LỜI GIỚI THIỆUThực hiện quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên cốt cán lớp cấp THPT thực hiện tài liệu Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương t
Trang 2Tác giả
Nguyễn Xuân Trường Đặng Thuý Anh Ngô Thị Diệp Lan
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Thực hiện quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức bồi dưỡng
giáo viên cốt cán lớp cấp THPT thực hiện tài liệu Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ
năng của chương trình giáo dục phổ thông, dưới sự chỉ đạo của Vụ Giáo dục Trung
học với sự phối hợp của Chương trình phát triển giáo dục trung học, chúng tôi biên
soạn tập Tài liệu tập huấn giáo giáo viên thực hiện dạy học và kiểm tra đánh giá
theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông
Tài liệu gồm các phần
Phần thứ nhất : Những vấn đề chung
1 Giới thiệu chương trình và Tài liệu tập huấn giáo giáo viên thực hiện dạy
học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân Trung học cơ sở
2 Khái quát về tài liệu hướng dẫn dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông
Phần thứ hai : Tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức,
kĩ năng thông qua các kĩ thuật dạy học tích cực
1 Giới thiệu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn Giáo dục công dân
2.Tổ chức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng thông qua các phương pháp
và kĩ thuật dạy học tích cực
3 Tổ chức kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng
Phần thứ ba: Hướng dẫn tổ chức tập huấn tại các địa phương
Những vấn đề trình bày trong tập Tài liệu tập huấn giáo viên thực hiện dạy
học và kiểm tra, đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân Trung học cơ sở thể hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, làm định hướng
cho mỗi giáo viên thực hiện một cách sáng tạo, linh hoạt có hiệu quả trong những điều kiện cụ thể của việc dạy học ở địa phương Điều quan trọng là phải thực hiện
có kết quả việc thực hiện dạy học bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông, vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực một cách linh hoạt, có hiệu quả, phù hợp với đối tượng học sinh và điều kiện cơ sở
Trang 4vật chất ở địa phương khắc phục, xoá bỏ những sai lầm, thiếu sót làm hạn chế, giảm sút chất lượng giáo dục bộ môn
Việc đổi mới trong dạy học Giáo dục công dân ở trường phổ thông, đặc biệt việc vận dụng phương pháp và kĩ dạy học tích cực thực sự là “một cuộc cách mạng” trong dạy và học, đòi hỏi chúng ta phải nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm, phát huy những bài học, kinh nghiệm, những thành tựu đã đạt và cương quyết đấu tranh chống các mặt tiêu cực, khắc phục những yếu kém
Vì hạn chế về thời gian và khả năng, mà tài liệu lại đề cập đến nhiều nội dung quan trọng, nên trong tài liệu này khó tránh khỏi những sai sót nhất định Rất mong
có được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
Trân trọng cảm ơn!
Các tác giả
Trang 5Phần thứ hai
TỔ CHỨC DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG THÔNG QUA CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
I GIỚI THIỆU MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
1 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân
Trong xu thế đổi mới dạy học- giáo dục hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) là một nhiệm vụ quan trọng Khi đề cập đến vấn đề PPDH môn GDCD, trước hết chúng ta phải quan tâm đến những yêu cầu, những quan điểm có tính định hướng cho việc đổi mới PPDH môn học
Nghị quyết 4 của Trung ương Đảng khoá VII đã xác định “ phải khuyến khích tự học”, “ áp dụng phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII tiếp tục khẳng định “ phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học” Nghị quyết số 40 năm 2000 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định phải đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thể hệ trẻ
Định hướng đổi mới về PPDH của Đảng và nhà nước đã được pháp chế hoá trong văn bản pháp luật Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung) năm 2009 Điều 28, khoản
2 đã nêu rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh ; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến
Trang 6thức vào thực tiễn ; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Vận dụng định hướng trên, trong dạy học môn GDCD cần nhấn mạnh các yêu cầu sau:
1 Đổi mới PPDH môn GDCD phải theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập Trong dạy học, GV phải biết vận dụng các phương pháp dạy học vào việc tổ chức hoạt động, kích thích HS nỗ lực suy nghĩ và tự tìm tòi, phát hiện Những chuẩn mực đạo đức và pháp luật cần hình thành ở HS không phải là những khuôn mẫu cho sẵn, mà trong quá trình học tập,
HS tự khai thác thông tin, tự kiến tạo tri thức và kỹ năng, qua đó phát triển nhận thức, niềm tin và tình cảm đạo đức, pháp luật
2 Đa dạng hoá các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học bộ môn; khắc phục tính chất đơn điệu, nghèo nàn trong việc áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học môn GDCD phụ thuộc vào việc lựa chọn và kết hợp một cách hài hoà, hợp lý các phương pháp dạy học cụ thể, phù hợp với nội dung dạy học, với khả năng học tập và thái độ của
HS đối với nhiệm vụ học tập, phù hợp với từng tình huống dạy học cụ thể để có thể tạo ra một thái độ tích cực, sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ học tập và có sự nỗ lực cao trong hoạt động Cần kết hợp một cách linh hoạt, hợp lý nhiều phương pháp, cả phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, không phủ định hoàn toàn hoặc lạm dụng, tuyệt đối hoá vai trò vạn năng của một phương pháp nào; tuỳ từng bài, từng phần, tuỳ điều kiện dạy học của nhà trường, khả năng của HS và năng lực, sở trường của GV mà lựa chọn phương pháp Việc kết hợp các PPDH thể hiện trong mỗi bài, mỗi hoạt động của giờ học Sự đơn điệu trong việc sử dụng PPDH sẽ làm cho HS nhàm chán và do đó, hiệu quả giáo dục của môn học bị hạn chế Phải phát triển nhiều phong cách, nhiều nghệ thuật giảng dạy khác nhau trong thiết kế và
Trang 7thực hiện giờ học trên lớp, cũng như khuyến khích nhiều phong cách học tập khác nhau của HS.
Bên cạnh đó, phải gắn đổi mới PPDH với đổi mới hình thức tổ chức dạy học, tăng cường tính chất tương tác, tính chất đối thoại trong các hình thức khác nhau của giờ học như học ở trên lớp, học tại địa điểm tham quan, học ở nhà; học theo lớp, theo nhóm - tổ, học cá nhân; học trong giờ ngoại khoá, học trong hoạt động Đoàn - Đội, trong công tác độc lập của cá nhân, trong sinh hoạt tập thể, thực hành đạo đức, pháp luật, nhằm phát huy tối đa hiệu quả của các mối quan hệ giáo dục, các lực lượng giáo dục Cần chú trọng khuyến khích các hình thức tự học, tự liên hệ của HS
3 Việc sử dụng PPDH môn GDCD cần định hướng vào việc phát triển tính tích cực nhận thức, kỹ năng học tập, thái độ tự giác và chủ động, khả năng độc lập hoạt động, khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề, khả năng tự kiểm tra đánh giá, khả năng tổ chức của HS Cần kiên quyết khắc phục tính chất áp đặt, đơn điệu và thụ động, vụn vặt và hình thức chủ nghĩa trong việc vận dụng các PPDH
Cần tạo ra những tình huống, những vấn đề giúp HS có cơ hội thể hiện lập trường, ý kiến cá nhân của bản thân về những vấn đề đạo đức, pháp luật trong cuộc sống Những vấn đề trong dạy học môn GDCD (gồm những tri thức, kỹ năng, mẫu hành vi ứng xử ) có tác dụng kích thích HS suy nghĩ, phán đoán, lựa chọn những phương án để xử lý, tạo ra sự khác biệt giữa các lập luận, các biện pháp xử lý tình huống, nhờ vậy mà HS tích cực hoạt động và chiếm lĩnh các giá trị đạo đức, pháp luật một cách tự giác
4 Dạy học môn GDCD phải gắn bó chặt chẽ với đời sống của cá nhân, tập thể và địa phương GV phải hướng dẫn HS tìm hiểu các sự kiện, vấn đề đạo đức, pháp luật trong cuộc sống có liên quan với chủ đề bài học; hướng dẫn HS sử dụng
và phát huy vốn kinh nghiệm của bản thân để phân tích, lý giải, đánh giá, tìm cách ứng xử phù hợp Qua việc tổ chức cho HS xử lý các tình huống dạy học mà hình
Trang 8thành hệ thống giá trị mới trong mỗi em Phương thức dạy học như vậy sẽ tạo nhiều
cơ hội để HS tập dượt thể hiện tính năng động, tự giác trong lĩnh hội, tự xây dựng niềm tin cũng như tự trải nghiệm trong cuộc sống
5 Cần tăng cường sử dụng các thiết bị và phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học Việc sử dụng các thiết bị, phương tiện dạy học có tác dụng:
- Tạo điều kiện để thực hiện đổi mới PPDH, loại trừ khuynh hướng dạy chay làm cho các giờ học khô khan và mang tính chất lý thuyết, áp đặt đối với HS
- Làm tăng tính hấp dẫn đối với nội dung học tập, gây hứng thú học tập của HS
- Làm cho việc dạy và học trở nên dễ dàng hơn, thuận lợi hơn Các thiết bị, phương tiện kĩ thuật dạy học là nguồn cung cấp các chất liệu để HS khai thác nội dung học tập một cách tích cực, tự giác
Trong điều kiện phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, GV cần tích cực ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế và thực hiện giờ dạy trên lớp
6 Cải tiến các biện pháp và kỹ thuật quản lý, điều hành trong giờ học cho phù hợp với xu thế đổi mới phương pháp dạy học Công tác tổ chức, quản lý giờ học trong đổi mới dạy học không đơn thuần là GV trực tiếp chỉ đạo HS như trước đây và quan hệ trong giờ học không chỉ một chiều GV - HS, mà phải tạo ra được quan hệ giao lưu đa chiều, giao lưu giữa các cá nhân, tổ, nhóm HS và giao lưu giữa
HS với HS là cơ bản Cần tạo không khí sôi nổi, cuốn hút HS vào hoạt động bằng phong cách dân chủ, cởi mở và quan hệ giao tiếp linh hoạt, hấp dẫn, giàu cảm xúc, dựa trên cơ sở tự nguyện, sự thiện chí, tạo niềm vui, hứng thú, động viên khuyến khích HS phấn khởi học tập Cần khắc phục tính chất áp đặt, quyền uy trong quan
hệ giao tiếp của giờ học
2 Giới thiệu một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực có thể sử dụng trong dạy học môn GDCD
2.1 Phương pháp thảo luận nhóm
a/ Bản chất
Trang 9Thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh được chia thành các nhóm nhỏ và trong một thời gian nhất định các nhóm cùng nhau thảo luận
để giải quyết những vấn đề mà giáo viên đặt ra
Đặc trưng của phương pháp thảo luận nhóm là có sự tiếp xúc trực diện giữa những người tham gia và sự tự do trao đổi ý tưởng, quan điểm, kinh nghiệm của cá nhân; tạo ra sự khác biệt, sự hoà đồng hoặc sự gần nhau rất phong phú của các quan điểm, ý tưởng
b/ Tác dụng
Thảo luận nhóm là phương pháp dạy học được sử dụng rộng rãi trong dạy học Nó giúp học sinh tham gia một cách chủ động, tích cực vào quá trình học tập trên cơ sở có sự hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau; giúp học sinh hiểu vấn đề một cách sâu sắc, giáo dục tính độc lập, tư duy phê phán, biết lắng nghe ý kiến của người khác, hình thành quan điểm, lập trường cá nhân; phát triển năng lực giao tiếp và ý thức trách nhiệm của học sinh
c/ Cách thực hiện
Thảo luận nhóm được tiến hành theo các bước sau :
- Giáo viên giới thiệu chủ đề thảo luận
- Chia lớp thành những nhóm nhỏ, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian
và phân công vị trí làm việc của từng nhóm
- Các nhóm thảo luận giải quyết các nhiệm vụ được giao, ghi kết quả thảo luận ra giấy khổ lớn
- Từng nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước lớp Các nhóm khác lắng nghe và trao đổi ý kiến, nhận xét, bổ sung
- GV tổng kết lại những nội dung, vấn đề mà học sinh cần nắm vững, định hướng nhận thức, hành vi của học sinh; nhận xét kết quả làm việc của các nhóm
d/ Một số điểm cần lưu ý
Trang 10- Cần thường xuyên thay đổi thành phần của nhóm bằng các cách chia nhóm khác
nhau, tạo điều kiện cho học sinh được hợp tác, giao lưu với tất cả các bạn trong lớp, không nên giữ nguyên thành phần của nhóm trong thời gian dài Số lượng học sinh của nhóm không nên quá đông để tránh tình trạng một số em ỷ lại không tham gia hoạt động Mỗi nhóm nên từ 4- 6 học sinh là phù hợp
- Mỗi nhóm cần cử nhóm trưởng để điều khiển nhóm làm việc và thư kí để ghi chép các ý kiến Nhiệm vụ nhóm trưởng và thư kí cần luân phiên nhau để tất cả mọi học sinh đều có khả năng thực hiện
- Nhiệm vụ thảo luận phải phù hợp với chủ đề bài học, sát với trình độ, năng lực của học sinh Các câu hỏi phải sáng sủa, ngắn gọn, rõ ràng, kích thích suy nghĩ của học sinh, tạo ra nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau
- Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc khác nhau, tuỳ từng hoạt động
- Trong khi các nhóm thảo luận, giáo viên cần theo dõi, khuyến khích và giúp đỡ khi cần thiết (điều chỉnh để cuộc thảo luận đi đúng hướng, động viên những học sinh nhút nhát tham gia ý kiến, gợi ý khi cuộc thảo luận gặp khó khăn, bế tắc )
- Cần bố trí chỗ làm việc của các nhóm sao cho thuận lợi, để các thành viên có thể hướng vào nhau, lắng nghe và cùng chia sẻ suy nghĩ/ý tưởng
- Cách trình bày kết quả thảo luận nhóm có thể bằng nhiều hình thức : bằng lời, bằng tranh vẽ, sơ đồ, đóng vai Cần luân phiên nhau trình bày kết quả thảo luận của nhóm
2.2 Phương pháp xử lí tình huống
a/ Bản chất
Tình huống là một hoàn cảnh thực tế gắn với câu chuyện, có nhân vật, trong
đó chứa đựng những mâu thuẫn, xung đột mà người ta phải đưa ra quyết định trên
cơ sở cân nhắc các phương án khác nhau Tình huống trong dạy học là những tình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huống thực
Trang 11Xử lí tình huống là phương pháp trong đó giáo viên đưa học sinh vào những tình huống/vấn đề có thực trong cuộc sống, chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết
và cái chưa biết và hướng dẫn, kích thích học sinh chủ động, tự lực tìm hiểu tình huống, tìm giải pháp cần thiết để giải quyết tình huống/vấn đề đó
b/ Tác dụng
Xử lí tình huống có tác dụng kích thích học sinh suy nghĩ tìm tòi cách xử lí, giải quyết vấn đề/tình huống, giúp học sinh có cách nhìn toàn diện trước các tình huống/vấn đề của cuộc sống có liên quan đến bản thân, biết cách giải quyết một cách có hiệu quả đối với những khó khăn, thách thức của cuộc sống, từ đó biết nhìn nhận lại mình và có suy nghĩ, hành động tích cực trong cuộc sống; rèn luyện kĩ năng tư duy phê phán và kĩ năng ra quyết định
c/ Cách thực hiện
Xử lí tình huống được thực hiện theo các bước sau :
- Đưa học sinh vào tình huống
GV cho học sinh xem xét một tài liệu mô tả trường hợp nào đó phản ánh vấn
đề pháp luật cần tìm hiểu và giải quyết Tình huống có thể do giáo viên mô tả bằng lời, có thể học sinh kể hoặc đọc trong tài liệu do giáo viên cung cấp, có thể qua băng hình, phim video, có thể do học sinh đóng Trong quá trình mô tả tình huống, nếu có các phương tiện hỗ trợ như tranh/ảnh, băng hình, sơ đồ, bảng biểu thì càng tốt
- Học sinh tìm hiểu tình huống và giải thích tình huống
Ở bước này, học sinh cần phải xác định, nhận diện được tình huống/vấn đề Các em có thể thảo luận những điều còn thắc mắc hoặc đưa ra câu hỏi để giáo viên giải đáp
- Tìm giải pháp giải quyết tình huống
+ Học sinh suy nghĩ tìm cách giải quyết tình huống, đề xuất giải pháp của cá nhân, lí giải, lập luận để bảo vệ giải pháp đó
Trang 12+ Liệt kê các các cách giải quyết có thể có.
+ Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (mặt, lợi, mặt hại, cảm xúc )
+ Tình huống cần phải liên hệ với kinh nghiệm sống thực của học sinh
+ Tình huống phải chứa đựng mâu thuẫn/vấn đề, có thể liên quan liên đến nhiều phương diện, gợi ra cho học sinh nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết
+ Tình huống phải vừa sức với khả năng của học sinh và có thể giải quyết trong điều kiện cụ thể
+ Tình huống cần có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau, giúp học sinh hiểu được rằng một tình huống thực tiễn có nhiều phương diện xem xét khác nhau, nhiều cách giải quyết, không phải là duy nhất
- Phương án giải quyết tình huống tối ưu đối với mỗi học sinh có thể giống nhau hoặc khác nhau Giáo viên chỉ nên định hướng cho học sinh, không nên áp đặt một phương án nào
2.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
a/ Bản chất
Trang 13Nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề Nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện sau khi học sinh được nghe/đọc hoặc quan sát băng hình/phim video.
b/ Tác dụng
Làm cho bài học trở nên gần gũi, sinh động, dễ hiểu đối với học sinh
c/ Cách thực hiện
Nghiên cứu trường hợp điển hình được thực hiện theo các bước sau :
- Học sinh đọc hoặc nghe kể/xem về trường hợp điển hình
- Suy nghĩ về nội dung câu chuyện (có thể viết một vài suy nghĩ trước khi thảo luận điều đó với người khác)
- Thảo luận về trường hợp điển hình theo các câu hỏi hướng dẫn của GV
d/ Một số điểm cần lưu ý
- Vì trường hợp điển hình được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nên nó phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản
- Trường hợp điển hình phải phù hợp với trình độ của học sinh và thời lượng cho phép
- Có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặc phân công mỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp khác nhau
2.4 Phương pháp đóng vai
a/ Bản chất
Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “ làm thử” một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định Học sinh sẽ đóng vai các nhân vật, thể hiện cách xử lí giải quyết tình huống trên cơ sở óc tưởng tượng và ý nghĩ sáng tạo của các em Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề
Trang 14bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy.
b/ Tác dụng
- Đóng vai có nhiều ưu thế trong việc rèn luyện kĩ năng ứng xử cho học sinh, giúp học sinh có cơ hội thực hành những kĩ năng ứng xử trong điều kiện có sự kiểm soát, điều chỉnh trước khi xảy ra tình huống thực
- Học sinh hứng thú với hoạt động
- Làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh trong việc tìm kiếm cách xử lí và thể hiện cách ứng xử
- Làm thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng tích cực
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói và việc làm của các vai diễn
c/ Cách thực hiện
Đóng vai được tiến hành theo các bước sau :
- Giáo viên chia nhóm và giao nhiệm vụ đóng vai cho các nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm
- Các nhóm thảo luận nghiên cứu tình huống xây dựng kịch bản, chuẩn bị vai diễn
và phân công đóng vai
- Các nhóm lên đóng vai thể hiện cách ứng xử trong tình huống
- Lớp thảo luận, nhận xét về cách ứng xử của các vai diễn
- GV kết luận, định hướng cho HS về cách ứng xử tích cực trong tình huống đã cho
d/ Một số điểm cần lưu ý
- Tình huống để đóng vai cần để mở để học sinh tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước “ kịch bản”, lời thoại
- Tình huống đóng vai phải có tính mục đích thật rõ ràng, không nên quá phức tạp
và phải có nhiều cách giải quyết
Trang 15- Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai, mỗi nhóm thể hiện cách ứng xử khác nhau, trên cơ sở đó học sinh nhận xét, đánh giá, so sánh các cách ứng xử và lựa chọn cách ứng xử tối ưu.
- Phải dành thời gian thích hợp cho học sinh thảo luận xây dựng kịch bản và chuẩn
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập của học sinh
- Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm và sự sáng tạo của người học
- Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp, năng lực hợp tác trong công việc, năng lực đánh giá
- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn
- Rèn luyện nhiều kĩ năng sống như hợp tác, giao tiếp, ra quyết định, giải quyết vấn
đề, đặt mục tiêu, quản lí thời gian
c/ Cách thực hiện
Phương pháp dự án được thực hiện qua các bước sau :
- Lựa chọn chủ đề : GV cùng học sinh đề xuất chủ đề, mục đích của dự án GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa chọn và cụ thể hoá thành những tiểu chủ đề
Trang 16- Xây dựng kế hoạch dự án : Học sinh xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện dự
án Trong kế hoạch cần xác định nội dung những công việc cần làm, dự kiến thời gian cho từng công việc, phân công thực hiện
- Thực hiện kế hoạch dự án : Trong bước này, các thành viên và nhóm cần thực hiện các công việc đã được phân công, thu thập và xử lí thông tin, tìm câu trả lời cho các vấn đề cần giải quyết
- Trình bày kết quả dự án : Học sinh trình những điều đã học được, tìm thấy hay tạo ra Kết quả được trình bày dưới những hình thức khác nhau : bài thu hoạch, báo cáo, tranh ảnh, văn thơ, triển lãm, mô hình, diễn kịch, biểu diễn văn nghệ, phim video
- Đánh giá dự án : Giáo viên và học sinh cùng đánh giá quá trình thực hiện và kết quả của dự án, rút kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo
Trang 173.1 Kĩ thuật động não (công não)
Động não là kĩ thuật giúp cho HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng Động não thường được sử
dụng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ đề; tìm các phương án giải quyết vấn đề; thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác nhau.
Động não có thể tiến hành theo các bước sau :
- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề cần được trả lời hoặc giải quyết
- Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt
- Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp
- Phân loại các ý kiến
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng
- Tổng hợp ý kiến của HS và rút ra kết luận
3.2 Kĩ thuật khăn trải bàn
-HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Mỗi nhóm có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn
- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người)
- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề cho các nhóm
- Mỗi thành viên trong nhóm suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình vào phần cạnh
“khăn trải bàn” trước mặt mình Sau vài phút, khi mọi người đều đã xong, thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”
3.3 Kĩ thuật phòng tranh
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm
- GV nêu câu hỏi/ vấn đề cho cả lớp hoặc cho các nhóm
Trang 18- Mỗi thành viên ( hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) phác hoạ những ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và dán lên tường xung quanh lớp học như một triển lãm tranh
- HS cả lớp đi xem “ triển lãm’’và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ sung
- Cuối cùng, tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương án tối
ưu
3.4 Kĩ thuật công đoạn
- HS được chia thành các nhóm, mỗi nhóm được giao giải quyết một nhiệm vụ khác nhau
- Sau khi các nhóm thảo luận và ghi kết quả thảo luận vào giấy A0 xong, các nhóm
sẽ luân chuyển giấy AO ghi kết quả thảo luận cho nhau (nhóm 1 chuyển cho nhóm
2, Nhóm 2 chuyển cho nhóm 3, Nhóm 3 chuyển cho nhóm 4, Nhóm 4 chuyển cho nhóm 1)
- Các nhóm đọc và góp ý kiến bổ sung cho nhóm bạn Sau đó lại tiếp tục luân chuyển kết quả cho nhóm tiếp theo và nhận tiếp kết quả từ một nhóm khác để góp ý
- Cứ như vậy cho đến khi các nhóm đã nhận lại được tờ giấy A0 của nhóm mình cùng với các ý kiến góp ý của các nhóm khác Từng nhóm sẽ xem và xử lí các ý kiến của các bạn để hoàn thiện lại kết quả thảo luận của nhóm Sau khi hoàn thiện xong, nhóm sẽ treo kết quả thảo luận lên tường lớp học
3.5 Kĩ thuật hỏi và trả lời
- GV (hoặc 1 HS) bắt đầu đặt một câu hỏi về chủ đề và yêu cầu một HS khác
trả lời câu hỏi đó
- HS vừa trả lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi nữa và yêu cầu một HS khác trả lời
- HS này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho các bạn cùng lớp Việc hỏi
và trả lời cứ tiếp tục cho đến khi GV quyết định dừng hoạt động này lại
Trang 193.6 Kĩ thuật “Hỏi chuyên gia”
- HS xung phong (hoặc theo sự phân công của GV) tạo thành các nhóm “chuyên gia” về một chủ đề nhất định
- Các ”chuyên gia” nghiên cứu và thảo luận với nhau về những tư liệu có liên quan đến chủ đề mình được phân công
- Nhóm ”chuyên gia” lên ngồi phía trên lớp học
- Một em trưởng nhóm ”chuyên gia” (hoặc GV) sẽ điều khiển buổi “tư vấn”, mời các bạn HS trong lớp đặt câu hỏi rồi mời ”chuyên gia” giải đáp, trả lời
3.7 Kĩ thuật “ Trình bày một phút”
Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi
về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng
cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào
Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì
là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?
- HS suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau
- Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm
3.8 Kĩ thuật lược đồ tư duy
Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề
Trang 20Cách tiến hành như sau:
- Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề
- Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung tâm nói trên
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó
- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo
Ứng dụng của lược đồ tư duy
Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề
- Trình bày tổng quan một chủ đề
- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng
3.9 Kỹ thuật XYZ
Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật nhằm phát huy tính tích cực trong thảo luận nhóm X
là số người trong nhóm, Y là số ý kiến mỗi người cần đưa ra, Z là phút dành cho mỗi người Ví dụ kỹ thuật 635 thực hiện như sau:
- Mỗi nhóm 6 người, mỗi người viết 3 ý kiến trên một tờ giấy trong vòng 5 phút về cách giải quyết 1 vấn đề và tiếp tục chuyển cho người bên cạnh
- Tiếp tục như vậy cho đến khi tất cả mọi người đều viết ý kiến của mình, có thể lặp lại vòng khác;
- Con số X-Y-Z có thể thay đổi
Sau khi thu thập ý kiến thì tiến hành thảo luận, đánh giá các ý kiến
3.10 Kỹ thuật "bể cá"
Trang 21Kỹ thuật bể cá là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một nhóm HS ngồi giữa lớp và thảo luận với nhau, còn những HS khác trong lớp ngồi xung quanh
ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa
ra những nhận xét về cách ứng xử của những HS thảo luận Trong nhóm thảo luận
có thể có một vị trí không có người ngồi HS tham gia nhóm quan sát có thể ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến vào cuộc thảo luận, ví dụ đưa ra một câu hỏi đối với nhóm thảo luận hoặc phát biểu ý kiến khi cuộc thảo luận bị chững lại trong nhóm Cách luyện tập này được gọi là phương pháp thảo luận "bể cá", vì những người ngồi vòng ngoài có thể quan sát những người thảo luận, tương tự như xem những con cá trong một bể cá cảnh Trong quá trình thảo luận, những người quan sát và những người thảo luận sẽ thay đổi vai trò với nhau
Bảng câu hỏi cho những người quan sát:
- Người nói có nhìn vào những người đang nói với mình không ?
- Họ có nói một cách dễ hiểu không ?
- Họ có để những người khác nói hay không ?
- Họ có đưa ra được những luận điểm đáng thuyết phục hay không ?
- Họ có đề cập đến luận điểm của người nói trước mình không ?
- Họ có lệch hướng khỏi đề tài hay không ?
- Họ có tôn trọng những quan điểm khác hay không ?
3.11 Kĩ thuật ”đọc hợp tác” (còn gọi là đọc tích cực)
Kĩ thuật này nhằm giúp HS tăng cường khả năng tự học và giúp GV tiết kiệm thời gian đối với những bài học/phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá khó đối với HS
Cách tiến hành như sau:
- GV nêu câu hỏi/yêu cầu định hướng HS đọc bài/phần đọc
- HS làm việc cá nhân:
Trang 22+ Đoán trước khi đọc: Để làm việc này, HS cần đọc lướt qua bài đọc/phần đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/cụm từ quan trọng.
+ Đọc và đoán nội dung : HS đọc bài/phần đọc và biết liên tưởng tới những
gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra
+ Tìm ý chính: HS tìm ra ý chính của bài/phần đọc qua việc tập trung vào các
ý quan trọng theo cách hiểu của mình
+ Tóm tắt ý chính
- HS chia sẻ kết quả đọc của mình theo nhóm 2, hoặc 4 và giải thích cho nhau thắc mắc (nếu có), thống nhất với nhau ý chính của bài/phần đọc
- HS nêu câu hỏi để GV giải đáp (nếu có)
Lưu ý: Một số câu hỏi GV thường dùng để giúp HS tóm tắt ý chính:
- GV nêu chủ đề cần thảo luận
- Chia HS thành các nhóm 3 người và yêu cầu HS thảo luận trong vòng 10 phút về những gì mà các em biết về chủ đề này
- HS thảo luận nhóm và chọn ra 3 điểm quan trọng nhất để trình bày với cả lớp
- Mỗi nhóm sẽ cử một đại diện lên trình bày về cả 3 điểm nói trên
II TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG THÔNG QUA CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
Trang 231 Mối quan hệ giữa Chương trình giáo dục phổ thông, hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng và sách giáo khoa
Để hiểu rõ mối quan hệ giữa Chương trình, hướng dẫn thực hiện chuẩn và sách giáo khoa, trước hết phải hiểu thế nào là chương trình giáo dục phổ thông Luật Giáo dục (sửa đổi, bổ sung) năm 2009 nêu rõ: ”Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học
ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông” (Điều 29 khoản 1)
Chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của Chương trình giáo dục phổ thông được thể hiện cụ thể trong các chương trình môn học/hoạt động giáo dục
và các chương trình cấp học Đối với mỗi môn học, mỗi cấp học, mục tiêu của môn học, cấp học được cụ thể hoá thành chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học, cấp học
Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình môn học là các yêu cầu cơ bản,
tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của môn học mà HS cần phải và có thể đạt được sau
mỗi đơn vị kiến thức (mỗi bài/chủ đề/chủ điểm)
Trong chương trình giáo dục phổ thông, chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu
về thái độ đối với người học được cụ thể hoá ở các chủ đề (chương, bài) của chương trình môn học theo từng lớp và ở các lĩnh vực học tập; đồng thời chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học
Trang 24hư vậy có thể hiểu chuẩn kiến thức, kĩ năng là thành phần của chương trình, quy
định mức độ tối thiểu cần đạt được của chương trình, thể hiện ở các yêu cầu cụ thể,
rõ ràng về kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ đối với từng chủ đề/bài Dạy
học phải theo chuẩn kiến thức, kĩ năng Việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kĩ năng sẽ tạo nên sự thống nhất, làm hạn chế tình trạng dạy học quá tải do đưa thêm nhiều nội dung nặng nề, quá cao so với yêu cầu của chương trình môn học
Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng là những điều giải thích chuẩn, chỉ ra những nội dung cụ thể cần đạt được về kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ đối với từng chuẩn
”Sách giáo khoa cụ thể hóa các yêu cầu về nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở mỗi lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giáo dục phổ thông.” (Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2009 Điều 29, khoản 2) Sách giáo khoa là tài liệu học tập cơ bản của HS,
là sự cụ thể hoá hơn các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ của chương trình Sách giáo khoa bảo đảm cho việc lĩnh hội các yêu cầu của chương trình và chuẩn qua việc thể hiện nội dung và phương pháp dạy học Bên cạnh việc bám sát nội dung chương trình và chuẩn, sách giáo khoa còn có những nội dung để giải thích, chứng minh những nội dung đó hoặc cung cấp thêm cho HS những nguồn thông tin cần thiết khác, làm cho sách sinh động, hấp dẫn, phù hợp với nhận thức của HS, giúp HS học tập và lĩnh hội được thuận lợi Vì vậy, trong dạy học, GV
có thể không dạy hết các nội dung trong sách giáo khoa, có thể có nội dung để cho
HS tự học; GV không nên buộc HS phải học thuộc và nhớ hết các nội dung của sách giáo khoa, mà chỉ tập trung vào nội dung yêu cầu của chuẩn kiến thức, kĩ năng
Trang 25Mối quan hệ giữa chương trình môn GDCD cấp THCS, hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng, định hướng thái độ và sách giáo khoa được thể hiện trong bảng sau :
Chương trình Chuẩn chương trình Hướng dẫn thực hiện chuẩn Sách giáo khoa
- Khoan dung có nghĩa là rộng lòng tha thứ Người có lòng khoan dung luôn tôn trọng và thông cảm với người khác, biết tha thứ cho người khác khi họ hối hận
và sửa chữa lỗi lầm
- Tôn trọng người khác là tôn trọng cá tính, sở thích, thói quen, mọi sự khác biệt
ở họ ; là thái độ công bằng, vô tư , không định kiến hẹp hòi ; không đối xử nghiệt ngã, gay gắt
- Khoan dung không có nghĩa là bỏ qua những việc sai trái và những người cố tình làm điều sai trái, cũng không phải là sự nhẫn nhục
Ví dụ : ôn tồn thuyết phục, góp ý giúp bạn sửa lỗi ; tha thứ khi người khác đã biết lỗi và sửa lỗi ; nhường nhịn
Trang 26- Nêu được ý nghĩa
của lòng khoan
dung
2 Về kĩ năng
Biết thể hiện lòng
khoan dung trong
quan hệ với mọi
người xung quanh.
- Đối với xã hội : Nhờ có lòng khoan dung, cuộc sống
xã hội và quan hệ giữa mọi người trở nên lành mạnh, thân ái, dễ chịu
- Sống cởi mở, gần gũi, tôn trọng mọi người
- Cư xử với mọi người chân thành, rộng lượng, biết thông cảm và tha thứ, biết
tự kiềm chế bản thân, không đối xử thô bạo, không chấp nhặt, không định kiến hẹp hòi
- Nghiêm khắc với bản thân, dũng cảm nhận và sửa lỗi, không tìm cách đổ lỗi cho người khác
Trang 273 Về thái độ
Khoan dung, độ lượng với mọi người ; phê phán sự định kiến, hẹp hòi,
đã mắc khuyết điểm hoặc nhận xét, đánh giá người theo ý chủ quan của mình, không chịu thay đổi…
- Nêu được một số quy định của pháp luật về phòng, chống nhiễm HIV/
AIDS
Đó là : huỷ hoại sức khoẻ, cướp đi tính mạng con người ; phá hoại hạnh phúc gia đình ; huỷ hoại tương lai, nòi giống của dân tộc ; ảnh hưởng đến kinh tế- xã hội của đất nước
Nêu được các quy định về : trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng, chống nhiễm HIV/AIDS, trách nhiệm tham gia các hoạt động phòng chống nhiễm
Trang 28- Nêu được các biện
HIV/AIDS và quyền không
bị phân biệt đối xử của những người bị nhiễm HIV/AIDS)
Cụ thể là : sống an toàn, lành mạnh, tránh xa các tệ nạn xã hội, đặc biệt là ma túy, mại dâm ; không phân biệt đối xử với những người nhiễm HIV/AIDS ; tích cực tham gia các hoạt động phòng chống nhiễm HIV/AIDS ở nhà trường và cộng đồng
Cụ thể là : sống lành mạnh ; không tiêm chích ma tuý ; yêu cầu làm xét nghiệm cẩn thận trước khi cho hoặc được truyền máu, yêu cầu tiệt trùng các dụng cụ khi đi khám, chữa, nhổ răng, khi
Trang 29- Biết chia sẻ, giúp
đỡ, động viên người
nhiễm HIV/ AIDS.
- Tham gia các hoạt
Biết chia sẻ, giúp đỡ, động viên, không kì thị, xa lánh, phân biệt đối xử với những bạn bè, người thân và người dân trong cộng đồng bị nhiễm HIV/AIDS
Tham gia các hoạt động phòng, chống nhiễm HIV/AIDS phù hợp với khả năng như : tham gia hoạt động thi tìm hiểu về phòng chống nhiễm HIV/AIDS ; tham gia vẽ tranh, phát tờ rơi, biểu diễn văn nghệ về chủ đề phòng chống HIV/AIDS ; tham gia phát thanh, tuyên truyền, cổ động
về phòng chống nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng
;
Sống an toàn, lành mạnh ; không tiêm chích ma tuý và
Trang 30- Quan tâm, chia sẻ
và không phân biệt đối xử với người có HIV/ AIDS.
tránh xa các tệ nạn, các hoạt động có thể dẫn đến nhiễm HIV/AIDS
Cảm thông, chia sẻ, giúp
đỡ, động viên, an ủi bạn bè, người thân và những người dân trong cộng đồng bị nhiễm HIV/AIDS ; không
có thái độ, cử chỉ, hành động, lời nói xúc phạm hoặc làm họ bị tổn thương ; đồng thời không đồng tình với những hành vi kì thị, xa lánh, phân biệt đối xử với những người bị nhiễm HIV/AIDS
2 Những nguyên tắc định hướng dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông thông qua các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực
Để việc dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng có chất lượng, hiệu quả, phải tuân theo các nguyên tắc sau :
- Phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ để xác định mục tiêu bài học Mục tiêu mỗi bài học thể hiện trong chuẩn là bắt buộc, không thay đổi, vấn đề là GV phải nghiên cứu kĩ và hiểu rõ các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái
độ của chuẩn để thực hiện
Trang 31- Bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng để thiết kế bài giảng nhằm đạt được các yêu cầu
về kiến thức, kĩ năng, định hướng thái độ Khi thiết kế bài dạy, GV cần căn cứ vào Hướng dẫn thực hiện chuẩn và so sánh, đối chiếu với sách giáo khoa để xác định các kiến thức cơ bản, trọng tâm, các kĩ năng và thái độ cần hình thành ở HS Cần chú ý loại trừ các khuynh hướng sau :
+ Khuynh hướng ôm đồm, lệ thuộc vào sách giáo khoa Theo đó, GV cố dạy cho hết tất cả các kiến thức trong sách giáo khoa (có trường hợp khi dạy tập trung rất nhiều thời gian vào những số liệu trong phần thông tin, sự kiện ) Cần chú ý là các thông tin trong sách giáo khoa đóng vai trò là phương tiện để GV hướng dẫn HS khai thác, từ đó rút ra nội dung kiến thức, kĩ năng và định hướng thái độ, đó không phải là kiến thức cơ bản nhưng có vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy và học Như trên đã trình bày, sách giáo khoa có những nội dung mở rộng, giải thích, chứng minh, những ví dụ thực tế làm sách sinh động, hấp dẫn, HS hứng thú và dễ dàng tiếp nhận kiến thức, kĩ năng, GV phải biết lựa chọn và xác định những gì là trọng tâm trong đó Để làm được việc này, GV phải căn cứ vào hướng dẫn thực hiện chuẩn
+ Lược bỏ bớt những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ Cần lưu ý chuẩn chương trình là yêu cầu tối thiểu mà mỗi HS cần phải đạt được và thống nhất trong toàn quốc, vì vậy việc dạy học tuân theo yêu cầu của chuẩn là bắt buộc
+ Khuynh hướng đưa thêm nội dung kiến thức, kĩ năng vào bài hoặc khai thác quá sâu nội dung bài, gây quá tải đối với HS GV cần lưu ý là tuỳ điều kiện cụ thể của dạy học, có thể khai thác sâu hơn nội dung kiến thức, kĩ năng, giúp nâng cao nhận thức của HS nhưng phải phù hợp với khả năng tiếp thu của HS; không làm cho bài học nặng nề, khó hiểu, khiến HS mất hứng thú, niềm vui học tập, do đó học tập không có kết quả
Trang 32- Khi thiết kế và thực hiện bài giảng, GV phải biết vận dụng kết hợp một cách hợp
lí, linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để thiết kế thành các hoạt động dạy học cụ thể Tuỳ từng bài, tuỳ từng phần, tuỳ đối tượng HS, điều kiện dạy học cụ thể, sở trường của GV mà có thể sử dụng phương pháp, kĩ thuật này hay khác Tuy nhiên cũng cần lưu ý là không loại trừ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, nêu gương là những phương pháp có tác dụng giáo dục tốt Một bài soạn cần tránh chỉ liệt kê các kiến thức, mà điều quan trọng là phải thiết kế các hoạt động dạy học, thông qua hoạt động mà hình thành kiến thức,
kĩ năng, thái độ cho HS
- Cần chú trọng việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng cho HS Việc hình thành các kĩ năng qua học tập của HS là một việc làm khó Do đặc trưng của môn GDCD
là môn học có tính giáo dục cao và yêu cầu HS phải biết thực hiện các chuẩn mực
đã học trong cuộc sống, nên việc hình thành và rèn luyện các kĩ năng là rất quan trọng Như chúng ta đã biết, việc hình thành các kĩ năng không thể chỉ qua việc quan sát hoặc nghe nói, mà chỉ được hình thành trên cơ sở hoạt động, trực tiếp làm
Vì vậy, muốn hình thành kĩ năng phải thông qua các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tổ chức hoạt động cho HS, qua hoạt động HS được rèn luyện các kĩ năng như hợp tác, tư duy sáng tạo, thu thập và xử lí thông tin, trình bày suy nghĩ/ý tưởng, giao tiếp/ứng xử, giải quyết vấn đề, kĩ năng thể hiện sự cảm thông/chia sẻ
và có khả năng ứng dụng bài học trong thực tế cuộc sống
- Tích cực sưu tầm, chế tạo và sử dụng hợp lí, có hiệu quả các phương tiện, đồ dùng, thiết bị dạy học Để tổ chức các hoạt động học tập của HS, phải có các đồ dùng, thiết bị dạy học Đồ dùng dạy học có thể do nhà trường cung cấp, nhưng phần quan trọng là do GV sưu tầm, tự làm và hướng dẫn HS làm
3 Tæ chøc d¹y häc theo chuÈn kiÕn thøc, kÜ n¨ng m«n Gi¸o dôc c«ng d©n
Trang 33Chóng t«i xin nªu mét sè bµi cô thÓ trong viÖc tæ chøc d¹y häc theo chuÈn kiÕn thøc, kÜ n¨ng.
Trang 34a Thân thể, sức khỏe là tài sản quý nhất của mỗi ngời nên cần phải tự chăm sóc, rèn luyện thân thể.
- Tự chăm sóc sức khỏe là biết giữ vệ sinh cá nhân, ăn uống điều độ, không hút thuốc lá và các chất gây nghiện khác Phải biết phòng bệnh, khi có bệnh phải đến thầy thuốc khám và điều trị
- Tự rèn luyện thân thể là tập thể dục hàng ngày và hoạt động thể thao đúng mức để thân thể khỏe mạnh, sức lực dẻo dai, hạn chế ốm đau, bệnh tật
+ Hoạt động thể thao đúng mức là lựa chọn môn thể thao phù hợp với sở thích, tình trạng sức khỏe của bản thân; tập luyện vừa phải, đúng lúc, khoa học
b ý nghĩa của việc tự chăm sóc, rèn luyện thân thể (về mặt thể chất và tinh thần)
- Mặt thể chất : Giúp chúng ta có một cơ thể khoẻ mạnh, cân đối, có sức chịu đựng dẻo dai, thích nghi đợc với mọi sự biến đổi của môi trờng và do đó làm việc, học tập
- Cách khắc phục những thiếu sót, những thói quen có hại, ví dụ : Ngủ dậy muộn, ăn nhiều chất kích thích, ăn đồ tái sống, để sách quá gần khi đọc
2.2 Nghiên cứu Sgk và các tài liệu tham khảo để xác định kĩ năng minh họa cho chuẩn kĩ năng
a Biết nhận xét, đánh giá hành vi tự chăm sóc, rèn luyện thân thể của bản thân và của ngời khác
Trang 35- Phân biệt đợc hành vi nào là có lợi, phù hợp với yêu cầu rèn luyện thân thể, sức khoẻ ; hành vi nào là có hại cho sức khoẻ, có thể dẫn tới ốm đau, bệnh tật (ví dụ : thức quá khuya, dùng chất kích thích)
b Biết đa ra cách xử lí phù hợp trong các tình huống để tự chăm sóc, rèn luyện thân thể
Ví dụ : khi trời rét thì phải mặc đủ ấm ; trời nắng nóng thì phải đội mũ nón khi ra ờng, tắm rửa thờng xuyên ; khi thấy ngời mệt mỏi phải báo cho cha mẹ biết để kịp thời khám chữa ;
đ-c. Biết đặt kế hoạch tự chăm sóc, rèn luyện thân thể và thực hiện theo kế hoạch đó :
Chỉ ra đợc những việc làm, cách làm và thời gian, thời điểm thực hiện, cần sự hỗ trợ
từ ai Và thực hiện đúng kế hoạch Ví dụ : Kế hoạch tập bơi vào mùa hè
3 Vận dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng và kĩ thuật dạy học tích cực để xây dựng các hoạt động lên lớp bài học GDCD
a Hớng dẫn giảng dạy đơn vị chuẩn kiến thức : Thân thể, sức khỏe là tài sản quý nhất của mỗi ngời nên cần phải tự chăm sóc, rèn luyện thân thể
- Trớc hết giáo viên cần cho học sinh hiểu khái niệm “sức khoẻ”
- Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm để rút ra vai trò quan trọng của sức khoẻ con ngời thông qua câu hỏi : Trong cuộc sống hàng ngày, những hoạt động nào cần phải có sức khoẻ mới thực hiện đợc ?
+ Giáo viên chốt : Thực hiện bất kì một hoạt động nào cũng cần phải có sức khoẻ Con ngời cần phải có sức khoẻ mới thực hiện đợc ớc mơ, hoài bão Sức khoẻ có vai trò vô cùng quan trong với cuộc sống con ngời, có sức khoẻ là có tất cả Vì vậy cần phải biết tự chăm sóc và rèn luyện thân thể
b Hớng dẫn giảng dạy đơn vị chuẩn kiến thức : Cách tự chăm sóc, rèn luyện thân thể và chuẩn kĩ năng (biết nhận xét, đánh giá hành vi tự chăm sóc, rèn luyện thân thể, đa ra cách xử lí phù hợp trong các tình huống, đặt kế hoạch tự chăm sóc, rèn luyện thân thể và thực hiện theo kế hoạch)
Trang 36- Giáo viên tổ chức cho học sinh sắm vai thể hiện các cách tự chăm sóc, rèn luyện thân thể.
+ Nêu câu hỏi để học sinh tự khái quát cách tự chăm sóc rèn luyện thân thể
+ Giáo viên chốt : Những việc cần làm để chăm sóc, rèn luyện thân thể của bản thân
nh : giữ gìn vệ sinh cá nhân; ăn uống, sinh hoạt điều độ, đảm bảo vệ sinh, đúng giờ giấc ; kết hợp học tập, làm việc, nghỉ ngơi hợp lí ; luyện tập thể dục, thể thao thờng xuyên ; phòng bệnh cho bản thân, khi thấy có bệnh thì kịp thời đến cơ sở y tế để khám và điều trị ;
- Giáo viên nêu vấn đề : Cần làm gì để khắc phục một số thói quen có hại cho sức khỏe (thức quá khuya, ngồi sai t thế khi học bài, ) ?
+ Giáo viên chốt : trớc tiên cần phân biệt đợc hành vi nào là có lợi, tốt cho sức khoẻ ; hành vi nào là có hại cho sức khoẻ, có thể dẫn tới ốm đau, bệnh tật ; cần có
kế hoạch khắc phục những thói quen có hại và kiên trì thực hiện kế hoạch đó
- Giáo viên nêu một số tình huống yêu cầu học sinh đa ra cách xử lí để tự chăm sóc rèn luyện thân thể
c Hớng dẫn giảng dạy đơn vị chuẩn kiến thức : ý nghĩa của việc tự chăm sóc, rèn luyện thân thể
- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm câu hỏi : Việc chăm sóc và rèn luyện thân thể đem lại những lợi ích gì về mặt thể chất và tinh thần?
+ Giáo viên chốt : Về mặt thể chất, việc tự chăm sóc và rèn luyện sức khỏe giúp chúng ta có một cơ thể khoẻ mạnh, cân đối, có sức chịu đựng dẻo dai, thích nghi đợc với mọi sự biến đổi của môi trờng và do đó làm việc, học tập có hiệu quả Về mặt tinh thần, giúp ta cảm thấy sảng khoái, sống lạc quan, yêu đời
Bài 3
Tiết kiệm
1 Sử dụng Chuẩn kiến thức, kĩ năng để xác định mục tiêu tiết dạy
Trang 37a Về kiến thức
- Nêu đợc thế nào là tiết kiệm :
- Hiểu đợc ý nghĩa của sống tiết kiệm
- Ưa thích lối sống tiết kiệm, không thích lối sống xa hoa, lãng phí
2 Nghiên cứu Sgk và các tài liệu tham khảo để xác định kiến thức minh họa cho chuẩn kiến thức, kĩ năng
2.1 Nghiên cứu Sgk và các tài liệu tham khảo để xác định kiến thức minh họa cho chuẩn kiến thức
a Nêu đợc thế nào là tiết kiệm :
- Tiết kiệm là biết sử dụng một cách hợp lí, đúng mức của cải vật chất, thời gian, sức lực của mình và của ngời khác
- Cần phân biệt giữa tiết kiệm với hà tiện, keo kiệt và xa hoa, lãng phí
- Hà tiện, keo kiệt là sử dụng của cải, tiền bạc một cách hạn chế quá đáng, dới mức cần thiết
- Xa hoa, lãng phí là tiêu phí của cải, tiền bạc, sức lực, thời gian quá mức cần thiết
b Hiểu đợc ý nghĩa của sống tiết kiệm
- Về đạo đức : Đây là một phẩm chất tốt đẹp, thể hiện sự quý trọng kết quả lao động của mình và của xã hội, quý trọng mồ hôi, công sức, trí tuệ của con ngời
+ Sống hoang phí dễ dẫn con ngời đến chỗ h hỏng, sa ngã
Trang 38- Về kinh tế : Tiết kiệm giúp ta tích luỹ vốn để phát triển kinh tế gia đình, kinh tế
đất nớc
- Về văn hoá : Tiết kiệm thể hiện lối sống có văn hoá
2.2 Nghiên cứu Sgk và các tài liệu tham khảo để xác định kĩ năng minh họa cho chuẩn kĩ năng
a Biết nhận xét, đánh giá việc sử dụng sách vở, đồ dùng, tiền của, thời gian của bản thân và của ngời khác
- Biết quan sát thực tế, liên hệ, tự đánh giá và đánh giá Việc đánh giá dựa trên các biểu hiện của tiết kiệm, lãng phí hoặc hà tiện
b Biết đa ra cách xử lí phù hợp, thể hiện tiết kiệm đồ dùng, tiền bạc, thời gian, công sức trong các tình huống
Ví dụ : tổ chức sinh nhật phù hợp với điều kiện sống của gia đình và với mức sống chung ; chứng kiến việc làm lãng phí điện, nớc của bạn bè hoặc ngời khác phải góp
ý, tìm cách ngăn chặn ; bạn rủ xem phim trong giờ tự học phải biết từ chối, tranh thủ thời gian tập trung vào việc học bài, làm bài ;
c Biết sử dụng sách vở, đồ dùng, tiền bạc, thời gian một cách hợp lí, tiết kiệm
- Thực hành tiết kiệm trong cuộc sống hằng ngày GV cần đặt ra yêu cầu đối với HS
và kiểm tra việc thực hiện qua quan sát, trao đổi
3 Vận dụng chuẩn kiến thức, kĩ năng và kĩ thuật dạy học tích cực để xây dựng các hoạt động lên lớp bài học GDCD
a Hớng dẫn giảng dạy đơn vị chuẩn kiến thức : Nêu đợc thế nào là tiết kiệm và kĩ năng (nhận xét, đánh giá các biểu hiện của tiết kiệm, lãng phí hoặc hà tiện)
- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm câu hỏi tìm hiểu truyện đọc trong Sgk
+ Giáo viên chốt : Tiết kiệm là biết sử dụng một cách hợp lí, đúng mức của cải vật chất, thời gian, sức lực của mình và của ngời khác
- Giáo viên cho học sinh sắm vai thể hiện tình huống để phân biệt tiết kiệm với hà tiện, keo kiệt
Trang 39+ Giáo viên chốt : Hà tiện, keo kiệt là sử dụng của cải, tiền bạc một cách hạn chế quá
đáng, dới mức cần thiết
- Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm thực hiện yêu cầu tìm và phân loại các hành thể hiện sự vi tiết kiệm và hành vi thể hiện sự xa hoa, lãng phí
b Hớng dẫn giảng dạy đơn vị chuẩn kiến thức : Hiểu đợc ý nghĩa của sống tiết kiệm
và kĩ năng (đa ra cách xử lí phù hợp, thể hiện sự tiết kiệm ; biết thực hành tiết kiệm trong cuộc sống hằng ngày)
- Giáo viên nêu vấn đề, yêu cầu học sinh suy nghĩ (động não) để trả lời :
Theo em, vì sao chúng ta cần phải tiết kiệm ?
+ Giáo viên chốt những lợi ích của việc sống tiết kiệm với bản thân, gia đình và xã hội
- Giáo viên đa ra một sỗ tình huống mở (cha có cách xử lí) và yêu cầu học sinh đa ra cách xử lí với từng tình huống cụ thể thể hiện sự tiết kiệm
- Giáo viên yêu cầu các nhóm lập kế hoạch tiết kiệm sách vở, đồ dùng
Bài 6
Biết ơn
1 Sử dụng Chuẩn kiến thức, kĩ năng để xác định mục tiêu tiết dạy
a Về kiến thức
- Nêu đợc thế nào là biết ơn
- Nêu đợc ý nghĩa của lòng biết ơn
b Về kĩ năng
- Biết nhận xét, đánh giá sự biết ơn ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo của bản thân và bạn
bè xung quanh
- Biết đa ra cách ứng xử phù hợp thể hiện sự biết ơn trong các tình huống cụ thể
- Biết thể hiện sự biết ơn ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, các anh hùng, liệt sĩ của…bản thân bằng những việc làm cụ thể
c Về thái độ
Trang 40- Quý trọng những ngời đã quan tâm, giúp đỡ mình.
a Nêu đợc thế nào là biết ơn
- Biết ơn là sự bày tỏ thái độ trân trọng, tình cảm và những việc làm đền ơn đáp nghĩa với những ngời đã giúp đỡ mình, với những ngời có công với dân tộc, đất nớc
- Lòng biết ơn thể hiện ở thái độ, tình cảm, lời nói, cử chỉ đến hành động đền ơn đáp nghĩa, quan tâm, giúp đỡ, làm những điều tốt đẹp cho ngời mà mình biết ơn Ví dụ : thăm hỏi thầy cô giáo cũ ; hiếu thảo với cha mẹ ; giúp đỡ gia đình thơng binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng
b Nêu đợc ý nghĩa của lòng biết ơn
- Lòng biết ơn tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa ngời với ngời
2.2 Nghiên cứu Sgk và các tài liệu tham khảo để xác định kĩ năng minh họa cho chuẩn kĩ năng
a Biết nhận xét, đánh giá sự biết ơn ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo của bản thân và bạn bè xung quanh
- Tự xem xét lại thái độ, hành vi của bản thân và quan sát thái độ, hành vi của bạn
bè, đối chiếu với những biểu hiện của sự biết ơn để nhận xét, đánh giá thái độ, hành
vi đó là biết ơn hoặc vô ơn, bạc bẽo, thờ ơ
b Biết đa ra cách ứng xử phù hợp thể hiện sự biết ơn trong các tình huống cụ thể
- Học sinh đa ra cách ứng xử trong các tình huống nh : khi đợc ngời khác giúp đỡ ; khi cha mẹ ốm ; khi gặp lại thầy cô giáo cũ hoặc phải thể hiện lòng biết ơn đối với những ngời không trực tiếp giúp đỡ, chăm sóc, dạy dỗ mình (những ngời có công với cách mạng và gia đình của họ) thể hiện đạo lí của dân tộc ta “Uống nớc nhớ nguồn” Ví dụ : Nhà trờng tổ chức đi thăm hỏi bà mẹ Việt Nam anh hùng hoặc làm