1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần ở thành phố hồ chí minh

73 269 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 849,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, do cung ứng vốn tiền tệ cho nền kinh tế, tín dụng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, thúc đẩy quá trìn

Trang 1

PHẠM VĂN VÔ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2003

Trang 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

I Khái niệm tín dụng và tín dụng ngân hàng

1 Khái niệm tín dụng:

Tín dụng là sự chuyển quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn Khoảng giá trị dôi ra này được gọi là lãi cho vay Như vậy tín dụng có 3 đặc trưng cơ bản như sau:

- Có sự chuyển nhượng vốn từ người cho vay sang người đi vay

- Sự chuyển nhượng này chỉ mang tính chất tạm thời vì người cho vay chỉ chuyển quyền sử dụng chứ không chuyển quyển sở hữu

- Sau một thời gian nhất định người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay một khoảng tiền lớn hơn số tiền vay ban đầu Khoản giá trị dôi ra đó được gọi là lợi tức tín dụng(lãi tiền vay)

Nếu thiếu một trong ba đặc điểm trên thì không thể coi là quan hệ tín dụng

2 Tín dụng ngân hàng

2.1 Khái niệm:

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các tổ chức, cá nhân theo nguyên tắc hoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của các tổ chức, các cá nhân trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng

Theo Điều 20 của Luật Các Tổ chức Tín dụng, nếu đứng trên góc độ quan hệ giữa các TCTD với khách hàng ta có thể hiểu tín dụng theo nghĩa sau:

“Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh và các nghiệp vụ khác”

Trang 3

2.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:

Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ: các bên đi vay và bên cho vay trong quan hệ tín dụng ngân hàng đều nhằm vào một mục đích là chuyển giao một nguồn vốn dưới dạng tiền tệ, bao gồm tiền mặt và bút tệ cho dù mục đích sử dụng vốn có khác nhau như sản xuất, lưu thông hay tiêu dùng

Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, ngân hàng luôn tham gia đóng vai trò là tổ chức trung gian với tư cách vừa là người đi vay vừa là người cho vay

Mục đích của tín dụng ngân hàng là huy động nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi và tiến hành cho vay lại

Hình thức pháp lý của quan hệ tín dụng ngân hàng là thể hiện dưới hình thức văn bản, đó chính là hợp đồng tín dụng ngân hàng

2.3 Bản chất của tín dụng ngân hàng:

Từ những khái niệm trên, bản chất của tín dụng là giao dịch về tài sản trên

cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau:

- Tài sản giao dịch trên quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay bằng tiền và cho thuê (bất động sản, động sản) Trước đây, hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có cho vay bằng tiền Tuy nhiên, những năm 70 trở về đây, cho thuê tài chính đã được các ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình Đây là một sản phẩm kinh doanh của ngân hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực (nhà xưởng, máy móc thiết bị, …)

- Xuất phát từ nguyên tắc có hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc Để thực hiện đựoc nguyên tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác phải xác định lãi suất thực dương

- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như

Trang 4

hôïp ñoăng tín dúng, kheâ öôùc nhaôn nôï thöïc chaât laø leônh phieâu, trong ñoù beđn ñi vay cam keât hoaøn trạ vođ ñieău kieôn cho beđn cho vay khi ñeân hán thanh toaùn

II Chöùc naíng vaø vai troø cụa tín dúng ngađn haøng:

1 Chöùc naíng cụa tín dúng:

1.1 Chöùc naíng phađn phoẫi vaø taôp trung tieăn teô theo nguyeđn taĩc coù hoaøn trạ:

Ñađy laø chöùc naíng cô bạn nhaât cụa tín dúng Thođng qua chöùc naíng naøy tín dúng ñaõ tham gia ñieău tieât caùc nguoăn voân tám thôøi nhaøn roêi ñeơ boơ sung kòp thôøi cho nhöõng caù nhađn, caùc toơ chöùc kinh teâ coù nhu caău veă voân nhaỉm phúc vú cho sạn xuaât kinh doanh, dòch vú vaø ñôøi soâng

ÔÛ khađu taôp trung, tín dúng thu huùt ñái boô phaôn tieăn teô nhaøn roêi trong neăn kinh teâ, bao goăm: tieăn nhaøn roêi cụa dađn chuùng, voân baỉng tieăn cụa caùc doanh nghieôp, caùc toơ chöùc ñoaøn theơ

ÔÛ khađu phađn phoâi lái voân tieăn teô, ñoù laø söï phađn phoâi lái caùc nguoăn voân ñaõ ñöôïc taôp trung döôùi hình thöùc cho vay ñeơ boơ sung voân cho caùc toơ chöùc kinh teâ, caùc caù nhađn nhaỉm phúc vú sạn xuaât, kinh doanh, dòch vú vaø ñôøi soâng

Toùm lái, taôp trung vaø phađn phoâi lái voân tieăn teô tređn cô sôû coù hoaøn trạ laø hai quaù trình thoâng nhaât trong söï vaôn haønh cụa heô thoâng tín dúng Chuùng kích thích ñaơy mánh taôp trung voân vaø nađng cao hieôu quạ söû dúng voân Töø ñoù thuùc ñaơy gia taíng ñaău tö sạn xuaât kinh doanh dòch vú vaø ñôøi soâng Qua ñoù, töøng böôùc nađng cao chaât löôïng cuoôc soâng cụa dađn cö vaø goùp phaăn thuùc ñaơy taíng tröôûng kinh teâ

1.2 Chöùc naíng tieât kieôm tieăn maịt vaø chi phí löu thođng cho xaõ hoôi:

Trong neăn kinh teâ thò tröôøng, hoát ñoông tín dúng ngaøy caøng môû roông vaø phaùt trieơn ña dáng Trong khi thöïc hieôn chöùc naíng taôp trung vaø phađn phoâi lái voân tieăn teô, laøm cho nhöõng khoạn voân ñang tám thôøi nhaøn roêi ñöôïc ñöa vaøo löu thođng ñaõ laøm taíng nhòp ñoô voøng quay cụa ñoăøng tieăn Töø ñoù goùp phaăn laøm giạm löôïng tieăn

dö thöøa, nhaât laø tieăn maịt trong caùc taăng lôùp dađn cö Maịt khaùc, ñeơ thöïc hieôn quaù trình taôp trung voân, ngoaøi hình thöùc vay möôïn tröïc tieâp baỉng tieăn, caùc chụ theơ coù nhu caău voân coøn phaùt haønh caùc chöùng töø coù giaù nhö: thöông phieâu, traùi phieâu

Trang 5

Hơn nữa, trong điều kiện hệ thống ngân hàng phát triển, hoạt động tín dụng ngân hàng sẽ ngày càng mở rộng và phát triển đa dạng, từ đó thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt như: séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, các loại thẻ tín dụng… Việc ra đời của những bút tệ này góp phần giảm nhu cầu về tiền mặt trong lưu thông và giảm các chi phí khác liên quan như chi phí in ấn giấy bạc, chi phí bảo quản tiền, vận chuyển tiền Đồng thời cho phép Nhà Nước điều tiết một cách linh hoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thông hàng hoá

1.3 Chức năng phản ánh một cách tổng hợp và kiểm soát quá trình hoạt động của nền kinh tế:

Trong việc thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ yêu cầu tái sản xuất, tín dụng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế Ví dụ trong nền kinh tế quốc dân ngành nào có tỷ suất lợi nhuận cao, có tiềm năng phát triển tốt thì sẽ được

ưu tiên tập trung vốn để phát triển; ngoài ra, thông qua tín dụng cũng xác định được cơ cấu vốn đầu tư cho ngành này từ những nguồn nào

Đặc biệt tín dụng có thể phản ánh một cách tổng hợp mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa tích lũy và tái đầu tư Từ đó biết được nguồn vốn huy động từ những thành phần nào, từ những đối tượng nào, với khối lượng và sự biến động qua từng thời kỳ là bao nhiêu

Mặt khác, trong khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt gắn liền với việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tín dụng ngân hàng có thể phản ánh và kiểm soát quá trình phân phối sản phẩm trong nền kinh tế

Như vậy, với chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế, tín dụng sẽ góp phần giải quyết tình trạng mất cân đối cục bộ của nền kinh tế với những giải pháp khắc phục kịp thời, từ đó phát huy vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước Điều này cũng có nghĩa là tín dụng cũng phải được vận dụng như một trong những đòn bẩy kích thích kinh tế không thể thiếu trong quá trình

Trang 6

tổ chức quản lý kinh tế – tài chính, kiểm soát và thúc đẩy các hoạt động kinh tế quốc dân

2 Vai trò của tín dụng

Một khi phát huy các chức năng vốn có trên, tín dụng thể hiện vai trò tích cực trong đời sống kinh tế xã hội, cụ thể như sau:

2.1 Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển:

Trong quá trình sản xuất kinh doanh để duy trì sự hoạt động liên tục đòi hỏi vốn của doanh nghiệp đồng thời phải tồn tại ở ba giai đoạn: dự trữ, sản xuất và lưu thông Và do áp lực cạnh tranh gay gắt như hiệân nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chính sách bán hàng trả chậm Từ đó làm cho vòng quay vốn lưu động sẽ giảm đi, dẫn đến nhu cầu cần bổ sung vốn lưu động Hơn nữa, để tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất theo chiều sâu để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trường

Vì vậy tín dụng góp phần điều tiết các nguồn vốn tạo điều kiện cho quá trình sản xuất không bị gián đoạn và giúp cho doanh nghiệp có thể đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh

Như vậy tín dụng vừa giúp cho doanh nghiệp rút ngắn được thời gian tích lũy vốn nhanh chóng cho đầu tư mở rộng sản xuất, vừa đẩy nhanh tốc độ tập trung và tích luỹ vốn cho nền kinh tế Đặc biệt, trong giai đoạn kinh tế suy thoái, tín dụng thông qua các chức năng của mình như là một kênh tập trung, phân phối vốn hiệu quả góp phần kích cầu đầu tư, tạo ra công ăn việc làm, từ đó thúc đẩy kinh tế hồi phục và phát triển trở lại

2.2 Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả:

Với chức năng tập trung và tận dụng các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, tín dụng đã trực tiếp làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, nhất là tiền mặt trong các tầng lớp dân cư Trong điều kiện nền kinh tế bị lạm phát cao thì ngân hàng trung ương sẽ sử dụng những biện pháp thắt chặt tiền tệ liên quan

Trang 7

đến tín dụng như: nâng lãi suất tín dụng, hạn chế cấp tín dụng ở các ngân hàng thương mại như tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, ấn định hạn mức tín dụng, hạn chế tín dụng có chọn lọc… để kiềm chế lạm phát Qua đó tín dụng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu góp phần làm giảm lạm phát

Mặt khác, thông qua những tiện ích mà tín dụng mang lại như: ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ tín dụng… đã khuyến khích người dân thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó góp phần làm giảm áp lực lạm phát nhờ vậy góp phần ổn định tiền tệ Bên cạnh đó, do cung ứng vốn tiền tệ cho nền kinh tế, tín dụng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, thúc đẩy quá trình vận động của vật tư hàng hoá trong nền kinh tế, giúp cho quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá ngày

càng tiến triển, từ đó góp phần ổn định thị trường giá cả trong nước

2.3 Tín dụng góp phần ổn định cuộc sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội:

Hoạt động tín dụng không chỉ đáp cho những như cầu của các doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư Đứng trước nhu cầu to lớn của một bộ phận dân cư chưa đủ tiền tích lũy để mua sắm các tiện nghi sinh hoạt cần thiết nhưng có những khoản thu nhập hàng tháng ổn định và có thể tích lũy trong một thời gian dài đã xuất hiện hình thức tín dụng tiêu dùng Qua hình thức này ngân hàng sẵn sàng cung cấp tín dụng để thoả mãn những nhu cầu vay vốn hợp lý của các cá nhân nhằm xây dựng, mua sắm, sửa chữa nhà,… và góp phần chống lại tệ nạn cho vay nặng lãi ngoài xã hội Đối với xã hội cho vay tiêu dùng còn giúp phát triển đời sống và cải thiện bộ mặt sinh hoạt của ngườøi dân

Đến lượt mình, một khi mức sống đã được nâng cao thì bộ phận dân cư sẽ trở thành một thị trường đầy tiềm năng cho việc tiêu thụ hàng hoá, đảm bảo đầu

ra cho sản xuất của khu vực doanh nghiệp Từ đó kích thích sản xuất phát triển, tạo ra nhiều công ăn việc làm mới Được đảm bảo có công ăn việc làm lâu dài

Trang 8

vôùi möùc thu nhaôp oơn ñònh vaø möùc soâng luođn ñöôïc cại thieôn ñaõ táo tieăn ñeă cho söï oơn ñònh xaõ hoôi

Do ñoù, ta coù theơ keât luaôn raỉng, tín dúng ñoùng vai troø quan tróng trong vieôc thuùc ñaơy sạn xuaât phaùt trieơn, laøm cho boô maịt cụa xaõ hoôi ngaøy caøng ñöôïc cại thieôn, töø ñoù goùp phaăn laøm cho ñôøi soâng ngöôøi dađn caøng ñöôïc nađng cao

2.4 Tín dúng táo ñieău kieôn môû roông vaø phaùt trieơn caùc moâi quan heô kinh teâ ñoâi ngoái vaø taíng cöôøng giao löu quoâc teâ:

Trong ñieău kieôn ngaøy nay, phaùt trieơn kinh teâ cụa moôt nöôùc luođn gaĩn lieăn vôùi thò tröôøng theâ giôùi Vì vaôy, tín dúng khođng chư boù hép trong phám vi cụa moôt quoâc gia maø coøn môû roông ra cạ phám vi quoâc teâ, trôû thaønh phöông tieôđn thuùc ñaơy vaø môû roông caùc quan heô kinh teẫ ñoâi ngoái nhaỉm hoê trôï boơ sung laên nhau caùc nhu caău voân caăn thieât cho caùc quoâc gia trong quaù trình phaùt trieơn kinh teâ theâ giôùi

III Phađn loái tín dúng ngađn haøng

Phađn loái tín dúng ngađn haøng laø vieôc saĩp xeâp caùc khoạn tín dúng cho vay theo töøng nhoùm döïa tređn moôt soâ tieđu thöùc nhaât ñònh Vieôc phađn loái cho vay coù

cô sôû khoa hóc laø tieăn ñeă ñeơ thieât laôp caùc quy trình cho vay thích hôïp vaø nađng cao hieôu quạ quạn trò rụi ro tín dúng Phađn loái cho vay döïa vaøo caùc caín cöù sau:

1 Phađn loái theo múc ñích cho vay

1.1 Cho vay baât ñoông sạn:

Laø loái cho vay lieđn quan ñeân vieôc mua saĩm vaø xađy döïng baât ñoông sạn nhaø

ôû, ñaât ñai, baât ñoông sạn trong lónh vöïc cođng nghieôp, thöông mái vaø dòch vú

1.2 Cho vay cođđng nghieôp vaø thöông mái:

Laø loái cho vay ngaĩn hán ñeơ boơ sung voân löu ñoông cho caùc doanh nghieôp trong caùc lónh vöïc cođng nghieôp thöông mái vaø dòch vú

1.3 Cho vay nođng nghieôp:

Laø loái cho vay ñeơ trang trại caùc chi phí sạn xuaât nhö phađn boùn, thuoâc tröø sađu, gioâng cađy troăng thöùc aín gia suùc, lao ñoông, nhieđn lieôu…

Trang 9

1.4 Cho vay các định chế tài chính:

Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng, các công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định chế tài chính khác

1.5 Cho vay cá nhân:

Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắc tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng

2 Theo thời hạn cho vay

2.1 Cho vay ngắn hạn:

Loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

2.2 Cho vay trung hạn:

Theo qui định hiện nay của Ngân Hàng Nhà Nước hiện nay, cho vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng

Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh

Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập

2.3 Cho vay dài hạn:

Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 20 – 30 năm

Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới

Trang 10

3 Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng

3.1 Cho vay có bảo đảm:

Theo Điều 2 của Nghị định 178/1999/NĐ–CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm

tiền vay của các tổ chức tín dụng thì: cho vay có bảo đảm bằng tài sản là việc cho vay vốn của tổ chức tín dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba Đối với những khách hàng mới quan hệ tín dụng lần đầu hoặc chưa thể cho vay tín chấp thì khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất từ thu nhập của khách hàng

3.2 Cho vay không bảo đảm:

Là loại cho vay không có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung

Theo Điều 19 của Nghị định 178/1999/NĐ–CP về bảo đảm tiền vay của các Tổ chức tín dụng, thì cho vay không bảo đảm được áp dụng như sau:

Tổ chức tín dụng được lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống Tuy nhiên, khách hàng vay không bảo đảm phải hội đủ các điều kiện sau theo Điều 20 cũng của Nghị định này:

- Có tín nhiệm với Tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay vả trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi;

Trang 11

- Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với pháp luật;

- Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ;

- Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của Tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay cam kết không đúng trong hợp đồng tín dụng; cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo đảm bằng tài sản

4 Theo xuất xứ tín dụng

4.1 Cho vay trực tiếp:

Ngân hàng cấp vốn trực tiếp có người có nhu cầu, đồng thời người đi vay

trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng

4.2 Cho vay gián tiếp:

Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nhận nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán

4.2.1 Chiết khấu thương mại:

Theo Điều 20 Luật các Tổ chức tín dụng thì: “ Chiết khấu là việc các Tổ

chức tín dụng mua các giấy tờ có giá ngắn hạn khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán”

Từ khái niệm trên ta thấy trong nghiệp vụ này ngân hàng sẽ đứng ra trả tiền trước cho các hối phiếu, các chứng từ có giá khác chưa đến hạn thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng (người sở hữu chứng từ) bằng cách khấu trừ ngay một số tiền nhất định gọi là tiền chiết khấu, tính theo trị giá chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỷû lệ chiết khấu khác Còn lại bao nhiêu mới thanh toán cho người thụ hưởng Người thụ hưởng muốn nhận số tiền này thì bắt buộc phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho ngân hàng chiết khấu đối với các chứng từ xin chiết khấu Khi chứng từ đến hạn, ngân hàng lại gửi chứng từ đi đòi tiền người có nghĩa vụ trả tiền

Trang 12

Như vậy, thực chất ngân hàng đã cung cấp tín dụng cho người sở hữu chứng từ theo một mức giá nhỏ hơn giá trị chứng từ xin chiết khấu

4.2.2 Nghiệp vụ thanh tín (nghiệp vụ Factoring):

Factoring là nghiệp vụ mua các khoản nợ thương mại (các khoản phải thu), trong đó bên mua (factor) nhận việc thu nợ và chấp hành rủi ro tín dụng Factoring thực chất là tài trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp

Nghiệp vụ factoring được thực hiện như sau:

Con nợ (debtor) (1) Khách hàng bán các khoản phải thu (khoản phải thu theo hoá đơn) cho người mua nợ (factor – thường là công ty con của các ngân hàng);

Người mua nợ thanh toán một khoản tiền bằng số tiền trên tài khoản nợ trừ

đi lãi và hoa hồng mà người mua nợ được hưởng, đồng thời ngườøi mua nợ còn phòng giữ một phần để phòng ngừa hàng trả lại;

(2) Khi đến hạn con nợ phải thanh toán cho người mua nợ;

Nghiệp vụ factoring gần giống nghiệp vụ chiết khấu thương mại, nhưng có các điểm khác nhau sau:

- Các khoản nợ được mua là các khoản nợ có hoá đơn (invoiced debts)

- Hợp đồng mua các khoản phải thu thông thường là hợp đồng miễn truy đòi và có thông báo;

- Ngân hàng thường giữ lại từ 10% - 20% để đề phòng hàng bị trả lại;

- Lãi suất mà người mua được hưởng trong nghiệp vụ này cao hơn so với các nghiệp vụ tín dụng khác, vì nghiệp vụ factoring có rủi ro cao hơn (thường cao hơn 2% - 3% so với lãi suất cơ bản)

Trang 13

Ngoài các loại cho vay trên đây, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ

bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình Đối với nghiệp vụ này ngân

hàng không phải cung cấp bằng tiền, nhưng khi người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán Chính vì lý do trên mà người ta gọi hành vi cam kết bảo lãnh của ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký

IV Hiệu quả của tín dụng

Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu hoạt động của các doanh nghệp là đạt lợi nhuận tối đa Đối với ngân hàng thương mại cũng vậy, nói đến hiệu quả hoạt động người ta nghĩ ngay đến lợi nhuận Trong số các hoạt động của ngân hàng thương mại, có thể nói hoạt động cấp tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu thu nhập và đem lại lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng Xét trên góc độ toàn diện thì hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bao gồm: hiệu quả về mặt kinh tế và hiệu quả về mặt xã hội

1 Hiệu quả về mặt kinh tế

Hiệu quả kinh tế được đo lường thông qua chỉ tiêu lợi nhuận, nó phản ánh khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Lợi nhuận được tính từ tiền lãi thu được từ việc cấp tín dụng, từ các khoản phí dịch vụ khác, từ qui mô chất lượng và thành phần của các tài sản có Ngoài ra, người ta còn đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông qua các chỉ tiêu sau:

1.1 Tỷ lệ nợ xấu trong tổng số dư nợ cho vay:

Theo Công văn 266/QĐ– NHNN1 có định nghĩa nợ xấu như sau: nợ xấu bao

gồm nợ quá hạn có khả năng thu hồi, nợ khó đòi, các khoản nợ chờ xử lý, nợ cho vay được khoanh được thể hiện trên bảng cân đối kế toán hàng tháng

Tỷ lệ này là thước đo chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao thì rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng càng cao do nhiều khoản vay không được hoàn trả đúng hạn, phải chuyển nợ quá hạn, không thu được lãi nên ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng

Trang 14

1.2 Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản có (Return on Assets – ROA):

Chỉ tiêu này phân tích khả năng của ngân hàng trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản có, nhằm xác định hiệu quả kinh doanh của 1 đồng tài sản có

Lợi nhuận ròng

Tổng tài sản có

ROA càng cao khẳng định hiệu quả sử dụng vốn cao Tuy nhiên một tỷ lệ lợi nhuận cao luôn đi kèm với một rủi ro lớn; do vậy, cần phải liểm soát ROA ở một tỷ lệ thích hợp

1.3 Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn tự có (Return on Equity – ROE):

Hệ số này phản ánh một đồng lợi nhuận ngân hàng thu được từ nguồn vốn đầu tư của các cổ đông Hệ số ROE đo lường tính lành mạnh trong hoạt động của một ngân hàng Nếu ROE quá lớn so với ROA chứng tỏ vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng vốn hoạt động và việc huy động vốn quá nhiều có thể ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Tóm lại, hiệu quả về mặt kinh tế có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng thương mại, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng Bởi vì thông qua kết quả hoạt động, ngân hàng khẳng định uy tín và tiềm năng của mình trên thương trường, từ đó thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng Trên cơ sở đó ngân hàng sẽ mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động của mình, làm cho thu nhập ngày càng tăng Vì vậy, hiệu quả kinh tế là mục tiêu quan trọng hàng đầu của các ngân hàng thương mại

2 Hiệu quả về mặt xã hội

Hoạt động của ngân hàng có mối liên hệ khá chặt chẽ đối với đời sống kinh tế – xã hội Ngân hàng hoạt động kinh doanh tốt không những sẽ mang lại hiệu quả về mặt kinh tế cho bản thân ngân hàng mà còn mang lại hiệu quả cả về mặt xã hội

Trang 15

Với vai trò là kênh tích tụ và tập trung vốn phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, ổn định tiền tệ, giá cả, các ngân hàng thương mại góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, thêm thu nhập cho người lao động, ổn định xã hội và xây dựng đất nước

V Rủi ro tín dụng và nhận diện rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

Kinh doanh ngân hàng là ngành kinh doanh tiền tệ và cũng như các ngành khác, trong quá trình hoạt động của nó cũng chứa rủi ro Tuy nhiên rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng xét ở nhiều khía cạnh khác nhau cho thấy mức độ nguy hiểm do rủi ro gây ra không chỉ liên quan đến bản thân ngân hàng đó mà còn ảnh hưởng đến cả hệ thống ngân hàng, liên quan đến nền tài chính của đất nước và các ngành kinh tế khác Chính vì vậy ngành ngân hàng ở các nước được Chính phủ quan tâm và quản lý rất chặt chẽ

Thật vậy, do đặc tính hoạt động của ngân hàng là biến đổi thời gian, quy mô của nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội thành những khoản cho vay có tính chất về thời gian, quy mô khác nhau, vì vậy trong quá trình chuyển hoá này đã hàm chứa rủi ro Bên cạnh đó quan hệ kinh doanh của ngân hàng dựa trên cơ sở chữ tín và nó quan hệ với mọi đối tượng trong nền kinh tế, rất đa dạng và phức tạp, do vậy cũng hàm chứa rủi ro

Hơn nữa trong quá trình hoạt động, hệ thống ngân hàng đã tạo ra lượng cung tiền tệ rất lớn cho nền kinh tế thông qua hạch toán bút tệ từ những khoản ký thác ban đầu vào ngân hàng và vốn tự có của ngân hàng thường rất nhỏ so với số vốn ký thác mà nó huy động được, vì vậy cũng hàm chứa rủi ro trong thanh khoản của ngân hàng

Trong kinh doanh ngân hàng hiện nay thường có những rủi ro về: thanh khoản, lãi suất, tỷ giá và tín dụng Trong đó rủi ro về tín dụng rất quan trọng và có liên quan tới ba rủi ro còn lại Hơn nữa trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay thì nghiệp vụ tín dụng vẫn là nguồn thu

Trang 16

lợi quan trọng và chủ yếu của ngân hàng, và nó ngày càng mở rộng Do vậy xác suất xảy ra rủi ro cho ngân hàng ở nghiệp vụ tín dụng là rất lớn

1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là sự xuất hiện các biến cố không bình thường làm cho người đi vay không hoàn trả hoặc hoàn trả không đầy đủ cả vốn và lãi vay cho ngân hàng theo đúng thỏa thuận ghi trong hợp đồng tín dụng

Rủi ro tín dụng hình thành trong mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng vay vốn Nó biểu hiện ở hai mức độ từ thấp đến cao:

- Mức độ thấp : rủi ro do nợ vay bị khê đọng

Loại rủi ro này xảy ra khi khách hàng hoàn trả nợ chậm trễ so với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và thường xảy ra khi khách hàng tạm thời khó khăn về ngân quỹ hoặc trong sản xuất kinh doanh Trường hợp này ngân hàng vẫn có khả năng thu hồi được nợ thông qua biện pháp gia hạn nợ hay cấu trúc lại thời gian trả nợ cho khách hàng Tuy nhiên ngân hàng cũng cần có biện pháp theo dõi và giám sát những khoản nợ này một cách chặt chẽ để không dẫn đến rủi ro ở mức độ cao hơn, đó là rủi ro khách hàng không có khả năng trả được nợ

- Mức độ cao : rủi ro do người vay không trả được nợ

Ở mức độ này thì khách hàng không còn khả năng để trả nợ cho ngân hàng, nguyên nhân có thể do khách hàng làm ăn thất bại, tuy nhiên vẫn không loại trừ khả năng về ý đồ trả nợ không tốt của khách hàng Ngân hàng có thể tìm nguồn bù đắp khoản nợ này bằng cách phát mãi tài sản đảm bảo khoản vay, còn nếu không có tài sản đảm bảo thì ngân hàng gần như mất khoản vốn cho vay này

- Chỉ tiêu đo lường:

Hay

Trang 17

Như vậy rủi ro tín dụng gia tăng khi ngân hàng có nhiều khoản cho vay có chất lượng trung bình

2 Hậu quả do rủi ro tín dụng gây ra

Với vai trò quan trọng là trung tâm thần kinh của toàn bộ nền kinh tế và là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước, do vậy nếu ngân hàng gặp rủi

ro không chỉ tác động xấu đến ngân hàng đó mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng và nền kinh tế quốc gia và có thể trong khu vực

2.1 Trong quan hệ đối nội

2.1.1 Đối với bản thân ngân hàng bị rủi ro:

- Về mặt tài chính:

Do không thu hồi được nợ làm cho nguồn vốn của ngân hàng bị đóng băng không thể sinh lãi, trong khi đó ngân hàng vẫn phải chi trả lãi tiền gửi cho nguồn vốn huy động được, từ đó làm cho lợi nhuận của ngân hàng bị giảm, nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng bị thu hẹp Nếu tình trạng này trầm trọng và kéo dài có thể dẫn đến trường hợp ngân hàng mất khả năng thanh toán và bị phá sản

- Về mặt xã hội:

Từ rủi ro tín dụng, ngân hàng có thể dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán do gây mất lòng tin của người gửi tiền và họ ồ ạt rút tiền về và tình trạng đồng rút tiền hàng loạt này không chỉ xảy ra tại một ngân hàng mà có thể xảy ra tại các ngân hàng khác, gây tâm lý hoang mang và không ổn định cho xã hội

2.1.2 Đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng:

Hoạt động của một ngân hàng có những liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nên kinh tế như những mắc xích

Do đó nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn dến mất khả năng thanh toán và phá sản sẽ có những tác động dây chuyền không tốt đến các ngân hàng và bộ phận kinh tế khác Nếu không có sự can thiệp và giúp đỡ từ Ngân hàng Trung ương và các ngân hàng khác thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan

Trang 18

đến toàn bộ người gửi tiền và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các ngân hàng khác, làm cho các ngân hàng khác cũng có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Trên thế giới đã từng chứng kiến sự phá sản của nhiều ngân hàng và ở Việt Nam vào những năm 1989-1990, sự sụp đổ của hệ thống quỹ tín dụng là một ví dụ điển hình

2.1.3 Đối với nền kinh tế:

Như ta đã biết, ngân hàng có mối quan hệ rất chặt chẽ với mọi thành phần kinh tế khác, là kênh thu hút và bơm tiền đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đời sống cho mọi bộ phận kinh tế Vì vậy khi rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản một ngân hàng hay có thể thậm chí gây ảnh hưởng xấu đến các ngân hàng khác sẽ dẫn đến nền kinh tế quốc gia bị rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình an ninh chính trị bất ổn,…

2.2 Trong quan hệ đối ngoại:

Ngày nay với xu hướng mở cửa nền kinh tế, một quốc gia muốn phát triển nền kinh tế không chỉ phụ thuộc vào năng lực sẵn có của mình mà còn phụ thuộc vào nền kinh tế trong khu vực và cả nền kinh tế thế giới Chính vì vậy khi rủi ro tín dụng mang tính chất dây chuyền thì có thể sẽ gây ra sự khủng hoảng kinh tế khu vực và trên thế giới, nhất là khi khủng hoảng kinh tế xảy ra ở một cường quốc kinh tế Thực tế gần đây sự khủng hoảng nền kinh tế tài chính-tiền tệ ở Mexico đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến khu vực Bắc Mỹ Để cứu vãn tình thế, tránh ảnh hưởng toàn khu vực cũng như tại chính quốc gia của mình, Quốc hội Mỹ buộc lòng phải chi trên 40 tỷ USD góp phần khôi phục tình hình đó

Tóm lại, hiện tượng phá sản của ngân hàng là vấn đề mà Chính phủ các nước rất quan tâm và lo ngại, do đó Ngân hàng Trung ương luôn thường xuyên kiểm tra khuyến cáo cho các ngân hàng hay thực hiện tài trợ vốn để cứu nguy tạm thời khi ngân hàng gặp khó khăn về khả năng chi trả Tuy nhiên, để hạn chế

Trang 19

các rủi ro và thiệt hại trong kinh doanh thì các ngân hàng phải chính là người trực tiếp quan lý phòng ngừa rủi ro

3 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng ngân hàng

Thiệt hại do rủi ro tín dụng ngân hàng gây ra là rất lớn, làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm xuống, thu hẹp nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng, thậm chí ở mức độ nguy hiểm hơn là làm cho ngân hàng mất khả năng chi trả các loại tiền gửi được ký thác, và sự kiện này có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các ngân hàng khác Do đó việc tìm hiểu, phân tích nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng và biện pháp phòng ngừa là rất quan trọng trọng đối với ngân hàng

Nguyên nhân của rủi ro xuất phát từ nhiều nguyên nhân:

3.1 Xét ở góc độ người đi vay:

- Đối với khách hàng vay tiêu dùng:

+ Không có hay không có đủ năng lực và năng lực thực hiện hành vi dân sự; + Công việc và thu nhập không ổn định;

+ Do hoàn cảnh gia đình bị ly thân hay ly dị;

+ Do các tật xấu như rượu chè, cờ bạc, cá cược,…

+ Do các rủi ro bất thường về bệnh tật, tai nạn, tử vong,…

- Đối với khách hàng vay sản xuất, kinh doanh:

+ Thiếu năng động, kinh nghiệm trong quản lý và kinh doanh, phương án kinh doanh không hiệu quả, sử dụng vốn sai mục đích;

+ Thị trường nguyên liệu, tiêu thụ gặp khó khăn hay bị thu hẹp;

+ Công nghệ, kỹ thuật, phương tiện sản xuất, kinh doanh lạc hậu;

+ Tai nạn do hoả hoạn, cháy nổ nơi sản xuất, làm việc, do đình công,…

3.2 Xét ở góc độ tài sản đảm bảo cho khoản vay:

Tài sản đảm bảo cho khoản vay là các bất động sản như nhà cửa, nhà xưởng, đất đai,… được thế chấp hay các động sản như giấy tờ có giá, hàng hoá, máy móc thiết bị,… được cầm cố bị các rủi ro về mất mát, giảm giá trị, cháy nổ,

Trang 20

bị thiên tai động đất, lũ lụt,… làm cho các tài sản này không thanh lý được hay nguồn thu từ thanh lý không đủ bù đắp cho nợ vay

Hoặc khoản vay được đảm bảo tín chấp hay được bảo lãnh từ bên thứ ba mà bên bảo lãnh không có khả năng thực hiện được nghĩa vụ bảo lãnh của mình

3.3 Xét ở góc độ ngân hàng:

- Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng còn yếu kém;

- Cán bộ ngân hàng thiếu tư cách đạo đức, bị mua chuộc;

- Thiếu sự quản lý, kiểm soát trong qui trình nghiệp vụ cho vay, kiểm tra trước và sau khi cho vay;

- Do ngân hàng chạy theo lợi nhuận chấp nhận rủi ro cao;

- Do ngân hàng không đảm bảo và thực thi đầy đủ các nguyên tắc cấp và quản lý tín dụng theo qui định của ngân hàng và của ngân hàng nhà nước

3.4 Xét ở góc độ rủi ro kinh tế – xã hội của quốc gia và trên thế giới:

Tình hình kinh tế – xã hội trong nước không thuận lợi như nền kinh tế bị giảm phát, khủng hoảng do chiến lược phát triển kinh tế sai, do lạm phát, do tình hình chính trị biến động xấu, xảy ra nội chiến hay chiến tranh hoặc do thiên tai lũ lụt, hạn hán,… cũng là những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng ngân hàng Hay do tình hình kinh tế chính trị thế giới biến động xấu làm cho thị trường tiêu thụ xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước bị giảm sút, thu hẹp, dẫn đến khó khăn trong sản xuất kinh doanh và cũng gây ảnh hưởng đến tín dụng ngân hàng, mức độ rủi ro này càng lớn khi nền kinh tế quốc gia chủ yếu dựa vào chiến lược phát triển dựa vào sản xuất hàng xuất khẩu

Trang 21

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG

MẠI CỔ PHẦN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

I Hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần và tình hình kinh tế xã hội cả

nước và ở TP.HCM

1 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại

TP.HCM

Sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể chia

ra làm 2 giai đoạn:

1.1 Giai đoạn 1951-1987 (hệ thống ngân hàng một cấp):

Trước năm 1951, Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chưa có ngân hàng, mọi vấn đề liên quan đến tài chính, tiền tệ đều do Bộ Tài Chính đảm nhiệm Ngày 06/05/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh lý sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc Gia Việt Nam và sắc lệnh 17/SL qui định mọi công việc của Nha Ngân Khố Quốc Gia và Nha Tín Dụng giao cho Ngân hàng Quốc gia phụ trách

Ngày 26/04/1957 Ngân hàng Kiến thiết trực thuộc Bộ Tài Chánh được thành lập có chức năng nhận vốn từ ngân sách nhà nước và cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản Ngày 20/10/1960 Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đổi tên là Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam được tổ chức thành hệ thống thống nhất từ trung ương đến quận, huyện do nhà nước độc quyền sở hữu và quản trị

Ngày 30/12/1962 Ngân hàng Ngoại thương trực thuộc Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng ngoại hối và thanh toán quốc tế được thành lập Ngày 26/04/1981 Ngân hàng Kiến Thiết trực thuộc Bộ Tài Chính chuyển thành Ngân hàng Đầu tư và xây dựng cơ bản trực thuộc Ngân hàng Nhà Nước

Đặc điểm của hệ thống Ngân hàng trong thời kỳ này:

- Là hệ thống ngân hàng một cấp thực hiện cả chức năng quản lý và kinh doanh tiền tệ

Trang 22

- Có Ngân hàng Nhà nước và các Ngân hàng kinh doanh thuộc Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và xây dựng cơ bản, Quỹ tiết kiệm)

1.2 Giai đoạn 1988 đến nay (hệ thống ngân hàng hai cấp):

Đứng trước tình hình nền kinh tế lâm vào bế tắc và tỷ lệ lạm phát tăng cao, cơ chế kế hoạch hóa tập trung nói chung và hệ thống ngân hàng một cấp nói riêng bộc lộ nhiều khiếm khuyết trong bối cảnh mới của nền kinh tế Do vậy, Đảng và Nhà nước ta đã sáng suốt chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có quản lý của nhà nước

Ngày 26/03/1988 Hội Đồng Bộ Trưởng ra Nghị định 53/HĐBT thay đổi cơ cấu của hệ thống Ngân hàng Việt Nam, tổ chức thành hai hệ thống là Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh:

- Tổ chức Ngân hàng Nhà nước thành hai cấp trung ương và cấp tỉnh đảm bảo chức năng quan lý nhà nước về hoạt động ngân hàng và thanh toán

- Hệ thống ngân hàng chuyên doanh bao gồm Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư Xây dựng Việt nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng

Tuy nhiên tình hình kinh tế xã hội có nhiều biến chuyển nhất là khi chuyển sang cơ chế thị trường nên hệ thống này bộc lộ những hạn chế:

- Tổ chức hệ thống ngân hàng chưa có hệ thống pháp lý đảm bảo khiến Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng kinh doanh lúng túng trong việc điều hành hệ thống ngân hàng trong cả nước

- Hệ thống ngân hàng này còn xa lạ với hệ thống ngân hàng thế giới và mang tính chất độc quyền làm hạn chế khả năng thanh toán quốc tế, thu hút vốn đầu tư cũng như tạo điều kiện bình đẳng giữa các thành phần kinh tế

Ngày 24/05/1990 Hội Đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước (Pháp lệnh 37) và Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài

Trang 23

chính (Pháp lệnh 38) Theo hai pháp lệnh này thì hệ thống ngân hàng Việt Nam chuyển hẳn sang thành hệ thống ngân hàng hai cấp:

- Hệ thống ngân hàng cấp một: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đóng vai trò như một Ngân hàng Trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh doanh tiền tệ

- Hệ thống ngân hàng cấp hai: bao gồm các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Công ty tài chính và hợp tác xã tín dụng đóng vai trò là ngân hàng trung gian, thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ

Đặc biệt, kể từ 26/12/1997 Chủ tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ban hành Lệnh số 01/L-CTN công bố Luật Ngân hàng Nhà nước việt Nam và Luật Các Tổ Chức Tín Dụng có hiệu lực kể từ 01/10/1998 thì hệ thống pháp luật của ngành ngân hàng Việt Nam được hệ thống hoá và nâng lên một tầm cao mới phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường, đã tạo môi trường pháp lý ổn định tài chính tiền tệ quốc gia, động viên các nguồn lực trong nước và từ nước ngoài, mở rộng hợp tác quốc tế, phục vụ cho chiến lược kinh tế xã hội, đáp ứng với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

2 Tình hình kinh tế – xã hội cả nước và tại TP.HCM đang có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động ngân hàng

Tình hình kinh tế – xã hội trong năm 2002 của cả nước đã đạt kết quả rất khả quan, các chỉ tiêu như: tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, cán cân thanh toán đều đạt, là tiền đề tốt cho các bước phát triển tiếp theo Cụ thể năm

2002 tăng trưởng GDP đạt cao nhất trong 3 năm qua là 7,02% so với trước đó là 6,75% và 6,84%, còn riêng từng khu vực kinh tế mức có tăng trưởng như sau:

Đvt: %

Khu vực 2000 2001 2002 2003 (KH)

Trang 24

Như vậy 3 khu vực kinh tế đều đạt mức tăng trưởng cao hơn năm 2000,

2001 Đặc biệt khu vực nông, lâm, thủy hải sản đạt thắng lợi kép, gia tăng cả về sản lượng và giá cả, cả về tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Điều này làm cho việc tích lũy tái đầu tư và tiêu dùng của bộ phận nông dân tăng lên, tác động tích cực đến các khu vực kinh tế khác Công nghiệp tiếp tục trở thành đầu tàu kinh tế khi có tốc độ tăng trưởng cao hơn các khu vực khác và chiếm 38,55% GDP của cả nước

Một chuyển biến quan trọng khác trong năm 2002 là nền kinh tế đã chuyển từ thiểu phát liên tục (1999: 0,1%, 2000: -0,6%, 2001: 0,8%) và trì trệ sang mức độ lạm phát nhẹ là 4% đủ để kích thích gia tăng đầu tư, tăng trưởng, làm cho nền kinh tế ấm lên Và kết quả là đầu tư phát triển đã đạt 183.800 tỷ đồng, tăng 12,4% so với năm 2001 Tỷ lệ tổng vốn đầu tư phát triển so với GDP đạt 34%, cao hơn tỷ lệ 33,7% của năm 2001 Trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội, nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 81,2%, nguồn vốn nước ngoài chiếm 18,8% Như vậy vốn đầu tư phát triển – yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế, hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước đã đạt được sự vượt trội về nhiều mặt: vừa tăng so với năm 2001 và vừa chuyển dịch theo hướng gia tăng nội lực trong nước

Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ năm 2002 đạt 272.800 tỷ đồng, tăng tới 32.800 tỷ đồng hay 12,8% so với năm 2001, đây là tốc độ tăng cao nhất so với 2 năm 2000 và 2001 là 9,2% và 8,5%

Năm 2002 tổng số người được giải quyết việc làm của cả nước đạt khoảng 1,4 triệu người, giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 6,01%, thấp hơn so với 6,28% của năm 2001

Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm đạt trên 16,5 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2001, trong đó khu vực trong nước đạt 8,76 tỷ USD, tăng 6,5% và khu vực nước ngoài đạt 7,77 tỷ USD, tăng 14,3% Tổng kim ngạch nhập khẩu đạt trên 19,2 tỷ USD, dẫn đến kim ngạch nhập siêu trên 2,7 tỷ USD, tuy nhiên chủ yếu là

Trang 25

nhập khẩu máy móc dụng cụ phụ tùng để đổi mới kỹ thuật công nghệ và nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất

Từ những số liệu kinh tế tóm tắt trên có thể nhận định rằng các thành tựu kinh tế của năm 2002 là rất khả quan, tạo tiền đề đảm bảo cho việc thực hiện được các chỉ tiêu kinh tế của các năm tiếp theo, và dự báo có nhiều cơ hội để tăng trưởng mạnh tín dụng cho hoạt động ngân hàng do yêu cầu đầu tư mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế là rất cấp bách để đáp ứng thách thức tồn tại và hội nhập kinh tế vào khu vực và thế giới, đặc biệt là tiến trình gia nhập AFTA và giảm hàng rào thuế quan CEPT trong năm 2003 Riêng TP.HCM vẫn giữ tốc độ tăng trưởng cao hơn so với cả nước, GDP của thành phố trong năm 2002 là 10,2%, cao nhất so với 4 năm trước đó là 9,2%, 6,2%, 9% và 9,9%

Giá trị sản xuất các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong năm

2002 đạt mức tăng trưởng khá Trong đó ngành công nghiệp tăng 14,8%; ngành nông-lâm-thủy sản tăng 4,7% so với năm 2001 Riêng lĩnh vực công nghiệp khu vực kinh tế tư nhân có mức tăng trưởng cao, đạt 19% so với năm trước Hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu tiếp tục tăng trưởng và phát triển, với hơn 6.400 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và hơn 136.000 hộ kinh doanh ngành thương mại, khách sạn, nhà hàng cùng với hàng nghìn doanh nghiệp sản xuất trực tiếp tham gia vào quá trình lưu thông, phân phối sản phẩm đã tạo ra mạng lưới tiêu thụ rộng khắp, tạo điều kiện lưu thông hàng hoá trong nước và ngoại thương phát triển

Xét riêng vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và TP.HCM thì đây vẫn là các địa phương có năng lực công nghiệp lớn nhất nước (ngoại trừ Hà Nội), cụ thể như sau:

Trang 26

Đơn vị tính: tỷ đồng STT Tỉnh, thành phố Giá trị sx công nghiệp năm 2002

STT Ngành Vốn đầu tư (tỷ dồng)

1 Một số ngành công nghiệp chủ lực của

TP

120.700

(Nguồn: Sở KH&ĐT TP.HCM)

Vì vậy thị trường thu hút dịch vụ tài chính của các ngân hàng TMCP vẫn tập trung chủ yếu vào các địa phương kể trên, trong đó riêng TP.HCM thì tập trung vào các ngành kinh tế chủ lực và khuyến khích đầu tư của thành phố, bao gồm:

cơ khí (kể cả chế tạo khuôn mẫu), sản xuất điện – điện tử, sản xuất nguyên liệu,

Trang 27

sản phẩm ngành nhựa, chế biến lương thực – thực phẩm, dệt may, da giày, hóa chất, sản phẩm chế biến từ cao su, xây dựng, du lịch

Tóm lại, sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất nước nói chung và kinh tế thành phố nói riêng trong thời gian vừa qua tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn thành phố

II Hoạt động tín dụng của các Ngân hàng Thương mại Cổ phần (NHTMCP) ở TP.HCM trong thời gian vừa qua

1 Tình hình hoạt động của các NHTMCP ở TP.HCM thời gian vừa qua

1.1 Chấn chỉnh, củng cố, sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của các ngân hàng

Sự chấn chỉnh, củng cố, sắp xếp lại tổ chức và hoạt động của các NHTMCP được thực hiện theo hướng ít hơn về số lượng nhưng lớn hơn về quy mô, sát nhập các ngân hàng nhỏ, có tiềm năng, có thị trường để tạo thành những ngân hàng lớn hơn về tiềm lực kinh tế, giải thể các ngân hàng có hình hình tài chính xấu, không còn khả năng tồn tại Thực hiện đề án chấn chỉnh, củng cố một số ngân hàng đã được Chính phủ phê duyệt, áp dụng các biện pháp kiểm soát đặc biệt, duy trì tổ giám sát thường xuyên của Ngân hàng Nhà nước tại một số ngân hàng đang gặp khó khăn nhưng có khả năng ổn định và phát triển, Nhờ vậy mà trong thời gian vừa qua, tiền gửi của công chúng được đảm bảo an toàn, giữ vững niềm tin của xã hội đối với hệ thống ngân hàng

Đến nay hệ thống ngân hàng TMCP tại TP.HCM đã hoạt động tương đối ổn định, một số ngân hàng như ACB, Sacombank, Đông Á, Techcombank, Eximbank hoạt động rất hiệu quả, ứng dụng và phát triển công nghệ ngân hàng điện tử, thẻ điện tử, trong đó có một số dịch vụ như giao dịch, thanh toán quốc tế, tín dụng đạt được tiêu chuẩn quốc tế ISO9001:2000 Hệ thống ngân hàng TMCP hiện nay gồm 17 NHTMCP và 01 công ty tài chính, 01 sở giao dịch, 72 chi nhánh cấp 1, 32 chi nhánh cấp 2 và 31 phòng giao dịch

1.2 Hoạt động theo cơ chế chính sách tín dụng có nhiều thuận lợi

Lần đầu tiên sau hơn 10 năm đổi mới hoạt động ngân hàng, Chính phủ đã cụ thể hoá việc giao dịch bảo đảm của các TCTD bằng Nghị định 178/1999/NĐ-

Trang 28

CP ngày 29/12/1999 và các thông tư hướng dẫn như 06/2000/TT-NHNN4 ngày 04/02/2000, Quyết định số 266/2000/QĐ-NHNN1 ngày 18/08/2000 (sau này được thay bằng Quyết định số 992/2001/QĐ-NHNN1 ngày 06/08/2001), tạo điều kiện cho các TCTD có cơ sở pháp lý rõ ràng và hợp với thực tế để thực hiện các giao dịch bảo đảm với khách hàng theo đúng pháp luật Và ngày 25/10/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định 85/NĐ/CP về sửa đổi bổ sung Nghị định 178/1999/NĐ-CP trong giao dịch bảo đảm đã giao cho các ngân hàng được quyền tự chủ trong quyết định cho vay có tài sản đảm bảo đối với khách hàng hay không và tự chịu trách nhiệm về các quyết định của mình

Đối với cơ chế cho vay, sau khi luật các TCTD bắt đầu có hiệu lực, NHNN đã ban hành Quy chế cho vay kèm theo quyết định số 324/1998/QĐ.NHNN1 Chưa đầy hai năm sau, tháng 08/2000, Quy chế cho vay mới ra đời theo quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1, và Quy chế bảo lãnh số 283/2000/QĐ-NHNN1 và chỉ hơn một năm sau, tháng 12/2001, NHNN lại cho ra đời Quy chế cho vay theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN1 đã cơ bản tháo bỏ các vướng mắc về

cơ chế cho vay trước đây theo hướng chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm nhiều hơn cho các TCTD, chuyển từ tư duy chỉ đạo “chỉ làm những gì luật pháp cho phép” sang tư tưởng chỉ đạo ”được làm những gì mà luật pháp không cấm” Tất cả những quyết định trên cho thấy Chính phủ và NHNN đã cơ bản tháo gỡ hết các khó khăn về hoạt động tín dụng đối với các TCTD, tạo một môi trường pháp lý cụ thể, thông thoáng cho các TCTD cung ứng vốn tín dụng tối đa cho nền kinh tế Trên cơ sở nền tảng này, các ngân hàng đã thiết kế và chào hàng cho nền kinh tế nhiều sản phẩm tín dụng đa dạng, từng bước thỏa mãn các nhu cầu tài chánh cho cộng đồng doanh nghiệp và dân cư Vì vậy, trong năm

2002, tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đã tăng với tốc độ rất cao so với mức trung bình nhiều năm, đạt 269.000 tỷ đồng, tăng 50.500 tỷ đồng, tăng 28% so với năm 2001 Trong đó dư nợ cho vay trung dài hạn là 107.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 40% và tăng 26% so với năm 2001 Trong sáu tháng đầu năm

2003 dư nợ tín dụng đã tăng 15% so với cuối năm 2002, đạt 309.350 tỷ đồng

Trang 29

1.3 Hoạt động theo cơ chế xử lý lãi suất linh hoạt

Kể từ ngày 01/06/2001 Ngân hàng Nhà nước bắt đầu bãi bỏ việc công bố biên độ lãi suất USD làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng, các TCTD đã được chủ động ấn định lãi suất cho vay bằng USD dựa trên cơ sở lãi suất của thị trường quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ trong nước

Còn đối với lãi suất đồng VND thì NHNN cũng quyết định chuyển sang cơ chế lãi suất thỏa thuận của các TCTD đối với khách hàng kể từ ngày 01/06/2002 Theo đó thì các TCTD được quyền xác định lãi suất cho vay bằng VND trên cơ sở cung cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ có tính chất tham khảo, không qui định biên độ lãi suất so với lãi suất cơ bản như trước đây

Như vậy với việc NHNN chuyển từ cơ chế điều hành lãi suất theo lãi suất

cơ bản sang cơ chế lãi suất thoả thuận đã tạo điều kiện cho các NHTMCP năng động và chủ động hơn trong kinh doanh, chủ động đều chỉnh lãi suất huy động và cho vay phù hợp với lãi suất thị trường, phản ánh đúng tình hình quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường

1.4 Tích cực tham gia hệ thống cung cấp thông tin tín dụng

Sau hàng loạt các vụ án kinh tế xảy ra trên địa bàn TP.HCM như vụ án: Trần Xuân Hoa, Tamexco, Minh Phụng, Epco, Thuận Hưng, Kiên Tân,… liên quan đến một số NHTMCP và gây nhiều tổn thất về tài sản, uy tín và con người, đến nay các NHTMCP đã nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của thông tin tín dụng và chủ động tham gia vào hệ thống cung cấp thông tin tín dụng của NHNN để hạn chế rủi ro do việc thiếu thông tin khi đưa ra các quyết định cho vay, bảo lãnh, tránh rủi ro do hiện tượng nhiều ngân hàng cùng dồn vốn cho 01 doanh nghiệp như thời gian trước đây, nâng cao chất lượng thông tin tín dụng cả về số lượng và chất lượng Tính đến cuối năm 2002 thì dư nợ tín dụng do CIP TP.HCM

Trang 30

quản lý là 52.000 tỷ đồng, tăng 11.3% so với năm 2001; số lượng hồ sơ pháp lý hơn 29.000 hồ sơ, tăng gần gấp 2 lần so với năm 2001

1.5 Tích cực xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ

Có thể nói Thông tư liên tịch số TCĐC ngày 23/04/2001 là một thắng lợi của ngành ngân hàng trong việc làm thay đổi nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước về tính chất xã hội rộng lớn của hoạt động ngân hàng, đòi hỏi các cơ quan này ý thức rõ hơn vai trò, nhiệm vụ của mình trong việc giải quyết các tài sản nhằm giúp các ngân hàng thu hồi được nợ, cũng tức là thu hồi tiền vốn của toàn xã hội nhằm tái sử dụng một cách có hiệu quả

03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-Bên cạnh đó, nhờ thị trường bất động sản chuyển động tích cực và ổn định từ năm 2000 đến nay sau gần 05 năm bị đóng băng đã làm cho các tài sản là đất đai, nhà cửa,… tăng giá và dễ giao dịch hơn, giúp cho các ngân hàng thuận lợi trong việc thanh lý các tài sản thế chấp này để thu hồi nợ Tính đến 31/12/2002, các TCTD trên địa bàn TP.HCM đã xử lý thu hồi được gần 3.000 tỷ nợ tồn đọng

1.6 Trích lập dự phòng bù đắp rủi ro tín dụng

Quyết định 488/2000/NHNN5 quy định về trích lập quỹ dự phòng rủi ro đã tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng Trong quá trình xử lý rủi ro tín dụng nói chung và xử lý nợ đọng nói riêng, việc trích lập, khai thác và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro đang phát huy hiệu quả như: hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn, nâng cao chất lượng tín dụng Tuy nhiên sự phát triển của hoạt động ngân hàng đòi hỏi quy mô quỹ ngày càng lớn cũng như cần phải mở rộng phạm vi sử dụng quỹ cho các nghiệp vụ khác

2 Tổng quan kết quả hoạt động của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời gian vừa qua:

Trang 31

2.1 Huy động vốn:

Xét trong thời kỳ năm 2000 –2002 thì năm 2002 là thời gian mà hệ thống NHTM tại TP.HCM đạt kết quả huy động vốn từ các tổ chức và dân cư rất khả quan, tăng cả về số tuyệt đối lẫn tương đối Nếu như năm 2001 so với năm 2000 tổng vốn huy động chỉ tăng 9.513 tỷ đồng, tương ứng 16,93% thì năm 2002 so với năm 2001 tổng vốn huy động đã tăng đến 20.280 tỷ đồng, tương ứng 30,86%, và điều đặc biệt là vốn huy động bằng VND và ngoại tệ đều tăng với số lượng tăng tương ứng là 14.883 tỷ đồng và 5.397 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng của huy động tiền gửi bằng VND cao hơn so với ngoại tệ giúp giảm bớt hiện tượng ngoại tệ hóa nền kinh tế

Nếu xét riêng số dư và thị phần huy động tiền gửi của từng hệ thống ngân hàng thương mại thì ta có kết quả như sau:

Trang 32

là khối NHNNgoài có số dư huy động là 14.849 tỷ đồng và thị phần là 17.3% Các khối còn lại gồm NHLD, công ty cho thuê tài chính và công ty tài chính cổ phần có số dư huy động và thị phần rất thấp

Trong năm 2002 thì dư nợ cho vay của các ngân hàng thương mại tại TP.HCM đạt kết quả tốt, cung ứng số lượng tiền lớn cho công tác đầu tư và phát triển thành phố, với tổng dư nợ đạt tới 74.243 tỷ đồng, tăng tới 19.892 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 36,6% so với năm 2001, trong khi năm 2001 dư nợ chỉ tăng 7.569 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ tăng 16,18% so với năm 2000 Kết quả cho vay trên rất đáng trân trọng, tạo điều kiện tiền đề thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố nói riêng và cả nước nói chung trong năm 2003 và các năm tới

Xét về thị phần tín dụng thì ta có kết quả theo từng khối ngân hàng như sau:

Đơn vị tính: tỷ đồng.

Trang 33

sau luôn cao hơn năm trước, tính đến cuối năm 2002 thì khối NHTMQD vẫn giữ

vị trí dẫn đầu, với dư nợ 37.416 tỷ đồng và thị phần 50,3%, thứ hai là khối NHTMCP, với dư nợ 18.965 tỷ đồng và thị phần 25,5%, thứ ba là khối NHNNgoài, với dư nợ 13.103 tỷ đồng và thị phần 17,6% và cuối cùng là khối NHLD, công ty cho thuê tài chính và công ty tài chính cổ phần

Để đánh giá được mức độ tăng trưởng của từng khối ngân hàng, chúng ta sẽ xem xét tốc độ tăng trưởng tín dụng của các khối ngân hàng thương mại theo bảng dưới đây:

Dư nợ tăng (tỷ đồng) Tốc độ tăng trưởng (%)

2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh

Trong năm 2002, do có những dự báo tốt, nhận định đúng về tình hình, môi trường kinh doanh, mở rộng mạng lưới kinh doanh cùng với sự phát triển hoạt động, chất lượng dịch vụ – thanh toán nên khối ngân hàng TMCP tại TP.HCM

Trang 34

đã đạt kết quả kinh doanh tốt, đạt 467 tỷ đồng (thu nhập – chi phí), cao nhất so

với các khối ngân hàng khác tại TP.HCM, cụ thể như sau:

Như vậy nếu xét yếu tố thị phần cho vay và tỷ trọng thu nhập thì khối

NHTMCP hiệu quả nhất, chỉ chiếm 25,5% thị phần cho vay nhưng lại chiếm

38,5% tỷ trọng thu nhập, thứ hai là khối NH Nước ngoài với 17,6% thị phần cho

vay và 23,7% tỷ trọng thu nhập, còn khối NHTMQD tuy chiếm đến 50,3% thị

phần cho vay, song chỉ chiếm 29,2% tỷ trọng thu nhập Các khối ngân hàng khác

chiếm tỷ trọng thu nhập không đáng kể

Trang 35

% Nợ xấu/Tổng dư nợ 19,1% 22,7% 10,5% 2,3% 1,2%

(Nguồn: NHNN CN TP.HCM)

* Ghi chú: Nếu không loại trừ 5.222 tỷ đồng do Sở Giao Dịch II Ngân hàng Công thương

chuyển sang khoản phải thu để theo dõi riêng thì tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ của hệ thống NHTM TP.HCM năm 2001 là 18,44%.

Qua số liệu ở bảng trên chúng ta thấy khối NHTMCP có xu hướng giảm tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ trong các năm vừa qua, song vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất so với các khối ngân hàng khác tại thời điểm 31/12/2002, đến 9,3% Nguyên nhân chung là do các khoản nợ xấu đa số phát sinh từ những năm 1996 – 1999 tại một số ngân hàng như Nam Hoa, Eximbank, Gia Định, Quế Đô, Châu Á Thái Bình Dương,… còn tồn đọng, chưa xử lý xong

3 Một số nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng của các NHTMCP tại TP.HCM trong thời gian vừa qua:

Tín dụng xét về bản chất là vốn tiền tệ tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, là tư bản được đưa vào lưu thông, trải qua các hình thái tiền tệ (T), hàng hóa (H) rồi lại tiền tệ (T’) để thực hiện các chức năng cơ bản của tiền Tín dụng không tách rời khỏi quá trình kinh doanh mà xuất phát, gắn chặt, thậm chí đồng nhất với kinh doanh

Chúng ta thấy trong quan hệ tín dụng có 02 đối tượng tham gia là ngân hàng

cho vay và người đi vay Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời

gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chi phối của những điều kiện cụ thể nhất

định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đối tượng thứ 3 có mặt trong

quan hệ tín dụng

Rủi ro tín dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi là rủi ro do nguyên

nhân khách quan Rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi là rủi

Trang 36

ro do nguyên nhân chủ quan (Sự phân chia này chỉ mang tính chất tương đối để

dễ dàng xác định nguyên nhân rủi ro tín dụng)

3.1 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan

3.1.1 Rủi ro do môi trường kinh tế còn nhiều bất trắc:

- Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới:

Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu

Không chỉ hàng xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không kém Phân bón là một ví dụ dễ thấy nhất liên quan chặt chẽ đến các vụ lừa đảo ngân hàng trong những năm 96, 97 mà nguyên nhân trực tiếp của nó là

do các doanh nghiệp kinh doanh phân bón dự trữ lượng phân quá lớn với giá thành nhập cao, khi giá phân bón thế giới rớt, những lô hàng mới về với giá thành hạ bao vây toàn bộ thị trường, chi phối giá ở mức thấp làm cho các doanh nghiệp này phá sản, giám đốc phải tìm cách lừa đảo ngân hàng hoặc bỏ trốn (Vụ án Trần Xuân Hoa, Công ty Vạn Lộc, Công ty Kiên Tân,…)

- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế:

Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy

cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút

- Sự tấn công của hàng nhập lậu:

Ngày đăng: 09/01/2018, 07:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm