1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG

73 1,8K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các dãy núi phân bố thành hình vòng cung kéo dài gần 100 km, khởi đầu từ xã Phú Hữu, huyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diện tích huyện Tịnh Biên và huyệ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

MÔN ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG

2 Phan Thanh Phong

3 Nguyễn Thị Thu Thủy (1985)

4 Phạm Thị Thanh Nga

THÁNG 3 NĂM 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Bìa 1

Mục lục 2

Bảng phân bố thời gian – nội dung tìm hiểu 5

Phần 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH AN GIANG 7

1.1 Vị trí địa lý 7

1.2 Các đơn vị hành chính 8

Phần 2 CÁC NHÂN TỐ TỰ NHIÊN 9

2.1 Địa hình 9

2.1.1 Khái quát 9

2.1.2 Đặc điểm của địa hình 9

2.1.2.1 Địa hình đồng bằng 9

2.1.2.2 Địa hình đồi núi 10

2.2 Địa chất và khoáng sản 12

2.2.1 Địa chất 12

2.2.2 Khoáng sản 16

2.2.2.1 Nhóm vật liệu xây dựng 16

a) Đá xây dựng 16

b) Cát xây dựng 17

c) Đất sét gạch ngói 17

2.2.2.2 Nhóm vật liệu trang trí 17

a) Đá ốp lát 17

b) Đá aplite 18

c) Vỏ sò 18

d) Đất sét 18

2.2.2.3 Đá quí, ngọc và quặng mỏ 19

a) Đá quí và ngọc 19

b) Than bùn 19

c) Diatomite 19

d) Quặng kim loại 19

2.2.2.4 Nước khoáng thiên nhiên 20

2.3 Khí hậu 20

2.3.1 Khái quát khí hậu 20

2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khí hậu 20

2.3.2.1 Vị trí địa lý 21

2.3.2.2 Địa hình 21

2.3.2.3 Hoàn lưu khí quyển 21

2.4 Thuỷ văn 22

2.4.1 Khái quát 22

Trang 3

2.4.2 Các sông chính 22

2.4.3 Các kênh, rạch, hồ 23

2.4.3.1 Hệ thống rạch tự nhiên 23

2.4.3.2 Mạng lưới kênh đào được khai mở qua các thời kỳ 23

2.4.3.3 Hồ 23

2.5 Thổ nhưỡng 24

2.5.1 Khái quát 24

2.5.2 Các nhóm đất 24

2.5.2.1 Nhóm đất phèn 25

a) Nhóm đất phèn tiềm tàng 25

b) Đất phèn nhiều 25

c) Đất phèn ít 25

d) Đất than bùn chứa phèn 25

2.5.2.2 Nhóm đất phù sa 26

a) Đất phù sa trên đồng lũ 26

b) Đất cồn bãi 26

2.5.2.3 Nhóm đất đồi núi 28

a) Đất sườn tích tại chỗ 29

b) Đất yếm phù sa 29

c) Đất thềm cao 29

2.6 Sinh vật 29

2.6.1 Thực vật 30

2.6.2 Động vật 31

Phần 3 34

3.1 Dân 34

3.2 35

35

3.2 37

3.2.3 38

3.3 38

38

38

38

3.4 38

3.4.1 38

3.4.1.2 39

3.4.1.2 40

3.4.2 K ô 40

40

41

41

3.5 Sự phát triển văn hóa- xã hội ở địa phương 43

Trang 4

3.5.1 Văn hóa 43

3.5.1.1 Dấu tích văn hoá cổ Óc Eo 43

3.5.1.2 Đặc trưng văn hóa người Chăm ở An Giang 44

3.5.1.3 Đặc trưng văn hóa người Khmer ở An Giang 46

3.5.1.4 Đặc trưng văn hóa người Hoa ở An Giang 47

3.5.1.5 Đặc trưng văn hóa người Kinh ở An Giang 48

3.5.2 Y tế 49

3.5.3 Giáo dục 50

3.6 Danh nhân 51

3.6.1 Về chính trị 51

3.6.2 Về văn học, nghệ thuật 51

3.6.3 Về giáo dục 52

3.6.4 Về tôn giáo 52

3.6.5 Về quân sự 53

Phần 4 CƠ CẤU KINH TẾ VÀ CÁC NGÀNH KINH TẾ 54

4.1 Tổng quan về An Giang 54

4.2 Tình hình phát triển kinh tế An Giang 60

4.2.1 Ngành nông nghiệp 60

4.2.2 Ngành công nghiệp 65

4.2.3 Dịch vụ - thương mại - xuất nhập khẩu - du lịch 67

Hoạt động xuất nhập khẩu 67

Du lịch tỉnh An Giang 68

Hoạt động của khách sạn- nhà hàng và dịch vụ 70

Các công ty lữ hành 70

Đầu tư du lịch vào tỉnh An Giang 70

4.4 Các dự án kêu gọi đầu tư 71

4.5 Các khu công nghiệp – chế xuất 72

4.6 Giới thiệu khu kinh tế cửa khẩu 73

Kết thúc

Trang 5

BẢNG PHÂN BỐ THỜI GIAN – NỘI DUNG TÌM HIỂU

gif http://cuocsongviet.com.vn http://www.vietgle.vn/trithucviet http://www.angiang.gov.vn http://www.angiang.gov.vn http://cuocsongviet.com.vn

http://vi.wikipedia.org/wiki/An_Giang http://www.vietgle.vn/trithucviet http://khobac.angiang.gov.vn http://sotainguyenmt.angiang.gov.vn

http://www.vietgle.vn/trithucviet http://www.gso.gov.vn

Quốc triều chính biên toát yếu của Quốc sử quán triều Nguyễn

http://sinhvienangiang.org http://vi.wikipedia.org

http://dautumekong.vn http://www.vietgle.vn http://www.vietgle.vn

Tìm được Tìm được Tìm được

Tìm được Tìm được Tìm được Không có

Tìm được Tìm được Không có

Trang 6

http://www.angiang.gov.vn http://sonongnghiep.angiang.gov.vn

http://ven.vn/news http://www.khukinhteangiang.com

http://socongthuong.angiang.gov.vn http://xixam.com/du-lich-phuot/27204-du-lich- giang-tong-quan.html

Trang 7

+ Điểm cực Đông: 105o12'Đ Xã Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới

+ Điểm cực Tây: 104 o46'Đ Xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn

- Giới hạn:

+ Phía tây bắc giáp Campuchia (104 km)

+ Phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang (69,789 km)

+ Phía nam giáp thành phố Cần Thơ (44,734 km)

+ Phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107,628 km)

Trang 8

- Tỉnh An Giang có Thành phố trực thuộc (Long Xuyên) và 2 thị xã (Châu Đốc, Tân Châu) và 8 huyện là:

+ Thành phố Long Xuyên: 11 phường và 2 xã

Trang 9

2.1.2 Đặc điểm của địa hình:

2.1.2.1 Địa hình đồng bằng:

Hình 2 Địa hình đồng bằng ở An Giang

Đồng bằng chiếm khoảng 87% diện tích tự nhiên của tỉnh, là nơi sinh sống của khoảng 89% dân cư toàn tỉnh Đồng bằng cũng được phân thành hai loại là đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi

- Đồng bằng phù sa do phù sa của sông Cửu Long bồi đắp, gồm 2 khu vực:

Trang 10

+ Khu vực 1: Là dãy đất nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu, bao gồm một

phần huyện An Phú và các huyện Tân Châu, Phú Tân và Chợ Mới Địa hình có dạng lòng chảo, cao ở hai bờ sông và thấp dần ở giữa Độ cao trung bình ở ven sông

là 3 - 4 m, ở khu lòng chảo là 1,5 - 3 m Đất chủ yếu là loại cát pha, thích hợp với việc trồng lúa, ngô, cây ăn quả

+ Khu vực 2: Là dãy đất nằm ở hữu ngạn sông Hậu, bao gồm một phần

huyện An Phú, các huyện Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, thị xã Châu Đốc và thành phố Long Xuyên Địa hình hơi nghiêng, thấp dần về phía Tây - Tây Nam Nơi thấp nhất chỉ cao khoảng 0,7 - 1,0 m so với mực nước biển Đất chuyển từ thịt nhẹ đến đất sét, thích hợp cho cây lúa, cây công nghiệp ngắn ngày và cây ăn quả

- Đồng bằng ven núi thuộc kiểu sườn tích (Deluvi) và phù sa cổ Kiểu sườn tích hình thành trong quá trình phong hóa và xâm thực từ các núi đá, độ cao trung bình từ 5 - 10 m, hẹp, độ dốc nhỏ

2.1.2.2 Địa hình đồi núi:

Hình 3 Núi Cô Tô

Vùng đồi núi chiếm khoảng 13% diện tích tự nhiên và 11% dân cư toàn tỉnh Các dãy núi phân bố thành hình vòng cung kéo dài gần 100 km, khởi đầu từ xã Phú Hữu, huyện An Phú, qua xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, bao trùm lên gần hết diện tích huyện Tịnh Biên và huyện Tri Tôn, về tận xã Vọng Thê và Vọng Đông rồi dừng lại ở thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, gồm các cụm núi chính:

Trang 11

- Cụm núi Sập: gồm 4 núi là núi Sập, núi Nhỏ, núi Bà và núi Cậu đều

thuộc địa bàn huyện Thoại Sơn Núi Sập có độ cao 85 m với chu vi 3.800m

- Cụm Ba Thê: có 5 núi cũng nằm trên huyện Thoại Sơn là: núi Ba Thê,

núi Nhỏ, núi Tượng, núi Trọi và núi Chóc Lớn nhất là núi Ba Thê với độ cao 221 m và chu vi khoảng 4.220m

- Cụm núi Phú Cường: có 13 núi nằm trên địa bàn huyện Tịnh Biên gồm

núi Phú Cường, núi Dài Năm Giếng, núi Két, núi Rô, núi Trà Sư, núi Bà Vải, núi Đất Lớn, núi Bà Đắt, núi Cậu, núi Đất Nhỏ, núi Mo Tấu, núi Chùa và núi Tà Nung Cao nhất là núi Phú Cường 282 m với chu vi khoảng 9.500m

- Cụm núi Cấm: có 7 núi nằm giáp ranh giữa huyện Tri Tôn và huyện

Tịnh Biên gồm: núi Cấm, núi Bà Đội, núi Nam Quy, núi Bà Khẹt, núi Tà Lọt, núi Ba Xoài và núi Cà Lanh Núi Cấm cao nhất 705 m với chu vi 28.600m

- Cụm núi Dài: thuộc huyện Tri Tôn có 4 núi: núi Dài, núi Tượng, núi

Nước và núi Sà Lôn Trong đó núi Dài cao 554 m và chu vi là 21.625m

- Cụm núi Tô: có 2 núi là Cô Tô và Tà Pạ, đều thuộc huyện Tri Tôn Cao

nhất là núi Cô Tô 614 m với chu vi 14.375m

- Núi Nổi: nằm độc lập ở huyện An Phú độ cao 10m và chu vi khoảng

Trang 12

kém, dễ bị khô hạn và xói mòn Sản xuất nông nghiệp chỉ được một vụ vào mùa mưa, chủ yếu là trồng cây ăn quả và trồng rừng

2.2 ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN:

2.2.1 Địa chất:

An Giang là 1 trong 2 tỉnh ĐBSCL có đồi núi, hầu hết đều tập trung ở phía Tây Bắc của tỉnh, thuộc 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn Đây là cụm núi cuối cùng của dãy Trường Sơn, nên đặc điểm địa chất cũng có những nét tương

đồng với vùng Nam Trường Sơn, bao gồm các thành tạo trầm tích và

magma

 Các thành tạo magma:

Trên địa bàn An Giang, loại đá núi lửa có tuổi Jura thượng lộ ra ở phía Đông núi Dài, phía tây vồ Bồ Hong của núi Cấm, phía Nam núi Phú Cường (Tà Péc), phía Bắc đồi Sà Lôn Thành phần chủ yếu của loại đá này là andesit và những mảnh vỡ được kết dính lại Đá andesit có màu xám đen, xám xanh đôi khi phối lục Đá có cấu tạo dòng chảy, đôi khi có cấu tạo hạt nhân được lấp đầy bởi carbonat và thạch anh thứ sinh Khoáng vật phụ trong đá có apatit và ít quặng Về thành phần thạch học, đá có hàm lượng oxyt silie(SiO2) là 57-78%, độ kiềm trung bình nhưng thường tăng cao dọc theo ranh giới tiếp xúc với các đá xung quanh

Loại đá granitoit tuổi Jura thượng:

Các hoạt động mạnh mẽ của vỏ trái đất trong thời kỳ tạo sơn đã hình thành nên các khối núi Cô Tô, núi Cấm, bao gồm 2 pha Pha đầu là nhóm đá có thành phần thạch học: diorit, diorit-pyrocene Pha 2 có các loại đá granite màu xám trắng, chứa nhiều mica và horblem, đặc biệt trong đá này chứa nhiều khoáng vật biotite có màu đen tuyền khi bị phong hóa sẽ chuyển sang thành plogopite (mica vàng) có màu vàng lấp lánh

Loại đá granite hồng tuổi Créta:

Đây là pha xâm nhập được xếp vào phức hệ Đèo Cả có tuổi địa chất là Créta Chúng được chia thành 3 pha xâm nhập khác nhau

- Pha 1: có diện tích lộ hẹp, hình thành từng dải có chiều ngang từ 700m đến 800m, phân bổ ở sườn phía Đông của núi Cấm, từ khu Lâm Viên đến tiếp giáp với phía Bắc núi Nam Qui Đá có màu phớt hồng

Trang 13

- Pha 2: xâm nhập chính ở khu vực núi Dài, phía tây Bắc núi Cấm,núi Tượng và các khối núi nhỏ như núi Két, Trà Sư, Ba Thê, Bà Đội Đá có màu hồng

- Pha 3: phân bổ ở các khối núi nhỏ cô lập như núi Sập, thành phần chủ yếu

là granite hạt nhỏ chứa biotite

- Pha đá mạch: thường gặp là ở các mạch aplite, pecmatite có kích thước nhỏ với bề ngang từ vài cm đến vài mét phân bổ rải rác xen kẹp trong các núi Bà Đội, Bà Khẹt, đặc biệt có mạch aplite ở núi Két có bề rộng đến vài mươi mét và là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho kỹ nghệ gạch ceramic

Loại đá micro-granite tuổi Créta:

Các loại đá này được xếp vào phức hệ Cà Ná, phân bổ chủ yếu ở các núi cô lập như núi Sam, núi Trà Sư, núi Nổi Đá có màu xám sáng, hạt nhỏ Nhiều nơi tập trung thành mỏ như mỏ molipdenite ở núi Sam

 Các thành tạo trầm tích:

Ở tỉnh An Giang được phân chia thành các phân vị địa tầng sau:

Loại trầm tích có tuổi Trias-hệ tầng DầuTiếng:

Nó lộ ra ở địa hình đồi núi thấp như các núi Nam Qui,Tà Pạ, Phú Cường với thành phần từ dưới lên trên gồm:

- Phần dưới chủ yếu là cát kết thạch anh, màu xám hoặc đỏ, phân lớp dày

- Phần trên cát kết hạt vừa và hạt thô, thành phần đa khoáng, đôi khi chứa cuội với các thấu kính cuội kết

Loại trầm tích có tuổi Créta-hệ tầng Phú Quốc:

Các loại này xuất hiện ở Tri Tôn, phần cao của núi Nam Qui Thành phần chủ yếu của hệ tầng là cát kết thạch anh –fenspath màu trắng, đôi khi phớt hồng, phân lớp trung bình đến dày, xen kẽ với những cuội kết

Loại trầm tích có tuổi Pleistocene:

Trên diện tích tỉnh An Giang được chia thành các phân vị địa tầng:

Pleistocene thượng có nguồn gốc trầm tích biển, tồn tại 2 kiểu mặt cắt như sau:

- Kiểu mặt cắt thềm biển cổ: tồn tại dưới dạng dải hẹp (chiều ngang từ 2m) viền quanh các khối núi thuộc các xã An Cư, Thới Sơn (huyện Tịnh

Trang 14

1m-Biên) Thành phần trầm tích chủ yếu là cát hạt thô có độ lựa chọn kém lẫn

ít bột và tảng lăn đá gốc

- Kiểu mặt cắt trầm tích biển nông ven bờ: lộ trên mặt dọc kênh Vĩnh Tế, từ

An Phú đến Lạc Quới Thành phần trầm tích chủ yếu là bột, sét và 1 ít sạn sỏi ở phần giáp đáy

Loại trầm tích có tuổi Holocene:

- Holocene trung có nguồn gốc trầm tích biển: Địa bàn An Giang, các trầm tích xếp vào phân vị này lộ trên mặt dưới dạng các dải thềm hẹp với

bề ngang thay đổi từ 1-2km đến 4-5km viền quanh các khối núi ở khu vực Tri Tôn, Ba Thê, núi Sập Chúng được chia thành 2 kiểu mặt cắt như sau:

+ Mặt cắt kiểu thềm biển có thành phần chủ yếu là cát hạt trung-mịn

lẫn bột sét và chứa ít sỏi sạn

+ Mặt cắt kiểu trầm tích biển nông, cửa sông, vũng vịnh chỉ gặp trong

các lỗ khoan độ sâu từ 2-3m và thay đổi từ 2-3m đến hơn 10m Trầm tích chủ yếu là bột, cát, sét, mịn, không nhiều sỏi, sạn ở đáy, có nơi vỏ sò tập trung dạng dải (ám tiêu) như ở khu vực Vọng Thê (huyện Thoại Sơn)

- Holocene trung có nguồn gốc trầm tích sông - biển: Nhóm trầm tích này thường lộ ra rộng rãi trên mặt,chiếm phần lớn diện tích tỉnh An Giang dưới dạng đồng bằng Trầm tích này có quan hệ chuyển tiếp với các trầm tích biển tuổi Holocene giữa, thành phầnchủ yếu là sét, sét bột, bột có màu xám xanh đến nâu, vàng…

- Holocene trung-thượng phần dưới có nguồn gốc trầm tích biển: Nó lộ

ra ở khu vực Ba Chúc, Vĩnh Gia ở dạng đồng bằng thấp (có độ cao 2m) tạo thành dãy uốn lượn kéo dài theo hướngTây Bắc-Tây Nam Thành phần trầm tích gồm sét, cát mịn và không nhiều sạn,sỏi ở đáy

1,5 Holocene trung-thượng phần trên có nguồn gốc trầm tích sông- đầm lầy : Nhóm này phân bố dạng dải trũng thấp, kéo dài theo hướng gần Bắc-

Nam từ núi Sam tới Cô Tô, với bề ngang thay đổi từ 4-5km đến cả chục

km Ngoài ra, chúng còn có mặt không nhiều ở Ba Chúc và Lương Phi Thành phần trầm tích gồm sét, bột, mùn thực vật phân hủy kém, than bùn

- Holocene thượng: được phân thành 2 dạng trầm tích khác nhau:

o Trầm tích sông-đầm lầy: Chủ yếu phân bổ ở Vĩnh Gia, Ba Chúc, An Tức, Tà Đảnh, trên độ cao địa hình 1-2m tạo thành các dải kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam hoặc hướng kênh tuyến.Thành phần chủ

Trang 15

yếu của tầng này là than bùn, xác thực vật, rất ít sét … lấp đầy lòng

sông cổ

o Trầm tích sông: Trầm tích sông còn gọi là trầm tích phù sa mới Chúng

phân bố phổ biến dọc theo 2 bên bờ sông Tiền, sông Hậu và một số sông rạch khác Dải bồi tích có bề rộng không đồng nhất mà thay đổi phụ thuộc vào sự uốn khúc của sông Đặc biệt là những nơi dòng sông đang có sự dời lòng như ởcác xã Phú Hữu, Vĩnh Trường, Vĩnh Hòa (Tân Châu), xã Đa Phước (An Phú), xã Khánh Hòa (Châu Phú) … Chúng tạo nên những bãi bồi được ngăn cách bằng những trũng nhỏ dưới dạng những con rạch (xép) Thành phần trầm tích chủ yếu là bột sét và cát mịn Tùy thuộc vào điều kiện và môi trường thành lập mà

chúng được chia thành các kiểu trầm tích:

Trầm tích đê tự nhiên : Là dải đất khá cao, phát triển dọc 2 bên

bờ sông, rạch lớn do vật liệu các trận lũ bồi đắp nên Bề ngang các dải đê tự nhiên từ vài chục mét, có nơi đến vài km, do sự chuyển dịch liên tục của dòng sông như ở Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), rạch Cỏ Lau ở Vĩnh Hòa (Tân Châu) Đê tự nhiên trở thành đất thổ cư, khu đô thị, đường giao thông

Trầm tích bƣng sau đê : Thường xuất hiện ngay sau đê hoặc giữa các đê tự nhiên,là nơi có địa hình hơi trũng, vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bột Bưng sau đê thường được dùng cho trồng lúa; dễ bị lầy hóa, ngập úng

Trầm tích đồng lụt (hay là đồng phù sa) : Đây là diện tích bị ngập lũ hàng năm Do mặt đất trải rộng, thời gian ngập lũ lâu nên đồng lụt là một bồn khổng lồ để phù sa mịn hạt của sông trầm lắng Càng xa sông, lớp phù sa trầm lắng càng mịn hạt và ít dần

Trầm tích bƣng lầy và trấp : Là các trũng nhỏ, dạng nằm cách xa sông, đất không có điều kiện thấm nước và thoát nước, nên độ

ẩm duy trì suốt năm Đây là nơi tiếp giáp giữa đồng lụt thấp và thềm bồi tích chân núi Trầm tích chủ yếu là xác bã thực vật sinh sống trong môi trường đầm lầy, khi chết tạo thành lớp hữu cơ dày 1-2m, vượt quá 20% trong đất Bưng lầy lúc đó gọi là đất trấp Ở An Giang, bưng lầy và trấp phân bố thành đai kéo dài ở phía Đông của vùng Bảy Núi…

Trang 16

Cồn sông (hay là cù lao sông), doi sông mới là phần đất phát triển ngang được nhô ra do dòng sông dịch chuyển hướng dòng chảy đi nơi khác, vật liệu thô thường được bẫy lại Thành phần chủ yếu là cát thô và bột Đây là phần trầm tích đáy của lòng sông Hậu và sông Tiền Cồn sông có địa hình không bằng phẳng, nó được bao bọc bởi gờ cao chung quanh, ở giữa cồn thường có địa hình lồi lõm, dấu vết của quá trình gắn liền những cồn sông cổ lại với nhau Nơi có cơ cấu cây trồng rất đặc biệt, gồm các loại cây ăn trái và màu

Có nhiều chủng loại, bao gồm các loại đá trầm tích và magma, phân bố tại

các khu vực núi Tà Pạ, Nam Qui, Phú Cường, Cô Tô, Trà Sư… Phạm vi sử dụng cũng đa dạng như: đá trải đường, đá xây, đổ bêtông

- Loại đá granit: Đá granit ở An Giang có 2 nhóm:

o Nhóm sáng màu mịn hạt: phân bố ở

núi Trà Sư, núi Két, núi Bà Đội

(Tịnh Biên), núi Sập, núi Ba Thê

nhỏ, núi Tượng, núi Chóc, núi Trọi

(Thoại Sơn).Khai thác đá Granit

o Nhóm sậm màu hạt thô: phân bố ở

núi Cô Tô, núi Ba Thê Trữ lượng dự

báo ước tính khoảng 11 triệu m3

- Loại đá phun trào: Ở khu vực phía

Hình 4 Khai thác đá Granit

Trang 17

Nam của núi Dài, núi Phú Cường, núi Sà Lôn và phía Nam núi Cấm Đá có màu xanh đen, cường độ chịu lực không cao (700-1000kg/cm2) nhưng lại khó vỡ và sử dụng tốt cho các công trình dân dụng

- Cát núi: nằm theo triền hoặc trong

các trũng giữa núi Cấm và núi Dài thuộc các

xã An Cư, Thới Sơn, là sản phẩm trầm tích

do dòng nước mang cát từ trên triền cao của

các thềm cổ tích tụ mà thành Thường có

màu trắng tương đối thô hạt và độ chọn lựa

yếu.Khai thác cát trên sông Hậu

- Cát sông: Cát vàng phục vụ cho xây

dựng ở Tân Châu (sông Tiền) đã nổi tiếng

Những bãi cát sông có khả năng khai thác

xuất hiện trên sông Tiền và sông Hậu với tổng lượng khai thác hàng năm gần 2 triệu khối Trên sông Tiền có 4 khu vực và sông Hậu có 8 khu vực

c) Đất sét gạch ngói:

Các vùng đất nông nghiệp ở Châu

Thành, Châu Phú đều thích hợp cho sản xuất

gạch ngói Đất có nguồn gốc từ phù sa sông

hiện tại Chỉ cần khai thác ở lớp đất bề mặt

dày 0,2 - 0,3m là có thể đủ để cung cấp cho

hơn 400 nhà máy sản xuất gạch ngói lớn nhỏ

trong toàn tỉnh Sau đó, chỉ trong vòng 2 - 3

mùa ngập lũ phù sa lại lấp đầy như cũ Sét

granite, granodiorite, rhyolite có nhiều màu sắc

rất được ưa chuộng trong trang trí cao cấp Cụ

thể có các loại đá ốp lát như: granite hồng xen

đốm đen, hoa văn nhỏ, granodiorite con tằm có

Hình 5 Khai thác cát trên sông Hậu

Hình 7 Sản xuất đá ốp lát

xuất khẩu Hình 6 Phơi gạch

Trang 18

màu xám xanh, hoa văn dạng đốm lớn hình da báo, granite hồng ở khu mỏ Ô Mai… Ngoài ra, còn có đá phiến đen ở núi Phú Cường, núi Nam Qui Những mỏ đá có thể khai thác làm đá ốp lát:

+ Mỏ đá núi Cấm, chủ yếu nằm trên sườn Đông Nam núi Cấm, xen giữa dãy núi Cấm và núi Nam Qui

+ Mỏ đá Gập Ghềnh: ở phía Bắc núi Dài nhỏ và là 1 phần rất nhỏ khối granite thuộc pha 2 phức hệ Đèo Cả tuổi kareta thuộc xã An Phú (Tịnh Biên)

b) Đá aplite:

Đá aplite ở An Giang đã được khai thác cung cấp cho các nhà máy sản xuất gạch ceramic Đồng Tâm, An Giang và Thành phố HCM Bên cạnh aplite, những mạch pecmatic chứa tràn kali và natri rất quí cho công nghiệp gốm sứ, sành sứ được tìm thấy ở núi Sập và khu vực Bảy Núi

c) Vỏ sò:

Mỏ vỏ sò ở An Giang được hình thành trong vùng cửa sông, nằm trong cảnh quan chung miền Tây - Tây Nam sông Hậu và những khối vỏ sò nằm rải rác, kéo dài theo hướng Tây Nam - Đông Bắc Khối lượng mỗi mảnh sò có thể là 0,2 - 0,5kg Càng xuống sâu vỏ sò càng lớn Chúng phân bố thành những khối với bề mặt đáy bằng phẳng, vách dốc Chiều dày trung bình lớp phủ của các khối thay đổi từ 0,69 đến 1,55m, chiều dày trung bình của khối vỏ sò từ 6,83 đến 7,55m Các di tích

vỏ sò này được hình thành trong điều kiện cửa sông vào Holocene giữa muộn.Thành phần hóa học vỏ sò chủ yếu là oxyt canxi (CaO) chiếm 54,20 - 54,91% Ngoài ra trong vỏ sò còn chứa 1 ít hàm lượng oxytmahe (MgO) và oxit silic (SiO2), được sử dụng vào công nghệ sản xuất xi-măng trắng và làm phối liệu trong phân NPK

d) Đất sét:

- Đất sét cao-lanh An Giang: chủ yếu tập trung ở vùng Bảy Núi do quá trình

phong hóa của các đá mang khoáng này ở núi Cấm, núi Dài, núi Cô Tô, núi Nam Qui, núi Tà Pạ… Đây là nguồn vật liệu làm sứ cách điện cao cấp Cao-lanh ở đây

có 2 nguồn gốc tạo thành:

+ Nguồn gốc phong hoá tại chỗ của các đá cát kết, bột kết giàu fenspath

thuộc trầm tích Créta hệ tầng Phú Quốc và của granit sáng màu, giàu fenspath

+ Nguồn gốc trầm tích: của các đá giàu fenspath bị phá hủy do các điều kiện

lý hóa, rửa trôi và trầm tích trong các trũng giữa núi Đất sét cao-lanh không chỉ dùng trong sản xuất sành sứ, mà còn nhiều công dụng như: làm khung xương gạch

Trang 19

men cao cấp, tinh chế làm chất mang trong dược liệu, làm thủy tinh đục, bột sơn, chất mang của thuốc trừ sâu

- Đất sét bentonite: một loại đất chứa nhiều khoáng montmorillonite Nguyên

liệu rất thông dụng trong công nghiệp, đặc biệt dùng làm chất tẩy rửa và hút nhờn, nên chúng được sử dụng làm chất tẩy rửa dầu nhớt và làm dung dịch trong các giếng khoan dầu nhớt Bentonite ở An Giang được tìm thấy tại xã Lê Trì huyện Tri Tôn, với trữ lượng khá lớn

2.2.2.3 Đá quí, ngọc và quặng mỏ:

a) Đá quí và ngọc:

Ở núi Nam Qui và núi Tà Pạ, thỉnh thoảng người dân địa phương nhặt được những viên đá quí lộ ra ở những đoạn đường trải đá núi, đó là các loại mã não, các cây hóa thạch.Một số vùng rìa tiếp xúc giữa đá granit với đá xung quanh phát sinh 1

số loại đá quí khác như hồng ngọc Một số loại thạch anh ám khói, thạch anh tím được tìm thấy trong các mạch pecmatic ở Ba Thê, núi Két…

b) Than bùn:

Các mỏ than bùn ở An Giang được phân bố chủ yếu ở khu vực Bảy Núi thuộc 2 huyện Tịnh Biên, Tri Tôn Trữ lượng dự báo của các mỏ than bùn của tỉnh khoảng 7.632.430 tấn (cấp A + B + C1) và tổng tiềm năng là 16.886.730 tấn Hầu hết các mỏ đều có chất lượng than bùn tốt, đáp ứng được yêu cầu sản xuất phân hữu

cơ vi sinh và acid humic.Có 2 loại than bùn khác biệt nhau: Than bùn dạng vỉa ở các mỏ Núi Tô, Tà Đảnh, Ba Chúc, và than bùn dạng dải theo các lòng sông cổ ở

An Tức, Vĩnh Gia

c) Diatomite:

Ở An Giang, diatomite được phát hiện ở Lê Trì (Tri Tôn) nằm cách mặt đất

từ 1,8-2,2m Bề dày bình quân khoảng 1,7-2m, trữ lượng dự báo khoảng từ 800.000 đến 1.000.000 tấn Các loại diatomite có ở đây đều lẫn sắt hoặc chất hữu cơ rất cao, nên thường có màu xám đen hoặc vàng Do vậy, màu trắng và tính ròng của diatomite An Giang là vô cùng đặc sắc; có thể sử dụng rộng rãi trong công nghiệp lọc hoạt tính, đặc biệt là lọc bia, rượu, dầu ăn

d) Quặng kim loại:

- Quặng molipden: Đã được người Nhật khai thác từ hơn 40 năm trước mà

miệng hầm mỏ vẫn còn ở núi Sam Mạch quặng molipdenit có màu xám đen đi kèm với đá pecmatic Ngoài ra, molipden còn được phát hiện trong 1 số mạch đá ở núi Trà Sư, núi Két nhưng không nhiều

Trang 20

- Quặng mangan: Là lớp bột màu tím đỏ hoặc tím đen (MnO2), phân bố ở

Tà Lọt Loại khoáng này đã được khai thác từ năm 1936 Quặng mangan thường đi kèm với sắt ở trong đá trầm tích bị biến chất

2.2.2.4 Nước khoáng thiên nhiên:

Ở An Giang, đặc biệt là ở vùng Bảy Núi, các khu mội nước khoáng thường tìm thấy dọc theo các đới đứt gãy tân kiến tạo

- Dọc theo trục đứt gãy phân cắt núi Phú Cường và núi Dài, núi Cấm và núi Dài hình thành nơi thung lũng Ô Tà Sóc (Tri Tôn) có 6 điểm lộ nước khoáng: núi Cậu, An Cư-nằm về phía Bắc núi Phú Cường, Soài Chết, Suối Vàng, Sà Lôn và Tà

Pạ Tại các điểm này, nước có tổng độ khoáng hóa từ 500mg/l đến 2.750mg/l

- Hệ thống thứ hai nằm dọc theo trục đứt gãy chia cắt núi Két và núi Dài (dọc theo trục tỉnh lộ Nhà Bàn-Tri Tôn) gồm các điểm lộ:

+ Điểm lộ Nhà Bàn, xuất hiện phía dưới Bắc núi Két.l Điểm lộ Vĩnh Trung, xuất hiện nhiều giếng đào chứa nước khoáng

+ Điểm lộ Chi Lăng, nước khoáng xuất hiện trong nhiều giếng cạn ở trung tâm thị trấn Chi Lăng

+ Khu mội Tri Tôn, xuất hiện phía Bắc thị trấn Tri Tôn

+ Khu mội Cô Tô, không tìm thấy điểm lộ thiên nhưng qua các giếng khoan

đã tìm ra nước khoáng ở độ sâu 123m

2.3 KHÍ HẬU:

2.3.1 Khái quát khí hậu:

Mang tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm

2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khí hậu:

2.3.2.1 Vị trí địa lý:

Quyết định tính chất nhiệt đới gió mùa nóng ẩm của tỉnh An Giang

2.3.2.2 Địa hình:

Do là đồng bằng nên khí hậu đồng nhất trên toàn tỉnh

An Giang nằm sâu trong đất liền nên ít chị ảnh hưởng của gió bão

2.3.2.3 Hoàn lưu khí quyển:

Trang 21

An Giang chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió là: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc Gió Tây Nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa Gió mùa Đông Bắc thổi vào An Giang xuất phát từ biển nhiệt đới phía Trung Quốc, nên có nhiệt độ cao hơn vùng băng tuyết Si-bê-ri và có độ ẩm lớn hơn, không tạo ra rét, mà chỉ hanh khô, có phần nắng nóng

Các yếu tố khí tượng:

a Mây:

Lượng mây ở An Giang tương đối ít Trong mùa khô, có khi trời có mây nhưng vẫn nắng Trong mùa mưa, lượng mây thường nhiều hơn Lượng mây trung bình tháng của các tháng mùa khô là 3,1/10 và của các tháng mùa mưa là 6,9/10.N

b Nắng:

An Giang có mùa nắng chói chang, trở thành địa phương có số giờ nắng trong năm lớn kỷ lục của cả nước Bình quân mùa khô có tới 10 giờ nắng/ngày ; mùa mưa tuy ít hơn nhưng cũng còn tới gần 7 giờ nắng/ngày Tổng tích ôn cả năm lên trên 2.400 giờ

c Nhiệt độ:

Nhiệt độ trung bình ở An Giang không những cao mà còn rất ổn định Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong mùa khô chỉ hơn kém nhau khoảng 1,5° đến 3° ; còn trong các tháng mùa mưa chỉ vào khoảng trên dưới 1° Nhiệt độ cao nhất năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao động trong khoảng 36°- 38° ; nhiệt độ thấp nhất năm thường xuất hiện vào tháng 10 dưới 18° (năm 1976 và 1998)

d Gió:

An Giang, mùa khô gió thịnh hành là Đông Bắc, còn mùa mưa là gió Tây Nam – gió Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất.Tốc độ gió ở đây tương đối mạnh, trung bình đạt tới trên 3m/giây Trong năm, tốc độ gió mùa hè lớn hơn mùa Đông An Giang là tỉnh nằm sâu trong đất liền Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng gió bão

e Mưa:

Ở An Giang, mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11 Tổng lượng mưa mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa năm Lượng mưa mùa mưa lớn lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông dồn về hạ lưu nên đã gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống

f Bốc hơi:

Trang 22

Trong mùa khô do nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn, bình quân 110mm/tháng (vào tháng 3 có tới 160mm) Trong mùa mưa, lượng bốc hơi thấp hơn, bình quân 85mm/tháng, nhỏ nhất khoảng 52mm/tháng xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10, là thời kỳ có mưa nhiều, độ ẩm cao

g Độ ẩm:

Ở An Giang, mùa có độ ẩm thấp (nhỏ hơn 80%) thường bắt đầu từ tháng 12

và kéo dài đến tháng 4 năm sau Nghĩa là mùa có độ ẩm thấp trùng với mùa khô Mùa khô độ ẩm ở thời kì đầu là 82%, giữa 78%, và cuối còn 72%.Mùa mưa ở đây thật sự là một mùa ẩm ướt Độ ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa đều 84%, cá biệt có tháng đạt xấp xỉ 90%

Ngoài các yếu tố khí tượng nói trên, An Giang còn có các hiện tượng thời tiết cần lưu ý như: lốc xoáy-vòi rồng-mưa đá, hạn Bà Chằn, ảnh hưởng của Elnino và Lanina

2.4 THUỶ VĂN:

2.4.1 Khái quát:

An Giang nằm ở thượng nguồn sông Cửu Long, đoạn hạ lưu của sông Mê

Kông, có nhiều sông lớn chảy qua Ngoài ra, tỉnh còn có một hệ thống rạch tự nhiên

và các kênh đào nằm rải rác khắp nơi, tạo thành mạng lưới giao thông thủy lợi chằng chịt với mật độ sông ngòi là 0,72 km/km2

từ xã Vĩnh Hội Đông, nơi giao nhau giữa sông Tà Keo (chảy từ Campuchia qua) và sông Bình Di, chảy qua xã Đa Phước, đến thị xã Châu Đốc thì nhập vào sông Hậu, dài khoảng 18 km

Chế độ thủy văn của An Giang phụ thuộc chặt chẽ vào chế độ nước sông Mê Kông Hằng năm, có khoảng 70% diện tích tự nhiên bị ngập lụt với mức nước phổ biến từ 1 - 2,5 m, thời gian ngập lụt từ 2,5 - 4 tháng Điều này gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân

Trang 23

Trong đó rạch Ông Chưởng và rạch Long Xuyên là quan trọng nhất

2.4.3.2 Mạng lưới kênh đào được khai mở qua các thời kỳ:

Hệ thống kênh trên địa bàn tỉnh được phân thành 3 cấp, với chiều dài tổng cộng khoảng 5.171 km, đạt mật độ 1,5 km/km2 Năng lực giao lưu nước lớn nhất vào mùa lũ khoảng 7.500 m3/s và nhỏ nhất vào mùa khô khoảng 1.650 m3

/s, có tác dụng tích cực trong việc khuếch tán dòng chảy lũ - phù sa - triều vào sâu nội đồng

để tiêu lũ trong mùa mưa, chuyển tải ngọt đuổi mặn trong mùa khô, thay nhau rửa phèn vào đầu và cuối mùa mưa Sau đây là một vài tuyến kênh chính:

sông Mê Kông Điển hình là hai hồ Búng Bình Thiên Lớn và Búng Bình Thiên

Nhỏ, nằm giữa sông Bình Di và sông Hậu, thuộc xã Khánh Bình, huyện An Phú

Nguồn nước cung cấp cho hai hồ là sông Hậu và sông Bình Di Vào mùa khô, Búng

Trang 24

Bình Thiên Lớn có diện tích mặt nước là 193 ha, độ sâu trung bình khoảng 6 m; Búng Bình Thiên Nhỏ lần lượt là 10 ha và 5 m Chung quanh hai hồ là các gò đất cao từ 3 - 4 m, có các cửa thông với sông Vào mùa mưa, khi lũ lên cao, nước lũ tràn bờ, chảy vào lấp đầy hồ, làm chìm ngập hai hồ trong biển nước mênh mông Hiện tại, hai hồ chỉ được khai thác nguồn thủy sản tự nhiên, trong tương lai sẽ được cải tạo để nuôi trồng thủy sản và khai thác du lịch

Ngoài ra, trên địa bàn thành phố Long Xuyên còn có hồ Nguyễn Du, cũng là

hồ tự nhiên được hình thành từ một nhánh nhỏ của sông Hậu, tạo nên một thắng cảnh đẹp giữa lòng thành phố Các hồ nhân tạo được xây dựng ở vùng đồi núi Tri Tôn - Tịnh Biên vào những năm 1986 - 1994 như: hồ Soài So, hồ Ô Tức Xa, hồ Cây Đuốc Ngoài tác dụng cung cấp nước sinh hoạt, các hồ này còn hỗ trợ nước tưới cho hoa màu và các loại cây trồng khác, phục vụ đắc lực cho công tác trồng rừng phủ kín đồi trọc, phòng chống cháy rừng và phòng chống sa mạc hóa đất đồng bằng ven núi, góp phần cải tạo môi trường, tạo cảnh quan hấp dẫn cho du lịch sinh thái

Trang 25

trường vũng vịnh biển nông, trên đó rừng ngập mặn phát triển mạnh mẽ như đước,

sú, mắm…Các loại thực vật này thường tích lũy chất lưu huỳnh trong thân và rễ dưới dạng các hợp chất hữu cơ Khi những khu rừng này bị vùi lấp, xác của chúng được các vi sinh vật yếm khí phân hủy và thải lưu huỳnh ra môi trường dưới dạng sunfit Chúng kết hợp với các ion kim loại sắt, nhôm vừa được dòng nước mang đến

từ lục địa tạo thành những lớp đất chứa nhiều pyrite.Pyrite chứa trong tầng trầm tích đầm lầy còn gọi là tầng phèn tiềm tàng, nhưng chúng lại dễ bị oxy hóa trong điều kiện tiếp xúc với không khí.Dựa trên nguồn gốc hình thành và mức độ nhiễm phèn trong đất, có thể chia đất phèn ở An Giang thành các loại tầng đất sinh phèn (phèn tiềm tàng), tầng đất than bùn chứa phèn, đất nhiều phèn và đất bị nhiễm phèn

a) Nhóm đất phèn tiềm tàng:

Ở An Giang xuất hiện chủ yếu ở địa bàn các xã Vọng Thê, Vọng Đông (Thoại Sơn), Ô Long Vĩ, Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), Tân Tuyến, Tà Đảnh (Tri Tôn), Tân Lợi (Tịnh Biên)… Tuy nhiên, tùy thuộc vào địa hình, bề dày tầng phủ bên trên và mức độ sinh phèn khác nhau, ở một xã như Vĩnh Phú, Thoại Giang, Tây Phú, Vọng Thê tầng sinh phèn xuất hiện ở độ sâu 80-100cm cách mặt đất, càng đi

về hướng Tây Nam bề dày tầng phủ càng giảm, tầng phèn xuất hiện gần mặt đất hơn.Hầu hết đất phèn tiềm tàng có thành phần chủ yếu là sét (40,83%), bột 45,13%, cát mịn 4,15%

b) Đất phèn nhiều:

Đây là loại đất chưa phát triển có phèn hoạt động rất mạnh, bên dưới là tầng sinh phèn Loại này phân bố ở các thung lũng hẹp phía Tây và Đông của vùng Bảy Núi Chúng hình thành một vành đai gần như khép kín vùng đồi núi, bắt đầu từ kênh Vĩnh Tế qua An Nông, vòng qua thung lũng giữa Lạc Quới và núi Phú Cường đến kênh Mới, chạy dọc theo kênh Tám Ngàn nối thông qua Tri Tôn.Thành phần hạt độ chủ yếu là sét chiếm 41,31%, bột 36,68%, cát 4,75%

c) Đất phèn ít:

Bao gồm đất phù sa phát triển bị nhiễm phèn và đất nhiễm phèn nặng được thuần thục và rửa trôi Loại này thường phân bố ở những nơi có địa hình tương đối cao, có sự bồi đắp khá nhiều của phù sa nên tầng phèn tiềm tàng bên dưới được che phủ khá dày (80-100cm), khả năng bị nhiễm phèn nhẹ Bên cạnh đó, những vùng trước đây bị nhiễm phèn nhưng do có địa hình cao, khả năng rửa trôi tốt nên dần dần đất trở nên ít nhiễm phèn.Thành phần hạt độ hàm lượng sét trong loại đất này rất cao (60-63,9%), bột và cát ít, chứng tỏ đất có độ thoát, thấm nước kém và dẻo

Trang 26

chặt, phân bố dọc dưới chân núi Cô Tô, vùng ranh giới của huyện Thoại Sơn và Châu Thành

d) Đất than bùn chứa phèn:

Loại đất này được đặc trưng bởi lớp than bùn dày, xốp bên dưới thường phân

bố dọc theo các thung lũng sông cổ và lung đìa Trong đất than bùn độ khoáng tương đối thấp và nghèo nàn nhưng bù lại hàm lượng đạm rất cao; được phân bố dọc theo thung lũng sông cổ ở Tri Tôn, ven theo các cánh rừng tràm Trà Sư, một số

ở các xã Lương An Trà, Tà Đảnh

2.5.2.2 Nhóm đất phù sa:

Đất phù sa ở An Giang có nguồn gốc và môi trường trầm tích đa dạng, do nhiều yếu tố tác động đến môi trường trầm tích, qui mô trầm tích, chế độ trầm tích cũng như vật liệu trầm tích đã tạo nên những loại đất khác nhau Đặc tính chung của đất phù sa ở đây là chứa nhiều hữu cơ, pH thấp, ít bị bào mòn, xâm thực mà chủ yếu luôn được bồi đắp hàng năm với mức độ khác nhau trong những điều kiện trầm tích khác nhau Diện tích khoảng 1.354 ha.Có 2 đơn vị trầm tích là đồng lụt hở và đồng lụt trung tâm.Đồng lụt hở với đặc trưng là địa hình thấp dần khi càng xa sông

và nước lũ chi phối mạnh mẽ

a) Đất phù sa trên đồng lũ:

Đồng lụt trung tâm giữa sông Tiền và sông Hậu được xác định bởi đặc trưng

là chiều dày lớn nhờ lún đáy liên tục và lượng phù sa bồi đắp nhiều.Ở An Giang, nhóm đất phù sa chiếm 44,27% tổng diện tích đất toàn tỉnh với khoảng 156.507 ha, chủ yếu phân bố ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, An Phú, Tân Châu, Thoại Sơn, Chợ Mới và một phần của thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc Nhóm đất này bao gồm các nhóm:

b) Đất cồn bãi:

Phân bố chủ yếu ven sông Tiền, sông Hậu và một phần nhỏ trên sông Vàm Nao, gồm doi sông, cồn sông Đất do phù sa sông Tiền, sông Hậu bồi đắp, hàm lượng dinh dưỡng cao, không chứa ion gây độc cho cây trồng Hiện trên địa bàn An Giang có 22 cồn sông Những bãi bồi đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, dân địa phương gọi là cồn như cồn Béo, cồn Tiên ở Vĩnh Hòa, cồn Én ở Tấn Mỹ, cồn Khánh Bình của xã Khánh Hòa… Những cù lao được hình thành lâu đời, có diện tích lớn như cù lao Ông Hổ, cù lao Phó Ba, cù lao Bắc Nam, cù lao Ka Tam Bong, cù lao Bình Thủy.Theo thống kê toàn tỉnh có các cồn và cù lao như sau:

- Trên sông Tiền:

Trang 27

o Cồn Tào ở xã Vĩnh Hòa, huyện Tân Châu

o Cồn Cỏ Găng ở xã Vĩnh Hòa, huyện Tân Châu

o Cồn Béo ở xã Vĩnh Hòa, huyện Tân Châu

o Cồn Cả ở xã Phú An, huyện Phú Tân

o Cù lao Giêng bao gồm 3 xã Tấn Mỹ, Mỹ Hiệp, Bình Phước Xuân, huyện Chợ Mới

o Cồn Én ở phía Bắc cù lao Giêng thuộc xã Tấn Mỹ (Chợ Mới)

o Cồn Phước ở Mỹ Luông, huyện Chợ Mới.- Trên sông Hậu:

o Cù lao Vĩnh Lộc ở xã Vĩnh Lộc, huyện Tân Châu

o Cù lao Bắc Nam ở xã Phú Hữu và xã Quốc Thái, huyện An Phú

o Cù lao Ba ở xã Vĩnh Trường, huyện An Phú

o Cù lao Cỏ Túc ở xã Vĩnh Trường (An Phú)

o Cù lao Hà Bao nằm phía Nam của cù lao Vĩnh Trường (An Phú)

o Cù lao Ka Tam Bong (còn gọi là cù lao Khánh Hòa)

o Cồn Khánh Bình nằm về hướng Bắc của cù lao Ka Tam Bong ở xã Khánh An

o Cù lao Bình Thủy nằm giữa rạch Năng gù và sông Hậu ở xã Bình Thủy, huyện Châu Phú

o Cù lao Thị Hòa (còn gọi cồn Bà Hòa) ở xã Bình Thạnh, huyện Châu Thành

o Cù lao Ông Hổ (còn gọi cù lao Mỹ Hòa Hưng) ở thành phố Long Xuyên

o Cồn Phó Ba ở ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Hòa Hưng

o Cồn Phó Quế ở phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên

o Cồn Tiên nằm về hướng Đông Bắc cù lao Mỹ Hòa Hưng, xã Mỹ Hòa Hưng

o Cồn An Thạnh ở xã Hòa Bình, huyện Chợ Mới

- Trên sông Vàm Nao:

o Cồn Tân Hòa ở xã Tân Hòa, huyện Phú Tân - Địa bàn An Giang có khoảng 13 doi sông:

o Trên sông Tiền có doi sông Vĩnh Xương, doi Vĩnh Hòa, doi Long Sơn, doi Chợ Vàm, doi Kiến An

o Trên sông Hậu có doi sông Phước Hưng, doi Phú Hữu, doi Khánh

An, doi Đa Phước, doi Cái Dầu, doi Phú Bình, doi Mỹ Bình Đây là vùng đất có nguồn gốc trầm tích ven sông, được xếp vào nhóm đất phù sa nâu tươi bồi, thoát thủy tốt

Trang 28

- Nhóm đất phù sa xám nâu được bồi, ít hữu cơ: Nhóm đất phù sa nầy

chiếm một diện tích khá lớn ở 4 huyện cù lao: Chợ Mới, Phú Tân, An Phú, Tân Châu và dải cánh đồng ven sông Hậu thuộc huyện Châu Phú, Châu Thành Đây là phần đất bị ngập nước hàng năm vào mùa lũ, địa hình khá bằng phẳng và trải rộng, vật liệu trầm tích chủ yếu là sét, bột, lẫn chất hữu cơ, bề dày lớp phù sa từ 1 – 2m Hiện nhóm đất này chiếm diện tích khoảng 24.455 ha, dùng để trồng lúa 2 vụ là chủ yếu

- Nhóm đất phù sa xám nâu ít được bồi: Nhóm đất này thường phân bố ở

những địa hình thấp, có cao trình từ 1,0-1,2m, đôi khi trũng cục bộ từ 0,8-1m, thường ở sâu nội đồng, cách xa sông Hậu, sông Tiền và rạch Long Xuyên.Đất có độ phát triển cao từ tầng mặt đến độ sâu 60cm, nhưng ngược lại ở tầng dưới, do đặc tính nước còn ngập nên đất còn ở trạng thái khử và chưa phát triển.Nhóm đất này chiếm diện tích khoảng 44.525ha, trong đó tập trung nhiều ở vùng ven các xã Ô Long Vĩ, Đào Hữu Cảnh,Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), Tân Lập (Tịnh Biên), Vĩnh

An, Tân Phú (Châu Thành), Tây Phú, Vĩnh Nhuận, Vĩnh Phú (Thoại Sơn), một phần nhỏ của huyện Chợ Mới và thị xã Châu Đốc

- Nhóm đất phù sa có phèn: Phân bố chủ yếu tập trung ở các huyện Châu

Thành, Châu Phú, Thoại Sơn, Tri Tôn với tổng diện tích 84.872ha, chiếm 24,7% tổng diện tích đất trồng toàn tỉnh Đất có nguồn gốc chủ yếu là bưng sau đê, địa hình thấp từ 0,8-1m và khá bằng phẳng.Tùy thuộc vào mức độ chứa phèn và phát triển, nhóm đất này có thể chia thành:

o Đất phù sa có phèn trung bình, ít được bồi, chưa phát triển

o Đất phù sa có phèn trung bình, ít được bồi, phát triển

o Đất có phản ứng hơi chua, pH từ 4,7-5,5, đặc biệt lượng nhôm di động và độ acid tổng số gia tăng nhanh từ độ sâu 90cm trở đi.Nhóm đất này chủ yếu thuộc địa hình thấp, có mức độ bồi tụ yếu

- Nhóm đất phù sa cổ: Có tổng diện tích khoảng 94.446 ha, chiếm 27,68%

tổng diện tích đất ở An Giang, chủ yếu phân bố ở những nơi có địa hình cao (ruộng trên) thuộc 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Chúng hình thành nên dãy đồng bằng quanh núi như khu vực quanh núi Dài, núi Cấm, cánh đồng ven kênh Vĩnh Tế giáp biên giới CPC Đất phù sa cổ không gây độc cho cây trồng nhưng nghèo dinh dưỡng và độ thoát thủy, tơi xốp kém Tuy nhiên, do ảnh hưởng phù sa mới của sông Hậu, qua các đợt lũ tràn về, nên đã hình thành tầng mặt mới, trộn lẫn với nhiều chất hữu cơ thứ sinh đã tạo thành tầng tích tụ mùn khá dày, thích hợp cho cây trồng

2.5.2.3 Nhóm đất đồi núi

Trang 29

Là nhóm đất được hình thành từ quá trình phong hóa, xâm thực của các đồi núi đá Sau đó bị các dòng lũ mang xuống tích tụ thành những vành đai thổ nhưỡng xung quanh núi dưới dạng: yếm phù sa, viên chùy, rảnh xói và đất phong hóa.Đất đồi núi chủ yếu phân bố tại 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, một phần nhỏ ở huyện Thoại Sơn (vùng Ba Thê) Tổng diện tích đất đồi núi ở An Giang khoảng 29.320 ha, chiếm 8,6% tổng diện tích đất của tỉnh.Đất đồi núi được phân thành các loại sau:

a) Đất sườn tích tại chỗ:

Chủ yếu là đất phong hóa của đá gốc rồi trầm tích tại chỗ dọc theo các sườn núi Tùy theo địa hình dốc đứng hay lài mà có chiều dày sườn tích khác nhau, nhưng thường không quá 5m Đất phong hóa ở núi Cấm, núi Phú Cường, Tà Pạ, núi Đất có bề dày tương đối giàu dinh dưỡng và thành phần cơ giới lớn, có tỷ lệ giữa cát và sét tương đối thấp từ 1,25-1,8 Ngược lại đất sườn tích của các núi có cấu tạo

đá granitoit thường nghèo dinh dưỡng, tỷ lệ cát và sét từ 2,5-2,8, thường cát chiếm

từ 68-70% Loại này phân bố khá nhiều ở các núi Cô Tô, núi Dài nhỏ, núi Trà Sư, núi Bà Đội, núi Két…

b) Đất yếm phù sa:

Đất yếm phù sa thường có tỷ lệ sét kao lin ít Loại đất này phân bố thành vành đai thấp chạy dài từ chân đồi Tức Dụp đến Ba Chúc, Lê Trì (Tri Tôn) Thành phần chủ yếu là sét, sét pha, với hàm lượng chất hữu cơ thường cao Đất có màu xám đen

c) Đất thềm cao:

Là loại đất cát, phân bố quanh chân núi mà người dân gọi là đất “ruộng trên”, phân bố chủ yếu thành dãy ruộng dọc theo chân núi Dài, núi Cấm và vành đai xung quanh cụm núi Dài, núi Két, núi Trà Sư thuộc địa phận các xã Văn Giáo, Thới Sơn,

An Cư, Xuân Tô (Tịnh Biên) và các xã Châu Lăng, Núi Tô (Tri Tôn).Đất dọc theo các rảnh núi, khe núi: Gồm cát, sạn sỏi bở rời từ trên núi do mưa lũ kéo xuống, tích lại theo các rảnh núi, khe núi mà thành Thông thường phân bố thành những thửa ruộng bậc thang, càng xuống chân núi càng rộng Đất chủ yếu là cát, có lẫn 1 ít chất hữu cơ, phân bố ở các xã Lương Phi, Châu Lăng, Lê Trì (thung lũng giữa núi Cấm và núi Dài), các xã An Cư, Nhơn Hưng, Văn Giáo (Tịnh Biên)

2.6 SINH VẬT:

Do khí hậu thuận lợi và đất đai màu mỡ nên động thực vật ở An Giang phát triển phong phú, có nhiều loài Năm 2003, toàn tỉnh có 583 ha diện tích rừng tự nhiên và 11.8884 ha diện tích rừng trồng Năm 2007, diện tích rừng của tỉnh đạt

Trang 30

14.000 ha, trong đó, có 600 ha rừng tự nhiên và 13.400 ha rừng trồng Rừng tập trung chủ yếu ở huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên

2.6.1 Thực vật

Hình 8 Minh họa thảm thực vật tự nhiên An Giang

Trước đây, thảm thực vật tự nhiên của An Giang rất phong phú cả về số lượng lẫn chủng loại Qua nhiều thế kỷ, thảm thực vật này đã biến đổi mạnh do tác động của con người, nhiều hệ sinh thái ngập nước và hệ sinh thái rừng trên đồi núi

đã chuyển dần sang hệ sinh thái nông nghiệp

- Thảm thực vật ngập nước: Thực vật chiếm ưu thế là tràm, phát triển ở

vùng ngập nước, bưng trũng đất phèn và than bùn ở huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên Cây tràm ở An Giang cao từ 15 - 20 m, có khi đạt tới 25 m Cách đây gần 1 thế kỷ, tràm mọc thành rừng, phủ kín cả vùng đồng bằng, song do con người khai thác bừa bãi nên rừng tràm bị thu hẹp dần Ngoài tràm, còn có hơn 100 loài thực vật thuộc các họ khác nhau, trong đó nhiều loài có giá trị phát triển và khai thác như: chà là nước, mốp, trâm sẻ, trâm khế, sộp, mây nước, nắp bình, bòng bòng, choại, bồn bồn Thảm thực vật này có vai trò ngăn cản quá trình oxid hóa khoáng sinh phèn và quá trình khoáng phèn ở tầng đất dưới, đồng thời góp phần điều hoà khí hậu, độ ẩm, cản dòng chảy, giữ phù sa

Trang 31

- Thảm thực vật đồi núi: Tập trung chủ yếu ở vùng Bảy Núi thuộc huyện Tri

Tôn, huyện Tịnh Biên và một phần thị xã Châu Đốc, huyện Thoại Sơn Ngày trước, thảm thực vật ở đây thuộc kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới có cấu trúc 3 tầng

rõ rệt, phong phú về chủng loại, có nhiều loại cây quý hiếm Qua nhiều thế kỷ, do tác động của con người, thảm thực vật này đã giảm sút nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chất lượng Cây tái sinh kém và lớp tái sinh không liên tục, cân bằng sinh thái bị phá vỡ Con người đã trồng tỉa hoa màu, cây ăn quả, tạo nên những thảm thực vật nhân tạo thay thế các thảm thực vật tự nhiên Hiện nay, thảm thực vật này còn giữ được một số loài gỗ quý như: mật, căm xe, giáng hương, dầu, sao, tếch

Để tạo sự cân bằng sinh thái, điều hoà khí hậu, cải tạo đất, tạo nguồn nước ngọt và hạn chế lũ lụt, tỉnh cần phải khôi phục lại rừng tràm và phủ xanh đồi trọc ở vùng Bảy Núi

2.6.2 Động vật:

Hình 9 Minh họa loài chim ở An Giang

Hệ động vật ở An Giang trước đây rất phong phú Trịnh Hoài Đức trong Gia

Định thành thông chí đã viết: "Ở núi Nam Vi cây cối um tùm, cấm chặt cây, khe sâu

cỏ rậm, rất nhiều hươu, nai, hổ, báo Dân núi và người ẩn tụ họp cấy cày ở chân núi" Còn trong núi Khe Săn ở huyện Hà Dương, cách Vàm Nao 5 dặm về phía

Đông Nam, theo Trịnh Hoài Đức thì "cây tùng, cây trúc tốt tươi, hươu nai tụ tập, có

Trang 32

ruộng để cày cấy, có chằm để chài lưới, nhân dân thường đến núi này để tìm mối lợi"

Ở các vùng ngập nước thì có nhiều tôm cá và nhiều loài chim cò, đặc biệt có

cả cá sấu, nhiều nhất là ở khu vực sông Vàm Nao Người ta có thể bắt cá sấu về

nuôi và xẻ thịt bán Gia Định thành thông chí viết: "Người ta bắt ở nước thì nuôi

trong cái bè, trên đất thì nuôi trong chuồng, rồi đem bán cho hàng thịt, da phơi khô đem bán, răng làm cán đồ dùng" Ngày nay, cá sấu được liệt vào danh sách những

loài quý hiếm và được nuôi để lấy da xuất khẩu Cùng loài bò sát với cá sấu, vùng nông thôn ngập nước ở An Giang còn có nhiều loài rắn như rắn nước, rắn bông súng, rắn ri voi, ri cá, rắn râu, rắn mối, rắn trun, rắn hổ, rắn lục, rắn máy gầm Một loài động vật tự nhiên rất phổ biến ở An Giang là chuột Chuột có mặt

ở khắp nơi, từ trong nhà đến ngoài đồng, gây thiệt hại không nhỏ cho nghề nông Các giống chuột thường thấy ở An Giang là chuột đồng Rattus argetiventer, chuột nhà Rattus rattus, chuột cống heo hay chuột cống ét Bandicota indica, chuột cống nhum hay chuột cống cơm Bandicota bengalensis, chuột nhắt Mus musculus Ngoài

ra còn có loài chuột nhỏ, di chuyển nhanh trên các đọt lúa, rất khó diệt trừ, gọi là chuột bọ Mus sp Ở xã Bình Long, huyện Châu Phú có một làng nghề chuyên thu gom và giết thịt chuột, gọi là làng nghề Chuột

Với những cánh đồng bạt ngàn, An Giang là nơi sinh sống của nhiều loài chim hoang dã như: sẻ, chào mào, chích chòe, sậu, sáo, cồng cộc, le le, vịt trời, cò trắng, cò ma, cò bộ, cò lửa, diệc, cuốc, trích Theo số liệu điều tra vào tháng 07-

1999, ở rừng Trà Sư huyện Tri Tôn có 62 loài chim với hơn 5.000 cá thể Rừng Trà

Sư thể hiện tính đa dạng sinh học, là nơi có nhiều loài chim trú ẩn và làm tổ Cũng trong đợt điều tra này, người ta còn phát hiện một số lượng nhỏ loài điêng điểng đang sinh sản Đây là loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng Ngoài ra, còn có hơn 300 cá thể diệc lửa, điều này cho thấy đây có thể là điểm trú ngụ của các loài diệc lửa ở đồng bằng sông Cửu Long

Trang 34

Dân số của tỉnh liên tục tăng qua các năm Năm 1979, toàn tỉnh có khoảng 1.474.700 người Năm 1989 là 1.773.666 người Năm 1999 là 2.049.039 người Năm 2003 là 2.152.736 người Năm 2007 là 2.231.000 người Như vậy, trung bình mỗi năm dân số tăng thêm khoảng 28.000 người Tốc độ tăng trung bình giai đoạn

1979 - 2003 là 2%/năm

-

Hình 10 Biểu đồ thể hiện tình hình gia tăng dân số giai đoạn 1979 - 2009

Trang 35

Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, đã thấy có người Việt ở vùng Bình Mỹ (Châu Phú), vùng Châu Đốc và vùng cù lao Cây Sao (cù lao Ông Chưởng) Tương truyền khi thuyền quân xuôi dòng Cửu Long (1700), Nguyễn Hữu Cảnh ghé lại những nơi có người Việt ở để thăm hỏi và khích lệ mọi người giữ tình thân thiện dù không cùng chủng tộc Ông cũng cho phép một số binh phu được ở lại theo ven sông vùng Châu Phú, Châu Đốc, Tân Châu, Chợ Mới cày cấy làm ăn

Lưu dân ở vùng Cù lao Ông Chưởng được gọi là dân “hai huyện” (Phước Long và Tân Bình) Họ được xem là mẫu mực về thuần phong mỹ tục, giữ vững được nếp ăn, nếp nghĩ của người Việt Từ Chợ Mới đến Cái Hố theo lòng rạch Ông Chưởng, ta gặp một số gia đình cố cư, ông bà của họ đến đây cư ngụ từ đời Gia Long, Minh Mạng hoặc lâu hơn (6 đời)

Ở Cù lao Giêng, có một địa danh xưa là bến đò Phủ Thờ Phủ Thờ này là của

họ Nguyễn từ Bình Định vào, con cháu ngày nay ở vào đời thứ 7, thứ 8, cư ngụ kề nhau đông đúc.Người Việt đi vào phương Nam lập nghiệp với cả gia đình cha mẹ,

vợ con, và khi đã đến thì không thể về, vì quá xa

Nhờ các chính sách của Chúa Nguyễn mà công cuộc khai hoang mở mang bờ cỏi phương Nam của dân Việt ngày càng nhanh chóng

Khi tỉnh An Giang mới thành lập, dọc theo hữu ngạn sông Tiền, dân cư khá đông, tập trung ở cù lao Ông Chưởng Một số thôn, xã được thành lập Riêng cù lao Giêng tuy không rộng lắm, nhưng sanh kế dễ dàng, nên qui tụ được 4 thôn

Phía hữu ngạn sông Hậu, dân cư thưa thớt Từ biên giới Việt – Miên xuống Long Xuyên chỉ có các làng Bình Thạnh Tây (đối diện Bình Thạnh Đông bây giờ), Bình Đức, Mỹ Phước

Vùng An Giang gồm 2 khu vực mới và cũ riêng biệt:

- Phía Tân Châu, Ông Chưởng, Chợ Mới dễ canh tác, dân đông, làng cũ vì đã lập từ lâu

Trang 36

- Phía hữu ngạn sông Hậu, là vùng rừng núi hoang vu, đất khó canh tác, dân thưa thớt, làng mới lập

Việc di dân lập ấp ở An Giang có công đóng góp rất lớn của Thoại Ngọc Hầu, bắt đầu từ năm Đinh Sửu 1817 Lúc bấy giờ nhiều nhà cửa của nông dân đã được dựng lên, các đình chùa cũng bắt đầu xây cất Năm 1818, theo lệnh triều đình, Nguyễn Văn Thoại đốc suất đào kinh Đông Xuyên ra đến Rạch Giá, tạo điều kiện canh tác thuận lợi cho dân khẩn hoang 2 bên bờ kênh

Đào kênh Vĩnh Tế xong, Nguyễn Văn Thoại cho đắp con đường từ Châu Đốc đến núi Sam, nhờ đó mà dân từ Châu Đốc vào núi Sam khẩn ruộng, lần hồi tiến đến khai phá vùng Tịnh Biên

Đầu thế kỷ XIX đã nhiều lần quân Xiêm xâm lấn nước ta Hà Tiên, Châu Đốc là những vùng bị thiệt hại trước tiên và nặng nề nhất Năm 1833, giặc Xiêm tàn phá dọc kênh Vĩnh Tế, chiếm Châu Đốc và tràn qua Tân Châu Nhưng chỉ 5 năm sau dân cư đã quy tụ trở lại, thành lập hàng chục thôn rải rác từ núi Sam dọc theo 2

bờ kênh Vĩnh Tế về phía Hà Tiên

Vùng Châu Đốc là biên cương hiểm trở, vừa sản xuất vừa phải đối phó với ngoại xâm Mỗi người dân khẩn hoang là một lính thú biên cương

Gia tộc Lê Công gốc Thanh Hóa là một trong những nhóm di dân đến khai phá vùng Châu Đốc (khoảng năm 1785 – 1837) Hiện con cháu đời thứ 7 còn cư ngụ ở đây Gia tộc thứ 2 cũng có công khai phá vùng Châu Đốc là dòng Nguyễn Khắc, thuộc con cháu của Nguyễn Văn Thoại

Dưới đời vua Minh Mạng, tội phạm lưu đày phần lớn gom về vùng Vĩnh Tế

để lập các xóm dọc bờ kênh, dần dần hình thành vùng dân cư

Nguyễn Tri Phương, khi làm kinh lược sứ ở miền Nam, đã có sáng kiến lập đồn điền biên giới nhằm ngăn giặc, yên dân, tập trung ở vùng Châu Đốc, Hà Tiên Năm 1854, Nguyễn Tri Phương báo cáo đã thành lập được 21 cơ đồn điền Hai năm sau, tỉnh An Giang và Hà Tiên đã chiêu mộ được 1.646 dân đinh, lập 159 thôn ấp

Trong thời gian này, người Chăm ở ngang chợ Châu Đốc (Đa Phước, Châu Phong) cũng gom lại từng đội, do 1 viên Hiệp quản đứng đầu Từ bên Chân Lạp, người Chăm rút về nương náu trong lãnh thổ Việt Nam để tránh loạn lạc nội chiến bên Chân Lạp, rồi định cư luôn ở Tân Châu, An Phú,

Cùng thời đó, người theo đạo Thiên Chúa lánh nạn kỳ thị tôn giáo của vua quan nhà Nguyễn từ miền ngoài đến khá sớm ở cù lao Giêng (1778), Bò Ót (1779)

và Năng Gù (1845) đã làm tăng thêm dân số vùng đất An Giang

Tư liệu trước đây nói về nguồn gốc các dân tộc thiểu số ở An Giang như:

Ngày đăng: 09/03/2015, 19:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN BỐ THỜI GIAN – NỘI DUNG TÌM HIỂU - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
BẢNG PHÂN BỐ THỜI GIAN – NỘI DUNG TÌM HIỂU (Trang 5)
Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh An Giang - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh An Giang (Trang 8)
Hình 2. Địa hình đồng bằng ở An Giang - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 2. Địa hình đồng bằng ở An Giang (Trang 9)
Hình 4. Khai thác đá Granit - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 4. Khai thác đá Granit (Trang 16)
Hình 7. Sản xuất đá ốp lát - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 7. Sản xuất đá ốp lát (Trang 17)
Hình 5. Khai thác cát trên sông Hậu - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 5. Khai thác cát trên sông Hậu (Trang 17)
Hình 8. Minh họa thảm thực vật tự nhiên An Giang - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 8. Minh họa thảm thực vật tự nhiên An Giang (Trang 30)
Hình 9. Minh họa loài chim ở An Giang - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 9. Minh họa loài chim ở An Giang (Trang 31)
Hình 10. Biểu đồ thể hiện tình hình gia tăng dân số giai đoạn 1979 - 2009 - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 10. Biểu đồ thể hiện tình hình gia tăng dân số giai đoạn 1979 - 2009 (Trang 34)
Hình 12. Biểu đồ cơ cấu dân số theo độ tuổi - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 12. Biểu đồ cơ cấu dân số theo độ tuổi (Trang 39)
Hình 13. Biểu đồ cơ cấu dân tộc An Giang - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 13. Biểu đồ cơ cấu dân tộc An Giang (Trang 41)
Hình 14. Biểu đồ cơ cấu tôn giáo tỉnh An Giang - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 14. Biểu đồ cơ cấu tôn giáo tỉnh An Giang (Trang 41)
Hình 16. Biểu đồ cơ cấu kinh tế An Giang năm 2003 - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 16. Biểu đồ cơ cấu kinh tế An Giang năm 2003 (Trang 42)
Hình 15. Biểu đồ cơ cấu kinh tế An Giang năm 2000 - TÌM HIỂU ĐỊA LÍ ĐỊA PHưƠNG TỈNH AN GIANG
Hình 15. Biểu đồ cơ cấu kinh tế An Giang năm 2000 (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w