1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

thanh niên hà nội và việc sử dụng internet

14 275 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 409,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

thanh niên hà nội và việc sử dụng internet tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất c...

Trang 1

THANH NIÊN HÀ NỘI VÀ VIỆC SỬ DỤNG INTERNET

Phạm Thị Huệ Trần Thị Cẩm Nhung

I GIỚI THIỆU

Sơ lược về sự phát triển Internet ở Việt Nam

Internet được phát triển ở Việt Nam lần đầu tiên khi Chính phủ ban hành Nghị định 21/CP

ngày 5/3/1997 về “Quy định tạm thời quản lý Internet”, tạo cơ sở pháp lý đầu tiên cho các

hoạt động Internet tại Việt Nam Vào thời điểm đó, quan điểm chỉ đạo của chính phủ với

Internet là “quản lý tới đâu, phát triển tới đó” Ba năm sau, cả nước có 85.000 người sử

dụng, tương đương với 1 người dùng/1.000 người dân, với khoảng 700.000 máy tính cá

nhân, tương đương với 1 máy/100 người dân Trong số đó, cứ 10 máy tính thì có 1 máy nối

mạng Internet Tại thời điểm đó, Việt Nam có 1 nhà cung cấp dịch vụ truy cập mạng, 5 nhà

cung cấp dịch vụ Internet, 14 nhà cung cấp nội dung thông tin, 9 mạng dịch vụ Internet

dùng riêng và có 4 tờ báo có trang web riêng Khi Internet trở thành làn sóng tại Việt Nam,

Chính phủ thay đổi quan điểm quản lý sang “phát triển tới đâu, quản lý tới đó” bằng việc ra

đời Nghị định 55/2001/NĐ-CP về “quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet”

Theo một khảo sát của Asia Digital Marketing Yearbook, tính đến năm 2007, Việt Nam

đứng thứ 17 trong số 20 quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng Internet nhiều nhất trên thế

giới Tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam chiếm khoảng 17,5% dân số và có đến 72%

số người trong độ tuổi 18-30 sử dụng Internet để tán gẫu (chat) và 81% số người trong độ

tuổi 41-50 thường xuyên đọc báo và xem tin tức trên Internet

Cho đến nay, Internet đã phát triển đến 64 tỉnh, thành phố trong cả nước và số người sử

dụng Internet vẫn không ngừng tăng lên Theo Bộ Bưu chính Viễn thông, Internet đã có

mặt tại 100% các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, cao đẳng, các bệnh viện trung

ương, các Tập đoàn và các Tổng công ty nhà nước, 98% các trường Trung học phổ thông,

Trung học chuyên nghiệp, 92% các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 50% các trường Trung học

cơ sở, Bệnh viện cấp tỉnh, 26/26 Bộ Ngành, 56/64 tỉnh thành đã có Website riêng, ở những

vùng sâu, vùng xa, hải đảo, Internet cũng đã có mặt để phục vụ nhân dân Tính đến tháng

3/2009, Việt Nam có 21 triệu người sử dụng Internet, chiếm 24% dân số cả nước

Tình hình phát triển Internet (tính đến tháng 3/ 2009)

- Tỉ lệ số dân sử dụng Internet : 24.67%

- Tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của Việt Nam: 51.507 Mbps

- Tổng băng thông kênh kết nối trong nước: 78.900 Mbps

Trang 2

- Tổng lưu lượng trao đổi qua trạm trung chuyển VNIX : 37.300.335 Gbytes

- Tổng số tên miền vn đã đăng ký: 100.979

- Tổng số tên miền Tiếng Việt đã đăng ký: 4.386

- Tổng số địa chỉ IPv4 đã cấp : 6.692.864 địa chỉ

- Số lượng địa chỉ IPv6 qui đổi theo đơn vị /64 đã cấp: 42.065.885.184/64 địa chỉ

- Tổng thuê bao băng rộng (xDSL) : 2.271.389

(Nguồn: VNNIC – Trung tâm thông tin Internet Việt Nam

http://www.thongkeinternet.vn/jsp/trangchu/index.jsp truy cập ngày 10/5/2009)

Tháng 12/2008, mạng Yahoo! Việt Nam và công ty TNS Media Việt Nam phối hợp cùng Hiệp hội Quảng cáo thực hiện một nghiên cứu về thói quen sử dụng Internet trong nước; lối sống, tâm lý của người sử dụng Internet và các thương hiệu được họ quan tâm và ưa chuộng Nghiên cứu được tiến hành tại 4 thành phố lớn của Việt Nam bao gồm Hà Nội, TP

Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, và Cần Thơ với 1.200 người từ 15 tuổi trở lên tham gia trả lời phỏng vấn trực tiếp Kết quả cho thấy, có 42% người dân ở 4 thành phố lớn này sử dụng Internet, hầu hết người dùng Internet là thanh niên trong độ tuổi từ 15 đến 19, chiếm 79%

Có 62% người sử dụng trong độ tuổi 20-29, và 19% trong độ tuổi từ 40 trở lên Thời gian trung bình dành cho việc truy cập Internet là 43 phút/ngày, gấp đôi so với thời điểm năm

2006 (22 phút/ngày) Về địa điểm truy cập, hầu hết người dân truy cập Internet tại nhà, chiếm 66%, đứng thứ hai là quán café Internet hoặc các điểm truy cập dịch vụ internet chiếm 53% Về mục đích sử dụng Internet, 82% người sử dụng truy cập vào các trang công cụ tìm kiếm và gần 90% đọc tin tức trên các báo điện tử và các trang thông tin khác, 73% người truy cập Internet sử dụng các công cụ chat và 58% sử dụng web mail Kết quả khảo sát cũng cho thấy, chi phí bình quân cho việc sử dụng Internet (phí thuê bao) vào khoảng 174.000 đồng/người/tháng (tương đương 10 USD) Nếu tính tổng cộng cả nước, chi phí bình quân cho việc sử dụng Internet lên tới 600 tỷ đồng/tháng, tương đương 7.200 tỷ đồng năm 2008

Theo Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010, Việt Nam phấn đấu đạt mật độ thuê bao Internet đạt từ 8-12 thuê bao/110 người dân vào năm 2010, trong

đó có 30% là thuê bao băng rộng và tỷ lệ người sử dụng Internet đạt được đạt 25-35% dân số; Đảm bảo đa số cán bộ, công chức, viên chức, giáo viên, bác sĩ, sinh viên đại học và cao đẳng, học sinh trung học chuyên nghiệp và học sinh phổ thông trung học có điều kiện sử dụng Internet; Đẩy mạnh việc phổ cập Internet đến tất cả các xã trong cả nước Đến năm

2010 đảm bảo 70% số xã có điểm truy nhập Internet công cộng, 100% số huyện và hầu hết các xã trong các vùng kinh tế trọng điểm được cung cấp dịch vụ Internet băng rộng Đảm

Trang 3

bảo tất cả các Bộ, ngành, cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền cấp tỉnh và huyện

được kết nối Internet băng rộng và kết nối với mạng diện rộng của Chính phủ; 100% viện

nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và trung học phổ thông có

kết nối để truy nhập Internet băng rộng; trên 90% các trường trung học cơ sở, bệnh viện

được kết nối Internet Với kế hoạch này, ước tính, số lượng người sử dụng Internet ở Việt

Nam sẽ còn tiếp tục tăng

Cùng với sự gia tăng số lượng người sử dụng Internet, trong đó chiếm số đông là thanh

niên, việc nghiên cứu về hoạt động và mục đích sử dụng Internet trong nhóm thanh niên là

cần thiết, góp phần tìm hiểu những ảnh hướng hoặc tác động của việc sử dụng Internet đến

nhóm dân cư này nhằm giúp cho việc truyền thông bằng phương tiện công nghệ cao này

thực sự mang lại lợi ích và tạo “không gian” lành mạnh cho người sử dụng là thanh niên

Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu về mục đích sử dụng Internet của thanh niên Hà

Nội và các yếu tố tác động đến sự khác nhau trong lựa chọn của thanh niên Hà Nội khi sử

dụng Internet

Bài viết sử dụng số liệu của cuộc điều tra sức khoẻ thanh niên và vị thành niên Hà Nội

thuộc Chương trình nghiên cứu hợp tác “Nghiên cứu sức khoẻ sinh sản và tình dục vị thành

niên và thanh niên ở ba nước châu Á” hợp tác giữa Bộ Y tế Việt Nam và các đối tác nước

ngoài Nghiên cứu được tiến hành năm 2006, với tổng mẫu 6363 người trả lời trong độ tuổi

15-24, trong đó nam chiếm 49,3% và nữ giới chiếm 50,7% Vì cuộc điều tra tập trung vào

nhóm thanh niên và vị thành niên nên chủ yếu là học sinh, sinh viên nên hầu hết người

tham gia trả lời chưa kết hôn Tỷ lệ đã kết hôn chỉ chiếm 2,5% nên trong bài viết này không

xem xét vấn đề sử dụng internet giữa người đã kết hôn và người chưa kết hôn Cuộc điều

tra này tìm hiểu thanh niên Hà Nội sử dụng internet vào các mục đích: chat, chơi các trò

chơi trên mạng, xem phim, xem tin tức, tìm kiếm thông tin, trao đổi qua thư điện tử, mua

bán trên mạng, và các mục đích khác nếu có Các biến độc lập sẽ tìm hiểu bao gồm: giới

tính, tuổi, nghề nghiệp, và học vấn của người trả lời (Xem bảng dưới đây) Về nghề nghiệp,

cuộc điều tra tìm hiểu nghề nghiệp chính của người trả lời ở hiện tại và nếu hiện tại không

làm việc thì nghề nghiệp họ làm trong thời điểm gần nhất với thời điểm tiến hành cuộc điều

tra

Độ tuổi

15-18 tuổi 30% 19-20 tuổi 23,2% 21-22 tuổi 22,8% 23-24 tuổi 16,1%

Trình độ học vấn

Cấp 1 trở xuống 2,4%

Trang 4

THCS 32,4% THPT 54,7%

Nghề nghiệp (N = 3.270)

Dịch vụ 30,5% Tiểu thủ công nghiệp và công nhân có tay nghề 27,9%

II CÁC NGHIÊN CÚU LIÊN QUAN VỀ SỬ DỤNG INTERNET VÀ ẢNH HƯỞNG

ĐỐI VỚI THANH NIÊN

Việc tiếp cận Internet và ảnh hưởng của nó đối với người dùng là chủ đề được thảo luận

nhiều trên các diễn đàn của các nhà quản lý và các phương tiện truyền thông đại chúng ở

Việt Nam, tuy nhiên, nghiên cứu về hành vi sử dụng Internet của người sử dụng ở Việt

Nam lại không nhiều Các báo cáo về tình hình sử dụng Internet của người sử dụng ở Việt

Nam chủ yếu là của các cơ quan quản lý nhà nước về thông tin như Tổng công ty Bưu

chính viễn thông Việt Nam hay các nhà cung cấp dịch vụ Internet và các thông tin cung cấp

chủ yếu là số liệu thống kê

Internet ngày càng trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của giới trẻ, góp phần

hình thành xu hướng cá nhân hoá (individualisation) và tư hữu hoá (privatisation) việc sử

dụng phương tiện truyền thông vốn mang bản chất là dành cho số đông người sử dụng

(Sonia Livingstone and Bovill 2001) Sherry Turkle trong một cuốn sách đã xem Internet

như một không gian mà qua đó người sử dụng học hỏi và trưởng thành (Mia Lovheim

2005) Bằng việc thể hiện mình trên Internet và giao tiếp với những người khác thông qua

Internet, người sử dụng có một “không gian” nơi họ có thể thể nghiệm những cách thức

mới để hiểu về hiện thực, về bản thân và về người khác

Về chủ đề ảnh hưởng của việc sử dụng Internet với thanh niên Việt Nam có nghiên cứu gần

đây của tác giả Bùi Hoài Sơn Nghiên cứu được tiến hành năm 2003-2004 với sự tham gia

của 457 thanh niên Hà Nội trong độ tuổi từ 15-35 Nghiên cứu này chỉ ra rằng, việc sử

dụng internet gắn liền với bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hoá, kỹ thuật của một xã hội

Theo đó sự gia tăng người sử dụng Internet ở Việt Nam là do các chính sách của nhà nước

tạo điều kiện để mở rộng hoạt động cung cấp dịch vụ Internet, giá cước internet có tính

cạnh tranh cao nên người sử dụng được lợi từ sự cạnh tranh này Một nguyên nhân nữa

cũng rất quan trọng là số trang web sử dụng tiếng Việt và sự đa dạng hoá các loại hình dịch

vụ trên mạng, đặc biệt là dịch vụ giải trí trên mạng ngày càng tăng khiến việc tiếp cận với

1

Người có chuyên môn cao bao gồm quân đội, công an, công chức, quản lý, lãnh đạo, kỹ sư, bác sỹ, giáo

viên, luật sư, nhà báo, thư ký

Trang 5

các dịch vụ trở nên dễ dàng đối với người sử dụng Nghiên cứu cũng này cũng cho rằng việc sử dụng Internet là một cách thức làm thay đổi (tăng hoặc giảm) vốn xã hội của cá nhân người sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy, người sử dụng Internet chủ yếu là giới trẻ vì nhiều lý do: có thông tin nhanh và cập nhật, chủ động chọn được chương trình giải trí, có nhiều tài liệu phục vụ học tập, thông tin nhiều chiều, dễ sử dụng tiện lợi, có thể tìm được những thông tin ở nơi khác không có, có thể giao tiếp với bạn khác giới một cách dễ dàng hơn, có thể bộc lộ cảm xúc mà giao tiếp bình thường không thể hiện được và do giá

rẻ Các hoạt động chủ yếu mà giới trẻ ưa thích khi sử dụng internet là: gửi và nhận thư, học tập các thông tin liên quan đến học tập, đọc báo, nghe nhạc, tìm phần mềm, tìm thông tin

về nhân vật, ban nhạc, câu lạc bộ thể thao nổi tiếng, chơi games, tìm thông tin mua bán và tìm việc Tuy nhiên các tiếp cận này có sự khác biệt về giới tính và độ tuổi (học sinh, sinh viên) Xét về ảnh hưởng của Internet đối với người sử dụng là thanh niên, nghiên cứu này cho thấy, việc sử dụng Internet đã góp phần làm thay đổi giá trị xã hội về tình bạn và tình yêu của thanh niên, quan niệm về giá trị cuộc sống, công việc và gia đình Nghiên cứu cũng chỉ ra có những tác động tiêu cực như các hình thức phạm tội bằng việc sử dụng Internet (môi giới mại dâm, lừa đảo qua mạng, phá hoại thông tin, v.v.) (Bùi Hoài Sơn 2006) Một nghiên cứu khác về thanh niên và việc sử dụng Internet là nghiên cứu gần đây của tác giả Ngô Đức Anh, Michael W Ross, và Eric A Ratliff (2006) về ảnh hưởng của Internet đến thực hành tình dục của thanh thiếu niên ở Hà Nội Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu nhân học với các thanh niên trong độ tuổi 15-19 Trong khi nghiên cứu của Bùi Hoài Sơn đề cập đến sự tăng hay giảm vốn xã hội của những thanh niên sử dụng Internet thì nghiên cứu này cũng đặt vấn đề về việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm (về tình dục) thông qua chuyện trò trên mạng và thảo luận trực tuyến là một phương tiện để nâng cao vị thế và quyền lực trong các mối quan hệ xã hội của những thanh niên thường xuyên sử dụng Internet Những quan sát và phân tích của nghiên cứu đã cho thấy, thanh niên sử dụng Internet để sưu tầm những hình ảnh và ý nghĩa tình dục mới và sau đó tổng hợp thành thực hành và nhân dạng của chính họ Những thanh niên tham gia vào nghiên cứu này cũng mô tả quá trình họ sử dụng Internet để bổ sung những kiến thức tình dục họ có, tìm hiểu về những vấn đề mà những nguồn thông tin truyền thống như cha

mẹ, nhà trường, các ấn phẩm truyền thông ít cung cấp hoặc đáng ngờ (Ngô Đức Anh et al 2009)

Nghiên cứu của Lauren Donchi và Susan Moore (2004) đánh giá mối quan hệ giữa tâm lý của thanh niên và việc sử dụng Internet của thanh niên Nghiên cứu tập trung vào việc sử dụng thời gian và tầm quan trọng của mạng lưới bạn bè, bao gồm bạn bè kết thân qua cách thông thường (gặp mặt) và bạn bè kết thân qua Internet Kết quả cho thấy, nữ thanh niên có nhiều bạn bè online ít có tâm trạng cô đơn hơn so với những bạn nữ có ít bạn bè online Tuy nhiên, tỷ lệ này ở nam thanh niên lại ngược lại (Lauren Donchi and Susan Moore 2004) Trong khi hầu như không có sự khác biệt về giới trong việc truy cập Internet để giao tiếp và tìm kiếm thông tin thì phân tích này lại cho thấy nam thanh niên dành khoảng thời

Trang 6

gian trung bình một ngày vào Internet để tìm kiếm các dịch vụ giải trí gấp đôi so với nữ thanh niên Về việc kết bạn, nam thanh niên dường như kết bạn trên mạng nhiều hơn còn đối với nữ thanh niên việc kết bạn trên mạng hầu như không ảnh hưởng nhiều đến mối quan hệ bạn bè theo cách kết bạn thông thường của họ Như vậy, trong mối liên hệ giữa việc sử dụng Internet và vấn đề tâm lý của thanh niên, nam thanh niên có nguy cơ bị tách biệt về mặt xã hội nhiều hơn so với nữ thanh niên Tuy nhiên, nghiên cứu này đã không chỉ

ra được nguyên nhân của sự khác biệt này và có thể cách đánh giá và xác định mức độ tâm

lý của thanh niên do ảnh hưởng của việc sử dụng Internet chưa cho phép đưa ra một kết luận chính xác

Nghiên cứu của Nguyễn Quý Thanh (2006) tìm hiểu ảnh hưởng của việc sử dụng Internet đối với sinh viên Việt Nam trong việc định hướng giá trị của họ về quan hệ tình dục trước hôn nhân Kết quả cho thấy, sử dụng email không phải là hoạt động chủ yếu của sinh viên

sử dụng Internet ở Việt Nam Mục đích chủ yếu của sinh viên khi truy cập Internet là để tán gẫu, tìm kiếm thông tin phục vụ học tập và đọc sách truyện trên mạng Nghiên cứu cũng chỉ ra những sinh viên dành nhiều thời gian truy cập vào mạng Internet hơn có quan điểm

“tự do” hơn về quan hệ tình dục song nó không khẳng định rằng việc sử dụng Internet dể tán gẫu, xem phim ảnh, đọc tin, truyện và chơi game có ảnh hưởng như thế nào đối với quan điểm của sinh viên về tình dục Việc không quá coi trọng sự trinh tiết của phụ nữ và chấp nhận xu hướng có quan hệ tình dục trước hôn nhân được nhận thấy ở những sinh viên

sử dụng internet nhiều hơn (Nguyễn Quý Thanh 2006)

Tóm lại, các nghiên cứu về việc sử dụng Internet trong nhóm thanh niên đều tập trung vào việc đánh giá và xác định mối liên hệ giữa việc sử dụng Internet vào các mục đích khác nhau với những ảnh hưởng/tác động có thể có đối với người sử dụng là thanh niên Nhìn chung, các ảnh hưởng bao gồm: i) ảnh hưởng về nhận thức (khả năng hoặc quá trình tiếp thu kiến thức thông qua mạng Internet và áp dụng các kiến thức thu được để biến nó thành nguồn lực cá nhân); ii) ảnh hưởng về tâm lý, tình cảm (tình bạn, tình yêu); ảnh hưởng về mặt xã hội (như tính kinh tế khi truy cập internet tại nhà để tìm kiếm thông tin, khác biệt giới trong việc tiếp cận thông tin và mục đích sử dụng internet)

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm sử dụng internet của thanh niên Hà Nội

Đa số thanh niên Hà Nội sử dụng internet Có tới 85.1% thanh niên trả lời là họ đã từng sử dụng internet Số thanh niên trả lời họ chưa từng sử dụng internet chiếm một tỷ lệ nhỏ, chỉ 14.9% Nam thanh niên sử dụng internet nhiều hơn nữ thanh niên (87.5% so với 82.7%) Thanh niên có trình độ học vấn cao sử dụng internet nhiều hơn thanh niên có trình độ học vấn thấp Tỷ lệ sử dụng internet ở nhóm thanh niên có trình độ học vấn trên THPT là 95.1% Tỷ lệ này ở nhóm thanh niên có trình độ học vấn THPT, THCS, lớp 1-5 lần lượt

Trang 7

80.4%, 71.1%, 60.0% Nhóm thanh niên có trình độ học vấn cao nhất có tỷ lệ sử dụng internet cao gấp 1,5 lần nhóm thanh niên có trình độ học vấn thấp nhất

Thanh niên ở nhóm tuổi khác nhau có tỷ lệ sử dụng internet khác nhau Thanh niên ở nhóm tuổi 19-20 có tỷ lệ sử dụng internet cao nhất, tới 90.0% Tỷ lệ này của thanh niên ở nhóm tuổi 21-22 là 87.6%; nhóm tuổi 15-18 là 82.2%; và nhóm tuổi 23-24 là 81.1%

Thanh niên làm những công việc khác nhau có tỷ lệ sử dụng internet cũng khác nhau Thanh niên thuộc nhóm nghề nghiệp chuyên môn cao có tỷ lệ sử dụng internet cao nhất (96.2%); tiếp theo là nhóm dịch vụ (84.0%); sau đó là nhóm nhóm nông lâm ngư nghiệp và lao động tự do (76.6%); cuối cùng là nhóm tiểu thủ công nghiệp và công nhân có tay nghề (75.9%)

Đa số thanh niên truy cập internet tại quán cafe/câu lạc bộ internet Có tới 88.5% thanh niên trả lời họ vào mạng internet tại quán cafe/câu lạc bộ internet Trong khi đó, tỷ lệ thanh niên truy cập internet tại nhà chỉ chiếm có 15.9%; tại trường: 9.7%; tại nhà bạn bè: 7.8%;

và tại nơi làm việc: 4.4%

Trung bình mỗi tuần, có đến 39.5 % tổng số thanh niên dành 1-3 giờ; 20.0% dành từ 4-6 giờ, 10.6% dành từ 7-10 giờ, 6.4% dành trên 11 giờ cho việc giải trí trên internet

2 Những việc thanh niên Hà Nội làm khi truy cập internet

Thanh niên Hà Nội truy cập internet trước tiên là để tán gẫu với bạn bè (80.9%); sau đó là xem tin tức (79.6%); tiếp theo là tìm kiếm thông tin (63.0%); chơi game (46.8%); dùng thư điện tử (34.8%); xem phim (15.5%); cuối cùng là mua sắm trên mạng (2.4%) Biểu đồ sau đây cho thấy những việc thanh niên Hà Nội làm trên internet

Nh÷ng viÖc thanh niªn lµm trªn internet (%)

5.5 2.4

15.5

34.8

46.8

63

79.6

80.9 T¸n gÉu

Xem tin tøc

T×m th«ng tin

Ch¬i game

Th− ®iÖn tö

Xem phim

Mua s¾m

Kh¸c

Trang 8

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến những việc thanh niên làm trên internet Phần sau đây sẽ xem xét 6 việc thanh niên làm trên internet: tán gẫu; xem thông tin; xem tin tức; tìm kiếm thông tin; chơi game; dùng thư điện tử; và xem phim trong tương quan với các biến số độc lập như độ tuổi, giới tính, học vấn và nghề nghiệp Việc mua sắm và một số việc khác mà thanh niên làm trên internet có tỷ lệ quá nhỏ sẽ không được xem xét trong tương quan với các biến số độc lập vì tỷ lệ nhỏ thì có thể có sai số lớn, kết quả không chính xác

2.1 Tán gẫu: không có sự khác biệt liên quan đến tuổi, học vấn, nghề nghiệp của thanh

niên Hà Nội khi tán gẫu với bạn bè trên internet Nhìn chung, thanh niên Hà Nội ở mọi lứa tuổi, với trình độ học vấn và nghề nghiệp khác nhau từ học vấn thấp đến học vấn cao, từ lao động giản đơn đến lao động có tay nghề đều thích tán gẫu với bạn bè khi vào internet Tuy nhiên, số liệu cho thấy nữ thanh niên Hà Nội tán gẫu trên internet nhiều hơn nam thanh niên Có tới 82.4% nữ thanh niên trả lời là họ tấn gẫu khi truy cập internet, trong khi

đó tỷ lệ này ở nam thanh niên là 79.4%, ít hơn 3% so với nữ thanh niên

2.2 Xem tin tức: không có sự khác biệt về giới tính, tỷ lệ nam thanh niên Hà Nội hay nữ

thanh niên Hà Nội xem tin tức trên mạng internet là tương đương nhau Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa những nhóm thanh niên có lứa tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp khác nhau Tỷ lệ thanh niên Hà Nội xem tin tức trên internet tăng theo tuổi Nhóm tuổi 15-

18, tỷ lệ thanh niên xem tin tức trên internet chỉ là 71.8%, tỷ lệ này ở nhóm tuổi 19-20,

21-22, 23-24 lần lượt là 82.5%, 84.2%, và 86.5% Càng nhiều tuổi, càng nhiều thanh niên Hà Nội xem tin tức trên internet

Tương tự như nhóm tuổi, tỷ lệ thanh niên Hà Nội xem tin tức trên internet tăng theo trình

độ học vấn Học vấn càng cao thì thanh niên Hà Nội xem tin tức trên internet càng nhiều Mức độ chênh lệch giữa các nhóm học vấn là cao hơn rất nhiều so với chênh lệch ở nhóm tuổi Ví dụ, nhóm thanh niên có trình độ học vấn từ lớp 1-5, tỷ lệ thanh niên xem tin tức trên internet là 50.0%, tỷ lệ này ở nhóm có trình độ học vấn trung học cơ sở là 68.7%, nhóm có trình độ học vấn trung học phổ thông là 84.3% và nhóm trên trung học phổ thông

là 88.6%, nhiều hơn 38.6% so với nhóm có trình độ học vấn từ lớp 1-5 Sự chệnh lệch này giữa các nhóm tuổi xoay quanh 2-3% Như vậy, học vấn có tác động đáng kể đến việc thanh niên Hà Nội sử dụng internet để xem tin tức

Liên quan đến nghề nghiệp, nhóm thanh niên có nghề nghiệp chuyên môn cao thì xem tin tức trên internet nhiều nhất Có tới 91.8 % nhóm người có chuyên môn cao trả lời là họ có xem tin tức khi vào internet, chiếm tỷ lệ cao nhất; tiếp theo là nhóm làm dịch vụ (83.2%); sau đó là nhóm nông lâm ngư nghiệp và lao động tự do (74.4%); cuối cùng là nhóm tiểu thủ công nghiệp và công nhân có tay nghề (69.1%)

2.3 Tìm kiếm thông tin: số liệu cho thấy thanh niên Hà Nội ở lứa tuổi khác nhau, giới tính

khác nhau, học vấn và nghề nghiệp khác nhau đều có tỷ lệ khác nhau khi tìm kiếm thông tin trên internet Cụ thể, thanh niên Hà Nội tìm kiếm thông tin trên mạng internet nhiều nhất ở độ tuổi từ 21-22 với tỷ lệ là 68.4%, thấp nhất ở độ tuổi 15-18 với tỷ lệ 54.5%, các độ

Trang 9

tuổi 19-20 và 23-24 tỷ lệ tương ứng là 67.6% và 67.7% Nữ thanh niên Hà Nội tìm kiếm thông tin trên internet nhiều hơn nam thanh niên Hà Nội Tỷ lệ này ở nữ là 66.6% và ở nam

là 59.5% Thanh niên Hà Nội có trình độ học vấn càng cao thì họ sử dụng internet để tìm kiếm thông tin càng nhiều Tỷ lệ thanh niên Hà Nội sử dụng internet để tìm kiếm thông tin thấp nhất (24.5%) ở nhóm có trình độ học vấn thấp nhất (lớp 1-5), tỷ lệ này ở thanh niên có trình độ trung học cơ sở tăng lên đến 49.7%, nhóm có trình độ học trung học phổ thông tăng lên đến 68.4% và nhóm có có trình độ trên trung học phổ thông đạt tới 76.6%, cao gấp

3 lần so với tỷ lệ này của thanh niên có trình độ học vấn từ lớp 1-5 Tượng như xem tin tức trên internet, nhóm người có ngành nghề chuyên môn cao thì có tỷ lệ sử dụng internet để tìm kiếm thông tin cao nhất với tỷ lệ 84.3%, tiếp theo đó là nhóm làm dịch vụ với tỷ lệ 65.6%, sau đó là nhóm nông dân và lao động tự do với tỷ lệ 52.1%, cuối cùng là nhóm tiểu thủ công nghiệp và công nhân có tay nghề với tỷ lệ 41.4%

2 4 Chơi game: thanh niên Hà Nội tuổi càng nhỏ thì chơi game càng nhiều, nam thanh

niên chơi game nhiều hơn nữ thanh niên, thanh niên học vấn thấp chơi game nhiều hơn thanh niên học vấn cao, thanh niên làm việc ở ngành nghề chuyên môn thấp hoặc làm ngành nghề không qua đào tạo chơi game nhiều hơn thanh niên làm việc ở ngành nghề chuyên môn cao

Ví dụ, tỷ lệ thanh niên nhóm tuổi thấp nhất (15-18 tuổi) chơi game trên internet nhiều nhất với tỷ lệ là 60% Tỷ lệ này ở nhóm tuổi 19-20, 21-22, 23-24 lần lượt giảm xuống còn 41.3%, 38.1%, 37.5% Đến lứa tuổi 23-24, thanh niên Hà Nội chơi game online giảm gần một nửa so với thanh niên ở lứa tuổi 15-18 Tỷ lệ nam thanh niên Hà Nội chơi game cao gần gấp đôi nữ thanh niên (61.1% so 32.2%) Thanh niên Hà Nội có trình độ học vấn thấp nhất (lớp 1-5) chơi game nhiều nhất với tỷ lệ cao nhất (65.7%), tiếp đến là nhóm có trình

độ trung học cơ cở và trung học phổ thông với tỷ lệ là 61.1% và 40.8% Thanh niên có trình độ học vấn cao nhất (trên trung học phổ thông) chơi game ít nhất với tỷ lệ là 37.4%, giảm gần một nửa so với thanh niên có trình độ từ lớp 5 trở xuống Tương quan với nghề nghiệp thì nhóm dịch vụ có tỷ lệ chơi game cao nhất (45.5%), sau đó đến nhóm nhóm nông lâm ngư nghiệp và lao động tự do với tỷ lệ là 42.9%, nhóm tiểu thủ công nghiệp và công nhân có tay nghề với tỷ lệ là 42.3% Nhóm có chuyên môn cao có tỷ lệ chơi game thấp nhất (34.1%)

Như vậy, các yếu tố tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp đều có tác động động đến việc chơi game online của thanh niên Hà Nội

2 5 Thư điện tử: số liệu cho thấy nam nữ thanh niên Hà Nội dùng thư điện tử trên internet

là tương đương nhau, không có sự khác biệt, tỷ lệ nam dùng thư điện tử là 33.9% và nữ là 35.7% Tuy nhiên, thanh niên Hà Nội dùng thư điện tử tăng theo tuổi, tuổi càng cao thì thanh niên dùng thư điện tử càng nhiều Tỷ lệ cao nhất ở nhóm tuổi cao nhất (23-24 tuổi) là 49.5%, giảm xuống còn 40% ở nhóm tuổi 21-22, và 37.0% ở nhóm tuổi 19-20 và giảm xuống còn thấp nhất với tỷ lệ 23.9% ở nhóm tuổi 15-18, giảm một nửa so với nhóm tuổi

Trang 10

23-24 Học vấn là yếu tố có tác động đáng kể đến việc dùng thư điện tử của thanh niên Hà

Nội Học vấn càng cao thì thanh niên dùng thư điện tử càng nhiều Ví dụ, ở nhóm thanh

niên có trình độ học vấn cao nhất - trên trung học phổ thông - thì tỷ lệ sử dụng thư điện tử

cũng cao nhất, đạt tới 53.9% Tỷ lệ này ở nhóm thanh niên có trình độ học vấn trung hoc

phổ thông giảm xuống còn 38.3%, nhóm trung học cơ sở là 21.8% và nhóm có trình độ học

vấn thấp nhất (lớp 1-5) giảm xuống còn 15.7%, giảm 3.4 lần so với nhóm có trình độ học

vấn cao nhất

Liên quan đến ngành nghề, nhóm có ngành nghề chuyên môn cao thì dùng thư điện tử

nhiều nhất (54.9%), tiếp đến là nhóm dịch vụ 39.3%, sau đó là nhóm nông lâm ngư nghiệp

và lao động tự do với tỷ lệ là 27.1% và cuối cùng là nhóm tiểu thủ công nghiệp và công

nhân có tay nghề (23.1%)

2 6 Xem phim: tương tự như tán gẫu trên mạng internet, không tìm thấy sự khác biệt nào

liên quan đến nhóm tuổi, học vấn, nghề nghiệp của thanh niên khi họ xem phim trên

internet Sự khác biệt duy nhất là có liên quan đến giới tính: nam thanh niên Hà Nội xem

phim trên internet nhiều hơn nữ thanh niên Hà Nội Tỷ lệ nam thanh niên xem phim trên

internet là 19.6% và tỷ lệ này ở nữ thanh niên là 11.3%

Mục đích sử dụng Internet của thanh niên Hà Nội theo giới tính, độ tuổi, học vấn và

nghề nghiệp (%)

Những việc thanh niên làm trên Internet

Tán gẫu Xem tin

tức

Tìm kiếm thông tin

Chơi game

Email Xem

phim

Giới tính

Tuổi

Học vấn

Cấp 1 trở xuống 76,5 50 24,5 65,7 15,7 15,8

Nghề nghiệp

Ngày đăng: 01/03/2015, 15:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành xu hướng cá nhân hoá (individualisation) và tư hữu hoá (privatisation) việc sử - thanh niên hà nội và việc sử dụng internet
Hình th ành xu hướng cá nhân hoá (individualisation) và tư hữu hoá (privatisation) việc sử (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w