Chính vì thế, chúng tơi chọn đề tài “Phương pháp dạy cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6” để giúp giáo viên và học sinh giải quyết được phần nào những thắc mắc và trở ngại.Từ đĩ, cĩ hướn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
LÊ THANH PHONG TRƯƠNG ĐÀO XUÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn:
Thạc sĩ : NGUYỄN THỊ BỘ
ĐỒNG THÁP , Năm 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng nhóm tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là trung thực, được các tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả khóa luận
1/Lê Thanh Phong
2/ Trương Đào Xuân
3/ Lê Thị Ngọc Đào
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận “ Phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong ngữ văn 6” chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ.Nay chúng tôi kính lời cảm ơn đến:
- Ban giám hiệu , các phòng ban trường đại học Đồng Tháp
- Các giảng viên trong khoa ngữ văn
Xin chân thành cảm ơn
Tác giả khóa luận
1/Lê Thanh Phong
2/ Trương Đào Xuân
3/ Lê Thị Ngọc Đào
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan 2
Lời cảm ơn 3
Mục lục 4
MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Cấu trúc đề tài 9
8 Đóng góp của đề tài 9
NỘI DUNG 10
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TẬP LÀM VĂN Ở THCS 1.1Khái quát về văn miêu tả 10
1.1.1.Khái niệm 10
1.1.2 Đặc điểm của bài văn miêu tả 11
1.1.3 Những yêu cầu khi làm bài văn miêu tả 12
1.1.4.Các bước làm bài văn miêu tả 14
1.1.41.Tìm hiểu đề 15
1.1.4.2.Quan sát-tìm ý 16
1.1.4.3.Sắp xếp ý-Lập dàn ý 21
1.1.4.4.Tạo bài văn 25
1.1.4.5.Đọc lại và sửa chữa 28
1.1.5.Dàn ý một bài văn miêu tả 29
1.1.5.1.Mở bài 29
1.1.5.2.Thân bài 29
1.1.5.3.Kết bài 29
1.2.Văn miêu tả trong chương trình phân môn Tập làm văn ở Trung học cơ sở 31
Chương 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 6 CỦA 3TRƯỜNG: Trung học cơ sở Đông Thạnh, Đông Thành và Long An 2.1 Khảo sát thực trạng dạy học văn miêu tả trong Tập làm văn 6 ở 3 trường: Trung học cơ sở Đông Thạnh, Đông Thành và Long An 34
2.1.1Mục đích khảo sát 34
1.1.2.Đối tượng và địa bàn khảo sát 34
2.1.3.Hình thức khảo sát 34
2.1.4.Nội dung và kết quả khảo sát 35
2.1.4.1.Khảo sát việc dạy văn miêu tả của giáo viên 35
2.1.4.2 Khảo sát việc học văn miêu tả của học sinh 37
2.2.Những nhận định khái quát về thực trạng dạy học trong Tập làm văn 6 ở 3 trường:Trung học cơ sở Đông Thạnh, Đông Thành và Long An 40
Trang 52.2.1.Tình hình chung 40
2.2.2.Mặt mạnh 40
2.2.3.Hạn chế 41
2.2.4.Nguyên nhân 41
Chương 3: TỔ CHỨC DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 6 3.1.Định hướng chung 43
3.2.Tổ chức dạy học các bài văn miêu tả trong chương trình Tập làm văn lớp6 46
3.2.1.Đối với kiểu bài lí thuyết 46
3.2.2.Đối với kiểu bài thực hành 49
3.2.4.Đối với kiểu bài ôn tập 51
3.3 Dạy thể nghiệm 53
3.3 1 Mục đích, yêu cầu thể nghiệm 53
3.3.2 Đối tượng 53
3.3.3.Tổ chức dạy thể nghiệm 53
3.3 4 Đánh giá kết quả 53
3.3.4.1 Tiêu chuẩn đánh giá 53
3.3.4.2 Phương tiện đánh giá thể nghiệm 54
3.3.4.3 Đánh giá kết quả thể nghiệm 54
KẾT LUẬN 56
TÀI LIÊU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 59
Trang 6Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả Giáo dục-Đào tạo, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến việc đổi mới một cách toàn diện chương trình nội dung, phương pháp dạy học Trong đó, việc đổi mới theo phương pháp hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh là vấn đề then chốt và đã được cụ thể hóa trong điều 24.2 Luật giáodục “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Tuy nhiên, đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là phủ nhận phương pháp dạy học truyền thống, chỉ sử dụng phương pháp mới Vấn đề là người giáo viên phải biết lựa chọn, sử dụng phối hợp, linh hoạt các phương pháp dạy học mới, để tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Muốn vậy, khi tiến hành các phương pháp dạy học, giáo viên phải thực hiện phối hợp khéo léo các phương pháp, chú ý phát huy tính tích cực, chủ động, bồi dưỡng phương pháp tự học Trong đó, dạy học theo cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6 cũng là một phương pháp rất quan trọng Nó giúp người học hình thành những kiến thức và kỹ năng liên qua thông qua những nhiệm vụ mang tính
mở, khuyến khích học sinh tìm tòi, hiện thực hóa, tái hiện những kiến thức trong quá trình thực hiện và tạo ra những sản phẩm của chính mình Đây là một phương pháp có ý nghĩa to lớn trong việc đáp ứng yêu cầu mới của xã hội
b.Cơ sở thực tiễn.
Thực tế cho thấy, trong việc dạy học Ngữ văn, hiện nay học sinh chủ yếu gặp khó khăn trong phân môn Tập làm văn Các em vẫn rất lúng túng trước một đề tập làm văn từ khâu lập dàn ý đến khâu sáng tạo một văn bản Nguyên nhân có từ rất nhiều phía, tuy nhiên, một trong những nguyên nhân chính là khâu rèn kỹ năng thực hành tiếng Việt của các em chưa được chú ý đúng mức, ngay từ những năm học tiểu học Các em còn rất thụ động trước cách giải quyết các yêu cầu nêu
ra của đề bài, thụ động tiếp thu bài mẫu, mặt khác trong cuộc sống, các em chưa
có ý thức tích lũy tri thức, làm giàu vốn liếng phục vụ cho việc viết thành công một bài văn Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh chưa nhận thức được yêu cầu của
đề, chưa tự tin trong cách suy nghĩ và rất hạn chế trong việc viết văn
Bên cạnh đó, ở một số tiết học Tập làm văn giáo viên còn nói nhiều, chưa khơi gợi huy động vốn hiểu biết, cách sử dụng từ ngữ mà bắt học sinh học nhiều, yêu cầu học sinh nhớ nhiều để bắt chước rồi “ làm văn
Trang 7Chính vì vậy, việc dạy và học cụm bài văn miêu tả cũng gặp khơng ít khĩ khăn, nhất là ở giáo viên Từ việc hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu chung về văn miêu tả, tìm hiểu đề và tìm ý, tập làm dàn ý, dựng đoạn, viết bài cho đến ơn tập cũng là một quá trình làm cho giáo viên và học sinh đơi lúc cịn gặp lúng túng trong việc truyền thụ và tái hiện Chính vì thế, chúng tơi chọn đề tài “Phương pháp dạy cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6” để giúp giáo viên và học sinh giải quyết được phần nào những thắc mắc và trở ngại.Từ đĩ, cĩ hướng hướng dẫn, truyền thụ và học tập về văn miêu tả tốt hơn, đem lại cho giáo viên và học sinh cĩ những kết quả tối ưu về tri thức và kĩ năng làm văn miêu tả Đồng thời cũng giúp cho họ biết hình dung ra những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật,
sự việc, con người, phong cảnh làm cho vật, việc, người, cảnh đĩ như hiện lên trước mắt người đọc
Mong rằng với đề tài này, sẽ gĩp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc dạy học cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6 nĩi riêng và trong văn miêu tả nĩi chung
2.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ:
Từ trước tới nay cĩ rất nhiều cơng trình, tài liệu nghiên cứu việc giúp học sinh học tốt các phân mơn của ngữ văn như: học tốt Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn ở tất cả các khối lớp.Thế nhưng lại chưa cĩ tài liệu nào đề cập đến phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả Do đĩ, đây là đề tài khá mới mà bản thân chúng tơi muốn tìm hiểu để tìm ra những phương pháp và giải pháp cĩ thể giúp cho giáo viên và học sinh dạy và học tốt cụm bài văn miêu tả nhất là học sinh lớp
6, đồng thời gĩp phần trang bị cho học sinh những kĩ năng liên quan đến việc tạo lập bài văn miêu tả mà các em được học trong chương trình ngữ văn 6
Thể loại văn miêu tả được đưa vào chương trình học của Việt Nam trong chương trình tiểu học lớp 4-5 và khi lên Trung học cơ sở thì được tìm hiểu kỹ hơn ở lớp 6 Khi lên lớp 7-8-9 thì văn miêu tả được tiếp tục kết hợp với tự sự, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh Có nhiều nhà nghiên cứu về thể loại này Thể loại này có nhiều loại sách của nhà xuất bản giáo dục như sách giáo khoa phân môn tập làm văn 6 ,văn 7 xuất bản năm 1995 đến năm 2002 Bản thân người viết đề tài đang trực tiếp giảng dạy nên tiếp thu kiến thức qua sách giáo khoa Ngữ văn 6, sách giáo viên Ngữ văn 6 , dàn bài ,bài tập làm văn và một số sách tư liệu tham khảo khác
Thời gian nghiên cứu ,tìm hiểu về những vấn đề thuộc thể loại vănø miêu tả còn quá ít ỏi, chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế ,chưa sâu sắc Vì vậy trong quá trình giảng dạy chúng tôi sẽ tiếp tục học tập và hoàn thiện
3.NHIỆM VỤ VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài “Phương pháp dạy học cụm bài ngữ văn 6” sẽ giải quyết những nhiệm vụ sau:
-Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong ngữ văn 6
-Đề xuất cách tổ chức, sử dụng phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong ngữ văn 6
Trang 83.2 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm khẳng định vai trò và hiệu quả của phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong ngữ văn 6, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học về văn miêu tả ở Trung học cơ sở
4.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Chúng tôi chọn học sinh khối 6 của 3 trường là:Trường Trung học cơ sở Đông Thạnh, Trường Trung học cơ sở Đông Thành và Trường Trung học cơ sở Long An đề làm đối tượng nghiên cứu của đề tài đồng thời đề tài cũng lấy quá trình tổ chức trong việc dạy và học cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6 làm đối tượng nghiên cứu
5.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả là một phương pháp hoàn toàn mới trong các phương pháp dạy học.Đặc điểm của phương pháp này là lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là người tổ chức, hướng dẫn trong quá trình dạy học.Chính vì thế, nó sẽ tạo cho học sinh biết tự tìm tòi, khám phá , phát hiện và
tự tìm ra tri thức mới đồng thời cũng giúp cho học sinh phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập.Do đó nếu nghiên cứu thành công, đề tài sẽ khẳng định lợi ích và tính khả thi trong việc dạy và học của cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6 nói riêng và trong dạy học văn miêu tả ở Trung học cơ sở nói chung
6.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp tổng hợp lí luận và thực tiễn:
Đây là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu khoa học, bản chất của phương pháp này là dựa trên các tài liệu đã có bằng các thao tác tư duy lô gic để rút ra kết luận khoa học Phương pháp này được sử dụng để thu thập nguồn tư liệu nghiên cứu lịch sử vấn đề và cơ sở lí luận của đề tài
6.2 Phương pháp điều tra khảo sát thu thập tư liệu:
Phương pháp điều tra , khảo sát thu thập tư liệu là phương pháp cơ bản để thu thập thông tin khoa học cần thiết cho đề tài Chúng tôi sử dụng phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6 để điều tra, khảo sát thực trạng việc học văn miêu tả của học sinh qua ba trường Trung học cơ sở Đông Thạnh , trường Trung học cơ sở Đông Thành và trường Trung học cơ sở Long An
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Phương pháp này có vị trí đặc biệt quan trọng của khoa học giáo dục nói chung và phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả nói riêng Đây là phương pháp được sử dụng dạng thể nghiệm nhằm chứng minh cho những cơ sở
lí luận vừa nêu ra đồng thời có thể điều chỉnh những bất cập trong đề tài
6.4 Phương pháp hệ thống:
Phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả là một phương pháp dạy học
có cấu trúc chặt chẽ, các bước thực hiện trong qui trình có mối quan hệ mật thiết với nhau.Chúng tôi vận dụng phương pháp này để xử lí mối quan hệ giữa các bước của phương pháp dạy học theo cụm bài văn miêu tả và mối quan hệ dạy học bằng phương pháp hợp tác với việc phát huy tính tích cực , chủ động, sáng tạo của học sinh
Trang 97.CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI:
Gồm:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: gồm có ba chương:
+ Chương 1: Những tiền đề lí luận của việc dạy học văn miêu tả trong chương trình Tập làm văn ở Trung học cơ sở
+Chương 2: Thực trạng dạy học văn miêu tả trong phân môn tập làm văn
ở lớp 6 của 2 huyện Bình minh và Long Hồ
+ Chương 3: Tổ chức dạy học văn miêu tả trong phân môn tập làm văn ở lớp 6
Trang 10NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ LUẬN CUÛA VIEÄC DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TẬP LÀM VĂN Ở THCS.
1.1.Khái quát về văn miêu tả.
1.1.1.Khái niệm.
Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển, miêu tả là “Lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”.Vì thế trong cuộc sống hàng ngày, muốn mọi người cùng nhận ra điều mình thấy, đã làm, đã sống chúng ta cần miêu tả Mỗi bài văn miêu tả là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, là sản phẩm, là sự đúc kết của sự việc tiếp thu và vận dụng những kiến thức đã học Hay nói một cách khác:
Văn miêu tả là loại văn để trình bày những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc, con người, phong cảnh nhằm làm cho những cái được miêu tả như hiện lên trước mắt người đọc, người nghe, giúp cho họ có thể hình dung ra chúng một cách cụ thể, sinh động Nói một cách khái quát, văn miêu tả là loại văn thể hiện những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự việc, con người, phong cảnh một cách sinh động cụ thể như nó vốn có trong đời sống Đây là loại văn giàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng và sự đánh giá của con người đối với sự vật, sự việc, con người
Chúng ta hãy đọc đoạn văn miêu tả sau đây của nhà văn Tô Hoài:
“Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng- những màu vàng rất khác nhau
Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cúng và sáng ngày ra thì trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại Nắng nhạt ngã màu vàng hoe Trong vườn lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng Từng chiếc lá mít vàng ối Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi Buồng chuối đốm quả chín vàng Những tàu lá chuối vàng ối xỏa xuống như những đuôi áo, vạt áo Nắng vườn chuối đương gió lẫn với lá vàng như nhũng vạt áo nắng, đuôi áo nắng, vẫy vẫy Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn Quanh đó, con gà, con chó cũng vàng mượt Mái nhà phủ một màu rơm vàng mới, lác đác cây lựu có mấy chiếc lá
đỏ Qua khe dậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chói Tất cà đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng Không còn có cảm giác héo tàn, hanh hao lúc sắp bước vào mùa đông.”
Dẫu chưa một lần tận mắt chứng kiến quang cảnh làng mạc ngày mùa, nhưng chỉ cần đọc những dòng miêu tả tinh tế, giàu cảm xúc đó của Tô Hoài, ta cũng có thể hình dung rất rõ một bức tranh phong cảnh làng quê với những sắc vàng vô cùng phong phú và sống động- sắc vàng của mùa gặt, mùa thu hoạch, mùa no ấm, mùa hạnh phúc Thế mới thấy, một đoạn văn miêu tả hay có tác dụng
kì diệu như thế nào!
Khi chúng ta cần tái hiện hoặc giới thiệu với ai đó trông thấy hoặc chưa hình dung ra được về một sự vật, sự việc, con người ta cần dùng văn miêu tả
Trang 11- Như những tình huống sau:
+ Tình huống 1: Trên đường em đi học, em gặp người khách hỏi thăm
đường về nhà em Đang phải đến trường, em phải làm thế nào để người khách nhận ra được nhà của mình?
+ Tình huống 2: Em cùng mẹ đến của hàng mua áo, trước mắt cĩ nhiều chiếc áo khác nhau, nhiều màu vẻ, treo tận trên cao, làm thế nào để người bán hàng lấy xuống được chiếc áo mà em định mua ?
+ Tình huống 3: Một học sinh lớp 3 hỏi em: Người lực sĩ là người như thế
nào? Em phải làm gì để học sinh ấy hình dung ra được hình ảnh của người lực sĩ? Như vậy trong các tình huống trên, ta điều phải dùng văn miêu tả
Miêu tả giỏi khi đọc những gì chúng ta viết, người đọc như thấy những cái
đĩ hiện ra trước mắt mình: một con người, một con vật, một dịng sơng Người đọc cịn cĩ thể nghe được cả tiếng nĩi, tiếng kêu, tiếng suối chảy Thậm chí cịn ngửi thấy được mùi mồ hơi, mùi sữa Nhưng đĩ mới chỉ là miêu tả bên ngồi, cịn cĩ sự miêu tả bên trong nữa, nghĩa là miêu tả về tâm trạng vui, buồn, yêu, ghét của con người,con vật và cả cỏ cây
Tập làm văn lớp 6 gồm các hình thức: Tả cảnh ( tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh vật, tả hiện tượng ), tả người ( tả hình dáng, tả hoạt động )
1.1.2 Đặc điểm của bài văn miêu tả.
Miêu tả là dạng bài tập làm văn yêu cầu học sinh dùng từ ngữ để tái hiện lại sự vật, con người với các trạng thái, tính chất và hoạt động của chúng nhằm giúp cho người đọc, người nghe như đang được tận mắt nhìn thấy đối tượng được tả đang dần hiện ra qua từng con chữ.Vì vậy, khi viết văn miêu tả, điều quan trọng nhất là phải biết quan sát và dẫn ra được hình ảnh cụ thể, tiêu biểu nhất cho sự vật, con người được miêu tả Tránh tình trạng cái đáng nêu lại khơng nêu, miêu tả chung chung, tả mãi mà người đọc vẫn khơng nhận ra được người viết định tả ai, cái gì?
Chính vì vậy, để người viết làm nổi bật đặc điểm của bài văn miêu tả cần phải: -Cụ thể hĩa: (tả cái gì) Tả người hay tả cảnh thì phải làm sao cho người đọc( người nghe) hình dung được đây là một con người sống thực sự hoặc một cảnh thật sự
-Cá biệt hĩa:(tả như thế nào) Tả người hay tả cảnh thì phải làm cho người đọc( người nghe) hình dung ra được một con người hay một cảnh cụ thể chứ khơng phải chung chung
-Mục đích hĩa:(tả với mục đích gì) Tả người hay tả cảnh đều nhằm mục đích
ca ngợi, khen ngợi, phê phán, châm biếm
-Cảm xúc hĩa:(tả với tình cảm, tư tưởng, thái độ ra sao?) Tả người hay tả cảnh thì phải giúp người đọc thấy được tình cảm, suy nghĩ, thái độ của mình đối với người hoặc cảnh được tả
Trang 121.1.3 Những yêu cầu khi làm văn miêu tả.
-Trước hết, người viết phải làm sống dậy đặc trưng của cảnh vật, con người để giúp cho người đọc hình dung rõ nét trạng thái, tính cách và hoạt động của chúng một cách say sưa, hứng thú.Nói say sưa, hứng thú âu cũng là nói đến phẩm chất chung của yêu cầu sáng tạo Người viết phải mê hoặc lôi cuốn độc giả bằng ma lực trong từng con chữ của mình Yêu cầu này quả là không dễ một chút nào Song, không có nghĩa là không thực hiện được
Chúng ta hãy tìm hiểu cách viết văn miêu tả của Tô Hoài:
“Mùa đông, giữa ngày mùa, làng quê toàn màu vàng- những màu vàng rất khác nhau
Có lẽ bắt đầu từ những đêm sương sa thì bóng tối đã hơi cúng và sáng ngày ra thì trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại Nắng nhạt ngã màu vàng hoe Trong vườn lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng Từng chiếc lá mít vàng ối Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi Buồng chuối đốm quả chín vàng Những tàu lá chuối vàng ối xỏa xuống như những đuôi áo, vạt áo Nắng vườn chuối đương gió lẫn với lá vàng như nhũng vạt áo nắng, đuôi áo nắng, vẫy vẫy Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn Quanh đó, con gà, con chó cũng vàng mượt Mái nhà phủ một màu rơm vàng mới, lác đác cây lựu có mấy chiếc lá
đỏ Qua khe dậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chói Tất cà đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng Không còn có cảm giác héo tàn, hanh hao lúc sắp bước vào mùa đông.”
Bắt đầu là ấn tượng về màu vàng bao trùm toàn làng quê Và liền sau đó, Tô Hoài đã dẫn dắt chúng ta miên man cùng hơn mười sắc độ khác nhau của màu vàng Cứ thế từ nối từ, câu nối câu, người đọc cứ bị cuốn theo sự mê hoặc của từ ngữ trong niềm háo hức kiếm tìm những sắc vàng mới, lạ của ngày mùa Thậm chí, hết đoạn rồi mà cứ ngỡ như còn bao sắc vàng mới vẫn cứ trải ra phía trước, đầy sự gọi mời Văn tả như vậy là đã tạo được sự hứng khởi trong lòng người đọc, là đạt được yêu cầu khó khăn thứ nhất của văn miêu tả rồi đấy
-Phải biết lọc lấy cái gì là riêng, đặc sắc, tiêu biểu nhất để dồn bút lực cho nó Nhà văn Tô Hoài “Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả” đã trích lại của một nhà văn Pháp “một trăm thân cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửa giống nhau cả trăm Mới nhìn tưởng thế nhưng nhìn kĩ thì thân cây bạch dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác nhau.Trong đời ta gặp bao nhiêu người, phải thấy ra mỗi người mỗi khác nhau, không ai giống ai.” cuộc sống vốn rất đa dạng , phong phú Ngay trong một con người, một cảnh vật, cũng
ẩn chứa bao nhiêu đường nét, sắc màu Trong dung lượng một bài tập làm văn, thật khó có thể ôm chứa hết những gì làm nên đối tượng Mặt khác, “văn hay bất luận ngắn dài” Tả nhiều, tả ôm đồm chưa hẳn đã là hay Tả hay còn là ở chỗ, từ những điều quan sát được, phải biết lọc lấy cái gì là riêng, là đặc sắc, là tiêu biểu nhất của đối tượng để dồn bút lực cho nó Để người đọc, có thể quên tất cả nhưng khi sếp trang sách lại thì cái riêng đó vẫn cứ mãi ám ảnh họ, không thể lẫn với bất cứ một đối tượng nào khác
Trang 13Để có thể rõ hơn về yêu cầu này, chúng ta cùng thưởng thức những đoạn văn miêu tả sau:
Tả một thanh niên Mèo khỏe mạnh, nhà văn Ma Văn Kháng viết :“ A Cháng người đệp thật Mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay bắp chân rắn như trắc gụ Vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như cột đá trời trồng” (Trích Người con trai họ Hạng) Như vậy, chỉ qua một vài chi tiết mang tính lựa chọn tinh tế, tác giả đã đem đến cho chúng ta một ấn tượng rất riêng về vẻ đẹp rắn chắc của một chàng trai miền núi
Còn khi tả vẻ đẹp của một cô gái nông thôn khỏe mạnh, chúng ta hãy xem, nhà văn Đào Vũ đã tả khéo như thế nào: “Chấm có một thân thể nở nang rất cân đối Hai cánh tay béo lẳn và chắc nịch, hai vai tròn và cái cổ cao Chấm ước ao
có một mái tóc cho thật dài Đôi lông mày Chấm không tỉa bao giờ, nó mọc lòa xòa tự nhiên, chính lại làm cho đôi mắt sắc sảo của Chấm dịu dàng đi.”(Trích Cái sân gạch) Đọc đoạn văn miêu tả của Đào Vũ, người đọc chúng ta cảm nhận được
vẻ đẹp và rất riêng của những cô gái vùng quê Cái đẹp toát lên từ thân thể nở nang, cánh tay béo lẳn, chắc nịch Nét riêng từ mái tóc đỏ quạnh và không sao dài được, từ đôi lông mày không tỉa bao giờ Đúng là, những chi tiết tả ấy không thể nào dùng được nếu tả vẻ đẹp của những cô gái thị thành.Quan sát tỉ mỉ và chắc lọc ra cái gì là riêng của đối tượng sẻ tạo được hiệu quả thẩm mĩ sâu sắc trong người đọc chính là như thế
Còn bây giờ, chúng ta hãy cùng đến với hai con người cúng đến từ vùng sông nước, nhưng cũng mỗi người một vẻ:
Đây là đoạn văn miêu tả của Nguyễn Tuân: “Ông lái đò Lai Châu bạn tôi làm nghề chở đò dọc suốt sông Đà đã mười năm liền, và thôi làm đò cũng đã đôi chục năm nay Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh
gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giói ôngvòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù”.(Trích Người lái đò sông đà)
Còn đây là đoạn văn của Trần Vân: “ Thằng Thắng, con cá vược của thôn Bần và là địch thủ bơi lội đáng gờm nhất của bọn trẻ, lúc này đang ngồi trên chiếc thuyền đậu ở ngoài cùng Nó cởi trần phơi nước da rám đỏ, khỏe mạnh của những đứa trẻ lớn với nắng gió, nước mặn và gió biển Thân hình nó rắn chắc, cân đối và nở nang: Cổ mập, vai rộng, ngực nở căng, bụng thon hằn rõ những múi, hai cánh tay gân guốc như hai cái bơi chèo, cặp đùi dế to, nở, phía tyrên chắc nịch.”
Điều gì đã làm nên khác nhau đó? Chúng ta sẽ dễ dàng tìm được câu trả lời:
đó là hai con người khác nhau Song, đ0ể vẽ cho sự khác nhau đó quả là không
dễ dàng một chút nào Nhà văn phải quan sát kĩ lưỡng và quan trọng là phải biết lọc lấy trong rất nhiều những gì mình quan sát được những chi tiết khắc chạm được nét riêng Cái riêng ở đây còn nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà văn nữa Miêu tả ông lái đò Lai Châu, người viết nhằm lột tả sự gắn bó của ông với công việc của mình Vậy nên, dù đã thôi làm đò chục năm rồi nhưng tình yêu của ông với nó thì vẫn chẳng thể náo phai được trên dáng vẻ của ông Còn với đứa bé miền biển, Trần Vân không chỉ làm sống dậy những nét đặc trưng của những đứa trẻ miền sống gió mà còn đóng dấu ấn trong cảm xúc của người đọc về một đứa trẻ được tôn là con cá Vược của thôn Bần Vậy nên, những chi tiết tả của hai nhà văn không chỉ cùng tái hiện những nét riêng của những con người ở vùng sông
Trang 14nước mà còn nhằm tạo một ấn tượng về nết riêng của mỗi con người Miêu tả khi đạt đến sự tài hoa như vậy thì củng có nghĩa là đã đáp ứng một cách hiệu quả yêu cầu hết sức khắc khe nhưng cũng thật thú vị của văn miêu tả.
-Bài viết phải giàu cảm xúc Thường là khi làm văn miêu tả, học sinh cứ nghĩ rằng, cảm xúc chỉ cần bộc lộ ở phần mở và kết thúc là đủ Song , các em cần ý thức rằng, cảnh vật xung quanh luông tác động vào cảm giác, tình cảm của con người, gây nên những ấn tượng cảm xúc Do vậy, muốn miêu tả cảnh vật cho sống động thì phải chú ý khêu gợi những cảm xúc, cảm giác mà cảnh vật dấy lên trong lòng mình Nghĩa là phải biết lồng cảm xúc vào ngay trong từng nét tả thì mới có thể tác động đến cảm xúc, khêu gợi cảm giác trong lòng người đọc, lúc ấy hiệu quả thẩm mĩ đạt được mới cao Chúng ta hảy thưởng thức một đoạn văn miêu tả bè rau muống của Băng sơn:
“ Làng quê Việt Nam thường nhiều ao hồ Vươn ra trên ao là giàn mướp hoa vàng, giàn bí hoa trắng, giàn đỗ ván hoa tím Còn trên mật nước ao, hoặc con ngòi rìa làng thường là nhửng bè rau muống bập bềnh Cây tre hoặc cây nứa buộc thành khung, lâu dần rau lấn ra, vượt cái khung chật hẹp với ngọn rau dài, cái tay rau bằng gan tay, máu tím nhạt
Mỗi bè rau muống thường có những chiếc cọc để giử khung Trên đầu cọc, có khi có con chim bói cá xanh biếc, lúc nào cũng im lặng như ngủ gật, nhưng bất thần, nó lao vút xuống mặt ao bắt cá, nhanh như một tia chớp lóe
Cũng có khi là con sáo lạc đàn, con chèo bẻo cô đơn đậu một cách hững hờ rồi bay đi ngay, còn đánh rơi lại tiếng hót lanh lảnh trên bè rau muống Tiếng hót tan đi ngâm vào ngọn rau ngổ, rau rút có cái phao trắng mờ
Mùa đông rau muống ra những cái hoa như hình chuông, màu tím nhạt Đó là những ngày mọi người chuẩn bị đón mùa xuân có ngày tết, có bánh chưng xanh, câu đối đỏ và bao nhiêu điều kì thú khác
Riêng bè rau muống không biết Tết, mà cứ vươn ngọn, ra hoa và tàn lụi đi, già đi trong nỗi chát đắng, có khi còn nhổ hết đi, vớt đem vứt đi để sang xuân ươm giống mới”.(Trích báo Phụ nữ Việt Nam, số 4 8- 1995)
Từ hình ảnh một bè rau muống, tác giả Băng Sơn đâu chỉ dừng lại ở việc tái hiện trước mắt chúng ta một vẻ đẹp bình dị ở chốn thôn quê mà còn thức dậy trong lòng người cái hồn quê ẩn bên trong loài rau dân dã Để làm được điều đó, người viết đã biết nhìn rau muống như một con người, một cuộc đời trong mối quan hệ với vạn vật, với thế giới xung quanh Thì ra, cây cỏ cũng mang trong mình nó bao niềm hạnh phúc ngọt ngào cùng với những nỗi cô đơn chát đắng Vậy đó, không có cái nhìn tinh tế, không có độ nhạy của cảm xúc làm sao người viết có thể thức dậy trong từng nết tả sức truyền cảm sâu sắc đến vậy Để mỗi lần đọc, ta lại thấy có những lúc ta đã từng hững hờ đi qua trước những cái đẹp khiêm nhường mà có sức lan tỏa fộng dài trong tâm hồn ta Tả được như vậy, thật hay mà cũng thật không dễ chút nào!
Trang 151.1.4 Các bước làm bài văn miêu tả.
đề bài để xây dựng hướng làm bài.Cụ thể là:
-Đọc đề bài:Học sinh phải đọc kỹ đề bài để có một cái nhìn tổng quát, chú ý không bỏ sót một chi tiết nào để tránh những chỗ hiểu sai
-Phân tích đề:Kết cấu của một đề bài miêu tả thường gồm hai phần:
+Phần A: Thể loại làm văn
Phần này thường thể hiện ngay sau từ “hãy”
Ví dụ:Ở ngã tư đường phố, vào giờ cao điểm, có một chú cảnh sát đang điều khiển xe cộ lưu thông Em hãy tả chú cảnh sát giao thông ấy
Ở đây, học sinh có thể gạch hai gạch dưới từ “tả” để xác định thể loại của đề
bài này là văn miêu tả
+Phần B:Đối tượng và giới hạn đối tượng miêu tả
Ở đề trên, học sinh có thể gạch một gạch dưới từ “chú cảnh sát giao thông” để
xác định đối tượng miêu tả Còn giới hạn đối tượng miêu tả thường bị giới hạn bởi: không gian- Thời gian- Đặc điểm như:
Không gian:Ở ngả tư đường phố
Thời gian: vào giờ cao điểm
Đặc điểm: đang điều khiển xe cộ lưu thông
Tùy theo đề bài mà giới hạn đối tượng miêu tả có hoặc không có, có ít hoặc có nhiều
Ví dụ: Đề bài miêu tả cảnh “Em hãy miêu tả quê hương em vào một buổi chiều nắng đẹp”.
Giáo viên cho học sinh thấy:Trên đây là một đề bài dạng miêu tả cảnh tổng hợp.Vậy thế nào là cảnh tổng hợp? giáo viên chĩ rõ cho học sinh thấy ta xác định cảnh tổng hợp nhờ những từ ngữ nào.Như đề yêu cầu tả cảnh tổng hợp thường chứa những từ ngữ như: “một miền quê, quê hương em, cảnh vùng quê, hoặc cảnh nơi em ở ”, cảnh tổng hợp là cảnh gồm nhiều cảnh nhỏ, cảnh lẻ Những cảnh nhỏ của quê hương hay miền quê thường là cánh đồng, dòng sông, con đường làng, cây đa, giếng nước, sân đình sau đó giúp cho học sinh hình dung được cụ thể về cảnh miêu tả ở thời gian nào (mùa nào?), ở không gian nào (cảnh
đó như thế nào?) Việc xác định được đúng yêu cầu của đề như ở ví dụ trên sẽ giúp các em rất nhiều trong việc định hình được đối tượng miêu tả
Hoặc khi tìm hiểu đề:
*Tả lại cảnh cánh đồng lúa chín đang vào mùa gặt.Ta phải phân tích cho học
sinh thấy:
-Kiểu đề: Tả cảnh thiên nhiên
-Nội dung: Cánh đồng lúa chín đang vào mùa gặt
+Tả cánh đồng lúa phải gắn liền với khung cảnh thiên nhiên như bầu trời, dòng sông, con đường , rặng cậy
+Cánh đồng lúa hiện ra với màu sắc, đường nét bao quát, màu sắc từng thửa ruộng, khóm lúa, bông lúa
Trang 16+Khi miêu tả cũng cần chú ý đến âm thanh: tiếng sáo diều, tiếng chim hót, tiếng người nói cười
+Đồng thời, cần tả những gì cảm thấy: hương lúa chín, mùi rơm rạ
+Người tả cần miêu tả xen với những nhận xét, suy nghĩ của bản thân
-Phương hướng miêu tả
+Miêu tả từ bao quát đến cụ thề, từ xa đến gần
+Nên thay đổi gốc độ miêu tả, kết hợp với những nhận xét riêng từ sự quan sát cụ thể
+Có thể đọc trong sách báo những đoạn văn miêu tả cánh đồng của các nhà văn để học tập cách quan sát và miêu tả
Hay một đề khác nữa:
* Tả lại ngôi nhà mà em đang ở.
-Kiểu bài: Tả cảnh vật
- Nội dung: Miêu tả ngôi nhà em đang ở Cần chú ý miêu tả :
+Vị trí của nhà, hình dáng của nhà, vật liệu xây dựng nhà ( nhà xây, nhà
gỗ, nhà tre, nứa, nhà cao tầng mái bằng, mái ngói hay mái lá, mái tranh )
+Những khu vực chính của ngôi nhà, cỗng ngõ, tường rào, sân vườn, khu bếp, khu phụ, khu nhà ở
+Bài trí trong nhà, chỗ thờ cúng ổt tiên, chỗ tiếp khách, sinh hoạt chung, bàn ghế, giường tủ, nơi học tập
-Phương hướng miêu tả:
+Ai cũng có chỗ ở, vì thế cố gắng miêu tả ngôi nhà như nó vốn có là điều quan trọng
+ Ngôi nhà đó có thể còn chật hẹp, có thể chưa đẹp nhưng gắn liền với những người thân trong gia đình, gắn liền với người viết vì vậy không cần tưởng tượng hoặc tô vẽ
-+Khi miêu tả cần kết hợp với cảm nghĩ, bộc lộ tình cảm của người viết +Nên đứng nhiều góc độ khác nhau để tả Có thể miêu tả theo trình tự đi từ ngoài vào trong, cũng có thể miêu tả kết hợp trình tự không gian và những khu vực quan trọng nhất
1.1.4.2 Quan sát-tìm ý.
Quan sát là xem xét để thấy, để biết rõ sự vật, hiện tượng nào đó cón tìm ý
là chọn từ ngữ chính xác, đặt câu thích hợp để ghi lại cho rõ nét và đầy đủ những điều đã quan sát được Quan sát là sự vận dụng tất cả các giác quan của từng người để nhận biết đặc điểm của thế giới chung quanh, dùng mắt để nhận rõ hình dáng, màu sắc, hình khối của sự vật; dùng tai để nghe âm thanh, tiếng động; dùng mũi để phát hiện các mùi:dùng lưỡi đề biết vị của sự vật; dùng tay hoặc da
để thu nhận cảm giác nóng, lạnh, dày mỏng, mềm cứng Nhờ các nhận xét thu được, người quan sát có thể hiểu biết về đối tượng quan sát Song quan sát để làm văn miêu tả khác với quan sát trong khoa học thường thức Quan sát trong miêu tả cần chọn lọc để giữ lại chi tiết cụ thể, riêng biệt, đặc sắc của từng đối tượng, nhằm giúp cho mọi người nhận ngay ra đối tượng quan sát nhờ các đặc điểm riêng ấy Đồng thời quan sát cần so sánh, liên hệ, hồi tưởng để gắn với các đặc điểm quan sát được với các kỉ niệm, hồi ức hoặc các sự việc khác cần có ý kiến nhận xét, bình phẩm, đánh giá đối tượng quan sát Do đó các chi tiết đưa vào bài miêu tả thường thấm đẫm cảm xúc của người viết, gợi hình, gợi cảm
Trang 17Quan sát trong bài văn miêu tả bao giờ cũng là quan sát có mục đích, có kế hoạch.Tùy đối tượng có thể quan sát từ toàn thể đến bộ phận.Từ ngoài vào trong ,
từ trên xuống dưới hoặc ngược lại Để quan sát tốt, người ta phải luyện tập nhiều lần, phải tập trung tinh thần, ý nghĩ và việc quan sát, không có áp đặt các kết quả quan sát, phải nắm bắt được cái thần, cái hồn và nét riêng biệt của đối tượng miêu tả.chính nét riêng biệt ấy tạo nên cái mới và độc đáo cho nội dung bài văn
Khi quan sát ta phải sử dụng các giác quan: Mắt thấy-Tai nghe-Mũi
ngửi-Miệng nếm-Tay cầm, sờ kết hợp với cảm xúc, cảm tưởng xuất hiện khi ta đang quan sát
Có thể nói, đây là bước đầu tiên mà bất cứ ai muốn viết một bài văn hay cũng cần thực hiện nghiêm túc Để thực hiện được điều đó, trước tiên người viết phải:
-Xác định đối tượng miêu tả:
Để có một bài văn miêu tả hay và độc đáo, trước hết ta phải xác định được đối tượng miêu tả.Có thể nói, đối tượng miêu tả là vấn đề cốt lõi, trọng tâm nhất trong bài văn và nó sẽ là đề tài cho bài viết hay bài nói của mình Nhưng để có được một sản phẩm tái hiện hay và độc đáo thì người viết(nói) cần phải biết chọn một vị trí quan sát tốt Có một vị trí quan sát tốt sẽ giúp các em xem xét, cảm nhận đối tượng rõ ràng, cụ thể và tinh tế hơn Nhờ vậy, khi bắt tay vào viết, đối tượng sẽ hiện lên sống động trước mắt ta và đến với người đọc thì cảnh vật, con người sẽ hiện lên như thật
Thông thường, để có cái nhìn khái quát, tổng thể, toàn cục về đối tượng, người quan sát thường đứng từ xa nhìn lại hoặc từ trên cao nhìn xuống hoặc từ dưới thấp nhìn lên Khi đi vào miêu tả cụ thể, chi tiết thì lại cần chọn một chổ đứng gần hơn, thậm chí có thể đụng chạm vào đối tượng
Người đọc có thể hình dung được đây là một vùng non nước xứ Nghệ như được thu vào con mắt ở một tầm cao qua hai câu thơ:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Còn đây là bức tranh thiên nhiên sông nước Cà Mau hiện lên qua cái nhìn của một con người đang đứng trên một con thuyền thả mình theo dòng trôi con nước:
“ Càng đỗ dần về hướng mũi Cà Mau thì sông ngòi, kênh gạch càng bủa giăng chi chích như mạng nhện.Trên trời thì xanh, dưới nước thì xanh, chung quanh mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá.Tiếng rì rào bất tận của những khu rừng xanh bốn mùa, cùng những tiếng rì rào từ biễn Đông và vịnh Thái Lan ngày đêm không ngớt vọng về trong hơi gió muối- thứ âm thanh đơn điệu triền miên ấy ru ngủ thính giác, càng làm mòn mỏi và đuối dần đi tác dụng phân biệt của thị giác con người trước cái quang cảnh chỉ lặng lẽ một màu xanh đơn điệu.”
-Quan sát tỉ mỉ để nắm được nét riêng của đối tượng:
Quan sát tỉ mỉ là tập thói quen làm việc đến nơi đến chốn Soi ngắm đối tượng từ nhiều góc độ, từ nhiều thời điểm để có thể nắm được những đặc điểm
cơ bản của đối tượng Song , điều quan trọng nhất không phải ở chổ ghi chép không bỏ một chi tiết nào mà phải nắm bắt được nét riêng Không chỉ là nét riêng của từng đối tượng mà còn là nét riêng của chính đối tượng đó trong những thời điểm khác nhau
Trang 18Nói như nhà văn Tô Hoài thì: “ Quan sát giỏi phải thấy ra nét chính, thấy được tính tiêng, móc được ngóc ngách của sự việc, của vấn đề” Nhà văn Phạm
Hổ cũng đã từng nói đến tầm quan trọng của quan sát trong miêu tả: “Ngay trong quan sát để miêu tả, người viết cũng phải tìm ra cái mới, cái riêng ”
Thông thường, khi tả cảnh hoàng hôn, ta thường có một nếp nghĩ: hoàng hôn buông xuống, chiều xuống Vậy mà đối với Xuân Diệu thì:
“Chiều lên dần dần.Tôi càng đi, trời càng tối Những bước đi cũng đồng thời với triều bóng dâng, xúi cho tôi dễ tưởng rằng bước của tôi có quan hệ với thời giờ, thỉnh thoảng tôi đứng lại, tần ngần xem thử họa có liên lạc gì không
Hoàng hôn Ễnh ương kêu, tiếng khàn khàn phát tự muôn gốc cỏ, từ những ruộng sâu thũm xuống làm cho con đường tự nhiên cao Tiếng ảo não, hơi phồng như trong ấy có sự gắng sức, tiếng rậm và nhiều và thê lương như sự chết, làm sôi bóng hoàng hôn”
Ở đây, ta thấy Xuân Diệu đã có một phát hiện lạ: chiều lên dần dần, chiều không xuống Cái lạ tạo sự tò mò, háo hức, muốn đọc tiếp, xem tiếp Và thế là, ta được thưởng thức những câu văn huyền ảo, đầy tính tạo hình, được chiêm ngưỡng những hình ảnh đầy ấn tượng
Muốn vậy, để có một bài văn hay ta cần phải biết quan sát tỉ mỉ để nắm được những nét riêng của đối tượng
-Quan sát bằng tất cả các giác quan và không ngừng rèn luyện năng lực tưởng
tượng, liên tưởng trong quá trình quan sát
Muốn quan sát phải dùng mắt Nhưng chỉ dùng mắt thôi chưa đủ phải dùng tất
cả các giác quan và bằng cả tâm hồn mình Có vậy, ta mới mong lưu giữ được trong trang viết của mình những ấn tượng sau từng con chữ
Thạch Lam khi miêu tả cảnh sinh hoạt ở một khu chợ đã cho thấy ông đã quan sát bằng tất cả các giác quan như thế nào:
“Chợ mỗi lúc một ồn ào Người đến họp đã đông Cái đông đúc và ồn ào ấy khiến cho Tâm như lịm đi Tiếng cười nói, tiếng cười đùa, chửi rủa tràn đầy cả mấy gian hàng Sự hoạt động rực rỡ và nhiều màu Các hàng quà bánh, các thức hàng rẻ tiền và vụn vặt ở thôn quê, những hoa quả chua chát trái xanh trong vườn nhà-và bên kia đường, mùi thơm nồi cháo nóng của chị Tư bay ra ngào ngạt ”(Cô hàng xóm)
Đọc đoạn văn miêu tả của Thạch Lam, người đọc cảm thấy thật ý vị, thích thú Ông đã đến vối cuộc sống bằng sự rung lên của tất cả các giác quan, để đến khi trang viết của Thạch Lam đến với người đọc thì cũng khiến cho tất cả các giác quan của chúng ta cùng ngân lên
Mặc khác, để đóng dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc, miêu tả đúng thôi chưa đủ mà còn phải có sức biểu cảm và độc đáo nữa Điều này đòi hỏi năng lực tưởng tượng, liên tưởng của người viết trong quá trình quan sát đối tượng, để làm sao mỗi cảnh, mỗi vật, mỗi người hiện lên vẫn là chính nó nhưng lại lấp lánh những vẻ đẹp mới, làm thỏa mãn cảm xúc thẩm mĩ của người đọc
Chúng ta hãy cùng thưởng thức đoạn văn miêu tả hoa giấy của Trần Hoài Dương:
“Trước nhà, mấy cây bông giấy nở hoa tưng bừng Trời càng nắng gắt, hoa giấy càng bồng lên rực rỡ Màu đỏ thắm, màu tím nhạt, màu da cam, màu trắng muốt tinh khiết Cả vòm cây lá chen hoa bao trùm lấy ngôi nhà lẫn mảnh sân nhỏ phía trước tất cả như nhẹ bỗng, tưởng chừng chỉ cần một trận gió ào qua,
Trang 19cây bông giấy chĩu chịt hoa sẽ bốc bay lên, mang theo cả ngôi nhà lang thang giữa bầu trời
Hoa giấy đẹp một cách giản dị mỗi cánh hoa giống hệt một chiếc lá, chỉ có điều mỏng mãnh hơn và có màu sắc rực rỡ Lớp lớp hoa giấy rải kín mặt sân, nhưng chỉ cần một làn gió thoảng, chúng tản mát bay đi mất ”
Ta thấy, đoạn văn trên có những cân văn thật dạt dào cảm xúc, nếu tác giả thiếu một năng lực tưởng tượng, liên tưởng Thiếu sự thăng hoa của cảm xúc, thiếu sự giao hòa trọn vẹn với cảnh vật thì làm sao viết ra được những câu văn bay bổng và tinh tế như vậy
Có khi, trí tưởng tượng còn đánh thức năng lực hư cấu tuyệt vời Những nét
tả cao tay nhờ năng lực này lại trở thành một câu chuyện thật khéo, ẩn chứa hàm
ý sâu xa, xúc cảm mãnh liệt:
“Bỗng dưng, gió ào ào nổi lên Có một tiếng động gì lạ lắm Những chiếc lá khô lạt xạt lướt trên cỏ Cây xấu hổ co rúm mình lại
Nó bỗng thấy xung quanh xôn xao He hé mắt nhìn: Không có gì lạ cả Lúc bấy giờ nó mới mở bừng những con mắt lá và quả nhiên không có gì lạ thật.Nhưng những cây cỏ xung quanh vẫn cứ xôn xao Thì ra, vừa có một con chim xanh biếc, toàn thân lóng lánh như tự tỏa sáng không biết từ đâu bay tới con chim đậu một thoáng trên cành cây thanh mai rồi lại vội vàng bay đi Các cây cỏ xuýt xoa: hàng nghìn hàng vạn những con chim đã bay ngang qua đây nhưng chưa có một con chim nào đẹp đến như thế
Càng nghe bạn bè trầm trồ thán phục, cây xấu hổ càng thêm biếc Không biết
có bao giờ con chim xanh huyền diệu ấy bay trở lại?”
Đúng là, văn viết hay rất cần đến sự dâng trào của xúc cảm nhưng nếu như trước đó, nhà văn chưa có quá trình để ý quan sát thì liệu cảm xúc kia có đủ sức đánh thức những liên tưởng, tưởng tượng đẹp đến vậy? Đấy là chưa nói đến, ngay cả những hình ảnh so sánh bất ngờ, thú vị gọi về trong câu văn cũng đã mách bảo cho chúng ta thấy rằng: nhà văn đã rất để ý đến những gì vốn vẫn từng ngày xuất hiện giản dị trước mắt chúng ta Để bất ngờ, một lúc nào đó, cảm xúc đến độ chín, câu chữ bật ra thì lập tức giữa những sự vật vốn rất xa nhau lại có sự gần gũi đến không ngờ
Để viết bài văn miêu tả, không thể không quan sát.Quan sát để phát hiện ra cái bản chất, cái riêng biệt của đối tượng Quan sát là để phát hiện cái mà người khác chưa thấy , không thấy hoặc chưa cảm như mình.Từ cái mới, cái riêng trong quan sát tiến đến ta nâng dần lên thành cái mới, cái riêng trong tình cảm trong tư tưởng Nhưng cái mới cái riêng ấy phải gắn chặt với cái chân thật Không thể bịa một cách vô tội Chúng tôi đọc văn thơ của những tác giả nổi tiếng thấy có hiện tượng này thật đặc biệt: khi người ta chân thật thì dù cái điều người ta viết ra vô
lí, người đọc vẫn chấp nhận và vẫn thấy hay Có gì vô lí hơn khi cha ông ta nói là nắng non nắng già nhưng cha ông ta trong lòng, trong tâm hồn cảm nhận được điều ấy và khi nói ra là được người nghe tiếp nhận một cách thích thú.Chúng tôi thấy các nhà văn lớn thường chân thật ngay từ những quan sát để từ đó tiên đến
sự chân thật trong những cái lớn hơn: về chủ đề tư tưởng, về tính cách nhân văn trong văn học.Vậy chúng ta muốn tả hay phải tập quan sát , phải có công quan sát Mỗi người có cách quan sát khác nhau, người thì lặng im quan sát rồi ghi nhớ trong lòng Có người ghi chép tỉ mỉ công phu vào trong sổ tay Quan sát đi quan sát lại mới thấy ra những điều mới và của riêng mình.Nhà văn Tô Hoài
Trang 20trong lần nói chuyện với các cháu ở trại Kim Đồng, có hỏi các cháu: khi con chó
nó dọ các cháu thì nó làm gì nào? Rồi khi các cháu tìm được một hòn gạch ném
nó, nó biết sợ rồi thì nó ra sao nào? Tiếng sủa có khác không? Cái đuôi trước đó thì sao, bây giờ thì sao? Rồi nhà văn cười và nói: người ta bảo chó sợ thường cụp đuôi nghĩa là nó giấu cái đuôi của mình vào giữa hai chân sau của nó Vậy quan sát chúng ta còn phải có thêm sự hiểu biết cụ thể sâu sắc, có thể đọc thêm sách báo để giúp cho sự hiểu biết của mình được phong phú hơn
Nhà văn Tô Hoài đã có lần tâm sự: “Một nhà văn Pháp có nói một câu nổi tiếng: một trăm thân cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửa giống nhau cả trăm Mới nhìn tưởng thế nhưng nhìn kĩ thì thân cây bạch dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác nhau.Trong đời ta gặp bao nhiêu người, phải thấy ra mỗi người mỗi khác nhau, không ai giống ai.”.Câu nói ấy dạy cho chúng tôi bài học thiết thực và tỉ mỉ trong quan sát Chỉ có quan sát mới phát hiện
ra cái hồn, cái thần của đối tượng mà ta miêu tả, rồi bằng ngôn ngữ vẽ nó hiện lên trước mắt người đọc cùng cảm nhận, cùng suy nghĩ với mình Ví dụ: khi Nguyễn Du tả Tú Bà chỉ có mười bốn từ đã lột trần được bản chất của một con người:
Thoát trông nhờn nhợt màu da
Ăn gì to lớn đẩy đà thế kia
Nhà văn viết văn hay, thường là người viết ra được những điều mà người bình thường không trông thấy Vì vậy, khi miêu tả hãy cố tìm ra cho được những điều không trông thấy đó Chúng ta sẽ có cái mới, cái riêng, cái độc đáo trong những bài, những truyện mình viết
Nhưng nếu quan sát không thôi vẫn chưa đủ Để có thể giúp người đọc, người nghe hình dung ra được con người ấy, cảnh vật ấy người viết cần phải biết tưởng tượng, so sánh nhận xét Chính sự tưởng tượng, so sánh, nhận xét vừa giúp cho người đọc, người nghe hình dung được đối tượng miêu tả một cách cụ thể, rõ ràng, vừa giúp cho lời văn thêm sinh động, giàu hình ảnh
Ví dụ: Khi nhìn bầu trời sao, nhà văn Pháp Vích –to Huy-Go đã tưởng tượng,
so sánh nó với cảnh “một cánh đồng lúa chín” và ở đó người đi gặt đã “bỏ quên lại một cái liềm con” (Mảnh trăng non), còn nhà du hành vũ trụ Nga I.Ga-ga-rin lại thấy nó giống như “những hạt giống mới” mà loài người giao vào vũ trụ Trong khi đó, đối với Nam Cao, nhà văn Việt Nam thì trăng sao lại tưởng tượng,
so sánh và cảm nhận thao một cách khác: “Trăng là cái liềm vàng giữa cánh đồng sao Trăng là cái đĩa bạc trên tấm thảm nhung da trời ”.Có được những lời văn miêu tả sống động và mới mẻ ấy chính là nhờ vào việc quan sát, tưởng tượng, so sánh, nhận xét của người viết
Trang 211.1.4.3 Sắp xếp ý-Lập dàn bài.
1.1.4.3.1.Sắp xếp ý: là trình tự miêu tả hợp lí mà học sinh phải tuân theo để
bài văn miêu tả mạch lạc, trách được lối miêu tả lộn xộn, trúng lặp, rối rắm, rườm rà, tản mạn
Kiểu bài miêu tả thì thông thường có những cách sắp xếp ý sau:
-Sắp xếp theo trật tự thời gian:Lúc trước-> lúc sau (sớm -> muộn): dùng trình tự này khi tả cảnh hiện tượng tự nhiên, cảnh sinh hoạt
Bài miêu tả cảnh biển của Vũ Tú Nam có sự sắp xếp ý theo theo trình tự thời gian như:
+Buổi sớm nắng sáng
+Một buổi chiều gió mùa đông bắc vừa dừng
+Ngày mưa rào
+Buổi sớm nắng mờ
+Một buổi chiều lạnh, nắng tắt sớm
+Chiều nắng tàn mát dịu
+Mặt trời xế trưa bị mây che lỗ đỗ
-Sắp xếp theo trật tự không gian:Ngoài-> trong; xa->gần; trên -> dưới Dùng trình tự này khi tả đồ vật, cây cối, loài vật, cảnh vật
Bài miêu tả quang cảnh làng mạc ngày mùa của Tô Hoài có cách sắp xếp
ý theo trình tự không gian như:
-Sắp xếp theo sự phối hợp trật tự không gian và thời gian
Miêu tả cảnh trăng lên, Thạch Lam viết: “Ngày chưa tắt hẳn, trăng đã lên rồi Mặt trăng tròn to và đỏ, từ từ lên ở chân trời, sau rặng tre đen của làng xa Mấy sợi mây con vắt ngang qua mỗi lúc manh dần, rồi dứt hẳn Trên quãng đồng ruộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng những hương thơn ngát
Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, thật là sáng trăng hẳn; trời bây giờ trong vắt, thăm thẳm và cao, mặt trăng nhỏ lại, sáng vằng vặt ở trên không Ánh trăng trong chảy khắp cả trên cành cây, kẽ lá, tràn ngập con đường trắng xóa
Bức tường hoa giữa vườn sáng trắng lên, lá lựu dày và nhỏ, lấp lánh như thủy tinh.Một cành cây cong xuống rồi vụt lên, lá rung rinh lấp lánh ánh trăng như ánh nước.”(Trích Tuyển tập Thạch Lam)
Trình tự phối hợp không gian- thời gian được tác giả sử dụng như sau:+Ánh trăng lúc bắt đầu lên ở phía chân trời, sau rặng tre đen của làng.+Ánh trăng lúc đã lên cao, tyràn ngập cây lá, con đường
+Ánh trăng lấp lánh như ánh nước trên cành lá lựu
-Sắp xếp ý có khi còn theo trình tự tâm lý:Điều gây cảm xúc nhiều->đều gây cảm xúc ít Dùng trình tự này khi tả người, loài vật
Trang 22Trình tự miêu tả cũng rất quan trọng trong khi làm văn miêu tả Tuy nhiên đối với học sinh lớp 6, bước đầu nên hạn định việc sắp xếp ý theo thứ tự thời gian và không gian như khi chúng ta tả:
Tả một cơn mưa rào hay một cơn giông.
Trình tự miêu tả như sau:
- Không khí oi bức trước khi cơn mưa đến
- Cảnh cơn mưa đến:
+Trời chuyển, báo hiệu cơn mưa sắp đến
+ Cảnh sấm chớp trên bầu trời
+ Cảnh mưa giáo đầu
+ Cảnh mưa xối xả
- Cảnh vật và con người trong cơn mưa:
+ Con mèo, con chó, đàn gà, cây cối trong mưa
+ Người tìm chỗ trú mưa, người hối hả trong mưa
+Trẻ con nô đùa, tắm mưa thỏa thích
+ Đường phố( đường làng) ngập nước, cống tắc
- Cảnh khi cơn mưa đã ngớt:
+ Cảnh bầu trời
+ Cảnh mặt đất
- Mọi người sinh hoạt trở lại bình thường nhưng xem chừng dễ chịu hơn
Miêu tả một trận bão lụt khủng khiếp.
- Cảnh khi chuẩn bị có bão đến:
+Cảnh mọi nhà chuẩn bị đề phòng bão đến
+ Không khí khẩn trương xen lo lắng bao trùm
- Cảnh bão đến:
+ Thời điểm bão đổ bộ
+ Cảnh gió lốc, xoáy, giật; mưa dữ dội
+ Cảnh nước tràn vào làng xóm, ngập đường sá, nhà cửa, vườn tược
+ Cảnh dân tình trong cơn bão
- Cảnh làng xóm phố phường sau cơn bão
- Cảm nghĩ, thái độ của mọi người
1.1.4.3.2.Lập dàn ý: là lựa chọn, sắp xếp các ý chính, ý phụ theo một
trình tự hợp lý
Dàn ý phải thể hiện được:
-Nội dung cơ bản của vấn đề phải giải quyết
-Trình tự lập luận chung của toàn bài văn
Theo phương pháp làm văn trong nhà trường, người ta thường chia ra hai loại dàn ý:
-Dàn ý chung (đại cương) thường gồm:
+Những ý chính
+Những ý phụ
-Dàn ý chi tiết thường gồm:
+Những ý chính + các chi tiết của ý chính
+Những ý phụ + các chi tiết của ý phụ
Bất cứ kiểu bài miêu tả nào: tả cảnh, tả người, tả con vật, đồ vật dàn ý đều có chung 3 phần:
-Mở bài có thể giới thiệu một cách khái quát nhất về đối tượng miêu tả
Trang 23-Thân bài: lần lượt miêu tả đối tượng theo một trình tự nhát định.
-Kết bài:thường nêu cảm nghĩ chung về đối tượng miêu tả
Có thể thấy rõ hơn qua một số dàn ý của các đề miêu tả sau đây:
Tả một danh lam thắng cảnh em đã từng biết.
a Mở bài:
Giới thiệu tên, ấn tượng chung về thắng cảnh hoặc di tích lịch sử sẽ tả.b.Thân bài:
- Nhận xét chung về vị trí, địa thế của cảnh
- Miêu tả những đặc điểm nổi bật của cảnh:
- Không gian, thời gian ngắm trăng
- Miêu tả vẻ đẹp đêm trăng theo trình tự thời gian:
+Cảnh vật lúc trời sắp tối
+ Cảnh khi trăng còn lấp ló
+ Cảnh khi trăng lên cao
+ Cảnh lúc về khuya
- Chú ý miêu tả vể đẹp của vạn vật dưới trăng, đặc biệt là con người
- Có thể gợi nhắc một vài kỉ niệm sâu sắc từ đêm trăng đẹp này
c Kết bài:
Cảm xúc bản thân trước đêm trăng đẹp
Tả dòng sông quê hương.
a Mở bài:
Giới thiệu tên dòng sông, hình ảnh khái quát về dòng sông
b Thân bài:
- Giới thiệu ngắn gọn lai lịch dòng sông:
+ Dòng sông có từ bao giờ
+ Bắt nguồn từ đâu, chày về đâu
+ Những truyền thuyết về dòng sông(nếu có)
- Miêu tả vẻ đẹp riêng của dòng sông theo trình tự thời gian( từng thời điểm trong ngày hoặc từng mùa trong năm):
+ Mặt nước sông
+ Cảnh sắc hai bên bờ
+ Cuộc sống, hoạt động của con người bên dòng sông
Trang 24- Gợi những kỉ niệm thể hiện sự gắn bó của bản thân với dòng sông.
- Miêu tả những nét nổi bật về tính tình thông qua:
+ Thói quen trong sinh hoạt
+ Sở thích
+ Việc làm hàng ngáy
+ Cách ứng xử đối với con cháu, háng xóm, bạn bè
- Tình cảm của mọi người dành cho ông(bà)
c.Kết bài:
Cảm nghĩ của em đối với ông (bà)
Tả lại hình ảnh người mẹ ân cần chăm sóc em trong một lần em ốm.
a.Mở bài:
Cảm nhận chung về hình ảnh người mẹ lúc em ốm
b Thân bài:
- Miêu tả những nét ấn tượng về mẹ trong lần em ốm:
+ Gương mặt hốc hác, xanh xao
+ Đôi mắt thâm quầng, lo lắng
- Miêu tả những việc mẹ làm, qua đó khắc họa sâu hơn về hình ảnh mẹ và tình cảm của mẹ dành cho em:
+ Mẹ đỡ em dậy, lau mặt, chườm khăn, đút cháo cho em (miêu tả đôi bàn tay nhẹ nhàng, mềm mại )
+ Mẹ thức trắng, canh từng hơi thở của em( miêu tả nét mặt, ánh mắt )+ Mẹ dỗ dành, hỏi han em (miêu tả giọng nói, hơi thở )
c Kết bài:
Tình cảm của em dành cho mẹ
Trang 251.1.4.4 Tạo bài văn.
- Trình bày, diễn đạt thành bài văn nói hoặc thành bài văn viết.
Thực tế qua nhiều năm chấm bài văn miêu tả của học sinh, chúng tôi thấy đáng buồn một điều là vốn ngôn từ của các em rất nghèo nàn, diễm đạt lũng củng, thường xảy ra hiện tượng bí từ, dùng từ sai nghĩa, lặp từ, lặp ý Như vậy để cho bài văn của học sinh diễn đạt trong sáng có sức hấp dẫn, chúng tôi nghĩ rằng không có cách nào khác ngoài việc trao dồi ngôn từ nghệ thuật cho mỗi học sinh
Để học sinh tự giác làm điều này là một việc làm rất khó, mà nên để học sinh tự làm sau khi giáo viên đã tạo được trong lòng học sinh sự yêu thích ngôn từ nghệ thuật dựa vào tâm lí lứa tuổi, chúng tôi đã gieo luồng yêu thích này qua việc cung cấp và phân tích một số tư liệu được giáo viên chọn lọc kĩ càng trích trong các tác phẩm của các nhà văn
Ví dụ:Đọc đoạn trích miêu tả cảnh trong vườn dưới nắng chiều sau đây: “ Chiều buông, ánh mặt trời trở nên vàng xậm hơn.Ánh chiều vàng trải lên cành lá, mái nhà một màu vàng óng Giàn bầu mận xanh tươi, lá non màu xanh nhạt, lá già thì xanh thẫm Ánh nắng chiều chiếu xuống giàn bầu, bí, cái cốt lá xanh ngắt lọt qua một lược hắt một màu xanh ngọc bích xuống vườn Nhãn, bưởi, mít và các loại cây khác nữa tất cả đều xanh um tùm, nom như chiếc ô khổng lồ Đó là màu xanh no nắng, no gió vá no thức nuôi cây Vườn cây lao xao, gió thoảng đâu đây, mùi hương quả chín, hương hoa ngọt lịm ”
Sau đoạn văn như thế giáo viên phân tích những hình ảnh ngôn từ nghệ thuật sáng giá sao cho tạo được hứng khởi ở học sinh, kích thích các em thích tìm, viết những lời văn hay Có lẽ rèn kỹ năng diễn đạt là một phương pháp đòi hỏi kỳ công nhất trong quá trình luyện viết
Ở giai đoạn luyện kĩ năng diễn đạt như thế này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến phép so sánh trong các câu văn Có thể coi so sánh hay để tạo những nốt luyến cho những bản nhạc ngôn từ, những nét đậm của bức tranh ngôn ngữ Chúng tôi
đã hướng cho học sinh luyện tập cách dùng nhiều từ so sánh khác nhau sao cho thật đa dạng phong phú gợi cảm, tạo ấn tượng cho người đọc
Ví dụ:
+Dòng sông quê em dưới đêm trăng mềm mại như một áng tóc trữ tình
+Không gian quê hương y như một chiếc chuông lớn vô cùng treo suốt mùa thu
+Những lá sen già khum khum chẳng khác gì những chiếc thúng con đựng đầy ắp nắng chiều thu
+Cây cối rì rào, lao xao gió nồm nam, lá cây lai động, lấp lánh tựa ngàn triệu con mắt lá răm sáng trưng nắng hè
+Trăng về khuya cứ nhỡ là con thuyền đang trôi trên dòng sông Ngân
Cách này chúng tôi cũng cho học sinh luyện trong nhiều tiết học để trở thành thao tác thuần thục, nhuần nhuyễn, đồng thời cho học sinh kết hợp về tìm đọc tư liệu sao cho có những lời văn miêu tả sống động, gợi cảm nhất
- Dùng từ, đặt câu, dựng đoạn để tạo thành một bài văn.
Dựng đoạn văn chính là cách sắp xếp các lời văn diễn đạt sao cho hợp lí, logic, chặt chẽ, mạch lạc.Giáo viên hướng dẫn cho học sinh viết câu đầu đoạn bao giờ cũng mang ý chính, khái quát và các câu còn lại trong đoạn nhằm để bổ sung, giải thích hoặc làm rõ cho ý chính
Trang 26Trong quá trình miêu tả cụ thể, giáo viên lưu ý cho học sinh trình tự miêu
tả cho phù hợp với vị trí quan sát kết hợp với lồi văn so sánh, lời văn nhận xét, đánh giá và sự liên tưởng tưởng, tượng phong phú, ý câu trước với câu sau logic với nhau tạo độ kết về mặt nghĩa Những câu cuối đoạn thường là những câu có
ý nghĩa sâu sắc, làm đậm nét cho bức tranh được tả nên giáo viên hướng cho học sinh biết dành những lời văn trội hơn vào cuối đoạn Cứ theo cách hướng dẫn như trên, giáo viên cho học sinh luyện viết thành nhiều đoạn cho đề bài
- Chữ viết phải rõ ràng, ngay hàng, dễ đọc (viết chữ đẹp rất cần thiết).
Trong việc dạy văn không thể không chú ý đến dạy từ, dạy câu phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ tìm tòi, từ những câu đơn bình thường, tiến hành cho các
em biết viết câu hay, câu dài bằng cách thêm thành phần phụ bằng các từ gợi cảm, từ so sánh, từ nhân hóa ( phép tu từ hoặc thay thế các từ gần nghĩa ) sao cho sát hợp để cung cấp vốn từ ngữ cho các em khi làm các thể loại văn khác nhau
Đã là văn thì tránh cho các em viết câu văn cộc lốc, không biết dùng biện pháp tu
từ, nhân hóa, so sánh… Đôi khi dạy cho các em biết sắp xếp lại những câu văn thành một đoạn văn phù hợp, cũng rất cần thiết để các em thấy được thứ tự, trình
tự của văn miêu tả theo thời gian, không gian hợp lý Hoặc những bài văn cụ thể của các em chưa biết sắp xếp ý Chúng tôi hướng dẫn cho những em đó và yêu cầu các em lập lại trình tự và thêm bớt một số từ cần thiết vào bài viết của mình
Đây là hai bài viết đã rất thành công trong việc tạo bài văn:
Tả lại cảnh cánh đồng lúa chín đang vào mùa gặt.
Nhân dịp nghỉ hè, em được bố mẹ cho về quê thăm ông bà nội, tiện thể xem lúa của ông bà ra sao.Mẹ em bảo em sẽ dược thấy cánh đồng lúa chín và cảnh mọi người đi gặt Em chưa được về quê bao giờ nên thích quá
Sáng sớm hôm sau ăn cơm xong em chạy xem cánh đồng ngay Cánh đồng rộng mênh mông thẳng cánh cò bay Nhìn ra xa tít cà cánh đồng lúa như một tấm thảm vàng khổng lồ Nhìn kĩ thì thấy có chỗ vàng rực, chỗ vàng nhạt, chỗ vàng vàng xanh xanh Gió sớm nhè nhẹ thổi Hương lúa chín có mùi thơm man mát
Em và bà đi tới một thửa ruộng lúa tốt Bà bảo đó là ruộng của bà Chà! Lúa tốt ghê! Những bông lúa nặng trĩu làm cây lúa uốn cong như cần câu Em đưa tay nâng một bông lên xem Bông lúa nhiều hạt, những hạt lúa mẩy căng chạm vào
da tay em ram ráp Em ngắm nhìn ruộng lúa của ông bà rồi bước đi Những bông lúa nặng trĩu có hình vồng quật cả vào chân em như muốn đùa giỡn với em Những hạt lúa mập mạp, chắc nịch như muốn nói:
-Chúng tôi chín rồi, hãy đem chúng tôi về đi
Từng đoàn người đã đổ ra đồng Người mang liềm hái, người đẩy xe thồ, quang gánh Tiếng nói chuyện râm ran, tiếng gọi nhau í ới Cảnh đi gặt thật nhộn nhịp Bà bảo phải đợi mấy ngày nữa thì lúa của nhà mới được gặt Trời xanh ngăn ngắt Nắng quá, em chạy lại chỗ hàng cây phi lao ngồi cho đỡ nắng Dòng kênh xanh xanh như tự hào vì đã có công tưới tiêu nước đúng lúc cho cánh đồng Phi lao rì rào trước gió Cả những tiếng chim cũng hòa vào tạo nên một bản nhạc của thiên nhiên Cánh đồng thật thơ mộng
Em về đến nhà đã thấy mùi gạo thơm từ trong bếp bay ra Ông bưng cơm lên Cả nhà cũng ăn cơm Ôi hương vị của quê hương thật ngọt ngào Em càng quý trọng bông lúa vì mồ hôi nước mắt và công sức của những người lao động ở đó
(Bài làm của Vân Anh, Trường THCS Trương Hán Siêu, Ninh Bình)
Trang 27*NHẬN XÉT.
-Bài viết đã tả được cánh đồng lúa chín vào mùa gặt, lời văn có cảm xúc -Về phần mở bài, còn có nhiều cách mở bài khác nhau Cần chú ý sao cho
mở bài được tự nhiên, ngắn gọn Có bạn mở bài như sau:
“Chiều nào cũng vậy, học bài xong là em dong trâu lên đê cho nó tha hồ ăn cỏ
Cỏ ven đê xanh mượt Bên phải em là cánh đồng lúa sắp vào vụ gặt Bên trái em
là dòng sông Hồng nước đỏ như son
Cánh đồng lúa trĩu hạt nằm trải dài từ chân đê tới những lũy tre mờ xanh ” -Trình tự miêu tả cánh đồng phụ thuộc vào ý định của người miêu tả và góc
độ quan sát Bởi vậy học sinh có thể sắp xếp trật tự khác với dàn bài đã cho
Tả lại ngôi nhà mà em đang ở.
Nhà em là một ngôi nhà lợp ngói đỏ tươi, tường xâybằng gạch rất chắc chắn nằm ngay ở đầu làng Khi ông bà em cho bố mẹ em ra ở riêng, khu nhà là ruộng mạ của hợp tác xã Gia đình em đã bỏ rất nhiều công đổ đất làm nền, làm vườn và đào một cái ao nho nhỏ để thả cá, cấy rau cần, rau muống
Đi qua hàng nhãn trồng trước cổng thì đến một cái sân gạch sạhc sẽ Ngày mùa sân để phơi rơm, phơi lúa Những ngày khác sân là chỗ chúng em chơi đá cầu, bịt mắt bắt dê, xỉa cá mè Hiên nhà rất cao và rộng Nhiều bữa nhà em trải chiếu ăn cơm ngayở đó, vừa đón gió mát, vừa ngắm trăng soi Nhà em làm theo kiểu mới, khôn có cột Các bác thợ xây tường cao lên, gác dầm và kèo, dàn đòn tay rồi lợp ngói Bố em bảo bao giờ được mùa, có nhiều tiền thì sẽ đổ mái bằng Nhà có bốn gian, gian cháy đằng đông là buồng, gian đằng tây là chỗ kê giường
và góc học tập của em Hai gian ở giửa kê cái tủ li, một bộ bàn ghế và một cái phản Đây là chỗ tiếp khách Trên tường treo ảnh Bác và huy chương của chú
em, các giấy khen của em Một bộ tranh cây và hoa làm tường nhà sáng sủa, ấm
áp và vui mắt Đó là bộ tranh tứ quý ông bà em cho khi gia đình em khánh thành nhà mới
Góc học tập của em rất tiện lợi Cửa sổ trông ra sân tràn đầy ánh sáng Một góc bàn và một cái ghế Một cái giá sách treo trên tường.Ở nhà ngoài tha hồ mọi người nói chuyện, chỉ cần em đóng cửa lại là em có một thế giới riêng
Nhà em đồ đạc rất đơn sơ vì tất cả tiền dành dụm tiết kiệm của bố mẹ em chỉ đủ để xây nhà Bà em bảo em dần dần sẽ sắm sửa, có được ngôi nhà khang trang thế là quí lắm rồi
Bếp và khu phụ cũng xây và lợp ngói ở khuất phía sau nhà Có một mảnh vườn nho nhỏ trồng dăm khóm chuối, mấy cây na, cây hồng xiêm, một cây chanh trĩu quả
Sống trong căn nhà này là bố mẹ em, chú Tính ( chú đang làm bảo vệ ở trên huyện chỉ chủ nhật mới về), em và em gái em Ngày chủ nhật khi chú Tính về, bố
mẹ em mời ông bà nội, bác Tình đến ăn cơm Bữa cơm thường rất vui Ông em, bác Tình uống chén rượu nói oang oang
Em được phân công quát nhà, quét sân Em Hoa thì lau rữa ấm chén Bố mẹ
em cũng tham gia quét dọn nhưng công việc chính là làm đồng và làm vườn.Nhà
em sống rất hòa thuận vui vẻ Em rất thích ngôi nhà của gia đình, tuy chưa nguy nga nhưng cũng đẹp và ấm cúng
Mai này khi cây cối trong vườn ra hoa kết quả, ao nhà có cá to bơi tung tăng thì nhà em càng đẹp và no đủ hơn
Trang 28* NHẬN XÉT.
- Người viết đã tả một ngôi nhà mới ở nông thôn có vườn cây và ao cá
- Bài viết đã tả từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, từ nhà chính đến nhà phụ, giúp người đọc hình dung được.Tuy nhiên, bài viết chưa có nhiều cảm xúc, còn hơi khô
-Em quan sát thật kĩ ngôi nhà em đang ở để miêu tả, chắc chắn bài của em
sẽ có những nét riêng thú vị vì “ mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”
- Em có thể nói chuyện với người thân để biết thêm về ngôi nhà mình ở ( được xây năm nào, bằng vật liệu gì, có chuyện gì đặc biệt ) Những điều mà ông bà, bố mẹ hoặc anh chị em nói về mảnh đất, ngôi nhà chắc sẽ có ích cho bài làm của em
1.1.4.5 Đọc lại và sửa chữa.
Đọc lại toàn bộ bài văn để:
+ Sửa chữa các lỗi chính tả
+ Sửa chữa các từ dùng chưa chính xác
+ Sửa chửa các câu văn ( thêm hoặc bớt đi) cho phù hợp với đề bài
+ Sửa chữa câu văn cho đúng ngữ pháp, dùng dấu chấm câu cho đúng
Khi lập được dàn ý phải cho học sinh viết thành bài văn hoàn chỉnh hoặc trình bày miệng trước lớp
Thao tác này rất quan trọng, do đó giáo viên cần tạo không khí thoải mái
để các em mạnh dạn trình bày bằng cảm nhận và hiểu biết của mình theo những
gì các em đã chuẩn bị được Ở bước này, giáo viên phải cho tất cả lớp lắng nghe
và sau đó cho các em nhận xét những ưu và khuyết điểm mà bạn vừa trình bày
Từ đó, giáo viên có nhận xét chung và kịp thời tuyên dương những gì em đạt được đồng thời cũng uốn nắn những ý mà em còn thiếu sót để từ đó giúp các em hoàn thiện một bài văn miêu tả
Cần dựa vào khía cạnh sau để đánh giá một bài văn miêu tả chân thực
+ Đối tượng được miêu tả đúng với bản chất của nó chưa ? Các chi tiết trong bài có thực không ? Có đúng, chính xác, hợp lý không ? Có cụ thể sinh động không ?
+ Tư tưởng tình cảm các em bộc lộ trong bài có thực không ? Có gắn với đối tượng miêu tả không? Có thể hiện những nét đúng đắn trong nhân cách người học sinh không?
+ Từ bố cục tới câu văn từ ngữ, các yếu tố đó đã giúp gì cho việc miêu tả chân thực?
Trang 291.1.5 Dàn ý một bài văn miêu tả.
1.1.5.1 Mở bài.
- Giới thiệu đối tượng miêu tả ( đồ vật, cây cối, người, cảnh )
- Giới thiệu những điểm cần thiết khác tùy thuộc vào đối tượng miêu tả (thấy đối tượng đó ở đâu, lúc nào, quan hệ ra sao? )
1.1.5.2 Thân bài.
- Tả theo trình tự không gian hoặc thời gian hay đặc điểm đối tượng
- Có thể tả lần lượt
+Tả bao quát những nét chung nhất:
Đối với đồ vật là hình dáng, màu sắc, chất liệu và các bộ phận tạo thành
Đối với cảnh là đường nét, hình khối, không gian bao quanh
Đối với người và loài vật là ngoại hình, dáng vẻ, tính nết và hoạt động
+Tả những nét riêng, cá biệt, đặc sắc của đối tượng:
.Từ những nét độc đáo của đối tượng so với các đối tượng cùng loại khác (về hình dáng, chất liệu, màu sắc, đường nét, tính nết )
Tả chi tiết, cụ thể vài đặc điểm nổi bật nhất gây ấn tượng cho người viết
+ Nêu suy nghĩ riêng của bản thân về đối tượng muốn tả:
Nêu những kĩ niệm riêng của người viết đối với đối tượng miêu tả Nêu công dụng ( đồ vật), ích lợi (với cây cối, loài vật) , quan hệ tình cảm (với con người) và những suy nghĩ khác nếu có đối với đối tượng miêu tả
Tả lại cảnh cánh đồng lúa chín đang vào mùa gặt.
1.Mở bài:
Giới thiệu chung về thời gian, không gian, lí do quan sát cánh đồng lúa chín 2.Thân bài:
-Cánh đồng lúa chín nhìn bao quát
-Những thửa ruộng, khóm lúa, bông lúa nhìn gần
-Hoạt động của mọi người trên đồng
-Khung cảnh quanh cánh đồng: bầu trời, hàng cây, dòng kênh, con sông -Suy nghĩ, cảm nhận của người miêu tả
3.Kết bài:
-Ấn tượng về cánh đồng lúa chín
-Tình cảm với những con người làm nên cánh đồng lúa tốt
Tả lại ngôi nhà mà em đang ở.
1 Mở bài: Giới thiệu ngôi nhà em ( kiểu nhà, vị trí, vật liệu xây dựng )
2 Thân bài: cảnh vật bên ngoài ngõ, vườn cây, sân
Các phần chính của nhà: nhà ở, nhà bếp, bể nước
Trang 30Tình cảm của mình với ngôi nhà Suy nghĩ về ngôi nhà mơ ước
Có thể giáo viên rèn luyện cách mở bài và kết bài cho học sinh từ một bài văn miêu tả cụ thể như:
+Giáo viên gợi ý một số cách mở bài để học sinh luyện theo: có thể là trực tiếp, cũng có thể là gián tiếp, cũng có thể kết hợp cả hai Dù là cách mở bài nào, giáo viên cũng lưu ý cho học sinh đủ ý cần nêu trong mở bài
+Kết bài không những đủ ý chốt của bài viết mà nên tạo độ lắng cho nốt trầm xao xuyến vang vọng trong tâm hồn người đọc Điều này phụ thuộc vào trình độ diễn đạt của học sinh nên giáo viên hướng cho các em cần trao d6òi nhiều tư liệu văn học
Ví dụ: Một kết bài: Chiều thu- quê hương ơi! Hồn tôi như hóa thành tiếng sáo trúc nâng trên môi chú bé mục đồng và hình như thu đang dạo lên khúc nhạc đồng quê, những tiếng lao xao rất nhẹ, rất êm Chiều nay quả là một buổi chiều sâu lắng dìu dịu, nó sẽ in đậm mãi trong kí ức tuổi thơ tôi
Trang 31
1.2.Văn miêu tả trong chương trình phân mơn Tập làm văn ở Trung học cơ sở.
So với chương trình Tập làm văn trước đây, văn miêu tả trong chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở cĩ nội dung phong phú hơn và được thực hiện theo quan điểm tích hợp ở 3 phân mơn; Văn- Tiếng việt- Tập làm văn Bên cạnh đĩ, văn miêu tả cịn thực hiện theo kết hợp dọc ở các khối lớp 6, 7,8,9 Cụ thể:
*Ở lớp 6:Văn miêu tả.
-Phần lí thuyết cĩ các bài:
+Tìm hiểu chung về văn miêu tả
+Quan sát tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
+Phương pháp tả cảnh
+Phương pháp tả người
-Phần thực hành cĩ các bài:
+Luyện nói về quan sát, tưởng tượng, so sánh và nhận xét trong văn miêu tả
+Luyện nói về văn miêu tả
+Viết bài văn miêu tả: tả cảnh, tả người, miêu tả sáng tạo
+Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
+Lập dàn ý cho bài văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
+Luyện nĩi; Kể chuyện theo ngơi kể kết hợp với miêu tả và biểu cảm
+Viết bài tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm
Văn nghị luận:
-Phần lí thuyết:
+Tìm hiểu các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn nghị luận
-Phần thực hành:
+Luyện tập đưa các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả vào văn nghị luận
+Viết bài văn nghị luận cĩ sử dụng yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả
*Ở lớp 9:Văn thuyết minh
-Phần lí thuyết:
+Sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
-Phần thực hành:
+Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh
+Viết bài văn thuyết minh cĩ sử dụng yếu tố miêu tả
Văn tự sự:
-Phần lí thuyết:
+Miêu tả trong văn bản tự sự
+Miêu tả nội tâm trong văn bản tự sự
-Phần thực hành;
Trang 32+Luyện nói:Tự sự kết hợp với nghị luận và miêu tả nội tâm.
+Viết bài tự sự có sử dụng yếu tố nghị luận và miêu tả nội tâm
*Nhận xét về nội dung chương trình:
Nhìn vào hệ thống nội dung chương trình Tập làm văn, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra rằng đây là một hệ thống phân cấp có kế thừa và phát triển rất rõ.Hệ thống đó giúp ta hiểu rõ dụng ý của những người làm chương trình trong việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng Tập làm văn của học sinh bậc Trung học cơ sở phù hợp với từng độ tuổi, từng khối lớp.Chẳng hạn: ở lớp 6, các em sẽ học 2 kiểu bài chính đó là tự sự và miêu tả thực ra đây là hai kiểu bài đã quá quen thuộc với học sinh ở bậc tiểu học, nhất là lớp 4 và lớp 5 Ở lớp đầu cấp của bậc học ở Trung học cơ sở, học sinh được học kĩ có nâng cao, mở rộng hai kiểu bài này nhằm tạo một nền tảng vững chắc để sau này các em có thể sử dụng chúng như những công cụ hỗ trợ trong các kiểu bài mới: biểu cảm, thuiyết minh, nghị luận qua quá trình học tập
Ở lớp 8, cũng là Tự sự nhưng các em lại tiếp tục bồi dưỡng kĩ năng miêu tả
và đến lớp 9, kĩ năng miêu tả lại tiếp tục chú trọng trong các bài tự sự, đặc biệt là nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật
Hay nói cách khác, văn miêu tả được lặp lại hai vòng( vòng một: lớp 6 và vòng hai: lớp 8-9) Tất nhiên là có kế thừa và năng cao giữa hai lớp( chương trình chỉnh lí năm 1995 văn miêu tả chỉ được học ở lớp 6) Lớp 6 sau khi giới thiệu chung về văn miêu tả thì đi vào hai kiểu bài: tả cảnh và tả người Tả cảnh gồm cảnh thiên nhiên và cảnh sinh hoạt; tả người gồm tả chân dung và tả người trong một hoạt động cụ thể Lên lớp 8-9, vẫn là văn miêu tả ( tả cảnh và tả người) nhưng không tách rời mà yêu cầu kết hợp cả hai loại khi tả người không chỉ tả ngoại hình như lớp 6 mà chú ý hơn vào việc miêu tả diễn biến tâm lí, tình cảm, thái độ Tả ngoại hình nhân vật cũng không chỉ tả riêng chân dung mà miêu tả toàn diện hơn và chú ý sự phù hợp giữa ngoại hình với nội tâm nhân vật, tả người trong hoạt động, trong sinh hoạt Tả cảnh nhưng chú ý cảnh phù hợp với tâm trạng nhân vật Đặc biệt ở vòng 2, văn miêu tả được dạy không tách rời phương thức tự sự; có nghĩa là những nội dung miêu tả vừa nêu luôn gắn với văn kể chuyện, đan xen và kết hợp chặt chẽ trong một văn bản tự sự:
Về quy mô: bài văn miêu tả ở lớp 6 có dung lượng khoảng từ 300 đến 400 chữ; lên lớp 8-9, mỗi bài dài khoảng từ 500 đến 700 chữ
Về kĩ năng: ở lớp 6, học sinh chủ yếu rèn luyện các kĩ năng miêu tả chung như quan sát, nhận xét, so sánh, tưởng tượng kĩ năng lựa chọn chi tiết và xây dựng bài văn tả cành, tả người; lên lớp 8-9, tập cho học sinh các kĩ năng xác định đề tài và đối tượng miêu tả, kĩ năng xây dựng đoạn, tách đoạn văn miêu tả,
kĩ năng kết hợp miêu tả với tự sự, miêu tả với biểu cảm và lập luận
Về cách thể hiện: lớp 6 yêu cầu miêu tả một cách có thứ tự, cân đối, hài hòa, làm nổi bật được đặc điểm của đối tượng ;lên lớp 8-9, ngoài các yêu cầu trên, phải chú ý tới việc thể hiện một cách có hiệu quả
Văn miêu tả trong chương trình phân môn Tập làm văn ở Trung học cơ sở được bố trí nhiều giờ hơn, gần như cả một học kì cho một kiểu văn bản, do vậy
mà cơ hội học và luyện tập được kĩ càng hơn.Các kiến thức bài học, một mặt tạo điều kiện cho học sinh có thể nắm được nhiều khả năng biến hóa, mặt khác cũng tác động ngược trở lại giúp học sinh học tốt phần Đọc- hiểu văn bản
Trang 33Chương trình thực tại rất phù hợp với việc dạy và học của giáo viên và học sinh, nó có sự liên thông đi từ cụm bài lí thuyết đến cụm bài thực hành và cuối cùng là cụm bài ôn tập Cụm bài này mang tính kế thừa và phát huy của các cụm bài văn miêu tả truyền thống, nó giúp cho người học phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập Mặt khác, nó còn mang tính tích hợp, tích hợp ở 3 phân môn: Văn-Tiếng Việt-Tập làm văn và mang tính liên thông từ Tiểu học lên Trung học cơ sở.
Trang 34Chương 2:
THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN Ở LỚP 6 CỦA 3 TRƯỜNG: Trung học cơ sở Đông Thạnh,
Đông Thành va øLong An.
2.1.Khảo sát thực trạng dạy học văn miêu tả trong Tập làm văn lớp 6 ở 3 trường :Trung học cơ sở Đông Thạnh, Đông Thành va øLong An.
2.1.1.Mục đích khảo sát.
Khảo sát nhằm nắm được tình hình thực tế của việc giảng dạy văn miêu tả của giáo viên và tình hình học tập văn miêu tả của học sinh Đặc biệt khảo sát việc sử dụng phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6 Thông qua đó, hiểu rõ hơn về quan niệm của giáo viên về phương pháp dạy học này và thái độ của học sinh khi được tiếp xúc với phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn của Ngữ văn 6
2.1.2.Đối tượng và địa bàn khảo sát.
2.1.2.1.Đối tượng khảo sát.
Chúng tôi tiến hành khảo sát ở 2 nhóm đối tượng:
-Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn của 3 trường: Trung học cơ sở Đông Thạnh, Trung học cơ sở Đông Thành và Trung học cơ sở Long An gồm có 13 giáo viên Đây là những giáo viên chuẩn, có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, có trình độ chuyên môn cao, năng lực sư phạm tốt, rất yêu nghề
-Học sinh của 3 lớp của 3 trường:
+Lớp 6A3 của trường Trung học cơ sở Đông Thạnh có 35 học sinh, có chất lượng học tập trung bình
+Lớp 6A1 của trường Trung học cơ sở Đông Thành có 32 học sinh, có chất lượng học tập khá giỏi
+Lớp 6A2 của trường Trung học cơ sở Long An có 34 học sinh, có chất lượng học tập khá
2.1.2.1.Địa bàn khảo sát.
Chúng tôi tiền hành khảo sát trên địa bàn của 3 trường :Trung học cơ sở Đông Thạnh, Trung học cơ sở Đông Thành và Trung học cơ sở Long An của hai huyện Bình Minh và Long Hồ của tỉnh Vĩnh Long
Đặc điểm của 3 trường này đều nằm ở vùng sâu (riêng trường Trung học cơ sở Long An nằm gần địa bàn thành phố Vĩnh Long), có cơ cở vật chất khá đầy đủ như phòng thiết bị, thư viện, y tế, phòng máy vi tính và các phương tiện phục vụ khác
2.1.3.Hình thức khảo sát.
Khi tiến hành khảo sát, tìm hiểu về thực tế của việc dạy học cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6 của 3 trường Trung học cơ sở Đông Thạnh, Trung học cơ sở Đông Thành và Trung học cơ sở Long An, chúng tôi sử dụng các hình thức khảo sát như sau:
Trang 35-Dự giờ:Chúng tôi tham gia dự giờ 3 tiết dạy học Tập làm văn trong cụm bài văn miêu tả ở lớp 6 của giáo viên để nắm bắt việc vận dụng phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6.
-Phiếu điều tra:dùng phiếu này để thu thập ý kiến của giáo viên và học sinh về thực tế sử dụng phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6
-Phỏng vấn trực tiếp: Do không có điều kiện, chúng tôi chỉ tiếp xúc và trò chuyện được 9 giáo viên về tình hình dạy và học Tập làm văn trong cụm bài văn miêu tả ở lớp 6
-Kiểm tra kiến thức:Chúng tơi dùng bài kiểm tra trắc nghiệm và tự luận để đánh giá tình hình học tập và tiếp thu kiến thức của học sinh qua từng tiết dạy theo cụm bài văn miêu tả
2.1.4.Nội dung và kết quả khảo sát.
Khảo sát việc giảng dạy cụm bài văn miêu tả của giáo viên: chú ý đến việc sử dụng phương pháp trong giờ dạy của giáo viên
Khảo sát quan niệm của giáo viên về phương pháp dạy học cụm bài văn miêu tả trong Ngữ văn 6
Khảo sát việc học văn miêu tả ở lớp 6 của học sinh
2.1.4.1.Khảo sát việc dạy văn miêu tả của giáo viên.
Qua quá trình khảo sát, chúng tơi thu được các kết quả và được thể hiện qua các bảng số liệu sau:
*Bảng kết quả trưng cầu ý kiến của giáo viên.
Số lượng Tỉ lệ %1
2
3
4
Nếu được dạy học kiểu bài văn miêu tả
trong Ngữ văn 6, thầy cơ dùng các
phương pháp dạy học nào sau đây:
a.Quy nạp c.Thảo luận nhĩm
b.Gợi tìm d.Thuyết trình
Dạy học kiểu bài văn miêu tả sẽ:
a Phát huy tính tích cực, chủ động và
sáng tạo của học sinh
b Vừa chiếm lĩnh tri thức vừa tạo ra
sản phẩm mới
Cĩ nên áp dụng tích hợp trong dạy học
cụm bài văn miêu tả :
a Cĩ
b Khơng
Theo thầy (cơ) khi tiến hành dạy học kiểu
bài văn miêu tả gặp những thuận lợi :
a Kích thích động cơ học tập của học
3a8c2b
10a3b
12a1b
7a
23%
61.5%15.5%
76.9%23.1%
92.3%7.7%
53.8%
Trang 36b Học sinh sẽ nắm nội dung bài học
nhanh và nhớ lâu hơn
Khi tiến hành dạy học kiểu bài văn miêu
tả, thầy (cô) có khó khăn về:
a Sự sáng tạo của học sinh
b Phương pháp thảo luận nhóm
Dạy học kiểu bài văn miêu tả, thầy(cô) có
lồng vào tích hợp cho phân môn Văn và
Tiếng Việt:
a Có
b Không
Theo thầy cô, văn miêu tả có cần thiết cho
việc dạy học hiện nay không?
a Cần thiết trong dạy học hiện nay
6a7b
5a8b
12a1b
12a1b
11a2b
46.2%
13.4%84.6%
46.1%53.9%
38.4%61.6%
92.3%7.7%
92.3%7.7%
84.6%13.4%
Nói tóm lại, kết quả thực nghiệm đã chứng minh tính phù hợp và đúng đắn của cơ sở lý thuyết- thực hành và ôn tập mà khóa luận đã đề xuất Kết quả thể