Sự vận dụng của Đảng ta.BÀI LÀMQuy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX là một trong những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và phát triển của XH loài người..
Trang 1Sự vận dụng của Đảng ta.
BÀI LÀMQuy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của
LLSX là một trong những quy luật cơ bản chi phối sự vận động và
phát triển của XH loài người Sự tác động của quy luật này cùng với
các quy luật khác đã đưa XH loài người phát triển từ thấp đến cao
trong sự phát triển của lịch sử nhân loại Việc nhận thức và vận dụng
đúng đắn quy luật này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định
mục tiêu, đề ra đường lối và tìm các biện pháp thực hiện nhằm mang
lại hiệu quả cao
Như chúng ta đã biết nền SX xã hội là một thể thống nhất
bao gồm nhiều mặt, nhiều mối liên hệ, trong đó nổi lên hai mối quan
hệ cơ bản là LLSX và QHSX: quan hệ của con người với tự nhiên và
quan hệ của con người với nhau
* LLSX biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên,
nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình SX tạo ra của
cải XH LLSX bao gồm người lao động với kỹ năng của họ và tư liệu
SX, trước hết là công cụ lao động Trong đó “LLSX hàng đầu của
toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động” Do đặc trưng
sinh học - XH riêng có của mình, con người ngày càng có vai trò to
lớn trong nền SX XH Đặc biệt trong điều kiện của KH công nghệ
hiện nay, con người đã trở thành nguồn lực cơ bản, nguồn lực đặc
biệt của SX
Cùng với con người lao động, công cụ lao động cũng là một
thành tố cơ bản của LLSX Theo Anghen, thì công cụ lao động là
“khí quan của bộ óc con người”, là “sức mạnh của tri thức đã được
học hoá, tự động hoá… thì vai trò “khí quan vật chất” của nó trở nênvô cùng quan trọng Ngày nay, KH đã phát triển đến mức trở thànhnguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong XH và đờisống Chính vì vậy, KH và công nghệ hiện đại hoàn toàn có thể đượccoi là cái đặc trưng cho LLSX hiện đại, có vai trò rất quan trọngtrong SX, làm cho LLSX của loài người đạt đến trình độ tự động hoácao và mang tính quốc tế hoá sâu sắc
* QHSX là quan hệ giữa người với người trong quá trình SXvật chất QHSX là một chỉnh thể thống nhất bởi ba quan hệ: quan hệsở hữu đối với TLSX; quan hệ trong tổ chức và quản lý SX; quan hệtrong phân phối sản phẩm lao động Trong hệ thống các quan hệ SXcủa mỗi nền KT-XH xác định, quan hệ sở hữu về TLSX luôn luôn cóvai trò quyết định đối với tất cả các quan hệ XH khác Quan hệ sởhữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâm của cácquan hệ XH Còn các quan hệ về mặt tổ chức, quản lý SX là cácquan hệ quyết định một cách trực tiếp quy mô, tốc độ, hiệu quả và
xu hướng của mỗi nền SX cụ thể Các quan hệ về mặt phân phối sảnphẩm lao động cũng là nhân tố có ý nghĩa to lớn đối với sự vận độngcủa toàn bộ nền KT-XH Nó có thể thúc đẩy tốc độ, nhịp điệu của
SX và cũng có thể có khả năng kìm hãm SX, kìm hãm sự phát triểncủa XH
* LLSX và QHSX là hai mặt của phương thức SX Chúng quyđịnh, chế ước, tác động qua lại, thúc đẩy lẫn nhau phát triển, trongđó LLSX luôn giữ vai trò quyết định, QHSX phải phù hợp với trìnhđộ phát triển của LLSX
- Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triểncủa LLSX thể hiện trước hết ở vai trò quyết định của LLSX đối với
Trang 2QHSX, LLSX là nội dung, QHSX là hình thức Nội dung quyết định
hình thức LLSX ở trình độ nào, tính chất nào thì nó yêu cầu tất yếu
một kiểu quan hệ sản xuất, phù hợp nó chứ không thể cao hơn hoặc
thấp hơn
Trình độ của LLSX nói lên khả năng của con người thông qua
việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới tự
nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình, thể
hiện ở chỗ: trình độ của công cụ lao động, trình độ tổ chức lao động
XH, trình độ ứng dụng KH vào SX, kinh nghiệm, kỹ năng lao động
của con người và trình độ phân công lao động Còn tính chất của
LLSX là khi nền SX được thực hiện với những công cụ ở trình độ thủ
công, LLSX chủ yếu là mang tính chất cá nhân Còn khi SX đạt tới
trình độ cơ khí hoá, LLSX đòi hỏi phải được vận động trong sự hợp
tác XH rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá thì tính chất tự cấp, tự
túc, cô lập của nền SX nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xã
hội hoá
Vì vậy, mọi sự hình thành và tồn tại của QHSX phải dựa vào
chính cái LLSX hiện có, tính chất loại hình của QHSX như thế nào
phải do chính LLSX đó quyết định chứ không phụ thuộc vào ý muốn
chủ quan của con người
Trong quá trình SXVC, thì bao giờ cũng vậy LLSX luôn luôn
vận động, biến đổi và phát triển không ngừng LLSX phát triển đến
một giai đoạn nhất định nào đó thì mâu thuẫn với QHSX hiện có, khi
đó đòi hỏi phải thay vào đó một kiểu QHSX mới, thích ứng với trình
độ phát triển của LLSX
Sự tác động ở đây không phải là ngang bằng mà giữa một
bên đóng vai trò tác động, một bên đóng vai trò bị tác động Trong
bất cứ hoàn cảnh nào LLSX tự bản thân nó vẫn phát triển, cho dù
QHSX tỏ ra lạc hậu, lỗi thời đến mấy tự bản thân nó không thể kìmhãm hoàn toàn đối với LLSX
Trong quá trình SXVC, thì LLSX biến đổi trước năng độnhghơn, còn QHSX mang tính ổn định tương đối hơn Chính vì vậy, Quyluật này luôn luôn biểu hiện “phù hợp và không phù hợp”, vì vậychủ thể của quá trình nhận thức và vận dụng phải nắm được đặc tínhnày để kịp thời phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn
Ngày nay trong điều kiện của cuộc cách mạng KH và côngnghệ hiện đại, khi LLSX của loài người đã đạt đến trình độ tự độnghoá và mang tính chất quốc tế hoá cao, sâu sắc thì nó càng quyếtđịnh xu hướng quốc tế hoá của QHSX, của các quan hệ KT giữa cácnước, các khu vực, các tập đoàn KT lớn của thế giới cũng phải vậnđộng, phát triển phù hợp với trình độ, tính chất mới của LLSX, hìnhthành một xu thế tất yếu về KT của thời đại: “Toàn cầu hoá KT”.Điều này đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng sáng tạo quy luật về sựphù hợp của QHSX với tính chất và trình độ của LLSX, phải chốngchủ nghĩa chủ quan trong công cuộc xây dựng và phát triển KT, phảibiết điều chỉnh, đổi mới QHSX theo yêu cầu phát triển của LLSX
- Chủ nghĩa duy vật lịch sử chứng minh vai trò quyết định củaLLSX đối với QHSX, song cũng chỉ rõ rằng QHSX bao giờ cũng thểhiện tính độc lập tuơng đối với LLSX, quy định mục đích của sx, tácđộng đến khuynh hướng phát triển của công nghệ, từ đó hình thànhmột hệ thống những yếu tố hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự pháttriển của LLSX Sự tác động ấy diễn ra theo hai khả năng
+ Trường hợp phù hợp là khi QHSX hình thành và tồn tại gópphần làm cho các yếu tố của bản thân LLSX kết hợp được với nhaumột cách tốt hơn dẫn tới giải phóng được sức sản xuất XH, nhữngtiềm năng sức mạnh của tư liệu sản xuất, lòng nhiệt tình hăng say2
Trang 3sáng tạo của người lao động khá hơn, tăng trưởng KT, đời sống
người lao động được cải thiện, nảy sinh nhiều nhu cầu mới phong
phú đa dạng hơn
+ Trường hợp không phù hợp: biểu hiện ở hai khía cạnh Thứ
nhất là khi QHSX đã lạc hậu rồi so với trình độ mới của LLSX lúc
đó nó trở thành xiềng xích của LLSX, kìm hãm sự phát triển của
LLSX trên tất cả các mặt của nó (quy mô, tốc độ, nhịp độ, khối
lượng của LLSX) nhưng không có nghĩa là làm cho LLSX đứng yên
tại chỗ mà chỉ làm giảm khả năng phát triển của LLSX mà thôi
Thứ hai, khi QHSX vừa thiếu đồng bộ vừa có yếu tố “vượt trước” so
với thực trạng của LLSX do chủ thể áp đặt một cách chủ quan, thì nó
cũng kìm hãm sự phát triển của LLSX Đại hội VI của Đảng chỉ rõ:
LLSX bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp QHSX lạc hậu mà cả
khi QHSX phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so
với trình độ phát triển của LLSX
Trong mỗi hình thái KT-XH sự tác động trở lại của QHSX đối
với LLSX bao giờ cũng thông qua các quy luật KT cơ bản Quy luật
QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật phổ
biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thay thế,
phát triển đi lên của lịch sử XH loài người từ chế độ cộng sản
nguyên thuỷ qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ
TBCN và đến XH cộng sản chủ nghĩa, tương lai là do sự tác động
của hệ thống các quy luật XH, trong đó quy luật QHSX phù hợp với
trình độ phát triển của LLSX là quy luật cơ bản nhất
* Khẳng định tầm quan trọng của quy luật để vận dụng thật
tốt quy luật này vào thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, tại Đại
hội VI (1986) Đảng ta đã nhận rõ những sai lầm, thiếu sót trong việc
nhận thức và vận dụng quy luật này thể hiện trong thời kỳ trước đổi
mới ở quan điểm, chính sách cải tạo XH cũ, XD QHSX mới TrongCương lĩnh xây dựng đất nước (Đại hội VII, 1991) Đảng ta cũng chỉrõ: “Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luậtkhách quan: nóng vội trong cải tạo XHCN, xóa bỏ ngay nền KTnhiều thành phần; có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây dựng côngnghiệp nặng; duy trì quá lâu cơ chế quản lý KT tập trung quan liêubao cấp; có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ,tiền lương”
Đảng ta đã nhận thức sai lầm rằng QHSX XHCN tiên tiến sẽmở đường, tạo địa bàn rộng lớn cho LLSX lạc hậu phát triển nhanhlên hiện đại Do đó trong thực tế đã đưa QHSX lên quá cao so vớitrình độ lạc hậu của LLSX ở nước ta, làm cho LLSX không pháttriển được và SX bị đình trệ
Qua những sai lầm vấp váp, Đại hội VIII của Đảng đã đề rachủ trương: “Nếu CNH, HĐH tạo nên LLSX cần thiết cho chế độ
XH mới thì việc phát triển nền KT nhiều thành phần chính là để xâydựng hệ thống QHSX phù hợp” Đại hội IX tiếp tục khẳng định:
“Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tếđộc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiênphát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuấtphù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Đây chính là sự vậndụng đúng đắn về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển củaLLSX vào sự phát triển nền KT ở nước ta
Đảng ta xác định rằng nền KT nhiều thành phần mà Đảng tachủ trương là nền KT phát triển theo định hướng XHCN Chính sáchphát triển nền KT nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, cótính quy luật từ SX nhỏ đi lên CNXH, có tác dụng to lớn trong việcđộng viên nhân dân xây dựng nền KT, phát triển LLSX
Trang 4Vieôc xađy döïng QHSX phại töøng böôùc töø thaâp ñeân cao vôùi söï
ña dáng hoaù veă hình thöùc sôõ höõu vaø böôùc ñi thích hôïp laøm cho QHSXphuø hôïp vôùi tính chaât vaø trình ñoô phaùt trieơn cụa LLSX Moêi thaønhphaăn Kt voân coù bạn chaât rieđng nhöng trong SX kinh doanh khođngngaín caùch nhau maø coù nhieău loái hình hoên hôïp ñan xen nhau vöøa boơsung cho nhau vöøa cánh tranh vôùi nhau tređn cô sôû bình ñaúng tröôùcphaùp luaôt
ÑH X cụa Ñạng toơng keât 20 naím thöïc hieôn ñöôøng loẫi ñoơi môùi,tieâp túc thöïc hieôn quan ñieơm cụa ÑH IX vaø boơ sung, phaùt trieơn moôtsoâ vaân ñeă veă vaôn dúng quy luaôt naøy nhö sau: “Coù neăn kinh teâ phaùttrieơn cao, döïa tređn LLSX hieôn ñái vaø QHSX phuø hôïp vôùi trình ñoôphaùt trieơn cụa LLSX” “Giại phoùng mánh meõ vaø khođng ngöøng phaùttrieơn söùc sạn xuaât, nađng cao ñôøi soâng nhađn dađn”, ñoăng thôøi vôùi “Phaùttrieơn neăn kinh teâ nhieău hình thöùc sôû höõu, nhieău thaønh phaăn kinh teâ,trong ñoù kinh teâ nhaø nöôùc giöõ vai troø chụ ñáo; kinh teâ nhaø nöôùc cuøngvôùi kinh teâ taôp theơ ngaøy caøng trôû thaønh neăn tạng vöõng chaĩc cụa neănkinh teâ quoâc dađn” “Phaùt trieơn mánh caùc thaønh phaăn kinh teâ, caùc loáihình toơ chöùc sạn xuaât, kinh doanh” “Môû roông quan heô ñoâi ngoái,chụ ñoông vaø tích cöïc hoôi nhaôp kinh teâ quoâc teâ gaĩn vôùi nađng cao khạnaíng ñoôc laôp töï chụ cụa neăn kinh teâ” “Tạo được nền tảng để đẩymạnh công nghiệp hoâ, hiện đại hoâ vă phât triển kinh tế tri thức, đưanước ta cơ bản trở thănh một nước công nghiệp theo hướng hiện đại văonăm 2020”
Nhìn chung, taât cạ caùc chụ tröông, quan ñieơm vaø söï vaôn dúngtrong thöïc tieên neđu tređn cụa Ñạng ta töø Ñái hoôi VI ñeân nay, ñoù chínhlaø söï vaôn dúng ñuùng vaø saùng táo quy luaôt veă söï phuø hôïp cụa QHSXvôùi trình ñoô phaùt trieơn cụa LLSX trong giai ñóan caùch máng hieôn naycụa ñaât nöôùc ta
4
Trang 5Câu 2: Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng Sự nhận thức và vận dụng của Đảng ta
BÀI LÀMMỗi xã hội đều có một kiểu quan hệ vật chất đặc trưng tương
ứng với những lực lượng sản xuất nhất định đó là quan hệ sản xuất
Trên cơ sở những quan hệ sản xuất đó hình thành nên các quan hệ
về chính trị và tinh thần của xã hội Hai mặt đó của đời sống xã hội
được khái quát thành cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thượng tầng
(KTTT) của xã hội
Mác viết: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ
cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên
một KTTT pháp lý, chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất
định tương ứng với cơ sở hiện thực đó"
* Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ, CSHT là toàn bộ những
quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện thực của
chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó
CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm quan hệ sản xuất
(QHSX) thống trị, QHSX tàn dư và QHSX mầm mống của xã hội
tương lai Trong đó, QHSX thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ
đạo, chi phối các QHSX khác, nó quy định xu hướng chung của đời
sống kinh tế - xã hội Bởi vậy, CSHT của một xã hội cụ thể được đặc
trưng bởi QHSX thống trị trong xã hội đó Do đó, xét trong nội bộ
phương thức sản xuất thì QHSX là hình thức phát triển của LLSX,
nhưng xét trong tổng thể các quan hệ xã hội thì các QHSX "hợp
thành" cơ sở kinh tế của xã hội, tức là cơ sở hiện thực, trên đó hình
thành nên KTTT tương ứng
* KTTT là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền,
triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể chính trị - xã hội,… được hình thành trên một CSHT nhất định
Mỗi yếu tố của KTTT có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên CSHT Song mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với CSHT Có những yếu tố có quan hệ trực tiếp như chính trị, pháp luật , có những yếu tố quan hệ gián tiếp như triết học, tôn giáo, nghệ thuật…
Trong xã hội có giai cấp, KTTT mang tính giai cấp, trong đó nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng Nó tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định Nhờ có nhà nước mà giai cấp thống trị mới thực hiện được sự thống trị của mình trên tất cả các mặt của đời sống xã hội
1 Quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT:
Các nhà triết học và xã hội học trước Mác khi xem xét xã hộiđều rơi vào duy tâm lịch sử, bởi vì họ cho rằng những quan hệ chính trị, pháp lý, tinh thần hay tôn giáo quyết định các quá trình hiện thựccủa lịch sử
Chủ nghĩa duy vật biện chứng với phương pháp biện chứng lịch sử đã chỉ ra rằng, CSHT và KTTT có mối quan hệ biện chứng vơi nhau Mối quan hệ giữa CSHT và KTTT là biểu hiện đặc trưng của quan hệ giữa kinh tế và chính trị - tư tưởng trong xã hội, trong đó, CSHT hay đời sống kinh tế giữ vai trò quyết định đối với KTTT hay chính trị - tư tưởng
a Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT.
Trang 6CSHT và KTTT là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thống
nhất biện chứng với nhau, trong đó CSHT đóng vai trò quyết định
đối với KTTT
Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT trước hết thể
hiện ở chỗ: mỗi CSHT sẽ hình thành nên một KTTT tương ứng với
nó Tính chất của KTTT do tính chất của CSHT quyết định Mọi sự
biến đổi trong xã hội xét đến cùng đều do những quan hệ kinh tế
quyết định Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, xét đến cùng, quyết
định mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng Trong xã hội có giai cấp,
giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm địa vị thống trị về
mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội; cuộc đấu tranh giai
cấp về chính trị tư tưởng là biểu hiện những đối kháng trong đời sống
kinh tế
Mác viết: "Nếu ta không thể nhận định về một người căn cứ
vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì ta cũng không
thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của
thời đại ấy Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn
của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các LLSX xã
hội và những QHSX xã hội"
Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT còn thể hiện ở
chỗ: CSHT thay đổi thì sớm hay muộn KTTT cũng thay đổi theo
C.Mác viết: "Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng
tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng" Quá trình đó được
thực hiện không chỉ trong giai đoạn chuyển tiếp có tính cách mạng
từ xã hội này sang xã hội khác, mà còn được thực hiện ngay trong
bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội
Sự biến đổi của CSHT dẫn đến sự biến đổi của KTTT là cả
một quá trình diễn ra hết sức phức tạp Nguyên nhân của quá trình
đó xét cho đến cùng là do sự phát triển của LLSX Tuy nhiên, sự phát triển của LLSX không trực tiếp làm thay đổi KTTT, mà chỉ làmthay đổi QHSX, tức trực tiếp làm thay đổi CSHT của xã hội, và thông qua đó làm thay đổi KTTT
Khi CSHT đã biến đổi, trong KTTT, các yếu tố không phải có sự thay đổi như nhau Có những yếu tố thay đổi rất nhanh chóng cùng với sự thay đổi của CSHT như chính trị, pháp luật,… nhưng cũngcó những yếu tố thay đổi chậm như tôn giáo, nghệ thuật,… hoặc có những yếu tố vẫn được kế thừa trong xã hội mới
- Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi của CSHT cũng như KTTT phải thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội
b Tác động trở lại của KTTT đối với CSHT.
Những người theo “chủ nghĩa duy vật kinh tế” thường tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố kinh tế, coi nhẹ vai trò của các yếu tố chính trị, tư tuởng, pháp lý
Tuy CSHT quyết định KTTT nhưng đó không phải là sự phù hợp một cách bị động, giản đơn Toàn bộ KTTT, cũng như các yếu tốcấu thành của nó đều có tính độc lập tương đối trong quá trình vận động, phát triển, cho nên nó có sự tác động một cách mạnh mẽ đối với CSHT
Sự tác động của KTTT đối với CSHT diễn ra theo hai chiều Nếu KTTT tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển Nếu KTTT tác động ngược lại thì sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triểnxã hội
Vai trò tác động của KTTT đối với CSHT là rất quan trọng, tuy nhiên, nếu quá nhấn mạnh của vai trò này mà phủ nhận tác động6
Trang 7quyết định của những quy luật kinh tế khách quan, phủ nhận tính tất
yếu của vận động xã hội thì sẽ không tránh khỏi rơi vào sai lầm duy
tâm chủ quan Xét đến cùng, nhân tố kinh tế đóng vai trò quyết định
đối với KTTT Nếu KTTT kìm hãm sự phát triển của CSHT thì sớm
hay muộn, bằng cách này hay cách khác, KTTT cũ sẽ được thay thế
bằng KTTT mới tiến bộ hơn để thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển
2 Sự nhận thức và vận dụng của Đảng ta.
* Đảng ta nhận thức được đặc điểm của sự hình thành CSHT
và KTTT XHCN, đó là:
- Sự hình thành CSHT và KTTT XHCN cũng diễn ra theo
đúng quy luật chung mà CNDV lịch sử đã khái quát
- CSHT và KTTT XHCN tuy không tự phát hình thành đầy đủ
trong lòng xã hội TBCN, nhưng những tiền đề, mầm mống nhất định
thì tất yếu đã nảy sinh từ trong hiện thực của CNTB
- Khi xây dựng mới cả CSHT và KTTT, thì CNXH sẽ chủ
động kế thừa biện chứng những nhân tố hợp lý của cả CSHT và
KTTT của CNTB, chứ không phải là một quá trình phủ định sạch
trơn
- Trong TKQĐ lên CNXH thì cả CSHT và KTTT đều chưa
thể có đầy đủ những đặc trưng của CNXH Vì vậy cuộc đấu tranh
giữa cái mới và cái cũ diễn ra hết sức gay go và quyết liệt trên cả
lĩnh vực KT lẫn chính trị, tư tưởng
- Khi CNXH hiện thực đã được xây dựng xong, thì tính đối
kháng của cơ sở kinh tế và KTTT có thểû mất đi, nhưng mâu thuẫn thì
vẫn còn Vì vậy chủ thể của xã hội mới phải thường xuyên chủ động
giải quyết những mâu thuẫn biện chứng để đưa xã hội tiến lên
- Trong tình hình thế giới hiện nay, vấn đề trung thành, bảo vệ và phát triển CN M-LN; kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới, cải cách kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị theo định hướng XHCN có ý nghĩa sống còn đối với các nước XHCN đang tồn tại Do đó:
+ Phải giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, kinh tế nhà nước phải giữ được vai trò chủ đạo
+ Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, phải đi đôi vớùi xây dựng một nền kinh tế tự chủ, giữ vững ổn định chính trị, và không chệnh hướng XHCN
+ Phải khôi phục lại khối đoàn kết vững chắc trên tất cả các lĩnh vực của các nước XHCN còn lại, quyết tâm bảo vệ và phát triểnCNXH hiện thực
* Từ nhận thức trên, tư tưởng xuyên suốt của Đảng ta từ Đại
hội VI đến nay là: Đổi mới kinh tế phải đi đôi với đổi mới hệ thống chính trị, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; kiêntrì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH
- Đại hội X của Đảng nêu quyết tâm tiếp tục thực hiện bài học mà Đại hội VIII của Đảng đã tổng kết là: “Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, lấy đổi mơi kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị”
(VKĐH VIII, NXB.CTQG, H.1996, tr 71) và khẳng định:
+ “Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vaitrò quản lý, điều tiết nền KT của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng”
+ “Phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN”
Trang 8+ “Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và
sức chiến đấu của Đảng”
+ “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục đổi
mới phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể
nhân dân”
(VKĐH Đảng lần thứ X, NXB.CTQG, H.2006, tr 78, 125,
130, 116)
Như vậy, trong quá trình vận dụng, Đảng ta luôn khẳng định
đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là quan niệm
đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình
thức, bước đi và biện pháp phù hợp, kết hợp sự kiên định về nguyên
tắc và chiến lược cách mạng với sự linh hoạt sáng tạo trong sách
lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới Đổi mới phải được thực hiện trên
cơ sở bảo vệ, kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc
và những thành tựu cách mạng đã đạt được Phê phán nghiêm trị sai
lầm, khuyết điểm phải đi đôi với khẳng định những việc làm đúng
không phủ nhận sạch trơn quá khứ, không hoang mang dao động mất
phương hướng từ thái cực này chuyển sang thái cực khác Phải giữ
vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá trình đổi mới;
nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc,
kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngoài ra, gắn với quá trình đổi mới hệ thống chính trị là quá
trình chống quan liêu, tham nhũng chống những hành vi xâm phạm
quyền làm chủ của nhân dân Tệ quan liêu, tham nhũng làm biến
dạng và xói mòn mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân,
làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Đó là
những vật cản to lớn và thường xuyên của quá trình dân chủ hóa về
tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Vì vậy chống quan liêu
và tham nhũng là những yêu cầu cấp bách Thường xuyên cần căn cứ vào những yêu cầu dân chủ để ra øsoát lại cơ chế và bộ máy Đảng, Nhà nước và đoàn thể để phát hiện những cơ sở của cơ chế vàchính sách mà những cán bộ xấu có thể lợi dụng Đấu tranh chống tệtham nhũng, quan liêu là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải kiên quyết, bền bỉ nghiêm minh từ trên xuống dưới, nghiêm trị mọi kẻ vi phạm dù ở bất cứ cương vị nào
Tóm lại, "phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới KT với đổi mới chính trị, lấy đổi mới KT làm trọng tâm đồng thời từng bước đổi mới chính trị" chính là sự vận dụng đúng đắn mối quan hệ biện chứng giưã CSHT và KTTT vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nước ta hiện nay
Hết.
8
Trang 9Câu 3: Quan điểm mác-xít về giai cấp và đấu tranh giai cấp Ý
nghĩa và sự vận dụng của Đảng ta.
BÀI LÀM
1 Giai cấp:
- “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn, gồm những
người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội
nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường
những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với
những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã
hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của
cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập
đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập
đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế
độ kinh tế - xã hội nhất định”
Định nghĩa này của Lênin cho phép chúng ta nắm được
những đặc trưng chung, cơ bản nhất, những dấu hiệu phổ biến, ổn
định nhất của giai cấp dù đó là giai cấp ở thời kỳ lịch sử nào
Lênin đã tìm nguyên nhân của sự khác nhau của những tập
đoàn người để hình thành lý luận về giai cấp từ trong kinh tế gắn với
chế độ kinh tế, quan hệ kinh tế, tuy nhiên không nên xem giai cấp là
một phạm trù kinh tế thuần tuý mà giai cấp là một phạm trù kinh tế
-xã hội có tính lịch sử, bởi vì ngoài sự khác biệt bởi những yếu tố vật
chất (các quan hệ vật chất trong quan hệ sản xuất) thì các giai cấp
còn khác nhau về lối sống tâm lý và tư tưởng
Các tập đoàn người trong một phương thức sản xuất nhất định
là các giai cấp khi họ có sự khác nhau ở ba phương diện cơ bản trong
quan hệ sản xuất:
Thứ nhất, khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất Đây
là sự khác nhau cơ bản nhất Chính quan hệ này quy định giai cấpbóc lột và giai cấp bị bóc lột Trong các phương thức sản xuất tronglịch sử, các tập đoàn người chiếm giữ tư liệu sản xuất luôn giữ vaitrò thống trị không chỉ về kinh tế mà còn cả về chính trị và tư tưởng.Chủ nô, địa chủ phong kiến, tư sản là những tập đoàn người giữ địa
vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu, trước hết
vì các tập đoàn người này chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội, tức lànắm phương tiện, điều kiện vật chất quan trọng nhất để chi phối laođộng của các tập đoàn người không có hoặc rất ít tư liệu sản xuất.Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất (nô lệ, nông dân, vôsản) buộc phải phụ thuộc về kinh tế vào các tập đoàn thống trị
Thứ hai là khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, trong tổ chức quản lý sản xuất Tập đoàn nào chiếm hữu tư liệu
sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt động sảnxuất, lưu thông trên quy mô toàn xã hội cũng như từng đơn vị kinhtế Các giai cấp lao động là những tập đoàn người trực tiếp sản xuấtdưới sự điều khiển của giai cấp thống trị trong phương thức sản xuất.Mặc dù ngày nay chủ nghĩa tư bản đã điều chỉnh các quan hệ sảnxuất bằng cách cổ phần hoá các công ty, công nhân nắm một phầncổ phần, cổ phiếu của công ty, hay công nhân có người đại diện ởhội đồng quản trị, song về thực chất vai trò quản lý vẫn thuộc về cáctập đoàn tư bản
Thứ ba là khác nhau về phương thức thu nhận của cải xã hội Những tập đoàn người nào chiếm hữu tư liệu sản xuất, nắm tổ
chức lao động và tổ chức quản lý xã hội thì đương nhiên họ sẽ nhậnphần nhiều trong việc phân chia của cải làm ra Trong xã hội có giaicấp đối kháng, chế độ phân phối sản phẩm là chế độ bất công Giaicấp thống trị (chỉ chiếm thiểu số trong dân cư, không trực tiếp sản
Trang 10xuất) chiếm phần lớn của cải xã hội, còn giai cấp lao động (chiếm
phần đông dân số, trực tiếp sản xuất) chỉ chiếm một phần ít ỏi của
cải mà họ là ra Chẳng hạn trong xã hội Mỹ ngày nay, giai cấp giàu
có chỉ chiếm 10% dân số nhưng lại chiếm đến hơn 90% của cải của
xã hội, trong khi đó các giai cấp, tầng lớp nghèo thì chiếm đến hơn
90% dân số nhưng chỉ chiếm chưa đầy 10% của cải toàn xã hội Giai
cấp tư sản, nhất là đại tư bản, chiếm hữu của cải xã hội dưới hình
thức thu lợi nhuận, tính bằng giá trị thặng dư Lao động càng có trình
độ cao thì giá trị thặng dư càng lớn Sự bóc lột giá trị thặng dư ngày
càng tăng trong xã hội tư bản nhưng đời sống của người lao động
không được cải thiện là bao
Chính sự khác nhau về những yếu tố trên của các tập đoàn
người là nguyên nhân dẫn tới sự bóc lột trong xã hội có đối kháng
giai cấp Trong xã hội tư bản đương đại, bộ mặt các giai cấp và các
quan hệ giai cấp có những biến đổi đáng kể Với hàm lượng tri thức
trong một đơn vị sản phẩm ngày càng tăng thì đội ngũ công nhân kỹ
thuật cao, lao động trí tuệ ngày một nhiều, trở thành bộ phận tiêu
biểu cho giai cấp công nhân hiện đại, đồng thời với nó, lượng công
nhân “áo xanh” ngày càng giảm Bên cạnh đó, sự phát triển của các
công ty cổ phần, về hình thức đã làm thay đổi một phần quan hệ giai
cấp - tức là xu thế xã hội hoá tư sản, nhưng về thực chất nó không
làm thay đổi bản chất của giai cấp tư sản và giai cấp công nhân,
không làm thay đổi bản chất quan hệ giữa tư bản và lao động Giai
cấp tư sản vẫn là những người chiếm hữu tư liệu sản xuất của xã hội,
những người chỉ huy sản xuất, những người chiếm hữu giá trị thặng
dư
Theo Mác, giai cấp không tồn tại trong mọi xã hội, mà: “Sự
tồn tại của các giai cấp chỉ gắn liền với những giai đoạn phát triển
lịch sử nhất định của sản xuất” Sự hình thành giai cấp là do nguyên nhân về kinh tế.
Trong xã hội nguyên thuỷ, khi lực lượng sản xuất còn thấpkém, con người làm ra của cải vật chất chỉ đủ để tồn tại, chưa có sảnphẩm dư thừa, do đó chưa xuất hiện giai cấp Cuối xã hội nguyênthuỷ, lực lượng sản xuất phát triển (công cụ bằng kim loại được phổbiến) dẫn đến phân công lao động: thủ công nghiệp tách khỏi nôngnghiệp Trao đổi sản phẩm trở thành hoạt động thường xuyên, phổbiến Quan hệ sản xuất nguyên thuỷ không còn phù hợp với lựclượng sản xuất mới nữa Chế độ tư hữu xuất hiện dần dần thay thếchế độ công hữu nguyên thuỷ về tư liệu sản xuất Các gia đình có tàisản riêng ngày càng nhiều, trong xã hội công xã xuất hiện sự chênhlệch về tài sản Những người có quyền lực trong thị tộc, bộ lạc đã cóthể lợi dụng địa vị của mình để chiếm đoạt của cải của công xã làmcủa riêng Sự phát triển của lực lượng sản xuất sang trình độ mới tạokhả năng và tiền đề phân hoá xã hội thành giai cấp Chế độ tư hữuvề tư liệu sản xuất là cơ sở trực tiếp của sự hình thành các giai cấp
Theo Mác và Ăngghen, xã hội có giai cấp không tồn tại vĩnhcửu mà chỉ là một giai đoạn tất yếu của lịch sử loài người Hai ôngcho rằng sự phân chia xã hội thành giai cấp sẽ bị sự phát triển đầyđủ của những lực lượng sản xuất hiện đại xoá bỏ Và 2 ông dự kiếnvề một xã hội tương lai, trong đó khoa học trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp, một nền sản xuất tự động hoá cao cho phép người laođộng tách khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, trở thành những ngườiđiều khiển sản xuất Sự phát triển rất cao của lực lượng sản xuất làmcho sự phân chia giai cấp mất tính tất yếu; đặc biệt là sự phát triểncao và toàn diện của con người Đó sẽ là một xã hội không còn phânchia giai cấp Hai ông cũng chứng minh sự phát triển của chủ nghĩa
tư bản sẽ tạo tiền đề kinh tế - xã hội cho xã hội không còn giai cấp.10
Trang 11Song các giai cấp không tự mất đi, để tiến tới một xã hội không còn
giai cấp thì giai cấp công nhân, nhân dân lao động phải tiến hành
cuộc đấu tranh tự giác, có tổ chức, tiến tới giành lấy dân chủ, thiết
lập chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dựa
vào công cụ đó để thực hiện công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hộâi mới không có giai cấp Đó là một thời kỳ lịch sử lâu dài, phải
trải qua nhiều bước trung gian quá độ hết sức phức tạp
2 Đấu tranh giai cấp
Đây là hệ quả tất yếu của xã hội có giai cấp, như Mác nói, ở
đâu có áp bức là ở đó có đấu tranh Trong xã hội có giai cấp, giai
cấp thống trị chiếm đoạt lao động của các giai cấp và tầng lớp bị trị
Các giai cấp và tầng lớp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả
lao động mà họ còn bị áp bức cả về chính trị, tinh thần
Thực chất của cuộc đấu tranh giai cấp là cuộc đấu tranh giải
quyết mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa quần chúng bị áp bức, vô sản đi
làm thuê chống lại giai cấp thống trị, chống lại bọn đặc quyền, đặc
lợi, những kẻ đi áp bức, bóc lột Lênin nhấn mạnh rằng, đấu tranh
giai cấp trong lịch sử và trong thời đại ngày nay thực chất là “cuộc
đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và bị lao
động, chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn áp bức và bọn ăn bám,
cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những
người vô sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản”
Đấu tranh giai cấp là một tất yếu lịch sử, có nguyên nhân
khách quan từ sự phát triển mang tính xã hội hoá ngày càng sâu rộng
của lực lượng sản xuất với quan hệ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất Biểu hiện của mâu thuẫn này về phương diện xã hội là mâu
thuẫn giữa một bên là giai cấp cách mạng, tiến bộ, đại diện cho
phương thức sản xuất mới, với một bên là giai cấp thống trị, bóc lột,
đại biểu cho những lợi ích gắn với quan hệ sản xuất lỗi thời, lạchậu
Các cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra dưới nhiều hình thức khácnhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, vào các giai cấp tham gia đấutranh, vào giai đoạn phát triển của cuộc đấu tranh Chẳng hạn, trongxã hội tư bản mới hình thành, đấu tranh của giai cấp công nhân diễn
ra dưới hình thức các cuộc đấu tranh lẻ tẻ, cục bộ, tự phát như đấutranh của một xí nghiệp, một địa phương, đòi tăng lương, giảm giờlàm, cải thiện điều kiện lao động, và thường là không có hiệu quả
do thiếu tổ chức, thiếu đoàn kết Lênin cho rằng các cuộc đấu tranhđó chỉ là “mầm mống yếu ớt” của đấu tranh giai cấp Đấu tranh củagiai cấp công nhân chỉ trở thành cuộc đấu tranh giai cấp công nhânthực sự khi nó phát triển thành cuộc đấu tranh toàn quốc hoặc ít nhấtcũng có quy mô rộng lớn, nhằm chống lại quyền lực chính trị củagiai cấp tư sản
Trong xã hội tư bản, đấu tranh của giai cấp công nhân có bahình thức cơ bản đó là đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị và đấutranh tư tưởng cả ba cuộc đấu tranh này đều rất quan trọng; giai cấpcông nhân muốn giành được thắng lợi cuối cùng thì sử dụng cả bahình thức đấu tranh trên
Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triểnquan trọng của các xã hội có giai cấp Trong một phương thức sảnxuất, lực lượng sản xuất bao giờ cũng là yếu tố động, còn quan hệsản xuất là yếu tố tĩnh Sự phù hợp giữa LLSX và QHSX là điềukiện cơ bản để sản xuất phát triển thuận lợi, tạo cơ sở cho sự pháttriển mọi mặt của đời sống xã hội Khi LLSX phát triển nhanh làmcho QHSX lỗi thời, trở thành xiềng xích của LLSX dẫn đến cuộckhủng hoảng phá hoại LLSX Trong các xã hội có đối kháng giai
Trang 12cấp, những QHSX lỗi thời không tự động nhường chỗ cho QHSX
mới Chúng được giai cấp thống trị bảo vệ bằng tất cả sức mạnh
chính trị, kinh tế, tư tưởng, đặc biệt là bằng bạo lực có tổ chức Muốn
thay đổi QHSX để giải phóng sức sản xuất chỉ có thể thực hiện được
qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội
Đỉnh cao của đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến cách
mạng xã hội thay thế phương thức sản xuất cũ bằng một phương thức
sản xuất mới tiến bộ hơn Có thể nói, cách mạng xã hội như là đòn
bẩy thay đổi các hình thái kinh tế - xã hội Vì vậy, “Đấu tranh giai
cấp là động lực trực tiếp của lịch sử các xã hội có giai cấp”.
Đấu tranh giai cấp góp phần xoá bỏ các thế lực phản động,
lạc hậu, đồng thời cải tạo bản thân giai cấp cách mạng Giai cấp nào
đại diện cho phương thức sản xuất mới giai cấp đó sẽ lãnh đạo cách
mạng
Đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là
cuộc đấu tranh cuối cùng trong lịch sử xã hội có giai cấp Nó là cuộc
đấu tranh khác về chất so với các cuộc đấu tranh trước đó trong lịch
sử Mục tiêu của cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân là thay đổi
về căn bản sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất bằng sở hữu xã hội
qua đó giải phóng toàn xã hội khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi sự phân
chia giai cấp và đấu tranh giai cấp
Đây là một quá trình đấu tranh rất lâu dài và vô cùng phức
tạp Kể cả khi giai cấp công nhân giành được chính quyền thì đấu
tranh giai cấp cũng chưa biến mất mà nó sẽ diễn ra trong điều kiện
mới Trong thời kỳ giai cấp công nhân giành được chính quyền đó
-thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mục tiêu đấu tranh cũng thay
đổi từ giành chính quyền chuyển sang củng cố chính quyền và xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội Đồng thời hình thức đấu tranh của
giai cấp công nhân cũng thay đổi, Lênin nói: “Trong điều kiệnchuyên chính vô sản, những hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấpvô sản không thể giống như trước được” Cuộc đấu tranh giai cấptrong thời kỳ quá độ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinhtế, xã hội, văn hoá, tư tưởng Do đó, giai cấp công nhân phải sử dụngtổng hợp và linh hoạt các hình thức đấu tranh mới, trong đó có đấutranh bằng bạo lực và hoà bình, bằng giáo dục thuyết phục và bằnghành chính, pháp chế, bằng chính trị, quân sự và bằng kinh tế,
Liên hệ thực tiễn.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xã hộivẫn tồn tại lâu dài các giai cấp, các mâu thuẫn giai cấp Đấu tranhgiai cấp là một thực tế khách quan không thể tránh khỏi Do bốicảnh lịch sử của quá trình hình thành giai cấp và điều kiện mới của
xu thế quốc tế hoá mà đấu tranh giai cấp ở Việt Nam có những đặcđiểm riêng và rất phức tạp
Đại hội Đại IX của Đảng khẳng định: Hiện nay và cả trongthời kỳ quá độ của nước ta vẫn tồn tại một cách khách quan các giaicấp và đấu tranh giai cấp Nhưng đấu tranh giai cấp ở nước ta diễn ratrong điều kiện mới với những nội dung mới và bằng những hìnhthức mới Bởi vì cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế - xã hội,dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước, cơ cấu giaicấp, nội dung, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta cũngđã thay đổi nhiều, nó khác với thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủtrong những năm đầu chúng ta mới giành được chính quyền
Mối quan hệ giữa các giai cấp không còn như trước nữa.Ngày nay mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp chủ yếu làmối quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân nhằm tăngcường khối đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc12
Trang 13dưới sự lãnh đạo của Đảng Lợi ích của giai cấp công nhân thống
nhất với lợi ích của toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh
Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường xã hội
chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ
độc lập dân tộc, chống áp bức bất công, chống bóc lột, chống nghèo
nàn, lạc hậu, khắc phục tình trạng đói nghèo, kém phát triển Vì vậy,
nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở
nước ta là: "thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước
nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức bất
công, đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và hành động
tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động
chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây
dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân
hạnh phúc" Đồng thời Đảng ta khẳng định: "Động lực chủ yếu để
phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh
giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo” Đại
đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố đảm bảo thắng lợi bền vững của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tóm lại, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc
xã hội chủ nghĩa phải nắm vững quan điểm giai cấp của chủ nghĩa
Mác - Lênin Đó là quan điểm khoa học và cách mạng Sự tuyệt đối
hoá đấu tranh giai cấp, sự cường điệu đấu tranh giai cấp cũng như sự
mơ hồ về đấu tranh giai cấp đều trái với quan điểm giai cấp của chủ
nghĩa Mác - Lênin, điều này gây tổn hại cho sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta
Hết.
Trang 15Câu 4 : Quan điểm mác xít về nhà nước Vận dụng quan điểm nhà
nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân.
BÀI LÀMNhà nước là một phạm trù lịch sử Không phải Xh loài người
ngay từ khi hình thành đã có Nhà nước Có một thời kỳ lịch sử XH
chưa có Nhà nước: thời kỳ CSNT Chỉ khi đến nền SX XH phát triển
đến một trình độ nhất định, XH phân chia thành GC, thì Nhà nước
mới ra đời
Với sự ra đời của công cụ sx bằng kim loại, LLSX đã có sự
phát triển vượt bậc, của cải XH đã dư thừa và chế độ tư hữu ra đời,
XH phân chia thành những GC đối kháng: Chủ nô và nô lệ Mâu
thuẫn giữa các GC bóc lột và bị bóc lột ngày càng trở nên gay gắt và
dẫn đến đấu tranh giai cấp, cuộc đấu tranh giữa các GC đó diễn ra
không ngừng và ngày càng quyết liệt không thể điều hoà được Để
bảo vệ lợi ích giai cấp của mình, GC chủ nô đã lập ra một bộ máy
bạo lực, trấn áp Bộ máy đó chính là Nhà nước Nhà nước đầu tiên
xuất hiện trong lịch sử là Nhà nước CHNL, tiếp đó là Nhà nước
Phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà nước XHCN, những nhà nước đó
xuất hiện đều từ mâu thuẫn đối kháng GC không thể đều hoà được
Như vậy, nguồn gốc sâu xa dẫn đến sự ra đời của nhà nước là từ KT,
từ sự phát triển của LLSX, nguồn gốc trực tiếp về KT-XH dẫn đến
sự ra đời và tồn tại của nhà nước là do có chế độ tư hữu và “mâu
thuẫn GC không thễ điều hoà được.”
Nhà nước là bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay GC
cầm quyền, là công cụ sắc bén nhất để duy trì sự thống trị GC cho
nên bản chất Nhà nước bao giờ cũng mang tính GC sâu sắc Các nhà
sáng lập Chủ nghĩa Mác cho rằng: Bản chất của Nhà nước chẳng quachỉ là cơ quan áp bức của một giai cấp này đối với một giai cấp khácmà thôi Hoặc nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị của một giaicấp, giai câp này thống trị về mặt kinh tế vì thế cho nên thống trị cảvề mặt chính trị
Trong XH có GC, sự thống trị của GC này đối với Gc khácđược thể hiện dưới 3 loại quyền lực: quyền lực chính trị, quyền lực
KT, tư tưởng, trong đó quyền lực KT giữ vai trò quyết định nhưngbản thân nó không thể duy trì được vai trò thống trị và đàn áp đượcsự phản kháng của GC bị trị, vì vậy phải có Nhà nước để cũng cố vàbảo vệ những quyền lực ấy Với tính cách là nền chuyên chính củamột giai cấp đối với giai cấp khác, Nhà nước của các gc bóc lộtkhông thể là kẻ công bằng để bảo vệ lợi ích cho các gc trong xh.Như vậy, Nhà nước là một bộ máy đặc biệt để đảm bảo và thực hiệnquyền lực thống trị về KT, tư tưởng, chính trị Ngoài việc thực hiệnchức năng đó, Nhà nước còn phải giải quyết tất cả các vấn đề khácnảy sinh trong XH, nghĩa là thực hiện chức năng xh Vì vậy, Nhànước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng, vừa mang bản chất GCvừa mang tính XH Theo bản chất đó Nhà nước là một tổ chức củaquyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế vàthực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự XH,thực hiện những mục đích để bảo vệ lợi ích của Gc thống trị trong
xh Mỗi kiểu Nhà nước có bản chất riêng nhưng đều mang một sốđặc điểm chung Nhà nước XHCN cũng có những nét chung đónhưng với bản chất là chuyên chính vô sản, nó không còn là Nhànước theo đúng nghĩa mà chỉ là “nữa Nhà nước”
Nhà nước của giai cấp bóc lột có hai chức năng cơ bản là:
Trang 16Chức năng đối nội: chức năng này có 2 mặt: mặt thứ nhất là
duy trì trật tự KT, XH, chính trị và các trật tự XH khác theo luật pháp
của GC thống trị Đồng thời sử dụng các phương tiện khác như bộ
máy thông tin, tuyên truyền văn hoá, giáo dục… để xác lập và củng
cố hệ tư tưởng của giai cấp bóc lột biến nó thành tư tưởøng thống trị
trong xh (đây là chức năng GC) Mặt thứ hai: quản lý và giải quyết
các nhu cầu của Xh (cũng còn gọi là chức năng quản lý công cộng
Hai mặt của chức năng đối nội có quan hệ biện chứng trong đó mặt
thống trị giai cấp là mục đích, còn mặt XH là cơ sở, là điều kiện để
thực hiện chức năng giai cấp
Chức năng đối ngoại: chức năng đối ngoại nhằm bảo vệ lãnh
thổ quốc gia và quan hệ với các nước khác vì lợi ích của giai cấp
thống trị và lợi ích quốc gia
Hai chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nuớc là một thể
thống nhất, chức năng đối nội là chủ yếu và có ý nghĩa quyết định
Chức năng đối ngoại là kế tục chức năng đối nội
Trong lịch sử phát triển của mình, Nhà nước có những kiểu
sau: Nhà nước chủ nô, Nhà nước phong kiến, Nhà nước tư sản, Nhà
nước XHCN Các kiểu Nhà nước chủ nô, Phong kiến, tư sản mặc dù
có những đặc điểm riêng nhưng đều là những “Nhà nước theo đúng
nghĩa” đuợc xây dựng trên cơ sở của chế độ tư hữu về TLSX và là
công cụ để duy trì sự thống trị của giai cấp bóc lột đối với đông đảo
quần chúng nhân dân lao động Khác với các kiểu Nhà nước bóc lột,
Nhà nước XHCN là “nữa Nhà nước” tức là Nhà nước của nhân dân
lao động, thực hiện dân chủ và công bằng XH cho tất cả công dân
Sự thay đổi kiểu Nhà nước này bằng kiểu Nhà nước mới tiến
bộ hơn là quy luật tất yếu phù hợp với quy luật về sự phát triển và
thay thế của các hình thái KT-XH Cách mạng XH là con đường dẫnđến sự thay đổi đó
Nhà nước XHCN ra đời và tồn tại trong thời kỳ quá độ từ xh
tư bản lên xã hội cộng sản là tất yếu khách quan của lịch sử Vì thờikỳ quá độ là thời kỳ còn tồn tại GC, còn có đấu tranh GC Đó là thờikỳ cải biến cách mạng liên tục và phức tạp để xoá bỏ XH cũ, xâydựng Xh mới Để làm đuợc việc đó thì chuyên chính của một GCcách mạng (chuyên chính vô sản) là tất yếu để trấn áp kẻ thù vừa đểtổ chức XH mới, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động.Nhà nước XHCN là Nhà nước kiểu mới nó là Nhà nước của dân, dodân và vì dân Nhà nước XHCN là Nhà nước chuyên chính vô sảnnhưng bản chất của chuyên chính vô sản lại là thực hiện quyền làmchủ của nhân dân lao động do đó Nhà nước XHCN có sự thống nhấtgiữa tính GC và tính nhân dân Tính GC thể hiện ở sự lãnh đạo củaĐảng Cộng Sản và lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng Tínhnhân dân thể hiện ở toàn bộ quyền lực của nhân dân lao động Nódân chủ với đa số nhân dân và chuyên chính với thiểu số kẻ thù củanhân dân
Nhà nước XHCN lấy chức năng tổ chức xây dựng xh mới làmchức năng chủ yếu Đương nhiên Nhà nước XHCN cũng có chứcnăng trấn áp GC bóc lột, các lực lượng thù địch của nhân dân nhưngchức năng xây dựng là chủ yếu vì có tổ chức xây dựng thành công
xh mới, mới bảo đảm thắng lợi hoàn toàn và triệt để của CNXH.Chức năng tổ chức xây dựng XH mới là nhiệm vụ hoàn toàn mới mẽvà đầy khó khăn phức tạp do đó đòi hỏi tính năng động sáng tạo.Mọi hiện tượng trì trệ, bảo thủ đặc biệt là chủ nghĩa quan liêu, làhiện tượng xa lạ với bản chất của Nhà nước XHCN Song cũng phảinhận thấy rằng sự tồn tại của Nhà nước XHCN cũng chỉ là quá độ điđến thủ tiêu vì Nhà nước vô sản (Nhà nước XHCN) là Nhà nước đặc16
Trang 17biệt “Nhà nước tự tiêu vong” Đây là một quá trình lâu dài Sự tiêu
vong không phải là quá trình giảm vai trò và hiệu lực của Nhà nước
mà là quá trình tăng cường và hoàn thiện không ngừng Nhà nước,
tăng cường và hoàn thiện chế độ dân chủ là điều kiện để Nhà nước
rút khỏi vũ đài lịch sử Đó là biện chứng của quá trình phát triển
hoàn thiện Nhà nước thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNCS
Quán triệt quan điểm Mác-xít về Nhà nước, Đảng ta xem
Nhà nước XHCN “là cột trụ của hệ thống chính trị, là công cụ thực
hiện quyền lực của nhân dân”; nó được tổ chức theo nguyên tắc Nhà
nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; lấy liên minh g/c
CN với g/c ND và tầng lớp trí thức làm nền tảng, đặt dưới sự lãnh
đạo của ĐCSVN Trong tổ chức và hoạt động của mình, quyền lực
nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, nhưng có sự phân
công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan NN trong việc thực hiện
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam có những đặc trưng
cơ bản như sau:
Một là, đó là NN của dân do dân và vì dân; tất cả quyền lực
NN thuộc về nhân dân
Hai là, quyền lực NN là thống nhất, có sự phân công rành
mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan NN trong việc thực hiện
các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
Ba là, NN được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp,
pháp luật và bảo đảm cho hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối
thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời
sống XH
Bốn là, NN tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền
công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa NN và công dân; thựchành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật
Năm là, NN pháp quyền XHCN do Đảng CSVN lãnh đạo,
đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện XH củaMTTQ VN và các tổ chức thành viên của mặt trận
Trong quá trình xd NN pháp quyền XHCN, chúng ta đã đạtđược nhiều thành tựu quan trọng, nhưng đồng thời vẫn còn nhữnghạn chế yếu kém nhất định
Về thành tựu, Đại hội X của Đảng xác định: “Xd NN phápquyền XHCN có tiến bộ trên cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tưpháp” (VKĐHĐ lần thứ X, NXB.CTQG, H.2006, tr 60) Cải cáchhành chính cĩ bước tiến mới, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đượctăng cường; dân chủ trong xã hội tiếp tục được phát huy; an ninh chínhtrị, trật tự an tồn xã hội được bảo đảm, chủ quyền và tồn vẹn lãnh thổđược giữ vững
Về yếu kém Đại hội X của Đảng cũng xác định: “Tổ chức vàhoạt động của NN, MTTQ và các đoàn thể nhân dân còn một sốkhâu chậm đổi mới” (VKĐHĐ lần thứ X, NXB.CTQG, H.2006, tr64).Những yếu kém của bộ máy quản lý nhà nước và cơng tác cán bộchậm được khắc phục Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu, chưa gắnvới xây dựng và chỉnh đốn Đảng, với đổi mới phương thức và nâng caohiệu quả hoạt động của Quốc hội, chưa phối hợp chặt chẽ với cải cách
và đổi mới hoạt động tư pháp Cải cách tư pháp chưa theo kịp yêu cầuphát triển Năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ, cơng chức cịn yếu,một bộ phận khơng nhỏ thối hố, biến chất Dân chủ ở nhiều nơi bị viphạm, kỷ cương phép nước chưa nghiêm Quan liêu, tham nhũng, lãngphí cịn nghiêm trọng, đặc biệt là tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền,
Trang 18thiếu trách nhiệm của bộ phận khơng nhỏ cán bộ, cơng chức, nhất là ở các
cơ quan giải quyết cơng việc cho dân và doanh nghiệp Bộ máy chínhquyền cơ sở nhiều nơi yếu kém
Từ thực trạng trên, để Nhà nước ta thực sự là Nhà nước củadân, do dân và vì dân, một Nhà nước trong sạch vững mạnh, có hiệulực và hiệu quả, Đảng ta đã xác định phải thực hiện đồng bộ mộtloạt các nhiệm vụ: đổi mới nâng cao chất lượng công tác lập pháp vàgiám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhànước; đẩy mạnh đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng Tăngcường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước Củng cố khốiliên minh công-nông-trí thức, khối đại đoàn kết toàn dân “Cải cáchtổ chức và hoạt động của Nhà nước gắn liền với XD Chỉnh đốnĐảng, đổi mới nội dung phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhànước Xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn, nâng cao chất lượnghoạt động của các tổ chức Đảng và đảng viên trong các cơ quan Nhànước” (VKĐH IX, tr.131, 132) Đại hội X của Đảng cũng chỉ rõphương hướng xây dựng NN pháp quyền XHCN ở nước ta như sau:
“Xây dựng cơ chế vận hành của NN pháp quyền XHCN, bảo đảmnguyên tắc tất cả quyền lực NN đều thuộc về nhân dân; quyền lực
NN là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trongviệc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (VKĐHĐ lầnthứ X, NXB.CTQG, H.2006, tr 126)
Nhìn chung, thực hiện tốt các biện pháp và phương hướng xâydựng NN pháp quyền XHCN nêu trên chính là sự vận dụng sáng tạoquan điểm Mác xít về nhà nước của Đảng ta Chắc chắn chúng ta sẽđạt được bước tiến căn bản trong việc hoàn thiện Nhà nước Cộânghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần xây dựng thành côngCNXH ở nước ta
18