sung thỏa mãn nhu cầu của du khách -Những du khách có tâm lý trung gian thay thế cho những du khách có tâm lý hiếu kỳ

Củng cố -Du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của kinh tế địa

phương -Tăng cường quảng bá điểm đến nhằm kéo dài mùa du lịch và phát triển thị trường

du lịch -Những công ty, tập đoàn lớn sở hữu cơ sở vật chất kỹ thuật phục

vụ du lịch -Thu hút loại khách có tâm lý khá tự kỷ và tự kỷ

Trang 30

vẫn ở mức cao

Suy thoái -Thị trường du lịch giảm cả về phạm vi và số lượng

-Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được sử dụng với mục đích khác

Phục hồi -Điểm đến tạo ra sức hấp dẫn mới nhờ vào xây dựng thêm các khu

vui chơi giải trí, các dịch vụ bổ sung hoặc sử dụng những nguồn tài nguyên du lịch trước đây chưa được khai thác

Bảng 1.2 Đặc điểm nổi bật củacác giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến

Khai phá -Thu hút số lượng nhỏ khách du lịch có tâm lý hiếu kỳ

Thâm nhập -Các dịch vụ cơ bản như lưu trú, ăn uống… đều do người dân địa

phương trực tiếp sở hữu phục vụ cho du khách

Phát triển -Số lượng khách du lịch nhiều hơn cả số dân của điểm đến

Củng cố -Du lịch trở thành một bộ phận không thể thiếu của kinh tế địa

phương

Trì trệ -Sức chứa du lịch bị hạn chế, tác động kinh tế, văn hóa – xã hội và

môi trường

Suy thoái -Thị trường du lịch giảm nhanh cả về phạm vi và số lượng

Phục hồi -Xây dựng thêm các khu vui chơi giải trí, các dịch vụ bổ sung

hoặc sử dụng những nguồn tài nguyên du lịch trước đây chưa được khai thác tạo nên sức hấp dẫn mới cho điểm đến

Nguồn: Tác giả

Theo lý thuyết của Butler thì rất khó định lượng để xác định giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến nếu chỉ sử dụng phân tích các nhân tố về số lượng và đặc điểm của du khách, bằng việc so sánh đặc điểm nổi bật của mỗi giai đoạn trong mô hình chu kỳ sống điểm đến với các đặc điểm thực tế của điểm đến Vì vậy, nghiên

Trang 31

cứu đưa ra năm nhân tố dựa vào lý thuyết Butler về chu kỳ sống của điểm đến và chu kỳ sống của sản phẩm có thể nhận biết sự dịch chuyển trong các giai đoạn của chu kỳ sống đó là: số lượng khách, doanh thu du lịch, cơ sở lưu trú, công ty lữ hành,

và cơ cấu tổng sản phẩm Các nhân tố này mang những đặc điểm và mức độ khác nhau ở mỗi giai đoạn của chu kỳ sống Điều này có thể tóm tắt như sau:

Bảng 1.3: Căn cứ nhận biết sự dịch chuyển trong các giai đoạn chu kỳ sống của

điểm đến

Nhân tố

Số lƣợng khách và đặc

vì điểm đến chưa được biết đến nhiều

Không có hoặc rất ít so với các điểm đến cạnh tranh khác cơ

sở lưu trú phục

vụ du khách

Không có hoặc rất ít so với các điểm đến cạnh tranh khác các công ty lữ hành

Ngành dịch

vụ chiếm tỷ trọng rất thấp trong

cơ cấu tổng sản phẩm

Các cơ sở lưu trú không đủ cung cho cầu của du khách, dân địa phương

là chủ sở hữu của các cơ sở lưu trú này

Rất ít hãng lữ hành hoạt động tại điểm đến (so với các điểm đến cạnh tranh khác)

Ngành dịch

vụ chiếm tỷ trọng rất thấp trong

cơ cấu tổng sản phẩm

Trang 32

Số lượng cơ sở lưu trú tăng nhanh đáp ứng nhu cầu của du khách, các cơ

sở lưu trú cao cấp, tiện nghi được sở hữu bởi những tổ chức bên ngoài

Số lượng các công ty lữ hành tăng nhanh chóng, cạnh tranh cao (so với các điểm đến cạnh tranh khác)

Ngành dịch

vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tổng sản phẩm

độ giảm (so với các điểm đến cạnh tranh khác)

Số lượng các

cơ sở lưu trú vẫn tăng, sở hữu bởi các công ty, tập đoàn lớn nước ngoài hay bằng cách nhượng quyền thương hiệu

Số lượng các công ty lữ hành vẫn tăng nhưng tốc độ giảm bởi sự cạnh tranh khốc liệt (so với các điểm đến cạnh tranh khác)

Ngành dịch

chiếm ưu thế nhưng tỷ trọng có xu hướng giảm trong cơ cấu tổng sản phẩm

Số lượng cơ sở lưu trú vẫn tăng nhưng tốc độ giảm (so với các điểm đến cạnh tranh khác)

Số lượng công ty lữ hành có xu hướng giảm

do thị trường bão hòa

Ngành dịch

vụ có tỷ trọng giảm

xu hướng giảm trong

cơ cấu tổng sản phẩm

Trang 33

Cơ sở lưu trú xuống cấp, số lượng cơ sở lưu trú có xu hướng giảm, nhiều cơ

sở lưu trú phục

vụ du lịch được

sử dụng với mục đích khác

Số lượng công ty lữ hành giảm nhanh chóng, nhiều đơn vị

lữ hành rút khỏi thị trường

Ngành dịch

vụ có tỷ trọng giảm trong cơ cấu tổng sản phẩm nhưng vẫn cao hơn

ở giai đoạn đầu của chu

Các cơ sở lưu trú được đầu

tư, tu sửa lại để hoạt động, số lượng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch có xu hướng tăng

Các công ty

lữ hành có dấu hiệu phục hồi hoạt động

Ngành dịch

vụ có xu hướng tăng

tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm (so với các điểm đến cạnh tranh khác)

1.2.4 Những vấn đề đặt ra mỗi giai đoạn trong chu kỳ của điểm đến du lịch

Ở mỗi giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống, điểm đến phải đối mặt với các vấn đề khác nhau mà các nhà chiến lược phải nắm bắt được để đưa ra các chiến lược, giải pháp phù hợp và hiệu quả nhất cho từng giai đoạn phát triển du lịch

Trang 34

Giai đoạn khai phá và thâm nhập:

- Thiếu cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

- Khả năng thông tin, tiếp cận điểm đến còn bị hạn chế

- Điểm đến tương đối chưa được biết đến

Giai đoạn phát triển

- Số lượng khách du lịch tăng nhanh, tác động đến hữu hình đến kinh tế địa phương

- Phát triển tự phát và không liên kết

Giai đoạn củng cố và trì trệ

- Số lượng quá lớn khách du lịch vượt quá sức chứa du lịch

- Vai trò kiểm soát của chính quyền địa phương bị mất dần

- Các công ty, tập đoàn lớn sở hữu cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

- Xuất hiện thái độ chống đối của dân địa phương với du khách

Giai đoạn suy thoái

- Điểm đến vẫn tạo hình ảnh tốt nhưng không còn là điểm đến được ưa chuộng

- Du lịch bị thương mại hóa

- Không có tín hiệu phục hồi

- Xuất nhiều các vấn đề liên quan đến kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường của điểm đến

1.2.5 Các chiến lược phát triển du lịch cho mỗi giai đoạn trong chu kỳ sống của điểm đến

Theo Martin và Uysal (1990) [27] cho rằng mỗi giai đoạn của chu kỳ sống cần có những chiến lược khác nhau để nâng cao tính cạnh tranh của điểm đến so với các điểm đến cạnh tranh khác Tuy nhiên cũng phải nhấn mạnh rằng, mỗi chiến lược có những điểm mạnh và điểm yếu riêng phụ thuộc các điều kiện của điểm đến

Giai đoạn đầu (giai đoạn khai phá và thâm nhập): những nhà hoạch định

chiến lược phát triển du lịch cần đưa ra những chiến lược phù hợp để có thể lường trước những vấn đề xảy ra ở giai đoạn tiếp theo, những chiến lược đó là:

- Chiến lược tung những sản phẩm, dịch vụ mới cho những thị trường mới Nếu áp dụng chiến lược điểm đến phải đối mặt với rủi ro cao khi thị trường là mới chưa được biết đến nhằm phát triển những sản phẩm mới

Trang 35

- Xây dựng thị phần, chiến lược này phù hợp với những sản phẩm mới nhằm tăng thị phần và sự biết đến điểm đến

Giai đoạn phát triển: mục tiêu của giai đoạn này là duy trì cầu du lịch, tìm

kiếm những khách hàng mới và tạo ra sản phẩm mới Ở giai đoạn này, Porter 1980 đưa ra những chiến lược sau [34] :

- Chiến lược dẫn đầu về giá (overall cost leadership strategy): giá là công

cụ hữu hiệu để cạnh tranh du lịch, tính hấp dẫn của điểm đến một phần do giá quyết định Nói cách khác, độ co giãn về giá đối với cầu du lịch là khá lớn Do vậy, bất cứ

sự thay đổi nào về giá đều dẫn đến sự tăng lên hay giảm cầu du lịch đối với điểm đến Ví dụ như các điểm đến như Thổ Nhĩ Kỳ, Đảo Shíp, Hy Lạp với nguồn nhân công rẻ hơn và các chi phí kinh doanh thấp hơn nên có lợi thế hơn so với Tây Ban Nha, ý, Pháp Để giảm gía tạo tính cạnh tranh thì cần tạo tính liên kết của điểm đến Điểm đến có thể phát triển bằng chiến lược dẫn đầu về giá không có nghĩa là điểm đến sẽ cung cấp cho thị trường những sản phẩm, dịch vụ thấp nhất Trái lại, chiến lược này nhằm đảm bảo lợi thế cạnh tranh về giá với các điểm đến cạnh tranh khác Nếu áp dụng chiến lược này, điểm đến sẽ thu được nguồn thu lớn khi thu hút được

số lượng lớn khách du lịch

- Chiến lược khác biệt hóa: Chiến lược này bao gồm quá trình tạo ra các sản phẩm khác biệt hơn so với các sản phẩm, dịch vụ mà các đối thủ cạnh tranh đang cung ứng và cần ưu tiên nghiên cứu những sản phẩm, dịch vụ tiềm năng có thể đưa ra thị trường Khác với chiến lược dẫn đầu về giá, du khách sẽ sẵn sàng trả giá cao hơn cho những sản phẩm du lịch nếu chúng có thêm những thuộc tính mới như

cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ khách hàng, xây dựng hình ảnh sản phẩm mới…

- Chiến lược tập trung: không giống như hai chiến lược dẫn đầu về giá và chiến lược khác biệt hóa đều nỗ lực ở tất cả các thị trường Chiến lược tập trung chỉ xác định những sản phẩm, dịch vụ cụ thể cho những thị trường mục tiêu Nếu theo đuổi chiến lược này, cần phải biết nhu cầu cụ thể của những thị trường mục tiêu này đối với điểm đến và sử dụng chiến lược dẫn đầu về giá hay chiến lược khác biệt hóa với thị trường mục tiêu đó Vì vậy, khi áp dụng chiến lược tập trung sẽ đáp ứng tốt hơn những điểm đến cạnh tranh khác

Trang 36

Giai đoạn củng cố và trì trệ: Theo Martin và Uysal (1990) cho rằng, chiến

lược ở giai đoạn này là nhằm duy trì vị trí của điểm đến mặc dù nó không còn ở giai đoạn phát triển và ngăn cho điểm đến không rơi vào giai đoạn suy thoái Đây là giai đoạn quan trọng đưa ra những chiến lược toàn diện để kéo dài phát triển của điểm đến Vì thế, ở giai đoạn này chúng ta có những chiến lược sau:

- Chiến lược tung ra những sản phẩm, dịch vụ mới với thị trường hiện có Tuy nhiên, không chắc chắn rằng những sản phẩm dịch vụ mới có thu hút được thị trường hiện tại hay không

- Duy trì thị phần, khi điểm đến có thị phần cao trong thị trường du lịch thì chiến lược tốt nhất là nâng cao lợi thế cạnh tranh sản phẩm du lịch dịch vụ so với các điểm đến cạnh tranh khác thông qua việc đầu tư, nâng cấp

- Duy trì sản phẩm, dịch vụ hiện có cho những thị trường hiện tại Nguy cơ của chiến lược này là số lượng khách sẽ giảm mỗi năm

Giai đoạn suy thoái: ở giai đoạn này điểm đến không còn khả năng cạnh

tranh với các điểm đến mới khác, khách du lịch sẽ không còn nhận ra lợi thế cạnh tranh nào với các điểm đến khác Cầu du lịch hoàn toàn phụ thuộc vào giá Ở giai đoạn này có những chiến lược sau [33]:

- Thu hoạch vét (Harvesting of thec product): nghĩa là điểm đến sẽ thu hoạch nốt các sản phẩm dịch vụ bán ra cho khách du lịch trước khi rút khỏi thị trường

- Rút khỏi thị trường: trong trường hợp điểm đến không còn tiềm năng nào

để hấp dẫn du khách nữa, chiến lược tốt nhất là rút các sản phẩm dịch vụ du lịch khỏi thị trường giảm tổn thất.Tuy nhiên, chiến lược này rất khó thực hiện vì việc đầu cho cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là rất cao

Giai đoạn phục hồi: nỗ lực phục hồi điểm đến hầu như là tập trung ở những

thị trường mới, nhưng vẫn cố gắng tận dụng duy trì thị trường cũ Khi quyết định phục hồi điểm đến, có những chiến lược sau có thể thực hiện [31]:

- Mở rộng sản phẩm, dịch vụ hiện có cho thị trường mới (Ansoff) bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ.Ví dụ, điểm đến thu hút khách du lịch sinh thái bằng cách tạo thêm hoạt động mới cho sản phẩm du lịch hiện tại (ví dụ: xem chim) Nhưng chiến lược này vẫn tiềm ẩn rủi ro cao khi thị trường chưa biết đến, mở rộng sản phẩm dịch vụ có thể sẽ không thích hợp

Trang 37

- Đầu tư mới, thay đổi cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch thu hút thị trường mới như ở Atlantic xây dựng những sòng bạc lớn, chuyển đổi thị trường mục tiêu

- Tái định vị sản phẩm du lịch như chuyển thị trường khách du lịch đại chúng đến khách du lịch có khả năng chi tiêu cao, từ thị trường khách nội địa đến thị trường khách quốc tế Để định vị lại hiệu quả cần cải thiện môi trường, cải thiện sản phẩm, nỗ lực marketing và sự tham gia của cộng đồng

Bảng 1.4 Chu kỳ sống điểm đến du lịch và chiến lược Chu kỳ sống

sản phẩm

Chu kỳ sống điểm đến

Lựa chọn sản phẩm

Lựa chọn thị trường

Tổng quan chiến lược

Tung ra

thị trường

Giai đoạn đầu (Giai đoạn khai phá và thâm nhập)

Tung ra sản phẩm mới

Thị trường mới, xây dựng thị phần

Phát triển, đa dạng hóa

Phát triển Giai đoạn phát

triển

Cung ứng sản phẩm mới và hiện

Duy trì thị phần, thu hút thị trường mới

Dẫn đầu giá, khác biệt hóa, tập trung

Chín muồi Giai đoạn củng cố

và trì trệ

Cung ứng sản phẩm mới và hiện

Duy trì thị phần

Duy trì, nguyên trạng

Suy thoái

Suy thoái Sản phẩm thu

hoạch vét, rút khỏi

Thu hoạch vét, rút khỏi thị trường

Thay đổi thói quen

Phục hồi Mở rộng sản

phẩm hiện có, nâng cao thuộc tính sản phẩm, chất lượng sản phẩm

Thị trường mới, tạo nên nhu cầu có chủ đích

Cái tiến, chuyển dịch vị thế của điểm đến, khác biệt hóa

Nguồn: Tác giả

Trang 38

2 Nêu khái niệm chu kỳ sống của sản phẩm, các dạng chu kỳ sống sản phẩm cơ bản, khái niệm chu kỳ sống của điểm đến, nêu đặc điểm các giai đoạn của chu kỳ sống của điểm đến theo lý thuyết chu kỳ sống điểm đến của Butler: giai đoạn khai phá, thâm nhập, phát triển, củng cố, trì trệ, suy thoái hoặc phục hồi

3 Dựa theo lý thuyết Butler, nghiên cưú đưa ra năm nhân tố dựa vào lý thuyết Butler về chu kỳ sống của điểm đến và chu kỳ sống của sản phẩm có thể nhận biết

sự dịch chuyển trong các giai đoạn của chu kỳ sống đó là: số lượng khách và đặc điểm tâm lý của họ, thu nhập du lịch, cơ sở lưu trú, hãng lữ hành, và cơ cấu tổng sản phẩm Các nhân tố này mang những đặc điểm và mức độ khác nhau ở mỗi giai đoạn của chu kỳ sống

4 Nêu ra những vấn đề đặt ra cần giải quyết ở mỗi giai đoạn của chu kỳ sống của điểm đến, trên cơ sở đó có những chiến lược phát triển cho mỗi giai đoạn khác nhau

để nâng cao tính cạnh tranh của điểm đến

Trang 39

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG LÝ THUYẾT CHU KỲ SỐNG CỦA

ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH XÁC ĐỊNH GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH HÀ GIANG

2.1 Khái quát chung du lịch Hà Giang

2.1.1 Các điều kiện tự nhiên

Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới ở cực bắc của Tổ quốc, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng Phía Bắc và Tây có đường biên giới giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa dài 274 km; phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng; phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Tây và Tây nam giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái [37]

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang

(Nguồn: Tập bản đồ hành chính Việt Nam, NXB Bản đồ, H, 2010)

Trang 40

Hà Giang có diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2 Tại điểm cực Bắc của lãnh thổ Hà Giang, cũng là điểm cực Bắc của Tổ quốc, có vĩ độ 23013'00"; điểm cực Tây

có kinh độ l04024'05"; mỏm cực Đông có kinh độ l05030'04"

Tính đến nay Hà Giang có 1 thị xã, 10 huyện, 5 phường, 9 thị trấn và 182 xã Tính đến cuối năm 2005 dân số Hà Giang là 679.157 người

- Vùng cao phía Bắc còn gọi là cao nguyên Đồng Văn, gồm các huyện Quản

Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc với 90% diện tích là núi đá vôi, đặc trưng cho địa hình karst Ở đây có những dải núi đá tai mèo sắc nhọn, những khe núi sâu và hẹp, nhiều vách núi dựng đứng

- Vùng cao phía tây gồm các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần là một phần của cao nguyên Bắc Hà, thường được gọi là vòm nâng sông Chảy, có độ cao từ 1.000m đến trên 2.000m Địa hình nơi đây phổ biến dạng vòm hoặc nửa vòm, quả lê, yên ngựa xen kẽ các dạng địa hình dốc, đôi khi sắc nhọn hoặc lởm chởm dốc đứng, bị phân cắt mạnh, nhiều nếp gấp

- Vùng núi thấp bao gồm địa bàn các huyện, thị còn lại, kéo dài từ Bắc Mê, thị xã Hà Giang, qua Vị Xuyên đến Bắc Quang Khu vực này có những dải rừng già xen kẽ những thung lũng tương đối bằng phẳng nằm dọc theo sông, suối

Về thủy văn

Các sông lớn ở Hà Giang thuộc hệ thống sông Hồng ở đây có mật độ sông, suối tương đối dày Hầu hết các sông có độ nông sâu không đều, độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, ít thuận lợi cho giao thông thuỷ

Sông Lô là một sông lớn ở Hà Giang, bắt nguồn từ Lưu Lung (Vân Nam,

Trung Quốc), chảy qua biên giới Việt - Trung (khu vực Thanh Thuỷ), qua thị xã Hà

Ngày đăng: 20/03/2015, 16:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đàm Văn Bông (2011), Thực trạng và định hướng phát triển kinh tế tỉnh Hà Giang “ kỷ yếu hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỷ yếu hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư
Tác giả: Đàm Văn Bông
Năm: 2011
2. Cục thống kê tỉnh Hà Giang (2012), Niên giám thông kê năm 2010 Khác
7. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiều (2001), Du lịch bền vững, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Khác
8. Mai Trọng Nhuận, Vũ Minh Khang (2011), Giaỉ pháp đột phá một số ngành- lĩnh vực vì Hà Giang phát triển, Kỷ yếu hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư vì Hà Giang phát triển, Hà Nội Khác
10. Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Giang (2009), Cẩm nang du lịch Hà Giang, Công ty in TNHHTM HBT, Hà Giang Khác
11. Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Giang (2010), Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn, Bản tin số 1 Khác
12. Sở Văn hóa Thể Thao và Du lịch Hà Giang (2011),Bản tin du lịch, số 01 Khác
13. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang(2004), Hà Giang điểm hẹn nơi cực Bắc, Nxb Thông Tấn Khác
14. L. Alex, 1997, Applications of Life- cycle model tourism, Analysis tourism research Khác
15. Butler, R.W. (1985), Evolution of tourism in the Scottish highlands. Annals of tourism research, Canadian Geographer Khác
16. Butler, R.W. (1980). The concept of a tourism area cycle of evolution: Implication for management of resources, Canadian Geographer Khác
17. Choy, D. (1992), Life cycle models for pacific island destinations. Journal of travel research, Winter 1992 Khác
18. Cooper, C.& Jackson, S.(1989), Destination life cycle: The isle of Man case study. Annals of tourism research vol.16 Khác
19. Christaller, W.(1963), Some consideration of tourism location in Europe, Regional Science Association Papers 12 Khác
20. Cohen, E. (1972), Towards a Sociology of International Tourism, Social Research, Vol, 39 Khác
21. Gilbert, D. (1990). Strategic marketing planning for national tourism. Tourist Review Khác
22. Gilbert, E.W. (1939). The growth of inland and seaside health resorts in England. Scottish Geographical Magazine Khác
23. Hay wood, K.(1986), Can the tourist area life cycle be made operational, Tourism Management Khác
24. Knowles, T. and Curtis, S. (1999). The market viability of European mass tourist destinations. A post-stagnation life-cycle analysis. Tourism Research Khác
25. Kotler, P. (2003), Marketing Management, 11 th edition, Prentice Hall 26. Levitt, T (1965), Exploit the Product life cycle, Havard Business Review Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.3:  Căn cứ nhận biết sự dịch chuyển trong các giai đoạn chu kỳ sống của - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Bảng 1.3 Căn cứ nhận biết sự dịch chuyển trong các giai đoạn chu kỳ sống của (Trang 31)
Bảng 1.4  Chu kỳ sống điểm đến du lịch và chiến lược  Chu kỳ sống - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Bảng 1.4 Chu kỳ sống điểm đến du lịch và chiến lược Chu kỳ sống (Trang 37)
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang   (Nguồn: Tập bản đồ hành chính Việt Nam, NXB Bản đồ, H, 2010) - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Giang (Nguồn: Tập bản đồ hành chính Việt Nam, NXB Bản đồ, H, 2010) (Trang 39)
Hình 2.3: Khuynh hướng tăng trưởng về doanh thu du lịch dịch vụ của Hà Giang - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 2.3 Khuynh hướng tăng trưởng về doanh thu du lịch dịch vụ của Hà Giang (Trang 66)
Hình 2.4. Khuynh hướng tăng trưởng về số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 2.4. Khuynh hướng tăng trưởng về số lượng cơ sở lưu trú của Hà Giang (Trang 68)
Hình 2.5 Khuynh hướng phát triển tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm tỉnh - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 2.5 Khuynh hướng phát triển tỷ trọng trong cơ cấu tổng sản phẩm tỉnh (Trang 70)
Bảng 2.7  Bảng tổng hợp kết quả phân tích chu kỳ sống của một số điểm du lịch - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp kết quả phân tích chu kỳ sống của một số điểm du lịch (Trang 83)
Hình 2.7. Chu kỳ sống của một số điểm du lịch Hà Giang - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 2.7. Chu kỳ sống của một số điểm du lịch Hà Giang (Trang 84)
Hình của các dân tộc đạt đến đỉnh cao), - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình c ủa các dân tộc đạt đến đỉnh cao), (Trang 126)
Hình 2. Bản Lô Lô Chải dưới chân cột cờ Lũng Cú - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 2. Bản Lô Lô Chải dưới chân cột cờ Lũng Cú (Trang 132)
Hình 4. Đường đèo Mã Pí Lèng trên cung đường Hạnh Phúc - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 4. Đường đèo Mã Pí Lèng trên cung đường Hạnh Phúc (Trang 133)
Hình 3. Đường lên cao nguyên đá Đồng Văn - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 3. Đường lên cao nguyên đá Đồng Văn (Trang 133)
Hình 5. Hẻm vực sông Nho Quế nhìn từ đèo Mã Pí Lèng - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 5. Hẻm vực sông Nho Quế nhìn từ đèo Mã Pí Lèng (Trang 134)
Hình 6. Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì (Ảnh: Nhân Dân) - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 6. Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì (Ảnh: Nhân Dân) (Trang 135)
Hình 7. Bài đá cổ Nấm Dần (Xín Mần, Hà Giang) - Giải pháp phát triển du lịch Hà Giang dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch
Hình 7. Bài đá cổ Nấm Dần (Xín Mần, Hà Giang) (Trang 135)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm