ôn tập khoa học mác & tư tưởng hồ chí minh tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất c...
Trang 1ÔN TẬP KHOA HỌC MARX & TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Trình bày hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Marx Nguyên tắc và phương pháp luận của hai nguyên lý Sự vận dụng của ĐCSVN giai đoạn 1975 đến nay
TRẢ LỜI
1 Hai nguyên lý cơ bản
1.1 Khái quát ự ra đời của phape BCDV
Phép biện chứng ra đời cùng với sự ra đời của triết học, cùng với sự phát triển của triết học thì phép BC cũng phát triển với các hình thức của nó
Theo các nhà nghiên cứu lịch sử triết học thì triết học ra đời khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ 5 TCN, ở cả phương Đông lẫn phương Tây
Triết học xuất hiện trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, khi xã hội có sự phân chia về giai cấp và trình độ nhận thức của con người đạt đến trình độ khái quát hoá, trừu tượng hoá và thể hiện dưới dạng một hệ thống thống lý luận toàn vẹn
KN: Phép BC được hiểu là phương pháp nhận thức thế giới, phương pháp nhìn sự vất hiện tượng trong mối liên hệ với nhau trong sự vận động và phát triển PhAêng ghen viết: “ Phép BC chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy con người”
1.2 Sự đối lập giữa CNDV va CNDT, phép BC và phép siêu hình trong quan
niệm về quá trình phát triển của thế giới
Trong việc nhận thức thế giới, vấn đề đầu tiên náy sinh dối với tư duy triết học là; Thế giới quanh ta chỉ là sản phẩm thuần tuý của tư duy con người? Mọi vật ta biết đến không phải là vĩnh viễn, vậy có thể nói về tồn tại của chúng và suy rộng ra có thể nói về sự tồn tại của thế giới hay không? Vì vậy vấn đề tồn tại hay không tồn tại đã dược đặt ra trong triết học cổ đại cả pương đông lẫn phương tây CNDV hiểu sự tồn tại của thế giới như một chính thể mà bản chất của nó là vật chất Còn các nhà triết học duy tâm tìm nguồn gốc và bản chất của tồn tại là ở cái tinh thần và cho rằng chỉ có thế giới tinh thần là tồn tại Ngay cả trong triết học của Hegel, một học thuyết nhất nguyên triệt để với nguyên tắc thừa nhận “sự đồng nhất” giữa tư duy và tồn tại vẫn xem tồn tại là cái tinh thần vì thế giới tự nhiên chỉ là tồn tại của “Ý niêm tuyệt đối”
CNDVBC cho rằng sự tồn tại của thế giới là tiền đề cho sự thống nhất của nó, song sự thống nhất của thế giới không phải ở sự tồn tại của nó Như vậy sự khác nhau căn bản giữa CNDV & CNDT không phải ở việc thừa nhận hay không thừa nhận tính thống nhất của thế giới mà ở chổ CNDV cho rằng cơ sở cho sự thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó
Trang 2Sự khác nhau giữa PBC và PSH; PBC nhìn sự vật hiện tượng ở trạng thái động, giữc chúng có sự liên hệ với nhau trong sự vận động và phát triển không ngừng Còn PSH lại xem xét nhìn nhận sự vật hiện tượng ở trạng thái tĩnh, cho rằng thế giới là tập hợp các sự vật đơn lẻ, riêng biệt
1.3 Nguyên lý mối liên hệ phổ biến
Nội dung, tính chất của nguyên lý về MQH phổ biến
Trước hết để hiểu nội dung, tính chất của nguyên lý trên của phép BCDV chúng ta cần phải hiểu MLH là gì? Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt trong bản thân sự vật hiện tượng
Cơ sở để khẳng định giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các mặt của một sự vật, hiện tượng có MLH với nhau đó chính là tính thống nhất vật chất của thế giới, cho dù là thế giới vô cơ hay thế giới hữu cơ thì chúng đều thống nhất với nhau ở cơ sở vật chất của nó
VD: khi một cơn bảo xảy ra thì ảnh hưởng của nó không chỉ trên bình diện về điều kiện cơ sở vật chất cũn như sưi thiệt hại của con người Nhưng nó còn tác động đến các yếu tố về môi trường, văn hoá- xh, đời sống vật chất và tinh thần của người dân
VD: Đô thị hoá và những tác động của nó
VD: CMVN và những liên hệ của nó với CM thế giới…
1.4 Tính chất của MLH
• Tính khách quan
MLH giữa các sự vật, hiện tượng mang tính khách quan được hiểu như là cái vốn có của sự vật, hiện tượng Các sự vật, hiện tượng luôn tác động lẫn nhau, kể các sự vật, hiện tượng vô tri vô giác cũng không nằm ngoài sự tác động của các sự vật hiện tượng khác ( Như ánh sáng Độ ẩm, khônh khí hoặc chính con người)
• Tính phổ biến của MLH
Tính phổ biến của MLH được thể hiện ở chổ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự, vật hiện tượng khác, không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài MLH Các sự vật, hiện tượng diễn ra ở những MLH ở mỗi lúc, mọi nơi, mọi không gian và thời gian Tất cả các sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới đều nằm trong những MLH chằng chịt, phức tạp
• Tính đa dạng, riêng biệt của MLH
Tính chất này được thể hiện ở chổ những sự vật khác nhau thì có MLH khác nhau Những sự vật trong giới tự nhiên vô cơ có những MLH khác với những sự vật hiện tượng trong giới hữu cơ Hoặc những điều kiện khác nhau thì các MLH cũng khác nhau, nhưng dù biểu hiện ở những hình thức nào thì chúng cũng biểu hiện ở MLH phổ biến nhất, chung nhất Và triết học chỉ nghiên cứu những MLH phổ biến nhất, còn những MLH riêng biệt thì các khao học cụ thể nghiên cứu
Trang 3Tính chất đa dạng của MLH bắt nguồn từ tính đa dạng của thế giới vật chất Dựa vào tính đa dạng củaMLH đó có thể phân chia các MLH thành những cặp như; MLH bên trong với bên ngoài, MLH cơ bản với không cư bản, … mỗi một MLH có những vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng, song chỉ có những MLH cơ bản mới quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật Tuy nhiên sự phân chia thành từng cặp chỉ có ý nghĩa mang ý tương đối, tuỳ vào những điều kiện cụ thể mà mối liên hệ đóng vai trò là bên trong hay bên ngoài hoặc là cơ bản hay không cơ bản
• Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Trong sự hoạt động thực tiễn, chúng ta cần quán triệt nguyên tắc toàn diện; tức là khi đánh giá sự vật hiện tượng phải đặt chúng trong mối liên hệ với sự vật hiện tượng khác, khắc phục quan điểm chủ quan, duy ý chí, phiến diện, bên cạnh đó cũng cần quán triệt quan điểm lịch sử cụ thể Chính điều nay fđã được Đảng ta vận dụng triệt để trong công cuộc đâu tranh và xây dựng đất nước( cần chứng minh thêm)
2 NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
KN: Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, cái cũ mất đi và cái mới xuất hiện
Trong quan điểm DVBC, phát triển là một phạm trù triết học dùng để khái quát hoá quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
2.1 CÁC QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ PHÁT TRIỂN
Khi xem xét vấn đề phát triển cũng xuất hiện sự đối lập về thế giới quan duy vật và phương pháp luận; có quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm; có quan điểm biện chứng và quan điểm siêu hình về sự phát triển DVBC
Quan điểm biện chứng và quan điểm siêu hình về sự phát triển nảy sinh khi trả lời câu hỏi: sự phát triển diễn ra như thế nào? Bằng cách nào?
Quan điểm duy vật và duy tâm về sự phát triển xuất hiện khi nó trả lời câu hỏi: cái gì là nguồn gốc của sự phát triển?
Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi thuần tuý về lượng, không có sự thay đổi về chất; tất cả tính muôn vẻ về chất của các sự vật và hiện tượng trên thế giới là sự nhất thành bất biến trong toàn bộ quá trình tồn tại của nó.Như vậy sự phát triển chỉ là sự thay đổi về lượng của từng loại đang có, không có sự nảy sinh những loại mới vơí những tính quy định mới về chất, nếu có thay đổi về chất chăng nữa thì đó cũng chỉ diễn ra theo một vòng tròn khép kín Quan điểm siêu hình cũng xem sự phát triển như là một quá trình tiến lên liên tục không có những bước quanh co phức tạp
Trong hiện thực khách quan, tuỳ thụôc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất, sự phát triển sẽ được diễn ra hết sức khác nhau Trong giới hữu cơ,
Trang 4sự phát triển biểu hiện ở việc tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường Thể hiện ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng hoàn thiện hơn, ở khả năng hoàn thiện quá trình trao đổi vật chất giữa cơ thể với môi trường Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội để tiến tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ, đúng đắn hơn đối với hiện thực tự nhiên và xã hội Nguồn gốc của sự phát triển từ bên trong sự vật Đó là do sự đấu tranh của các mặt đối lập trong bản thân sự vật Cách thức của sự phát triển là từ thay đổi về lượng đến thay đổi phát triển khuynh hướng của sự phát triển là sự phủ định của phủ định, là một hình xoáy ốc mở ra đến vô tận, không có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc
2.2 TÍNH CHẤT CỦA SỰ PHÁT TRIỂN
* Tính khách quan
Sự phát triển là khách quan, là tự thân sự vật do mâu thuẫn bên trong của sự vật được gioải quyết làm cho sự vậtu luôn vận động phát triển nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người
• Tính phổ biến
Được hiểu là sự phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, tư duy, ở bất cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan
• Tính đa dạng, phong phú: sự phát triển bao giờ cũng rất đa dạng phong phú, khuynh hướng phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật hiện tượng, song mỗi sự vật hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau, tồn tại ở những không gian khác nhau, thời gian khác nhau, sự vật sẽ phát triển khác nhau
Do đó, mà sự phát triển diễn ra hết sức đa dạng và phong phú
2.3 Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần có quan điểm phát triển, có thái độ tích cực ủng hộ cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển quan điểm phát triển còn khắc phục tư tưởng bảo thủ trì trệ, tư tưởng hoài cố không chịu đổi mới, mở đường cho khoa học phát triển, đưa sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước nhanh chóng dành được thắng lợi Trên thực tế đã có rất nhiều bài học được rút ra từ việc phát triển kinh tế hết sức chậm chạp Chúng xuất phát từ quan điểm chậm đổi mới, bảo thủ, không đánh giá đúng vai trò tầm quan trọng của nhân tố mới (chứng minh bằng con đường phát triển của đất nước ta)
3 SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐCSVN
Từ 1975 đến nay
Trang 5Quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phát huy nội lực, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài, hướng tới muạc tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Việc vận dụng quan điểm lịch sự cụ thể vào việc xem xét và giải quyết vấn đền thực tiễn, đặt ra đòi hỏi chúng ta phải chú ýđúng mức tới hoàn cảnh lịch sử cụ thể đã làm phát sinh vấn đề, với sự ra dời và phát triển của nó, tới bối cảnh hiện thực khách quan lẫn chủ quan
Trong việc đánh giá, phân tích các sự kiện chính trị xã hội, nảy sinh trong nước cũng như trên thế giới, Đảng ta luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên, công dân, phải có thái độ lịch sử đối với các sự kiện, phân tích chúng một cách cụ thể Vì mọi hiện tượng trong tự nhiên và xã hội đều liên hệ và ràng buộc lẫn nhau, cho nên cần xét đến các điều kiện tồn tại và phát triển cụ thể của chúng thì mới có thể hiểu được chúng Đồng thời, trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử, khi quyết định nhiệm vụ cách mạng đảng ta đã chú ý tìm ra những nguyên nhân cơ bản trong hệ thống dây chuyền phát triển của lịch sử
Báo cáo chính trị tại ĐH 7 của Đảng đã nêu kinh nghiệm bước đầu về tiến trình công cuộc đổi mới:
• Một là phải giữ vững định hướng XHCN trong quá trình đổi mới
• Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để, nhưng phải ở bước đi hình thức và cách làm phù hợp thực tiễn Nó cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trên từng lĩnh vực nội dung đổi mới cũng bao gồm nhiều mặt từ đổi mới quan niệm đến đổi mới cơ chế, chính sách tổ chức, cán bộ, phong cách và lề lối làm việc Nếu chỉ đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó thì công cuộc đổi mới không thể đạt kết quả mong muốn Đồng thời trong mỗi bước đi lại phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung sức lực giải quyết làm cơ sở đổi mới các khâu và các lĩnh vực
Đề ra các nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu của cách mạng và điều kiện lịch sử cụ thể của CMVN Trong phong trào giải phóng dân tộc, khởi nghĩa giành chính quyền ( 1939 – 1945), BCHTWĐ hợp hội nghị lần thứ sáu ( 11/1939) tại Bà Điểm ( hócmôn – gia định), đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách nhất của CMĐD Bởi vì tình hình thực tế cho thấy, những chính sách phản động của thực dân pháp đã đẩy nhân dân ta vào cảnh sống ngột ngạt về chính trị, bần cùng về kinh tế, ngu dốt về học thức Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc pháp và tay sai càng trở nên gay gắt hơn Khi đất nước bị chia cắt thành hai miền nam bắc, xuất phát từ điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của đất nước, đảng đã dương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc ở miền nam và CMXHCN ở miền bắc… hết sức đúng đắn và phù hợp Ngày nay trong xu thuế hội nhập toàn cầu hoá, đảng và nhà nước đã có những bước chuyển biến mới, đưa đất nước ta phát triển nền kinh tế thị trường… đó là sự vận dụng hết sức sáng tạo chủ nghĩa
Trang 6Mác Lênin vào sự nghiệp phát triển của đất nước Đặc biệt là ý nghĩa của phương pháp luận của hai nguyên lý cơ bản của phép BCDV Đây là cũng cơ sở để đãng
ta khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến và chậm đổi mới trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Câu 2: Trình bày quan điểm của CNDVBC về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Yù nghĩa phương pháp luận Sự vận dụng của ĐCSVN trong sự nghiệp đổi mới, thực hiện CNH, HĐH đất nước
TRẢ LỜI
1 THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
1.1 K/N
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mác xit mà còn của toàn bộ triết học Marx- Lênin nói chung Các nhà duy vật trước Marx đã có công lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật và đấu tránh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết Song lý luận của họ còn nhiều hạn chế mà hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò hoạt động của thực tiễn đối với nhận thức Còn đối với một nhà triết học duy tâm tuy đã mặt năng động sáng tạo trong hoạt động của con người, nhưng cũng chỉ hiểu thực tiễn là hoạt động tinh thần chứ chưa hiểu nó là hoạt dộng hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của con người
Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước Marx, K Marx và Ph Angghen đã đem lại một quan điểm đúng đắn , khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đói với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người Vậy thực tiễn là gì? Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử , xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
1.2 Ba hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn
Dạng cơ bản đầu tiện của hoạt động thực tiễn là hoạt động sản xuất vật chất Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thuỷ nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn Nó tạo thành cơ sở cho tất cả các hình thức khác của hoạt sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật Dạng hoạt động thứ hai là hoạt động chính trị- xã hội nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội, nhằm cải biến những MQH xã hội thúc đẩy xã hội phát triển
Ngoài ra, với sự ra đời và phát triển của khoa học thì hoạt động thực nghiệm khao học là một dạng đặt biệt của hoạt động thực tiễn Đây là dạng hoạt động
Trang 7được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra Dạng hoạt động này ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặt biệt là trong thời kỳ cách mạng KHCN hiện đại
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản ấy có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau Song giữa chúng có MQH chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong MQH đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức hoạt động khác Các hình thức hoạt động khác suy cho cùng cũng xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất và phục vụ cho hoạt động sản xuất vật chất của con người
Nói như thế không có nghĩa là các hình thức hoạt động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học là hoàn toàn thụ động, lệ thuộc một chiều vào hoạt động sản xuất vật chất Ngược lại, chúng có tác động kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển Nếu hoạt động chính trị- xã hội mang tính chất tiến bộ, cách mạng và hoạt động thực nghiêm khoa học mà đúng đắng sẽ tạo đà cho hoạt động sản xuất phát triển còn ngược lại chúng sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động sản xuất
1.3 VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
Từ những tìm hiểu trên về khái niệm và các hình thức của thực tiễn, chúng ta có thể rút ra được đối với nhận thức thực tiễn có một vai trò hết sức quan trọng Trước hết nó biểu hiện ở chổ thực tiễn là cơ sở, mục đích và động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức Ph Angghen đã khẳng định “ Với tính cách giới tự nhiên là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cách cải biến tự nhiên”
Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận, bằng ngôn ngữ lời nói mà chính là bằng thực tiễn, bằng hành động Chính nhờ có quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận thức của con người được hình thành và phát triển Bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tác động vào thế giới, làm cho nó bọc lộ những thuộc tính của mình Khi đó con người sẽ nhận thức được thế giới bằng cảm tính, sau đó tiến hành so sánh, phân tích tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá… để phản ánh bản chất, quy luật vận động phát triển của chúng, từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận
Thực tiễn còn đề ra nhu cầu , nhiệm vụ và phương pháp phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn luôn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận Điều này đòi hỏi các ngành khao học ra đời và phát triển và khi khoa học ra đời nó sẽ đựơc people ứng dụng vào trong hoạt dộng thực tiễn của mình
Thực tiễn là mục đích của nhận thức Lý luận khoa học chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn Nhận thức hướng dẫn chỉ
Trang 8đạo thực tiễn Nhận thức và thực tiễn phải có MQH hữu cơ với nhau, bổ sung cho nhau, cái này là cơ sở nền tảng cho cái kia và ngược lại
Vai trò của thực tiễn với nhận thức còn thể hiện, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý K Marx và Ph Angghen đã viết “ Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của people có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận, mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”
Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Trong đó tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối là tiêu chuẩn khách quan để kiểm nghiệm chân lý Thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử có thể xác nhận chân lý Tính tương đối của thực tiễn thể hiện ở chổ thực tiễn không đứng nguyên một chỗ mà biến đổi và phát triển; thực tiễn là một quá trình và đựơc thực hiện bởi con người nên nó mang yếu tố chủ quan Trong quá trình phát triển của htực tiễn và nhận thức, những tri thức đạt được trước kia và hiện nay phải thường xuyên chịu sự kiểm nghiệm bởi thực tiễn để tiếp tục bổ sung, điều chỉnh, phát triển và hoàn thiện hơn
2 Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Chúng ta biết rằng, giữa lý luận và thực tiễn có MQH biện chứng với nhau Trong đó lý luận được nảy sinh trên cơ sở của thực tiễn, còn thực tiễn có vai trò quyết định Việc hình thành nên một system lý luận khoa học cần có những vật liệu tư tưởng và nhà tư tưởng có trình độ, có điều kiện
Với thực tiễn, lý luận đóng vai trò hướng dẫn, chỉ đạo các hoạt động của thực tiễn Nắm vững đựơc điều này sẽ giúp chúng ta có được định hướng cho các hoạt động của mình
Trong xã hội bất cứ một hoạt động nào của con người cũng cần có sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, nói đi dôi với làm Và khi tiến hành thực hiện, chúng ta cần có một cái nhìn tổng quát để định hướng Sự định hướng về mặt lý thuyết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chúnh ta hoàn thành công việc của mình một cách dễ dàng hơn
Hồ Chủ Tịch đã từng nói “ Thực tiễn mà không có lý luận là thực tiễn mù quáng, lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông” Vì vậy mà việc nhận thức đúng thực tiễn ứng với những lý luận khách quan và khoa học sẽ giúp cho ta chống lại những chủ nghĩa giáo điều, duy ý chí, chống chủ nghĩa quan liêu và chủ nghĩa kinh nghiệm
Tìm hiểu MQH giữa lý luận và thực tiễn không chỉ có ý nghĩa đối với cá nhân trong cuộc sống mà đối với sự nghiệp CNH HĐH của đất nước ta là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng tại ĐH Đảng toàn quốc lần thứ VII đã nhấn mạnh trong năm năm tới cần giải quyết các vấn đề quan trọng và bức xúc Trong đó có phần cần đổi mới nâng cao chất lượng công tác lý luận Đảng cũng đã nhấn mạnh đến công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực
Trang 9tiễn “ Tổ chức tốt công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, nâng cao trình độ và năng lực vận dụng CNM_ L vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, góp phần xây chủ trương chính sách của Đảng… đổi mới căn bản công tác giáo dục chính trị lý luận
Như vậy vấn đề đặt ra là trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, chúng ta cần phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật, theo chân lý là điều kiện bảo đảm cho sự hoạt động và lãnh đạo có hiệu quả
Phải nắm vững và thường xuyên trau dồi phép BCDV trong quá trình nhận thức, đoòng thời tránh hết sức không để bị chi phối bơi những quan điểm duy tâm, siêu hình, chủ nghĩa kinhn nghiệm, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm Phải lấy thực tiễn làm cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và làm tiêu chuẩn cho chân lý hiện nghiêm theo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thức tế, giữa lời nói và việc làm, thường xuyên kiểm tra lại nhận thức của mình, kiên quyết sửa chữa lai những quan niệm lạc hậu, những nhận thức sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự tha hoá biến chất của cán bộ Đảng viên như ĐH VII của Đảng đã nhận mạnh
Câu 3: Trình bày và phân tích kết cấu của hình thái kinh tế xã hội Sự vận dụng của ĐCSVN vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở Viẹt Nam
TRẢ LỜI
1 HÌNH THÁI KINH TẾ – XÃ HỘI
Hiện nay, việc nhận thức đúng, bảo vệ và vận dụng học thuyết Marx về hình thái kinh tế- xã hội đang trở thành một nhiệm vụ chính trị cấp bách Bởi nó không chỉ trang bị con người những tri thức về sự phát triển của xã hội loài người, mà nó còn giúp chúng ta hiểu được con đường đi tới thắng lợi của CMVN cũng như con đường đi lên CNXH ở nước ta
Vấn đề đặt ra là là để hiểu được sự vận dụng học thuyết Macxit về hình thái KT- XH vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta Chúng ta cần phải làm rõ được các khái niệm: LLSX, QHSX, KTTT, và phải nêu được MQH hữu cơ giữa chúng Hình thái KT- XH là một phạm trù của CN DVLS dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định và một KTTT xây dựng trên những QHSX đó
LLSX biểu hiện MQH giữa con người với tự nhiên và giữa con người với nhau Trong quá trình thực hiện sư sản xuất xã hội con người chinh phục giới tự nhiên bằng tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình Sức mạnh đó được CNDVLS khái quát trong khái niệm LLSX LLSX nói lên năng lực thực tế của con người trong quá trình sản xuất Như vậy chúng ta có thể hiểu LLSX bao gồm NLĐ cùng
Trang 10với kỹ năng lao động của họ, trước hết là là công cụ lao động của con người và quản lý SX kết hợp lại với nhau tạo thành LLSX, trong đó LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là giai cấp công nhân, người lao động Chính người lao động là chủ thể của quá trình LĐSX, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng TLLĐ, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động tạo ra của cải vật chất
QHSX là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất bao gồm: các quan hệ sở hữu đối với TLSX; các quan hệ trong tổ chức và quản lý SX; các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động QHSX do con người tạo ra, nhưng nó hình thành một cách khách quan trong quá trình SX, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người K Marx viết: “ Trong SX, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên Người ta không thể SX được nếu không kết hợp với nhau cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn SX được người ta phải có những MLH và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên.”
Trong ba mặt của QHSX, quan hệ sở hữu về TLSX là quan hệ xuât phát , quan hệ cơ bản, đặc trưng cho QHSX trong từng XH Quan hệ sở hữu về TLSX quyết định quan hệ về tổ chức quản lý SX, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ XH khác
KTTT là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức , tôn giáo, nghệ thuật, v.v cùng với những thiết chế XH tương ững như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể XH, v.v được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định
Mỗi yêu tố của KTTT có đặc diểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng, nhưng chúnh liên hệ vơi nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên một CSHT nhất định
Từ những tìm hiểu về các khái niệm trên ta thấy đối với mỗi một hình thái KT-
XH khác nhau sẽ tương ứng với nó là LLSX và QHSX khác nhau Song ở bất kỳ một hình thái KT- XH nào, hình thái KT- XH CHNL, PK hay TB thì LLSX và QHSX giữa chúng luôn có MQH biện chứngvới nhau LLSX là biểu hiện MQH giữa con người với giới tụ nhiên, là sự thống nhất biện chứng giữa con người với TLSX mà trước hết là với công cụ lao động Với tính cách là một thành tố của LLSX, con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là nguồn lực đặc biệt của sản xuất
Vì vậy, để có quá trình sản xuất không chỉ có quan hệ giữa con người với tự nhiên thể hiện những trình độ khác nhau của LLSX, mà còn phải có những MQH khác nhau giữa người với người trong quá trình SX, tức lànhững QHSX Như vậy quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lich sử nhân loại