Tuy nhiên, trên thực tế khách quan cần thấy rằng các TĐKT Nhà nước chưa thực sự là một thực thể kinh tế thống nhất, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp toàn Tập đoàn, chưa khắc phục tình trạ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
PHAN MINH TUẤN
Một số vấn đề về tập đoàn kinh tế nhà nước
ở Việt Nam hiện nay
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Trang 2Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Tập đoàn kinh tế 8
1.2 Hình thức tổ chức và các đặc trưng chủ yếu của Tập đoàn kinh tế 12
1.3 Nguồn gốc hình thành và vai trò Nhà nước trong sự hình thành và phát triển
1.4 Vai trò và xu hướng phát triển của Tập đoàn kinh tế 36 1.5 Tham khảo sự hình thành và hoạt động của Tập đoàn kinh tế ở một số nước
Chương 2: Thực trạng của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam 53
2.1 Chủ trương và quá trình hình thành Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam 53 2.2 Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam 57
2.3 Thực trạng hoạt động của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam 64
2.4 Đánh giá một số thành tựu và hạn chế 75
Chương 3: Quan điểm, nguyên tắc và giải pháp phát triển Tập đoàn kinh tế ở
3.1 Quan điểm, chủ trương về sự cần thiết xây dựng, phát triển Tập đoàn kinh tế 86
3.2 Những nguyên tắc và phướng xây dựng và phát triển Tập đoàn kinh tế ở Việt
3.3 Những giải pháp cơ bản xây dựng và phát triển các Tập đoàn kinh tế ở Việt
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 CNH : Công nghiệp hoá
2 CNTB : Chủ nghĩa tư bản
3 DN : Doanh nghiệp
4 DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
5 DNTV : Doanh nghiệp thành viên
6 FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
12 MNCs : Các công ty đa quốc gia
13 NIEs : Các nền kinh tế công nghiệp mới
14 TBCN : Tư bản chủ nghĩa
15 TCH : Toàn cầu hoá
16 TCT : Tổng công ty
17 TĐDN : Tập đoàn doanh nghiệp
18 TĐKD : Tập đoàn kinh doanh
19 TĐKT : Tập đoàn kinh tế
20 TNCs : Các công ty xuyên quốc gia
21 VN : Việt Nam
22 XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tập đoàn hoá và xuyên quốc gia hoá các hoạt động kinh tế là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI
Sự phát triển nhanh chóng, sôi động và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau của các công ty xuyên quốc gia (TransNationlCoporations - TNCs) như: Tập đoàn sản xuất (Thái Lan); CheeBol (Hàn Quốc) thời gian qua không những mang đậm nét đặc trưng của thời đại làm tăng nhanh qúa trình toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế thế giới, mà còn phản ánh trình độ tăng nhanh của sản xuất kinh doanh, khả năng kinh doanh xuất khẩu và đầu tư, mở rộng thương mại quốc tế, làm cho nền kinh tế quốc gia thích ứng với sự phát triển của sức sản xuất xã hội
Trong xu thế hội nhập và phát triển, đổi mới để đứng vững và từng bước thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Việt Nam muốn tham gia vào hoạt động hợp tác quốc tế ngày càng sâu, rộng, tất yếu và cần thiết phải xây dựng các Tập đoàn kinh tế mạnh và tiến tới thành lập TNCs của mình
Quá trình thành lập các Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam được đánh dấu bằng Quyết định 91/TTg ngày 07/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ Đây là một bộ phận quan trọng của quá trình đổi mới, tổ chức và sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước theo hướng hình thành các tổ chức kinh tế mạnh của Nhà nước
Cho đến nay, mặc dù đạt được một số thành tựu nhất định như: hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, ổn định việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên, tích cực tham gia thực hiện các chính sách xã
Trang 5hội Tuy nhiên, trên thực tế khách quan cần thấy rằng các TĐKT Nhà nước chưa thực sự là một thực thể kinh tế thống nhất, chưa phát huy sức mạnh tổng hợp toàn Tập đoàn, chưa khắc phục tình trạng rời rạc của các doanh nghiệp thành viên bằng cơ chế, tổ chức và điều hành Vì vậy việc thành lập các TĐKT Nhà nước chưa đạt mục tiêu đề ra là tạo sự liên kết kinh tế, gắn bó lợi ích và thị
trường, là trụ cột đồng thời tạo “quả đấm thép” làm đối trọng trong quan hệ kinh
tế quốc tế
Việc xây dựng và phát triển các TĐKT Nhà nước là một lĩnh vực mới mẻ đối với Việt Nam cả trên giác độ lý luận và thực tiễn Và hướng đi nào cho các Tổng công ty theo mô hình TĐKT trong những năm tới để nó thực sự giữ vững những mục tiêu và nhiệm vụ kinh tế đề ra? Đó thực sự là một câu hỏi lớn cho tất
cả những ai quan tâm đến sự phát triển mô hình TĐKT ở Việt Nam
Để góp phần nhỏ bé vào công việc to lớn và phức tạp khó khăn đó, tác giả
xin lựa chọn vấn đề: “Một số vấn đề về Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam
hiện nay” làm Luận văn Thạc sỹ khoa học kinh tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Xung quanh vấn đề về Tập đoàn kinh tế đã có một số công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước Trong đó có đề cập đến vai trò vị trí của các TĐKT cũng như sự cần thiết và tác dụng của loại hình doanh nghiệp Tập đoàn, quy mô lớn trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Có thể nêu một số tác phẩm nổi bật sau:
Nguyễn Thị Bích Loan, Những giải pháp cơ bản nhằm hình thành và phát
triển Tập đoàn kinh doanh Việt Nam hiện nay, Luận án TS khoa học kinh tế, Hà
Nội 1999
PGS TS Ngô Quang Minh (Chủ biên), Kinh tế Nhà nước và qúa trình đổi
mới doanh nghiệp Nhà nước, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001
Trang 6PGS PTS Nguyễn Đình Phan (Chủ biên), Thành lập và quản lý các Tập
đoàn kinh doanh ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996
Tuy nhiên những công trình đó hầu hết mới chỉ tập trung vào việc khái quát những mô hình Tập đoàn đã có trong lịch sử hoặc đề cập đến một mặt cụ thể của việc quản lý Tập đoàn, chứ chưa có công trình nào tiếp cận nghiên cứu Tập đoàn từ các Tổng công ty theo mô hình TĐKT ở Việt Nam Từ đó làm nổi bật các đặc trưng của TĐKT và vạch rõ hướng đi cho các TĐKT trong những
năm tới Vì vậy đề tài: “Một số vấn đề về Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam
hiện nay” là cần thiết và có ý nghĩa
Đề tài có tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan, nhưng nội dung có tính chất độc lập
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên những luận cứ khoa học ở trong nước, ngoài nước và quan điểm của Đảng ta về TĐKT, đề tài góp phần phác thảo những đặc trưng cơ bản của mô hình TĐKT ở Việt Nam, thực trạng và xu hướng phát triển của chúng, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để xây dựng, hoàn thiện và định hình một xu hướng phát triển có tính quy luật của các TĐKT ở Việt Nam trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hình thành và phát triển TĐKT
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của các TĐKT Nhà nước ở Việt
Nam
Trang 7- Luận chứng những phương hướng, quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm củng cố, tổ chức lại các TĐKT ở Việt Nam trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Các vấn đề lý luận và thực tiễn của
sự hình thành, phát triển TĐKT và một số vấn đề đặt ra cho sự hình thành và phát triển TĐKT ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Trên thực tế, có thể có nhiều loại hình
tổ chức kinh doanh, Tổng công ty phát triển theo hướng TĐKT, song, các TĐKT được đề cập trong luận văn này là các TĐKT Nhà nước (các Tổng công ty Nhà nước được thành lập theo Quyết định 91/TTg hay còn gọi tắt là Tổng công ty 91) Tuy nhiên, do mối quan hệ biện chứng của các quan hệ kinh tế nên trong luận văn này cũng đề cập ở một mức độ nhất định một số Tổng công ty được thành lập theo quyết định 90/TTg (gọi tắt là Tổng công ty 90)
Đề tài thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị nên chỉ tập trung vào các xu hướng vận động có tính quy luật, những quan điểm có tính chất định hướng phát triển của các TĐKT
5 Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu, hoàn thành đề tài, các phương pháp đã được vận dụng: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp hệ thống; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; kết hợp phương pháp phân tích - tổng hợp với phương pháp quy nạp - diễn dịch; phương pháp lôgic với phương pháp lịch sử
Đồng thời sử dụng có chọn lọc những tri thức của kinh tế học hiện đại để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu
Trang 86 Những đóng góp mới của luận văn
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn trong xây dựng và phát triển các TĐKT
Phân tích thực trạng của các TĐKT Nhà nước và đưa ra những đánh giá cần thiết làm cơ sở để sắp xếp tổ chức lại các TĐKT theo yêu cầu khách quan
Những nhận định của tác giả về xu hướng vận động của các TĐKT ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số quan điểm, nguyên tắc và giải pháp nhằm dưa TĐKT Nhà nước ở Việt Nam vào đúng quỹ đạo phát triển theo yêu cầu của quy luật khách quan
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Tập đoàn kinh tế
Chương 2: Thực trạng của các Tập đoàn kinh tế Nhà nước ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm, nguyên tắc và giải pháp phát triển Tập đoàn kinh
tế ở Việt Nam
Trang 9NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
Trong thời đại mở rộng nhanh chóng của quá trình toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay, tất cả các quốc gia đều bị cuốn hút vào hệ thống phân công lao động quốc tế Việc tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt tổ chức các công ty theo các mẫu hình có hiệu quả như kiểu công ty mẹ - công ty con đang được cả giới lý luận và hoạt động thực tiễn quan tâm Để hiểu rõ hơn vấn đề này, sự phân tích được bắt đầu từ nhận diện chúng qua khái niệm
1.1 Khái niệm về Tập đoàn kinh tế
TĐKT xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi CNTB chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang độc quyền Cho đến nay, các TĐKT trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức kinh doanh theo kiểu các nhóm công ty xí nghiệp lớn hoạt động trên phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia Chúng là những công
ty mạnh về tài chính với doanh số hàng năm từ vài trăm triệu đến vài trăm tỷ USD
Các tập đoàn này có nhiều chi nhánh, gồm các công ty con, cháu, và có thể hoạt động trong một hoặc nhiều lĩnh vực ngành nghề đa dạng Tuỳ từng quốc gia và giai đoạn lịch sử mà chúng được gọi bằng những tên khác nhau như: Cartel, Syndicat, Trust, Consortium, Group, Cambinate, Holding company, Concern, Conglomerate Ở Hàn Quốc, người ta gọi chúng là các Chaebol, ở Nhật Bản thường gọi là Zaibatsu hay Keiretsu; ở Trung Quốc gọi là các Tập đoàn
Trang 10Từ đó khái niệm về TĐKT cho đến nay cũng còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, dưới đây xin nêu một số quan điểm chủ yếu:
- Quan điểm thứ nhất: Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế thì, “TĐKT
hay Tập đoàn kinh doanh (Group of Companies) là một tổ hợp các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo lập thành một tập đoàn gồm một công ty mẹ và một hay nhiều công ty con hoặc chi nhánh góp vốn cổ phần, chịu sự kiểm soát của công ty mẹ vì công ty mẹ chiếm hơn một phần hai vốn cổ phần” [51]
- Quan điểm thứ hai: TĐKT là một nhóm (tập đoàn) các công ty trong đó
có một công ty mẹ có quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp các công ty trong nhóm “trong cơ cấu nhóm như vậy, các công ty con có thể trở thành Holding Company trong tập đoàn, có thể tự thực hiện các hoạt động, hoặc thông thường hơn nó chỉ hoạt động như là phương tiện sở hữu cổ phần trong tập đoàn các công
ty, trong đó tập đoàn cũng như toàn bộ hoạt động đều có tính quốc tịch (Nationality) vì nhiều mục đích khác nhau (như kiểm tra, giám sát của chính phủ) và để đánh thuế theo những hoạt động mà chúng chịu trách nhiệm” [15, 20]
- Quan điểm thứ ba cho rằng: Tập đoàn là pháp nhân kinh tế do Nhà nước
thành lập gồm nhiều DNTV, có quan hệ với nhau về sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và tài chính trên quy mô lớn [38]
- Quan điểm thứ tư: “ Tập đoàn là sự tập hợp tạm thời của các xí nghiệp
độc lập, các tổ chức và các chính phủ, hợp lại với nhau để tập trung các tài nguyên và kỹ thuật của mình để đảm trách một công trình nhất định như một chương trình xây dựng lớn hoặc sản xuất máy bay” [34]
- Quan điểm thứ năm: TĐKT là một thực thể kinh tế thực hiện sự liên kết
kinh tế giữa các thành viên là các DN có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi
Trang 11ích được gọi bằng các tên khác nhau như: Hiệp hội, LHXN, tổng công ty theo
mô hình tập đoàn, Tập đoàn kinh doanh, Tập đoàn kinh tế Nhà nước [33, 5]
- Quan điểm thứ sáu: Một số nhà kinh tế và một số DN ở nước ta quan
niệm như sau: “ Tập đoàn các DN - thường gọi là TĐKT hay TĐKD, là một hình thức tổ chức kinh tế chỉ hình thành và tồn tại trong các nền kinh tế thị trường Nó là một loại hình tổ chức kinh tế cổ phần được hình thành trong quá trình tạo liên kết, liên hợp hoá của nhiều công ty, xí nghiệp của nhiều chủ sở hữu khác nhau, hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành, thực hiện tập trung hoá tư bản, đẩy mạnh phân công chuyên môn hoá và đầu tư theo chiều sâu, nhanh chóng đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh để giành lợi nhuận siêu ngạch từ lợi thế hoặc độc quyền” [37]
Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, khi mô hình kế hoạch hoá tập trung kiểu quan liêu bao cấp sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô (cũ), các nước XHCN đều tiến hành đổi mới kinh tế theo hướng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hình thức kinh doanh kiểu Tập đoàn ra đời: "Đó là một kiểu liên hợp các DN do một số pháp nhân thành lập và có cơ cấu tổ chức bao gồm một công ty mẹ và các công ty con được thành lập trên cơ sở một DN lớn làm nòng cốt và kết hợp một số DN khác có quan hệ góp vốn và quan hệ trong quá trình sản xuất, kỹ thuật, hợp đồng, vv " [7]
Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về TĐKT Có
nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản là do có những sự khác nhau về phương thức
hình thành, nguyên tắc tổ chức, và tư cách pháp nhân của TĐKT Có Tập đoàn
được thành lập trên cơ sở như một hình thức tổ chức kinh tế lỏng lẻo, các công ty thành viên ký kết các thoả thuận liên kết kinh tế với nhau lập thành một tổ chức, trong đó có một công ty mẹ chi phối chiến lược chung của Tập đoàn, nhưng các
Trang 12thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập kinh doanh của mình; Có loại hình Tập đoàn hình thành trên cơ sở sáp nhập thành một tổ chức thống nhất hoạt động theo những nguyên tắc cứng như một pháp nhân kinh tế; Có loại hình Tập đoàn hình thành trên cơ sở các thành viên thoả thuận thành lập một công ty tài chính riêng, công ty này đóng vai trò như một công ty mẹ chỉ đạo, chi phối hoạt động của các công ty thành viên Về tư cách pháp nhân của Tập đoàn, có quan điểm cho rằng, TĐKT là pháp nhân kinh tế do Nhà nước thành lập gồm nhiều đơn vị thành viên, nhưng "ở nhiều nước, TĐKT không phải là một định chế pháp lý, tuy
nó bao gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, có mối quan hệ về khế ước với nhau, hoạt động trong một hoặc nhiều ngành khác nhau, trên một hay nhiều nước Điều
đó có nghĩa TĐKT là một cơ cấu tổ chức, một loại hình tổ chức kinh tế" [33]
Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, song, từ những quan điểm trên đây ta
có thể rút ra một số nét đặc trưng điển hình của TĐKT: Đó là một loại hình doanh nghiệp có quy mô lớn, kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành được hình thành và phát triển trên cơ sở những liên kết của nhiều doanh nghiệp, hoạt động
trên phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia v.v
Tuy nhiên, mỗi quan điểm trên đây chỉ đề cập đến một hay một số mặt của TĐKT, nó chưa phản ánh đầy đủ nội hàm TĐKT về cấu trúc tổ chức, quy mô, phạm vi hoạt động, phương thức hoạt động nên chưa làm nổi bật các đặc trưng điển hình của TĐKT Từ phân tích trên có thể đi đến khái quát sau:
TĐKT là một tổ hợp các liên kết pháp nhân kinh doanh thông qua nhiều mô hình và phương thức hoạt động khác nhau nhằm phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng lợi thế về tập trung sản xuất và tính chất độc quyền trong khuôn khổ pháp luật Nó hoạt động ở một hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước,
Trang 13trong đó có "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các
"công ty con" về mặt tài chính và chiến lược phát triển
Khái quát này đã phản ánh được những đặc trưng cơ bản của TĐKT: Về quy mô, TĐKT phải là một tập hợp những công ty mạnh có vốn lớn, nhiều công nhân, trình độ năng lực sản xuất kinh doanh cao; Về phạm vi hoạt động, nó có thể là ở một nước (phạm vi quốc gia) hay vượt khỏi phạm vi một nước( xuyên quốc gia - phạm vi quốc tế); Về chức năng ngành nghề, nó có thể kinh doanh chuyên sâu một ngành hoặc đa ngành; Về cơ cấu tổ chức, TĐKT phải là một tổ hợp bao gồm công ty mẹ và các công ty con, cháu, chi nhánh tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau
Ngày nay, dưới tác động mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật làm cho lực lượng sản xuất biến đổi nhanh chóng, trình độ quốc tế hoá đời sống kinh tế ngày càng cao, nên ở các nước có nhiều con đường hình thành các TĐKT: có thể từ các công ty tư bản độc quyền, công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc các công ty thuộc sở hữu Nhà nước Các TĐKT, từ chỗ làm chủ thị trường quốc gia và khu vực đã vươn ra thị trường thế giới để hình thành các công ty xuyên quốc gia, đó cũng là một xu thế phổ biến trong điều kiện quốc tế hoá đời sống ngày càng được đẩy mạnh
Các TĐKT mặc dù có những đặc thù do bối cảnh kinh tế và đặc điểm từng quốc gia hay chế độ xã hội, song chúng vẫn có những đặc trưng chung mang
"dấu ấn của thời đại” nhất định
1.2 Hình thức tổ chức và các đặc trƣng chủ yếu của TĐKT
1.2.1 Hình thức tổ chức của TĐKT
Hiện nay trên thế giới, các TĐKT phát triển hết sức đa dạng, phong phú, việc xác định các hình thức tổ chức của TĐKT cũng dựa vào nhiều tiêu chí khác
Trang 14nhau Căn cứ vào phương thức hình thành và các nguyên tắc tổ chức có thể khái quát thành 2 loại hình tổ chức cơ bản sau:
phối cả Tập đoàn Về mặt cấu trúc, có 3 dạng cơ bản:
Tập đoàn liên kết dọc, ở đó các công ty thành viên có liên hệ với nhau về
công nghệ và sử dụng sản phẩm đầu ra của nhau Ví dụ một Tập đoàn gồm các công ty: Khai khoáng, luyện kim, sản xuất cấu kiện kim loại, chế tạo máy v v
Tập đoàn liên kết theo chiều ngang, các công ty trong Tập đoàn có quan
hệ với nhau về sản phẩm hay dịch vụ bổ trợ cho nhau, các sản phẩm cho cùng một nhóm khách hàng hoặc cùng nhóm mục tiêu sử dụng vv Chúng liên kết thành một tổ hợp để tận dụng và tạo lợi thế cho nhau Ví dụ: LG (Hàn Quốc) có các công ty sản xuất máy tính, công ty sản xuất máy in, công ty sản xuất máy photocoppy, thiết bị văn phòng, sản xuất giấy
Tập đoàn liên kết kiểu hạt nhân, các công ty trong Tập đoàn có sự liên kết
về công nghệ, thị trường vv nhưng xoay quanh một nhóm sản phẩm mũi nhọn,
ví dụ General Motor sản xuất nhiều lĩnh vực nhưng sản xuất ô tô là lĩnh vực hạt nhân
Tất nhiên, cần lưu ý rằng, do những tác động của môi trường kinh tế, xã hội và những tiến bộ khoa học công nghệ nên việc phân định dạng thức các mối
Trang 15liên kết và hình thức tổ chức như trên chỉ mang ý nghĩa tương đối, chúng có thể chuyển hoá, biến đổi lẫn nhau và cũng có thể bao hàm lẫn nhau trong tiến trình hoạt động tác nghiệp của mình
Hình thức thứ hai: Là kiểu tổ chức Tập đoàn mà các thành viên có mối
quan hệ liên kết tương đối "lỏng lẻo" thông qua các thoả thuận hay các cam kết
hợp tác, những hiệp ước hay hợp đồng kinh tế tuân theo nguyên tắc "liên kết
kinh tế" hay còn gọi là TĐKT hình thành theo kiểu"liên kết mềm" Các công ty
thành viên ký hợp đồng thoả thuận với nhau về những nguyên tắc chung trong hoạt động sản xuất kinh doanh như : Xác định quy mô sản xuất; hợp tác nghiên cứu và trao đổi bằng phát minh sáng chế kỹ thuật; quy định giá cả; thị trường tiêu thụ
Về tổ chức, thường có ban quản trị chung điều hành các hoạt động phối hợp của Tập đoàn theo một đường lối chung thống nhất, nhưng các công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính độc lập về tổ chức sản xuất và thương mại của mình.Về mặt lịch sử, hình thức liên kết này có từ rất sớm, từ khoảng thế kỷ XIX
1.2.2 Các đặc trưng chủ yếu của TĐKT
1.2.2.1 Đặc trưng về quy mô của các TĐKT
Một trong các đặc trưng căn bản của một TĐKT là quy mô lớn về vốn và lao động Để hình thành tập đoàn, vốn được tập trung huy động từ nhiều nguồn khác nhau, tạo thuận lợi cho việc sử dụng, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, đẩy nhanh tích tụ và tập trung sản xuất, đồng thời nâng cao khả năng và vị thế của nó trong các thương vụ cũng như trong việc chi phối và cạnh tranh trên thương trường, do đó TĐKT thường có quy mô lớn và rất lớn Mặt khác, ưu thế về tài chính của tập đoàn còn được thể hiện rõ nét trong việc sử dụng nhiều loại tiền tệ
Trang 16và nhiều loại hình thanh toán trong lưu thông, từ đó tạo nên một cơ chế vận hành linh hoạt, mềm dẻo và thuận tiện trong việc quản lý tài chính
Từ ưu thế rất lớn về vốn, tập đoàn có khả năng mở rộng nhanh chóng quy
mô sản xuất, kinh doanh, cải tiến công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, thoả mãn tối đa nhu cầu người tiêu dùng, do đó doanh thu của các tập
đoàn là cực lớn (Xem phụ lục số 1)
Lực lượng lao động trong tập đoàn thường lớn về số lượng, mạnh về chất lượng, được tuyển chọn và đào tạo chặt chẽ Trong số 50 tập đoàn lớn nhất thế giới 1997 về lao động (Theo Fortune August 3, 1998, F14) thì tập đoàn US Postal service ( Mỹ) có số lao động được sử dụng lớn nhất là 890.301 người, tập
đoàn có số lượng lao động ít nhất là Philip Moris ( Mỹ) với 152.000 người (Xem
Đây cũng được coi là một ưu thế lớn giúp cho tập đoàn có thể ứng phó kịp thời những tình huống bất thường có thể xẩy đến từ nhiều biến cố về chính trị, quân sự hay kinh tế
Từ các vấn đề trên, cho thấy đặc trưng nổi bật nhất của TĐKT là quy mô
rất lớn về vốn, và lao động Đó cũng là những ưu thế nổi bật khẳng định vị thế
của TĐKT trên thương trường
1.2.2.2 Đặc trưng về phạm vi hoạt động
Trang 17TĐKT có phạm vi hoạt động rất lớn, không chỉ trên phạm vi lãnh thổ quốc gia mà còn ở khu vực và trên bình diện quốc tế
Với qui mô rất lớn về vốn, lao động các tập đoàn đã hình thành mạng lưới phân công nội bộ tập đoàn theo kiểu liên kết hỗn hợp, đồng thời do sự phát triển của thông tin hiện đại và kỹ thuật vận tải làm cho phạm vi địa lý của phân công nội bộ tập đoàn nhanh chóng được mở rộng Dựa vào đặc điểm kỹ thuật của mình, các TĐKT có thể sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trên một không gian địa lý rộng lớn theo một hệ thống Từ đó có thể lợi dụng hiệu quả của tích tụ và tập trung sản xuất, dựa vào ưu thế thị trường hoặc các yếu tố tài nguyên để bố trí tách rời các khâu khác nhau của việc sản xuất thành phẩm Khi việc phân công nội bộ tập đoàn vượt khỏi phạm vi địa lý biên giới quốc gia thì các tập đoàn thực hiện sự chiếm lĩnh thị trường quốc tế bằng cách cắm nhánh ở nước ngoài để tối
đa hoá lợi nhuận Cho đến nay đại đa số các TĐKT của các nước trên thế giới đều ít nhiều hoạt động dưới hình thức TNCs và MNCs
Phạm vi hoạt động đa quốc gia cho phép tập đoàn có thể đồng thời phát huy tối đa khả năng và đạt được nhiều mục tiêu như: sử dụng các lợi thế so sánh
ở từng khu vực, tránh (hoặc “lách”) được các hàng rào thuế quan, tìm được các
“kẽ hở thị trường”, chiếm lĩnh tối đa thị trường “ngách” , từ đó mở rộng, phát triển thị phần tiêu thụ sản phẩm
Vì vậy, ở hầu hết các tập đoàn luôn coi việc mở rộng phạm vi hoạt động là một trong những mục tiêu hàng đầu của họ Ví dụ: tập đoàn dầu lửa Anh - Hà lan
là Royal - Dutch Sell hiện nay có vốn đầu tư trong hơn 2000 công ty ở hơn 130 quốc gia, có 700.000 cổ đông ở khắp thế giới, liên doanh với hơn 1000 công ty của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam [46]
Trang 18Cùng với sự trưởng thành và phát triển nhanh chóng của các TĐKT, sự cạnh tranh quốc tế ngày càng trở nên khốc liệt hơn Trong điều kiện đó, các TĐKT trên thế giới đã và đang điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ chỗ phân tán chuyển sang hợp tác, phân công quốc tế, liên kết ngang - dọc trong một hệ thống phân công lao động chung làm cho cơ cấu tổ chức toàn cầu tương ứng của tập đoàn ngày càng hoàn thiện Trong chiến lược chiếm lĩnh và khai thác thị trường quốc tế của các TĐKT, việc mở rộng quy mô bằng cắm nhánh,
mở rộng phạm vi hoạt động ở nhiều quốc gia trở thành giải pháp hữu hiệu để tránh xu hướng giảm sút tỷ suất lợi nhuận đồng thời củng cố vị trí tập đoàn trên trường quốc tế Các TĐKT khổng lồ tạo ra mạng lưới dày đặc, lấy công ty mẹ làm trung tâm, mở rộng ra khắp các hướng tạo ra hàng trăm ngàn công ty chi nhánh ở khắp các nước trên thế giới
1.2.2.3 Đặc trưng về chức năng ngành nghề
TĐKT thường hoạt động sản xuất kinh doanh đa ngành hoặc phát triển dần từ đơn ngành đến đa ngành, nhưng có thể thấy rõ mỗi tập đoàn đều có định hướng chủ đạo vào lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của tập đoàn Ví dụ: nói đến ITT (Mỹ) là nói đến điện thoại; Huyndai (Hàn quốc) là sản xuất ô tô; Sony (Nhật bản) là điện tử; Các sản phẩm của tập đoàn luôn đa dạng, phong phú về chủng loại, thậm chí rất khác nhau: chẳng hạn sản xuất ô tô
là lĩnh vực chính của Huyndai, nhưng bên cạnh đó, nó còn sản xuất vô số các loại sản phẩm bao gồm từ cái kim, sợi chỉ đến đóng tàu biển, công nghiệp vũ trụ Vì vậy khả năng đáp ứng các nhu cầu sản phẩm cho thị trường có ưu thế hơn hẳn các công ty riêng lẻ về mọi mặt, như: số lượng, chất lượng, mẫu mã, chủng loại mặt hàng, thị hiếu tiêu dùng, không gian, thời gian,
Trang 19Các TĐKT của Nhật Bản và của các nước NIEs chủ yếu khởi đầu từ lĩnh vực thương mại hoặc ngoại thương Chúng thường chuyên môn hoá trong các hoạt động thương mại với một số sản phẩm nhất định Trong quá trình hoạt động
và phát triển thì quy mô và cơ cấu kinh doanh dần được mở rộng, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh Cùng với những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường, kinh nghiệm quản lý và nguồn vốn tích luỹ được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, các TĐKT mở rộng sự hoạt động của mình sang các ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác Từ chỗ chỉ kinh doanh thương mại, chúng bổ sung dần thêm các hoạt động dịch vụ đến các ngành sản xuất, tài chính, ngân hàng, nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ Đặc điểm điển hình đối với các nước này
là ngoại thương đóng vai trò rất quan trọng, do đó những tập đoàn lớn nhất của
họ hiện nay hầu hết là những TĐKT xuất nhập khẩu hoặc có liên quan để xuất nhập khẩu Ví dụ: Tập đoàn Sam Sung có 140 chi nhánh ở nước ngoài, kinh doanh đa dạng, sản xuất trên 3000 mặt hàng khác nhau trong đó lĩnh vực điện tử
có uy tín hơn cả; Huyndai có 45 công ty, chi nhánh ở nước ngoài và thành công điển hình là sản xuất ô tô; Daewo có 1000 chi nhánh ở nước ngoài, khởi đầu từ chuyên sản xuất hàng dệt, rồi chuyển hướng sản xuất cả ô tô, máy móc, kỹ nghệ đóng tàu [15, 61]
Đối với Hoa Kỳ và một số nước châu Âu, phương thức tác nghiệp của các TĐKT lại bắt đầu từ các hoạt động sản xuất, rồi mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác như thương mại, vận tải, bảo hiểm, ngân hàng
Có nhiều lý do để các TĐKT chuyển từ kinh doanh đơn ngành sang kinh doanh đa ngành, song chủ yếu là để hạn chế rủi ro, phân tán rủi ro, tối đa hoá lợi nhuận Sự bành trướng bằng hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực của các TĐKT sẽ tận dụng tối đa cơ sở vật chất kỹ thuật và khả năng sản xuất kinh doanh, phát huy
Trang 20lợi thế về vốn, khoa học, nguồn nhân lực, của tập đoàn để có lợi nhuận cao nhất
1.2.2.4 Đặc trưng về cấu trúc tổ chức quản lý
a Về cơ cấu tổ chức TĐKT
Với đặc thù là một tổ hợp các công ty, bao gồm : công ty mẹ và các công
ty con, cháu, trong đó công ty mẹ sở hữu vốn đồng thời chi phối sự hoạt động của các công ty con, công ty cháu về tài chính và chiến lược phát triển
Từ đó có thể khẳng định: sở hữu vốn của các TĐKT là sở hữu hỗn hợp trong đó quyền chi phối, khống chế về tài chính thuộc về công ty mẹ
Cơ cấu tổ chức chung của TĐKT có thể khái quát qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 1: SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC CHUNG CỦA MÔ HÌNH TĐKT
Trang 21Trong cơ cấu tổ chức này thì công ty con - Subsidiary (có thể ở trong nước hoặc ở nước ngoài): Là những công ty trong tập đoàn có tư cách pháp nhân riêng, trong đó một phần đáng kể vốn cổ phần thuộc quyền sở hữu công ty mẹ [10] Tuy nhiên, nó không được xác định chính xác về mặt định lượng, mà thường được xác định từ hai khả năng: Công ty mẹ phải sở hữu ít nhất 50% cổ phần có quyền bỏ phiếu trong công ty, tức là nắm quyền kiểm soát công ty con; Hoặc là công ty mẹ phải có khả năng kiểm soát khống chế, mặc dù không nắm
đa phần sở hữu
Chi nhánh - Branch (có một số ý kiến gọi là công ty chi nhánh): Khác với công ty con ở chỗ, nó không phải là một pháp nhân độc lập, mà là một bộ phận cấu thành của công ty mẹ hoặc công ty con Tuy nhiên, chúng cũng giống như công ty con là được lấy tư cách pháp nhân của tập đoàn để ký kết các hợp đồng kinh doanh
Từ cơ cấu tổ chức chung như vậy, ở mỗi TĐKT lại có những hình thức tổ chức khác nhau tuỳ theo tính chất đặc thù của từng tập đoàn và tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử mỗi nước Có thể nêu khái quát một số mô hình tổ chức TĐKT như sau:
Thứ nhất, mô hình tổ chức theo địa bàn hoạt động: Mô hình này chủ yếu
nhằm phát triển những đơn vị tự quản dựa trên cơ sở các chi nhánh ở các nơi Mỗi đơn vị tự quản có một người quản trị đơn vị, chịu trách nhiệm toàn quyền quyết định về chiến lược và điều hành Cấu trúc này vào khoảng những năm 20 của thế kỷ XX đã được Generel Motors và Dupont sử dụng lần đầu tiên, sau đó được nhiều tập đoàn khác sử dụng rộng rãi
Thứ hai, mô hình tổ chức theo đơn vị kinh doanh chiến lược: Ở mô hình
này, tập đoàn được tổ chức theo các nhóm thị trường - sản phẩm Nó thích hợp
Trang 22với các TĐKT có các hoạt động đa dạng Hiện nay được một số tập đoàn áp dụng khá thành công như: Generel Electric, Generel Foods, Armco Stell
Thứ ba, mô hình tổ chức theo khu vực: Cấu trúc khu vực là một cơ chế
phối hợp hữu hiệu để tập trung các đơn vị khác nhau của tập đoàn có sản phẩm
và dịch vụ liên quan với nhau Kiểu cấu trúc này xuất hiện cuối thập kỷ 60 dựa trên cơ sở tập hợp các đơn vị cùng một ngành hàng trong từng khu vực đặt dưới
sự điều hành của cùng một giám đốc khu vực (có nghĩa là đặt thêm một nấc quản trị vào giữa giám đốc đơn vị với văn phòng tổng giám đốc)
Thứ tư, mô hình tổ chức theo ma trận: Mô hình này được áp dụng phổ
biến trong các Concern từ những năm 70 cho đến nay, nhiều nhất là các tập đoàn của Đức Cấu trúc ma trận có hai hệ thống chỉ huy cặp đôi: theo chức năng và theo mặt hàng hoặc theo khu vực , trong đó bao trùm lên các ngành chức năng
là các nhà quản trị trung gian chịu trách nhiệm về những mặt hàng cụ thể, về một
dự án hoặc một chương trình của tập đoàn
Thứ năm, mô hình tổ chức đa dạng: Là loại tổ chức không giới hạn trong
việc sử dụng một loại cơ cấu riêng lẻ Nhà quản trị có quyền tự do sử dụng và có thể kết hợp tất cả các loại cấu trúc trên đây nhằm làm thích ứng các bộ phận khác nhau của tổ chức với các điều kiện khác nhau của môi trường kinh doanh
Đây là kiểu cấu trúc phức tạp nhưng khá uyển chuyển và mang lại hiệu quả cao, đặc biệt là đối với các Tập đoàn lớn, dạng Conglomerate Do vậy nó thường được các TĐKT khổng lồ trên thế giới sử dụng
b Về dạng thức quản lý
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, với những biến đổi sâu sắc về mọi mặt của tình hình kinh tế - chính trị - xã hội toàn thế giới, các TĐKT, đặc biệt là các TĐKT xuyên quốc gia đã phát triển hết sức sôi động Dựa trên qui mô và
Trang 23mức độ tập trung hoá các nguồn lực trong một thực thể kinh doanh và sự phân
chia quyền lực, có thể chia thể chế tổ chức quản lý của TĐKT thành 3 loại: Thể
chế " trung tâm nhất nguyên", thẳng đứng kiểu "kim tự tháp"; Thể chế "đa trung tâm", nằm ngang "kiểu màng lưới"; Thể chế " nhị nguyên"
Về thể chế "trung tâm nhất nguyên":
Đây là loại hình TĐKT tập trung cao độ quyền lực vào công ty mẹ Nó là một loại kết cấu hàm chứa nhiều tầng cấp, quản lý theo chiều thẳng đứng, tức là: các thông tin từ dưới lên và từ trên xuống được truyền đi qua nhiều cấp trung gian; mỗi một viên chức được đặt vào một bộ phận căn cứ vào chức năng công việc làm hạt nhân ( người ta còn gọi là kết cấu tổ chức “kim tự tháp” )
Ưu điểm: Loại mô hình này được sắp xếp vị trí làm việc rất chặt chẽ, song
việc quản lý theo tầng cấp chỉ đạt kết quả khi Tập đoàn phát triển ổn định và có
dự báo tốt Mỗi người đều hiểu rõ chức trách của mình và có thể phát huy tối đa
kỹ năng chuyên môn trong phạm vi trách nhiệm, còn quyền quyết sách đều nằm trong tay người đứng đầu cao nhất trên đỉnh “kim tự tháp”
Nhược điểm : Giữa mục tiêu chung toàn bộ Tập đoàn và mục tiêu riêng
của từng bộ phận thường có mâu thuẫn, đồng thời các mục tiêu riêng cũng thường không thống nhất với nhau; Tính chuẩn xác - hiệu quả - kịp thời của việc truyền đạt thông tin bị ảnh hưởng, do có nhiều tầng cấp; Tính phối hợp thấp, thiếu khả năng thích ứng và linh hoạt vì quyết sách và trách nhiệm được phân định theo từng cấp riêng biệt
Về thể chế quản lý "kiểu màng lưới":
Đây là kiểu tổ chức quản lý phân tán quyền lực quản lý vào các công ty chi nhánh nước ngoài hoặc vào các ngành nghề khác nhau trong các bộ phận cấu thành công ty, nó là hình thức “ đa trung tâm” ( hay nói cách khác là không có
Trang 24trung tâm) Mỗi tầng quản lý trong màng lưới thậm chí mỗi một người quản lý đều có thể là một trung tâm, mối liên hệ giữa chúng là mối liên hệ phức hợp giao chéo kiểu “rẻ quạt” Mục tiêu của nó không chỉ quản lý việc kinh doanh, tiêu thụ, quản lý nhân viên mà còn cả việc thiết kế hình tượng, xây dựng những nét đặc thù văn hoá của xí nghiệp Mục tiêu tối thượng của thể chế “kiểu màng lưới” là huy động có hiệu quả nhất tài năng và ưu thế của mỗi người trong Tập đoàn
Các hình thức tồn tại chủ yếu của mô hình thể chế quản lý “kiểu màng
lưới”:
Một là, dạng thức quản lý theo "quá trình nằm ngang":
Nội dung cơ bản của kết cấu tổ chức quản lý theo quá trình nằm ngang là việc tập hợp những viên chức có kỹ năng khác nhau vào một “tế bào sản xuất” (Cell Manufactuaring) hay một “đội mặt ngang” (Flatform Teams) để họ thấy được đầy đủ mục tiêu của một quá trình tác nghiệp Từ đó, họ tự quản lý sản xuất, phát huy cao độ tinh thần hợp tác và ưu thế của một tập thể hoàn chỉnh để giành thắng lợi trong cạnh tranh Dạng thức này được áp dụng phổ biến ở các TĐKT của Mỹ như: Tập đoàn ITT, Greisler, General Electric,
Dạng thức này được xây dựng nhằm mục tiêu khắc phục những khuyết tật của kết cấu kiểu kim tự tháp Nó giảm bớt nhiều tầng cấp và chuyển từ việc lấy chức năng công việc làm hạt nhân, sang lấy quá trình làm hạt nhân để tổ chức
nhân viên
Hai là, dạng thức quản lý “kiểu tế bào sản xuất”:
Trong dạng thức này, công nhân được phân chia từng kíp, thường từ 2 đến
50 người, tập hợp quanh trang thiết bị họ cần đến Một tế bào có thể chế tạo,
kiểm tra và thậm chí hoàn thành toàn bộ một sản phẩm Mỗi công nhân có thể
Trang 25làm nhiều việc và mỗi tế bào chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm Tế bào sản xuất là một quá trình hẹp, và thuần tuý tập trung trên sàn máy
Mỗi tế bào làm một sản phẩm khác nhau Nếu xảy ra rủi ro thì chỉ ảnh hưởng đến tế bào “đương sự” Thế mạnh của dạng thức quản lý này là tốc độ, năng suất, tính linh hoạt và chất lượng cao, công nhân làm việc thoải mái và ý thức đầy đủ quá trình sản xuất và vị trí công việc của mình Kết quả là chất lượng sản phẩm tốt hơn với sản lượng ngày càng lớn Đây là dạng thức quản lý điển hình của một số TĐKT lớn của Nhật Bản như: Sony, Mazda,
Về thể chế "nhị nguyên": Đây thực chất là thể chế quản lý kết hợp giữa
hai loại tập quyền và đa quyền Việc kết hợp giữa 2 hình thức "kim tự tháp" và
"kiểu màng lưới" sẽ giúp các TĐKT phát huy tối đa ưu thế của mỗi loại kết cấu
tổ chức, giảm thiểu nhược điểm làm cho Tập đoàn thích ứng nhanh hơn với các thách thức của thị trường
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, hầu hết các TĐKT lớn, đặc biệt là các TĐKT xuyên quốc gia có xu hướng phát triển mới trong thể chế quản lý Rất nhiều Tập đoàn đã nhận thức được rằng muốn chủ động trên thị trường quốc tế, cần phải thoả mãn kịp thời những nhu cầu của người tiêu dùng Do đó bắt buộc
họ phải hiện đại hoá các phương tiện thu thập thông tin, phân tích thị trường, thoả mãn tối đa nhu cầu người tiêu dùng Đây cũng là biểu hiện sự phát triển hơn nữa lý luận và thực tiễn kinh doanh mạng hoá của TĐKT Một mục tiêu chiến lược và quan trọng của các TĐKT lớn là xây dựng hệ thống quản lý sản xuất tổng hợp bằng máy tính (Computer Integrted Manufacturing), tức là thực hiện qua máy sự quản lý tổng hợp một loạt những hoạt động sản xuất : từ nghiệp
vụ kinh doanh đến cung cấp và triển khai những dự báo kỹ thuật, nguyên vật liệu, đóng gói và bốc xếp vận chuyển sản phẩm quản lý tồn kho v.v Việc sử
Trang 26dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin, và khả năng thu thập thông tin sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và phát triển của các TĐKT [25, 36 - 39]
1.2.2.5 Về cơ chế điều hành Tập đoàn
Các TĐKT thường xây dựng một “ Holding - Company và một ngân hàng độc quyền lớn Đó là một dạng công ty khống chế, không có xí nghiệp sản xuất kinh doanh trực tiếp, nhưng lại nắm giữ cổ phần khống chế nhờ tính thống nhất giữa quyền chiếm hữu và quyền chi phối trong quan hệ sở hữu tư bản Hình thức điều hành chủ yếu được thể hiện qua cơ cấu điều hành điển hình là Concern và
Conglomerate (Xem phụ lục số 5)
Cơ cấu điều hành kiểu Concern được tổ chức theo cơ cấu kiểm soát trực tiếp từ trung tâm đến chi nhánh thông qua “Hội đồng quản trị” gồm những cổ đông có lượng cổ phiếu lớn, tiến hành hoạt động và quản lý tập trung một số mặt như: huy động, điều hoà, quản lý vốn; nghiên cứu triển khai, đào tạo nhân sự; xây dựng chiến lược phát triển, thị trường, sản phẩm, đầu tư
Như vậy, TĐKT thực hiện hai chức năng cơ bản: Chức năng kinh doanh
và chức năng liên kết kinh tế
Về chức năng kinh doanh của TĐKT : Với tư cách là một DN, TĐKT cũng
thực hiện các hoạt động kinh doanh dựa trên nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận Các TĐKT đều đưa ra một chiến lược chung cho toàn bộ Tập đoàn, nó được soạn thảo từ trung tâm đầu não của Tập đoàn và thực hiện thống nhất trong tất cả các công ty thành viên Chiến lược chung của Tập đoàn thường tập trung vào lĩnh vực đầu tư phát triển kinh doanh và nghiên cứu triển khai công nghệ mới, sản phẩm mới Việc thực hiện chiến lược tổng quát vừa có ý nghĩa tạo ra sự thống nhất, tập trung theo định hướng của cả Tập đoàn đồng thời tạo sự uyển
Trang 27chuyển, linh hoạt trong lựa chọn phương hướng, mục tiêu phát triển riêng của các công ty thành viên
Việc xây dựng chiến lược chung của cả Tập đoàn phụ thuộc vào nhiều
biến số, nhưng chủ yếu là: Nghiên cứu, phân tích nhu cầu và những biến đổi thị
trường; định hướng phát triển kinh tế của Chính Phủ, phân tích tình hình cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước;
Về chức năng liên kết kinh tế: TĐKT được hình thành từ sự phát triển các
quan hệ liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế Mối quan hệ liên kết này được hình thành, bắt nguồn từ: Sự phát triển phân công và hiệp tác lao động - sản xuất; Nhu cầu tăng thêm sức mạnh cạnh tranh trên thị trường; Sự bất lực của một chủ thể riêng biệt trong việc tự giải quyết các vấn đề kinh tế - kỹ thuật phát sinh trong các hoạt động tác nghiệp.vv
Những quan hệ này được hình thành và tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng chịu trách nhiệm và phân chia lợi ích Liên kết được thực hiện qua hợp đồng hoặc bằng việc thoả thuận hình thành một tổ chức, một loại hình kinh doanh mới Nhờ sự liên kết trong cùng một tổ chức theo kiểu này, khả năng cạnh tranh của các chủ thể kinh tế trên thị trường được nâng cao và ngược lại, sức ép cạnh tranh càng cao thì nhu cầu mở rộng và thắt chặt quan hệ liên kết trong Tập đoàn càng tăng lên
Sự liên kết trong tập đoàn trước hết và trên hết là liên kết về tài chính Khi nghiên cứu Chủ nghĩa Tư bản ở giai đoạn độc quyền, C Mác đã khẳng định
rằng: Với sự phát triển của độc quyền ở các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế
như thương nghiệp, giao thông tư bản tài chính dần dần bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nếu ở thời kỳ CNTB tự do cạnh tranh tồn tại nhiều dạng tư bản độc lập thì đến thời kỳ CNTB độc quyền, tư bản tài chính thống trị, chi phối mọi
Trang 28hoạt động trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tư bản cũng như trong các quan hệ quốc tế Liên kết trong các tổ chức độc quyền lúc này thực chất là liên
kết tài chính, là sự chi phối về tài chính
Thông thường, mỗi Tập đoàn đếu có công ty tài chính riêng Trong một số trường hợp khác, công ty thành viên đứng đầu có vai trò chủ đạo chi phối, kiểm soát các thành viên khác của Tập đoàn, nó sẽ đảm nhận chức năng “ kép”: vừa là công ty kinh doanh - sản xuất, vừa là công ty tài chính Trong trường hợp đó thì công ty tài chính lại trực thuộc công ty lớn nhất có vai trò chủ đạo chi phối các thành viên khác chứ không trực thuộc cơ quan đầu não Tập đoàn
Công ty tài chính đóng vai trò điều phối các nguồn vốn giữa các thành viên trong Tập đoàn, mặt khác còn là đầu mối để quan hệ với các ngân hàng trong và ngoài nước Các công ty xí nghiệp thành viên thông qua công ty đứng đầu Tập đoàn để vay vốn của các ngân hàng, qua đó chịu sự chi phối của công ty đứng đầu Tập đoàn Như vậy, thực chất của vấn đề này là dùng uy tín Tập đoàn
để thế chấp vay ngân hàng, đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt ràng buộc trách nhiệm
và quyền lợi giữa các thành viên trong Tập đoàn
1.3 Nguồn gốc hình thành và vai trò của Nhà nước trong sự hình thành, phát triển TĐKT
1.3.1 Nguồn gốc và phương thức hình thành
1.3.1.1 Nguồn gốc hình thành các TĐKT
Nhìn tổng quát thì TĐKT là một loại hình DN có quy mô rất lớn, có đủ sức cạnh tranh về một hoặc một số lĩnh vực kinh doanh nào đó ở phạm vi khu vực và quốc tế
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh rằng: Khi phân công lao động xã hội phát triển thì quy mô sản xuất kinh doanh trong các thực thể công ty
Trang 29ngày càng cao Đến cuối thế kỷ XIX quy mô sản xuất kinh doanh đã phát triển đến mức rất lớn, hình thành các tổ chức độc quyền, từ đó xuất hiện hàng loạt các nhà tư bản độc quyền lớn có số vốn hàng triệu đến vài trục triệu USD như: Amouvar, Standard Oil, Rockerfeller Cho đến nay, TĐKT vẫn luôn phát triển không ngừng và trở thành một xu thế tất yếu của lịch sử và thời đại vì những nguyên nhân cơ bản sau:
a Tích tụ và tập trung sản xuất ngày càng cao tất yếu đưa đến sự hình thành các TĐKT
TĐKT ra đời là kết quả phát triển lâu dài của nền sản xuất xã hội, của chế
độ trao đổi thị trường và của quan hệ kinh tế quốc tế Chúng bắt nguồn từ tích tụ
và tập trung sản xuất cao độ dẫn đến việc hình thành độc quyền trong nền sản xuất TBCN Sự phát triển dần lên của hiệp tác giản đơn, từ các xưởng thợ thủ công đến công trường thủ công, từ công xưởng công nghiệp đến xí nghiệp công thương hiện đại, đến các loại hình công ty với nhiều hình thức khác nhau, trong
đó TĐKT ra đời và phát triển
Theo C Mác thì 3 giai đoạn phát triển của CNTB trong công nghiệp diễn
ra từ hiệp tác giản đơn, đến phân công công trường thủ công và đại công nghiệp
cơ khí Sự phát triển này thích ứng với các trình độ phát triển khác nhau của nền sản xuất TBCN, đi từ quy mô nhỏ, lên quy mô lớn, từ kỹ thuật thủ công, lên kỹ thuật cơ khí Hiệp tác và phân công trên tất cả các trình độ phát triển bao giờ cũng dựa trên cơ sở tập trung tư liệu sản xuất và xã hội hoá sản xuất dưới các hình thức hợp tác và phân công trong từng cơ sở sản xuất cũng như trong phạm
vi xã hội Đó cũng là quá trình tích tụ và tập trung sản xuất
Hiệp tác giản đơn và công trường thủ công là những hình thức khởi đầu của tổ chức sản xuất TBCN Công trường thủ công, ban đầu do một thợ cả thành
Trang 30đạt, giàu có lập ra và chỉ huy bằng cách tập trung tất cả những thợ thủ công độc lập, phân tán vào cùng làm việc trên một mặt bằng xác định Về cơ bản, người
thợ thủ công được tổ chức sắp xếp vào sản xuất bằng hai cách: Liên kết kiểu nằm
ngang, tức là liên kết giữa những thợ thủ công có nghề nghiệp hoàn toàn khác
nhau, họ được tập trung lại trên cùng một mặt bằng sản xuất để tiến hành hiệp
tác giản đơn, phân loại để chuyên môn hoá; Liên kết dọc, tức là những người thợ
có cùng ngành nghề được tập hợp lại để tiến hành phân công chuyên môn hoá theo từng công đoạn của quá trình sản xuất nhằm tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh
Tích tụ và tập trung tư bản thông qua hiệp tác giản đơn và công trường thủ công, phân công lao động ngày một phát triển tất yếu dẫn đến sự ra đời các xí nghiệp TBCN có quy mô lớn đồng thời sự cạnh tranh của các xí nghiệp này ngày càng trở nên gay gắt Từ đó tất yếu dẫn đến kết quả là một số các xí nghiệp nhỏ
và vừa bị phá sản hoặc sáp nhập với nhau để trở thành những xí nghiệp lớn hơn, cùng với nó là sự ra đời của chế độ xí nghiệp TBCN
Chế độ xí nghiệp là chế độ điển hình sinh ra trong cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Nó được hoàn thiện bằng các hình thức quá độ phức tạp, đan xen nhau qua quá trình đổi mới về kỹ thuật và tổ chức lao động sản xuất lâu dài trên
cơ sở công trường thủ công Xí nghiệp ra đời bằng con đường công trường thủ công nhờ sự kết hợp lao động, đó cũng là yếu tố ban đầu của việc nâng cao hiệu quả lao động Khi lao động đã được liên kết theo một cách thức nào đó sẽ tạo điều kiện cho việc sáng tạo ra máy móc, đặc biệt là các loại máy động lực
Cạnh tranh tự do không chỉ làm cho quá trình tích tụ và tập trung sản xuất tăng lên, mà còn là nguyên nhân ra đời nền sản xuất dựa trên máy móc, xuất hiện chế độ xí nghiệp TBCN và ngày càng hoàn thiện Đến lượt nó, chế độ xí nghiệp
Trang 31ra đời lại thúc đẩy phân công lao động mở rộng từ nội bộ khu vực sang phạm vi quốc gia và quốc tế làm cho sản xuất tăng lên cao độ, các tổ chức độc quyền xuất hiện, trong đó các mô hình Tập đoàn kinh tế trở thành phổ biến
Kế thừa và phát triển học thuyết C.Mac và Ph.Ănghen và nghiên cứu
CNTB giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, V.I.Lênin viết: "Việc tập trung
sản xuất đẻ ra các tổ chức độc quyền thì nói chung lại là một quy luật phổ biến
và cơ bản trong giai đoạn hiện nay của CNTB" [23]
Xí nghiệp công thương hiện đại được hình thành vào nửa sau thế kỷ XIX bởi sự kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mô lớn với quá trình phân phối quy
mô khu vực quốc gia và quốc tế vào trong một công ty đơn nhất (trong xí nghiệp bao gồm nhiều hoạt động từ sản xuất công nghiệp đến thương mại, dịch vụ, tài chính, tín dụng ) Nó hình thành và phát triển qua hai kiểu liên kết dọc và
ngang: Xí nghiệp liên kết kiểu nằm ngang, phần lớn là những xí nghiệp quy mô
tương đối nhỏ của gia tộc dòng họ hay cá nhân Để khống chế sản lượng, nâng cao giá cả, các xí nghiệp cùng tiến hành hợp nhất hoặc liên kết với nhau Xí
nghiệp liên kết theo chiều ngang phần lớn là thuộc các ngành khác nhau; Xí
nghiệp liên kết dọc, thường là những xí nghiệp dùng phương thức sản xuất hàng
loạt và các xí nghiệp dịch vụ phân phối, tiêu thụ sản phẩm đặc thù, tức là các xí nghiệp theo ngành dọc Thực tế cho thấy, để tiếp tục phát triển về quy mô thì cần thiết phải gia tăng liên kết dọc cả hướng lên trên và xuống dưới, do vậy, liên kết dọc mới là con đường chủ yếu hình thành xí nghiệp công thương hiện đại Liên kết dọc không chỉ đơn thuần là hành vi sách lược cạnh tranh của xí nghiệp, mà còn là một loại hành vi sáng tạo ra cái mới về chế độ Xí nghiệp công thương hiện đại có khả năng chuyển một bộ phận phân công xã hội do thị trường tổ
Trang 32chức, thành phân công trong nội bộ xí nghiệp để khắc phục sự mất hiệu quả thị trường do dùng kỹ thuật mới hoặc sản xuất sản phẩm mới gây nên
Xí nghiệp công thương hiện đại đã từng bước thay thế cho tổ chức xí nghiệp đơn nhất truyền thống và trở thành hình thức điển hình, thích ứng với sự phát triển kỹ thuật hiện đại và đặc điểm thị trường được quốc tế hoá ngày càng
mở rộng
Về quy mô, mức độ phức tạp trong quản lý và phạm vi phân công trong nội bộ xí nghiệp công thương hiện đại thì không có bất cứ loại xí nghiệp nào trước đó có thể so sánh được Phạm vi phân công lao động của nó ngày càng mở rộng sang rất nhiều lĩnh vực sản xuất sản phẩm có liên quan nhau hoặc không liên quan nhau, thậm chí trái ngược nhau hình thành một cơ cấu phân công nội
bộ theo kiểu đa ngành, hỗn hợp Từ đó có thể khẳng định: xí nghiệp công thương hiện đại là cơ sở hình thành và phát triển các TĐKT
Khi phạm vi địa lý của sự phân công nội bộ xí nghiệp công thương hiện đại vượt quá biên giới quốc gia thì hình thành nên các TĐKT xuyên quốc gia Khi chế độ quản lý theo cấp bậc của xí nghiệp công thương hiện đại chín muồi, thì đại đa số các xí nghiệp này trở thành các TĐKT xuyên quốc gia khổng lồ và
có tác động rất lớn đến nền kinh tế quốc gia và thế giới
b Những nguyên nhân khác dẫn đến sự hình thành các xí nghiệp công thương hiện đại và phát triển các TĐKT
Một là: Cạnh tranh liên kết, tối đa hoá lợi nhuận
Cạnh tranh vì mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là một quy luật tất yếu của mọi DN trong cơ chế thị trường và tất yếu sẽ dẫn dến hai xu hướng chủ yếu:
Xu hướng thứ nhất: Các DN chiến thắng trong cạnh tranh sẽ thu hút các
DN bị đánh bại làm cho quy mô của DN ngày càng mở rộng về mọi mặt Hiện
Trang 33trạng này diễn ra thường xuyên liên tục trong suốt tiến trình phát triển của CNTB
và đặc biệt phát triển mạnh từ sau thế chiến lần thứ II đến nay Các công ty hoạt động có hiệu quả và chiến thắng trong cạnh tranh thực hiện các biện pháp mua lại, sáp nhập các công ty gặp khó khăn về tài chính hoặc nguy cơ phá sản Quá trình đó tất yếu hình thành các mô hình kinh doanh kiểu Tập đoàn ngày càng lớn mạnh về mọi mặt
Xu hướng thứ hai: Nếu cạnh tranh kéo dài mà không phân thắng bại thì
các DN đó sẽ liên kết với nhau họăc tìm kiếm đối tác khác để liên kết nhằm tăng khả năng cạnh tranh Quá trình liên kết giữa các thực thể kinh tế có thể diễn ra theo các hình thức liên kết ngang, liên kết dọc hoặc liên kết hỗn hợp:
Liên kết ngang diễn ra giữa các công ty hoạt động trong cùng một ngành
Ví dụ công ty rượu bia của Bilding tham gia vào công ty cổ phần rượu bia Mainer, Tập đoàn United States Steel đã thâu tóm khoảng 65% sản xuất thép của
Mỹ năm 1901 do sự hợp nhất của các nhà sản xuất thép và thống nhất hoàn toàn
về giá thép kiểm soát tuyệt đối về thị trường ngành thép vào những năm 20 [36, 45] Tuy nhiên, để chống lại xu thế độc quyền hoá, nhiều nước đã ban hành các
đạo luật chống độc quyền do đó dẫn đến ngăn cản, hạn chế kiểu liên kết ngang
Liên kết dọc, đó là liên kết giữa các công ty trong cùng một dây chuyền
công nghệ sản xuất mà ở đó mỗi công ty đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó Trong Tập đoàn dạng này sự liên kết đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau nhưng có mối liên quan chặt chẽ với nhau Ví dụ: công ty cổ phần luyện kim Thyssen đã ra nhập Tập đoàn sản xuất thép quý Witten; Tập đoàn điện tín, điện thoại ITT vốn là một Trust đầu đàn của thế giới trong lĩnh vực điện thoại và viễn thông quốc tế do liên kết với nhiều công ty lớn ở nhiều
Trang 34ngành như xây dựng, luyện kim, kỹ thuật điện, bảo hiểm Ngày nay nó đã trở thành một TĐKT khổng lồ
Liên kết hỗn hợp, trên thực tế hiện nay ngày càng xuất hiện nhiều sự kết
hợp của các kiểu liên kết ngang và dọc, nó bao gồm nhiều thực thể kinh tế hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau thậm chí trái ngược nhau Từ đó hình thành các kiểu liên kết đa ngành, đa lĩnh vực hết sức phong phú Chẳng hạn công ty Nippon Steel, trước năm 1985 là một công ty thép khổng lồ của Tập đoàn Nippon (Nhật Bản) Cuộc khủng hoảng sắt thép thế giới giữa thập kỷ 80 làm nhu cầu sắt thép giảm mạnh, công ty đã thực hiện đa dạng hoá kinh doanh bằng cách xâm nhập mạnh mẽ vào các ngành máy tính, điện tử, tin học, công nghệ sinh học, kinh doanh thực phẩm, ăn uống, hoạt động đầu cơ trên thị trường chứng khoán Ngày nay Nippon trở thành một Conglomerate lớn hàng bậc nhất thế giới
Hai là: Sự tác động mạnh mẽ của những tiến bộ khoa học, công nghệ
Ngay từ cuối thế kỷ XIX, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã
dự báo: "khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp"
Những thành tựu vĩ đại của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật từ nửa cuối thế kỷ XIX đến nay đã mang lại một bộ mặt hoàn toàn mới cho cả thế giới, thể hiện nổi bật ở một số mặt sau:
Thứ nhất: Làm xuất hiện nhiều ngành mới với tốc độ cao và chiếm tỷ
trọng lớn trong nền kinh tế như: nguyên tử, tên lửa vũ trụ, công nghiệp, điện tử riêng ngành công nghiệp vũ trụ đã làm xuất hiện khoảng 3000 ngành mới Công ty Gernerer Electric (Mỹ) trong những năm 80 đã nhập thêm 70 dây truyền công nghệ mới với tổng giá trị gần 10 tỷ USD [40, 33] Từ đó cũng đặt ra yêu cầu tạo điều kiện trẻ hoá các ngành sản xuất có tính chất lâu đời truyền thống
Trang 35Thứ hai: Do yêu cầu của kỹ thuật, công nghệ hiện đại và sự cạnh tranh gay
gắt trên thị trường nên thời hạn hao mòn tư bản cố định diễn ra nhanh chóng, nói cách khác là thời gian cho một phát minh mới ra đời rút ngắn lại và phạm vi ứng dụng ngày càng mở rộng Từ đó các thực thể kinh doanh cần thiết phải có sự liên kết để tận dụng các thành tựu khoa học của nhau, trao đổi phát minh
Thứ ba: Bản thân việc nghiên cứu khoa học đòi hỏi phải có đầu tư rất lớn,
đồng thời phải có sự phối hợp của nhiều thực thể kinh tế, thậm chí nhiều quốc gia Ví dụ chương trình Apolo của Mỹ đã tiêu tốn khoảng 24 tỷUSD, thu hút 40 vạn nhà khoa học và công nhân tham gia [40, 34]
Các vấn đề đặt ra như trên có thể thấy, khoa học, công nghệ phát triển đã đặt ra những đòi hỏi phải có khối lượng tư bản lớn để cải tạo cơ cấu sản xuất, nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật Điều đó khó có một công ty độc lập riêng lẻ nào có thể làm được Vì vậy, sự hợp nhất nhiều công ty riêng lẻ thành những TĐKT hùng mạnh về mọi mặt, có khả năng đầu tư, nghiên cứu, phát triển khoa học - công nghệ và ứng dụng vào sản xuất kinh doanh trở thành một nhu cầu tất yếu khách quan của các thực thể sản xuất kinh doanh và đầu tư
Đây là con đường có tính chất "tự nhiên", các công ty luôn có xu hướng
mở rộng quy mô hoạt động của mình, từ đó tách một số đơn vị hình thành một số công ty hoạt động chuyên biệt trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định Công ty
Trang 36mới thành lập và công ty gốc (công ty ban đầu - công ty mẹ) được duy trì một mối liên kết kinh tế - tài chính chặt chẽ
Có tác giả so sánh quá trình hình thành TĐKT theo phương thức này giống như một quá trình phân bào sinh học, tuy nhiên các "tế bào con" (công ty con) mới hình thành bị chi phối và kiểm soát bởi "tế bào" ban đầu (công ty mẹ) Nhiều Tập đoàn của Nhật Bản và một số nước công nghiệp phát triển được hình thành theo phương thức này
b TĐKT được hình thành do sự liên kết, sáp nhập tự nhiên
Đây là con đường có tính chất nguyên thuỷ, nó chính là con đường "kinh điển" mà các TĐKT đầu tiên trong lịch sử kinh tế thế giới đã tiến hành Các công
ty có những mối liên hệ nhất định như về: thị trường, sản phẩm, công nghệ hay nguyên liệu tự nguyện liên minh lại với nhau (theo kiểu Cartel hay Syndicate) Những liên kết kiểu này, xét ở một khía cạnh nào đó là không bền vững và thực
tế đã có nhiều Tập đoàn bị tan vỡ Tuy nhiên cũng có rất nhiều tổ chức loại này được cơ cấu lại và đặc biệt phát triển từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, trong đó
nổi bật lên đặc thù là tính tự nguyện, tự giác trong việc tham gia hoặc sáp nhập
1.3.2 Vai trò của Nhà nước trong việc hình thành và phát triển TĐKT
Xét tổng thể, trong mọi giai đoạn phát triển của các nền kinh tế, ở những mức độ khác nhau đều có vai trò Nhà nước trong hướng dẫn, điều tiết quá trình kinh tế và sự hoạt động của DN trong đó có TĐKT nhằm đảm bảo hiệu quả kinh
tế - xã hội, duy trì phát triển kinh tế ổn định và bền vững Vai trò đó được thể hiện ở những nội dung sau:
Tạo tiền đề cho sự ra đời các TĐKT bằng cách “cấy” các “tác nhân ” kinh
tế, tạo lực hút tự nhiên liên kết các DN, những tác nhân này trở thành những “vật
Trang 37cản” mà các DN đơn lẻ hoặc quy mô nhỏ không thể vượt qua Ví dụ: Những quy định, những sắc lệnh của Chính phủ; lệnh cấm, lệnh trừng phạt, xung quanh vấn
đề giấy phép xuất nhập khẩu; bảo vệ bản quyền phát minh sáng chế Từ đó buộc các DN phải liên kết với nhau để hình thành các TĐKT đủ sức mạnh vượt qua các rào cản đó
Duy trì ổn định xã hội, ban hành luật pháp, xây dựng môi trường kinh tế vĩ
mô, đảm bảo môi trường bình đẳng cho các DN cạnh tranh với nhau
Các Nhà nước luôn có những can thiệp vào các hoạt động tác nghiệp của
các TĐKT ở những mức độ nhất định với vai trò như là “bà đỡ” cho sự ra đời và
lớn mạnh của các Tập đoàn nội địa, đủ sức đương đầu với các TĐKT hùng mạnh trên thế giới Từ việc ra các chính sách tài chính, tiền tệ đến việc hỗ trợ về vốn, công nghệ, đào tạo nhân lực nhằm thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn , Nhà nước tư sản đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình hình thành và giúp đỡ các TĐKT hoạt động có hiệu quả hơn
Ví dụ: trong những năm đầu phát triển, Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt chú trọng khuyến khích phát triển các mô hình Tập đoàn (thường gọi là Chaebol) trong các ngành công nghiệp nặng như: chế tạo, điện tử, luyện thép bằng các biện pháp cụ thể như: miễn - giảm thuế, cấp tín dụng ưu đãi, trợ cấp xuất khẩu Ngoài ra còn lập riêng một quỹ đầu tư quốc gia chuyên cấp tín dụng dài hạn cho việc nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ cho phát triển các ngành đó Nhờ đó
mà các Chaebol Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng như: Samsung, Daewo, Huyndai
Nhà nước còn đảm nhận đầu tư vào các ngành ít hoặc không lợi nhuận nhưng có vai trò quan trọng đối với quốc kế dân sinh, như xây dựng cơ sở hạ tầng: điện, đường giao thông, trường học, bệnh viện, thông tin liên lạc Mặt
Trang 38khác, Chính phủ ở nhiều nước như Đức, Mỹ còn chủ động điều tiết, sáp nhập các công ty nhỏ thành các công ty lớn để làm tăng thị phần (tất nhiên làm tăng tính độc quyền) trong một số ngành như: hàng không, ngân hàng
Nhà nước còn có vai trò định hướng phát triển làm tiền đề cho quyết định
của các Tập đoàn và các tổ chức kinh tế khác hoạt động có hiệu quả
Trên thực tế, khi Chính phủ định hướng chiến lược phát triển ở đâu thì ở
đó có các Tập đoàn phát triển mạnh Ta có thể thấy rõ điều này qua việc phát triển của các TĐKT Nhật Bản, Hàn Quốc, hoặc một số nước Châu Á
Từ các phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng: Vai trò Nhà nước là hết sức quan trọng đối với sự hình thành và phát triển các TĐKT Song vai trò này ở các nước khác nhau là không đồng nhất Ví dụ: Mỹ rất coi trọng sự phát triển của các TĐKT lớn, nhưng Chính phủ chỉ tác động như một chất xúc tác chứ không chi phối sự hoạt động, phát triển của chúng (tức là giảm thiểu sự can thiệp vào tiến trình phát triển của các TĐKT) Trong khi đó, của Chính phủ ở các nước NIEs và Nhật Bản lại can thiệp khá sâu, thậm chí chi phối cả chiến lược hoạt động của các TĐKT, vì những mục tiêu phát triển chung của nền kinh tế quốc dân
1.4 Vai trò và xu hướng phát triển của TĐKT
1.4.1 Vai trò của TĐKT
Các TĐKT có một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, cũng như toàn bộ nền kinh tế thế giới Ở mỗi quốc gia khác nhau, vai trò của những Tập đoàn cũng khác nhau, nó tuỳ thuộc vào cấu trúc kinh tế, hệ thống chính trị - xã hội của mỗi nước
Xu hướng TCH nền kinh tế thế giới đã tạo ra một làn sóng phát triển mạnh
mẽ của các Tập đoàn đa quốc gia và xuyên quốc gia khổng lồ Một số Tập đoàn
Trang 39có vai trò chi phối ngày càng lớn không chỉ ở phạm vi quốc gia mà đối với cả nền kinh tế thế giới Ví dụ: 1998 Tập đoàn Microsoft ( Mỹ) chiếm 60% đến 70% thị phần dịch vụ phần mềm Intenet toàn thế giới; hai Tập đoàn Coca - Cola, Pepsi chiếm khoảng 3/4 thị phần đồ uống nhẹ có ga của thế giới [44, 18]
Đối với một số quốc gia như Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản các Tập đoàn lớn giữ vị trí đặc biệt quan trọng chi phối nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, ví dụ: ở Mỹ, doanh thu của các TĐKT chiếm gần 90% tổng sản phẩm quốc nội [52]; sản phẩm của 4 Tập đoàn công nghiệp lớn nhất Hàn Quốc là Sam Sung, Huyndai, Lucky Goldstar, Daewo chiếm 40% tổng sản phẩm quốc dân, 50 % hàng xuất khẩu [49]
TĐKT được coi là trụ cột kinh tế của mỗi đất nước, các sản phẩm đặc trưng của các Tập đoàn mạnh thường tạo nên sản phẩm đặc trưng của đất nước Nói đến nước Mỹ người ta nói đến ngành công nghiệp điện tử, luyện kim; nói đến nước Nhật Bản là phải nói đến ngành công nghiệp ô tô, điện lạnh; nước Đức
là công nghiệp hoá chất; nước Anh là dầu lửa Sự lớn mạnh của TĐKT quyết định chủ yếu sự phát triển kinh tế đất nước, ngược lại sự suy yếu của TĐKT sẽ gây bất ổn cho nền kinh tế, tác động trực tiếp đến xu hướng chính trị và đường lối phát triển mỗi quốc gia cũng như khu vực thậm chí ảnh hưởng đến cả thế giới, có thể thấy rõ điều đó qua các cuộc khủng hoảng kinh tế đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997 vừa qua
Đối với các nước đang tiến hành công nghiệp hoá, TĐKT có ý nghĩa hết sức to lớn Nó là giải pháp chiến lược để bảo vệ sản xuất trong nước chống lại sự chèn ép của các Tập đoàn khổng lồ trên thế giới Thực tế cho thấy, với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và những chiến lược đúng đắn, các TĐKT ở các nước
công nghiệp mới còn có thể mở rộng thị trường kể cả ở các nước phát triển Ví
Trang 40dụ , các Chaebol Hàn Quốc, các Tập đoàn ở Thái Lan Như vậy sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia dù ở trình độ nào đều chịu sự chi phối bởi các TĐKT
Các TĐKT xuyên quốc gia trở thành lực lượng cơ bản trong mọi tiến trình kinh tế của thế giới, đặc biệt trong tiến trình khu vực hoá và quốc tế hoá hiện nay Chúng là lực lượng chủ yếu trong tất cả các lĩnh vực, quá trình giao lưu thế giới như: thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế, phát triển khoa học - kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, phân bổ các nguồn lực Chúng có thể ảnh hưởng đến đường lối, chính sách kinh tế lớn của các chính phủ và có khả năng tạo lập mô hình sản xuất kinh doanh quốc tế kiểu mới trên cơ sở thực hiện chiến lược kinh doanh toàn cầu Trước thềm thế kỷ XXI, nhờ hoạt động của TĐKT xuyên quốc gia, sự phụ thuộc giữa các quốc gia và các nền kinh tế riêng biệt có trình độ phát triển khác nhau được neo chặt lại thành các khối kinh tế lớn, và cũng nhờ hoạt động của chúng, quá trình TCH được thúc đẩy nhanh chóng hơn
Vai trò to lớn của TĐKT thể hiện chủ yếu trên một số mặt sau:
Một là, làm tăng sức mạnh kinh tế và khả năng cạnh tranh của mỗi thành
viên cũng như của cả Tập đoàn, thống nhất các tổ chức kinh doanh đơn lẻ thành một hệ thống các ngành kinh tế - kỹ thuật trong nội bộ mỗi quốc gia cũng như quốc tế
Hai là, tập trung điều hoà vốn: Việc hình thành TĐKT là một đòi hỏi
khách quan nhằm khắc phục khả năng hạn chế về vốn của từng công ty cá biệt
Nó sẽ tạo nên sự tập trung cần thiết về vốn của các công ty thành viên để đầu tư vào những dự án có hiệu quả nhất, tạo ra sức mạnh quyết định cho sự phát triển của Tập đoàn Mặt khác, vốn của công ty này được huy động vào công ty khác
và ngược lại giúp cho các công ty liên kết với nhau một cách chặt chẽ hơn, hỗ