1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh an giang

63 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 777,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2 Hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam: Hệ thống NHTM Việt Nam là hệ thống ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp, được định hình và phát triển mạnh kể từ khi thực hiện việc cải c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-* -

NGUYỄN THỊ VẠN HẠNH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính-Ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN

THÁNG 12 NĂM 2006

Trang 2

MỤC LỤC

trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục từ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ Phần mở đầu CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hệ thống Ngân hàng thương mại: 9

1.1.1 Khái niệm: 9

1.1.2 Hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam: 10

1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại: 11

1.2.1 Chức năng trung gian tài chính: 11

1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán: 11

1.2.3 Cung ứng các dịch vụ ngân hàng: 12

1.3 Các nghiệp vụ của Ngân hàng Thương Mại: 12

1.3.1 Nghiệp vụ nguồn vốn và tài sản nợ: 12

1.3.1.1 Vốn điều lệ và các quỹ: 12

1.3.1.2 Vốn huy động: 13

1.3.1.3 Vốn đi vay: 14

1.3.1.4 Vốn tiếp nhận: 14

1.3.1.5 Vốn khác: 14

1.3.2 Cấp tín dụng và đầu tư (nghiệp vụ sử dụng vốn): 14

1.3.2.1 Dự trữ: 14

1.3.2.2 Cấp tín dụng (Credits) 16

1.3.2.3 Đầu tư (Investment) 18

1.3.2.4 Tài sản Có khác: 19

Trang 3

1.3.3 Các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng: 19

1.4 Thu nhập, chi phí, lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại: 21

1.4.1 Thu nhập: 21

1.4.2 Chi phí: 21

1.4.3 Lợi nhuận: 21

1.4.4 Phân phối lợi nhuận: 23

CHƯƠNG HAI: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 2.1 Điều kiện tự nhiên và thực trạng nền kinh tế ở An Giang: 24

2.1.1 Điều kiện tự nhiên: 24

2.1.2 Thực trạng nền kinh tế An Giang: 25

2.2 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang: 25

2.3 Thực trạng hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2003-30/06/2006: 27

2.3.1 Tình hình huy động vốn: 27

2.3.1.1 Cơ cấu vốn huy động: 27

2.3.1.2 Tốc độ tăng nguồn vốn huy động: 30

2.3.2 Thực trạng hoạt đông tín dụng: 31

2.3.2.1 Cơ cấu dư nợ cho vay: 31

* Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế: 31

* Dư nợ cho vay theo khu vực kinh tế: 32

* Dư nợ cho vay chia theo loại hình tổ chức tín dụng: 34

* Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay: 35

2.3.2.2 Tình hình nợ quá hạn: 36

2.3.3 Các mặt hoạt động dịch vụ: 37

2.3.3.1 Dịch vụ thanh toán: 38

Trang 4

2.3.3.2 Dịch vụ ngoại hối: 39

2.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động: 40

2.4.1 Đánh giá nghiệp vụ huy động vốn: 40

2.4.2 Đánh giá về chất lượng tín dụng: 41

2.4.3 Đánh giá về hiệu quả hoạt động: 41

2.5 Các mặt đạt được và các vấn đề còn tồn tại: 43

2.5.1 Các mặt đạt được: 43

2.5.2 Các vấn đề còn tồn tại: 44

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỌAT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 3.1 Định hướng của Đại hội Đảng lần X về chính sách tiền tệ-tín dụng: 47

3.2 Định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh An Giang và dự báo nhu cầu về vốn đầu tư giai đọan 2006-2010: 48

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM trên địa bàn tỉnh An Giang: 50

3.3.1 Giải pháp về nghiệp vụ đối với các NHTM: 50

3.3.1.1 Nghiệp vụ huy động vốn: 50

3.3.1.2 Đối với nghiệp vụ tín dụng: 51

3.3.1.3 Đối với dịch vụ thanh toán và ngoại hối: 54

3.3.2 Giải pháp quản lý và điều hành đối với các NHTM: 55

3.3.3 Một số kiến nghị đối với NHNN: 58

* Đối với NNHN Việt Nam: 58

* Đối với NHNN chi nhánh tỉnh An Giang: 59

3.3.4 Kiến nghị với chính quyền địa phương: 59

* Kiến nghị với UBND tỉnh An Giang: 59

* Kiến nghị với các cơ quan hữu quan có liên quan: 60

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 5

QTDND Quỹ tín dụng nhân dân

NHLD Ngân hàng liên doanh

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHQD Ngân hàng quốc doanh

NHTW Ngân hàng trung ương

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMQD Ngân hàng thương mại quốc doanh NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần TCKT Tổ chức kinh tế

TCTD Tổ chức tín dụng

TG Tiền gửi

TK Tài khoản

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế của An Giang so với cả nước và ĐBSCL giai đọan

1996-2005……… ………20

Bảng 2: Cơ cấu vốn huy động giai đoạn 2003-30/06/06……… 24

Bảng 3: Tốc độ tăng vốn huy động giai đoạn 2003- 30/06/06………… 26

Bảng 4: Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế giai đoạn 2003-30/06/06… 28

Bảng 5: Dư nợ cho vay theo khu vực kinh tế giai đoạn 2003-30/06/06…… 29

Bảng 6 : Dư nợ cho vay chia theo loại hình tổ chức tín dụng giai đoạn 2003-30/06/06……… 31

Bảng 7: Tốc độ tăng dư nợ cho vay giai đoạn 2002-30/06/06…… …… 32

Bảng 8: Nợ quá hạn chia theo loại hình tổ chức tín dụng giai đoạn 2003-30/06/2006… 33

Bảng 9: Hoạt động thanh toán giai đoạn 2003- 2005……… ….35

Bảng 10: Dịch vụ ngoại hối giai đọan 2003-2005……… 37

Bảng 11: Tổng hợp vốn huy động, dư nợ cho vay, tỷ lệ vốn huy động…… 37

Bảng 12: Tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ cho vay giai đoạn 2003-30/06/06……… 38

Bảng 13: Tổng hợp thu-chi, chênh lệch thu chi giai đoạn 2003-30/06/06… 39

Bảng 14: Dự báo nhu cầu vốn đầu tư xã hội giai đoạn 2006-2010……… 48

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Trang Biểu đồ 1: Nguồn vốn huy động chia theo loại hình tổ chức tín dụng giai đoạn 2003-30/06/2006 25

Biểu đồ 2: Nguồn vốn huy động giai đoạn 2003-30/06/06 …… ……… 27

Biểu đồ 3: Dư nợ cho vay theo khu vực kinh tế giai đoạn 2003-30/06/06… 30

Biểu đồ 4: Dư nợ cho vay các năm trong giai đoạn 2002-30/06/06……… 32

Biểu đồ 5: Tỷ lệ nợ quá hạn chia theo loại hình tổ chức tín dụng bình quân giai đoạn 2003- 2005.……… 34

Biều đồ 6: Chênh lệch thu-chi các NHTM giai đoạn 2003-30/06/06……… 40

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là một nền kinh tế mở, đang vận hành theo cơ chế thị trường có định hướng Xã hội chủ nghĩa Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam luôn cao, năm 2005 đạt 8,43% được đánh giá ngang tầm với nhiều nước phát triển trong khu vực Nền kinh nước ta đang trong xu thế hội nhập với nền kinh tế toàn cầu

Đóng góp vào sự phát triển đó, hệ thống Ngân hàng Thương mại có vai trò đặc biệt quan trọng, bởi do Ngân hàng Thương mại là một định chế tài chính trung gian là nhịp cầu kết nối nguồn vốn trong nền kinh tế Ngân hàng thương mại còn là công cụ

để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo những mục tiêu và định hướng mà Nhà nước đã đề ra Để bắt kịp xu thế phát triển của nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam đã đổi mới không ngừng về quy mô, về diện mạo, về cấu trúc

và cả về nội dung, công nghệ ngân hàng cũng đang từng bước được hiện đại hoá

Tuy nhiên, quá trình đổi mới đó còn gặp phải không ít khó khăn Những năm gần đây tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp đặt biệt là sự tăng giá vàng, giá xăng dầu thế giới, các lần thay đổi lãi suất của Fed… đã ảnh hưởng ít nhiều đến nền kinh tế trong nước Thêm vào đó, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động tương đối ổn định, việc ra đời các Công ty chứng khoán, Công ty bảo hiểm, các Quỹ đầu tư,… đã đặt các Ngân hàng Thương mại vào thế cạnh tranh gay gắt để có thể mở rộng thị phần và phát triển các dịch vụ

Không đứng ngoài sự vận hành của hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam, các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang cũng đã và đang có nhiều chuyển biến tích cực, song bênh cạnh những kết quả đã đạt được đó vẫn còn không ít những khó khăn và tồn tại Do vậy, phân tích thực trạng kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang nhằm đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng này nhằm góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh An Giang nói riêng và cả nước nói chung là vấn đề

Trang 8

quan trọng và đặt biệt cần thiết Chính vì những lý do quan trọng đó mà chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương

Mại trên địa bàn tỉnh An Giang”

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Luận văn được nghiên cứu nhằm đáp ứng ba mục tiêu:

- Một là: nhận thức vững chắc và đầy đủ những lý luận về Ngân hàng Thương

mại, bản chất, chức năng, các mặt hoạt động, thu nhập-chi phí-lợi nhuận, phân phối lợi nhuận của hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam

- Hai là: phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của các Ngân

hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang trong giai đoạn 2003-30/06/06

- Ba là: đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng luận văn nghiên cứu là: các mặt hoạt động của Ngân hàng Thương

mại và các giải pháp để nâng cao hiệu quả của các mặt hoạt động của các Ngân hàng Thương Mại trên địa bàn tỉnh An Giang

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang và hoạt động của các ngân hàng này trong giai đoạn 2003-30/06/06

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được nghiên cứu chủ yếu bằng các phương pháp lý thuyết hệ thống, qui nạp, thống kê, tổng hợp, so sánh, diễn giải và phân tích

5 Cấu trúc luận văn:

Luận văn có tổng 61 trang, với 14 bảng số liệu và 6 đồ thị Ngoài phần mở đầu

và kết luận, luận văn có 3 Chương:

Chương 1: Tổng quan về hệ thống Ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Thương mại

trên địa bàn tỉnh An Giang

Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang

Trang 9

Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng (Luật số 02/1997/QH10) chỉ rõ: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt đông kinh doanh khác có liên quan”

Theo tính chất và mục tiêu hoạt động các loại hình ngân hàng gồm:

- Ngân hàng Thương mại (NHTM)

Như vậy, có thể nói NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn vốn nhàn rỗi được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay và phát triển kinh tế Bản chất của NHTM thể hiện qua các điểm sau:

- NHTM là một tổ chức kinh tế

- NHTM hoạt động mang tính chất kinh doanh

- NHTM hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng vàcác dịch vụ về

Trang 10

ngân hàng

1.1.2 Hệ thống Ngân hàng Thương mại Việt Nam:

Hệ thống NHTM Việt Nam là hệ thống ngân hàng đa năng, kinh doanh tổng hợp, được định hình và phát triển mạnh kể từ khi thực hiện việc cải cách hệ thống tài chính

- ngân hàng từ năm 1990, hệ thống này bao gồm:

- Ngân hàng Thương mại Quốc doanh (NHTMQD): là NHTM được thành lập bằng 100% vốn ngân sách Nhà nước, loại này gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (NHNNo & PTNT), Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT), Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP): là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần Trong đó, một cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một

số cổ phần nhất định theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam Ngân hàng cổ phần được chia thành hai loại: ngân hàng cổ phần đô thị và ngân hàng

ba là: Chohung Vina Bank là NHLD giữa ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) với Chohung Bank của Hàn Quốc; bốn là: Vina Siam Bank là NHLD giữa Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Việt Nam (VBA) với Siam Commercial Bank của Thái Lan

- Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật của Việt Nam Hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam đã có hơn chục chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động

Trang 11

1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại:

1.2.1 Chức năng trung gian tài chính:

Chức năng trung gian tài chính là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của NHTM, chức năng này thể hiện qua sơ đồ sau:

NHTM thu hút các tiền nhàn rỗi trong xã hội (bao gồm tiền của doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức đoàn thể…) Mặt khác, NHTM đem cho vay lại đến những doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu cần tiền để sử dụng vào sản xuất kinh doanh hoặc với mục đích tiêu dùng NHTM còn là trung gian giữa NHTW với các doanh nghiệp, các dự án phát triển nền kinh tế

Qua những hoạt động đa dạng trong huy động vốn và cung ứng tín dụng, NHTM khơi nguồn vốn từ những người có thể vì lý do gì đó hoặc không biết cách sinh lợi sang những người có ý muốn dùng nó để sinh lợi Hay nói cách khác NHTM đã chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu mà việc điều chuyển vốn này gọi là trung gian tài chính, chính vì vậy mà NHTM có chức năng trung gian tài chính

Thông qua sự điều chuyển này NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện mức sống của dân cư

Với chức năng này NHTM góp phần quan trọng vào việc điều hoà lưu thông tiền

tệ, ổn định sức mua đồng tiền, kiểm soát lạm phát Mặt khác, với chức năng này NHTM có được nguồn vốn chủ lực không những đủ sức duy trì hoạt động ngân hàng

mà còn đảm bảo sự phát triển không ngừng bản thân ngân hàng

1.2.2 Chức năng trung gian thanh toán:

Ngoài nghiệp vụ huy động, cho vay, chiết khấu NHTM còn tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt, khi này ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán cho khách

Trang 12

hàng Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng chuyển từ tiền từ tài khoản người trả sang tài khoản người nhận và việc thanh toán đó không có sự xuất hiện tiền mặt Qua đây thúc đẩy sự ra đời của các phương tiện thanh toán như séc, thẻ thanh toán, giấy nhờ thu, uỷ nhiệm chi,…

1.2.3 Cung ứng các dịch vụ ngân hàng:

Dịch vụ tài chính của NHTM rất đa dạng: quản lý tài sản, dịch vụ tín thác, dịch vụ cho thuê két sắt, môi giới chứng khoán, môi giới tiền tệ, tư vấn, bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng điện tử, dịch vụ ngân hàng đối ngoại… Trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn của thương mại điện tử thì dịch vụ tài chính của NHTM ngày càng phát triển mạnh

hơn và các ngân hàng ở Việt Nam thì đang bắt đầu

1.3 Các nghiệp vụ của Ngân hàng Thương Mại:

1.3.1 Nghiệp vụ nguồn vốn và tài sản nợ:

Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội Trong nghiệp vụ này, NHTM được sử dụng các biện pháp và công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế Kết quả của nghiệp vụ nguồn vốn là tạo ra nguồn vốn để đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế Thành phần nguồn vốn NHTM bao gồm: vốn điều lệ (Statutory Capital), các quỹ

dự trữ (Reserve funds), vốn huy động (Mobilized Capital), vốn đi vay (Bonowed Capital), vốn tiếp nhận (Trust Capital), vốn khác (Other Capital)

- Đối với NHTMCP: vốn điều lệ do các cổ đông đóng góp dưới hình thức vốn cổ

Trang 13

phần Toàn bộ số vốn dự kiến hình thành sẽ được chia làm nhiều cổ phần, mỗi cổ phần

có giá trị ngang nhau, một cá nhân, pháp nhân được quyền tham gia một hoặc một số

cổ phần nhất định

Vốn điều lệ của NHTM trước hết được dùng để: xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản trang thiết bị, tạo cơ sở vật chất, đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng Số còn lại dùng để đầu tư, liên doanh, cho vay trung và dài hạn

¾ Các quỹ ngân hàng:

Quỹ dự trữ bổ sung và điều lệ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ

dự phòng trợ cấp mất việc, quỹ khen thưởng phúc lợi, quỹ khác

Tổng hợp các nguồn vốn điều lệ và các quỹ dự trữ gọi chung là vốn tự có của ngân hàng Đây là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất của ngân hàng, nó vừa cho thấy quy

mô, vừa cho thấy khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng

1.3.1.2 Vốn huy động:

Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu của NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền của các sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng, nhưng với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên

to lớn nhất, bao gồm:

- Tiền gửi không kỳ hạn của đơn vị, các nhân

- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn

- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn

- Tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu

- Các khoản tiền gửi khác

Đối với tiền gửi của cá nhân và đơn vị ngoài lãi suất thì nhu cầu giao dịch tiện lợi, nhanh chóng, an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn tiền này Còn đối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu tố quyết định vì đa số người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục đích kiếm lời

Để đảm bảo một cách an toàn các hoạt động của ngân hàng, cần phải có mối tương quan giữa vốn tự có và vốn huy động, nếu chênh lệch đó càng lớn thì hệ số an toàn của ngân hàng sẽ càng thấp Vì vậy, để đảm bảo mức an toàn tối thiểu, cần có quy định

Trang 14

giới hạn giữa vốn tự có và vốn huy động

1.3.1.3 Vốn đi vay:

Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của các NHTM, thuộc vào loại này bao gồm:

¾ Vốn vay trong nước:

Vay NHTW: NHTW sẽ tiếp vốn cho các NHTM thông qua biện pháp chiết khấu, hoặc tái chiết khấu nếu như các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu là

có chất lượng Làm như vậy NHTW trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với NHTM

Vay NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng (Interbank Market)

¾ Vốn vay ngân hàng nước ngoài:

1.3.1.4 Vốn tiếp nhận:

Đây là các nguồn vốn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách Nhà nước…để tài trợ cho các chương trình, các dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh,…nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định

1.3.1.5 Vốn khác:

Là nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng (đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng,…)

1.3.2 Cấp tín dụng và đầu tư (nghiệp vụ sử dụng vốn):

Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM Đây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có ở ngân hàng

Thành phần tài sản Có (Assets) gồm: cho vay (Loans), đầu tư (Investment), tài sản

Có khác (Other Assets)

1.3.2.1 Dự trữ:

Hoạt động của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải bảo đảm an toàn

để giữ vững lòng tin cho khách hàng Muốn có được sự tin cậy từ khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán làm sao để có thể đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng Muốn vậy, các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn, không

Trang 15

sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu thanh toán, phần vốn để dành này gọi là dự trữ

Dự trữ là một bộ phận cần thiết và tất yếu đối với mọi ngân hàng Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn chung cho toàn hệ thống để thực hiện một cách thống nhất đồng thời qua đó sử dụng như một công cụ để điều hành chính sách tiền tệ, NHTW được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong từng thời kỳ nhất định theo quy định của Luật NHNN Việt Nam (Luật số 01/1997/QH10) Khoản 1 điều 20 luật này ghi rõ: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại mỗi tổ chức tín dụng trong từng thời kỳ” Việc trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc do chính phủ quy định

Số dư tiền gửi Số dư tiền gửi Đầu tháng trước cuối tháng trước Tỷ lệ dự trữ bắt

buộc kỳ này

¾ Dự trữ sơ cấp (Primary Reserves): gồm tiền mặt và tiền gửi

- Tiền mặt, các khoản coi như tiền mặt

- Tiền gửi tại các NHTW (tiền gửi không kỳ hạn)

- Tiền gửi tại các ngân hàng khác

- Các khoản khác (ngân quỹ đang thu)

¾ Dự trữ thứ cấp ( Secondary Reserves)

Dự trữ thứ cấp (cấp hai) là dự trữ không tồn tại bằng tiền mặt và tiền gửi mà bằng chứng khoán, nghĩa là những chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành tiền một cách thuận lợi Thuộc loại này gồm tín phiếu kho bạc, hối phiếu đã chấp nhận, các giấy tờ nợ ngắn hạn khác Gọi là dự trữ thứ cấp, bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt

Khi quản lý dự trữ bắt buộc NHTW có thể áp dụng một trong ba phương pháp sau:

• Phương pháp phong tỏa: theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào

một tài khoản tại NHTW và tài khoản này sẽ bị phong tỏa để đảm bảo thực hiện đúng mức dự trữ

• Phương pháp bán phong tỏa: theo đó, một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ được quản lý và phong tỏa tại một tài khoản riêng ở NHTW

• Phương pháp không phong tỏa: theo phương pháp này, tiền dự trữ được tính

=

Tiền dự trữ bắt

buộc tháng này

2 +

Trang 16

và thực hiện hàng ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và số dư thực

tế về tiền gửi có kỳ hạn

Toàn bộ mức dự trữ sẽ không bị phong tỏa, nó có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt hay tiền gửi NHTW, hoặc dưới dạng chứng khoán ngắn hạn là tùy NHTM Tuy nhiên, đến cuối mỗi tháng NHTW cũng sẽ kiểm tra việc thực hiện dự trữ bắt buộc Nếu các NHTM không thực hiện đúng sẽ bị phạt (cảnh cáo, phạt tiền nếu tái phạm)

1.3.2.2 Cấp tín dụng (Credits)

Số vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các NHTM có thể dùng để cấp tín dụng cho các đơn vị, tổ chức kinh tế bao gồm:

¾ Cho vay (trực tiếp - Loans)

Cho vay là loại hình tín dụng nghiệp vụ của NHTM trong đó ngân hàng sẽ cấp cho người đi vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn Người đi vay có ý thức quan tâm đến việc trả

nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng vốn làm sao cho có hiệu quả

để hoàn trả nợ Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay, trả không hết hoặc không đúng hạn…do các nguyên nhân chủ quan và khách quan Do

đó, trong các hoạt động cho vay các ngân hàng thường sử dụng các biện pháp đảm bảo như: thế chấp, cầm cố,…

Rủi ro tín dụng nói riêng và rủi ro trong cho vay nói chung về phía ngân hàng mang tính khách quan nhiều hơn Do đó, một mặt các ngân hàng được trích lập quỹ dự phòng để bù đắp rủi ro, mặt khác bản thân các ngân hàng phải sử dụng các biện pháp nghiệp vụ theo hướng không ngừng cải tiến và hoàn thiện để có thể hạn chế được nhiều rủi ro có thể xảy ra trong cho vay

¾ Chiết khấu (Discount):

Đây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng

Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu trái phiếu và các giấy

nợ có giá khác

Trang 17

¾ Cho thuê tài chính (Financial leasing)

Là loại hình tín dụng trung, dài hạn, trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê, cho thuê trong một thời gian nhất định Người đi thuê phải trả cho công

ty cho thuê tài chính tiền thuê mỗi quý hoặc mỗi tháng một lần Khi kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính người đi thuê được quyền mua, kéo dài thời hạn thuê hoặc trả thiết

bị lại cho công ty cho thuê tài chính Đây là loại hình tín dụng mới được triển khai ở

Việt Nam và có khả năng phát triển mạnh trong tương lai

¾ Bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee)

Trong loại hình nghiệp vụ ngân hàng này khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh cho khách hàng, nhờ đó khách hàng sẽ được vay vốn ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết

- Các khoản cho vay nếu phân tích theo thời hạn thì có: cho vay ngắn hạn (từ 1ngày đến 1năm), cho vay trung hạn (từ 1 năm đến 5 năm) và cho vay dài hạn ( từ trên

5 năm)

- Nếu căn cứ vào tính chất đảm bảo có hai loại: cho vay bằng tín chấp và cho vay

có đảm bảo trực tiếp bằng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba hoặc tài sản hình thành bằng vốn vay

Nếu căn cứ vào tính chất tham gia của vốn, có hai loại: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định

Hoạt động tín dụng của NHTM có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển vì NHTM đã cung ứng một khối lượng vốn rất lớn cho nền kinh tế (ở

Trang 18

nhiều nước tỷ lệ dư nợ tín dụng so với GDP xấp xỉ từ 70 – 100%, có nước tỷ lệ này còn lớn hơn 100%) Tuy nhiên, hoạt động tín dụng là hoạt động có nhiều rủi ro mà nguy cơ của nó có thể làm sụp đổ cả hệ thống ngân hàng, vì vậy bên cạnh việc mở rộng tín dụng các ngân hàng cần áp dụng mọi biện pháp để phòng ngừa và hạn chế rủi

ro tín dụng

1.3.2.3 Đầu tư (Investment)

Đầu tư là hình thức bỏ vốn nhằm thực hiện và thu được một kết quả nhất định về kinh tế - xã hội Theo nghĩa hẹp hơn thì đầu tư là một hình thức bỏ vốn (đầu tư) để kiếm lời

NHTM là một tổ chức kinh tế, ngoài việc thực hiện nghiệp vụ tín dụng còn được quyền thực hiện các nghiệp vụ đầu tư tạo ra tài sản Có sinh lời càng nhiều càng tốt, đây là nghiệp vụ mang lại thu nhập đáng kể cho các NHTM

Đầu tư của các NHTM được chia thành hai nhóm lớn đó là: đầu tư trực tiếp và đầu

tư tài chính

¾ Đầu tư trực tiếp: là hình thức ngân hàng bỏ vốn đầu tư trực tiếp quản lý và

sử dụng phần vốn của mình (vốn riêng) để đầu tư trực tiếp, các hình thức đầu tư này bao gồm:

- Hùn vốn liên doanh trong nước và nước ngoài

- Mua cổ phần của các công ty, đơn vị kinh tế

- Mua cổ phần của các NHTMCP

- Cấp vốn thành lập các công ty con như: công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán, công ty mua bán nợ, công ty đầu tư, công ty bảo hiểm,…

¾ Đầu tư tài chính: (đầu tư chứng khoán)

Đầu tư tài chính là hình thức đầu tư linh hoạt, người đầu tư dễ dàng thay đổi danh mục đầu tư cho mình theo hướng có lợi vì vậy đây là hình thức đầu tư thường được các NHTM sử dụng khá phổ biến Trong điều kiện có sự hoạt động của thị trường chứng khoán, các chứng khoán đều có tính chất thanh khoản cao do đó đầu tư vào chứng khoán không những tạo ra khoản mục đầu tư có mức sinh lời tương đối ổn định

mà còn tạo ra khoản “Dự trữ thứ cấp” (Secondary reserves) sẵn sàng hỗ trợ các nhu

Trang 19

cầu thanh toán phát sinh nhanh ngoài dự kiến của khách hàng

Đầu tư tài chính được thực hiện bằng cách:

- Đầu tư vào trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của NHTW, đầu tư loại này có hệ

số rủi ro bằng không vì vậy các ngân hàng có vốn khả dụng lớn thường đầu tư vào vào trái phiếu Chính phủ và trái phiếu của NHTW

- Đầu tư vào trái phiếu công ty: đầu tư trái phiếu công ty có lãi suất thường cao

hơn, song tỷ lệ rủi ro lớn so với trái phiếu Chính phủ

1.3.2.4 Tài sản Có khác:

Những khoản mục còn lại của tài sản Có, trong đó chủ yếu là tài sản lưu động-cơ

sở vật chất để tiến hành hoạt động ngân hàng như xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, mua sắm trang thiết bị, máy móc làm việc, mua sắm phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ

Ngoài tài sản lưu động, còn có các khoản thuộc tài sản Có như các khoản phải thu, các khoản khác,…

1.3.3 Các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng:

Kinh doanh dịch vụ ngân hàng được coi là nghiệp vụ trung gian, nó không ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn (nghiệp vụ nợ) và cũng không ảnh hưởng trực tiếp đến nghiệp vụ tín dụng, đầu tư (nghiệp vụ có)

Kinh doanh dịch vụ ngân hàng không những làm cho các NHTM trở thành các ngân hàng “đa năng” mà còn qua hoạt động dịch vụ sẽ tạo ra một phần thu nhập khá lớn với chi phí rất thấp Trong thực tế ngân hàng nào mở rộng hoạt động dịch vụ thì kết quả kinh doanh sẽ tốt hơn, tỷ suất lợi nhuận cao hơn Tuy nhiên chỉ những ngân hàng lớn hiện đại, mạng lưới rộng, quan hệ đại lý với nhiều ngân hàng trong và ngoài nước mới có khả năng và điều kiện phát triển các loại hình và các dịch vụ ngân hàng Các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng bao gồm:

¾ Dịch vụ ngân quỹ: đây là dịch vụ chiếm ưu thế của ngân hàng, các công việc: kiểm, đếm, phân loại, bảo quản, thu phát tiền mặt,…là thuộc loại dịch vụ này

¾ Chuyển tiền: ngân hàng nhận chuyển tiền để chuyển từ địa phương này sang địa phương khác ở trong nước hoặc từ nước này sang nước khác theo yêu cầu của người chuyển tiền Dịch vụ này đòi hỏi ngân hàng phải thực hiện nhanh chóng, chính

Trang 20

xác Với hệ thống trang thiết bị hiện đại cho phép các ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền nhanh ở cả trong nước và quốc tế

¾ Mua - bán hộ:

Các hoạt động mua bán nếu không được sự giúp đỡ của ngân hàng thì khách hàng không thực hiện được hoặc sẽ có rủi ro lớn Chỉ có ngân hàng mới thực hiện được với chi phí thấp và an toàn

Các hoạt động mua bán hộ bao gồm mua bán hộ ngoại tệ, kim khí, đá quý; mua bán

hộ những tài sản quý như báu vật, cổ vật…

¾ Dịch vụ ủy thác:

Ngân hàng nhận thực hiện các công việc mà khách hàng ủy thác như:

- Bảo quản tài sản cho cá nhân (cô nhi, quả phụ)

- Bảo quản các chứng thư quan trọng: chúc thư, bằng khoán nhà đất,

- Bảo quản tài sản quý giá: vàng bạc, đá quý, kỷ vật,…

- Bảo quản và lưu giữ chứng khoán của khách hàng

- Kiểm kê, đánh giá tài sản của công ty, xí nghiệp bị phá sản

- Nhận và bảo quản hàng hoá nhập khẩu từ nước ngoài,…

¾ Dịch vụ tư vấn tài chính, đầu tư phát triển, thẩm định dự án, cung cấp

Trang 21

1.4 Thu nhập, chi phí, lợi nhuận và phân phối lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại:

1.4.1 Thu nhập:

Hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường là hoạt động kinh doanh với mục đích lợi nhuận Muốn thu được lợi nhuận cao thì vấn đề then chốt là quản lý tốt các khoản mục tài sản Có, nhất là khoản mục cho vay và đầu tư, cùng các hoạt động cho vay khác

Các khoản thu nhập của ngân hàng bao gồm:

- Thu về hoạt động tín dụng (thu lãi cho vay, thu lãi chiết khấu, phí cho thuê tài chính, phí bảo lãnh…)

- Thu về dịch vụ thanh toán và ngân quỹ (thu lãi tiền gửi, dịch vụ thanh toán, dịch

vụ ngân quỹ,…)

- Thu từ các hoạt động khác như: thu lãi góp vốn, mua cổ phần, thu về mua bán chứng khoán, thu về kinh doanh ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý, thu về nghiệp vụ ủy thác, đại lý, thu dịch vụ tư vấn, thu kinh doanh bảo hiểm, thu dịch vụ kinh doanh ngân hàng khác như bảo quản, cho thuê két sắt, cầm đồ…

- Các khoản thu khác bất thường

1.4.2 Chi phí của ngân hàng:

¾ Chi về hoạt động huy động vốn: trả lãi tiền vay, trả lãi tiền tiết kiệm, trả lãi tiền gửi, trả lãi kỳ phiếu, trái phiếu,…

¾ Chi về nghiệp vụ thanh toán và ngân quỹ: chi dịch vụ thanh toán, chi ngân quỹ, cước phí bưu điện về mạng viễn thông, chi về dịch vụ khác,…

¾ Chi về các hoạt động khác: chi mua, bán chứng khoán, chi về kinh doanh ngoại tệ vàng bạc đá quý

¾ Chi nộp thuế, các khoản phí, lệ phí

¾ Chi cho nhân viên: chi lương, phụ cấp cho cán bộ nhân viên, chi trang phục, bảo hộ lao động, chi bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, chi trợ

cấp khó khăn, trợ cấp thôi việc cho nhân viên

1.4.3 Lợi nhuận của ngân hàng Thương mại:

¾ Lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại gồm hai chỉ tiêu:

Trang 22

Lợi nhuận trước thuế = Tổng thu nhập - Tổng chi phí

Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế - Thuế thu nhập

Muốn tăng lợi nhuận ngân hàng cần phải:

- Tăng thu nhập bằng cách mở rộng tín dụng, tăng cường đầu tư và đa dạng hoá các hoạt động dịch vụ ngân hàng

- Giảm chi phí của ngân hàng bao gồm nhiều loại, trong đó tập trung quản lý và tiết kiệm chi phí về nhân viên, các khoản chi khác

¾ Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng

Lợi nhuận ròng Tài sản có bình quân

Chỉ tiêu này có ý nghĩa: một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khả năng sinh lời trên một đồng vốn của ngân hàng Hệ số này càng lớn thì khả năng sinh lời tài chính càng lớn

- Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi: là chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận ròng với tài sản Có sinh lời

Lợi nhuận ròng P’ =

Tổng tài sản Có sinh lời

Trang 23

(Tài sản Có sinh lời bao gồm: các khoản cho vay, đầu tư chứng khoán, tài sản có sinh lời khác Chỉ tiêu này cho thấy hiệu suất sinh lời của tài sản Có sinh lời, tỷ suất này càng gần H(ROA) thì hiệu suất sử dụng tài sản càng lớn)

- Hệ số an toàn vốn tự có (hệ số Cooke)

1.4.4 Phân phối lợi nhuận:

¾ Đối với Ngân hàng Thương mại quốc doanh: sau khi thực hiện nghĩa vụ

thuế, lợi nhuận của NHTM quốc doanh được phân phối như sau:

- Trích lập quỹ dự trữ 5%

- Bù các khoản lỗ của các năm trước (nếu có) với điều kiện khoản lỗ không được trừ vào lãi gộp

- Nộp thuế vốn 1,5%

- Trừ các khoản tiền phạt thuộc trách nhiệm của ngân hàng

Phần còn lại sau khi trừ bốn khoản trên được phân phối 100% cho:

- Trích lập quỹ đầu tư và phát triển 50%

- Trích lập quỹ dự phòng tài chính 10%

- Trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi tối đa 35%, cụ thể như sau: ba tháng lương thực hiện nếu tỷ suất lợi nhuận năm nay lớn hơn năm trước, hai tháng lương thực hiện nếu tỷ suất lợi nhuận năm nay nhỏ hơn năm trước

- Trích lập quỹ khác: trợ cấp mất việc,…

¾ Đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần:

- Trích lập quỹ bổ sung vốn điều lệ 5%

- Bù các khoản lỗ năm trước

- Phần còn lại sẽ phân phối 100% cho các khoản: trích lập quỹ dự phòng tài chính 10%, trích lập quỹ trợ cấp mất việc làm 5%, còn lại 85% dùng để đầu tư, chia cổ tức, khen thưởng và phúc lợi

Trang 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 2.1 Điều kiện tự nhiên và thực trạng nền kinh tế ở An Giang:

2.1.1 Điều kiện tự nhiên:

An Giang là một tỉnh Tây nam của Tổ quốc, nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữa hai dòng sông Tiền và sông Hậu Phía Đông bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Tây bắc giáp Campuchia có đường biên giới dài gần 100 km, với hai cửa khẩu quốc tế Vĩnh Xương thuộc huyện Tân Châu, cửa khẩu Tịnh Biên thuộc huyện Tịnh Biên và một khu kinh tế cửa khẩu Khánh Bình thuộc huyện An Phú, phía Tây nam giáp với tỉnh Kiên Giang, phía Đông Nam giáp Thành phố Cần Thơ

Với diện tích toàn tỉnh là 3.535,51 km2 An Giang chiếm 1,05% diện tích toàn quốc

và chiếm 8,71% diện tích toàn vùng ĐBSCL An Giang hiện có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc và chính huyện An Phú, Châu Thành, Châu phú, Chợ Mới, Phú Tân, Tri Tôn, Thoại Sơn, Tịnh Biên, Tân Châu

An Giang có đường giao thông thủy, bộ khá thuận tiện Đường bộ với trục chính là quốc lộ 91 nối với quốc lộ 2 của Campuchia Đường thủy với hai nhánh sông Tiền và sông Hậu tạo nên những tuyến giao thông quan trọng nối các tỉnh trong vùng ĐBSCL với các nước Lào, Thái Lan và vùng biển Đông là một trong những điều kiện hỗ trợ cho việc mở cửa hội nhập và phát triển của toàn vùng với các nước trong khu vực ASEAN

Hơn 73% diện tích là đất phù sa màu mỡ từ hai nhánh sông Tiền và sông hậu, cùng với diện tích mặt nước ngọt lớn làm cho An Giang có thế mạnh về sản xuất lúa gạo và thủy sản Hiện nay sản lượng lúa An Giang là hơn 3 triệu tấn lớn nhất toàn vùng, sản lượng khai thác thủy sản đứng thứ ba toàn vùng, trong đó sản lượng nuôi trồng theo địa phương là lớn nhất toàn quốc

Ngoài ra An Giang còn có núi, rừng, khoáng sản, những di tích vật thể và phi vật thể là những điều kiện tốt để An Giang có thể phát triển nền kinh tế có tính chủ lực xen lẫn tính đa dạng

Trang 25

2.1.2 Thực trạng nền kinh tế An Giang:

Tổng GDP toàn tỉnh An Giang đến năm 2005 theo giá thực tế là 18.767 tỷ đồng,

bằng 11,8% toàn vùng ĐBSCL và gần bằng 2,2% so với cả nước

Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế An Giang so cả nước và ĐBSCL (1996-2005)

- Nông, lâm, thuỷ sản 1,96 5,18 3,56

- Công nghiệp- xây dựng 11,36 12,18 11,77

Nguồn: Quy hoặch tổng thể phát triển kinh tế xã hội An Giang 2006-2010

Giai đoạn 1996- 2005 tốc độ tăng trưởng của An Giang cao hơn 1,1 lần so với cả

nước (8%) và cao hơn 1,3 lần so với toàn vùng ĐBSCL (6,1%) Trong đó ngành nông,

lâm, thủy sản đạt mức tăng trưởng thấp 3,56%, ngành công nghiệp- xây dựng có mức

tăng trưởng khả quan ở mức 11,77%, đặc biệt là sự tăng trưởng mạnh của ngành dịch

vụ 11,53% gấp 2,4 lần tốc độ tăng trưởng của khối ngành sản xuất

Nhìn chung, An Giang là tỉnh có lợi thế so sánh đặc biệt về vị trí địa lý và điều kiện

tự nhiên để phát triển toàn diện về kinh tế -xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành

tựu đã đạt được An giang cũng còn không ít những khó khăn như xuất phát điểm của

nền kinh tế còn thấp, cơ sở hạ tầng còn chưa cao, các vấn đề về kinh tế và xã hội vẫn

còn nhiều tồn tại

2.2 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống Ngân hàng Thương mại trên địa

bàn tỉnh An Giang:

Sau khi đất nước được độc lập ngày 30 tháng 4 năm 1945, NHNN Việt Nam ra đời

Lúc này ở An Giang có chi nhánh NHNN tỉnh và 9 chi nhánh trực thuộc ở Long

Xuyên, Châu Đốc, Thoại Sơn, Chợ Mới, Châu Thành, Châu Phú, Phú Tân, Phú Châu,

Bảy Núi Đến năm 1979 huyện Bảy Núi tách ra thành hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn

Trang 26

do vậy NHNN tỉnh An Giang lúc này có đến 10 chi nhánh huyện thị trực thuộc

Ngày 24 tháng 6 năm 1981 Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ) quyết định chuyển Ngân hàng Kiến thiết trực thuộc Bộ Tài chính sang hệ thống NHNN với tên gọi là Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng, cũng từ đó ở An Giang có thêm chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng tỉnh Tổ chức tín dụng ngân hàng ở An Giang trong giai đoạn này bao gồm: các chi nhánh NHNN và các Quỹ tiết kiệm XHCN từ tỉnh đến huyện, xã

Ngày 26 tháng 3 năm 1988 Hội đồng Bộ Trưởng ban hành nghị định số 53/HĐBT tách bạch chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ tín dụng của NHNN ra khỏi chức năng kinh doanh, chuyển chức năng kinh doanh sang các ngân hàng chuyên doanh hặch toán kế toán độc lập toàn hệ thống Cũng chính vì vậy mà ở An Giang vào tháng

8 năm 1988 hai ngân hàng chuyên doanh đã được thành lập đó là Ngân hàng Công thương và Ngân hàng phát triển Nông nghiệp, ngoài ra tỉnh còn thành lập Công ty kinh doanh vàng bạc để kinh doanh và thực hiện các dịch vụ về vàng bạc Trong thời gian này Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng ở An giang được giải thể để thành lập Phòng cấp phát xây dựng cơ bản trực thuộc Ngân hàng phát triển Nông nghiệp tỉnh, đến đầu tháng 5 năm 1990 phòng này được tách ra khỏi Ngân hàng phát triển Nông nghiệp hình thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh, ngoài ra trong giai đoạn này UBND tỉnh, huyện, xã còn cho thành lập hơn 11 Trung tâm tín dụng ngoài quốc doanh như Trung tâm tín dụng Long Xuyên, Mỹ Xuyên, Mỹ Thạnh, Mỹ Long, Mỹ Khánh, Bến Thành, Trung tâm đầu tư và phát triển Long Xuyên,… sau một thời gian ngắn hoạt động các trung tâm này bị đổ vỡ hàng loạt

Tiếp tục đổi mới về mô hình tổ chức hệ thống ngân hàng, ngày 24 tháng 2 năm

1990 Hội đồng Nhà nước đã công bố 2 pháp lệnh đó là pháp lệnh NHNN và pháp lệnh Ngân hàng - hợp tác xã tín dụng - công ty tài chính, theo tin thần của hai pháp lệnh này thì NHTW thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hệ thống ngân hàng còn chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng thuộc về các NHTM Ngoài ra NHNN còn cho phép thành lập nhiều NHTMCP và QTDND

Ở An Giang từ khi có pháp lệnh ngân hàng - hợp tác xã tín dụng - công ty tài chính

Trang 27

đã hình thành thêm hai ngân hàng thương mại mới đó là Ngân hàng Ngoại thương tỉnh (tháng10 năm 1991) được tách ra từ “Phòng quản lý ngoại hối” của chi nhánh NHNN tỉnh và Ngân hàng phục vụ người nghèo tỉnh (năm 1995) được tách ra từ “Quỹ cho vay

ưu đãi hộ nghèo” của Ngân hàng Nông nghiệp Đến năm 2003 Ngân hàng phục vụ người nghèo được đổi tên thành Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH)

Tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2006 trên địa bàn tỉnh An Giang có:

- 5 NHTMQD và có 1 NHCSXH

- 5 NHTMCP gồm: Á Châu, Đông Á, Phương Nam, Sài Gòn Thương Tín, Sài gòn công thương và 1 NHCP nông thôn Mỹ Xuyên

- 26 QTDND trong đó 1QTDND Trung ương và 25 QTDND cơ sở

2.3 Thực trạng hoạt động của các Ngân hàng Thương mại trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn từ 2003 đến 30/06/2006:

2.3.1 Tình hình huy động vốn:

Trong những năm qua, các NHTM trên địa bàn tỉnh An Giang đã từng bước đổi mới về tổ chức và hoạt động, hệ thống mạng lưới được phát triển ở rộng khắp từ tỉnh đến tận phường, xã Ngoài ra, các NHTM còn không ngừng nâng cao trình độ nghiệp

vụ, đổi mới tác phong phục vụ của đội ngũ cán bộ nhân viên, hoà với hệ thống ngân hàng của cả nước từng bước thực hiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

Về nghiệp vụ huy động vốn, các NHTM ở An Giang đã áp dụng nhiều biện pháp huy động đa dạng để thu hút vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội trong toàn tỉnh như huy động tiền gửi tiết kiệm VNĐ, ngoại tệ, kỳ phiếu ngân hàng có mục đích với nhiều kỳ hạn khác nhau như: không kỳ hạn, kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, 1 năm, hơn 1 năm với nhiều phương thức trả lãi đa dạng trả lãi trước, trả lãi từng tháng, trả lãi khi đến hạn,…Nhìn chung, nguồn vốn huy động các năm trong giai đoạn 2003 đến 30/06/2006 đều tăng

2.3.1.1 Cơ cấu vốn huy động:

Năm 2003 toàn hệ thống NHTM ở An Giang huy động được 1.723 tỷ đồng, đến năm 2005 vốn huy động tăng đến 2.513 tỷ Đặc biệt chỉ trong 6 tháng đầu năm 2006 các NHTM đã huy động được 2.948 tỷ, điều này cho thấy triển vọng huy động vốn trong năm 2006 là lớn, tốc độ tăng nguồn vốn huy động năm 2006 sẽ cao hơn so với

Trang 28

năm 2005

¾ Xét về hình thái giá trị:

Vốn huy động bằng VNĐ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động Trong giai đoạn 2003 – 2005 vốn huy động VNĐ luôn chiếm tỷ trọng trên 93%, còn vốn huy động bằng ngoại tệ chỉ khoảng dưới 7% Nguyên nhân này là do lãi suất huy động bằng VNĐ luôn cao hơn lãi suất huy động bằng ngoại tệ, thêm vào đó tỷ giá giữa VNĐ và ngoại tệ tương đối ổn định nên ít xảy ra tình trạng chuyển vốn từ VNĐ sang ngoại tệ

Đến năm 2006 do các NHTM ở An Giang có nhiều chiến lược thu hút vốn ngoại tệ như tăng lãi suất huy động và nhiều chương trình khuyến khích khác cho nên chỉ trong

6 tháng đầu năm 2006 tỷ trọng vốn huy động bằng ngoại tệ đã tăng đạt 491 tỷ đồng

cao hơn so với cùng kỳ năm trước

Bảng 2: Cơ cấu vốn huy động giai đoạn 2003 đến 30/06/2006

Nguồn: Báo cáo tổng kết NHNN Chi nhánh tỉnh An Giang 2003-30/06/06

¾ Xét theo tính chất của tiền gửi:

Tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng lớn qua các năm luôn đạt trên 69,2% tổng vốn huy động Trong đó tiền gửi các tổ chức kinh tế còn chiếm tỷ trọng nhỏ chỉ dưới

Trang 29

24,9%, điều này cho thấy các NHTM chỉ thu hút được nguồn vốn chủ yếu từ vốn nhàn rỗi trong dân cư chưa thu hút được nhiều nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế Bởi do, ngoài sự hấp dẫn của lãi suất các tổ chức kinh tế còn cần đến các dịch vụ tiện ích khác tiền gửi thanh toán, tiền gửi mua các tích sản tài chính, Có thể nói nguyên nhân chủ yếu các NHTM chưa thu hút được nhiều nguồn vốn từ các tổ chức kinh tế là do các dịch vụ kèm theo trong nghiệp vụ huy động vốn của các NHTM chưa thật sự đa dạng

¾ Xét theo loại hình tổ chức tín dụng:

Các NHTMQD luôn thu hút được nguồn vốn lớn, tỷ trọng vốn huy động của các NHTMQD luôn cao trong tổng vốn huy động trên địa bàn tỉnh Nếu như ở năm 2003 các NHTMQD huy động được 1.567 tỷ đồng chiếm 90,9% trong tổng nguồn vốn huy động, thì đến năm 2005 nguồn vốn huy động của các NHTMQD đã đạt đến 2.233 tỷ đồng chiếm 88,3% tổng vốn huy động trong toàn tỉnh Điều này cũng dể lý giải, các NHTMQD đã có bề dày về lịch sử hoạt động trên địa bàn từ những năm sau giải phóng, còn các NHTMCP chỉ mới được thành lập do vậy thói quen và lòng tin của người dân và của các TCKT đối với các NHTMQD đã có từ lâu còn đối với các

NHTMCP thì đang được xây dựng

Biểu đồ 1: Nguồn vốn huy động chia theo loại hình tổ chức tín dụng giai

Năm

Tỷ đồng

Trang 30

2.3.1.2 Tốc độ tăng nguồn vốn huy động:

Bảng 3: Tốc độ tăng vốn huy động giai đoạn 2003-30/06/06

Đơn vị tính: tỷ đồng, %

Năm Vốn huy động

(tỷ đồng)

Tốc độ tăng so với năm trước (%)

Nguồn: Báo cáo tổng kết NHNN chi nhánh tỉnh An Giang 2002-30/06/06

Nguồn vốn huy động các năm trong giai đoạn (2002-2005) đều tăng Năm 2003 tăng 20,1% so với năm 2002 Năm 2004 chỉ tăng 4% so với năm 2003 là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn (2002-2005) không đạt được mức kế hoặch đề ra là 24% cho năm, nguyên nhân chủ yếu là do trong năm 2004 mức giá cả hàng hoá và dịch vụ trong nước tăng mạnh (9,5%) trong khi đó lãi suất tiền gửi tăng không tương xứng do vậy khó thu hút được nguồn vốn từ nền kinh tế

Năm 2005 tốc độ tăng trưởng vốn vốn huy động đạt cao 42,9% so với năm 2004 đây là mức tăng trưởng cao nhất trong giai đoạn (2002-2005) Đạt được kết quả này là

do trong năm 2005 không chỉ riêng các NHTM ở An Giang mà hầu hết các NHTM trong cả nước đều có cuộc chạy đua về lãi suất huy động, lãi suất huy động cao theo

đó vốn huy động được nhiều Riêng ở An Giang trong năm này các NHTM đã có nhiều phương thức thu hút tiền gửi như việc áp dụng lãi suất bậc thang của NHNNo &

PTNT, gửi tiền tiết kiệm trúng nhà của NHCT,…

Biểu đồ 2: Nguồn vốn huy động của các NHTM giai đoạn 2003-30/0606

Trang 31

2.3.2.1 Cơ cấu dư nợ cho vay:

* Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế:

Những năm 2003-2004 cùng với cả nước An Giang đã và đang sắp xếp lại và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Tính đến tháng 2 năm 2006 An Giang đã

cổ phần hoá được 26 trong số 36 DNNN (Sở kế hoặch và Đầu tư An Giang) Do các doanh nghiệp được cổ phần hoá chủ yếu là các doanh nghiệp chủ lực trong ngành sản xuất công nghiệp của tỉnh cho nên dư nợ cho vay đối với thành phần kinh tế nhà nước trong năm qua tại các NHTM đều giảm Nếu như năm 2003 dư nợ cho vay đối với các DNNN là 1.034 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 19% thì đến năm 2005 dư nợ cho vay chỉ còn

830 tỷ, chiếm tỷ lệ 11,9% trong tổng dư nợ cho vay

Trái lại với các DNNN, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) ngày càng tăng trên địa bàn tỉnh Theo Sở kế hoặch và Đầu tư An Giang tính đến tháng 2 năm 2006 cả tỉnh có 2.245 DNNQD, do vậy nhu cầu về vốn cho thành phần kinh tế này ngày càng lớn Năm 2003 dư nợ cho vay các DNNQD là 2.120 tỷ đồng chiếm 39,1%, đến năm 2005 dư nợ cho vay đạt 3.008 tỷ chiếm tỷ trọng 43,3% trong tổng dư

nợ cho vay

Bảng 4: Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế giai đoạn 2003-30/06/06

Ngày đăng: 09/01/2018, 10:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w