1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT số BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG lực SÁNG tạo CHO học SINH lớp 11 TRONG dạy học làm văn NGHỊ LUẬN về THƠ HIỆN đại VIỆT NAM 1930 1945

25 263 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 88,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm gần đây, các đề thiđược xây dựng đổi mới theo kiểu cấu trúc đề bao gồm kiến thức đọc - hiểu, đòihỏi HS khả năng nắm bắt tổng thể từ đơn vị kiến thức nhỏ nhất trong văn bản;câu

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT BỈM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH LỚP 11 TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ

LUẬN VỀ THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 1930 - 1945

Người thực hiện: Trịnh Thị Thanh Hải Chức vụ: TTCM

SKKN thuộc lĩnh vực (môn) : Ngữ Văn

THANH HÓA NĂM 2019

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SKKN

STT Viết tắt Viết đầy đủ

Nghị luận văn họcPhát triển năng lực sáng tạoĐối chứng

Thực nghiệmPhát triển năng lực

I PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài:

1.1 Luật Giáo dục (điều 28) yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ thông

phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện

kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [4, tr.13] Như vậy đổi mới PPDH là trọng tâm

của đổi mới giáo dục và PTNL người học là một phương diện quan trọng củađổi mới PPDH Nó phải được diễn ra một cách đồng bộ, trên tất cả các lĩnh vực,các môn học

1.2 Trong chương trình giáo dục, môn Ngữ văn giữ vị trí, vai trò vô cùngquan trọng Đó là môn học bắt buộc đối với HS từ Tiểu học với tên gọi Tiếng

Trang 3

Việt, đến hết bậc THPT Mục đích môn học là cung cấp cho HS những kiến thức

cơ bản về ngôn ngữ tiếng Việt và văn học Việt Nam cũng như các giá trị vănhọc nổi tiếng trên thế giới, góp phần hình thành những phẩm chất, năng lực cầnthiết cho con người Tuy vậy, trong quá trình triển khai thực tế, việc dạy và họcNgữ văn vẫn có những bất cập khiến nhiều HS không hứng thú với môn học

Môn Ngữ văn cần phải đáp ứng yêu cầu đổi mới chung “dạy học phải phát huy

được tính tích cực chủ động sáng tạo của HS” Vì vậy, nếu các giờ đọc - hiểu

có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm và năng lựcthẩm mĩ cho HS, khơi gợi được nhiều hứng thú của GV và HS trong hoạt độngdạy cũng như hoạt động học, thì các giờ làm văn không những đánh giá cao vaitrò chủ thể tạo lập văn bản của người học, mà còn giúp người học biết vận dụngsáng tạo những kiến thức đã học được vào GQVĐ trong thực tiễn cuộc sống, từ

đó tạo nên tâm lí chủ động, sáng tạo và thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnhsống, giúp con người sống tốt hơn, tích cực hơn

Trên thực tế, kết quả dạy học Làm văn vẫn chưa đáp ứng được sự mongđợi, trong đó dễ thấy nhất là sự hạn chế về năng lực cảm thụ, sự yếu kém về kĩnăng thực hành tạo lập văn bản NLVH ở HS Những năm gần đây, các đề thiđược xây dựng đổi mới theo kiểu cấu trúc đề bao gồm kiến thức đọc - hiểu, đòihỏi HS khả năng nắm bắt tổng thể từ đơn vị kiến thức nhỏ nhất trong văn bản;câu hỏi NLVH được ra theo hướng mở - chỉ nêu đề tài hoặc vấn đề cần bàn luậntrong bài làm văn, không giới hạn việc vận dụng các phương thức biểu đạt hoặccác thao tác tư duy lập luận để viết bài, khuyến khích HS PTNLST, suy nghĩnhiều chiều trước một vấn đề Thực trạng HS học tập một cách thụ động, rậpkhuôn theo những điều GVgiảng dạy và cung cấp kiến thức vẫn còn rất phổbiến

1.3 Thơ hiện đại Việt Nam (1930 - 1945) đạt nhiều thành tựu nổi bật khôngchỉ về mặt nội dung mà còn cả về thi pháp nghệ thuật, là dấu mốc quan trọngđánh dấu sự chuyển mình của văn học dân tộc mang tính chất hiện đại Dạy họclàm văn và PTNLST của HS trong nghị luận về một tác phẩm thơ hiện đại là mộtnội dung quan trọng trong dạy học Ngữ văn THPT, nhất là với HS lớp 11 Vì thế

chúng tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho

học sinh lớp 11 trong dạy học làm văn nghị luận về thơ hiện đại Việt Nam

1930 - 1945” nhằm đóng góp vào việc đổi mới phân môn Làm văn, góp phần

nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy học Ngữ văn ở trường THPT

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 4

- Tổng hợp các tiền đề lí luận về đổi mới PPDH phân môn Làm văn, về kháiniệm, đặc điểm, những biểu hiện của NLSTvà PTNLST trong làm văn NLVH

về thơ hiện đại 1930 - 1945 cho HS THPT

- Khảo sát và đánh giá thực tiễn dạy học làm văn NLVH trong việc PTNLSTcho HS ở trường THPT

- Đề xuất một số biện pháp dạy học NLVH về thơ hiện đại 1930 - 1945nhằm PTNLST cho HS

- TN sư phạm để đánh giá tính khả thi của những đề xuất khoa học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

*Đối tượng nghiên cứu

Cách thức tổ chức dạy học làm văn nghị luận về thơ hiện đại Việt Namgiai đoạn 1930 - 1945 nhằm PTNLST cho HS

* Phạm vi nghiên cứu

Trong chương trình SGK hiện hành, các bài học về thơ hiện đại 1930 - 1945chỉ tập trung ở lớp 11, nên trong khả năng và điều kiện cho phép, ở SKKN này,chúng tôi chỉ giới hạn trong việc làm sáng tỏ vai trò quan trọng của NLST và đưa

ra một số biện pháp PTNLST cho HS trong quá trình làm văn NLVH về thơ hiệnđại 1930 - 1945 ở SGK Ngữ văn lớp 11, Chương trình chuẩn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và thực hiện được những nhiệm vụ mà luận văn đặt

ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: chúng tôi tiến hành tập hợp, phân tích,

tổng hợp tư liệu về vấn đề NLST, việc PTNLST cho HS, các vấn đề về PPDHlàm văn nghị luận và thành tựu nghiên cứu về văn học Việt Nam hiện đại giaiđoạn 1930 - 1945

- Phương pháp khảo sát điều tra: Được sử dụng khi tìm hiểu thực trạng

PTNLST của HS trong bài làm văn NLVH thông qua hệ thống các bài làm văn

cụ thể của HS, cách chấm bài, ra đề văn của GV

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Được dùng sau khi tiến hành khảo sát

để đánh giá kết quả điều tra từ đó tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém trong việcPTNLST của HS

- Phương pháp lịch sử: Sử dụng khi tiến hành tổng hợp tư liệu về lịch sử

nghiên cứu vấn đề

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Được sử dụng để xem xét, xác

nhận, kiểm tra tính đúng đắn và tính khả thi của các biện pháp dạy học

Trang 6

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận

Tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm tinh thần của người nghệ sĩ, qua đó,

họ phát biểu ý kiến bày tỏ thái độ trước cuộc sống bằng những hình tượng nghệthuật gợi cảm Có thể nêu khái niệm về NLVH: là loại văn trong đó người viết(người nói) đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề văn học, tác phẩm, tácgiả, trào lưu, xu hướng, giai đoạn, thời đại, hiện tượng văn học hay những vấn đề

về bản chất, quy luật, chức năng và nhiệm vụ của văn học; những ý kiến, nhậnđịnh văn học và những kiến thức văn học nói chung, thông qua cách thức bànluận để thuyết phục được người nghe Để thuyết phục được ý kiến phải đúng vàthái độ phải đúng.Có thể gọi ý kiến là lí còn thái độ là tình.Có khi ý kiến đúng màthái độ không đúng thì cũng kém giá trị và tác dụng.Có ý kiến đúng và thái độđúng rồi lại phải có cách nghị luận hợp lí nữa

Dạy làm văn NLVH trong nhà trường thực chất là dạy HS xây dựng một thểvăn là một văn bản nghị luận về các vấn đề văn học thông thường có thể gặptrong cuộc sống hàng ngày, dạy HS các thao tác làm văn NLVH, cách để HS thểhiện chính kiến, quan điểm trước một vấn đề văn học cụ thể Đây một công việc,một yêu cầu trọng yếu trong nhà trường phổ thông Điều này trước hết xuất phát

từ đặc điểm tâm sinh lí của HS ở bậc THPT, ở lứa tuổi này các em đã bắt đầuhình thành nhân sinh quan, có quan niệm, thiên kiến chủ quan của mình trướcmọi vấn đề trong cuộc sống, tư duy lô-gic cũng đã phát triển đến một mức độ

nhất định “Sự phát triển của tư duy trừu tượng trong những năm đó diễn ra

một cách đặc biệt mạnh mẽ và đôi lúc át hẳn cảm xúc và cách nhìn hình tượng của HS… dẫn HS đến chỗ lí giải được cấu tứ của tác giả và nội dung tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm một cách sâu sắc hơn” [13, tr.77] Trên đường làm văn

NLVH, HS phải gắn liền hai mặt của vận động tư duy và ngôn ngữ; một mặt suynghĩ để tìm kiếm cho bài văn của mình các ý tưởng đúng đắn, phong phú, mặtkhác phải lựa chọn ngôn ngữ diễn đạt, làm cho bài văn không những có ý tưởngdồi dào mà còn có lời văn trong sáng, mạch lạc, có sức thuyết phục, thể hiệnđược tình, ý của người viết

Làm văn NLVH không chỉ rèn luyện cho HS kĩ năng ngôn ngữ và cảm thụvăn chương, mà mục tiêu cao hơn còn xây dựng cho HS phương pháp, tư tưởngđúng đắn để hình thành thế giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ.Vì vậyvăn NLVH gắn liến với HS THPT là điều dễ hiểu

Kiểu bài NLVH chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, bài văn NLVH sẽ làchỗ dựa quan trọng để đánh giá năng lực văn học của HS trong nhà trường phổthông Điều này thể hiện trước hết ở sự phân bố chương trình: số giờ học và thựchành về kiểu bài văn NLVH nhiều hơn hẳn so với các giờ làm văn kiểu loạikhác Hơn nữa kiểu bài văn NLVH luôn xuất hiện trong các bài kiểm tra, các kìthi Các kì thi được coi là quan trọng đối với HS như kì thi tuyển sinh THPT, thi

HS giỏi và đặc biệt là ở kì thi THPT quốc gia, câu hỏi NLVH luôn chiếm một

Trang 7

mức điểm tương đối cao, quyết định đến chất lượng quá trình học tập của HS.

2.Thực trạng ra đề làm văn NLXH ở một số trường THPT hiện nay

Để phục vụ cho việc nghiên cứu việc PTNLST cho HS trong dạy học làmvăn nghị luận về thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, chúng tôi đã đitìm hiểu thực tế dạy và học làm văn NLVH về thơ hiện đại trong nhà trường quaviệc khảo sát nhanh một số tiết dạy, hỏi ý kiến GV và HS Vì điều kiện giới hạnnên chúng tôi chỉ chọn khảo sát một số lớp trong các trường THPT thuộc phạm

vi thị xã Bỉm Sơn và Hà Trung với các trường THPT Bỉm Sơn, THPT Lê HồngPhong, THPT Hoàng Lệ Kha

Sau khi khảo sát và tìm hiểu, chúng tôi rút ra nhận xét rằng:

Về ưu điểm: Các giờ dạy học làm văn nghị luận về thơ hiện đại Việt Nam1930- 1945 trong thời gian gần đây đã có rất nhiều đổi mới về nội dung vàPPDH, bám sát mục tiêu cần đạt với chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ, tư tưởng,phát triển năng lực người học; GV bước đầu tích cực sử dụng các phương pháp

và kĩ thuật dạy học hiện đại; HS say mê, hứng thú học tập; các đề kiểm tra đánhgiá về tác phẩm có tính chất gợi mở, khai thác

Về hạn chế: Ở nhà trường phổ thông, thơ hiện đại là một trong những mảngthơ hay, lại gần gũi về tư tưởng, mới mẻ trong thi pháp Vì vậy để tiếp cận dòngthơ này, nhìn chung GV, HS có hứng thú đặc biệt Bên cạnh dòng thơ mới với sựđổi mới của thi tứ, đem lại những quan niệm thẩm mĩ mới về cái chân - thiện -

mĩ, thơ hiện đại Việt Nam còn được đánh dấu bởi những thành tựu cơ bản củathơ cách mạng Tuy nhiên, việc dạy học các tác phẩm thơ hiện đại ở trườngTHPT hiện nay chưa đạt kết quả như mong muốn.Việc dạy học Thơ mới, ở mức

độ nhất định còn theo sở thích, cảm tính, chưa kể đến những HS theo khối khoahọc tự nhiên Việc dạy thơ cách mạng cũng còn hạn chế, bởi số tiết dạy học thơhiện đại trong phân phối chương trình không nhiều, chỉ có 16 tiết đọc - hiểu(chương trình cơ bản) và 23 tiết với chương trình tự chọn bám sát Phần làm vănthì chủ yếu đi sâu vào thực hành các thao tác lập luận, không dạy lí thuyết về

kiểu bài NLVH về thơ hiện đại Thực hành làm văn NLVH chỉ có “Bài viết số

6” và một bài kiểm tra tổng hợp cuối học kì “Bài viết số 7” Bởi theo cách soạn

lô-gic thống nhất của chương trình thì kiến thức cơ bản các em đã được học ởlớp 9 THCS, lên lớp 12 mới học lại kiến thức nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.Mặc dù được sự phê duyệt của ban chuyên môn, tổ chuyên môn chủ động chia

số tiết nhiều hơn so với phân phối chương trình chung của Bộ Giáo dục, song kể

cả những tiết học tự chọn cũng không đủ để kích thích HS sáng tạo nếu không

có phương pháp và kĩ thuật cụ thể, vì NLST là khả năng cao nhất trong mộtnhiệm vụ giáo dục Muốn PTNLST hiệu quả cần giáo dục HS nắm vững nhữngtri thức nền tảng cơ bản Vậy làm thế nào để PTNLST của HS trong làm vănnghị luận về thơ hiện đại 1930 - 1945 là việc cần được quan tâm của nhà trườngphổ thông hiện nay

2 Một số biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh lớp 11 trong dạy học làm văn nghị luận về thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn 1930- 1945

Trang 8

2.1 Định hướng tư duy sáng tạo cho HS khi tiếp nhận các văn bản thơ hiện đại Việt Nam; giải mã kết hợp với liên tưởng, tưởng tượng; mở rộng, kết nối, dự kiến các vấn đề có thể được chuyển hóa thành nội dung làm văn.

Đây là một biện pháp quan trọng PTNLST cho HS, được thực hiện ngay ởkhâu dạy đọc - hiểu văn bản thơ ở học kì 2 lớp 11 HS thực hiện các bài đọc -

hiểuThơ mới: “Vội vàng” - Xuân Diệu, “Tràng giang” - Huy Cận, “Đây thôn

Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử;các bài thơ cách mạng:“Chiều tối”- Hồ Chí Minh, “Từ ấy”- Tố Hữu và một số bài đọc thêm Qua các bài học, HS có khả năng phát hiện

những sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh thơ, thấy những đóng góp mới mẻ của cácnhà thơ vào tiến trình văn học dân tộc, từ đó tìm ra giá trị bài học cuộc sốngđược rút ra từ các văn bản thơ hiện đại

Cần phải định hướng tư duy sáng tạo khi tiếp nhận các văn bản thơ hiện đại.Nhận diện là mức độ HS biết xác định được một số thông tin ban đầu về tác giả,tác phẩm, hình ảnh, từ ngữ của tác phẩm, nhớ được vấn đề đặt ra nằm ở tácphẩm nào, huy động những kiến thức đọc - hiểu về văn bản, thể hiện suy nghĩriêng, nêu câu hỏi để tìm hiểu vấn đề nghị luận, kết nối vốn tri thức cá nhân vớicác tài liệu liên quan để hiểu cặn kẽ vấn đề, thậm chí có thể đưa ra những cáchhiểu mới phù hợp với hoàn cảnh của vấn đề Sau đó người học dùng cách lậpluận thuyết phục chia sẻ quan điểm cá nhân thay thế các quan điểm đã cũ, khôngphù hợp để đẩy tư duy đến mức cao hơn, có thể đánh giá và đánh giá lại vấn đề,thấy giá trị của văn bản thơ hiện đại trong thời kì mới với khả năng làm chủquan điểm của bản thân Từ đó thúc đẩy khả năng sáng tạo, xây dựng ý tưởngmới, biết tạo ra và hoàn thiện sản phẩm mới dựa trên những ý tưởng khác nhaunhư vận dụng âm nhạc, hội họa để tiếp nhận các văn bản thơ, thể hiện nét riêngđộc đáo về nội dung và hấp dẫn về hình thức của bài làm văn NLVH

Mỗi tác phẩm phải có bố cục, kết cấu, tức là có phương thức mã hóa ýnghĩa riêng.Tác phẩm bắt đầu từ đâu, kết thúc ở đâu đều có ý nghĩa Chẳng hạn,

trong bài “Vội vàng”, Xuân Diệu lựa chọn cho mình thể thơ tự do mới mẻ, dễ

bộc lộ cảm hứng và xúc cảm, không bị gò bó bởi câu chữ, niêm luật; sử dụng đadạng các thủ pháp nghệ thuật như điệp từ, điệp ngữ, từ láy, tạo kiểu vắt dòng đặcbiệt của Thơ mới, sử dụng đa dạng các kiểu câu ngắn, dài, câu cảm thán… cũng

là các cách mã hóa Bốn câu thơ đầu của bài thơ, nhà thơ dùng thể thơ năm chữ,

kiểu câu khẳng định, điệp từ ngữ“tôi muốn”, điệp cấu trúc câu, dùng từ mệnh lệnh, động từ “tắt nắng”, “buộc gió” khẳng định khát vọng ngông cuồng muốn

đoạt quyền tạo hóa, muốn xoay chuyển lại quy luật của tự nhiên, thể hiện mộtcái tôi táo bạo, mãnh liệt: muốn ngăn thời gian, chặn sự già nua, tàn tạ để giữmãi hương sắc cho cuộc đời

Liên tưởng là hoạt động tâm lí của con người, từ việc này mà nghĩ đến việc

kia, từ người này mà nghĩ đến người khác Cơ sở của liên tưởng là mối quan hệgiữa các sự vật hiện tượng trong đời sống.Trong NLVH về bài thơ, liên tưởng cómục đích nhằm làm nổi bật thực chất một hiện tượng, nhận ra một ý nghĩa nào

đó Có thể vận dụng các loại liên tưởng: liên tưởng tương cận, liên tưởng tươngđồng, liên tưởng đối sánh, trái ngược, liên tưởng nhân quả… Yêu cầu liên tưởng

Trang 9

phải hợp lí, tự nhiên và phải mới mẻ Chẳng hạn, muốn PTNLST của HS trong

đọc - hiểu “Vội vàng”, phải phát huy khả năng liên tưởng của các em trong việc

khám phá văn bản với hiện thực lịch sử giai đoạn 1930 - 1945, các xu hướng,khuynh hướng lí tưởng thanh niên đương thời, liên tưởng đồng đại, lịch đại đểhiểu vấn đề Xuân Diệu đề cập trong tác phẩm Trong chín câu thơ viết về vẻ đẹp

thiên đường nơi trần thế, HS cần giải mã ngôn ngữ hình ảnh thiên nhiên: “ong”,

“bướm”, “hoa”, “lá”, “yến anh”, “bình minh” đang ở vào thời kì sung mãn

nhất, sức sống căng đầy nhất (“tuần tháng mật”của ong bướm, “hoa của đồng

nội xanh rì” ) Chúng hiện hữu có đôi, có lứa, có tình, như mời, như gọi, như

xoắn xuýt tạo nên cảm giác sung sướng, ngây ngất, đắm say.Các biện pháp nghệthuật điệp ngữ, liệt kê, so sánh làm cho thiên nhiên tràn đầy sinh lực, ngồn ngộnsức xuân, sắc xuân, hương xuân và tình xuân Cảnh vật vừa gần gũi, thân quen,vừa quyến rũ, đầy tình tứ Tất cả thế giới trần thế được nhìn qua lăng kính của

tình yêu, qua cặp mắt xanh non của tuổi trẻ Đó là cái nhìn lấy con người làm

chuẩn mực cho thiên nhiên, quy chiếu thiên nhiên về vẻ đẹp của giai nhân

(“hàng mi”, “tháng giêng ngon”) Cách nhìn rất Xuân Diệu, tươi mới, viên

mãn, tròn đầy, sáng tạo so với vẻ đẹp thẩm mĩ chuẩn mực truyền thống “Tháng

giêng” - thời điểm khởi đầu của mùa xuân Cái đẹp nằm ở sự bắt đầu, tinh khôi,

mới mẻ, hồng hào, mơn mởn “Tháng giêng” - “cặp môi gần” là cách tác giả

vật chất hoá (cầm, nắm, sờ thấy được) một khái niệm trừu tượng (thứ chỉ có thể

cảm nhận - thời gian).“Ngon”, “gần” là cách tác giả truyền cảm giác cho người

đọc bằng các tính từ HS sáng tạo theo trí tưởng tượng và cảm nhận của bảnthân, vẽ lên hình ảnh thiên đường nơi mặt đất, thấy được tình yêu thiên nhiên,cuộc đời của Xuân Diệu

Tưởng tượng là hoạt động tâm lí nhằm tái tạo, biến đổi các biểu tượng trong

trí nhớ và sáng tạo ra hình tượng mới; khả năng hình thành các hình ảnh, cảmgiác, khái niệm trong tâm trí khi không nhận thức đối tượng đó thông qua thịgiác, thính giác hoặc các giác quan khác Tưởng tượng thể hiện ý nghĩa của kinhnghiệm và tri thức, là cơ sở cho việc nhận thức thế giới.Tưởng tượng đóng một

vai trò quan trọng trong quá trình học tập Tưởng tượng bao gồm: Tưởng tượng

tái tạo ,tưởng tượng sáng tạo.Trong dạy học “Vội vàng”, GV có thể PTNLST

của HS bằng cách kích thích trong trí tưởng tượng của các em về bức tranh thiênnhiên tràn đầy hương sắc của cuộc sống trần thế trong thơ Xuân Diệu để từ đócác em có thể sáng tạo nghệ thuật như vẽ tranh, ngâm thơ, hay cảm nhận triết línhân sinh của Xuân Diệu từ đó xây dựng những luận lí sống cho bản thân, thíchứng với thực tế cuộc sống

Liên tưởng và tưởng tượng chắp cánh cho tư duy con người khỏi lệ thuộcvào sự việc trước mắt, mở rộng tầm nhìn, đi vào chỗ sâu thẳm, bí ẩn của thế giới

và con người, tạo ra những sản phẩm mới, những hình tượng nghệ thuật không

lặp lại Bản thân tác phẩm “Vội vàng” đã là sự sáng tạo, bằng việc giải mã, liên

tưởng, tưởng tượng, HS có thể tiếp tục sáng tạo những cái mới, gắn bó với thựctiễn cuộc sống, nằm ngoài những điều mà tác giả mong đợi

Như vậy, từ tư duy sáng tạo trong đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình, GV có

Trang 10

thể kết nối tổng hợp để dự kiến các vấn đề làm văn sao cho có thể phát huy đượcNLST của người học hiệu quả nhất.

Những năm gần đây, nhiều GV đã chú ý đổi mới cách ra đề theo hướng

“mở” Trong cuốn “Hệ thống đề mở Ngữ văn 10”, tác giả Đỗ Ngọc Thống, từ phương diện hình thức cũng nêu quan niệm về đề mở như sau: “Đề mở là loại

đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luận hoặc chỉ nêu đề tài để viết văn tự sự, miêu tả… không nêu mệnh lệnh gì về thao tác lập luận như kiểu: hãy chứng minh, hãy giải thích, hãy phân tích” [54, tr.8] Đây là dạng đề văn không

còn đặt ra yêu cầu về nội dung một cách cụ thể mà chỉ là những gợi mở, địnhhướng

Các dạng đề NLVH về thơ hiện đại rất đa dạng: cảm nhận vẻ đẹp một bàithơ, một đoạn thơ; tìm hiểu giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn học;mạch cảm xúc lô-gic của tâm trạng nhân vật trữ tình, chi tiết nghệ thuật, làmsáng tỏ một ý kiến bàn về văn học

Để PTNLST trong làm văn nghị luận về thơ hiện đại, GV phải khuyếnkhích HS dám tìm tòi, khám phá để đưa ra những quan điểm, ý tưởng mới, cáchgiải quyết mới Tuy nhiên với HS, việc yêu cầu các em tìm tòi, khám phá ra mộtđiều gì đó mới mẻ hoàn toàn là một điều không hề đơn giản Vì thế trong nộidung làm văn, việc ra đề văn trong nhà trường cần hướng đến mục tiêu PTNLST

ở mức cải biến, sáng tạo bộ phận như trong cách cảm nhận sáng tạo các từ ngữ,hình ảnh mà tác giả đã sử dụng; phát hiện ý nghĩa tác phẩm không theo một lốimòn có sẵn Thậm chí, để PTNLST, GV cũng cần xây dựng các đề văn theohướng yêu cầu HS sử dụng khả năng tưởng tưởng, liên tưởng vào quá trình làmvăn Chẳng hạn, khi cảm nhận đoạn thơ:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

……….

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

(Trích “Vội vàng” - Xuân Diệu)

Trang 11

Một HS đã liên tưởng rất sáng tạo: “Khổ thơ đã gợi trong tôi dáng đứng củamột chàng thanh niên trước không gian thiên nhiên rộng lớn tràn đầy hương sắc.Anh ta đang dang rộng đôi tay, với một tư thế ngạo nghễ, mở lòng mình chiếmlĩnh, ôm trọn tất cả sự sống…” Đó là sự liên tưởng thú vị từ hình thức và ýnghĩa nội dung khổ thơ gợi ra trong tâm trí người đọc.

Đề văn có thể yêu cầu HS tưởng tượng ở mức độ khác nhau từ thấp đếncao.Tưởng tượng ở mức độ thấp là khả năng tưởng tượng dựa trên những sựkiện, nhân vật, hình ảnh đã có, những gợi ý cho trước Chẳng hạn như các đềvăn sau:

- Cảm nhận của em về tâm trạng nhân vật người thanh niên trong bài thơ

“Từ ấy” của Tố Hữu Hãy so sánh với cảm xúc bản thân từng trải qua khi được

gia nhập đội ngũ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh?

- Cảm nhận về nỗi niềm của các nhà thơ mới qua hai bài thơ “Tràng giang” của Huy Cận và “Vội vàng”của Xuân Diệu?

Tưởng tượng ở mức độ cao là khả năng tưởng tượng lại một câu chuyện haymột sự việc hoàn chỉnh đáp ứng được những yêu cầu về nội dung ý nghĩa haynhân vật cụ thể Chẳng hạn như đề văn sau:

- Hãy tưởng tượng đối thoại cùng với Xuân Diệu về quan niệm sống của ông

trong bài “Vội vàng”?

- Vì sao Hàn Mặc Tử khi ở trại phong Quy Hòa nhận được bức bưu ảnh của

người bạn gái cũ lại có thể sáng tạo nên “Đây thôn Vĩ Dạ” - một trong số những

bài thơ hay nhất của phong trào Thơ mới?

Như vậy, việc ra đề theo hướng mở là bước đầu tiên trong việc PTNLST của

HS trong dạy học làm văn nghị luận về thơ hiện đại

2.2.2 Các kiểu đề làm văn nghị luận về thơ hiện đạiViệt Nam giai đoạn

1930 - 1945 có thể PTNLST cho HS

2.2.2.1 Kiểu bài 1: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

Đây là kiểu đề truyền thống phổ biến trong việc kiểm tra đánh giá đối

với những đơn vị kiến thức của thơ hiện đại

GV sử dụng đề mở thông thường là:

- Cảm nhận của em về bức tranh thiên nhiên và cuộc sống trong bài thơ

“Chiều tối” của Hồ Chí Minh?

Để kích thích được khả năng sáng tạo của HS, GV có thể nêu những yêucầu trong các đề như:

- Chọn một khổ thơ trích trong bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu, viết bài cảm

nhận suy ngẫm về mối liên hệ giữa vấn đề diễn ra trong cuộc đời em với nộidung đoạn trích Em có đồng ý với quan điểm của tác giả trong bài thơ không và

lí giải tại sao quan niệm đó lại quan trọng với em?

Trang 12

- Hãy viết một bài văn giải thích, làm sáng tỏ và giúp người đọc tìm thấy ýnghĩa mới của một tác phẩm thơ hiện đại.

- Chọn một hoặc nhiều bài thơ (thơ hiện đại hoặc thơ mới) và viết bài vănphân tích ý nghĩa của chúng

2.2.2.2 Kiểu bài 2: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

Ý kiến bàn về văn học có thể là những nhận xét về tác giả (phong cáchnghệ thuật, cá tính sáng tạo, con người, quan niệm sống), tác phẩm (hoàn cảnhsáng tác, nội dung, nghệ thuật), trào lưu văn học, thời đại lịch sử… Các đềtruyển thống thường là nêu các vấn đề về phong cách nghệ thuật, đặc điểm hồnthơ:

- Trong “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh đã khẳng định “Xuân Diệu mới

nhất trong các nhà thơ mới” Qua “Vội vàng”, em có suy nghĩ như thế nào về

điều đó?

- Nhận xét về hồn thơ Xuân Diệu, Hoài Thanh viết “Người luôn say đắm

tình yêu, say đắm cảnh đời, sống vội vàng, cuống quýt, khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết” Anh/chị hãy bình luận ý kiến trên qua bài

thơ “Vội vàng”?

Trên cơ sở các kiểu đề truyền thống, để PTNLSTcho HS lớp 11 khi NLVH

về thơ hiện đại, GV xây dựng các đề với nội dung trình bày quan điểm cá nhân,sáng tạo không áp dụng nói theo những cái có sẵn như sau:

- “Họ yêu vô cùng thứ tiếng trong mấy mươi thế kỉ đã chia sẻ vui buồn với

cha ông.Họ dồn tình yêu quê hương trong tình yêu tiếng Việt” (Trích “Một thời đại trong thi ca” - Hoài Thanh) Qua các bài thơ mới như “Vội vàng” - Xuân

Diệu, “Tràng giang” - Huy Cận, “Đây thôn Vĩ Dạ” - Hàn Mặc Tử, “Tương tư”

- Nguyễn Bính, anh/chị hãy trình bày quan điểm của mình về ý kiến trên Hãychia sẻ một giải pháp mà anh/chị đã thực hiện để góp phần giữ gìn sự trong sángcủa tiếng Việt

2.2.2.3: Kiểu bài 3: Nghị luận so sánh

Thường đối với HS đây là kiểu đề khó, bởi để giải quyết thấu đáo vấn đề,

HS phải hiểu kĩ, không chỉ kiến thức đọc - hiểu của hai vấn đề trong nội dungyêu cầu đề bài mà còn phải biết vận dụng lập luận so sánh, sự sáng tạo trongdiễn đạt, để làm nổi bật sự giống và khác nhau của vấn đề so sánh GV có thể

sử dụng các kiểu đề:

- Viết một bài NLVH so sánh và đối chiếu hai bài thơ Bài viết cần tập trungvào các phương diện chính của bài thơ như chủ đề, phong cách, sự lựa chọn từngữ; để giúp bạn đọc thấy được sự sâu sắc trong các bài thơ ấy (phạm vi có thể

là: “Vội vàng” - “Tràng giang”; “Chiều tối” - “Từ ấy”; “Vội vàng” - “Từ

ấy”…)

2.2.2.4 Kiểu bài 4: Nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học

Vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học thường là vấn đề khái quát nhất sau

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w