1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM

21 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 111 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Một số vấn đề lý luận cơ bản 1. Nguồn nhân lực Có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng số người trong độ tuổi lao động. Theo luật lao động Việt Nam thì người trong độ tuổi lao động gồm có: Nam từ 15 đến 60 tuổi và Nữ 15 đến 55 tuổi. Nguồn nhân lực là lực lượng chính tham gia vào quá trình lao động, tạo ra của cải cho xã hội và thúc đẩy sự đi lên của xã hội. Do đòi hỏi của quá trình CNHHĐH nên nguồn lực này cũng phải có năng lực tương xứng: Có đức có tài, ham học hỏi thông minh sáng tạo, làm việc quên mình vì tổ quốc, được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hoá, được đào tạo thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất kinh doanh điều hành vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội, có trình độ khoa học kỹ thuật vươn lên ngang tầm thế giới… Như chúng ta đã biết, từ khi xuất hiện con người đã tiến hành các hoạt động khác nhau như hoạt động kinh tế xã hội văn hoá… trong đó hoạt động kinh tế luôn luôn giữ vị trí trung tâm và là cơ sở cho các hoạt động khác… để tiến hành các hoạt động đó, trước hết con người phải tồn tại, phải có thức ăn, đồ mặc, nhà ở, phương tiện và các thứ cần thiết khác. Do đó, con người phải tạo ra chúng, hay noi cách khác họ phải sản xuất không ngừng với quy mô ngày càng mở rộng. Sản xuất vật chất chính là sự tác động của con người vào tự nhiên nhằm biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của mình. Đây là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người, là cơ sở tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người. Con người tác động vào tự nhiên, cải biến nó cho phù hợp với mình. Ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ họ đã biết sử dụng các công cụ lao động làm từ gỗ, đá… để tác động vào tự nhiên. Dần dần họ sử dụng thành thạo các công cụ này, cùng với việc phát hiện ra một số kim loại như săt, đồng… để tạo ra các dụng cụ lao đông mới… nên năng suất lao đông tăng, đời sống của con người cũng được nâng cao hơn và thúc đẩy xã hội phát triển một cách mạnh mẽ như ngày nay

Trang 1

ĐỀ ÁN MÔN: NGUỒN NHÂN LỰC

Đề tài:

Phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.

Trang 2

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia có nền văn minh lúa nước lâu đời, vốn là 1 đấtnước thuần nông, lao động chủ yếu là thủ công, kỹ thuật còn thô sơ lạc hậu nêntrong một thời gian dài nền kinh tế còn phát triển chậm không theo kip với sự đi lênnhanh chóng của các nước trên thế giới Trong thời đại ngày nay, muốn phát triểnkinh tế nhanh thì trước hết phải xây dựng một nền tảng khoa học kỹ thuật vữngchắc Do đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đề ra chiến lược phát triểnkinh tế xã hội Việt Nam trong 10 năm tới là đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đạihoá (CNH-HĐH) theo định hướng XHCN, xây dựng nền tảng để đến năm 2020nước ta cơ bản là một đất nước công nghiệp Nước công nghiệp ở đây được hiểu làmột đất nước có nền kinh tế mà trong đó lao động công nghiệp trở thành phổ biếntrong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế

Để thực hiện muc tiêu tổng quát trên một cách thành công đòi hỏi phải cócác tiền đề cần thiết, phát huy được nội lực vốn có như tài nguyên thiên nhiên, cơ

sở hạ tầng kỹ thuật; huy động vốn và sử dụng vốn 1 cách có hiệu quả, mở rộngkinh tế đối ngoại để tranh thủ nguồn vốn từ bên ngoài, để hoc tập khoa học kỹ thuậtcủa họ …, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước và đặc biệtkhông thể thiếu là việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả vì muốnthực hiện CNH-HĐH phải phát triển một cách tương xứng năng lực của người quản

lý và sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại Nguồn nhân lực đó bao gồmnhững người có đức có tài, ham học hỏi, được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hoá và

kỹ năng nghề nghiệp…

Để có nguồn nhân lực phù hợp như vậy thì phải coi việc đầu tư cho giáo dụcđào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, giáo dục và đào tạophải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, cần phải đào tạo ra một cơ cấu nhân lựcđồng bộ, bao gồm mọi lĩnh vực và với quy mô tốc độ phù hợp với từng thời kỳtrong quá trình CNH-HĐH Đi đôi với việc đào tạo phải bố trí và sử dụng tốt nguồn

Trang 3

nhân lực đã được đào tạo ấy để họ phát huy được đầy đủ khả năng, sở trường vànhiệu tình lao động sáng tạo của họ.

Thực tế trong thời gian qua, nguồn nhân lực của ta tuy đã có sự nâng cao đểđáp ứng cho quá trình CNH-HĐH của đất nước, tuy nhiên vãn còn chưa theo kịpvới các quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới Một trong những nguyên nhân

là do kết quả của quá trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực chưa cao, chưa đápứng được đòi hỏi của nên CNH-HĐH Do đó nền kinh tế của nước ta còn chưa thực

sự phát triển mạnh

Chính vì lý do trên mà em chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực ở Việt

Nam” để tìm những giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụng nguồn

nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH ở Việt Nam

Đây là một đề tài thuộc cấp vĩ mô, tuy nhiên trong bài viết này em chỉ xintìm hiểu về thực trạng và giải pháp để nâng cao hiệu quả của đào tạo và sử dụngnguồn nhân lực

Nội dung của đề tài gồm 3 phần cơ bản:

* Phần 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản

* Phần 2: Thực trạng của việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực ở nước tatrong giai đoạn hiện nay

* Phần 3: Các giải pháp

Trang 4

về năng lực sản xuất kinh doanh điều hành vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội, cótrình độ khoa học kỹ thuật vươn lên ngang tầm thế giới…

Như chúng ta đã biết, từ khi xuất hiện con người đã tiến hành các hoạt độngkhác nhau như hoạt động kinh tế - xã hội - văn hoá… trong đó hoạt động kinh tếluôn luôn giữ vị trí trung tâm và là cơ sở cho các hoạt động khác… để tiến hành cáchoạt động đó, trước hết con người phải tồn tại, phải có thức ăn, đồ mặc, nhà ở,phương tiện và các thứ cần thiết khác Do đó, con người phải tạo ra chúng, hay noicách khác họ phải sản xuất không ngừng với quy mô ngày càng mở rộng Sản xuấtvật chất chính là sự tác động của con người vào tự nhiên nhằm biến đổi nó cho phùhợp với nhu cầu của mình Đây là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt độngcủa con người, là cơ sở tồn tại và phát triển của con người và xã hội loài người.Con người tác động vào tự nhiên, cải biến nó cho phù hợp với mình

Ngay từ thời kỳ nguyên thuỷ họ đã biết sử dụng các công cụ lao động làm từ

gỗ, đá… để tác động vào tự nhiên Dần dần họ sử dụng thành thạo các công cụ này,cùng với việc phát hiện ra một số kim loại như săt, đồng… để tạo ra các dụng cụlao đông mới… nên năng suất lao đông tăng, đời sống của con người cũng đượcnâng cao hơn và thúc đẩy xã hội phát triển một cách mạnh mẽ như ngày nay Chính

Trang 5

vì vậy có thể khẳng định rằng nguồn nhân lực chính là lực lượng chính tham giavào quá trình sản xuất tạo của cải vật chất cho xã hội và thúc đẩy sự phát triểnkhông ngừng của xã hội.

Để quá trình sản xuất ấy có hiệu quả thì yêu cầu được đặt ra cho nguồn nhânlực là không chỉ dồi dào về số lượng mà còn phải có chất lượng tốt Đó là một yêucầu tất yếu, nhất là trong thời kỳ CNH-HĐH hiện nay, khi mà nền khoa học kỹthuật trên thế giới phát triển mạnh Và muốn thực hiện có hiệu quả thì cũng cầnphải hiểu rõ thê nào là CNH-HĐH

2 Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

Ở thế kỷ XVII-XVIII, khi cách mạng công nghiệp được tiến hành ở tây âu,CNH được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máymóc Nhưng khái niệm này mang tính lịch sử, tức là luôn có sự thay đổi cùng với

sự phát triển của nền sản xuất xã hội, của khoa học công nghệ Kế thừa có chọn lọctri thức văn minh của nhân loại và rút kinh nghiệm trong lịch sử tiến hành CNH và

từ thực tiễn ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nghị BCH Trung ương lần thứ 7khoá VI và đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 7 Đảng cộng sản Việt Nam xác định:CNH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt đông sản xuất kinh doanh,dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang

sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện vàphương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghệ và tiến bộ khoahọc công nghệ tạo ra năng suất lao động cao

Như vậy có thể thấy đây là một khái niệm được xác đinh theo tư tưởng mới,khong bó hẹp trong phạm vi trình độ lực lương sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơnthuần mà còn bao gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh, cả về dịch vụ, quản lýkinh tê-xã hội…

Có thể thấy CNH trước hết là phải gắn liền với hiện đại hoá Hiện nay trênthế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại nên phải tranhthủ ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng này, tiếp cận kinh tế tri thức để

Trang 6

tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành,các khâu, các lĩnh vực sảnxuất xã hội.

Mặt khác có thể thấy CNH nhằm mục tiêu độc lập và CNXH Hoạt động này

là tất yếu nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tăng thêm sức mạnh bảo vệ dântộc

Hơn nữa, hiện nay nước ta phát triển CNH-HĐH trong điều kiện cơ chế thịtrường có sự quản lý, điều tiết của nhà nước Để thực hiện được mục tiêu này đòihỏi phải có sự vận dụng khách quan các quy luật kinh tế, mà trước hết là quy luậtthị trường Bên cạnh đó, trong nền kinh tế mở hiện nay, thực hiện cũng có thuận lợi

là nước ta có thể tận dụng, tranh thủ thành tựu của thế giới và sự giúp đữ quốc tế,nhưng cũng có nhiều khó khăn như tác động tiêu cực từ nền kinh tế thế giới… cóthể thấy một trong những yêu cầu của CNH-HĐH là phải đảm bảo xây dựng nềnkinh tế nước ta là một nền kinh tế độc lập tự chủ

Từ những đặc điểm trên ta thấy việc tiến hành CNH-HĐH là một tất yếukhách quan

Việt nam đi lên CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu cơ sở vật chất kỹthuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuấtXHCN mới đựơc thiết lập còn chưa hoàn thiện, hơn nữa còn bỏ qua thời kỳ quá độlên CNXH nên gặp nhiều khó khăn Mà CNXH muốn tồn tại, phát triển được cầnphả có một nền kinh tế phát triển và ổn định, có nền tảng cơ sở vật chất vững chắc

Vì vậy quá trình CNH chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nềnkinh tế quốc dân, để tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH, phát triểnmạnh mẽ lực lượng sản xuất, góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất chủ nghĩa

Chính vì tầm quan trọng đó nên từ thập niên 60 của thế kỷ XX Đảng cộngsản Việt Nam đã đề ra đường lối CNH và coi đó là nhiệm vụ trung tâm xuyên suốtthời kỳ quá độ lên CNXH Thực hiện CNH là tạo ra điều kiện vật chất kỹ thuật cầnthiết về con người và khoa học công nghệ, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinhtế… để không ngừng tăng thêm năng suât lao động, tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao

Trang 7

được vai trò của con người-nhân tố trung tâm của nền kinh tế XHCN CNH-HĐHtạo điều kiện vật chất để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vững mạnh, tạotiền đề xây dựng nền quốc phòng an ninh… để xây dựng thành công CNXH ở ViệtNam.

Chính vi vậy mà CNH-HĐH được coi là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời

kì quá độ lên CNXH ở Việt Nam Đảng ta đã đề ra các nội dung cơ bản, trước hêt

là “phát triển lực lượng sản xuất-cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH trên cơ sở thựchiện cơ khí hoá nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học côngnghệ hiện đại”; chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá, hợp lý và hiệuquả cao; thiết lập quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng CNXH Cụ thể, trongnhững năm trước mắt Đảng ta đặc biệt coi trọng CNH-HĐH nông nghiệp ở nôngthôn, ưu tiên phát triển công nghiệp nhẹ và có chon lọc một số cơ sở công nghiệpnặng, cải tạo, mở rộng nâng cấp, xây dựng mới có trọng điểm kết cấu hạ tầng vậtchất của nền kinh tê; phát triển nhanh dịch vụ, du lịch; phát triển hợp lý các vùnglãnh thổ và mở rọng hoạt động đối ngoại

Để hoàn thành các nhiệm vụ đã để ra đòi hỏi phải không ngừng tạo dựng nêncác tiền đề như nguồn vốn, khoa học công nghệ, kinh tế đối ngoại và đặc biệt đầotạo sử dụng nguồn nhân lực vì đây cũng là một yếu tố quan trọng quyết định thànhcông sự nghiệp CNH-HĐH

3 Yêu cầu của quá trình CNH-HĐH đối với nguồn nhân lực

Như trên chung ta đã thấy được tầm quan trọng của CNH-HĐH và sự tácđộng to lớn của nó với sự phát triển nền kinh tế xã hội và trong bất kỳ lĩnh vực gìthì nhân tố con người cũng là một nhân tố quan trọng nhất

CNH-HĐH không chỉ đòi hỏi phải có vốn, kỹ thuật, tài nguyên mà còn cầnphải phát triển một cách tương xứng năng lực của người sử dụng những phươngtiện đó Vì để phát triển đất nước cần phải sản xuất và áp dụng khoa học công nghệtiên tiến vào sản xuất Muôn bắt kịp sự tiến bộ của thế giới thì cần phải đào tạongười lao động về năng lực chuyên môn, kỹ thuật… để có thể áp dụng một cách tối

Trang 8

đa thàh tựu của khoa học vào sản xuất Nguồn nhân lực cần phải qua đào tạo, được

sử dụng một cách hợp lý CNH-HĐH đòi hỏi người lao động phải có sưc khoẻ vàthể lực tốt Muốn vậy phải đảm bảo vấn đề dinh dưỡng, phát triển y tế, cải thiệnmôi trường sống… nhằm chăm sóc tốt sức khoẻ và nâng cao thể lực cho người laođộng Trong nguồn nhân lực mới này việc xây dựng giai cấp công nhân là 1 nhiệm

vụ trọng tâm Vì chỉ khi nào giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình

độ tổ chức, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, có khả năng làm chủ khoa học kỹthuật và công nghệ mới… thì mới có thể làm nòng cốt của liên minh công-nông-tri,tập hợp và đoàn kết với các thành phần khác, phấn đấu xây dựng thành công sựnghiệp CNH-HĐH Chúng ta cần phải có 1 nguồn nhân lực đồng bộ trong mọi lĩnhvực, phải được tiến hành với tốc độ và quy mô thích hợp với từng thời kỳ pháttriển

Vì vậy xác định nguồn nhân lực phải được qua đào tạo và được bố trí sửdụng tốt để họ có thể phát huy đầy đủ khả năng, sở trường và nhiệt tình lao độngsáng tạo để tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đóng gop xứngđáng vào sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Đây là nhiệm vụ rất quan trọng và khôngkém phần khó khăn với Đảng và nhà nước

II Thực trạng của việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của nước ta hiện nay

1 Thực trang của nguồn nhân lực

Như phần lý luận đã trình bày, việc đào tạo nguồn nhân lực cho phù hợp làmột vấn đề không đơn giản, đòi hỏi phải có những biện pháp, đường lối chính sách

cụ thể Thực tế trong thời gian vừa qua nguồn lực này đã được Đảng và nhà nướcquan tâm hơn, đã có nhiều bước chuyển biến đáng kể Có thể thấy Việt Nam là mộtđất nước đang phát triển có dân số khá đông, lượng dân trong độ tuổi lao động cao.Nêu được đào tạo đúng hướng và sử dụng có hiệu quả thì chắc chắn sẽ góp phầnthúc đẩy cho sự phát triển đi lên của CNH-HĐH đất nước

Trang 9

Nhìn nhận một cách tổng thể khách quan, trong quá trình lao động sản xuất,người Việt Nam mạng nhiều ưu điểm và cũng có những nhược điểm cần phải khắcphục Trước hết chúng ta được kế thừa truyền thống lâu đời của dân tộc Đó là tínhcách chịu thương chịu khó, là sự cần cù, chăm chỉ, ham học hỏi; không những thế,

họ còn là những người rất khéo léo trong công việc, có đầu óc thông minh và sựsáng tạo… từ sưa đến nay ông cha ta luôn đề cao sự chăm chỉ cần cù trong laođộng, chịu đựng vất vả để sản xuất Khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, máymóc còn ít, lao động chủ yếu ở nước ta là lao động thủ công bằng tay chân và cáccông cụ thô sơ, họ đã biết lợi dụng tự nhiên, bắt tự nhiên phục vụ mình, nhìn nhânđược một cách tổng quan về thiên nhiên để từ đó rút ra những kinh nghiêm quý báocho lao động sản xuất, đã được thể hiện trong những câu ca dao, tục ngữ còn lưutruyền đến ngay nay Đó chính là sự thông minh sáng tạo của người xưa, dựa trênđức tính chịu thương chịu khó vượt qua khó khăn vất vả để xây dựng nên một nềnvăn hóa truyền thống lâu đời… Cho đến nay, mỗi người dân trong đất nước ViệtNam đều được kế thừa các truyền thống ây nên có thể nói rằng nguồn nhân lựcnước ta có một tiềm năng lớn, nếu được đào tạo và sử dụng đúng cách thì điều đógiúp cho việc sản xuất trở nên thuận lợi hơn rất nhiều và sẽ góp phần đẩy nhanhtiến trình thực hiện mục tiêu CNH-HĐH đất nước

Tuy nhiên, không phải là hoàn toàn hoàn hảo mà nguông lực này cũng cómột số nhược điểm nhất định mà nếu không được khắc phục kịp thời sẽ làm choviệc thực hiện mục tiêu CNH-HĐH gặp khó khăn không nhỏ

Trước hết đó là trình độ chuyên môn kỹ thuật còn chưa cao Do Việt Nam làmột đất nước nông nghiệp lạc hậu, xuất phát điểm thấp, lại trải qua một thời giandài sống trong chiến tranh, trong khi đó các nước trên thê giới đã có một nền kinh

tế khá ổn định, đã thực hiện được các cuôc cách mạng công nghiệp nên họ co 1trình độ kỹ thuật cao, có cơ sở, nền tảng để phát triển công nghiệp… Điều đó tạonên một khoản cách về trình độ giữa người lao động Việt Nam và của các nước tiến

bộ khac trên thê giới Khi nước ngoài sử sử dụng chủ yếu máy móc hiện đại, công

Trang 10

nghệ kỹ thuật cao thì nước ta mới bắt đầu xây dựng cơ khí hoá với tay nghề cònnon kém, vẫn mang tính chất thủ công thô sơ, năng xuất lao động còn chưa cao nênkhông bắt kip với sự phát triển ngay một nhanh của nên khoa học kỹ thuật ở cácnước phát triển Đây cũng là nhược điểm lớn nhất của nguồn nhân lực Việt Nam.

Không những thế, do nước ta mới chuyển từ cơ chế quản lý tập chung baocâp sang cơ chế mới nên chất lượng quản lý chưa cao, chưa tổ chức được thànhmột hệ thống quản lý xuyên xuốt, còn thiếu những nhà tổ chức có đầu óc… màmuốn xây dựng thành công sự nghiệp CNH-HĐH thì cần phải có một bộ máy nhànước làm nhiệm vụ quản lý tốt và đưa ra các định hướng cho sự phát triển… Chính

vì vậy việc thiếu người có trình độ quản lý dẫn đến chất lượng quản lý chưa caocũng gây cho ta nhiều khó khăn

Một thực trạng của nguồn nhân lực nước ta cũng cần được khắc phục đó làviệc sử dụng và phân công lao động không đồng đều, Một số đông người lao động

có những tác phong không phù hợp như thụ động, tư tưởng làm ăn nhỏ… Tất cảnhững điều trên đều là khuyết điểm không nhỏ, gây nhiều khó khăn cho việc đàotạo cũng như sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng

tổ quốc

2 Thực trạng của công tác đào tạo

Từ sau đổi mới và xuất phát từ đặc điểm của nguồn nhân lực Đảng và nhànước đề cào tới vấn đền giáo dục đào tạo nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho thời

kỳ mở cửa Tuy nhiên trong công tác đào tạo vẫn còn biểu hiện nhiều bất cập

Thứ nhất, đó là tỉ lệ lao động qua đào tạo còn thấp Lao động phổ thông làchủ yếu Năm 1997, tỉ lệ được qua đào tạo là 12,2%, năm 1998 là 13,3% Tuy tỉ lệnày vẫn tăng sau các năm nhưng tốc độ còn chậm Ở nước ta tuy dân số có đông, sốngười trong độ tuổi lao động khá cao nhưng chủ yếu vẫn là lao động phổ thông đơngiản Số người được đào tạo qua các trường dạy nghề, các trường cao đẳng, đại họcsau đại học là chưa cao, chiếm tỷ lệ nhỏ trong phần đông dân số Chính vì thế màchất lượng của người lao động Việt Nam còn thấp

Ngày đăng: 12/02/2015, 19:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w