1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích hoạt động tín dụng tại các Ngân Hàng Thương Mại

25 245 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 232,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể hiểu rõ về hoạt động tín dụng của NHTM và cai trò to lớn của nó trong nền kinh tế em xin chọn đề tài “Phân tích hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại” làm đề án của m

Trang 1

để đầu tư và tín dụng ngân hàng là một trong những nguồn vốn tối ưu để doanh nghiệp

có thể khai thác Các doanh nghiệp phát triển cũng có nghĩa là nền kinh tế phát triển.Như vậy, tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế vàgóp phần điều hành nền kinh tế thị trường

Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất,

nó chiếm tỉ trọng đa số trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Tín dụng

có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và nó cũng quyết địnhđến sự phát triển hay thất bại của một NHTM

Để có thể hiểu rõ về hoạt động tín dụng của NHTM và cai trò to lớn của nó trong nền

kinh tế em xin chọn đề tài “Phân tích hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại” làm đề án của mình

CHƯƠNGI: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Ngân hàng thương mại

Định nghĩa ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thườngxuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó

để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán

Các chức năng của ngân hàng thương mại

Chức năng trung gian tín dụng

Trang 2

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàngthương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nốigiữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thươngmại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợinhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợiích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay

Chức năng trung gian thanh toán

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện cácthanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ đểthanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiềnthu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ

Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủynhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu,khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủthể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phảithanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiệncác khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí,thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưuthông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phầnphát triển kinh tế

Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu làtìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, cácNHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thựchiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế

Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năngtín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng

sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sửdụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanhtoán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng đểmua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăngtổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của

xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàngtrung ương đã áp dụng đối với nhtm do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ nàykhi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn

Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Trang 3

Sự gia tăng của các sản phẩm dịch vụ

Ngày nay, các ngân hàng đang mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ tài chính mà họcung cấp cho khách hàng Qúa trình mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ đã tăng tốctrong những năm gần đây dưới áp lực cạnh tranh gia tăng từ các tổ chức tài chính khác,

từ sự hiểu biết và đòi hỏi cao hơn của khách hàng, và từ sự thay đổi công nghệ

Sự gia tăng cạnh tranh

Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệt khingân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ Các ngânhàng địa phương cung cấp tín dụng, kế hoạch tiết kiệm, kế hoạch hưu trí, dịch vụ tư vấntài chính cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng Đây là những dịch vụ đang phải đốimặt với sự cạnh tranh trực tiếp từ các ngân hàng khác, các hiệp hội tín dụng, ngân hàngđầu tư Merrill Lynch, các công ty tài chính như GE Capital và các tổ chức bảo hiểm nhưPrudential Áp lực cạnh tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụcho tương lai

Sự gia tăng chi phí vốn

Sự nới lỏng luật lệ kết hợp với sự gia tăng cạnh tranh làm tăng chi phí trung bình thực

tế của tài khoản tiền gửi – nguồn vốn cơ bản của ngân hàng Với sự nới lỏng các luật lệ,ngân hàng buộc phải trả lãi do thị trường cạnh tranh quyết định cho phần lớn tiền gửi.Đồng thời, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng phải sử dụng vốn sở hữu nhiều hơn – mộtnguồn vốn đắt đỏ - để tài trợ cho các tài sản của mình Điều đó buộc họ phải tìm cáchcắt giảm các chi phí hoạt động khác như giảm số nhân công, thay thế các thiết bị lỗi thờibằng hệ thống xử lý điện tử hiện đại Các ngân hàng cũng buộc phải tìm các nguồn vốnmới như chứng khoán hóa một số tài sản, theo đó một số khoản cho vay của ngân hàngđược tập hợp lại và đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán; các chứng khoán được đảm bảobằng các món vay được bán trên thị trường mở nhằm huy động vốn mới một cách rẻ hơn

và đáng tin cậy hơn Hoạt động này cũng có thể tạo ra một khoản thu phí không nhỏ chongân hàng, lớn hơn so với các nguồn vốn truyền thống (như tiền gửi)

Sự gia tăng của các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất

Các qui định của Chính phủ đối với công nghiệp ngân hàng tạo cho khách hàng khả năngnhận được mức thu nhập cao hơn từ tiền gửi, nhưng chỉ có công chúng mới làm cho các

cơ hội đó trở thành hiện thực Và công chúng đã làm việc đó Hàng tỷ USD trước đâyđược gửi trong các tài khoản tiết kiệm thu nhập thấp và các tài khoản giao dịch khôngsinh lợi kiểu cũ đã được chuyển sang các tài khoản có mức thu nhập cao hơn, những tàikhoản có tỷ lệ thu nhập thay đổi theo điều kiện thị trường Ngân hàng đã phát hiện rarằng họ đang phải đối mặt với những khách hàng có giáo dục hơn, nhạy cảm với lãi suấthơn Các khoản tiền gửi “trung thành” của họ có thể dễ tăng cường khả năng cạnh tranh

Trang 4

trên phương diện thu nhập trả cho công chúng gửi tiền và nhạy cảm hơn với ý thích thayđổi của xã hội về vấn đề phân phối các khoản tiết kiệm.

Cách mạng trong công nghệ ngân hàng

Đối mặt với chi phí hoạt động cao hơn, từ nhiều năm gần đây các ngân hàng đã và đangchuyển sang sử dụng hệ thống hoạt động tự động và điện tử thay thế cho hệ thống dựatrên lao động thủ công, đặc biệt là trong công việc nhận tiền gửi, thanh toán bù trừ vàcấp tín dụng Những ví dụ nổi bật nhất bao gồm các máy rút tiền tự động ATM, chophép khách hàng truy nhập tài khoản tiền gửi của họ 24/24 giờ; Máy thanh toán tiềnPOS được lắp đặt ở các bách hóa và trung tâm bán hàng thay thế cho các phương tiệnthanh toán hàng hóa dịch vụ bằng giấy; và hệ thống máy vi tính hiện đại xử lý hàng ngàngiao dịch một cách nhanh chóng trên toàn thế giới

Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

Định nghĩa tín dụng ngân hàng

1 Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tíndụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân,

tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước

1 Đặc điểm tín dụng ngân hàng

• Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ;

• Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay;

• Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng không hoàn toàn phùhợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa;

• Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa các chủthể trong nền kinh tế

Phân loại tín dụng ngân hàng

Căn cứ vào thời hạn tín dụng

- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản vay có thời hạn đến 1 năm, thường được sử dụng

để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạtcủa cá nhân

- Tín dụng trung hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm; được cungcấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng cáccông trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh

Trang 5

- Tín dụng dài hạn: là những khoản vay có thời hạn trên 5 năm Loại tín dụng này được

sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy môlớn

Căn cứ vào đối tượng tín dụng

- Tín dụng vốn lưu động: được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh

tế như cho vay để dự trữ hàng hóa, mua nguyên vật liệu cho sản xuất…

- Tín dụng vốn cố định: được sử dụng để hình thành tài sản cố định

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là loại cấp phát tín dụng cho các

doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa

- Tín dụng tiêu dùng: là hình thức cấp phát tín dụng cho cá nhân để đáp ứng nhu cầutiêu dùng

- Tín dụng học tập: là hình thức cấp phát tín dụng để phục vụ việc học tập của sinh viên.Ngoài ra, căn cứ vào mục đích sử dụng vốn còn có thể có nhiều hình thức tín dụng khác

Căn cứ vào đối tượng trả nợ

- Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay cũng là người trựctiếp trả nợ

- Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay và người trả nợ làhai đối tượng khác nhau

Căn cứ vào tính chất của khoản vay

- Tín dụng có đảm bảo: các khoản vốn tín dụng phát ra đều có hàng hóa, vật tư tài sảntương đương đảm bảo

- Tín dụng không có đảm bảo: các khoản tín dụng phát ra không cần có hàng hóa, vật

tư, tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào uy tín, sự tín nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân đểcấp vốn tín dụng

Nguyên tắc và điều kiện cho vay trong tín dụng ngân hàng

1 Nguyên tắc cho vay

Trang 6

• Nguyên tắc hoàn trả: khoản tín dụng phải được thanh toán đầy đủ nguyên gốcsau khi sử dụng để ngân hàng bảo toàn được vốn ở mức tối thiểu nhất để có thểduy trì được hoạt động.

• Nguyên tắc thời hạn: khoản tín dụng phải được hoàn trả đúng vào thời điểm đãđược hai bên xác định cụ thể và được ghi nhận trong thỏa thuận vay vốn giữakhách hàng và ngân hàng

• Nguyên tắc trả lãi: ngoài việc thanh toán đầy đủ, đúng hạn khoản gốc, kháchhàng phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi tính bằng tỷ lệ % trên số tiềnvay, được coi là giá mua quyền sử dụng vốn

• Nguyên tắc tài sản đảm bảo: để bảo vệ nguồn vốn của ngân hàng khi kháchhàng vi phạm các điều kiện vay vốn hoặc khi chủ nhân của các tài sản thế chấpkhông còn khả năng thanh toán cho ngân hàng

• Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích: tất cả các khoản tín dụng phảiđược

• sử dụng đúng mục đích vay thể hiện trong hồ sơ vay vốn

2 Điều kiện cho vay

• Khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịutrách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

• Khách hàng phải có khả năng tài chính đảm bảo trả được nợ trong thời hạn camkết

• Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp

• Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi; phương ánđầu tư, phục vụ đời sống khả thi kèm phương án trả nợ khả thi và phù hợp vớiquy định của pháp luật

• Thực hiện đầy đủ các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chínhphủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước và hướng dẫn của MHB

Vai trò của tín dụng ngân hàng với sự phát triển kinh tế

Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế.

Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay.Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nóthoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn Hơn nữa, để có thể vay vốn được từ ngânhàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảmbảo được các nguyên tắc tín dụng Muốn vậy, trong các dự án kinh doanh của mình,doanh nghiệp phải chọ dự án có mức sinh lãi cao nhất Để các dự án khả thi, doanhnghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanhcủa mình sao cho có hiệu quả Điều đó làm tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án

Trang 7

Mặt khác, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâu giám sát sử dụngvốn vay Với việc giám sát này của ngân hàng, bắt buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốnvay đúng mục đích, phải nhạy bén với những thay đổi của thị trường, từ đó góp phầnnâng cao hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, vai trò tư vấn của cán bộ tín dụng sẽ giúp chodoanh nghiệp lường trước được những khó khăn, vượt qua khó khăn để đứng vững, điềunày cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế.

Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả.

Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để

dự trữ vật tư hàng hoá cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó Vì vậy, luân chuyểntiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc thiếu vốn Nguồn vốn doanh nghiệp tạmthời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… đượcngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạmthời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũngnhư cho nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu Thông qua cơ chếsàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao,khả năng thu hồi vốn lớn Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả

Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ.

Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả năng tạo tiềnthông qua hoạt động tín dụng và thanh toán Khi nhà nước muốn tăng khối lượng tiềncung ứng thì Ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của các ngân hàngthương mại đối với nền kinh tế và ngược lại Do vậy thông qua hình thức tín dụng ngânhàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông

Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.

Trước xu thế quốc tế hoá, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra Trong nềnkinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần kháctrong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nướcngoài Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảolãnh, cho vay… đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệptrên trường quốc tế

Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng của các NHTM bao gồm các yếu

tố chủ quan và yếu tố khách quan đến từ nội bộ ngân hàng hay từ môi trường bên ngoài

Trang 8

như : môi trường kinh tế, môi trường pháp lý, môi trường cạnh tranh, hay đến từ khách

hàng Tuy nhiên trong phạm vi đề án chỉ phân tích các yếu tố chủ quan mà bản thân

ngân hàng có thể kiểm soát được và có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng của

ngân hàng thương mại

1 Quy trình tín dụng

Là những trình tự, giai đoạn, các bước, công việc cần làm theo một thủ tục nhất

đinh trong việc cho vay, bắt đầu từ việc xét đơn xin vay của khách hàng đến khi

thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng Hiệu quả hoạt động tín dụng phụ thuộcvào việc lập ra quy trình tín dụng đảm bảo tính logic khoa học và thực hiện, phốihợp nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình Quy trình bao gồm các bước:

Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn

Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng Nhìn chung

một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:

• năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng

• khả năng sử dụng vốn vay

• khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)

Bước 2: Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách hàng trong việc

sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay

Mục tiêu:

• Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự

đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu

rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng

• Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách

hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở

cho việc ra quyết định cho vay

Bước 3: Ra quyết định tín dụng

Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ

sơ vay vốn của khách hàng

Khi ra quyết định, thường mắc 2 sai lầm cơ bản:

• Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt

• Từ chối cho vay với một khách hàng tôt

Trang 9

Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.

Bước 4: Giải ngân

Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theohạn mức tín dụngđã

ký kết trong hợp đồng tín dụng

Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặcdịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảmbảo khả năng thu nợ Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hàcho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng

Bước 5: Giám sát tín dụng

Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng,hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng, để đảm bảo khả năngthu nợ

Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng

1 Phương thức tín dụng

Nhìn chung các phương thức cấp tín dụng của NHTM có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệuquả của doanh nghiệp Các ngân hàng mạnh không chỉ thể hiện ở chỗ cung ứng mộtkhối lượng tín dụng to lớn cho thị trường mà là ở chỗ cấp tín dụng như thế nào Ở ViệtNam các phương thức cho vay còn quánghèo nàn, hầu như chỉ bán ra những gì mà ngânhàng có chứ không thật quantâm đến cái mà khách hàng cần, do đó kém sức hấp dẫn vàkhó mở rộng tíndụng Trong Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 ngày 30/9/1998 củaThốngđốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc "Ban hành quy chế cho vay của các

tổ chức tín dụng đối với khách hàng" có quy định về một số phương thức chovay củacác tổ chức tín dụng Nó quy định tổ chức tín dụng thoả thuận với kháchhàng về phươngthức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năngkiểm tra, giám sát việckhách hàng sử dụng vốn vay theo một trong các phương thức cho vay sau:

Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủtục vay vốncần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định vàthoả thuậnmột hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chukỳ sản xuất, kinhdoanh

Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thựchiện các

dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phụcvụ đời sống

Trang 10

Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự ánvay vốnhoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tín dụng làm đầu mốidàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Việc cho vayhợp vốn thực hiện theoquy định của quy chế này và quy chế đồng tài trợ của cáctổ chức tín dụng do Thống đốcNgân hàng Nhà nước ban hành.

Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận sốlãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trongthời hạn cho vay, tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay khi trả đủ nợgốc và lãi

Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảosẵn sàngcho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Tổ chức tín dụng

và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trảcho hạn mức tín dụng dự phòng

Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tíndụng chấpthuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng đểthanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểmứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tíndụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định của Chính phủ vàNgân hàng Nhà nước về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

Các phương thức cho vay khác phù hợp với quy định của Quy chế này và các quy địnhkhác của Ngân hàng Nhà nước

Tuy nhiên Quyết định 324 còn quy định khá chung chung, và đối với các NHTM việc ápdụng cụ thể như thế nào lại thuộc quyền hướng dẫn của mỗi ngân hàng, và tất nhiên cóbao nhiêu ngân hàng sẽ có bấy nhiêu văn bản pháp lý khácnhau quy định cụ thể về cácphương thức cho vay Nhưng có những điều mà các NHTM lại không thích quy định cụthể rõ ràng trong văn bản vì nếu thế sẽ bị mắc trong quá trình thực hiện hoặc sẽ không

có chỗ "lùi" khi mà quy định của ngân hàng mình lại "chặt" hơn ngân hàng bạn do đógiảm khả năng cạnh tranh Vì vậy qua thực tiễn hoạt động thì Ngân hàng Nhà nước nênsửa đổi quy định về phương thức cho vay theo hướng cụ thể hoá để thống nhất phươngthức cho vay trong các tổ chức tín dụng là một vấn đề cấp thiết, không để tình trạng tựquyđịnh dẫn đến sự sai lệch về phương thức cho vay và quản lý vốn vay như hiện nay

1 Lãi suất tín dụng

Lãi suất chính là giá của quyền được sử dụng vốn mà người sử dụng phải trả cho người

sở hữu nó trong một thời gian nhất định Cái giá đó sẽ quyết định việc khách hàng cóvay hay không, do vậy nó ảnh hưởng đến khả năng tín dụng ngân hàng Để sử dụng cóhiệu quả công cụ lãi suất trong phát triển tín dụng ta cần xem xét vấn đề sau:

Trang 11

1 Nguyên tắc xác định lãi suất

Như đã nói, lãi suất tín dụng chính là giá cả của tín dụng, là tỷ lệ % tính theo một thờihạn xác định ( ngày, tuần, tháng, quý, năm ) dùng làm căn cứ để tính toán số lợi tứctín dụng mà các chủ thể tín dụng phải trả ( đối với chủ thể đi vay ) hoặc nhận được ( đốivới chủ thể cho vay ) để điều hoà lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng Dovậy, việc xác định lãi suất tín dụng sao cho hợp lý là một vấn đề vô cùng quan trọng saocho đảm bảo được lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ tín dụng

Trước hết, lãi suất tín dụng phải đảm bảo một phần thu nhập hợp lý cho người gửi tiềnvào ngân hàng Do vậy trong thực tế, lãi suất thực tế phải lớn hơn hoặc bằng tỷ lệ lạmphát tức là:

Lãi suất thực tế = tỷ lệ lạm phát + tỷ lệ khuyến khích người gửi tiền

Mặt khác, lãi suất tín dụng phải đảm bảo một phần thu nhập hợp lý cho các tổ chức tíndụng (TCTD ) và NHTM tức là:

Lãi suất = Lãi suất + Các chi phí hợp lý + Bù đắp rủi ro + tỷ lệ thu nhập cho vay tiền gửitrong hoạt động trong hoạt động hợp lý tín dụng ngân hàng

Đồng thời, lãi suất cho vay của ngân hàng phải đảm bảo phát triển nền kinh tế tức làphải đảm bảo cho những người vay vốn ngân hàng có thu nhập hợp lý, nghĩa là:

Lãi suất cho vay < Tỷ lệ lợi nhuận bình quân của nền kinh tế

Do vậy, có thể khẳng định rằng giới hạn tối đa của lãi suất tín dụng ngân hàng nói chung

là tỷ suất lợi nhuận bình quân, còn giới han thấp nhất của lãi suất là chỉ số lạm phát vì

nó sẽ làm cho người gửi tiền bảo toàn được vốn

Tóm lại, để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và mở rộng các quan hệ tíndụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụng được kiểm soát trong khunggiới hạn sau đây:

Tỷ lệ lạm phát ≤ lãi suất tín dụng ≤ tỷ suất lợi nhuận bình quân

Nếu vượt quá giới hạn trên, lãi suất tín dụng sẽ gây ra tác động tiêu cực đối với nền kinh

tế xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất ổn, rối loạn

1 Phân loại lãi suất

Phân loại lãi suất dựa vào cách phân loại các hoạt động tín dụng

Theo thời gian thì có lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

Trang 12

Đây là cách phân loại lãi suất theo độ dài thời gian mà ngân hàng cho các tác nhân vàthể nhân khác trong nền kinh tế vay Cơ sở của cách phân loại này là thời gian cho vaycàng dài thì rủi ro mất vốn càng cao nên lãi suất cũng phải tăng theo Do vậy, lãi suấtcho vay dài hạn cao hơn lãi suất cho vay trunghạn, lãi suất cho vay trung hạn cao hơn lãisuất cho vay ngắn hạn Tuy nhiên trên thực tế nó còn phụ thuộc vào các mục tiêu kinh

tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia Chính phủ dùng công cụ lãisuất để điều chỉnh cơ cấu sản xuất xã hội hay chống khủng hoảng khôi phục nền kinh tếsau chiến tranh chẳng hạn, khi đó cần vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ bản,kiến thiết nền sản xuất do đó lãi suất trung, dài hạn có khi lại thấphơn so với ngắn hạn

Xét theo tính chất của các ngành nghề kinh doanh thì có lãi suất cho vvay kinh doanh, lãi suất cho vay tiêu dùng, lãi suất cho vay chăn nuôi, lãi suất cho vay bất động sản

Lãi suất cho vay kinh doanh là lãi suất áp dụng cho các loại hoạt độngkinh doanh, vềmặt lý thuyết thì lãi suất này thường là thấp nhất trong số các loại lãi suất cho vay củaNHTM vì thời hạn thu hồi vốn nhanh

Lãi suất cho vay nông nghiệp: thường thì nó cao hơn lãi suất sản xuất kinhdoanh vì nó

có rủi ro khách quan lớn (do biến động của khí hậu, thời tiết, điềukiện tự nhiên, sâu bọ,bệnh tật mà con người không kiểm soát được)và quy môsản xuất lại nhỏ hơn, và thờigian thu hồi vốn lâu hơn (do tính thời vụ trong nông nghiệp)

Lãi suất cho vay tiêu dùng: thường cao hơn các lãi suất cho khoản vaykhác vì nó có quy

mô nhỏ, rủi ro nhiều và khả năng trả nợ thấp

Lãi suất cho vay bất động sản: lãi suất tương đối cao do bị ảnh hưởng bởi kỳ hạn vay, tỷ

lệ cho vay, nhu cầu về thanh khoản và tính chất đảm bảo hay bảo hiểm bởi một cơ quankhác

Ngoài ra còn các hình thức lãi suất phụ thuộc vào chính sách tín dụng của nhànước như: lãi suất thông thường, lãi suất ưu đãi, lãi suất quá hạn, lãi suất co dãnhoặc lãi suất cứng.

1 Các yếu tố ảnh hưởng tới lãi suất

- Điều kiện thị trường tiền tệ: nếu như ngân hàng phụ thuộc và khoản vốn huy động dướidạng các chứng chỉ tiền gửi mệnh giá lớn hoặc tiền vay Chính phủ thì giá vốn huy động

nó sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các điều kiện của thị trường tiền tệ, hơn nữa thị trườngtiền tệ lại quyết định sức hấp dẫn của các dự án đầu tư, do đó nó ảnh hưởng đến lãi suấtcho vay

Ngày đăng: 06/01/2015, 20:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng một số chỉ tiêu tín dụng của ngân hàng vietinBank từ năm 2011 đến nay - Phân tích hoạt động tín dụng tại các Ngân Hàng Thương Mại
Bảng m ột số chỉ tiêu tín dụng của ngân hàng vietinBank từ năm 2011 đến nay (Trang 20)
Bảng một số chỉ tiêu tín dụng của ngân hàng MBB từ năm 2011 đến nay - Phân tích hoạt động tín dụng tại các Ngân Hàng Thương Mại
Bảng m ột số chỉ tiêu tín dụng của ngân hàng MBB từ năm 2011 đến nay (Trang 22)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w