3 DANH MỤC CÁ C CHỮ VIẾT TẮT ADB AfDB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á African Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Phi ASEAN Associate of South- East Asia Nat
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
CHOI HANA
HỢP TÁC PHÁT TRIỂN HÀN – VIỆT QUA ODA GIAI ĐOẠN 2001- 2010
Chuyên ngành : Việt Nam học
Mã số : 60 31 60
Hà Nội - 2011
Trang 21
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁ C CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁ C BẢNG, BIỂU, HÌNH 7
MỞ ĐẦU 8
Chương 1: Hợp tác phát triển - Kinh nghiệm của Hàn Quốc và Việt Nam 14
1.1 Cơ sở lý luận về hợp tác phát triển 14
1.1.1 Khái niệm về hợp tác phát triển và viện trợ phát triển chính thức………14
1.1.2 Lịch sử hợp tác phát triển 16
1.1.3 Các loại hình viện trợ phát triển và những vấn đề mới 21
1.2 Kinh nghiệm tiếp nhận viện trợ phát triển của Hàn Quốc 26
1.2.1 Khái quát về tiếp nhận viện trợ phát triển của Hàn Quốc 26
1.2.2 Đặc điểm tiếp nhận viện trợ phát triển của Hàn Quốc 29
1.3 Kinh nghiệm tiếp nhận ODA của Việt Nam 31
1.3.1 Tình hình tiếp nhận ODA trước năm 1993 31
1.3.2 Tình hình tiếp nhận ODA từ năm 1993 đến năm 2010 32
1.3.3 Quy trình tiếp nhận ODA tại Việt Nam 37
1.3.4 Tác dụng của ODA trong quá trình phát triển kinh tế -xã hội Việt Nam………40
Chương 2 Các hoạt động ODA của Hàn Quốc tại Việt Nam 44
2.1 Phát triển quan hệ giữa Hàn Quốc và Việt Nam 44
2.1.1 Bối cảnh xây dựng quan hệ Hàn Quốc và Việt Nam 44
2.1.2 Quan hệ Hàn Quốc –Việt Nam sau năm 1992 46
Trang 32
2.2 Thực trạng ODA Hàn Quốc dành cho Việt Nam 48
2.2.1 Hệ thống viện trợ phát triển chính thức của Hàn Quốc 48
2.2.2 Viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam do KOICA thực hiện 51
2.2.3 Viện trợ hoàn lại 67
2.2.4 Hoạt động của các tổ chức khác 72
2.3 Đặc điểm hợp tác phát triển giữa Hàn Quốc và Việt Nam 74
Chương 3: Phản ứng của Việt Nam đối với ODA của Hàn Quốc 77
3.1 Bối cảnh mới của quan hệ hợp tác phát triển Hàn –Việt 77
3.1.1 Vị trí của Việt Nam trong hợp tác phát triển quốc tế 77
3.1.2 Sự thay đổi của chính sách hợp tác phát triển của Hàn Quốc 83
3.2 Phản ứng của Việt Nam đối với ODA của Hàn Quốc 84
3.2.1 Mục đích của viện trợ Hàn Quốc 84
3.2.2 Đánh giá của các đối tác Việt Nam 86
3.3 Định hướng hợp tác phát triển mới của Hàn Quốc trong tương lai 94
3.3.1 Hợp tác Công-Tư 94
3.3.2 Hoạt động tổ chức xã hội dân sự 96
KẾT LUẬN 99
TÀ I LIỆU THAM KHẢO 102
SUMMARY 111
Trang 43
DANH MỤC CÁ C CHỮ VIẾT TẮT
ADB
AfDB
Asian Development Bank
Ngân hàng phát triển châu Á
African Development Bank
Ngân hàng phát triển Châu Phi
ASEAN Associate of South- East Asia Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á
CAS Country Assistance Strategy
Chiến lực Hỗ trợ Quốc gia
CG Consultative Group Meeting
Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ
COMECON Council of Mutual Economic
Hội đồng Tương trợ Kinh tế
CRS
CSO
Corporate Social Responsibility
Trách nhiệm Xã hội đối với Cộng đồng
Civil Society Organization
Tổ chức Xã hội Dân sự
DAC
DSI
Development Assistance Committee
Ủy Ban Hỗ trợ Phát triển
Development Strategy Institute
Viện Chiến lược Phát triển
EACP East Asia Climate Partnership
Chương trình Đối tác Khí hậu Đông Á
EDCF Economic Development Cooperation Fund
Quỹ Hợp tác Phát triển Kinh tế Hàn Quốc
EDF European Development Fund
Quỹ phát triển Châu  u
Trang 54
EU European Union
Liên minh Châu  u
GDP Gross Domestic Product
Tổng Sản phẩm Nội địa
HCS Hanoi Core Statement
Cam kết Hà Nội
HIPC Heavily Indebted Poor Country
Nước Nghèo Vay nợ Cao
IBRD
IDA
IDB
International Bank for Reconstruction and Development
Ngân hàng Tài thiết và Phát triển Quốc tế
International Development Association
Hiệp hội phát triển quốc tế
Inter-American Development Bank
Ngân hàng phát triển châu Mỹ
IDGs International Development Goals
Mục tiêu Phát triển Quốc tế
IMF International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
INGO International Non Government Organisation
Korea Development Institute
Viện phát triển Hàn Quốc
Korea Export and Import Bank
Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hàn Quốc
Korea International Cooperation Agency
Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Hàn Quốc
Trang 65
LMDG Like Minded Donor Group
Nhóm các nhà tài trợ đồng chính kiến
MDGs Millennium Development Goals
Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ
MOFT
MPI
Ministry of Foreign Affairs and Trade
Bộ Ngoại giao và Thương mại Hàn Quốc
Ministry of Planning and Investment
Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam
MOSF
NICs
Ministry of Strategy and Finance
Bộ Chiến lược and Tài chính Hàn Quốc
Newly Industrialized Countries
Các nước Công nghiệp Mới
OECD Organization for Economic Co-operation and Development
Dòng chảy vốn tư nhân
SIDA Swedish Agency for International Development Cooperation
Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Thụy Điển
UN United Nations
Liên Hợp Quốc
UNDP United Nations Development Programme
Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc
UNKRA United Nations Korean Reconstruction Agency
Cơ quan Tái thiết Hàn Quốc của Liên Hợp Quốc
Trang 76
USAMGIK United States Army Military Government in Korea
Cơ quan Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ tại Hàn Quốc
USD United States Dollar
Đồng đô –la Mỹ
WB World Bank
Ngân hàng Thế giới
Trang 87
DANH MỤC CÁ C BẢNG, BIỂU, HÌNH Bảng
Bảng 1.1 : Dòng chảy vốn phát triển đối với nước đang phát triển………15
Bảng 1.2 : Môi trường và ý niệm hợp tác phát triển quốc tế từng thời kỳ……… 19
Bảng 1.3 : So sánh mô hình hợp tác phát triển truyền thống và mới……… 25
Bảng 1.4 : Phân kỳ hợp tác phát triển Hàn Quốc……… 28
Bảng 1.5 : Quy mô viện trợ Hàn Quốc đã tiếp nhận giai đoạn 1945-1999………29
Bảng 1.6 : Tên Báo cáo phát triển Việt Nam 2001-2011……… 37
Bảng 2.1 : Phân loại ODA và cơ chế thực thi của Hàn Quốc……… … 50
Bảng 2.2 : Hiện trạng cung cấp ODA của Hàn Quốc……….51
Bảng 2.3 : Tài trợ của KOICA cho Việt Nam giai đoạn 1991-2000 53
Bảng 2.4 : Tài trợ của KOICA cho Việt Nam giai đoạn 2001-2010 54
Bảng 2.5 : Nội dung KSP dành cho Việt Nam……… 63
Bảng 3.1 : Sự tăng trưởng thành viên của KCOC 2000-2010 96
Biểu Biểu 2.1 Các lĩnh vực đầu tư vốn EDCF tại Việt Nam……… 71
Biểu 3.1 Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA tại Việt Nam 1993-2009………80
Hình Hình 2.1 Hệ thống chính sách hợp tác phát triển quốc tế của Hàn Quốc…… …49
Hình 2.2 Quy trình thực hiện dự án của KOICA……… 67
Hình 3.1 Hiệu quả hợp tác Công – Tư……… … 95
Trang 9tế quốc tế [31, tr.175], sớm khắc phục hậu quả khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tiếp tục phát triển Việt Nam từ năm 1986 bắt đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa với công cuộc Đổi Mới và mở rộng quan hệ quốc tế, đang phấn đấu phát triển đất nước lên một tầm cao mới Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2010 của Việt Nam kết thúc với hai sự kiện lớn trong năm 2010 là Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB : World Bank) đưa vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình, là tổ chức thành công các hội nghị trong khuôn khổ Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN: Association of Southeast Asian Nations) với vai trò là nước chủ tịch, điều này đã khẳng định lại những thành tựu quan trọng của công cuộc Đổi Mới mà Việt Nam đạt được trong hơn 25 năm qua
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực ảnh hưởng lẫn nhau và có vai trò to lớn đối với sự phát triển của nước khác Với tư cách
là thành viên của Ủy Ban Hỗ trợ Phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế (OECD/DAC : Organization for Economic Co-operation and Development/ Development Assistance Committee), mô hình phát triển của Hàn Quốc thực sự đang có sức hấp dẫn rất lớn đối với các nước đang phát triển Những kinh nghiệm
mà Hàn Quốc có được trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước là những bài học rất quý báu cho các nước đang phát triển
Vào thế kỷ mới, Hàn Quốc càng coi trọng quan hệ hợp tác phát triển với các
Trang 10Từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 12 năm 1992, quan hệ Hàn Quốc và Việt Nam tuy chưa tròn 20 năm, song hai nước đã đạt được nhiều thành tựu tốt đẹp trên nhiều lĩnh vực Năm 2001 hai nước tuyên bố “quan hệ đối tác toàn diện thế kỷ 21” và tiếp theo, năm 2009, hai nước nâng cấp quan hệ đó trở thành “quan hệ đối tác chiến lược” Hợp tác với Hàn Quốc, một quốc gia có nhiều điểm tương đồng sẽ giúp cho Việt Nam tránh được nhiều khó khăn và khắc phục được những hạn chế gặp phải trong quá trình phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu quốc gia năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Để đạt được mục tiêu quốc gia đó, Việt Nam cần huy động nhiều vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trong thời gian tới và Viện trợ Phát triển Chính thức (ODA : Official Development Assistance) là một trong những “kênh” vốn đầu tư phát triển quan trọng đối với các nước đang phát triển bao gồm Việt Nam Trên thực
tế, vài thập niên gần đây, cùng với nỗ lực mở rộng quan hệ đối ngoại, Việt Nam đã tranh thủ huy động vốn ODA từ các nước trên thế giới Đối với những nước có xuất phát điểm kinh tế thấp như Việt Nam hiện nay, nguồn vốn ODA có ý nghĩa hết sức quan trọng với những ưu đãi như: thời hạn vay dài, lãi suất thấp, thời gian ân hạn ưu đãi, có yếu tố tài trợ không hoàn lại,
Hàn Quốc đang tăng nguồn vốn ODA cho các nước đang phát triển nhằm nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế Kinh nghiệm của Hàn Quốc từ một nước nhận viện trợ nay đã trở thành nước cung cấp viện trợ cho các nước đang phát triển
có tác động cổ vũ các nước đang phát triển khiến họ tin rằng họ cũng có thể làm
Trang 112 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, việc hợp tác phát triển giữa Hàn Quốc và Việt Nam hoặc hoạt động ODA của Hàn Quốc tại Việt Nam chưa được quan tâm một cách tương xứng với quan hệ ngày càng mật thiết giữa hai quốc gia Tại Hàn Quốc mới chỉ có một số cơ quan thuộc Chính phủ như Viện nghiên cứu Kinh tế Đối ngoại Hàn Quốc (KIEP : Korea Institute for International Economics Policy) hoặc các tổ chức chuyên ngành như Cơ quan Hợp tác Phát triển Hàn Quốc (KOICA : Korea International Cooperation Agency), Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Hàn Quốc (KEXIM : Korea Bank of Export Import) nghiên cứu và công bố báo cáo tại Hàn Quốc, tìm cách hợp tác theo từng ngành và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ODA Hàn Quốc tại Việt Nam Kwon Yul phân tích chính sách phát triển của Việt Nam, xu hướng cung cấp viện trợ của cộng đồng quốc tế cho Việt Nam những năm đầu 1990 và đề xuất định hướng cung cấp viện trợ của Hàn Quốc cho Việt Nam trong tương lai [57] Trong luận văn Thạc sĩ ngành chính trị học Lee Young Mi [80] phân tích quá trình thực hiện hai dự án hợp tác kỹ thuật của Hàn Quốc tại Việt Nam là Dự án hỗ trợ Viện chiến lược phát triển (DSI : Development Strategy Institute) và Dự án hỗ trợ thành lập Trung Tâm Giao dịch chứng khoán Việt Nam
Còn phía Việt Nam chưa có một chuyên khảo nào về vấn đề này Nhìn chung, các
kỷ yếu hội thảo và sách tham khảo về quan hệ Hàn Quốc –Việt Nam mới chỉ có một vài bài viết về tình hình giao lưu kinh tế giữa hai nước [5] [13] hoặc một vài luận văn của sinh viên Việt Nam về quan hệ Việt - Hàn đề cập đến vấn đề này [20] Hàn Quốc và Việt Nam đều chưa có một công trình nghiên cứu nào toàn diện, cơ bản, hệ
Trang 1211
thống về hợp tác phát triển giữa hai nước trong thời gian qua, trên cơ sở đó có thể đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường quan hệ hợp tác phát triển giữa hai nước
3 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước
và tự thân tìm hiểu diễn biến của hợp tác phát triển giữa Hàn Quốc và Việt Nam trong thời gian qua, tác giả mong muốn đánh giá toàn diện tình hình hợp tác phát triển giữa hai nước, đặc biệt qua hoạt động ODA của Hàn Quốc tại Việt Nam, tìm hiểu phản ứng của các đối tác Việt Nam cũng như hiệu quả của viện trợ thực tế trong giai đoạn từ năm 2001-2010, là thập niên mà chính sách hợp tác phát triển của Hàn Quốc có nhiều thay đổi Đồng thời tác giả đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả ODA của Hàn Quốc tại Việt Nam để tăng cường hợp tác phát triển giữa hai nước trong thời gian tới Thông qua việc đó, luận văn có thể trở thành một tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chính sách hợp tác phát triển của hai nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là các hoạt động hợp tác phát triển song phương giữa Hàn Quốc và Việt Nam bao gồm các hoạt động viện trợ không hoàn lại, cho vay ưu đãi, các hoạt động của tổ chức khác của Hàn Quốc trong giai đoạn năm
2001 - 2010 Ngoài ra, luận văn phân tích cách thức hợp tác giữa các đối tác Hàn Quốc và Việt Nam và đề cập đến ý kiến phản hồi của các đối tác Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được tiếp cận dưới góc độ Việt Nam học và hoàn thành trên cơ sở sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu : Tác giả thu thập và phân tích các báo cáo của các cơ quan hợp tác phát triển đảm trách hoạt động ODA, các công trình nghiên cứu của một số cơ quan nghiên cứu chính sách và kinh tế đối ngoại
Trang 1312
của Hàn Quốc và Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng tiến hành tổng hợp tư liệu về các dự án ODA của Hàn Quốc tại Việt Nam, tra cứu thông tin liên quan trên mạng Internet
- Phương pháp phỏng vấn : Để bổ sung thông tin của phía Việt Nam, trong thời gian từ 6/2010- 5/2011 tác giả trực tiếp phỏng vấn các đối tượng liên quan là cán bộ công chức phụ trách ODA tại Việt Nam (là trưởng phòng phụ trách ODA Hàn Quốc thuộc Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam), các nhà nghiên cứu chính sách Việt Nam (như lãnh đạo Viện quản lý kinh tế Trung ương, Viện Chiến lược Phát triển, Viện chiến lược Ngoại giao, Viện nghiên cứu Đông Bắc Á .), những người trực tiếp tham gia và các cơ quan tiếp nhận dự
án ODA Hàn Quốc tại Việt Nam (Phòng khám hữu nghị Việt –Hàn, Văn phòng đại điện KOICA tại Hà Nội, Khoa Đông phương Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường cao đẳng kỹ thuật Huế ), một số nhà tư vấn độc lập quốc tế (Trung tâm thông tin phát triển Việt Nam, Thaveeporn Vasavakul, vv )về quan điểm của họ đối với hoạt động ODA của Hàn Quốc tại Việt Nam
Ngoài ra, tác giả cố gắng kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành lịch sử, quan hệ quốc tế, quan hệ kinh tế đối ngoại để làm rõ việc hợp tác phát triển giữa Hàn Quốc và Việt Nam qua ODA, dùng lý luận soi rọi vào thực tiễn nghiên cứu
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm ba chương như sau :
Chương 1 : Hợp tác phát triển - Kinh nghiệm của Hàn Quốc và Việt Nam
Chương này trình bày khái niệm hợp tác phát triển, lịch sử hợp tác phát triển thế giới và các vấn đề mới nổi trong lĩnh vực hợp tác phát triển quốc tế Trong luận văn
Trang 1413
này tác giả đưa ra hai trường hợp tiếp nhận ODA là kinh nghiệm của Hàn Quốc và Việt Nam
Chương 2 : Các hoạt động ODA của Hàn Quốc tại Việt Nam
Khái quát quá trình phát triển quan hệ giữa Hàn Quốc và Việt Nam, xem xét các hoạt động ODA của Hàn Quốc tại Việt Nam trong thời gian qua, trọng tâm là giai đoạn năm 2001 – 2010 Trong chương này tác giả phân tích đặc điểm hoạt động của các tổ chức Hàn Quốc tại Việt Nam
Chương 3 : Phản ứng của Việt Nam đối với ODA của Hàn Quốc
Tìm hiểu phản ứng và đánh giá của Việt Nam đối với hoạt động hợp tác phát triển với Hàn Quốc qua ODA tại Việt Nam, thành tựu và hạn chế Tác giả đề xuất một số hình thức hợp tác phù hợp với môi trường mới, thúc đẩy sự tham gia của bộ phận tư nhân trong hoạt động hợp tác phát triển quốc tế là hợp tác Công - Tư, các tổ chức xã hội dân sự
Trang 1514
Chương 1: Hợp tác phát triển - Kinh nghiệm của Hàn Quốc và Việt Nam
1.1 Cơ sở lý luận về hợp tác phát triển
1.1.1 Khái niệm về hợp tác phát triển và viện trợ phát triển chính thức
“Hợp tác phát triển (Development Cooperation)” là một khái niệm tổng thể bao gồm viện trợ phát triển chính thức (ODA: Official Development Assistance) tài trợ nhằm phát triển kinh tế xã hội và nâng cao phúc lợi của các nước phát triển, vốn chính thức khác (OOF: Other Official Flow) và dòng chảy vốn tư nhân (PF: Private Flows) như tín dụng xuất khẩu, đầu tư trực tiếp, đầu tư chứng khoán vv Chúng ta cần phân biệt “Hợp tác phát triển quốc tế” là khái niệm chỉ cơ chế hợp tác nhằm phát triển giữa các quốc gia với “Viện trợ phát triển quốc tế” là quan hệ viện trợ đơn
phương do nước cung cấp viện trợ cho nước nhận viện trợ [51, tr.25]
Khái niệm hợp tác phát triển cần được phân biệt với khái niệm “Hợp tác quốc tế”
Nếu hợp tác quốc tế là sự hợp tác các bên cùng có lợi nhờ sự giao lưu nguồn tài
chính và nhân sự trên nhiều lĩnh vực đa dạng giữa các quốc gia thì “Hợp tác phát
triển” là sự hợp tác liên quan đến phát triển của các nước còn hụt hậu về trình độ
phát triển kinh tế và xã hội [51, tr.32-33] Vì khái niệm “viện trợ (Aid hoặc Assistance)” bao hàm quan hệ bất bình đẳng giữa bên cung cấp và bên tiếp nhận viện trợ nên trên thế giới hiện nay có xu hướng dùng khái niệm “hợp tác” nhằm nhấn mạnh quan hệ đối tác giữa bên cung cấp và bên tiếp nhận viện trợ phát triển [ 80, tr.12] Các tài liệu và văn bản Việt Nam cho thấy khái niệm “viện trợ” và “tài trợ” dùng lẫn khi nói đến hợp tác phát triển
Theo Ủy ban Viện trợ Phát triển (DAC) của OECD định nghĩa : ODA là nguồn vốn hoặc hợp tác kỹ thuật dành cho các nước và khu vực nằm trong danh sách nước nhận viện trợ do DAC và cơ quan hợp tác phát triển đa phương Viện trợ phát triển chính thức yêu cầu 3 điều kiện như sau : (1) do các cơ quan chính thức của Chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của Chính phủ cung cấp
Trang 1615
(2) với mục đích chính là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nước đang phát triển (3) nguồn vốn vay với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay.1
Bảng 1.1 : Dòng chảy vốn phát triển đối với nước đang phát triển
Phân loại Song phương
/Đa phương
Hoàn lại/
Không hoàn lại
Nội dung
ODA Song phương Không hoàn lại Hợp tác kỹ thuật, viện trợ dự án,
viện trợ lương thực, cứu hộ khẩn cấp, viện trợ qua NGO vv Hoàn lại Cho vay ưu đãi
Đa phương Vốn đóng góp của các tổ chức
quốc tế OOF Song phương Hoàn lại Tín dụng xuất khẩu chính thức,
cho vay đầu tư
Đa phương Hoàn lại Cho vay của cơ quan quốc tế
PF Hoàn lại Đầu tư trực tiếp nước ngoài, tín
dụng xuất khẩu trên 1 năm, cho vay của cơ quan quốc tế, đầu tư chứng khoán vv
NGO Không hoàn lại Viện trợ qua các tổ chức tư nhân
Nguồn :[51, tr.32]
ODAbao gồm viện trợ không hoàn lại và vốn cho vay ưu đãi từ các Chính phủ và
tổ chức quốc tế dành cho Chính phủ các nước cần nhận vốn, thông thường là các nước đang phát triển [18, tr.160] Với tư cách là một hình thức di chuyển vốn phát triển (đôi khi cũng là một ngân quỹ tiêu dùng, nhưng tỷ trọng không lớn, thí dụ viện trợ khẩn cấp), ODA là một nguồn vốn nước ngoài khá quan trọng cho các nước đang phát triển nhằm ổn định hoặc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế bền vững
1 Theo Nghị Định số 131/2006/NĐ –CP, ODA có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc tại Việt Nam
Trang 17về lợi ích của nước cung cấp Viện trợ giữa các quốc gia chuyển đổi sang viện trợ quốc tế từ sau khi chiến tranh thứ II kết thúc, bắt đầu thời kỳ chiến tranh lạnh Trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”, khối tư bản chủ nghĩa do Hoa Kỳ dẫn đầu và khối
xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu cạnh tranh viện trợ trên toàn cầu Sự cạnh tranh viện trợ này dần dần được mở rộng trong quan hệ giữa toàn bộ các nước nghèo và các nước công nghiệp tiên tiến những năm 1960 nhằm tìm biện pháp phát triển trong khuôn khổ “vấn đề Nam Bắc” [51, tr.47-57] Ngoài ra, trong cùng bối cảnh trên, các nước mới giành được độc lập trong khu vực Châu Á , Châu Phi còn nghèo nàn, khó khăn về kinh tế cần sớm thoát khỏi ảnh hưởng của các nước thực dân, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội Sang thời kỳ này sự chênh lệch kinh tế giữa Nam Bắc, phát triển kinh tế trở thành vấn đề quan trọng hơn sự đối lập Đông Tây dựa trên tư tưởng Viện trợ phát triển chính thức khởi xướng nhằm hỗ trợ cho các nước đang phát triển bởi Hoa Kỳ và các nước Châu  u thành lập Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA: International Development Association) thuộc Ngân hàng Thế giới năm 1961, Ủy ban viện trợ phát triển (DAC: Development Assistance Committee) trực thuộc Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD: Organization for Economic Cooperation and Development) năm 1961 là thời điểm xuất phát của những chính sách viện trợ cho các nước đang phát triển ngày nay [51, tr.47-57] Sự
ra đời của các Ngân hàng Phát triển khu vực như Ngân hàng phát triển châu Mỹ (IDB:Inter-American Development Bank) năm 1959, Ngân hàng phát triển Châu Phi (AfDB:African Development Bank) năm1964, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB:Asian Development Bank) năm 1966 và Quỹ phát triển Châu  u
Trang 18Tuy nhiên, sang thập niên 1970, nền kinh tế của các nước phát triển tăng trưởng cao thì đa phần các nước đang phát triển lại gặp tình trạng nợ nần tăng nhanh và thiếu hụt ngoại hối nghiêm trọng Qua các đại hội Liên Hợp Quốc (UN: United Nations), các nước trên thế giới đã nỗ lực trao đổi vì sự phát triển của các nước đang phát triển Song, cùng với sự diễn biến của nền kinh tế thế giới và các nước phát triển mệt mỏi về viện trợ (aid fatigue)3 khiến cho tình hình kết quả viện trợ không đạt được như mong muốn Các nước đang phát triển cũng bắt đầu tự tìm biện pháp hợp tác phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mình qua sự hợp tác giữa các nước đang phát triển, được gọi là Hợp tác Nam-Nam Sự xuất hiện Hợp tác Nam- Nam mang nghĩa là các nước đang phát triển không chỉ mong nhận được viện trợ tích cực hơn nữa từ các nước phát triển mà các nước đang phát triển còn chủ động hợp tác với nhau nhằm nâng cao hiệu quả phát triển Có một điều đáng lưu ý rằng, thời kỳ này xuất hiện hoạt động của các tổ chức phi Chính phủ (NGO: Non-Goverment Organazation) hỗ trợ các dự án phát triển của các định chế tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF : International Monetary Fund), Ngân hàng Thế giới (WB : World Bank) trong lĩnh vực viện trợ quốc tế vào những năm
2 Ở Việt Nam cũng gọi bằng tiếng Nga là khối SEV : Sovyet Ekonomičeskoy Vzaimopomošči
3 Các nước phát triển viện trợ cho các nước đang phát triển nhiều năm nhưng không thấy tình hình được cải thiện và không có hiệu quả tại nước tiếp nhận viện trợ thì các nước cung cấp viện trợ chán nản
Trang 1918
1980 Vào thời điểm này chiến lược viện trợ thế giới có nhiều thay đổi DAC tổ chức các nhóm tư vấn trên nhiều lĩnh vực đa dạng nhằm điều chỉnh viện trợ giữa các nước thành viên và nâng cao năng lực điều chỉnh của nước tiếp nhận viện trợ DAC quan tâm nhiều hơn về việc đánh giá hiệu quả viện trợ, nhấn mạnh sự điều chỉnh và hợp tác giữa các cơ quan viện trợ quốc tế
Cùng với sự sụp đổ của Liên Xô năm 1990, thế giới chấm dứt chiến tranh lạnh và tính chất của viện trợ thay đổi theo hướng hỗ trợ cơ chế kinh tế thị trường, hỗ trợ dân chủ hóa, bảo vệ nhân quyền vv , các vấn đề mang tính toàn cầu ngày càng nổi lên Vấn đề nợ nần, việc mở cửa và bảo vệ thương mại luôn là chủ đề tranh luận giữa các nước phát triển và đang phát triển Hàng hoạt vấn đề có tính toàn cầu như HIV/AIDS, dân số, di cư quốc tế, môi trường trái đất, bình đẳng giới, giảm nghèo yêu cầu giải pháp mới
Giải pháp đó là Phát triển bền vững (Sustainable Development) và Phát triển có
sự tham gia (Participatory Development) Phát triển bền vững là sự phát triển không trở ngại khả năng và nhu cầu của thế hệ tương lai và đồng thời đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện nay Phát triển bền vững lúc đầu nghiêng về môi trường song vào những năm 1990 khái niệm này bao gồm cả vấn đề môi trường và phát triển Còn Phát triển tham gia, tức là sự phát triển có sự tham gia tích cực của những đối tượng phát triển [51, tr.72], lại yêu cầu vai trò chủ đạo của Chính phủ tiếp nhận viện trợ trong việc tạo ra điều kiện phát triển Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 1998 về đánh giá viện trợ : trở ngại phát triển kinh tế của các nước đang phát triển không phải do sự chênh lệch vốn mà do chênh lệch chính sách và chế độ Vì vậy, định hướng viện trợ cần theo hướng cung cấp thông tin và thông tin nhằm cải thiện chính sách và chế độ của các nước đang phát triển Đồng thời, các tổ chức quốc tế và các cuộc hội nghị quốc tế thường xuyên trao đổi về phát triển xã hội lấy trọng tâm là con người Trong bối cảnh đó, UN công bố Chiến lược phát triển quốc tế trong khuôn khổ Kế hoạch 10 năm phát triển UN lần thứ 4, làm vai trò chủ đạo nhằm
Trang 2019
nâng cao ý thức của đại chúng và đề xuất đề án về phát triển xã hội
Mặt khác, vào những năm 1990, trong bối cảnh xu hướng mức viện trợ phát triển của các nước thành viên như Hoa kỳ giảm xuống và sự hợp tác phát triển mới sôi nổi qua UN, OECD/DAC nghị quyết tìm sự hợp tác chủ động của các quốc gia
và nâng cao cách tiếp cận tích hợp, đề xuất mục tiêu hợp tác phát triển chung và chiến lược trung dài hạn của các nước cung cấp viện trợ Tiếp theo, OECD/DAC đề
ra Bảy mục tiêu phát triển quốc tế (IDGs: International Development Goals), nêu rõ thời hạn hoàn thành đồng thời nhấn mạnh “ý thức đối tác”, “ý thức làm chủ”, “sự thống nhất viện trợ” của các nước cung cấp viện trợ Bảy mục tiêu này rất cụ thể liên quan đến phát triển kinh tế xã hội và môi trường, đưa chiến lược đối tác thực hiện thực tiễn, nội dung mục tiêu chủ yếu liên quan đến sự sinh tồn cá nhân, môi trường Hơn nữa các mục tiêu đó có sự trùng lặp với xu hướng phát triển lấy con người là trọng tâm của UN, sau này làm cơ sở cho nội dung Tuyên bố phát triển thiên niên kỷ và Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs : Millennium Development Goals) của UN năm 2000 [ 51, tr.80-81] MDGs tổng hợp các vấn đề mang tính toàn cầu và các mục tiêu, xác định mục tiêu đo lượng, có thể gọi là sự phát triển quan trọng nhất trong lĩnh vực viện trợ phát triển vào thế kỷ mới Các nước trên thế giới đang phấn đấu nhằm nâng cao cả lượng và chất của viện trợ phát triển
Bảng 1.2 : Môi trường và ý niệm hợp tác phát triển quốc tế từng thời kỳ
Các mốc sự kiện theo từng thời kỳ Tư tưởng/Lý
luận liên quan phát triển quốc tế
Lý luận/quy phạm hợp tác phát triển Chính trị quốc tế Kinh tế quốc tế
Những năm
1940/1950
Sự chấm dứt Chiến tranh Thế giới thứ II/ thành lập UN/Hết thời kỳ thực dân/Sự ra đời chiến tranh lạnh và
Sự ra đời cơ chế Bretton - woods
Luận tăng trưởng phái
cổ điển mới
Tăng trưởng
tư bản chủ nghĩa/sản xuất công nghiệp thay thế nhập khẩu
Trang 2120
chiến tranh Hàn Quốc
Những năm
1960
Các nước bị thực dân độc lập/ Chiến tranh Việt Nam/
phong trào nhân quyền
Sự ra đời xã hội tiêu thụ đại chúng/
Sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia/ sự phổ biến đầu tư nước ngoài
Kinh tế phát triển/
Luận quốc gia phát triển
Xây dựng cơ
sở hạ tầng / Phát triển hướng ngoại
Những năm
1970
Sự nổi lên của Trung Quốc/ Chiến tranh vùng Trung Đông/ Kết thúc chiến tranh Việt Nam
Sự chấm dứt cơ chế Bretton - woods/
Khủng hoảng dầu
mỏ
Lý luận phụ thuộc/Lý luận nguy cơ môi trường
Hình thành chế độ/phát triển nguồn nhân lực
Những năm
1980
Sự ra đời EU/
Chủ nghĩa Chính thống ISLAM
Khủng hoảng nợ các nước thế giới thứ 3/
sự phát triển của nền kinh tế châu Á /
Sự tăng trưởng thị trường tài chính quốc tế
Chủ nghĩa tự
do mới/ Chủ nghĩa căn bản thị trường
Nhu cầu sinh tồn con người/ phát triển tổng hợp nông thôn
Những năm
1990
Sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa/các vụ tàn sát quốc tế lớn/ Sự cầm quyền của người da đen tại Nam Phi/
tình trạng nghèo đói ở châu Phi
Sự ra đời WTO/
Khủng hoảng ngoại hối châu Á /
Nền kinh tế bong bóng com
Lý luận phát triền bền vững/chủ nghĩa thể chế mới
Tăng cường năng lực phát triển/Quản trị quốc gia
Những năm Vụ 11/9 và Xung Rủi ro tài nguyên Chủ nghĩa Hiệu quả phát
Trang 2221
2000 đột văn minh/
Sự nổi bật của các nước BRICS4
Tăng trưởng của các nước châu Phi
/Khủng hoảng tài chính xuất phát từ
Mỹ
bảo thủ mới/
Lý luận xã hội công dân toàn cầu
triển/ An ninh con người
Nguồn: [ 68, tr.69]
1.1.3 Các loại hình viện trợ phát triển và những vấn đề mới
ODA là nguồn vốn của Chính phủ nước ngoài hình thành từ nguồn thu thuế của người dân các quốc gia tài trợ [38, tr.119] và do vậy ODA là nguồn tài chính công của nước cung cấp viện trợ cho nước thụ hưởng và thường được phân loại đa dạng
và cụ thể theo tính chất cung cấp, đối tượng tiếp nhận, chủ thể cung cấp, nội dung thực hiện chương trình phát triển [51, tr.316-360] Viện trợ nhằm hợp tác phát triển quốc tế được thực hiện để đắp ứng nhu cầu của nước tiếp nhận viện trợ theo các loại hình viện trợ đa dạng bao gồm cứu hộ thiên tai và viện trợ khẩn cấp, viện trợ dự án, viện trợ chương trình, hợp tác kỹ thuật, viện trợ ngân sách, viện trợ lương thực, cắt giảm nợ, viện trợ gián tiếp qua tổ chức dân sự hoặc NGO vv…[9, tr.38-39] Mấy năm gần đây viện trợ quốc tế nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại của các nước đang phát triển được tăng cường Sau đây tác giả tổng hợp một số loại hình viện trợ tiêu biểu như sau :
- Cứu hộ thiên tai và viện trợ khẩn cấp : là hoạt động cung cấp nguồn lực cứu hộ khẩn cấp, giảm nhẹ tác động và nâng cao mức sống của người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai hay thảm họa như chiến tranh mà con người gây ra Khi Chính phủ của nước có sự cố đó không tự giải quyết được thì các nước khác cung cấp viện trợ theo hình thức cử đoàn cứu hộ hoặc viện trợ vật tư cứu hộ Hỗ trợ lương thực nhân đạo
và khẩn cấp có thể nêu trong mục này, nhưng các chương trình an ninh lương thực không có trong mục này Mặc dù được ghi nhận như ODA, mục này chỉ tập trung vào viện trợ nhân đạo ngắn hạn cho các nhóm mục tiêu và không tập trung vào các
hỗ trợ khác như hợp tác phát triển
4 Các nước đang phát triển mạnh như Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi
Trang 2322
- Viện trợ lương thực : là hoạt động cung cấp lương thực khi nước tiếp nhận thiếu cung cấp lương thực trong nước do hạn hán, chiến tranh, thiếu năng lực sản xuất Các nước có thể viện trợ lương thực trong nước họ trực tiếp sản xuất hoặc viện trợ bằng tiền mặt cho nước tiếp nhận mua từ khu vực lân cận để tiêu dùng theo các chương trình Quốc gia và quốc tế với mục tiêu phát triển, bao gồm viện trợ không hoàn lại và cho vay để mua lương thực cho thị trường buôn bán Chi phí tổ chức như vận chuyển, cất trữ, phân bổ v.v… cũng ghi trong mục này, cũng như nhà tài trợ cung cấp, các khoản liên quan đến lương thực như thức ăn gia súc và đầu vào nông nghiệp liên quan đến trồng cây lương thực khi các khoản này là một phần của chương trình hỗ trợ lương thực Hỗ trợ lương thực khẩn cấp không bao gồm trong mục này
- Hợp tác kỹ thuật : là hoạt động cung cấp nguồn lực với mục tiêu chuyển giao công nghệ và năng lực quản lý, kỹ năng sản xuất và bí quyết công nghệ theo mục tiêu tăng cường năng lực tiến hành các hoạt động phát triển Hạng mục này bao gồm chi phí nhân sự, đào tạo và nghiên cứu, cũng như chi phí hành chính và trang thiết bị Hạng mục này cũng bao gồm các hoạt động trước đầu tư, như các nghiên cứu khả thi, khi đầu tư chưa được phê duyệt hoặc ngân sách chưa được đảm bảo Hàn Quốc cung cấp viện trợ loại hình hợp tác kỹ thuật cho Việt Nam tương đối nhiều như cung cấp nhân sự qua chế độ tình nguyện viên, tư vấn và cung cấp dịch vụ kỹ thuật vv… Hàn Quốc đã tiếp nhận hợp tác kỹ thuật từ các nước như Đức và Nhật Bản đóng góp lớn trong quá trình phát triển công nghiệp Hàn Quốc và muốn chia sẻ kinh nghiệm đó với các nước đang phát triển như Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, thành công của hợp tác kỹ thuật dựa trên chính sách và cơ cấu tiếp nhận viện trợ của nước tiếp nhận nhiều hơn
- Hỗ trợ dự án đầu tư : là hoạt động cung cấp hỗ trợ tài chính bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho các dự án đầu tư vốn cụ thể, sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ Còn được coi là hỗ trợ vốn Mục này bao gồm : a) những dự án tăng cường và /hoặc nâng cao nguồn vốn vật chất của bên nhận viện trợ b) hỗ trợ tài chính thông qua cung cấp
Trang 2423
hàng hóa và dịch vụ cho các dự án này Loại hình viện trợ này là hình thức viện trợ phát triển tối thiểu về mặt kinh tế và kỹ thuật Tuy nhiên, vì vai trò của nước tiếp nhận viện trợ không lớn khi thực hiện các dự án nên những năm giữa 1990, viện trợ theo chương trình dựa vào kế hoạch phát triển của nước tiếp nhận viện trợ được quan tâm nhằm nâng cao hiệu quả viện trợ
- Hỗ trợ dự án đầu tư qua Hợp phần hợp tác kỹ thuật : Cung cấp hỗ trợ tài chính bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho các dự án đầu tư vốn cụ thể thông qua Hợp phần hợp tác kỹ thuật Còn được coi là hỗ trợ vốn thông qua hợp phần hợp tác kỹ thuật
- Hợp tác kỹ thuật liên quan đến đầu tư : Cung cấp nguồn lực, như một hoạt động riêng xác định, nhằm trực tiếp tăng cường năng lực xây dựng và thực thi các dự án đầu tư cụ thể nhằm nâng cao nguồn vốn vật chất của nước nhận viện trợ Mục này bao gồm các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp bí quyết thực thi một dự án đầu tư, và đóng góp nhân sự trực tiếp thực hiện dự án (quản đốc, cán bộ kỹ thuật, người lao động có kỹ thuật cao v.v…) Mục này bao gồm các hoạt động đầu tư trước khi thực hiện của một dự án đầu tư đã được phê duyệt
- Viện trợ chương trình : Viện trợ trong trường hợp chương trình phát triển mở rộng và theo các mục tiêu kinh tế - xã hội vĩ mô của nước tiếp nhận viện trợ Loại hình viện trợ này được nổi lên từ những năm giữa 1990, các nước viện trợ cho nước tiếp nhận viện trợ thực hiện kế hoạch phát triển của nước mình như chiến lược phát triển quốc gia, kế hoạch phát triển ngành, kế hoạch phát triển một số tổ chức nhất định vv…
- Viện trợ ngân sách hoặc cán cân thanh toán : Viện trợ cho chính sách phát triển
do Chính phủ nước tiếp nhận xây dựng, chủ yếu phục vụ cho chiến lược xóa đói giảm nghèo của nước tiếp nhận viện trợ với mục đích cụ thể hỗ trợ cán cân thanh toán của nước nhận viện trợ và cung cấp dự trữ ngoại hối Mục này gồm hỗ trợ đầu
Trang 2524
vào hàng hóa phi lương thực bằng hiện vật và viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay
để mua hàng hóa đầu vào đó Mục này cũng bao gồm các khoản viện trợ nhằm cắt giảm nợ Chính phủ
- Viện trợ qua tổ chức dân sự : Việc tăng cường ý thức làm chủ, phát triển có sự tham gia cộng đồng, giao nhiều quyền cho nước tiếp nhận viện trợ được nhiều hội nghị quốc tế nhấn mạnh Các nước đang tăng cường cung cấp viện trợ qua các tổ chức độc lập không thuộc cơ quan chuyên trách viện trợ của Chính phủ như NGO, Trường đại học, tổ chức tôn giáo, các hiệp hội chuyên môn, công đoàn lao động và hợp tác xã vv , cung cấp viện trợ Quan hệ chặt chẽ giữa Chính phủ và các tổ chức dân sự rất cần thiết vì phát triển bền vững và vai trò của NGO của nước cung cấp và nước tiếp nhận viện trợ đều quan trọng Vì thế một số nước hỗ trợ cho việc xây dựng quan hệ hợp tác giữa NGO của nước cung cấp viện trợ và NGO của nước tiếp nhận viện trợ
- Một số loại hình viện trợ mới : Tín dụng nhỏ (Micro – finace) dành cho người nghèo như mô hình Ngân hàng Grameen, chương trình phát triển nhân lực Oportunidades ở các nước Trung Nam Mỹ được các nước cung cấp viện trợ ngày càng quan tâm Vì những loại hình viện trợ này đòi hỏi nhiều kiến thức về địa phương và cần xây dựng quan hệ với giới tài chính ở địa phương nên thường thực hiện qua NGO hoặc Chính phủ nước tiếp nhận viện trợ
Qua hàng chục năm kinh nghiệm viện trợ, cộng đồng quốc tế rút ra nhiều bài học, đang cố gắng tìm biện pháp nâng cao hiệu quả viện trợ Như trên đã nói, vào những năm 1970, các nước hoài nghi về chiến lược phát triển theo hướng tăng trưởng và phát triển lý luận theo hướng trọng tâm là con người, chú trọng nhu cầu cơ bản của con người (Basic Human Needs) được đề ra Quan điểm về phát triển cũng thay đổi
từ trọng tâm là tăng trưởng kinh tế chuyển sang giảm nghèo Tăng trưởng kinh tế không đáp ứng được nhu cầu cơ bản của tất cả mọi người và đảm bảo nhu cầu cơ
Trang 26Bảng 1.3 : So sánh mô hình hợp tác phát triển truyền thống và mới
triển
Trọng tâm của hợp tác phát triển
Phương thức hợp tác kỹ thuật
Quan hệ hợp tác phát triển
Truyền thống Sự tăng trưởng
kinh tế -xã hội của nước nhận viện trợ
Nước cung cấp viện trợ
Đầu vào vốn
và bí quyết của nước phát triển hoặc mô phỏng qua việc chuyển giao
Nước cung cấp chủ động xây dựng dự
án, điều hành, thực hiện và nước nhận viện trợ nhận
và học tập Mới Phát triển
năng lực bền vững và giải quyết cơ bản nghèo đói
Nhu cầu của nước nhận viện trợ và hiện trường
Mở rộng và tăng cường năng lực đã tồn tại tại địa bàn nước nhận viện trợ
Nước nhận và nước cung cấp
là đối tác bình đẳng dựa trên
Ý thức làm chủ của nước nhận viện trợ
Trang 2726
chuyên gia của nước cung cấp viện trợ còn lực lượng của nước tiếp nhận viện trợ không được nâng cao Sang những năm 1990, các cơ quan cung cấp viện trợ bắt đầu nhận thức rằng họ cần hỗ trợ và khuyến khích nước tiếp nhận viện trợ tự xây dựng
kế hoạch tiếp thu kiến thức phát triển [51, tr.140-141] Tức là định hướng mới cho hợp tác phát triển là phát triển lực lượng của nước tiếp nhận viện trợ
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nhiều nước bắt đầu lo ngại về ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng Trong báo cáo của hai học giả môi trường Barbard Ward và René Dubos năm 1972 mang tựa đề “Một trái đất duy nhất : Only one Earth” lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “sustainable development”, tức “phát triển bền vững” nhằm khẳng định quan hệ mật thiết giữa bảo vệ môi trường và phát triển Ban đầu vấn đề phát triển bền vững xuất phát từ việc “Làm gì để đảm bảo sự thịnh vượng của xã hội nhân loại và bảo tồn toàn bộ hệ sinh thái trong hiện tại và tương lai?” Trong suốt 40 năm qua phát triển bền vững đã trở thành một đề tài quan trọng nhất trong hợp tác phát triển quốc tế bao gồm phát triển kinh tế, thống nhất xã hội, bảo vệ môi trường Khái niệm phát triển bền vững được hiểu và định nghĩa khác nhau theo điều kiện và giá trị tinh thần của từng quốc gia Phát triển bền vững có ý nghĩa rất rộng và đang tiếp tục tiến hóa Phát triển bền vững đòi hỏi nỗ lực về mặt chính trị, quản trị nhà nước tốt (good governace), tiếp cận có chiến lược Chiến lược phát triển bền vững bước đầu cần sự hiểu biết chung và xây dựng tầm nhìn, quá trình điều chỉnh và trao đổi bao quát về mặt xã hội có sự tham gia đối với mục tiêu của nhiều ngành, xây dựng chế độ và hệ thống vì phát triển bền vững
1.2 Kinh nghiệm tiếp nhận viện trợ phát triển của Hàn Quốc
1.2.1 Khái quát về tiếp nhận viện trợ phát triển của Hàn Quốc
Hàn Quốc giành được độc lập sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chưa kịp chỉnh đốn lại đất nước, chiến tranh Hàn Quốc tàn phá hết những gì còn sót lại
Từ một nước nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, song nền kinh tế Hàn Quốc kể từ đầu những năm 1960 đến nay, đã có những bước
Trang 2827
phát triển ngoạn mục Hàn Quốc khắc phục được hậu quả chiến tranh và đạt được
sự phát triển nổi bật cùng với cả tăng trưởng kinh tế và dân chủ hóa Sự thành công của Hàn Quốc gọi là “Kỳ tích sông Hàn” thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách trong khu vực và thế giới Trong quá trình xây dựng đất nước, Hàn Quốc đã tiếp nhận viện trợ của các nước trên thế giới, nguồn vốn này đã đóng góp lớn vào việc xây dựng cơ sở phát triển kinh tế - xã hội
Quá trình tiếp nhận ODA của Hàn Quốc thường chia thành 5 thời kỳ như sau:
- Viện trợ của thời kỳ đầu tiên từ năm 1945-1948 được thực hiện 3 năm trong thời
kỳ quá độ do Chính phủ quân sự Mỹ tại Hàn Quốc (USAMGIK: United States Army Military Government in Korea) được UN giao quyền thống trị tại vùng Nam Hàn Viện trợ thời kỳ này mang tính chất khác với hoạt động viện trợ phát triển chính thức bởi sự thỏa thuận giữa Hàn Quốc với các quốc gia khác từ sau khi Chính phủ Hàn Quốc thành lập năm 1948
- Thời kỳ thứ hai là từ sau khi Chính phủ Hàn Quốc thành lập đến năm 1960 Đặc điểm của thời kỳ này là viện trợ cứu hộ khẩn cấp trong thời kỳ chiến tranh Hàn Quốc và viện trợ liên tiếp của UN nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh đến năm
1960 Ngoài ra, có nguồn viện trợ khác nhằm tái thiết kinh tế Hàn Quốc do Mỹ làm chủ đạo dưới cơ chế hỗ trợ bảo vệ tương hỗ mang tính chiến lược của Mỹ
- Thời kỳ thứ ba từ năm 1961-1975 có hoạt động viện trợ được thực hiện với chương trình có kế hoạch nhằm ổn định kinh tế cùng với đầu tư và phát triển trung dài hạn Ngoài Mỹ và UN, Hàn Quốc chủ động tìm kiếm các nguồn cung cấp viện trợ song phương và đa phương khác
- Vào thời kỳ thứ tư từ năm 1976-1990 có sự hợp tác phát triển quốc tế tích cực, trong thời kì này việc đầu tư các dự án viện trợ không hoàn lại gần như chấm dứt hết và các dự án phát triển lớn qua nguồn vốn vay phát triển chính thức được thực hiện mạnh mẽ
Trang 2928
- Thời kỳ thứ năm từ năm 1991-1999 Hàn Quốc từ nước tiếp nhận viện trợ chuyển sang vị trí cung cấp viện trợ cho các nước đang phát triển Cho dù EDCF được thành lập năm 1987 nhưng cùng với sự thành lập của KOICA là cơ quan chuyên trách viện trợ phát triển chính thức năm 1991, Hàn Quốc thực sự tham gia nhiều hoạt động hợp tác phát triển quốc tế
Bảng 1.4 : Phân kỳ hợp tác phát triển Hàn Quốc
Thời kỳ dưới hệ thống
thống trị quân sự Mỹ
(1945-1948)
Chỉ tiếp nhận viện trợ Mỹ đối với khu vực đã chiếm lĩnh
Thời kỳ phục hồi chiến
tranh và Tái thiết kinh tế
Năm 1975 mức thu nhập bình quân Hàn Quốc vượt tiêu chuẩn viện trợ của IDA (520USD)
Tiếp nhận vốn vay phát triển lớn, vốn vay chuyển đổi cơ cấu từ các tổ chức phát triển quốc tế
Thời kỳ chuyển đổi
Trang 3029
1.2.2 Đặc điểm tiếp nhận viện trợ phát triển của Hàn Quốc
Tổng vốn viện trợ bao gồm ODA và tổ chức tư nhân quốc tế cung cấp cho Hàn Quốc trong giai đoạn năm 1945-1999 được thống kê là 13,976 tỷ USD Trong đó, vốn ODA là 12,776 tỷ USD và nguồn vốn viện trợ tư nhân là 1,2 tỷ USD Trong 12,776 tỷ USD nguồn vốn viện trợ phát triển, nguồn vốn viện trợ không hoàn lại là 6,997 tỷ USD chiếm 55% và số vốn còn lại là viện trợ hoàn lại có tỷ lệ cho không trên 25% là 5,779 tỷ Ngoài ra, Hàn Quốc tiếp nhận vốn vay phát triển tỷ lệ cho không dưới 25% là 31,196 tỷ USD
Bảng 1.5 : Quy mô viện trợ Hàn Quốc đã tiếp nhận giai đoạn 1945-1999
Viện trợ phát triển
(1945-1999)
Vốn vay phát triển chính thức ít ưu đãi
(1964-1999) ODA NGO
31,196 tỷ USD 12,776 tỷ USD 1,2 tỷ USD
13,976 tỷ USD
Nguồn : [51, tr.394]
Phân loại theo chủ thể cung cấp viện trợ thì nguồn vốn viện trợ song phương chiếm 93% là 11,88 tỷ USD, nguồn vốn viện trợ đa phương chỉ là 968 triệu USD Phân theo loại hình viện trợ, Hàn Quốc đã tiếp nhận nhiều loại hình viện trợ đa dạng bao gồm cung cấp điện, hàng tiêu dùng, kỹ thuật và vốn “Cắt giảm nợ và tái cấu trúc” là loại hình viện trợ duy nhất Hàn Quốc không tiếp nhận
Trong các chủ thể cung cấp ODA, Mỹ là nước cung cấp viện trợ song phương lớn nhất chiếm 43% là 5,542 tỷ USD và tiếp theo là Nhật Bản cung cấp 5,52 tỷ USD, Đức cung cấp 835 triệu USD, Kế hoạch Cứu hội Tư nhân tại Hàn Quốc (CRIK : Civil Relief in Korea) cung cấp 457 triệu USD, WB cung cấp 143 triệu USD, Cơ quan Tái thiết Hàn Quốc của UN (UNKRA : United Nations Korean Reconstruction Agency) cung cấp 122 triệu USD [51, tr 395-396]
Hàn Quốc tiếp nhận viện trợ và hợp tác phát triển quốc tế phù hợp trình độ phát
Trang 3130
triển kinh tế - xã hội của mình Các dự án viện trợ được cung cấp cho Hàn Quốc tiến hành bởi tầm nhìn xa, nhấn mạnh nguồn nhân lực, công nghệ, chính sách, thể chế và những yếu tố hợp tác soft (linh hoạt), do đó, các dự án tồn tại được lâu và có thể nâng cao hiệu quả viện trợ Xem xét về viện trợ nước ngoài dành cho Hàn Quốc trong thời kỳ phát triển kinh tế, viện trợ vốn vay thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng kinh
tế trong nước dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhưng viện trợ không hoàn lại sau chiến tranh Hàn Quốc chủ yếu là hàng tiêu dùng nhằm khắc phục hậu quả chỉ thúc đẩy tiêu thụ không ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế [68, tr.49]
1970 vv sử dụng vốn ODA và tiếp nhận hợp tác kỹ thuật từ nước ngoài để phục vụ cho Hàn Quốc khắc phục được trình độ khoa học công nghệ tụt xa so với các nước phát triển, làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế và công nghiệp Hàn Quốc bền vững hiện nay
Kinh nghiệm tiếp nhận viện trợ của Hàn Quốc hiện đang được thế giới đánh giá cao và giúp cho Hàn Quốc xây dựng chính sách viện trợ cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, có một điều không thể phủ định rằng Hàn Quốc tiếp nhận được nhiều viện trợ vì Hàn Quốc vừa là đối tượng vấn đề Nam-Bắc vừa là đối tượng vấn
đề Đông-Tây Có sự giúp đỡ của các nước đó, Hàn Quốc mới phát triển được như ngày hôm nay
Trang 3231
1.3 Kinh nghiệm tiếp nhận ODA của Việt Nam
1.3.1 Tình hình tiếp nhận ODA trước năm 1993
Trước năm 1975, Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam-Bắc Miền Bắc nhận viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là Liên Xô cũ và Trung Quốc Miền Nam khi đó nhận viện trợ của các nước tư bản, chủ yếu là viện trợ quân sự của Mỹ [18, tr.174] Trong những năm chiến tranh, người dân Việt Nam vượt qua những khó khăn, thiếu thốn một phần cũng là nhờ vào những khoản viện trợ này Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam gặp phải những khó khăn do hậu quả chiến tranh, thiếu vốn và kỹ thuật lạc hậu Vì thế Việt Nam tranh thủ mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước có chế độ chính trị khác nhau, bình thường hóa quan hệ với phương Tây [57, tr.14] Việt Nam vẫn tiếp tục tiếp nhận ODA, không những từ các nước xã hội chủ nghĩa mà cả từ các nước tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, do sự kiện Việt Nam đưa quân vào Campuchia năm 1978, phần lớn các nước tư bản phương Tây và Trung Quốc đã cắt nguồn viện trợ ODA cho Việt Nam Nhưng Liên Xô cũ
và các nước xã hội chủ nghĩa vẫn cung cấp vốn và hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam với những ưu đãi nhiều hơn nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh và tái thiết kinh tế Lúc đó Việt Nam là thành viên của Hội đồng tương trợ kinh tế [57, tr.14] Các nước phương Tây do thực hiện chính sách cấm vận của Hoa Kỳ nên hầu như không có viện trợ, trừ một số nước như Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch vv cung cấp viện trợ không hoàn lại mang tính nhân đạo Từ 1975 – 1989 Việt Nam thống nhất trong bối cảnh vẫn còn chiến tranh lạnh, nên nền kinh tế Việt Nam thời đó chủ yếu dựa viện trợ của Liên Xô.5 Năm 1989 Việt Nam rút quân khỏi Campuchia Việc từng bước bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và các nước trên thế giới đã giúp Việt Nam dần thoát khỏi sự bao vây cô lập, để hội nhập với thế giới và phát triển Các nước phương Tây cung cấp viện trợ không hoàn lại trên 1,5 tỷ USD và UN, các
5 Liên Xô duy trì quan hệ hợp tác kinh tế với Việt Nam từ nửa sau những năm 1950 và sau khi Việt Nam thống nhất cung cấp viện trợ với quy mô lớn Đến năm 1987 Liên Xô cung cấp viện trợ có trị giá 12,2 tỷ USD cho Việt Nam 권율(1994), 주요국의 대베트남 경제협력과 핚국의 ODA 지원방향 , 대외경제정책연구원 지역정보센터,
핚국 tr.14
Trang 3332
NGO quốc tế viện trợ khoảng 1,4 tỷ USD chủ yếu là viện trợ không hoàn lại trong giai đoạn 1975 – 1992 [28, tr.199] Đối với các tổ chức tài chính quốc tế, Việt Nam chính thức tiếp quản vị trí của chính quyền ngụy quyền Sài Gòn tại các tổ chức năm
1976 Việt Nam cũng đã vay vốn gần 400 triệu USD từ các tổ chức này trong các năm 1977-1979
Đến năm 1991 khi Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã thì không còn viện trợ của các nước này nữa [28, tr.197] Việc mất đi nguồn tài trợ quan trọng là khối các nước xã hội chủ nghĩa là một thách thức lớn đối với nền kinh
tế Việt Nam và đòi hỏi Việt Nam phải có những điều chỉnh trong chiến lược phát triển của mình [20, tr.11] Giai đoạn 1991-1993, viện trợ của Liên Xô bị cắt bỏ gần như hoàn toàn, Hoa Kỳ lại chưa bỏ lệnh cấm vận, do đó viện trợ ODA cho Việt Nam thời kỳ này suy giảm rõ rệt và đạt mức 300-400 triệu USD/năm [18, tr.175] Tổng dư nợ nước ngoài trên GDP của Việt Nam giai đoạn này lên tới 173% và Việt Nam bị xếp vào nhóm các nước nghèo có vay nợ cao (HIPC: Heavily Indebted Poor Country) [28, tr.199] Tháng 11 năm 1993 sau khi dàn xếp các khoản nợ vay với Câu Lạc Bộ Paris, Việt Nam nối lại các quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế và các quốc gia trên thế giới [20, tr.200]
1.3.2 Tình hình tiếp nhận ODA từ năm 1993 đến năm 2010
Do sự tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa những năm cuối thập kỷ 80, nguồn vốn ODA từ các nước này giảm nhanh chóng, Việt Nam chuyển sang tiếp nhận ODA từ các nước phát triển phương Tây, các nước châu Á trong khu vực Mặc dù Hoa Kỳ chưa bỏ cấm vận nhưng thực hiện đường lối đối ngoại “đa dạng hóa và đa phương hóa”, Việt Nam đã nối lại quan hệ với các tổ chức quốc tế và nhiều nước
Từ khi các thể chế tài chính quốc tế và các nước nối lại viện trợ, Ngân hàng Thế giới cùng phối hợp Pháp, Nhật Bản, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP : United Nations Development Programme) đồng tổ chức Hội nghị bàn tròn về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam được tổ chức tại Paris tháng 11 năm
1993 với sự tham gia của 16 tổ chức quốc tế và 22 quốc gia Việt Nam đề xuất 55
Trang 3433
dự án cần huy động vốn và 66 dự án viện trợ kỹ thuật không hoàn lại với tổng giá trị 9,6 tỷ USD, nêu rõ Việt Nam sẽ ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như cảng biển, đường bộ, đường sắt vv [9, tr.4-5] Kể từ thời điểm này, các hoạt động viện trợ đã tăng lên nhanh chóng dưới nhiều hình thức, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Năm 1994, Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận và năm
1995 bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Theo đó, Việt Nam có thể xây dựng quan hệ tài chính với ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới Mặt khác do cải cách kinh tế của Việt Nam theo cơ chế thị trường đã có những thành công bước đầu rõ rệt, Việt Nam nhận được nhiều nguồn viện trợ khác nhau, luồng vốn ODA cho Việt Nam đã tăng nhanh chóng
Hiện nay Việt Nam có 51 tổ chức tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và
23 nhà tài trợ đa phương6 cho trên 800 dự án trên khắp đất nước thuộc nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Ngoài ra, ở Việt Nam còn có khoảng 600 NGO hoạt động với số tiền viện trợ lên đến khoảng 200 triệu USD/ năm [21, tr.2] Nhật Bản đang là nhà tài trợ vốn ODA song phương lớn nhất cho Việt Nam Trong 7,88 tỷ USD vốn cam kết đầu tháng 12 năm 2010, Nhật Bản có mức cam kết là 1,76 tỷ USD WB giữ
vị trí là nhà tài trợ đa phương lớn nhất Mức cam kết trong hội nghị tháng 12 năm
2010 đạt tới 2,6 tỷ USD ADB là 1,5 tỷ USD
6
a) Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, Á o, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa, Cô-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan,
Hàn Quốc, Hungari, I-ta-lia, Luc-xem-bua, Mỹ, Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ô t-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha, Thái Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Singapo
b) Các nhà tài trợ đa phương gồm:
- Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: nhóm Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF),
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư Bắc  u (NIB), Quỹ Phát triển Bắc  u (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ Kuwait;
- Các tổ chức quốc tế và liên Chính phủ: Ủy ban châu  u (EC), Cao uỷ Liên hợp quốc về người tỵ nạn
(UNHCR), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc (UNFPA), Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO), Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), Cơ quan Phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), Quỹ Đầu tư Phát triển của Liên hợp quốc (UNCDF), Quỹ môi trường toàn cầu (GEF), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Quỹ Quốc tế và Phát triển nông nghiệp (IFAD), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Trang 3534
Lượng vốn ODA cam kết tính từ năm 1993 đến nay đã đạt 62.929 triệu USD Lượng vốn cam kết bình quân năm đã cao lên qua các thời kỳ (thời kỳ 1993-2000 đạt 2.192,5 triệu USD/năm, thời kỳ 2001-2005 đạt 2983,8 triệu USD/năm, thời kỳ 2006-2010 đạt 5.854 triệu USD/năm, cao gấp đôi các thời kỳ trước [26, tr 42] Đáng lưu ý, lượng vốn cam kết cơ bản vẫn được duy trì ngay cả trong những năm kinh tế bị khủng hoảng như kinh tế khu vực năm 1997-1998 và kinh tế thế giới năm 2008-2009, phản ánh độ tin cậy của cộng đồng thế giới đối với Việt Nam
- Lĩnh vực sử dụng vốn ODA chủ yếu là các ngành năng lượng (20%), giao thông vận tải (16%), nông nghiệp (14%), y tế - giáo dục - đào tạo(16%), cải cách kinh tế
và phát triển xã hội (mỗi lĩnh vực 7%), còn lại là các lĩnh vực khác
Tính đến năm 2001, vay nợ tích lũy của Việt Nam, từ nguồn vốn ODA (chưa kể vay thương mại) đã lên đến trên 8 tỷ USD Nếu tính cả vay nợ thương mại mà Nhà nước phải trả thì số nợ nước ngoài lên đến trên 12 tỷ USD, chiếm một tỷ trọng khá lớn so với GDP (40%) Vốn ODA trong thời kỳ 1995-1999 chiếm gần 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội [18, tr.175] Trên cơ sở các mối quan hệ chiến lược mới giữa Việt Nam và Liên bang Nga, qua quá trình đàm phán lâu dài, năm 2000 phía Nga đã xóa nợ cho Việt Nam ở mức 85%, sắp xếp lại các khoản nợ cũ để Việt Nam có thể trả nợ trong vòng 23 năm Chính điều này đã làm thay đổi cơ bản vị trí con nợ của Việt Nam Từ năm 2002, IMF và WB đã đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các nước HIPC, không còn đưa ra xem xét Câu Lạc Bộ Pa-ri và Luân Đôn [28, tr.200]
Tính đến năm 2006, tổng nợ tích lũy vay ODA lên đến 18 tỷ USD, bằng 35% GDP Tuy nhiên, nếu tính trên đầu người dân thì với quy mô vốn ODA năm 2006 là 2,2 tỷ USD, mức bình quân đầu người mới là 25 USD, chưa phải là mức cao của thế giới Khả năng tăng vốn ODA cho Việt Nam còn rất khả quan Đối với các nước nghèo, đang phát triển có nhu cầu lớn về vốn để đầu tư phát triển kinh tế và xã hội Tuy nhiên, vốn vay ODA hiện nay phải có chọn lọc, sao cho sử dụng có hiệu quả,
Trang 3635
bảo đảm tổng nợ quốc gia không vượt mức kiểm soát [18, tr.176] Đến năm 2008, Tổng dư nợ quốc gia Việt Nam ở mức 29,8% GDP là mức an toàn đối với các quốc gia Nếu so với các quốc gia trong khu vực ASEAN như Thái Lan 48%, Philippine 72%, Malaysia 55%, Indonesia 80% thì đây cũng là mức thấp Trong tổng nợ quốc gia thì giá trị hiện tại nợ ròng Chính phủ bao gồm cả bảo lãnh của Chính phủ chiếm trên 80%, chủ yếu là vay vốn ODA trên 90%, lãi suất bình quân khoảng 1,83%/năm, thời hạn vay vốn theo Hiệp định bình quân trên 28 năm Nợ nước ngoài của khu vực doanh nghiệp chưa nhiều, chủ yếu là nợ của các doanh nghiệp FDI chiếm dưới 20% tổng nợ quốc gia Các chỉ số về an toàn nợ vay của Việt Nam được đánh giá là trong tầm kiểm soát của Chính phủ [28, tr.201]
Chính phủ Việt Nam giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan điều phối, quản
lý và sử dụng nguồn vốn ODA ; Bộ Tài chính thực hiện chức năng quản lý tài chính đối với nguồn vốn này; Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước, Văn phòng Chính phủ, tham gia quản lý nhà nước về ODA theo chức năng và nhiệm
vụ cụ thể của mình trong chu trình ODA; các Bộ, ngành và địa phương với vai trò
cơ quan chủ quan chịu trách nhiệm quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình,
dự án ODA thông qua chủ dự án và Ban quản lý dự án [10, tr.8] Trong quá trình đổi mới, công tác quản lý mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước đã chuyển dần sang dựa trên nền tảng pháp luật Về khung thể chế pháp lý, trước năm 1994, Việt Nam quản lý viện trợ dựa trên quyết định của Thủ tướng Chính phủ đối với từng khoản viện trợ hoặc từng chương trình, dự án cụ thể Nhìn chung công tác quản lý ODA của Việt Nam tập trung ở cấp Trung ương [10, tr.21] Chính phủ Việt Nam quản lý chặt chẽ nguồn vốn ODA như một nguồn lực công của quốc gia, tháng 3 năm 1994 đã ban hành Nghị định đầu tiên về quản lý và sử dụng ODA Căn cứ vào tình hình thực tế và thực tiễn của viện trợ phát triển, Chính phủ Việt Nam tiếp tục ban hành các Nghị định sau tiến bộ và hoàn thiện hơn Nghị định trước Cụ thể, Nghị định 20/CP năm 1994; Nghị đinh 87/CP năm 1997; Nghị định 17/2001/NĐ-CP; Nghị định 131/2006/NĐ-CP và dự kiến Nghị định 131/2006/NĐ-CP sẽ sửa đổi cho
Trang 3736
phù hợp với môi trường mới trong năm 2011 [10, tr.8][10, tr 21]
Sau Hội nghị bàn tròn về viện trợ phát triển dành cho Việt Nam diễn ra lần đầu tiên vào năm 1993, các hội nghị viện trợ tiếp theo được đổi tên thành Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam (CG: Consultative Group Meeting) Hội nghị chính thức được tổ chức hàng năm, thường là vào tháng 12 Việt Nam từ vị thế là khách mời đã trở thành đồng chủ trì Hội nghị CG cùng với WB7 Địa điểm tổ chức Hội nghị CG cũng thay đổi từ việc tổ chức tại nước tài trợ như Pháp, Nhật Bản sang
về tổ chức tại Việt Nam từ năm 1999
Hội nghị CG diễn đàn đối thoại giữa Chính phủ và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế về chiến lược, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo là một nội dung gắn kết chặt chẽ, không tách rời Hội nghị CG vận động ODA ở cấp quốc gia, có sự tham gia của các đại biểu bao gồm đại diện cấp cao của các bộ và cơ quan Chính phủ trọng yếu như Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đại diện các nhà tài trợ song phương và đa phương cho Việt Nam Các NGO Việt Nam và quốc tế, các đại diện của Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội nghị với tư cách quan sát viên
Hàng năm Hội nghị CG công bố báo cáo phát triển Việt Nam, đưa ra các đề tài quan trọng cần sự quan tâm của các bên tham gia hội nghị như bảng 1-6.Theo đánh giá của phía Việt Nam, Hội nghị CG dựa trên tinh thần quan hệ đối tác, mang tính xây dựng Trong đó các nhà tài trợ tôn trọng vai trò làm chủ và lãnh đạo quốc gia của Việt Nam trong quá trình phát triển8 Ngoài hội nghị chính thức này, từ năm
1998 hội nghị giữa kỳ không chính thức cũng đã được tổ chức tại các địa phương thường là vào tháng 5 hoặc tháng 6 hàng năm, tạo điều kiện cho các nhà tài trợ gần với người dân và nắm bắt được nhu cầu phát triển cần được hỗ trợ của họ
7 Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Giám đốc quốc gia của WB tại Việt Nam đồng chủ toạ
8 Bài phát biểu của vụ trưởng vụ kinh tế đối ngoại MPI, Hồ Quang Minh trong hội thảo “Nợ công –Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” ngày 15 tháng 09 năm 2010
Trang 3837
Bảng 1.6 : Tên Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2001 -2011
2001 Tiến vào thế kỷ 21 –Tổng quát
Các trụ cột của sự phát triển
Quan hệ hợp tác cho sự phát triển
2002 Thực hiện cải cách để tăng trường và giảm nghèo nhanh hơn
2003 Việt Nam thực hiện cam kết
2011 Quản lý tài nguyên thiên nhiên
1.3.3 Quy trình tiếp nhận ODA tại Việt Nam
ODA là nguồn vốn của Chính phủ nước ngoài hình thành từ nguồn thu thuế của người dân các quốc gia tài trợ và do vậy ODA là nguồn tài chính công của nước viện trợ Từ tính đặc thù này, Chính phủ các nước tài trợ sử dụng ODA để theo đuổi các mục tiêu chính trị và kinh tế đối với các nước tiếp nhận viện trợ thông qua việc xác lập chính sách, các quy trình và thủ tục cung cấp viện trợ Mặc dù DAC/OECD
đã cố gắng hài hòa chính sách và quy trình, thủ tục viện trợ, song kết quả đến nay còn khá khiêm tốn Ở Việt Nam hiện nay các nhà tài trợ cung cấp ODA khá đa dạng với những chính sách và quy trình thủ tục Để được cung cấp ODA, nước tiếp nhận bao gồm Việt Nam thường qua các giai đoạn như sau :
1 Tổ chức và tham dự Hội nghị nhóm các nhà tài trợ chính Tại đây đại biểu của nước xin viện trợ sẽ nêu những yêu cầu về viện trợ của nước mình, đồng thời cam kết một số vấn đề theo yêu cầu của bên tài trợ Thời gian và địa
Trang 395 Thẩm định dự án : quá trình thẩm định dự án có khi do phía nhận viện trợ thực hiện, nhưng cũng có khi cả hai bên cung cấp và tiếp nhận cùng phối hợp thẩm định
6 Xét thầu xây lắp và mua sắm thiết bị
7 Báo cáo tiến độ thực hiện dự án và rút vốn
8 Thanh toán và nghiệm thu công trình [24, tr.420-421]
Để có được cam kết hỗ trợ cho cán cân thanh toán, hỗ trợ theo chương trình, hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ theo dự án, hai bên đối tác phải có quá trình tìm hiểu, xem xét, phân tích và đánh giá các yêu cầu và khả năng; trong đó có khả năng có hay không phần vốn đối ứng của nước nhận, khả năng hoàn trả (hoặc không hoàn trả) của bên được hỗ trợ Quá trình này cũng phải được thực hiện theo những bước đàm phán, ký kết theo quy định của Chính phủ, theo luật trong nước và các cam kết theo thông lệ quốc tế Ở Việt Nam quy trình làm thủ tục xin viện trợ được cụ thể như sau : về cơ cấu, các khoản vốn ODA có thể được tài trợ dưới hai hình thức :“Vay bằng tiền, hàng hóa” và “Vay theo chương trình để thực hiện các dự án cụ thể”
Đối với các khoản vay bằng tiền theo chương trình điều chỉnh cơ cấu, điều chỉnh
cơ cấu mở rộng, chương trình nông nghiệp, chương trình tài chính, thì các khoản vay này sẽ được rút vốn theo nhiều đợt Mỗi đợt rút vốn chỉ được thực hiện sau khi bên Việt Nam xuất trình được các bằng chứng chứng minh rằng các biện pháp cải cách vĩ mô đã cam kết với các tổ chức cho vay đã được thực hiện
Trang 4039
Đối với các khoản vay theo dự án, bên cung cấp yêu cầu thủ tục tiến hành các dự
án vay vốn phải được tiến hành qua ba giai đoạn Sự chậm trễ trong giai đoạn trước
sẽ dẫn đến việc chậm trễ trong giai đoạn tiếp theo :
Giai đoạn 1 (giai đoạn chuẩn bị đầu tư) : căn cứ theo yêu cầu viện trợ của ngành
hoặc địa phương, đơn vị có nhu cầu về vốn phải xây dựng luận chứng khả thi, thông qua Bộ kế hoạch và Đầu tư để nhận được phê duyệt đầu tư của Chính phủ và chấp thuận của nhà tài trợ; xây dựng kế hoạch vốn đối ứng, kế hoạch giải phóng mặt bằng, thành lập Ban Quản lý dự án Giai đoạn này thuộc sự chỉ đạo của cơ quan kế hoạch phối hợp với Bộ chủ quản và các chủ dự án
Giai đoạn 2 (giai đoạn trước khi rút vốn) : giai đoạn này thường kéo dài từ 15 đến
18 tháng, tính từ ngày ký hiệp định vay để thực hiện các công việc thuê tư vấn, thiết
kế sơ bộ, thiết kế chi tiết, mời thầu, mở thầu, chọn thầu, thương thảo và ký hợp đồng Trách nhiệm chính trong giai đoạn này thuộc về các chủ dự án, các Bộ, cơ quan chủ quản và cơ quan chức năng theo các quy định tại Nghị định 42/CP và 43/CP của Chính phủ
Giai đoạn 3 (giai đoạn rút vốn) : trách nhiệm chính trong giai đoạn này thuộc về
chủ dự án, Bộ Tài chính, Ngân hàng phục vụ và các nhà tài trợ Tuy nhiên, tiến độ rút vốn hoàn toàn phụ thuộc vào tiến độ thi công thực tế của dự án
Hầu như trong tất cả các trường hợp, Bộ tài chính không thể làm thủ tục yêu cầu nhà tài trợ thực hiện cấp vốn trước để tạm ứng khi các dự án chưa có khối lượng đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành Việc rút vốn có thể thực hiện theo hai hình thức :
-Rút vốn trực tiếp từ các nhà tài trợ và trả thẳng cho nhà thầu (phương thức cam kết)
-Rút vốn chuyển tiền thông qua Bộ Tài chính để thanh toán cho nhà thầu (phương thức hoàn trả) [24, tr.322]