Mục đích môn học nhằm trang bị cho các kỹ sư thuỷ lợi những kiến thức cơ bản nhất về những đặc điểm, yêu cầu và các cơ sở của thiết kế tạo hình kiến trúc, từ đó có cái nhìn kiến trúc khi
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, nhất là trong giai đoạn xây dựng đất nước Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa, nhà nước và nhân dân đã đầu tư nhiều công sức và của cải vật chất để xây dựng hàng ngàn công trình thuỷ lợi lớn và nhỏ, đến nay đảm bảo tưới cho 3 triệu ha đất canh tác, tiêu cho 1,4 triệu ha, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai, cấp nước cho các ngành công nghiệp, du lịch, dân sinh và kinh tế khác Nhiều công trình thuỷ lợi đã để lại những dấu ấn về ý chí kiên cường, bền bỉ của dân tộc Việt Nam trong quá trình chinh phục thiên nhiên, chiến thắng mọi thiên tai thử thách
Cùng với sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các tiến bộ vè khoa học kỹ thuật và văn hoá xã hội làm thay đổi phong phú thêm về công năng cho các công trình thuỷ lợi: ngoài việc phục vụ việc quản lý, khai thác sử dụng hiệu quả nguồn nước, phòng chống thiên tai, còn tham gia vào mạng lưói giao thông, hình thành các điểm du lịch hấp dẫn, các khu điều dưỡng, tham quan vui chơi giải trí, cho hiệu quả kinh tế ngày càng cao Do đó, các công trình thuỷ lợi không chỉ yêu cầu đảm bảo về kỹ thuật và chất lượng mà còn ngày càng đòi hỏi cao về mỹ thuật
Xuất phát từ quan điểm như vậy, trường Đại học Thuỷ lợi đã đưa môn học
“Kiến trúc công trình thuỷ lợi” vào giảng dạy cho các ngành đào tạo kỹ sư ngành xây dựng công trình thuỷ lợi và thuỷ điện Mục đích môn học nhằm trang bị cho các
kỹ sư thuỷ lợi những kiến thức cơ bản nhất về những đặc điểm, yêu cầu và các cơ
sở của thiết kế tạo hình kiến trúc, từ đó có cái nhìn kiến trúc khi thiết kế công trình thuỷ lợi, đem lại hiệu quả thẩm mỹ và kinh tế cao hơn cho công trình
Bài giảng được xây dựng trên cơ sở một số tài liệu kết hợp hai chuyên ngành nguyên lý thiết kế tạo hình kiến trúc và xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, tuy nhiên bước đầu không thể tránh khỏi những thiếu sót về nội dung chương trình,
bố cục bài giảng…Rất mong được sự đóng góp của bạn đọc để bài giảng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được yêu cầu và mục đích môn học
Hà Nội, tháng 6/2006
Trang 3CHƯƠNG I :NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KIẾN TRÚC
I Kiến trúc và các yếu tố tạo thành:
1.1 Kiến trúc là gì:
1.1.1 Sơ lược lịch sử và sự ra đời của kiến trúc:
Con người, lúc đầu sinh sống ở các hang động, như hang Lascanx (Nam Pháp) có tuổi 17.000 năm, hang Chauvet tới 30.000 năm tuổi Sau đó, cùng với sự phát triển về số lượng cũng như sức mạnh, con người tiến về các đồng bằng và miền ven biển và tìm cách làm nhà
để ở
Con người lại có khả năng tư duy và tưởng tượng, những tư duy thực tiễn dẫn đến khoa học, tưởng tượng hư ảo dẫn đến tôn giáo Họ dùng những tư duy thực tiễn để hiểu biết các quy luật và cấu trúc của vật liệu, vừa xây nhà để ở, vừa xây các cung điện đền đài đồ sộ, lộng lẫy làm nơi trú ngụ cho các hoàng đế, các vị thần linh để thoả mãn các nhu cầu vật chất lẫn tinh thần, và Kiến trúc ra đời
Lịch sử kiến trúc chia ra làm 5 thời kỳ phát triển tương ứng 5 qua hình thái quan hệ sản xuất:
Kiến trúc cộng đồng nguyên thuỷ;
Kiến trúc thời nô lệ;
Kiến trúc xã hội phong kiến;
Kiến trúc xã hội tư bản;
Kiến trúc xã hội phát triển cao;
* Kiến trúc cộng đồng nguyên thuỷ:
Thời sơ khai là những hốc núi hay hang có phủ cành cây để che nắng mưa, chống gió tuyết Sau đó xuất hiện những căn lều bằng cây hay kiểu nhà tren cọc ở ven sông hồ Các công trình bằng đá chỉ xuất hiện khi con người biết làm các dụng cụ bằng đồng gọi là Đonmen hay Menghia Đonmen được dựng từ các tảng đá bằng đá tự nhiên dựng đứng nguyên thuỷ, trên gác các tấm ngang nặng hàng chục tấn Mengia là những cột đá tảng gần tròn dựng đứng cao 20m nặng 300 tấn Các lều hang đơn giản này chính là cơ sở hình thành hình thức kiến trúc sau này (h.1.1 đến h.1.5)
* Kiến trúc thời đại nô lệ:
Khoảng năm 5000 – 4000 năm truớc công nguyên những quốc gia nô lệ đầu tiên bắt đầu thành lập ở vùng lưu vực con sông Nil – Ai Cập và vùng Mesopotamie dọc theo lưu vực hai con sông Tigre và Euphrate Do sự hình thành giai cấp và phân công lao động, kẻ cầm quyền – chủ nô lệ – có khả năng tập trung trong tay một lực lượng lao động nô lệ rất lớn, đã có thể tạo nên những công trình kiến trúc đồ sộ phục vụ cho kẻ thống trị lúc đó
- Kiến trúc Ai cập: Các kiến trúc thời kỳ này đồ sộ, hoành tráng đặc trưng nhất là Kim
tự tháp cổ đại Ai cập – lăng tẩm của các Pharaon vua chúa Kim tự tháp Ai cập được dựng lên bằng những khối đá tự nhiên khổng lồ, hình thức vuông vức chính xác, đặt xít nhau không cần vữa liên kết Các cột đá bố trí dày đặc, đầu cột có hai thức hoa nở – hoa cúp độc đáo Bên cạnh kim tự tháp nổi tiếng còn có tượng thần khổng lồ mà nổi tiếng nhất là tượng nhân sư Công trình tháp nổi tiếng nhất là nhóm 3 kim tự tháp Kieops – Khephren – Mykerinus ở gần làng Gizeh được xây vào năm 2900 – 2700 trước Công nguyên Tháp to nhất là tháp Kieops cao 147m (h.1.6)
Trang 4bằng các dầm gỗ Kiến trúc Lưỡng Hà phồn vinh nhất vào thế kỷ IX – VI trước Công nguyên (h.1.7)
Khác với chế độ độc tài ở Ai Cập và Lưỡng Hà, chế độ nông nô ở Hi Lạp hình thành trong quá trình phát triển sản xuất, trong chế độ tư hữu cùng với sự tan rã của chế độ công đồng nguyên thuỷ, đã tạo điều kiện cho nghề buôn và nghề thủ công phát triển
- Kiến trúc cổ Hy Lạp: Xã hội cổ Hy Lạp không bị chế độ độc tài kìm hãm, không bị ảnh hưởng nặng nề của tôn giáo, nghệ thuật có xu hướng hiện thực, phát triển một cách tự phát nhằm ca tụng sức mạnh của con người (h.1.8)
Kiến trúc Hy Lạp xuất hiện nhiều kiểu nhà mới về chức năng và đặc điểm kiến trúc thể hiện ở các công trình công cộng: phòng họp, nhà hát, sân vận động, aroga, quảng trường… Đền đài không chỉ là nơi tôn thờ mà còn là nơi tụ họp dân chúng khi có lễ hội, đặc trưng nhất trong kiến trúc Hi Lạp là đền Parthenon được xây dựng trên đồi nằm giữa thủ đô của Hy Lạp gọi là Acropole Hình thức kiến trúc giàu sức biểu cảm, chi tiết phong phú và vật liệu đá cẩm thạch trắng Tỷ lệ và tỷ xích của công trình so với tầm thước con người toát lên vẻ đẹp hùng
vĩ mà không có cảm giác đè nén lên con người, ngược lại tạo cho con người có lòng tự hào và niềm tin tưởng ở sức mạnh của bản thân mình
Kiến trúc cổ Hy Lạp còn được đặc trưng bởi hệ thống “thức” cổ Hy lạp: Dorique, Ionique, Corinthine Thức Dorique đơn giản, trang nghiêm và vạm vỡ có sức nam tính, Ionique gọn gàng thanh nhã và Corinthien tráng lệ thanh thoát giàu trang trí hiện đại cho vẻ đẹp của nữ giới Hàng cột “thức” trở thành yếu tố căn bản của kiến trúc cổ Hy Lạp
- Kiến trúc La Mã: Sử dụng thức Hy Lạp một cách có sáng tạo và hoàn chỉnh thêm tạo
ra hình thức mới như cột bao vây sân, nhà hát, sân vận động Đền đài trước kia đứng đầu trong kiến trúc Hy Lạp nay đưa xuống hàng thứ yếu ở La Mã (h.1.9)
Kiến trúc La Mã có lối xây dùng đá vôi kích thước nhỏ, hình thù tự nhiên có vữa liên kết đất vào giữa hai lớp tường mỏng Sân đấu súc vật có khán đài lộ thiên Colisce xây dựng vào cuối thế kỷ I có hình thức hoành tráng, thuần khiết nhất quán, sử dụng thuận tiện, kết cấu hợp lý tiết kiệm Công trình nổi tiếng nhất ở La Mã là điện Patheon – lần đầu tiên trong lịch
sử con người sáng tạo ra một không gian bên trong rộng lớn mang hình trụ tròn trên phủ mái bán cầu bằng bê tông nhẹ Diện tích nền nhà rộng 1500m2 Partheon là công trình đỉnh cao của Kiến trúc La Mã cả về phương diện nghệ thuật cũng như phương diện xây dựng, là công trình đi trước thời đại, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của kiến trúc Phục Hưng Ý
* Kiến trúc chế độ phong kiến:
Chế độ nô lệ sụp đổ, chế độ phong kiến phát sinh thay đổi cả quan hệ xã hội vì vậy nó kéo theo sự thay đổi cả về nhiệm vụ kiến trúc và dạng kiểu công trình như trang trại có công hào luỹ, cung điện lâu đài của vua quan, công hầu…
- Kiến trúc Byzantine: Sự phát triển của đạo mới chính thống là đạo thiên chúa giáo có nhiều công trình lớn như nhà thờ, lâu đài, công sự…tạo điều kiện cho kiến trúc phát triển Thế
kỷ VI là thời kỳ mà kiến trúc Byzantine thịnh vượng nhất đặc trưng là nhà thờ Sophie xây năm 532 – 537 ở thủ đô Constantinopol lợp bằng cupon có đường kính 33m trên một hệ thống phức tạp các trụ lớn và cuốn Kiến trúc Byzantine hoàn chỉnh truyền thống kiến trúc Phương Đông như Tiểu á, Xyri…(h.1.10)
- Kiến trúc nhân dân Ả rập – Hồi giáo: có nhiều kết cấu độc đáo và giải pháp biểu hiện nghệ thuật đặc biệt như cuốn hình mũi tên, vòm cầu hình nón, tường trang trí hoa văn độc đáo Vật liệu chủ yếu là đá thiên nhiên và gạch nung
Trang 5- Kiến trúc Trung Quốc: là nền kiến trúc độc đáo nổi bật với nhiều đặc điểm dân tộc được phát triển đến mức nghệ thuật cao Kiến trúc chủ yếu là đá gỗ với nhiều trang trí sơn vẽ, giàu màu sắc, gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên nổi bật là hình thức mái cong nhẹ nhàng tựa trên hệ đấu củng ở đầu cột, giàu chi tiết trang trí và đường nét nghệ thuật tạo hình
- Kiến trúc Romane: xuất hiện vào thế kỷ X ở các nước Tây Âu, có các hình thức kiến trúc như biệt trang của chúa đất phong kiến có tháp canh, nhà thờ và tu viện Chung quanh lâu đài phong kiến và tu viện là nhà ở của thợ thủ công và thương gia Các công trình có đặc điểm tường dày đặc và có các cột trụ lớn, nhà thường có nhiều tháp mặt bằng vuông hay tròn, các cửa sổ hẹp hình lỗ châu mai (h.1.12)
Công trình nổi tiếng ở Pháp là nhà thờ Stephalt, Saint, Etiênn, ở Đức có nhà thờ Michel,
ở ý có nhà thờ Pise…kiến trúc các tu viện có sân trong được vây kín bằng các hàng cột thức
- Kiến trúc Gothique: xuất hiện ở Pháp vào thể kỷ XII Cơ cấu cơ bản là lối cuốn nhọn
và mái cuốn có mũi mác, trang trí nhiều bằng các hình khắc vào đá, tượng điêu khắc, và những bức tranh kính cửa sổ Kiến trúc Gothique phản ánh tư tưởng của xã hội đương thời, thời đại mà thiên chúa giáo làm bá chủ, thể hiện khuynh hướng vươn lên thoát ly trần thế có tác dụng tốt đối với tôn giáo (h.1.13)
Những di tích nổi tiếng của kiến trúc nhà thờ Gothique như Notre Dame ở Pari, nhà thờ Cologne ở Đức, nhà thờ Lincoln ở Anh… Vật liệu chủ yếu là đá địa phương
* Kiến trúc xã hội tiền tư bản chủ nghĩa (trước 1880):
Sự phát triển thương nghiệp và xản xuất tạo nên một thế lực xã hội mới vào cuối thế kỷ XIV – giai cấp tư sản chống lại giai cấp phong kiến với hệ thống lý tưởng tôn giáo của nó và đấu tranh cho một nền văn hoá mới tiến bộ Đây là cuộc vận dộng có tính chất nhân đạo phá
bỏ hình thức trung cổ và tôn giáo, đạo lý và pháp quyền, nó dựa trên cơ sở di sản văn hoá cần được phục hồi, giải phóng con người Cuộc đấu tranh này đã mở ra một thời đại mới – Thời đại Phục Hưng – một bước ngoặt tiến bộ từ trước đến nay của xã hội loài người Nền kiến trúc phản ánh rõ chiều hướng mới này: đó là sự tìm tòi một nền kiến trúc với chí hướng phục hồi theo tinh thần mới những nguyên tắc và hình thức của nghệ thuật cổ điển thể hiện ở sự cân bằng trong bố cục hình khối với các chi tiết nghiên cứu thận trọng, đơn giản, tỷ lệ rõ ràng, kết hợp đúng mức các phương tiện hội hoạ, điêu khắc…
- Kiến trúc Phục Hưng: chia làm ba giai đoạn chính Tiền phục hưng – Phục hưng hoàn thịnh – Hậu Phục hưng
Kiến trúc thời kỳ Tiền phục hưng thường là nhà ở của các nhà giàu thành thị, biệt thự ngoại ô, trường học, nhà văn hoá… với một số đặc điểm: nhà chia làm ba tầng, tầng dưới ốp
đá lớn, mặt sần làm tăng vẻ kiên cố, tầng hai mặt tường đá làm đỡ thô kệch hơn, còn tầng ba mặt tường hoàn toàn nhẵn Công trình nổi tiếng là nhà thờ Richelieu ở Florênc
Thời kỳ Phục hưng hoàn thịnh phát triển kiến trúc cổ, kết cấu nhẹ nhàng, kích thước phù hợp với con người như nhà thờ Pietro ở La Mã Các lâu đài mất dần vẻ thành luỹ mà có tính chất của những công trình công cộng đồ sộ đặt trên những quảng trường thành phố, thường có phố xá bao quanh, với những cửa vào chính trang trọng như lâu đài Vatican, và một số công thự ở Venise
Kiến trúc thời kỳ Hậu phục hưng thiên về biểu hiện nhiều hơn, hình thức đẹp như tranh, gây được cảm xúc dồi dào như quảng trường Capitol (h.1.14) Hình thức kiến trúc mái vòm vẫn là hình ảnh quen thuộc phổ biến
Trang 6của kiến trúc và sự hợp lý cùng tính chân thật của kết cấu Kiến trúc này được áp dụng rộng rãi trong các công trình tôn giáo nổi bật là nhà thờ Saint – Carlo (h.1.15)
- Kiến trúc Roccoco: tiếp tục chiều hướng của kiến trúc Baroc và còn vượt xa hơn nữa
* Kiến trúc cận đại tư bản chủ nghĩa giai đoạn phát triển (1880 – cuối thế kỷ XX) (h.1.16)
Từ những năm 80 của thế kỷ XIX cho đến thế kỷ XX là thời gian quá độ để chủ nghĩa
tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc Có ba trào lưu chính:
- Phái nghệ thuật mới quan niệm kiến trúc phải bắt đầu cải cách từ mặt hình thức như dùng sắt trang trí, dùng các đường cong lưu hoạt, giàu nhịp điệu … tạo ra vẻ đẹp mang đậm tính chất ngẫu nhiên, tính thực dụng và tính kinh tế trong kiến trúc
- Học phái Chicago quan niệm kiến trúc bắt đầu từ công lợi, căn cứ vào mục đích và yêu cầu của kiến trúc nhà cao tầng, những loại nhà làm việc và trụ sở công ty, nhà ở, khách sạn 14,16 20 tầng, đề ra các biện pháp giải quyết công năng, sử dụng các kiểu kết cấu và vật liệu mới thép và kính
- Hội liên hiệp công tác Đức quan niệm kiến trúc bắt đầu từ kỹ thuật
Từ năm 1917 đến kiến trúc hiện đại phương Tây được chia làm các giai đoạn sau:
- Giai đoạn I (từ 1917 – 1920): đây là giai đoạn ra đời những dấu hiệu dự báo cho việc hình thành một quá trình phát triển liên tục và ở mức cao hơn của nền kiến trúc hiện đại với các kiến trúc sư nổi tiếng như Le Corbusier, Mies van der Role, Frank Lloyd Wright…
- Giai đoạn II (từ 1930 – 1939): Kiến trúc thay đổi triệt để, đây cũng là thời kỳ chủ nghĩa công năng phát huy ảnh hưởng rộng khắp trên thế giới và phong cách kiến trúc quốc tê lên ngôi với các kiến trúc sư danh tiếng như Alfred Roth, Junzo Sakakura…
- Giai đoạn III (từ 1945 – 1960): từ năm 1949 xuất hiện trào lưu “hoàn thiện kỹ thuật”, đến năm 1958, hình thức kiến trúc thay đổi với sự tham gia của chủ nghĩa thô mộc Các kiến trúc sư nổi tiếng như Kisho Kurokawa, Kenzo tange… Xuất hiện những xu hướng: chủ nghĩa biểu hiện, vị lai, kết cấu, hữu cơ, hình thức…
- Giai đoạn IV (từ 1960 – 1986): đánh dấu bằng sự ra đời của chủ nghĩa cấu trúc – trào lưu tiên phong quan trọng
- Giai đoạn V (hai thập kỷ cuối thế kỷ XX): Kiến trúc hậu hiện đại lên ngôi
Tóm lại lịch sử kiến trúc Thế giới rất phức tạp và phong phú, với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các thế kỷ trước, chịu ảnh hưởng rõ rệt của các cuộc cách mạng vĩ đại của nhân loại
Trang 111.1.2 Sơ lược lịch sử kiến trúc VIệt Nam
Kiến trúc Việt Nam có thể chia ra làm các giai đoạn loại nổi bật sau đây:
+ Kiến trúc cổ Việt Nam (h.1.17)
Kiến trúc cổ truyền Việt Nam đa phần sử dụng kết cấu khung gỗ như nhà gỗ truyền thống Việt Nam kết hợp với các vật liệu bổ trợ khác như gạch, đá, ngói, đất, rơm, tre Trong thể loại kiến trúc này, thực sự không có sự khác biệt hoặc phân chia hoặc khác biệt nhiều về kết cấu của các thể loại công trình khác nhau Dựa trên đặc điểm cũng như tính chất của hệ kết cấu cũng như vật liệu này, trong kiến trúc cổ truyền Việt Nam không thực sự tồn tại các công trình có kích thước lớn như ở các quốc gia khác
Trong suốt lịch sử, kiến trúc cổ truyền Việt Nam thực sự không có nhiều thay đổi hoặc
có xuất hiện những trường phái như ở châu Âu Vì là một quốc gia phải liên tục chịu đựng chiến tranh trải dài theo lịch sử, thời gian để hòa bình xây dựng rất ngắn, nên kiến trúc lớn hay bền vững tồn tại không có nhiều Có thể phân loại kiến trúc Việt Nam ra các công trình hạng mục theo:
Chức năng sử dụng: kiến trúc cung điện, tôn giáo (đình, chùa, miếu thờ ), văn hóa (bia, đền ), nhà ở dân gian,
Vật liệu xây dựng thì cũng ít có tính cách lâu dài, chỉ trừ các công trình công cộng: gạch, đá, gỗ quý (thiết mộc) mà đa số dùng các vật liệu địa phương sẵn có như lá, tranh, tre,
gỗ đẽo, đá kê nền cột, đất sét nung hoặc không nung, bùn trộn rơm,
Kết cấu: khung sườn gỗ, mộng và lỗ mộng (không dùng đinh), vĩ kèo gỗ đòn tay, rui
Trang 12các nước khác Mái nhà thường có độ dốc cao do hay dùng lá, tranh, ngói (dốc lớn hơn 45 độ)
Trang trí: công trình công cộng thì thường lợp ngói (hoàng cung, đình, miếu ), mái công ở góc mái có trang trí đầu đao, rồng, cá, chạm trổ hoa văn trang trí các đầu đà xà gồ
gỗ, các hình tượng trang trí thường từ thú họ tứ linh (Long, Ly, Qui, Phượng) hay cọp, cá, Thiết kế bình đồ: công trình công cộng như chùa, đình thường có bình đồ dùng theo chiết tự Hán như nội công ngoại quốc, còn nhà ở thì thường là 3 gian, 2 chái, hình chữ đinh, nhà chính (nhà trên) và nhà phụ (nhà dưới) có sân nước (sân thiên tỉnh) và thường không ngăn chia ra các phòng nhỏ như ở tây phương, 1 cửa chính và 1 cửa đi phụ và rất ít cửa
sổ Nhà ở miền Nam nhiều sông rạch nên phương tiện đi lại chính là xuồng nên công trình phụ như nhà để ghe xuồng thường ở mé sông (xẽo) hay ụ tàu, và phía ngoài nhà có chuồng trâu bò, còn kho lúa thì thường đặt trong nhà
Vật lý kiến trúc: thông gió tự nhiên, tường và mái nhà thường trùm kín nhà do mưa rất nhiều, hơn nữa cửa đi và cửa sổ mở rất ít do an ninh ngừa trộm cắp nên chiếu sáng tự nhiên rất tối và kém sáng sủa, nhà ở thường hướng nam (đón gió nồm thổi mát vào mùa hè) và 2 chái phụ ở 2 đầu nhà sẽ là hướng đông tây chống hơi nóng mặt trời sáng và chiều Trồng cây: trước nhà trồng cau (cau để đón gió nam mát) sau nhà trồng chuối (lá chuối ngăn bớt gió bấc lạnh mùa đông)
+ Kiến trúc thuộc địa (h.1.18)
Thể loại kiến trúc này được du nhập từ các nước phương Tây, cùng với sự xuất hiện của người Pháp tại Việt Nam vào cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 Loại hình kiến trúc này phát triển song song với quá trình khai thác thuộc địa của người Pháp Do đặc điểm của riêng của điều kiện địa lý, khí hậu khác biệt nên các phong cách kiến trúc châu Âu đã phải có những chuyển biến nhất định để hòa hợp với điều kiện Việt Nam
+ Kiến trúc mới
Thể loại kiến trúc này được hình thành từ giữa thế kỷ 20, sau khi nước Việt Nam thoát khỏi giai đoạn thuộc địa của thực dân Pháp Dựa trên điều kiện lịch sử khác biệt, kiến trúc hai miền Nam và Bắc cũng phải chịu những ảnh hưởng nhất định
+ Kiến trúc đương đại (h.1.19)
Cùng với sự phát triển của kinh tế cũng như quá trình mở của hội nhập quốc tế sau giai đoạn đổi mới và sự du nhập nhiều luồng kiến trúc khác nhau vào Việt Nam đã hình thành nên một khuynh hướng kiến trúc mới Vào giai đoạn của mở cửa, phong cách kiến trúc này phần nhiều mang tính lai tạp sao chép các đặc điểm kiến trúc nước ngoài còn mang tính hỗn loạn Hiện nay, các kiến trúc sư Việt Nam vẫn đang lần tìm một con đường cho riêng họ
Tuy nhiên, từ năm 2003 đến nay một số trào lưu kiến trúc mới theo phong cách hiện đại
đã được hình thành Tuy chưa rõ nét nhưng đã một phần thể hiện được sự hội nhập với thế giới của các kiến trúc sư Việt Nam Bên cạnh các hình thức thường thấy ngoài đường phố, công năng sử dụng cũng được nghiên cứu nghiêm túc hơn, tạo tiện nghi cho người sử dụng tốt hơn
Trang 141.2 Khái niệm Kiến trúc:
Kiến trúc là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sinh tồn cho con người Hiểu theo nghĩa thực dụng thì kiến trúc thoả mãn nhu cầu của vật chất: nhà ở, cửa hàng, bến xe, bến cảng, nhà máy, xí nghiệp v v Hiểu theo nghĩa sáng tạo kiến trúc thoả mãn các nhu cầu văn hoá như: rạp hát, quảng trường, công viên, đền chùa, tháp, nhà thờ…
Vậy kiến trúc có thể định nghĩa như sau: Kiến trúc là nghệ thuật kết hợp cái Đẹp với Khoa học và Kỹ thuật xây dựng tổ chức không gian – một trong những hoạt động sáng tạo quan trọng nhất - để nhằm thoả mãn những nhu cầu sinh hoạt văn hoá và tinh thần của con người, để đáp ứng những yêu cầu kinh tế, xã hội, chính trị
Như vậy, kiến trúc chính là sáng tạo không gian sống (hiểu theo nghĩa rộng) cho con người, bao gồm hệ thống công việc sau:
+ Quy hoạch vùng và thiết kế môi trường;
+ Thiết kế quy hoạch đô thị;
+ Thiết kế đơn thể và quần thể kiến trúc;
+ Thiết kế, trang trí nội thất và design;
Nghệ thuật kiến trúc khác với các nghành nghệ thuật khác bởi ngoài là nghệ thuật biểu hiện, có tác dụng phản ánh thực tế thì kiến trúc còn là:
+ Kiến trúc là biện pháp tổ chức cuộc sống (h.1.20) ;
+ Kiến trúc là trung tâm văn hoá và tinh thần (h.1.21);
+ Kiến trúc là phương tiện giáo dục (h.1.22);
+ Kiến trúc là phương tiện thông tin (h.1.23);
Kiến trúc luôn được các kiến trúc sư sử dụng là công cụ để cải tạo xã hội bởi:
+ Kiến trúc gắn liền với không gian, cấu trúc và vỏ bọc bên ngoài, với quy luật tổ hợp không gian, tỷ lệ, tỷ xích…
+ Kiến trúc được nhận thức quan chuyển động của không gian và thời gian;
+ Kiến trúc được thực hiện bởi các biện pháp kỹ thuật;
+ Kiến trúc phải phù hợp với một khung cảnh nhất định như môi trường, khí hậu, địa hình, địa lý, cảnh quan…
Cùng với sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật xây dựng, con người đã sáng tạo nên các
Trang 151.2.1 Các yếu tố tạo thành kiến trúc:
Có 3 yếu tố tạo thành kiến trúc:
+ Yếu tố công năng (sử dụng tiện nghi)
+ Yếu tố kỹ thuật ( điều kiện vật liệu kết cấu, kỹ thuật xây dựng)
+ Yếu tố mỹ thuật (sự biểu cảm thẩm mỹ)
1.2.1.1 Yếu tố công năng
Yếu tố công năng là yêu cầu tiện ích hay sự thích nghi đảm bảo cho quá trình sống nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác và sử dụng công trình kiến trúc của con người một cách thuận tiện, hiệu quả cao Đó là yêu cầu cơ bản của kiến trúc Nếu tách khỏi yếu tố đầu tiên này thì sẽ không có kiến trúc
Nhu cầu sử dụng của con người rất phong phú và đa dạng từ nhu cầu làm việc, nghiên cứu, học tập đến nhu cầu vui chơi, giải trí; từ nhu cầu về vật chất đến nhu cầu về văn hoá tinh thần Mỗi một nhu cầu sử dụng của con người trong cuộc sống đều gắn với một không gian khác nhau - tạo ra những yếu tố công năng đa dạng và phong phú gồm công năng vật chất (với hai yếu tố chức năng sử dụng và chức năng cấu trúc) và công năng tinh thần (với hai chức năng biểu hiện và thông tin) Ví dụ: nhà máy thuỷ điện phải đảm bảo khả năng phát điện, điều kiện an toàn lao động; bảo tàng phải đảm sự lưu thông luồng người, tránh chồng chéo, đảm bảo điều kiện vệ sinh, các công trình thuỷ lợi phải dẫn nước tốt… Tất cả các yêu cầu về công năng trong công trình kiến trúc đều nhằm mục đích cải thiện đời sống của con người tiện nghi hơn (h.1.24 đến h.1.27)
Trang 16+ Nhà dân dụng gồm nhà ở, nhà công cộng như biệt thự, nhà công cộng, nhà liền kề, chung cư, trường học, bệnh viện…
+ Nhà công nghiệp bao gồm các loại nhà xưởng sản xuất thuộc lĩnh vực công nghiệp + Công trình giao thông gồm các công trình đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hầm, sân bay, bến cảnh…
+ Công trình thuỷ lợi bao gồm hồ chứa nước, đập, cống, trạm bơm, giếng, đường ống dẫn nước, kênh, công trình trên kênh, công trình kè bờ…
+ Công trình hạ tầng kỹ thuật gồm các công trình cấp thoát nước, nhà máy xử lý nước thải, công trình chiếu sáng đô thị…
Yếu tố công năng của công trình kiến trúc sẽ thay đổi theo tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, trình độ văn hoá, phong tục tập quán của mỗi dân tộc Đời sống xã hội không ngừng nâng cao, nhu cầu vật chất của con người không ngừng tăng lên do đó yêu cầu công năng của công trình kiến trúc luôn thay đổi Tuy nhiên từng loại công trình kiến trúc đều có những những tiêu chuẩn yêu cầu về công năng nhất định
để tạo nên đặc thù riêng của từng kiểu công trình Ví dụ như tổ chức không gian kiến trúc trong tháp cống khác trạm bơm, nhà máy thuỷ điện khác công trình cửa cống …
Ví dụ: Không gian kiến trỳc của tháp cống khác với trạm bơm (h.1.28, h.1.29):
Trang 17Chính yếu tố công năng đóng vai trò quyết định hình thức, diện mạo, hình khối, cách thức tổ chức không gian của từng loại kiến trúc không giống nhau, đồng thời mang lại sự phong phú và thống nhất trong hình thức các loại công trình kiến trúc (h.1.32 đến h.1.35)
Ví dụ: Hình thức kiến trúc của nhà làm việc khác nhà hát,
Trang 18Cùng với sự phát triển của xã hội, của tiến bộ KHKT và nhu cầu của con người, yếu tố công năng luôn thay đổi và không ngừng đòi hỏi những yêu cầu mới, những giải pháp “không gian - hình khối” hợp lý hơn Bởi vậy, yếu tố công năng được xem như mục đích của kiến trúc, kiến trúc không tôn trọng và thoả mãn công năng sẽ không có lý lẽ tồn tại, thiếu sức thuyết phục và sức sống bền vững
Như vậy, kiến trúc luôn gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của cuộc sống con người, gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội
1.2.2 Yếu tố kỹ thuật
Yếu tố kỹ thuật là các điều kiện vật chất kỹ thuật, vật liệu, giải pháp kết cấu, bao gồm
cả sự lựa chọn vật liệu xây dựng, hình thức kiến trúc, phương thức kỹ thuật thi công thích hợp
để biến ý đồ tổ chức không gian hình khối trên bản vẽ thành công trình cụ thể (như nhà hát, công viên, nhà ở….) tạo ra các không gian phù hợp với yêu cầu công năng sử dụng
Yếu tố kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình thành kiến trúc Có thể nói không có yếu tố này sẽ không thể có kiến trúc Đây là các các yếu tố cần thiết và quan trọng
để xây dựng được công trình:
Trang 19+ Vật liệu xây dựng rất phong phú và đa dạng từ những vật liệu truyền thống như gạch, đất nung, gỗ… đến các vật liệu mới như kính, thép, vật liệu ứng lực trước, chất dẻo tổng hợp, bê tông cốt thép… (h.1.36)
+ Kết cấu của công trình gồm các kết cấu chịu lực và kết cấu bao che Kết cấu chịu lực như kết cấu gạch, khung bê tông cốt thép, kết cấu gỗ… đảm bảo sự bền vững và ổn định của công trình còn kết cấu bao che làm nhiệm vụ vỏ ngăn che tạo không gian riêng biệt, cần phải đảm bảo các yêu cầu tiện nghi sinh hoạt vệ sinh và an toàn cho con người bằng các biện pháp tự nhiên và nhân tạo như che mưa che nắng, cách âm, cách nhiệt, lấy ánh sáng, chống
ẩm, chống bụi, tạo lập các điều kiện vi khí hậu nội thất… Ứng với mỗi loại vật liệu thì có một kiểu kết cấu riêng, tuy nhiên người ta cũng có thể kết hợp các loại vật liệu khác nhau lại để tạo thành những loại kết cấu hỗn hợp: kết cấu gỗ – thép, kết cấu gạch – đá…
+ Phương pháp tổ chức thi công để hình thành nên các không gian – hình khối hoàn chỉnh, có điều kiện diễn ra được bên trong kiến trúc các quá trình hoạt động của con người Phương pháp này rất phong phú và đa dạng
+ Trang thiết bị nội thất như hệ thống chiếu sáng, thiết bị thông gió, điều hoà không khí, trang thiết bị làm việc, nhà bếp…những trang thiết bị này ảnh hưởng đến cả hình thức bên trong và bên ngoài của công trình
Trang 20Cùng với sự phát triển của KHKT, kiến trúc ngày càng thực hiện được nhiều ý tưởng táo bạo đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp vật liệu xây dựng – thừa hưởng kết quả nghiên cứu của nghành hoá vật liệu mà ngày nay vật liệu xây dựng rất phong phú và đa dạng đồng thời cũng tìm ra nhiều phương pháp tính toán, tổ hợp các hình thức kiến trúc hiện đại Vì thế cấu trúc không gian, hình khối
và hình thức mỹ thuật cũng phong phú hơn làm tăng khả năng sáng tạo của kiến trúc sư tạo ra các công trình có quy mô bề thế ổn định, bền vững về kinh tế
Ví dụ: Công nghệ bê tông đầm lăn sử dụng vật liệu tro bay và bê tông trọng lực đã thay đổi diện mạo công trình thuỷ điện (h.1.37, h.1.40)
Trang 21Những ví dụ trên cho thấy sự tiến bộ vượt bậc trong các hệ kết cấu mới, tạo ra khả năng sáng tạo rất phong phú, đáp ứng những đòi hỏi đa dạng của xã hội ngày nay, do đó cũng tạo ra những công trình kiến trúc có không gian, hình thức mới mẻ, góp phần làm giàu cho kho tàng kiến trúc của nhân loại Kiến trúc hiện đại ngày càng hợp lý, trong sáng đơn giản đến thuần khiết được hoàn thiện ở mức kỹ thuật cao, đã có được sức biểu hiện nghệ thuật tự thân từ ngay sự hoàn thiện kỹ thuật tạo ra rất nhiều công trình kiến trúc có giá trị đích thực Như vậy, kiến trúc mang tính chất khoa học kỹ thuật, phản ánh trình độ khoa học – kỹ thuật qua từng giai đoạn của xã hội, đồng thời phản ánh cơ sở sản xuất của xã hội
Trang 22kién trúc tới con người và đó là yếu tố không thể thiếu được của một tác phẩm kiến trúc (h.1.41)
H1.41 Những cảm nhận từ hình tượng nghệ thuật của công trình
Hình tượng nghệ thuật của công trình kiến trúc được biểu hiện qua các nhân tố cấu thành: hình khối, tổ hợp không gian, mặt đứng, đường nét, chi tiết, trang trí, màu sắc, chất cảm của vật liệu xây dựng nên các công trình đó
Tất cả những ấn tượng trên đều là kết quả tất yếu của hình tượng nghệ thuật, yếu tố ảnh hưởng quyết định đến thẩm mỹ kiến trúc, làm nâng cao giá trị tinh thần của một tác phẩm kiến trúc
Hiệu quả của hình tượng kiến trúc còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố :
+ Trình độ thụ cảm và thị hiếu của quần chúng: Thị hiếu là sự điều chỉnh tinh tế nhất các quan hệ giữa con người và văn hoá, cá nhân và tập thể xã hội vì vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến xu thế kiến trúc của một giai đoạn lịch sử trong xã hội… Có thể nói đó là nhịp đập của
Trang 23+ Quan điểm thẩm mỹ, bảng thang giá trị của từng xã hội., thói quen của từng dân tộc, từng địa phương, từng vùng, từng quốc gia
+ Điều kiện kinh tế – xã hội và trình độ dân trí của dân cư trong xã hội
Ví dụ: Trước đây, vai trò của công trình thuỷ điện chủ yếu là để phục vụ cho việc khai thác, sử dụng nguồn nước, kiểm soát lũ và tưới nước nông nghiệp, phát điện Tuy nhiên, do nhu cầu ngày càng cao về kinh tế, văn hoá xã hội làm xuất hiện thêm nhiều yêu cầu công năng khác như phục vụ cho mục đích tham quan du lịch, giải trí, xây dựng các khu nghỉ dưỡng, tạo các hồ chứa để phục vụ du lịch lòng hồ, du thuyền, câu cá Nhiều cụng trỡnh cũn cú thờm chức năng là đầu mối giao thông thuỷ chủ yếu phục vụ việc di chuyển tàu thuyền, hàng hoá dọc theo dũng chảy, giữa thượng lưu và hạ lưu đập Để phục vụ giao thông thuỷ cần các hạng mục như âu tàu, máy nâng tàu, cụng trỡnh chuyển gỗ, bến cảng…Vì vậy, tổ chức hình thức kiến trúc công trình thuỷ điện được chú trọng hơn, thẩm mỹ hơn
Trên thế giới, nhiều công trình thuỷ điện nổi tiếng đã được đưa vào khai thác du lịch như công trình Hoover trên sông Colorado – Mỹ, công trình thuỷ điện Tam Hiệp trên sông Dương Tử – Trung Quốc Các công trình này đã thu hút được một lượng khách tham quan rất lớn, tạo nên một nguồn thu đáng kể từ du lịch cho địa phương (h.1.42 đến h.1.45)
Trang 24Ví dụ: sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp vật liệu xây dụng đã tạo ra nhiều loại vật liệu mới như chất dẻo, vật liệu nhẹ…đồng thời các tiến bộ về phương pháp tính kết cấu, về phương pháp thi công cấu tạo, liên kết nên các kiến trúc sư đã sáng tạo ra nhiều hệ kết cấu mới lạ như: cấu trúc mái treo, mái dây căng với nhịp rất lớn, cấu trúc dạng dầm giàn “cánh chim”…
Tóm lại, hình tượng kiến trúc không đòi hỏi như nhau ở các thể loại công trình mà biến đổi cùng với chất lượng đời sống vật chất, văn hoá của xã hội Mỗi một chế độ xã hội, mỗi dân tộc, mỗi thời đại lịch sử lại có những quan điểm riêng về thẩm mỹ kiến trúc Vì vậy, công trình kiến trúc có giá trị không ở bộ mặt hấp dẫn của nó mà còn phải phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, tác động tốt đến tâm lý và nhận thức của con người
Ba yếu tố tạo thành kiến trúc luôn là một hệ thống nhất hữu cơ của bản chất kiến trúc Tuy nhiên ba yếu tố này tuỳ theo tính chất, đặc điểm của công trình mà một trong hai yếu tố được nhấn mạnh hơn Ví dụ: đối với nhà máy, nhà ở thì yếu tố công năng được đề cao hơn (h.1.46), còn đối với các công trình đài tưởng niệm hay nhà văn hoá thì yếu tố hình tượng nghệ thuật được chú trọng hơn (h.1.47), hay đối với công trình tháp thì yếu tố kỹ thuật được chú trọng hơn (h.1.48)
Trang 25Đối với các hầu hết các công trình kiến trúc yếu rố công năng bao giờ cũng là chủ đạo, mang tính quyết định là mục đích của kiến trúc bởi công trình dù đẹp mà không sử dụng được thì cũng không có gía trị Khi công năng thay đổi thì các yếu tố kỹ thuật vật chất và hình tượng nghệ thuật cũng thay đổi theo, đồng thời kỹ thuật vật chất cũng ảnh hưởng lớn đến yêu cầu thực hiện đáp ứng công năng Hiệu quả thẩm mỹ cũng góp phần hoàn thiện công năng hoặc điều kiện kỹ thuật lại quyết định cả giải pháp kiến trúc và kết cấu Cùng công năng, cùng một điều kiện kỹ thuật nhưng kiến trúc có thể có những hình tượng nghệ thuật mang tính biểu cảm khác nhau
II Các đặc điểm và yêu cầu của kiến trúc
2.1 Những đặc điểm của Kiến trúc:
1 Kiến trúc là sự tổng hợp của KHKT và nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu sử dụng
2 Kiến trúc phản ánh sự phát triển của xã hội và mang tính tư tưởng
3 Kiến trúc chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, địa hình, khí hậu
4 Kiến trúc phản ánh bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc
2.1.1: Kiến trúc là sự tổng hợp của KHKT và nghệ thuật, đáp ứng nhu cầu sử dụng:
Trang 26+ Áp dụng tốt các thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm đạt được hiệu quả kinh tế – xã hội
+ Đạt được yêu cầu thẩm mỹ của số đông người
Để thực hiện một tác phẩm kiến trúc có giá trị, phải trải qua hai giai đoạn: thiết kế kiến trúc và thi công xây dựng, lắp đặt trang thiết bị kỹ thuật và hoàn thiện công trình nhằm biến ý
đồ kiến trúc từ trên đồ án – bản vẽ thành hiện thực ở ngoài với đầy đủ giá trị vật chất tinh thần
Trong giai đoạn thiết kế công trình phải huy động trí tuệ thuộc nhiều chuyên ngành như khoa học như nhà thiết kế công nghệ, kiến trúc sư, kỹ sư kết cấu, kỹ sư điện nước môi trường, vật lý xây dựng, chuyên gia xã hội học và kỹ sư kinh tế Các cán bộ nghiên cứu thiết kế phải kết hợp chặt chẽ vói nhau dưới sự chỉ đạo của kiến trúc sư để lập được đồ án tốt nhất về yêu cầu sử dụng, bền vững, hợp lý về kinh tế và thoả mãn yêu cầu thẩm mỹ
Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình cũng phải huy động nhiều nguồn lực như các kỹ sư chỉ đạo thi công, lắp đặt trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện thi công và vật liệu xây dựng nhằm đảm bảo công trình kiến trúc không chỉ đẹp từ tổng thể đến từng chi tiết của công trình kiến trúc
Ngày nay với sự phát triển ngày càng cao của nhu cầu cuộc sống con người, sự tiến bộ rất nhanh của khoa học kỹ thuật, con người càng đòi hỏi cao về tịên nghi sinh hoạt và nhu cầu thẩm mỹ Vì vậy đòi hỏi người làm thiết kế có phương pháp làm việc của một nhà khoa học, nhà kỹ thuật vừa là của nghệ sỹ, vừa cần có thái độ thực sự cầu thị khoa học vừa cần có bản lĩnh, có cá tính, có khả năng sáng tạo của nghệ nhân
Vậy khoa học – kỹ thuật vật chất là cơ sở là phương tiện để thực hiện mục đích của kiến trúc, thoả mãn yêu cầu thích dụng và thẩm mỹ của con người
2.1.2 Kiến trúc phản ánh sự phát triển của xã hội và mang tính tư tưởng:
Trong một xã hội kiến trúc cũng được xem như là một sản phẩm văn hóa Bất kỳ sản phẩm nào của con người tạo ra trong quá trình tiến hoá lịch sử của mình đều có khả năng phản ánh về cuộc sống và hoàn cảnh sống của con người thời đại đó Tác phẩm kiến trúc tạo nên một hình tuợng khái quát, súc tích về một xã hội nhất định qua từng giai đoạn lịch sử Bất
kỳ một đất nước nào, một vùng miền nào trên thế giới thì công trình kiến trúc dù nhỏ bé đơn
sơ đến các công trình hoành tráng to lớn đều là phương tiện để du khách nhận thức được về: + Mức độ kinh tế – khoa học của xã hội;
+ Tiềm năng thiên nhiên;
+ Thái độ ứng xử, trình độ văn minh…;
+ Nếp sống, phong tục tập quán;
+ Tài năng xây dựng và sự mẫn cảm nghệ thuật của nhân dân …v v
Vậy, Kiến trúc không phải là một nghành nghệ thuật thụ động mà là một ngành nghệ thuật tác động Kiến trúc có khả năng phản ánh xã hội về nhiều mặt như về đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của xã hội Trong xã hội luôn phân chia giai cấp, do điều kiện kinh tế – quyền lực mà giai cấp thống trị với hệ tư tưởng thống soái sẽ chi phối xã hội Tư tưởng đó ảnh hưởng khá rõ đến suy nghĩ, ý tưởng sáng tác của kiến trúc sư là cho nền kiến trúc thời kỳ đó cũng mang tính tư tưởng và tính giai cấp Nghệ thuật kiến trúc – về mặt vật chất và tinh thần – luôn luôn được coi như công cụ để duy trì quyền lực trong các chế độ từ chế độ của giai cấp thống trị nắm quyền trước đây hay do chế độ do nhân dân làm chủ hiện nay
Ví dụ : dưới chế độ phong kiến, giai cấp địa chủ quan lại thông trị xã hội, muốn củng cố
Trang 27quá vai kiệu người đi tuần Chính vì vậy có kiến trúc kiểu thành quách trên lãnh địa riêng của quan lại địa chủ Mặt khác giai cấp địa chủ còn dùng đạo giáo làm vũ khí sắc bén nên yêu cầu xây dựng nhà thờ đình chùa đền miếu …với phong cách đồ sộ, thiêng liêng thần bí…
Còn dưới chế độ tư bản thì kiến trúc phản ánh rõ rệt sự đối lập giai cấp Kiến trúc phục
vụ giai cấp tư bản với những dinh thự, lâu đài, công sở, nhà băng của hàng khang trang, đồ sộ, nhà chọc trời với nội thất cầu kỳ trang trí xa hoa lộng lẫy với đầy đủ tiện nghi Còn kiến trúc của người dân lao động là những khu nhà ổ chuột tối tăm với trang thiết bị quá nghèo nàn, thậm chí còn không có cả sự an toàn
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, sự phân biệt giai cấp hầu như không còn, kiến trúc trở thành tài sản chung của xã hội, của toàn nhân dân để phục vụ cho quảng đại quần chúng nhân dân lao động Mặc dù kiến trúc nói chung là phong phú đa dạng theo đặc điểm, tính chất, cấp loại của công trình song vẫn thể hiện rõ ràng nhất về sự quan tâm của nhà nước, của chế độ đối với con người để cho sự phát triển tương đối đồng đều, toàn diện cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội về mặt vật chất văn hoá tinh thần (h.1.49)
Trang 282.1.3 Kiến trúc chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, địa hình, khí hậu:
Một trong những mục đích quan trọng của kiến trúc là thoả mãn nhu cầu sử dụng nhiều tiện ích của con người mà nhu cầu này lại rất phong phú đa dạng tuỳ theo thể loại hoạt động, tuỳ theo điều kiện địa phương, theo thói quen phong tục tập quán dân tộc Vậy mục đích công năng của kiến trúc chỉ thoả mãn khi kiến trúc trước tiên đáp ứng được các đòi hỏi của đặc thù thiên nhiên khí hậu địa phương
Trước tiên, kiến trúc phải có bố cục mặt bằng, tổ chức không gian phù hợp với môi trường địa lý tự nhiên, địa hình, khí hậu thuỷ văn - đây là những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và điều kiện tiện ích của con người Kiến trúc phải xem xét đến điều kiện khí hậu của địa điểm, trong tác động đến con người nhờ đó thiết kế và xây dựng các
đô thị công trình phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương tận dụng tối đa thiên nhiên thuận lợi, nâng cao điều kiện sống tiện nghi và bảo vệ sức khoẻ của con người trong các công trình, giảm thiểu việc sử dụng năng lượng nhân tạo, tiết kiệm kinh phí đầu tư và kinh phí sử dụng, giảm ô nhiễm môi trường bảo vệ hệ sinh thái trái đất Vì vậy, tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên địa hình, khí hậu của từng nơi, từng vùng mà kiến trúc phải có các giải pháp phù hợp về hướng mặt bằng, bố cục không gian, vật liệu trang thiết bị kỹ thuật trang trí màu sắc phù hợp Các nước ở trong vùng khí hậu lạnh, nhiều tuyết, bầu trời u ám quanh năm thì kiến trúc
có tường dày, mái dốc, cửa mở cao, kính hai lớp cách nhau để chống lạnh và lấy ánh sáng nhiều, màu sắc sặc sỡ vui tươi để trang trí, giảm bớt sự đơn điệu vốn có (h.1.50)
Các nước có khí hậu khô nóng như vùng Trung Á - Bác Phi, nhiệt độ ban ngày rất nóng 38 – 40 độ c, mặt trời gay gắt trong khi ban đêm nhiệt độ có thể xuống đến 0 độ C Do
sự chênh lệch nhiệt độ quá lớn mà kiến trúc là tường dày, mái dày, cửa sổ ít và mở nhỏ, để hạn chế ánh nắng mặt trời, trang trí màu sắc thường là màu sáng, dịu để giảm bớt sự chói chang của bầu trời Ngoài ra, trong nhà thường có sân trong trồng nhiều cây cối tạo khí hậu tốt và cảnh đẹp cho công trình
Các vùng khí hậu nóng ẩm như Việt Nam, Cu Ba,…có nhiệt độ cao, ánh nắng chan hoà, mưa nhiều, độ ẩm lớn, chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm không lớn, cây cỏ quanh năm xanh tươi bầu trời trong sáng Vì vậy kiến trúc thường trải dài bám sát mặt đát hoặc bỏ trống tầng một, cửa sổ thấp và dài để đón gió, hạn chế ánh nắng, mái vươn dài để chống mưa hắt
Trang 29Trong mỗi quốc gia, khí hậu mỗi vùng mỗi khác Thời tiết tại mỗi địa phương lại thay đổi hành giờ, hàng ngày, theo các mùa quanh năm Vì vậy thiết kế một công trình kiến trúc cũng có nhiều giải pháp khác nhau
Ví dụ: Ở Miền Bắc Việt Nam là đón gió mát đồng thời phải tránh gió lạnh gió nóng, bố cục không gian phân tán để phát huy thông gió tự nhiên ngược với bố cục chặt chẽ để giảm bớt năng lượng mặt trời, hướng Đông Nam thuận lợi đón gió mát thì phải chiụ hướng Tây Bắc nhận nhiều nhiệt mặt trời đúng mấy tháng nóng nhất ở Bắc Bộ
Hay ở miền núi Việt Nam, do núi cao, địa hình phức tạp, thời tiết biến đổi nhiều, gió lớn, mưa nhiều, độ ẩm cao hoặc vùng thường ngập lụt có kiến trúc nhà sàn bỏ trống Còn ở vùng trung du và đồng bằng có địa hình dốc ít, hoặc bằng phẳng, nắng gió ít gay gắt phức tạp
so với miền núi nên kiến trúc đơn giản hơn Miền ven biển thường có địa hình phức tạp, gió biển mạnh, nồng độ muối cao trong không khí nên kiến trúc lại chú ý đến độ dốc mái và cửa
Trang 302.1.4: Kiến trúc phản ánh bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc
Kiến trúc và bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau Kiến trúc phải hiện đại hoá trong sự kế thừa tinh hoa dân tộc để mang rõ bản sắc địa phương, đảm bảo tính liên tục của đời sống văn hóa
Con người sống chủ yếu trong thế giới văn hoá - thế giới biểu tượng do con người sáng tạo nên và trở thành một bộ phận của thế giới đó Bản sắc văn hóa này không chỉ lưu giữ thể hiện trong tư tưởng, đạo đức lối sống trong văn học nghệ thuật mà cả trong các công trình kiến trúc Bản sắc văn hoá chính là cái cốt lõi tinh tuý nhất của mỗi dân tộc thể hiện ở mỗi lĩnh vực cụ thể của đời sống, của văn hoá nghệ thuật
Mỗi một không gian thích hợp cho đời sống văn hóa của con người không thể tự nhiên
mà có, mà phải do con người tạo lập ra Đó trước hết là ngôi nhà ở Vậy ngôi nhà là không gian đầu tiên thích hợp cho sự thực hiện đời sống văn hóa của con người Chính không gian của ngôi nhà ở (cả không gian bên trong và cả không gian bên ngoài) là nơi con người bắt đầu cuộc sống văn hóa của mình khi ra đời Vì vậy, mỗi một công trình gắn chặt với đời sống văn hoá của con người sử dụng chúng Đời sống văn hoá như là cái có nghĩa, công trình kiến trúc như là cái mang nghĩa Cái có nghĩa cần là cái mang nghĩa để tồn tại, nên đời sống văn hoá - bản sắc dân tộc cần công trình để tồn tại
Từ xưa, bản sắc dân tộc trong kiến trúc thường được thể hiện ở vật liệu địa phương, sự phù hợp với điều kiện địa lý – khí hậu địa phương, với lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng và những quan niệm triết lý của người địa phương, ở những hình thức và chi tiết kiến trúc từng địa phương, từng dân tộc
Trang 31đáng tự hào như các công trình kiến trúc cổ truyền thống như đình làng, chùa Đó chính là các
di sản quý báu đã đúc kết kinh nghiệm lâu đời về giải pháp kiến trúc và thẩm mỹ kiến trúc Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, kỹ thuật công nghệ và các vật liệu xây dựng địa phương truyền thống bị thay thế bởi kỹ thuật công nghệ hiện đại và các vật liệu có tính quốc
tế như thép, xi măng, nhôm, kính… hình thức nhà cổ truyền sẽ bị thay thế bằng hình thức nhà cao tầng hiện đại Trong điều kiện như vậy, kiến trúc tất nhiên cần hiện đại để hội nhập nhưng
mà không được hoà tan Muốn vậy, văn hoá nghệ thuật nói chung hay kiến trúc nói riêng vẫn phải kế thừa bản sắc dân tộc
Vậy, tính cách dân tộc thường được phản ánh rõ nét qua công trình kiến trúc về cả nội dung và hình thức:
+ Về nội dung: bố cục mặt bằng phải phù hợp với phong tục tập quán, tâm lý dân tộc, tận dụng được các yếu tố thiên nhiên, địa hình, khí hậu, vật liệu…
+ Về hình thức: tổ hợp hình khối, mặt đứng, tỷ lệ chi tiết trang trí màu sắc vật liệu được phối hợp để thoả mãn yêu cầu thẩm mỹ của dân tộc
Kiến trúc có tính hiện đại và dân tộc mới đáp ứng tối đa những yêu cầu do 3 yếu tố tạo thành (công năng, kỹ thuật, hình tượng nghệ thuật) đáp ứng được nguyện vọng xã hội và thị hiếu của dân tộc
Nội dung và hình thức của kiến trúc tuy thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của lịch
sử, của thời đại song vẫn cần bảo lưu tính liên tục truyền thống tức là có sự kế thừa sâu sắc nền văn hoá của dân tộc Mỗi dân tộc đều có những phong tục và tập quán sinh hoạt riêng cũng như kinh nghiệm về xây dựng, các giải pháp kiến trúc riêng của mình Ví dụ như cùng nằm trong vùng khí hậu nóng ẩm nhưng kiến trúc CuBa khác với kiến trúc Mêhico, kiến trúc Việt Nam khác với Lào, Trung Quốc…(h.1.52)
Trang 322.2 Những yêu cầu cơ bản đối với Kiến trúc:
Kiến trúc luôn gắn chặt với chất lượng cuộc sống xã hội và vì hạnh phúc của con người nên nó cũng phát triển theo tiến trình lịch sử văn minh loại người Một tác phẩm kiến trúc có giá trị phải đạt được cả 4 yêu cầu: Thích dụng – Bền vững – Mỹ thuật – Kinh tế
Bốn yêu cầu trên cũng chính là phương châm sáng tác kiến trúc của hầu hết mọi thời đại Tác phẩm kiến trúc có giá trị phải đạt được các mục đích: sử dụng tốt, an toàn, đáp ứng nhu cầu vật chất ngày càng cao của con người, mặt khác phải thoả mãn đòi hỏi về tinh thần thẩm mỹ, sự thụ cảm nghệ thuật của xã hội nhưng cũng phải phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước
2.2.1 Yêu cầu thích dụng
Đây là yêu cầu cơ bản nhằm đáp ứng những yêu cầu sử dụng do đặc điểm công năng đòi hỏi, mang lại sự tiện nghi và sử dụng hợp lý, tiện dụng cho các hoạt động của con người Yêu cầu thích dụng gồm những yêu cầu về vật chất, sinh học và yêu cầu về tinh thần
Ví dụ: nhà ở phải đảm bảo tiện nghi tối thiểu về diện tích, khu vệ sinh, ấm cúng, không khí thoáng mát, thông gió và chiếu sáng tốt, đảm bảo nhu cầu nghi ngơi, giải trí sau khi làm việc Hay bệnh viện đảm bảo khung cảnh tiện nghi, khu nội trú, giường nằm bệnh nhân hay khu nghỉ ngơi của y, bác sỹ, đảm bảo lưu tuyến đi lại ngắn gọn tránh chồng chéo, đảm bảo có không gian thiên nhiên, khu đi bộ cho bệnh nhân thư giãn…
Sự thích dụng của công trình được thể hiện trên các mặt sau:
- Sự hợp lý của dây chuyền công năng sử dụng, tạo được sự liên hệ rõ ràng, ngắn gọn và rành mạch, mang lại sự thuận tiện và tính kinh tế trong sử dụng không gian
- Sự hợp lý về kích thước, khối tích của từng loại không gian sử dụng đảm bảo bố trí đồ đạc, máy móc sản xuất hợp lý, gọn gàng
- Đảm bảo môi trường vi khí hậu cho các không gian: đủ ánh sáng, thông hơi, thoáng gió, chống ồn, phù hợp với điều kiện địa hình, khí hậu…
- Đảm bảo mối quan hệ hài hoà, hoà nhập với khung cảnh xây dựng xung quanh, tránh
Trang 33Do yêu cầu thích dụng rất đa dạng và phong phú do hoạt động của con người rất phong phú: ăn, ở, đi lại, học tập, nghiên cứu, vui chơi, giải trí….Yêu cầu này có thể thay đổi, phát triển theo từng giai đoạn lịch sử của xã hội, phát triển theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, kinh tế và tinh thần của xã hội Yêu cầu thích dụng còn phụ thuộc và phong tục tập quán của lối sống của từng dân tộc, vào đời sống tâm linh ở từng vùng, từng dân tộc, từng quốc gia Yêu cầu thích dụng rất quan trong đối với một tác phẩm kiến trúc Tuy nhiên, tuỳ vào từng thể loại công trình mà yêu cầu thích dụng được yêu cầu ở mức độ khác nhau
Ví dụ: Đối với các công trình trường học, nhà ở thì yêu cầu thích dụng rất quan trọng và
cụ thể nhưng đối với một đài tưởng niệm thì yêu cầu thích dụng chủ yếu là ý đồ tư tưởng tác động tới tinh thần, tình cảm của con người thông qua hình tượng kiến trúc
2.2.2 Yêu cầu bền vững
Một công trình kiến trúc dù là lớn hay nhỏ ( từ một ngôi nhà, một trường học hay một nhà hát đến những tổ hợp các công trình lớn như khu chung cư, khu nhà máy xí nghiệp hay cả một dãy phố…) đều đỏi hỏi nhiều sức người và vật chất Vì vậy công trình kiến trúc phải đảm bảo được sự tồn tại bền lâu của công trình trước mọi điều kiện tác động và ảnh hưởng của con người và tự nhiên, đảm bảo cho mọi hoạt động của con người trong công trình phải thuận tiện
và có hiệu quả cao (h.1.53)
Các bộ phận chịu lực được liên kết với nhau tạo thành bộ sườn chiụ lực hay còn gọi là kết cấu chịu lực của công trình Các kết cấu chịu lực không chỉ gánh chịu mọi loại lực tác động lên ngôi nhà để truyền xuống móng và qua móng truyền xuống vào đất để nền gánh chịu, mà còn phải tạo ra sự ổn định và vững cứng cần thiết đảm bảo ngôi nhà bền vững, an toàn trong suốt quá trình khai thác - sử dụng
Độ bền vững của công trình bao gồm:
+ Độ vững chắc của cấu kiện chịu lực
+ Độ ổn định của công trình (hệ thống kết cấu bên trên và nền móng)
+ Độ bền lâu của công trình (chống được những hao mòn về vật chất và tinh thần)
Độ vững chắc của cấu kiện chiụ lực: công trình kiến trúc được tổ hợp bằng nhiều loại cấu kiện chịu lực để chịu các loại tải trọng tác động tác động vào đồng thời hoặc không cùng một lúc Các lực tác dụng vào kết cấu chịu lực được gọi là tải trọng Đó là tải trọng tĩnh là trọng lượng của bản thân vật liệu kết cấu và các bộ phận kiến trúc bao che và tải trọng động là trọng lượng các thiết bị, con người hoạt động trong các không gian đó và cả những lực tác động thường xuyên như áp lực do gió tuyết, các lực phát sinh do máy móc vận hành, nhà lún, động đất…tải trọng tĩnh thì có thể tính toán cụ thể được còn tải trọng động tính toán theo quy ước Yêu cầu các cấu kiện đó không bị phá huỷ hay bị biến dạng quá lớn
Độ vững chắc của công trình phụ thuộc vào tính năng cơ lý của vật liệu, sự lựa chộn kích thước của cấu kiện để đảm bảo khả năng chịu lực đó với độ an toàn cần thiết
Độ ổn định của công trình: là khả năng chống lại các ngẫu lực mômen, lực xoắn, lực uốn cắt không đều hay các biến dạng khác như độ võng, độ lệch nghiêng …làm mất an toàn tác động vào từng cấu kiện hay toàn công trình Độ ổn định này được đảm bảo bằng độ ổn định nền và móng, giải pháp liên kết của hệ thống cấu trúc, sơ đồ làm việc hợp lý của kết cấu, cấu tạo và sự liên kết giữa các bộ phận cột tường và sàn nền nhằm tạo nên độ cứng cần thiết của toàn công trình Tuỳ theo quy mô phương thức tác dụng của các ngoại lực, nội lực và
Trang 34bền lâu hay tuổi thọ của công trình phụ thuộc vào tính chất cơ lý của vật liệu xây dựng cùng việc tính toán chính xác kích thước cấu kiện, chọn giải pháp liên kết áp dụng cho hệ kết cấu, biện pháp bảo vệ từng cấu kiện và các mối liên kết để đáp ứng mọi dạng hoạt động của con người cũng như sự xâm thực môi trường tự nhiên với công trình kiến trúc
Như vậy độ vững chắc, độ ổn định và sự toàn vẹn kết cấu của nhà sẽ đảm bảo dược trong thời gian dài, có khả năng chống lại với tính lỗi thời công nghệ và già hoá vật liệu của công năng nói chung
2.2.3 Yêu cầu mỹ quan
Từ khi có xã hội loài người việc đấu tranh để sinh tồn, phát triển thoả mãn nhu cầu vật chất, con người khao khát đòi hỏi hưởng thụ tinh thần thẩm mỹ, khao khát hướng tới cái Chân – Thiện – Mỹ… Cái đẹp vốn cần có trong mọi lĩnh vực của thế giới môi sinh và kiến trúc sư
có nhiệm vụ sáng tạo ra công trình cũng phải làm cho kiến trúc hoà vào khung cảnh thiên nhiên
Chất lượng thẩm mỹ của từng ngôi nhà hoặc của một quần thể kiến trúc có thể có tác động tích cực đến tạo sức truyền cảm giáo dục tư tưởng, làm phong phú thế giới tinh thần của con người Không phải công trình hoặc tổ hợp công trình nào cũng cần đạt đến trình độ hình tượng nghệ thuật cao như thế, mà chỉ có những công trình hoặc quần thể kiến trúc có quy mô
to lớn về mặt văn hóa hay xã hội như kiến trúc tượng đài, các công trình văn hoá tiêu biểu
Trang 35Cái đẹp trong kiến trúc luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội, theo sự phát triển văn minh của loài người Ví dụ như các công trình lâu đài cổ ở Châu Âu vào các thế kỷ 15 –
16, và các công trình với các kết cấu hiện đại ngày nay Hay như trường phái kiến trúc Hậu hiện đại mấy thập kỷ qua đã phê phán trường phái kiến trúc Hiện đại, tìm tòi những phương hướng mới trong phương pháp sang tác
Yêu cầu mỹ quan đối với các công trình kiến trúc thể hiện ở các mặt sau:
+ Mỹ quan tổng thể: kiến trúc được tạo ra phải hài hoà với môi trường xung quan nó Khung cảnh thiên nhiên vốn rất đa dạng và phong phú: đồi, núi, rừng cây, sông, nước…quần thể kiến trúc lại rất phong phú, khi đặt một công trình kiến trúc vào cái nền có sẵn ấy thì chúng phải cùng nhau tạo nên một không gian đẹp
+ Mỹ quan của công trình kiến trúc: Với tác phẩm kiến trúc thì cảnh quan thẩm mỹ là yếu tố đầu tiên tác động vào mọi người, mặc dù thẩm mỹ được đặt ra sau so với các yêu cầu khác
Yêu cầu mỹ quan là yêu cầu đòi hỏi công trình kiến trúc phải đẹp, có sức truyền cảm, hướng con ngưới tới các vẻ đẹp chân – thiện - mỹ, là mục đích của kiến trúc Để đạt được yêu cầu thẩm mỹ thi bất cứ một công trình nào cũng phải đạt được các yêu cầu sau:
- Biểu đạt được ý đồ của tác phẩm thông qua đặc điểm tính chất của công trình
Ví dụ:
+ Nhà ở: gây được cảm giác ấm cúng, văn minh, là nơi nghỉ ngơi, thư giãn…
+ Trường học, bệnh viện: phải tạo cảm giác sạch sẽ, ngăn nắp, đơn giản
+ Trụ sở cơ quan: phải tạo được cảm giác trang nghiêm, trân trọng…
- Đảm bảo thống nhất giữa nội dung và hình thức Tránh cầu kỳ, loè loẹt…
- Vận dụng hợp lý, sáng tạo các quy luật hợp hình khối, mặt đứng công trình
- Biết vận dụng hợp lý và sáng tạo những nét đẹp truyền thống của nền văn hoá dân tộc, tránh chủ nghĩa phục cổ sao sao chép…
- Tiếp thu những nét đẹp hiện đại của thế giới, của thời đại và kết hợp với thẩm mỹ dân tộc để thoã mãn tính hiện đại, dân tộc và đại chúng của kiến trúc mới
Cái đẹp đích thực trong kiến trúc là điều vô cùng cần thiết, đòi hỏi người kiến trúc sư phải trau dồi kiến thức để biết phân tích, vận dụng năng khiếu thẩm mỹ kết hợp với khoa học – kỹ thuật, có phương pháp sáng tác tốt
2.2.4 Yêu cầu kinh tế
Một tác phẩm kiến trúc ra đời đòi hỏi các chi phí rất lớn, từ công sức, vật liệu, thiết bị
và thời gian, lớn hơn rất nhiều các tác phẩm nghệ thuật khác Bởi thế trong quá trình thiết kế
và xây dựng, đặc biệt trong khâu thiết kế đòi hỏi phải tính toán, cân nhắc để đảm bảo tính kinh tế, hợp lý nhằm tiết kiệm của cải vật chất xã hội, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế -
xã hội trong quá trình sử dụng sau này
Khi giải quyết các chức năng, nhiệm vụ tức là xác định kích thước, hình dáng quy mô, thành phần phòng, cấp nhà và mức độ trang trí tiện nghi của nhà…người thiết kế phải xuất phát từ những nhu cầu có thực, hợp lý và những nhu cầu này phải phù hợp với khả năng của
xã hội, với trình độ kỹ thuật của đất nước, không nên để xảy ra tình trạng thừa diện tích và khối tích gây lãng phí của cải, trang thiết bị
Yêu cầu kinh tế trong công kiến trúc được biểu hiện trong khâu thiết kế, thi công và sử
Trang 36Bốn yêu cầu Thích dụng – Bền vững – Mỹ quan – Kinh tế đối với các tác phẩm kiến trúc là phương châm thiết kế của nghành kiến trúc và xây dựng chúng ta và là mục tiêu vươn đến của kiến trúc sư
III Kiến trúc với thiên nhiên và cảnh quan môi trường:
3.1 Kiến trúc với thiên nhiên và cảnh quan môi trường:
Kiến trúc là sản phẩm con người đạt được qua quá trình đấu tranh với thiên nhiên, tạo ra thiên nhiên thứ hai phù hợp nhu cầu sử dụng của con người và hoà hợp với tự nhiên
Mối quan hệ giữa kiến trúc và thiên nhiên phải hài hoà, kiến trúc phù hợp với địa hình, khí hậu, cảnh quan…và ngược lại thiên nhiên làm tôn lên nét đẹp hình khối, màu sắc, đường nét… của công trình và đặc biệt là phải tạo được môi trường sống tiên nghi, công năng cho đối tượng sử dụng Nếu một yếu tố này lấn át yếu tố kia thì sẽ phá vỡ quy luật cân bằng Mối quan hệ giữa kiến trúc và thiên nhiên thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản:
- Khía cạnh đấu tranh: con người từ khi sơ khai ở trong các túp lều, hang động đến các công trình kiến trúc to lớn, đồ sộ như ngày nay
- Khía cạnh liên minh :
+ Con người đã biết vận dụng các quy luật thiên nhiên để làm lợi cho kiến trúc của mình
+ Khai thác các vật liệu rất phong phú có trong thiên nhiên như đá, đất sét, gỗ, gạch ngói…,
+ Cố gắng tìm tòi các giải pháp kiến trúc mặt bằng để hài hoà với địa hình của thiên nhiên như các công trình thô sơ của các bộ tộc nguyên thuỷ đến những kiến trúc dân gian truyền thống lâu đời của các dân tộc
Ví dụ: Quần thể Kim tự tháp ở Ai Cập nổi tiếng từ bao đời vì quy mô hoành tráng được làm từ trên một sa mạc mênh mông tạo thành một cảnh sắc thiên nhiên khoáng đạt Hay kiến trúc Việt Nam có tháp Chăm được làm từ vật liệu đất Hay với tre, gỗ và các cây cỏ mộc mạc nhưng kiến trúc nhà Rông và tượng nhà mồ Tây Nguyên toát lên vẻ đẹp thuần khiến tính bản địa
Thiên nhiên là người xây dựng, ủng hộ nhưng đồng thời cũng là người phá huỷ cản trở
sự hình thành kiến trúc Ví dụ các hiện tượng tự nhiên bất lợi như gió, bão, động đất… hay các tác động tâm sinh lý của con người như nắng nóng, ẩm ướt, băng giá… hay các hiện tượng xảy ra trong tự nhiên như mối mọt, nấm khuẩn… Các hiện tượng này có ảnh hưởng rất lớn đến độ bền vững, quy hoạch, kiến trúc, kết cấu, cấu tạo của công trình, cũng như sự an toàn của người dân Tác động của kiến trúc đối với thiên nhiên là tạo cho thiên nhiên một trật
tự mới Con người với các hoạt động sống của mình đã cải tạo thiên nhiên để có một môi trường sống như ý
Kiến trúc phải có sự cân bằng với thiên nhiên, uốn nắn thiên nhiên Kiến trúc và thiên nhiên phải có tiếng nói chung về giá trị thẩm mỹ và hiệu quả sử dụng Nếu yếu tố này lấn át yếu tố kia thì sẽ phá vỡ sự cân bằng sinh thái Kiến trúc lấn át thiên nhiên thì môi trường sống ngột ngạt, tù túng… ngược lại thiên nhiên lấn át kiến trúc không làm nổi bật được hình thức kiến trúc Các công trình đặt trong thiên nhiên với một tỷ lệ hài hoà sẽ tạo thành một cảnh quan đẹp Khu đất nơi công trình được xây dựng vị trí môi trường cây xanh có khả năng điều chỉnh được các ấn tượng về khu đất Ví dụ: Nền văn minh lúa nước Việt Nam đã sản sinh ra một truyền thống kiến trúc dân gian hoà nhập với thiên nhiên Các công trình kiến trúc dân gian được cấu tạo từ những sản vật của thiên nhiên nhiệt đới, và đã có những thành tựu đáng
Trang 37nước, có sân tạo ra phong cảnh rất trữ tình Đình Việt Nam được thiết kế bằng các cửa bức bàn để có thể tháo ra hoàn toàn hoặc để ngỏ cho không gian nội thất và ngoại thất chan hoà với nhau Đó chính là các di sản quý báu đã đúc kết kinh nghiệm lâu đời về giải pháp kiến trúc và thẩm mỹ kiến trúc
Kiến trúc trong thiên nhiên cũng chịu tác động của điều kiện khí hậu Điều này tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên địa hình, khí hậu của từng nơi, từng vùng mà kiến trúc phải có các giải pháp phù hợp về hướng mặt bằng, bố cục không gian, vật liệu trang thiết bị kỹ thuật trang trí màu sắc phù hợp
Để giải quyết tốt mối quan hệ này, người thiết kế cần đạt được các nhiệm vụ:
- Tạo được sự hoà nhập của công trình với hiện trạng cảnh quan khu vực, bao gồm cảnh quan tự nhiên (địa hình, hình dạng khu đất, cây xanh, mặt nước, ) và cảnh quan nhân tạo (phong cách kiến trúc kế cận, hệ thống giao thông, kỹ thuật hạ tầng đô thị, )
- Tạo ra môi trường sử dụng thích nghi, có chất lượng bằng cách khắc phục các điều kiện bất lợi của khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, chế độ gió, hướng bức xạ mặt trời, …) cũng như đô thị (bụi, tiếng ồn), đồng thời khai thác các ưu thế của môi trường sinh thái khu vực
- Thoả mãn các yêu cầu về tâm sinh lý, văn hoá và môi trường xã hội, phù hợp phong tục, lối sống , đảm bảo công trình đậm đà bản sắc dân tộc và địa phương
Như vậy, con người tồn tại và phát triển được là do gắn bó với khung cảnh, môi trường thiên nhiên Giữa cá nhân và các cộng đồng người với thiên nhiên phải có một đời sống vật chất tinh thần bền vững và lâu dài Chính vì vậy mà kiến trúc là một cơ cấu quan trọng trong thiên nhiên để giúp con người tồn tại và phát triển, và kiến trúc cũng phải có đời sống vật chất bền vững và lâu dài
3.2 Khái niệm, đối tượng, mục tiêu, nhiệm vụ của kiến trúc cảnh quan:
3.2.1 Khái niệm kiến trúc cảnh quan:
Kiến trúc cảnh quan là một môn khoa học tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên nghành khác nhau (quy hoạch không gian, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, kiến trúc công trình, điêu khắc, hội hoạ…) nhằm giải quyết những vấn đề tổ chức môi trường nghỉ ngơi – giải trí, thiết lập và cải thiện môi sinh, bảo vệ môi trường, tổ chức nghệ thuật kiến trúc
Kiến trúc cảnh quan là hoạt động định hướng của con người nhằm tác động vào môi trường nhân tạo, tạo nên sự tổng hoà giữa chúng Tốc độ đô thị hoá phát triển rất nhanh kéo theo sự gia tăng đất xây dựng, đẩy dần thiên nhiên xa rời con người, gây nên sự rối loạn sinh thái, ô nhiễm môi trường Do vây kiến trúc cảnh quan nghiên cứu tổng thể từ phạm vi vùng, miền, đến giới hạn nhỏ hẹp của môi trường bao quanh con người có lợi cho sự sống, phù hợp sinh thái phát triển mang lại mối quan hệ tổng hoà giữa Thiên nhiên – Con người – Kiến trúc
3.2.2 Đối tượng của kiến trúc cảnh quan:
Môi trường sống của con người luôn luôn bị biến đổi trong quá trình phát triển của xã hội với sự tác động tương hỗ của hai nhóm thành phần nhân tạo và thiên nhiên, của nhân tạo với nhân tạo, của thiên nhiên với thiên nhiên Mối quan hệ có thể hoà hợp hay không hoà hợp, mâu thuẫn hay không mâu thuẫn
Môi trường sống cần được tổ chức hợp lý, thoả mãn các yêu cầu sử dụng, sự trong lành của môi cảnh và thẩm mỹ, đáp ứng sự phát triển đa dạng và phong phú của cuộc sống con người
Trang 38Cảnh quan bao gồm:
+ Cảnh quan văn hoá (cảnh quan đô thị, cảnh quan nông thôn, cảnh quan vùng nghỉ ngơi, cảnh quan lịch sử)
+ Cảnh quan trồng trọt ( dất nông lâm nghiệp)
+ Cảnh quan bị phá bỏ (khu khai thác mỏ)
Như vậy, cảnh quan văn hóa và cảnh quan nhân tạo là đối tượng nghiên cứu của kiến trúc cảnh quan Kiến trúc cảnh quan cần phân tích, tổng hợp các mối quan hệ ấy để xây dựng môi cảnh vững bền, gắn với quy hoạch không gian (vùng, đô thị và nông thôn) với thiết kế kiến trúc công trình để bổ khuyết cho quy hoạch không gian và thiết kế công trình
3.2.3 Mục tiêu, nhiệm vụ của kiến trúc cảnh quan:
Mục tiêu của kiến trúc cảnh quan là xây dựng môi cảnh bền vững, thoả mãn các nhu cầu
và hoạt động sống của con người trong một môi trường trong lành, hài hoà và tiện nghi (h.1 54)
Để đạt mục tiêu đó, kiến trúc cảnh quan có những nhiệm vụ sau:
- Giữ gìn và nhân rộng giá trị cảnh quan thiên nhiên trong các điểm dân cư, đặc biệt là trong các đô thị Tổ chức môi trường nghỉ ngơi – giải trí, môi trường thẩm mỹ và môi trường trong sạch
- Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và di tích cảnh quan trong môi trường nhân tạo
Việc cải tạo cảnh quan thiên nhiên là một quá trình tất yếu trong hoạt động sống của con người Đồng thời thiên nhiên tác động lại đến sự phát triển của con người Trong quá trình phát triển xã hội loài người, việc cải tạo môi trường thiên nhiên được dần mở rộng không ngừng và sự tăng trưởng của quy mô tỷ lệ với sự phát triển của kỹ thuật và xã hội dần
đi tới sự thay đổi chất lượng môi trường biến cảnh quan thiên nhiên thành cảnh quan nhân tạo với mức độ cao dần
Nhiệm vụ đặt ra phải giải quyết vấn đề điều hoà với môi trường Điều đó dẫn đến phải xây dựng lại mắt xích sinh thái với mối quan hệ thiên nhiên – nhân tạo trong hệ thống sinh thái mới Mỗi một giai đoạn tiến triển của xã hội loài người có mối quan hệ giữa kiến trúc cảnh quan với quy hoạch không gian khác nhau Một đô thị luôn có mối quan hệ thuận hoà giữa thiên nhiên và nhân tạo
Việc cải tạo cảnh quan thiên nhiên để hình thành cảnh quan nhân tạo, có thể phần yếu
tố thiên nhiên chiếm ưu thế hoặc phần yếu tố nhân tạo đóng vai trò chủ đạo Cảnh quan văn hóa và cảnh quan nhân tạo là đối tượng nghiên cứu của kiến trúc cảnh quan Kiến trúc cảnh quan nghiên cứu không gian bên ngoài một cách đồng bộ và sử dụng các yếu tố hình khối tạo cảnh tham gia vào việc hình thành cảnh quan theo quan điểm thiết kế môi trường Do vậy, kiến trúc cảnh quan đảm bảo việc bảo vệ và sử dụng thiên nhiên hiệu quả nhất phục vụ cho việc quy hoạch và thiết kế kiến trúc một cách hợp lý, đảm bảo việc tổ chức không gian có chất lượng tốt cho hoạt động sống của con người và cả khi tạo ra khả năng bố trí tổng thể, mối quan hệ tương hỗ của tất cả các vùng chức năng trong đô thị Sự tác động qua lại của thiên
Trang 39tạo ra môi trường sống mới, hệ sinh thái mới thích hợp với sự phát triển toàn diện của con người
Nhiệm vụ quan trọng của kiến trúc cảnh quan là tạo hình và trang trí không gian bên ngoài (nội thất đô thị) bằng các yếu tố hình khối nhân tạo và thiên nhiên Đồng thời có vai trờ tích cực trong việc cải thiện về chất lượng môi trường sống đã được hình thành trong những điều kiện đô thị phức tạp, tạo đô thị thành một quần thể thống nhất và có giá trị thẩm mỹ cao Cảnh quan thiên nhiên có giá trị cần được sử dụng và bảo vệ thích đáng để nghỉ ngơi, chữa bệnh và du lịch Vì thế cần được giữ gìn như những “ngân quỹ” thiên nhiên Kiến trúc cảnh quan có nhiệm vụ lập những biện pháp cấp bách và dự báo việc sử dụng các khu đất có
“ngân quỹ” thiên nhiên thích hợp cho việc nghỉ ngơi, giải trí Những biện pháp đó được thể hiện trên bản đồ quy hoạch cảnh quan Trong đó cần nêu thêm quan điểm điều hoà hoạt động kinh tế và xây dựng, bảo đảm việc bảo vệ và sử dụng thiên nhiên một cách hợp lý
Xuất phát từ những nhiệm vụ cụ thể của kiến trúc cảnh quan đề ra bên trên, trong không gian xuất hiện sự tác động tương hỗ của các khu vực chức năng và các quá trình phát triển kinh tế – xã hội trên cơ sở thống nhất, hài hoà của các yếu tố nhân tạo và yếu tố thiên
Trang 40Bên cạnh đó mật độ xây dựng đô thị ngày càng cao xuất hiện nhiều đô thị khổng lồ, công nghiệp và giao thông phát triển không những chỉ ảnh hưởng trong phạm vi đô thị mà còn tác động ra ngoài giới hạn hành chính đô thị
Kiến trúc cảnh quan có nhiệm vụ quy hoạch không gian khu ở, không gian công cộng
… trong khu ở Việc tạo hình không gian nhỏ trong đô thị không đơn thuần là nhà mà còn là điạ hình, mặt nước, cây xanh và tranh tượng trang trí Điều đó còn mang lại giá trị trang trí cho không gian được tạo dựng Tính trội của một vài yếu tố hình khối – trang trí trên sẽ đem lại đặc trưng, ngữ nghĩa, cá tính cho mỗi một khu vực trong đô thị Thậm chí yếu tố đó là đặc trưng chủ yếu của tiển cảnh và là yếu tố điều hoà tiểu môi trường
Như vậy việc thiết lập cảnh quan không chỉ là tương quan giữa không gian trống và không gian xây dựng mà còn mối tác động qua lại giữa thiên nhiên trong không gian đó với công trình xây dựng, được biểu hiện chủ yếu ở hai mặt thẩm mỹ và công năng
3.2.4 Các cơ sở của việc bố cục cảnh quan:
Mỗi bố cục cảnh quan có toát lên được giá trị thẩm mỹ hay không phụ thuộc vào các giác quan của con người, chủ yếu là thị giác Song hiệu quả thu nhận được còn phụ thuộc vào các điều kiện nhìn bao gồm điểm nhìn, tầm nhìn và góc nhìn
a Điểm nhìn:
Điểm nhìn là vị trí đứng nhìn Nếu vị trí nhìn cùng chiều với tia sáng thì của các vật thể được nổi rõ Ngược lại khi vị trí ngược chiều ánh sáng thì chi tiết của các vật thể bị lu mờ i còn đường bao vật thể nổi rõ hơn do sự tương phản của khoảng sáng bao quanh và diện tối toàn thân của vật thể
b Tầm nhìn:
Tầm nhìn là khoảng cách từ điểm nhìn đến tiêu
điểm nhìn (vật thể được nhìn) Khoảng cách này có
mối quan hệ gắn bó với đặc tính quang học của mắt,
chiều cao ngang của vật thể và chi tiết, chất liệu bề
mặt vật thể (cấu tạo mặt ngoài)
c Góc nhìn:
Góc nhìn là hướng nhìn vật thể Mỗi một vật thể
có chiều hướng nhìn khác nhau dẫn đến sự thay đổi
tương ứng của viễn cảnh và hình dạng các vật thể
trong bố cục Hướng nhìn lại liên quan đến di chuyển
điểm nhìn Nếu tốc độ di chuyển nhanh, hình ảnh lưu
trên võng mạc quá ngắn chưa thể nhận rõ đươc chi
tiết bên trong vật thể Ngược lại tốc độ đi lại chậm,
thời gian thu nhận lâu, nhận biết chi tiết rõ nét hơn
Đo đó khi thiết kế cảnh quan cần chú ý đến kênh thị
giác của các tuyến đường xung quanh
3.2.5 Các yếu tố tạo cảnh quan trong kiến
trúc công trình thuỷ lợi-thuỷ điện
a Yếu tố địa hình
Địa hình tự nhiên tạo nên cảnh quan đặc trưng
của các cụm công trình đầu mối hồ chứa Chính yếu
tố địa hình này là nhân tố quyết định hình thức, kiểu