Các phương pháp điều trị tuỷ răng Đặt vấn đề: Nội nha là một ngành nha khoa, chuyên chẩn đoán, điều trị những tổn thương tuỷ và những biến chứng của nó ở tổ chức quanh cuống răng. Điều trị nội nha đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các răng bệnh lý và phục hội lại chức năng ăn nhai và thẩm mỹ của hàm răng. Từ những năm đầu thế kỷ XX Coolidge, Prinz, Shap và Appleton đB đặt nền móng cho điều trị nội nha dựa trên cơ sở lý thuyết y sinh học, coi một răng không còn mô tuỷ vẫn là một đơn vị sống trên cung hàm. Chính vì vậy trong những năm qua nhiều tác giả đB không ngừng nghiên cứu, nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lương điều trị tuỷ răng. Cho đến nay nguyên tắc cơ bản của điều trị tủy vẫn không thay đổi so với hơn 40 năm trước đây nguyên tắc đó là "Tam thức nội nha" bao gồm 3 yếu tố: Vô trùng Làm sạch và tạo hình ống tủy Hàn kín hệ thống ống tủy. Các phương pháp điều trị tủy trên lâm sàng không ngừng được cải tiến về vật liệu cũng như kỹ năng nhằm mục đích đạt được hiệu quả điều trị cao nhất trong đó có rất nhiều nghiên cứu về khoa học cơ bản cũng như khoa học ứng dụng để tìm ra biện pháp tôn trọng cân bằng sinh thái của mô răng và mô quanh răng trong phức hợp chức năng nhai. Đến giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, nguyên tắc điều trị được hoàn thiện bởi thuật ngữ "ba chiều không gian", theo đó việc thực hiện mỗi yếu tố trong "tam thức nội nha" đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức và kỹ năng lâm sàng của bác sỹ.
Trang 1Các phương pháp điều trị tuỷ răng
Đặt vấn đề:
Nội nha là một ngành nha khoa, chuyên chẩn đoán, điều trị những tổn thương tuỷ và những biến chứng của nó ở tổ chức quanh cuống răng Điều trị nội nha đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các răng bệnh lý và phục hội lại chức năng ăn nhai và thẩm mỹ của hàm răng Từ những năm đầu thế kỷ XX Coolidge, Prinz, Shap và Appleton đB đặt nền móng cho điều trị nội nha dựa trên cơ sở lý thuyết y sinh học, coi một răng không còn mô tuỷ vẫn là một đơn vị sống trên cung hàm Chính vì vậy trong những năm qua nhiều tác giả đB không ngừng nghiên cứu, nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lương điều trị tuỷ răng Cho đến nay nguyên tắc cơ bản của điều trị tủy vẫn không thay đổi so với hơn
40 năm trước đây nguyên tắc đó là "Tam thức nội nha" bao gồm 3 yếu tố:
Đến giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, nguyên tắc điều trị được hoàn thiện bởi thuật ngữ "ba chiều không gian", theo đó việc thực hiện mỗi yếu tố trong
"tam thức nội nha" đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức và kỹ năng lâm sàng của bác sỹ
Trang 2Các phương pháp điều trị tuỷ:
I- Điều trị bảo tồn
1.1 Chụp tuỷ [1]
- Những răng viêm tuỷ có hồi phục:
Viêm tuỷ cấp tiên phát
Viêm tuỷ mạn tính kín
- Đặc điểm bệnh lý của các răng viêm tuỷ có hồi phục :
Sự xâm nhập của vi khuẩn gây tổn thương ngà răng đến sát trần tuỷ qua 2 cơ chế: tiêu collagen và làm mất chất khoáng
Phản ứng của tuỷ răng đối với hiện tượng bệnh lý sâu răng là tạo ra một hàng rào bảo vệ: xơ cứng ngà ngoại vi và tạo ngà thứ phát Hai lớp ngà này không thấm ngăn cản sự xâm nhập vào buồng tuỷ của vi khuẩn Tuy nhiên sự lan toả độc tố vi khuẩn vào buồng tuỷ gây xung huyết tuỷ gây nên bệnh cảnh viêm tuỷ có hồi phục trên lâm sàng
ở lớp ngà sâu của những răng này phân hoá thành 2 lớp : trong đó lớp ở sâu ít viêm và có khả năng tái khoáng hoá với sự có mặt của một số lượng nhỏ vi khuẩn Vì vậy, chất hoá học có đặc tính kháng khuẩn bề mặt sẽ bất hoạt vi khuẩn, cô lập vi khuẩn với môi trường dinh dưỡng xung quanh sẽ tạo điều kiện tái khoáng hoá lớp ngà trần tuỷ, tạo điều kiện phục hồi tuỷ răng
- Những răng hở tuỷ đột ngột trong quá trình điều trị :
- Tuổi của răng: tuổi càng cao số tế bào trong buồng tuỷ càng ít, vì vậy số lượng tế bào không biệt hoá có thể di chuyển ra ngoại vi thay thế lớp
nguyên bào tạo ngà bị tổn thương do hở tuỷ ít đi nên khả năng phục hồi kém
- Tuỷ viêm mạn tính không phục hồi không cao
Trang 3- Tính chất của hở tuỷ: Tuỷ giập nát, chảy máu nhiều, kém hồi phục Hở sừng tuỷ khả hồi phục tốt hơn hở tuỷ ở cổ răng do chất chụp tuỷ có thể gây hoại tử tuỷ buồng do chèn ép
- Nếu không có Ca(OH)2 có thể dùng eugnenat tương đối vô trùng
Kỹ thuật: Lấy sạch ngà mủn, cô lập răng
- Chụp tuỷ gián tiếp : Đặt Ca(OH)2 vào sát lớp ngà trần tuỷ
- Chụp tuỷ trực tiếp :
Nếu tuỷ chảy máu nhiều có thể cầm máu trước khi chụp tuỷ bằng bông với một áp lực nhẹ
Loại bỏ các mảnh ngà mụn, vi khuẩn, dung dịch thuốc tê bằng dung dịch đẳng trương
Có thể dùng pate corticosteroides 24 giờ trước khi chụp tuỷ
Đặt Ca(OH)2 vào buồng tuỷ
- Hàn phía trên Ca(OH)2 cément Zn3(PO4)2
Theo dõi các triệu chứng lâm sàng trong 3-6 tháng
Nếu không đau thì tuỷ phục hồi tốt, phục hồi thân răng
Nếu tuỷ viêm thì phải lấy tuỷ
Trang 4- Cô lập răng : Rubber damp hay bông gòn
- Tạo lỗ sâu, lấy hết ngà mềm
- Mở tuỷ, lấy hết trần tuỷ
- Lấy tuỷ buồng : nạo ngà sắt hoặc mũi khoan tròn quay ngược chiều Không gây dập nát phần tuỷ còn lại
- Rửa sạch, thấm khô, cầm máu
- Đặt chất hàn:
Với Ca(HO)2:
+ Đặt Ca(HO)2 lên trên phần tuỷ chân + Tiếp tục đặt lên trên một lớp eugenat mau cứng + Hàn thân răng còn lại bằng cément
+ Nếu răng tổn thương tổ chức cứng nhiều có thể phục hồi bằng amalgam hoặc cément silicate
Trang 5Với Formaldehyde + Tricresol + Glycerin ( Formocresol ) + Đặt một miến bông có tẩm formocresol lên trên phần tuỷ còn lại trong 5 phút Sau đó lấy bông ra
+ Trộn eugenol với 1 giọt formocresol đánh với oxyt kẽm đặt lên trên phần tuỷ còn lại Khi eugenate có formocresol cứng thì phục hồi thân răng
Kiểm tra kết quả điều trị :
Sau 6 tuần và 6 tháng chụp X-quang kiểm tra kết quả điều trị Nếu răng
không có triệu chứng viêm tuỷ, cuống đóng kín thì sau 6 tháng lấy tuỷ chân và hàn kín ống tuỷ
1.3.Lấy tuỷ toàn bộ :
Là phương pháp điều trị cơ bản, triệt để
Chỉ định:
- Viêm tuỷ cấp thứ phát, viêm tuỷ mBn tính mở
- Các răng biến chứng của viêm tuỷ: Viêm quanh cuống cấp, mạn
- Các răng điều trị bảo tồn thất bại
Trang 6- Tháo bỏ thuốc diệt tuỷ nếu có
- Cách ly răng: Ruber damp, đảm bảo trong quá trình tiến hành thủ
thuật, nước bọt không tràn vào buồng tuỷ, ống hút nước bọt
- Sát trùng vùng thủ thuật : cồn iod
Tạo đường vào buồng tuỷ
- Mở rộng lỗ sâu (nếu có) bằng mũi khoan tròn và kim cương
- Nạo ngà mủn
- Mở đường vào buồng tuỷ:
+ Lấy hết trần buồng tuỷ, mở đường vào đủ rộng tránh làm vướng dụng cụ đưa vào tuỷ chân
+ Bảo vệ cấu trúc sàn tuỷ
- Thăm dò lối vào tuỷ chân
Chuẩn bị ống tuỷ:
- Lấy tuỷ chân: trâm gai có đường kính tương ứng 1/3 đến 2/3 đường
kính ống tuỷ
- Xác định chiều dài ống tuỷ
- Nong rộng và rửa ống tuỷ
Trang 7II-Nguyên tắc điều trị nội nha
Cho đến nay nguyên tắc cơ bản của điều trị tủy vẫn không thay đổi so với hơn 40 năm trước đây nguyên tắc đó là "Tam thức nội nha" bao gồm 3 yếu tố:
- Các đặc điểm thuận lợi khi cô lập răng bằng cao su:
(1) Tránh cho bệnh nhân nuốt phải dụng cụ, các mảnh vô cơ và hữu cơ
từ mô tủy bệnh, các dung dịch sát khuẩn ống tủy
(2) Cách ly các hệ thống ống tủy với nước bọt, máu và dịch mô từ môi trường miệng, khống chế nhiễm khuẩn chéo giữa hệ thống ống tủy với các yếu tố trong môi trường miệng
(3) Bảo vệ mô mềm
(4) Thuận lợi cho bác sỹ nhìn rõ miệng ống tủy trong các thao tác lâm sàng
2.1.2 Sử dụng các dung dịch sát khuẩn ống tủy
2.1.3 Vô trùng tuyệt đối các dụng cụ nội tủy
2 2 Làm sạch và tạo hình hệ thống ống tủy
Hơn 30 năm trước đây, khái niệm "làm sạch và tạo hình hệ thống ống tủy theo ba chiều không gian" đB được áp dụng trên lâm sàng Thực ra, làm sạch và tạo hình không thể tách khỏi khái niệm hàn kín do điều kiện tiên quyết của
Trang 8thành công là tạo hình một khoang tủy phù hợp cả về hình thể và sinh hoá học
để tiếp nhận chất hàn
Nguyên tắc cơ học:[20]
Năm 1974 Schildex đB nêu năm nguyên tắc cơ học cho tạo hình hệ thống ống tủy theo ba chiều không gian:
Tạo hình ống tủy theo dạng thuôn liên tục về phía cuống răng:
- Tăng khả năng làm sạch của các dung dịch sát khuẩn
- Tạo sóng chuyển động cho chất hàn bám cứng dưới tác động của nguyên lý thuỷ lực học Bernouli
Đường kính nhỏ nhất tại lỗ cuống răng có mốc tham chiếu là
đường ranh giới xê măng - ngà trên phim x - quang Nguyên tắc này không được áp dụng khi ống tủy có hiện tượng nội tiêu tạo ra các đoạn phình bất thường Hình thể khoang tủy là dạng quan trọng phù hợp với đặc tính cơ nhiệt học của Gutta - percha để hàn kín các lỗ ống tủy
Tạo thành ống tủy có hình thuôn, thành trơn nhẵn và phải giữ
đư-ợc hình dạng ban đầu của OT theo ba chiều không gian.Tạo hình trên nhiều mặt phẳng cho "dòng chảy" của chất hàn bán cứng chịu tác động của lực kháng trở nhỏ nhất Dạng thuôn liên tục cho khoang tủy phải được tạo hình theo đúng đường cong tự nhiên của ống tủy Các nghiên cứu invivo và invitro cho thấy hệ thống ống tủy không theo một hướng đơn giản như trên X quang
mà cong theo các hướng khác nhau trong không gian Do vậy mở rộng đoạn thân ống tủy và khoang tủy thẳng trục là yếu tố quan trọng để dụng cụ tạo hình trượt theo đường cong của ống tủy
Giữ vững vị trí nguyên thủy của lỗ cuống răng Theo các nghiên cứu mô học, vị trí lỗ cuống răng thường nằm lệch về một phía của
đỉnh chóp chân răng Việc tạo hình ống tủy phải đảm bảo góc tới, tránh di chuyển lỗ cuống răng, tăng khả năng làm sạch và hàn kín tới cuống
Giữ đúng kích thước nguyên thủy của lỗ cuống răng Kích thước
lỗ cuống răng, xét trên phương diện mô học và miễn dịch học, có
Trang 9vai trò quan trọng đến tuổi thọ của răng sau điều trị Việc bảo tồn ranh giới xêmăng - ngà có tác dụng cách ly phần mô ngà "chết" (do răng không còn tủy) với lá cứng, làm cho răng tồn tại trên cung hàm như một đơn vị sống, không bị đào thải bởi đáp ứng miễn dịch
Nguyên tắc sinh học:
Ngày nay, người ta hay nói tới chuẩn bị "cơ sinh thái học" cho hệ thống ống tủy hơn là chuẩn bị "cơ học" Do vậy ngoài các nguyên tắc cơ học trên, Schildex còn nêu ra 5 nguyên tắc sinh học cho việc làm sạch và tạo hình ống tủy
Phần tác dụng hiệu lực của dụng cụ nội tủy chỉ được giới hạn trong lòng hệ thống ống tủy Việc tạo hình cuống sẽ gây tổn thương mô cuống răng do vậy việc xác định chiều dài làm việc trước tạo hình là không thể bỏ qua
Tránh đẩy những yếu tố như vi khuẩn, độc tố vi khuẩn, các mảnh tủy hoại tử và bùn ngà ra vùng cuống răng Các yếu tố này sẽ gây tổn thương mô nâng đỡ vùng quanh răng, thậm trí cả xương ổ răng
Làm sạch toàn bộ các thành phần nhiễm khuẩn trong hệ thống ống tủy, tạo ra một khoang phù hợp về sinh hoá học
Hoàn tất việc làm sạch và tạo hình mỗi ống tủy trong một lần
Trang 10- Các dung dịch làm sạch hệ thống ống tủy:
+ Oxy già (H 2 O 2 )
Hiện tượng giải phóng ôxy nguyên tử dung dịch ôxy già làm tan rB các mảnh mô hoại tử, đặc biệt là các tế bào mủ từ mô tủy, đưa các thành phần này ra khỏi hệ thống ống tủy Tác dụng phân hủy mô do tác động của enzim catalase lên các cặn hữu cơ, đồng thời ôxy Mới sinh chiếm nhóm-
SH của vi khuẩn nên ôxy già có tác dụng diệt khuẩn tương đối cao[19]
+ Nước muối sinh lý:
Không độc nếu bị đẩy ra ngoài cuống, có thể loại sạch các hạt nhỏ bằng cơ chế học, nhưng không có tác dụng hoà tan và sat khuẩn nên không được sử dụng
+ Hypochlorite Natri (NaOCl)
Cho đến nay, Hypochlorite Natri là dung dịch làm sạch được sử dụng rộng rBi nhất trên lâm sàng Từ năm 1971, Grey đB phát hiện ra đặc tính tiêu hủy mô và sát khuẩn của NaOCl Từ đó đến nay đB có rất nhiều công trình nghiên cứu về cơ chế tác dụng cũng như nồng độ hiệu dụng của dung dịch Theo Baumgartner và Mader, ở nồng độ 2,5%, NaOCl có các đặc tính:
Diệt khuẩn: là chất diệt khuẩn phổ cập, có tác dụng với các loại vi khuẩn trong ống tủy và virus
Tiêu các cặn hữu cơ của mô tủy: Theo Abou - Rass (1981) NaOCl phân hủy các cặn bB hữu cơ của mô tủy hoại tử, tạo dạng treo với các yếu tố trong lòng khoang tủy do vậy làm sạch được cả các ống tủy phụ nếu
được tạo hình tốt (nguyên tắc lực đẩy cơ học)
Làm trơn và lấy đi một phần ngà mủn suốt dọc chiều dài ống tủy[9,22]
+Các chất tạo Chelat:
Gồm 2 loại EDTA (ethylenediamine - tetraacetate) và REDTA (dung dịch hydroxide, cetyl - trimethylammonium bromide) Các chất này tạo phức hợp càng cua với ion canxi của ngà mủn và ngà mềm dọc thành ống tủy, làm tăng hiệu lực cắt ngà của dụng cụ tạo hình
+ Các chất làm trơn:
Trang 11Gồm RC.Prep và Glyoxide, có thành phần chủ yếu là peroxyol urease, có tác dụng làm trơn khi dụng cụ trượt trong lòng ống tủy RC.Prep còn có tác dụng tiêu mô mềm do làm tan rB các sợi tạo keo của mô tủy sống do vậy rất có hiệu quả khi dùng phối hợp với NaOCl
2.2.2 Tạo hình hệ thống ống tủy
2.2.2.1.Các dụng cụ tạo hình:
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về các dụng cụ tạo hình hệ thống ống tủy, chất liệu, độ mềm dẻo, cấu tạo rBnh xoắn và đầu dụng cụ hiệu lực cắt ngà Lilley đB kết luận rằng vào thời điểm cuối thế kỷ 18 chỉ có các dụng cụ
điều trị nội nha cầm tay nguyên thuỷ duy nhất và dụng cụ nhổ răng do Edward Maynard[5],[17] đB tạo ra những mảnh kim loại nhỏ có thể lấy được tuỷ răng
Năm 1852, Arthur [5],[14] dB sử dụng một cây trâm nhỏ để làm rộng ống tuỷ răng Trong giai đoạn đó những sách giáo khoa khuyên rằng ống tuỷ nên làm rộng với Broacher
Năm 1885, mũi Gates Gliden và K file được giới thiệu cho đến năm 1929 tiêu chuẩn về dụng cụ được khởi xướng bởi Trebitsh và được Ingle đưa vào năm 1958
Dụng cụ xoay máy đB được mô tả đầu tiên bởi Oltramere, ông đB mô tả việc
sử dụng các mảnh kim loại với mặt cắt ngang hình chữ nhật gắn vào tay khoan, các dụng cụ này đB tự đọng đưa vào ống tuỷ cho tới lỗ chóp răng, sau
đó sự quay mới bắt đầu
Năm 1889, Willam H Rollis đB giới thiệu tay khoan tự động cho việc chuẩn bị ống tuỷ Ông đB sử dụng một trâm đặc biệt lắp vào tay khoan với vòng xoay 360o để tránh dụng cụ gẫy, tốc độ tay khoan cho phép là 100 vòng/phút
Những năm tiếp theo việc sử dụng trâm xoay đB đựoc phát triến sử dụng phổ biến theo nguyên lý xoay 360o
Năm 1928, tay khoan kết hợp với chuyển động thẳng đứng và xoay đB dược công ty WDH (áo)giới thiệu Năm 1985 hai loại tay khoan WDH (áo) và Giromatic ( hBng Micromega) của pháp đB được dùng phổ biến ở châu Âu
Trang 12Dụng cụ cầm tay:
- Brocher: đây là các dụng cụ xoắn với các góc hình tam giác hoặc vuông, với các kích cỡ nhỏ phù hợp để lấy bỏ các tổ chức hữu cơ, chất khoáng hoặc trong điều trị lại.Động tác sử dụng: xoay cả vòng theo chiều kim đồng hồ, chỉ thực thiện trong phần ống tuỷ thẳng
- Hệ thống cây trâm nong, giũa: thường sử dụng các dộng tác xoay tròn, hệ
thống lên - xuống làm cho phần rBnh xoắn cài răng lược hoặc tiếp xúc với thanh ngà, lấy đi ngà mủn, làm trơn nhẵn và mở rộng ống tủy tạo phần dụng cụ có hiệu lực tạo hình
+ Gồm trâm giũa K, trâm giũa H(Hedstroem) và cây nạo (Reamer) Các dụng cụ này đựơc sử dụng đầu thế kỷ XX và không ngừng được cải tiến về cấu tạo và chất liệu, với 4 độ dài chuẩn 21, 25, 28, 31 mm đo từ điểm nhọn của trâm tới cán trâm, cán có thể bằng kim loại hoặc bằng plastic, độ thuôn 2%, phần làm luôn có độ dài 16mm
Giũa K có các số từ 06- 140, diện cắt ngang hình vuông, góc cắt 90o không sắc
bằng góc cắt 60o của giũa H và trâm nạo, tuy nhiên giũa K có số vòng xoắn gấp 2 lần so với Reamer cùng số nên có nhiều bờ cắt hơn, phần tác động hiệu lực là đoạn tiếp xúc với thành ngà theo chuyển động lên
- xuống Có 2 hệ thống tăng số của giũa K
Hệ thống chuẩn (ISO): Có hệ thống tăng không đều là 0,02; 0,05 và 1mm
Từ số 06 đến số 10 tăng 0,02mm/1 dụng cụ
Từ số 10 đến số 60 tăng 0,05mm/1 dụng cụ
Từ số 60 trở đi tăng 1mm/1 dụng cụ
- Hệ thống mới: có hệ số tăng đều đặn K = 29,17%
Theo Schildex, sử dụng hệ thống mới sẽ tạo ra khoang tủy thuôn đều
đặn hơn nữa về việc tính toán chiều dài làm việc trên lâm sàng dễ thực hiện hơn
Giũa H có các số từ 08- 140, diện cắt là một ống thuôn hình tròn được bẻ
xoắn lại, giũa này cắt ngà bởi động tác kéo ra mà thôi, thường phối hợp với giũa K
Trang 13Cây trâm nạo có các số từ 08- 140, diện cắt hình tam giác, trâm nạo được thiết
kế để cắt bằng cách đưa từ từ vào trong ống tuỷ với động tác xoay qua xoay lại.Bờ cắt của cây trâm nạo sắc bén hơn bờ cắt của cây trâm giũa cho nên một vài nhà sản xuất hiện nay dùng loại tam giác cho cả loại trâm nạo và trâm giũa
Giũa - flex: bắt đầu được sử dụng vào năm 1981, phối hợp đặc tính đa năng của
giũa K và hiệu lực cắt ngà của giũa H, diện cắt hình bình hành và có
bờ cắt sắc bén hơn cây trâm giũa Gồm 2 loại: Unifile và giũa S Giũa Unifile cắt với động táckéo ra xoay tròn
Giũa GT: thường được dùng sau cùng dùng để hoàn tất việc tạo hình, là dụng cụ
mới có độ thuôn tương đối lớn, tạo tính liên tục cho thành ngà
Hiện nay hợp kim Ni-Ti đang được sự dụng rộng rBi và đem lại hiệu quả cao
trong chuẩn bị ống tuỷ Năm 2003, Dentsply đB sản xuất loại trâm nong tay Protaper do 2 bác sĩ Nội nha nổi tiếng thiết kế là Julian Webster và Pievre Machton tương tự như file máy nhưng dùng rẻ hơn và an toàn tuyệt đối
Dụng cụ quay chạy máy thông thường: lắp vào tay khoan tốc độ chậm:
Nhìn chung theo ISO - FDI, dụng cụ tạo hình máy được chia thành 3 nhóm: (1) sử dụng cho tay khoan thường; (2) cho tay khoan Giromatic; (3) cho các dụng cụ nội nha siêu âm
Trang 14Gate Gliden: phæ biÕn nhÊt, cã c¸c sè tõ 1-6, dµi 15mm, 19 mm Khi dïng
kh«ng ®−îc Ên m¹nh, qu¸ løc rÊt dÔ gÉy dông cô Mòi Gates Gliđen dïng ®Ó më réng 2/3 phÝa cæ cña èng tñy, më gãc tíi cho dông cô cÇm taỵ Mòi më h×nh ngän löa, ®−îc øng dông réng rBi trªn l©m sµng Th−êng b¾t ®Çu tõ sè 4 råi ®Õn sè 3 sau ®ã lµ sè 2
Sè cµng nhá cµng vµo s©u èng tuû.Tuy nhiªn dông cô nµy cßn nhiÒu nh−îc ®iÓm, v× vËy b¸c sü Riittano vµ Spinặ.)®Ò xuÊt dông
cô Rispị Dông cô Rispi cã 6 cì sè tõ 1 ®Õn 6, lµ dông cô nong m¸y ch¹y víi tay khoan Giromatic, cã t¸c dông lµm réng lç èng tuû vµ 1/3 trªn èng tuû b»ng ®éng t¸c kÐo ng−îc lªn
Flexogate Gate- Gliden
Mòi Peeso: GÇn gièng mòi GG, hiÖu qu¶ kÐm h¬n
HÖ thèng Canal Mastex: lµ thÕ hÖ míi do Senia vµ Wiley thiÕt kÕ n¨m 1989
gåm 1 bé cÇm tay vµ mét bé m¸ỵ Dông cô nµy cã ®é mÒm dÎo cao, cã kh¶ n¨ng t¹o h×nh suèt däc hÖ thèng èng tñỵ
Dông cô dïng sãng siªu ©m:
G¾n vµo ®Çu siªu ©m chuyªn dông Cã thÓ t¹o sãng ©m tõ 150 Hz lªn tíi 20.000 Hz (siªu ©m) Dông cô nµy truyÒn sãng siªu ©m hhç trî lµm s¹ch èng tuû, t¹o h×nh èng tuû Gåm cã hÖ thèng Cavi-Endo, Neo-sonic, HÖ thèng hiÖp
®ång siªu ©m (endodontic ultrasonic synergistic system) §−îc Howard Martin
vµ Waltex Cunningham thiÕt kÕ cã thÓ sö dông gi÷a K hay Reamex víi tay cÇm siªu ©m néi nhạ HÖ thèng nµy lµm t¨ng hiÑu qu¶ c¬ häc cña c©y t¹o h×nh siªu
©m ®ång thêi t¨ng kh¶ n¨ng lµm tan chÊt h÷u c¬ vµ khö trïng cña NaOCl do hiÖn t−îng khÝ x©m thùc
Trang 15Cavi-Endo
Trâm xoay NT
Hợp kim Nickel Titanium có hai đặc tính ưu việt là có độ dẻo cao, độ đàn hồi cao, có khả năng phục hồi lại hình dạng ban đầu, có khả năng tự tìm đường vào ống tủy
Các loại trâm đều có đầu tù, căn cứ vào tác dụng xoay của góc cắt xuống, người ta chia làm 3 loại:
Loại 1: là loại thụ động có diện cắt hình chữ U, loại này không có tác dụng xoay thủng, gồm:
+ Rotary GT
+ Bộ tạo hình Profile: