Tiểu luận chi tiết về diễn biến thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, khu vực ngân hàng, khu vực phi tài chính số liệu chính xác, biểu đồ chi tiết cụ thể, minh họa rõ nét kiến thức tổng quan và phân tích sắc sảo. đạt điểm 10 khoa tài chính doanh nghiệp trường kinh tế quốc dân
Trang 1PHẦN 3
KHU VỰC PHI TÀI CHÍNH
I DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH
Năm 2011 tiếp tục ghi nhận khó khăn của các công ty niêm yết chủ yếu do chi phí đầu vào tăng cao (giá nguyên vật liệu và lãi suất ngân hàng ở mức cao), sức mua giảm, thị trường chứng khoán ảm đạm Qua nghiên cứu dựa trên báo cáo tài chính[1] của hơn 500 doanh nghiệp đang được niêm yết trên hai sàn chứng khoán Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy xuất hiện tình trạng nhiều doanh nghiệp thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh, lợi nhuận sụt giảm mạnh, tồn kho tăng cao
- Cấu trúc tài chính dễ bị tổn thương do tỷ lệ đòn bẩy tài chính vẫn ở mức cao và chưa có dấuhiệu giảm;
- Lợi nhuận giảm mạnh, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ
do chi phí tăng cao;
- Doanh nghiệp bị đọng vốn khá lớn ở hàng tồn kho và cấp tín dụng trả sau cho khách hàng;
- Hoạt động kinh doanh kém hiệu quả của khu vực doanh nghiệp làm gia tăng nguy cơ nợ xấucủa khu vực ngân hàng;
- Khó khăn của khu vực doanh nghiệp làm chậm khả năng phục hồi của thị trường chứng khoán
(ii) Tỷ lệ đòn bẩy cao nhất là ngành xi măng (4.72), xây dựng, xây lắp (3.64), vật liệu xây dựng (2.8), chế tạo máy, cơ khí (2.68) và BĐS (1.66).
Trang 2Tính đến 31/12/2011, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các ngành công nghiệp đều ở mức cao.Đáng lưu ý là ngành xi măng, xây dựng, xây lắp có tỷ lệ này rất cao (trên 3 lần) trong khi đặc thù hoạt động kinh doanh của các ngành này có vòng quay vốn chậm, thời gian thu hồi vốn dài đã làm tăng nguy cơ rủi ro hoạt động và rủi ro thanh khoản Thị trường BĐS sụt giảm mạnh đã tác động tiêu cực đến tình hình tài chính của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này.
2 Hiệu quả kinh doanh
(i) Khả năng sinh lời sinh lời suy giảm, nhóm SMEs và các ngành có hệ có số đòn bảy cao bị tổn thương mạnh nhất
Tỷ lệ ROE Quý 4/2011 (3,6%) sụt giảm mạnh, về ngang bằng thời điểm ngay trước suy thoái kinh tế vào quý 4/2008 Điều này cho thấy tác động tích cực của gói kích cầu trong năm 2009
và dư âm của nó đã không còn cho đến hiện tại Thậm chí có lo ngại cho rằng, một phần của gói kích cầu có khả năng bị lạm dụng để “đảo nợ” làm sạch bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp và TCTD thay vì cơ cấu lại cấu trúc tài chính của doanh nghiệp do hệ số nợ vẫn ở mức cao và không có dấu hiệu giảm
Theo quy mô vốn chủ sở hữu, sự sụt giảm về tỷ suất sinh lời diễn ra mạnh mẽ nhất đối với các doanh nghiệp có quy mô vốn chủ sở hữu nhỏ Các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn, có lợi thế về vốn, tài sản, khả năng tiếp cận vốn vay tốt hơn và có thể chủ động trong việc điều chỉnh giá bán sản phẩm đầu ra Do vậy, các doanh nghiệp này đã cầm cự được tốt hơn trong bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô, chi phí đầu vào gia tăng Điều này hoàn toàn trái ngược với tình hình của năm 2009, khi nền kinh tế hồi phục, chính sách tiền tệ được nới lỏng thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa có kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn do tăng trưởng của các doanh nghiệp này chủ yếu dựa vào vốn
Trang 3Xét trên góc độ ngành, hầu hết các ngành đều có lợi nhuận sụt giảm liên tục so với cùng kỳ các năm trước Đáng lưu ý là các ngành có tỷ lệ đòn bẩy cao như BĐS, công nghiệp lại có tỷ suất lợi nhuận tương đối thấp Điều này cho thấy rủi ro cao và hiệu quả thấp trong hoạt động của các ngành này Chi tiết vào các tiểu ngành cho thấy, cao su và thực phẩm là 2 ngành duy nhất hoạt động hiệu quả trong khi vận tải biển, thép, xi măng, điện và BĐS đang có diễn biến tiêu cực về hiệu quả sinh lời.
(ii) Gánh nặng chi phí tài chính, chi phí lãi vay ngày một lớn là nguyên nhân khiến các nhóm ngành có hệ số đòn bảy cao bị suy giảm mạnh về hiệu quả sinh lời
Doanh nghiệp đang phải đối mặt với gánh nặng chi phí lãi vay và chi phí tài chính ngày một lớn do lãi suất cho vay quá cao Tỷ lệ chi phí lãi vay/tổng chi phí của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán tăng từ 2,93% năm 2010 lên 3,61% năm 2011 Tương ứng, tỷ lệ chi phí tài chính/tổng chi phí tăng 4,72% lên 5,56% Nếu tính tỷ trọng các loại chi phí theo doanhthu, có thể nhận thấy nếu tỷ trọng các loại chi phí khác không có thay đổi lớn thì tỷ trọng chi phí tài chính trên tổng doanh thu có mức tăng đáng chú ý trong Quý 1/2011, tuy có xu hướng giảm dần song vẫn duy trì ở mức cao
So với mặt bằng lãi suất cho vay bình quân tại một số nước trong khu vực như Ấn Độ khoảng10%, Philippines 7,3%, Thái Lan 6.9%, Trung Quốc 6,6%, Singapore 5.4%, mức lãi suất cho vay bình quân của Việt Nam cao hơn khoảng 2-4 lần (20-22%) Nếu giả định yếu tố khác không đổi, giá thành các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam cao hơn so với Ấn Độ là 1,85%, của Trung Quốc và Thái Lan là 1,3%, của Singapore là 2,71%
Trang 4Như vậy, chi phí tài chính quá cao (do lãi suất cao) không những làm suy giảm lợi nhuận mà còn giảm khả năng hồi phục của khu vực này khi tăng trưởng dựa vào vốn vay, đồng thời làmgiảm lợi thế so sánh khi giá thành sản phẩm cao hơn các doanh nghiệp của quốc gia trong khu vực và thế giới.
3 Khả năng thanh toán
(i) Khả năng thanh toán ngắn hạn và thanh toán nhanh suy giảm, một số tiểu ngành (xi măng, thép, vận tải biển,…) đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh toán
Tính đến 31/12/2011, khả năng thanh toán ngắn hạn của khu vực doanh nghiệp (1,39 lần) giảm nhẹ so với cùng thời điểm năm 2010 (1,48 lần) và năm 2009 (1,46 lần) Tuy nhiên, sau khi loại bỏ hàng tồn kho thì tỷ lệ khả năng thanh toán còn ở mức khá thấp (0,84 lần) Điều này cho thấy các doanh nghiệp đang phải đối mặt với rủi ro về thanh khoản do hàng hóa tiêu thụ chậm, tồn kho tăng trong bối cảnh kinh tế vĩ mô khó khăn, cầu tiêu dùng nội địa chưa có dấu hiệu tích cực
Xét trên góc độ ngành, các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp, công nghệ, dầu khí có tỷ
lệ về khả năng thanh toán ở mức khá tiêu cực (khả năng thanh toán ngắn hạn xấp xỉ 1 lần Trong đó, đặc biệt chú ý là các doanh nghiệp ngành vận tải biển và thép đang ở mức thận trọng và các doanh nghiệp xi măng được xếp vào danh mục đáng báo động với tỷ lệ đòn bẩy lớn hơn 3 lần trong khi khả năng thanh toán ngắn hạn và thanh toán nhanh lần lượt thấp hơn 1
và 0.5 lần[1]
(ii) Hàng tồn kho tăng mạnh
Lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp niêm yết liên tục tăng qua các quý Tính đến 31/12/2011, lượng hàng tồn kho toàn thị trường tăng 31% so với cùng kỳ năm 2010 và tăng 79% so với cùng kỳ năm 2009 Đáng lưu ý là tốc độ tăng của hàng tồn kho cao hơn nhiều so với tốc độ tăng của tổng tài sản (tổng tài sản 2011 tăng so với 2010 và 2009 tương ứng là 16% và 54%) Trong đó, ngành BĐS có lượng hàng tồn kho tăng mạnh bắt đầu từ quý
3/2010 Hàng tồn kho của ngành BĐS cuối năm 2011 tăng 44% so với cuối năm 2010 và tăng133% so với cũng thời điểm năm 2009 trong khi tổng tài sản chỉ tăng tương ứng là 13% và 64%
Trang 5Hàng tồn kho tăng mạnh so với các năm trước cho thấy các doanh nghiệp khó tiêu thụ hàng hóa do cầu tiêu dùng suy giảm mạnh Theo Tổng cục thống kê, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2011 chỉ đạt 2004,4 nghìn tỷ đồng, tăng 24,2% so với năm
2010, nếu loại trừ yếu tố giá chỉ số này tăng 4,7%, thấp hơn nhiều so với năm 2010 là 14% Thực trạng suy giảm mạnh của cầu tiêu dùng có thể tiếp tục tác động xấu tới khu vực doanh nghiệp
(iii) Tình trạng chiếm dụng vốn gia tăng.
Hàng tồn kho tăng cao làm suy giảm khả năng thanh khoản của khu vực doanh nghiệp khiến tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau có xu hướng gia tăng Tính đến 31/12/2011, các khoản phải thu ngắn hạn tăng 23% so với cùng kỳ năm 2010 và tăng 79% so với cùng kỳ năm 2009
4 Tác động chéo giữa khu vực doanh nghiệp phi tài chính và thị trường tài chính
(i) Trong bối cảnh thị trường chứng khoán ảm đạm, song hành với chính sách tiền tệ chặt chẽ, hạn mức tín dụng thấp, lãi suất ngân hàng ở mức cao khiến việc huy động vốn của các doanh nghiệp trở nên khó khăn.
Trên thị trường tín dụng ngân hàng, lãi suất ở mức cao (trung bình từ 19-25%/năm) khiến cácdoanh nghiệp khó tiếp cận vốn trực tiếp từ các món vay tín dụng Trong khi đó việc phát hành trái phiếu được coi như là một hình thức “lách tín dụng” bắt đầu được quy định và giám sát một cách chặt chẽ hơn[2]
Bên cạnh đó, sự sụt giảm của TTCK kéo theo hơn 50% số cổ phiếu niêm yết có thị giá rơi xuống dưới mệnh giá (10.000 đồng) và thấp hơn nhiều so với giá trị ghi sổ của doanh nghiệp.Nhiều doanh nghiệp đứng trước áp lực bị thâu tóm Một số quyết định rời khỏi thị trường niêm yết Thị giá cổ phiếu xuống thấp còn khiến việc tăng vốn trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp bị nghẽn lại Nếu năm 2010 là năm ồ ạt tăng vốn và thị trường đón nhận thông tin chào bán ưu đãi khá hồ hởi thì năm 2011, hàng loạt vụ tăng vốn của doanh nghiệp
bị vỡ kế hoạch [3]
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp buộc phải cân đối luồng tiền, cắt giảm chi phí, thu hẹp quy
mô sản xuất, để duy trì hoạt động kinh doanh, ổn định nguồn nhân lực và giữ vững thị phần
Trang 6Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài không chỉ ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của doanh nghiệp mà còn tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm tiếp theo Do đó, vấn đề trọng tâm đặt ra là doanh nghiệp cần có chiến lược tái cấu trúc, nâng cao năng lực quản trị điều hành, cải tiến và đổi mới công nghệ, để tồn tại và phát triển bền vững sau giai đoạn khủng hoảng.
(ii) Lợi nhuận sụt giảm làm gia tăng nguy cơ nợ xấu đối với khu vực ngân hàng
Các doanh nghiệp niêm yết gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh cả yếu
tố đầu vào và đầu ra làm lợi nhuận sụt giảm mạnh so với năm 2010 Lợi nhuận của các doanhnghiệp giảm sút chủ yếu do các nguyên nhân: (i) Chi phí lãi vay tăng mạnh Theo tính toán của UBGSTCQG, chi phí lãi vay năm 2011 tăng hơn 70% so với cùng kỳ năm 2010; (ii) Chỉ
số giá nguyên vật liệu dùng cho sản xuất tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2010[4]; (iii) Lượng hàng tồn kho tăng cao (tăng 45% so với cùng kỳ năm 2010) do sức mua của thị trường trong nước giảm sút trong khi cán cân thương mại còn nhiều bất ổn (cán cân thương mại cải thiện
do đóng góp đáng kể từ xuất khẩu kim loại quý) Tỷ suất lợi nhuận của các công ty niêm yết
từ năm 2009 giảm mạnh hơn so với các doanh nghiệp niêm yết trước đó trong khi tỷ lệ đòn bẩy tài chính vẫn ở mức cao Sự sụt giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp làm tăng nhanh tỷ
lệ nợ xấu của khu vực ngân hàng
(iii) Hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) diễn ra sôi động với nhiều thương
vụ lớn
Năm 2011 tiếp tục đánh dấu một năm đầy sôi động cho hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) tại Việt Nam Tổng giá trị các thương vụ đã hoàn thành đạt 2,67 tỷ USD, cao hơn gấp 1,5 lần năm 2010, với nhiều thương vụ lớn So với những năm trước, các thương vụ M&A của năm 2011 nổi lên với nhiều điểm khác biệt như: (i) tổng giá trị các thương vụ M&A từ các tập đoàn nước ngoài đầu tư chiếm tỷ trọng cao (81,3%), trong đó dòng tiền chủ yếu đến từ Nhật Bản; (ii) hàng tiêu dùng, tài chính và BĐS là các ngành có giá trị thương vụ chuyển nhượng cao nhất; (iii) nhiều doanh nghiệp trong nước thực hiện tái cấu trúc thông quaM&A UBGSTCQG cho rằng hoạt động M&A sẽ diễn ra mạnh hơn trong năm 2012 Từ đó, góp phần cải thiện chất lượng hoạt động của thị trường chứng khoán và cung cấp cho thị trường chứng khoán nhiều hàng hóa có chất lượng cao hơn
II KHU VỰC HỘ GIA ĐÌNH
Hộ gia đình là khu vực kinh tế sở hữu nguồn tài nguyên lớn (lao động, vốn, ) và có đóng gópquan trọng vào GDP (chi tiêu, đầu tư, ) Hộ gia đình vừa là nguồn cung cấp đầu vào quan trọng, vừa là chủ thể lớn sử dụng các sản phẩm của thị trường tài chính Trong khuôn khổ báocáo này, UBGSTCQG tập trung nghiên cứu tác động qua lại giữa khu vực hộ gia đình và thị trường tài chính trên cơ sở phân tích hành vi ra quyết định đầu tư từ các khoản tiết kiệm, kiềuhối và sử dụng đòn bẩy tài chính (vay nợ)
- Tỷ lệ tiết kiệm dân cư có xu hướng sụt giảm do tốc độ tăng của chi tiêu cao hơn tốc độ tăng của thu nhập;
- Kiều hối tăng mạnh đã giúp cải thiện đời sống người dân và tăng giá trị tích lũy cho nền kinh tế;
Trang 7- Dư nợ cho vay khách hàng cá nhân và hộ gia đình giảm so với cuối năm 2010 do hạn chế cho vay phi sản xuất và lãi suất cho vay, đặc biệt là lãi suất cho vay tiêu dùng ở mức cao;
- Thắt chặt cho vay tiêu dùng, chứng khoán, BĐS đã tạo cơ hội bùng phát “tín dụng đen”, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho hệ thống tài chính và an ninh xã hội
1 Tiết kiệm của khu vực hộ gia đình
Theo TCTK, từ năm 2008 đến nay, tỷ lệ tiết kiệm của các hộ gia đình giảm mạnh do tốc độ tăng chi tiêu bình quân của các hộ gia đình nhanh hơn tốc độ tăng bình quân của thu nhập (chi tiêu thực tế thời kỳ 2006 – 2010 tăng bình quân 24%/năm, cao hơn nhiều so với mức tăng bình quân 15%/năm của thời kỳ 2002 – 2006) Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, tốc độ tăng chi tiêu bình quân của hộ gia đình gấp 1,5 lần tốc độ tăng thu nhập bình quân Từ năm 2008 đến nay, khoảng cách giữa tỷ lệ chi tiêu và tiết kiệm trong tổng thu nhập của các hộ gia đình càng ngày càng doãng rộng ra Điều này cho thấy: (i) người dân mạnh dạn hơn trong tiêu dùng cho hiện tại; (ii) mức tiết kiệm của khu vực hộ gia đình giảm; (iii) đầu tư tư nhân sẽ ít đi
và sản lượng sẽ giảm trong trung và dài hạn; (iv) gia tăng tổng cầu cuối cùng trong khi cung yếu sẽ đẩy giá cả tăng lên do mất cân đối cung cầu
Về lý thuyết, tỷ lệ tiết kiệm nội địa giảm là cung vốn trên thị trường tài chính giảm sút, biểu hiện ở sự suy giảm tỷ lệ tiền gửi trong hệ thống ngân hàng Tỷ lệ tiết kiệm dân cư có xu hướng sụt giảm mạnh trong khoảng 3 năm trở lại đây Tính đến 31/12/2011, số dư tiền gửi của dân cư tăng 21,26% so với cuối năm 2010, trong khi tỷ lệ này năm 2010 và 2009 lần lượt
là 37,31% và 28,42% Sự giảm sút của tăng trưởng tiền gửi dân cư cho thấy khó khăn trong huy động vốn của hệ thống TCTD, buộc các TCTD phải cạnh tranh lãi suất, từ đó ảnh hưởng đến cung vốn tín dụng Hệ quả là lãi suất cho vay luôn ở mức cao Mặt khác, tiết kiệm dân cưtại hệ thống TCTD sụt giảm có thể cho thấy lòng tin của cá nhân và hộ gia đình vào sự ổn định của VND ngày càng giảm sút, họ có thể lựa chọn các kênh đầu tư khác như vàng, ngoại tệ, để bảo toàn giá trị tích lũy
Trang 82 Kiều hối
Lượng kiều hối tăng mạnh với mức tăng bình quân khoảng 25%/năm Tính đến cuối năm
2011, có khoảng 9 tỉ USD kiều hối được chuyển về Việt Nam, tăng hơn 8 lần so với năm
2001 Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Western Union khu vực châu Á
-Thái Bình Dương, với khoảng 4 triệu kiều bào đang sinh sống, học tập và lao động tại 101 quốc gia, trong đó khoảng 400.000 là lao động xuất khẩu, Việt Nam đã lọt vào top các nước nhận kiều hối nhiều nhất thế giới, tương đương với 8% GDP của cả nước Kiều hối tăng mạnh do các nguyên nhân sau: (i) kinh tế thế giới đã bước đầu hồi phục; (ii) chênh lệch lãi suất USD/VND cao; (iii) sự phát triển nhanh của về mạng lưới, sự nâng cao của chất lượng
và sự tiện lợi của dịch vụ chi trả kiều hối
Theo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, nếu như kiều hối từ những thị trường truyền thống như Mỹ, Canada, Pháp, Đức và Australia chủ yếu để hỗ trợ tài chính cho gia đình, người thân hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh trong nước thì ở các thị trường xuất khẩu lao động lớn của Việt Nam trong những năm gần đây như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, kiều hối chủ yếu tập trung chuyển về khu vực nông thôn và được dành để trả
nợ Số còn lại dùng để sửa sang nhà cửa, mua sắm tài sản, trực tiếp giúp cải thiện đời sống gia đình của người đi xuất khẩu lao động và tăng giá trị tích lũy cho nền kinh tế
3 Vay nợ của hộ gia đình
Với sự phát triển nhanh chóng của quy mô, mạng lưới, loại hình dịch vụ ngân hàng mới trên nền tảng công nghệ hiện đại, hộ gia đình tìm đến các sản phẩm hỗ trợ tài chính của các định chế tài chính nhằm phục vụ nhu cầu đầu tư và tiêu dùng Nợ của cá nhân, hộ gia đình có xu
Trang 9hướng tăng qua các năm Tuy nhiên, năm 2011, dư nợ cho vay cá nhân và hộ gia đình có dấu hiệu giảm sút Tại thời điểm 31/12/2011, dư nợ cho vay khách hàng cá nhân và hộ gia đình giảm 13,2% so với cuối năm 2010 Cùng xu hướng sụt giảm đó nhưng với mức độ mạnh hơn,giá trị giao dịch qua thẻ tín dụng giảm tới 33,76%, trong khi số lượng thẻ tín dụng tăng 37,54% Nguyên nhân của sự sụt giảm dư nợ cho vay và giá trị giao dịch qua thẻ tín dụng trong năm 2011 chủ yếu do: (i) lãi suất cho vay, đặc biệt là lãi suất cho vay tiêu dùng ở mức cao; (ii) chính sách thắt chặt cho vay phi sản xuất, trong đó có cho vay tiêu dùng.
4 Đầu tư
Những biến động thất thường của thị trường vàng và ngoại tệ, sự sụt giảm của thị trường tài sản đã ảnh hưởng mạnh đến các hoạt động đầu tư tư nhân và tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư và do vậy, rất nhiều người lúng túng trong việc lựa chọn kênh đầu tư hiệu quả Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô đã cản trở việc thu hút vốn cho phát triển kinh tế Lãi suất cho vay cao tác động tiêu cực đến đầu tư tư nhân Theo khảo sát của UBGSTCQG, so với năm 2010, các kênh đầu tư truyền thống như sản xuất, kinh doanh chứng khoán, BĐS sụt giảm
Trong khi đó, thị trường BĐS đóng băng kéo dài, thị trường chứng khoán suy giảm nặng nề, các nhà đầu tư thua lỗ làm cho giá trị tài sản của người dân và quốc gia giảm sút Đồng thời,
Trang 10tình trạng duy trì lãi suất rất cao trong thời gian dài, được xem như để chống lạm phát đã khiến các nguồn lực sản xuất bị co cụm, tổn thương, doanh nghiệp thua lỗ nhiều, nợ xấu ngânhàng gia tăng càng làm suy giảm uy tín doanh nghiệp trong và ngoài nước, suy giảm cơ hội thu hút đầu tư tư nhân trong tương lai.
Tỷ lệ tiết kiệm nội địa luôn thấp hơn đầu tư trong nhiều năm Hơn thế nữa, mức tăng đầu tư nhanh, trong khi mức để dành lại giảm (từ năm 2006) Điều đó cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn đang phụ thuộc nhiều vào luồng vốn đầu tư từ bên ngoài Đồng thời, mức tăng tiết kiệm nội địa thấp hơn mức tăng đầu tư khiến chúng ta buộc phải gia tăng nợ nần Trong bối cảnh đó, lãi suất vay nợ ngày càng cao làm gia tăng nguy cơ rủi ro cao cho hoạt động đầu tư
5 Tác động chéo của khu vực hộ gia đình với thị trường tài chính
(i) Giằng co vốn giữa các khu vực tài chính
Tiền đồng mất giá mạnh vào đầu năm dẫn tới việc người dân mất lòng tin vào giá trị VND nên tìm chỗ bảo toàn giá trị tích lũy vào vàng và các ngoại tệ mạnh Bên cạnh đó, lạm phát tăng cao khiến người dân có tâm lý không muốn đầu tư sản xuất kinh doanh vì càng làm nhiều càng lỗ nhiều, tiền lời không đủ tiền trả lãi vay ngân hàng dẫn đến nghịch lý “gửi tiết kiệm cho chắc ăn” hoặc “mua vàng cất tủ” Những tư tưởng đó có thể tối ưu nhất vào hôm nay hay thời kỳ này, nhưng lâu dài sẽ gây đình trệ cho nền kinh tế sau thời kỳ lạm phát cao như hiện nay Bất ổn kinh tế vĩ mô và gia tăng nợ xấu của khu vực ngân hàng đã làm cho vàng trở thành kênh đầu tư được nhiều người lựa chọn nhất Theo khảo sát gần 47.000 độc giả trên VnExpress, 37,4% số người được hỏi lựa chọn vàng là kênh đầu tư trong năm 2011
(ii) Thắt chặt cho vay tiêu dung, chứng khoán, BĐS khiến “tín dụng đen” bùng phát và đang trở thành vấn đề lớn của toàn bộ thị trường tài chính, đặc biệt là khu vực ngân hàng.
Việc thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ quá mức trong một thời gian ngắn đã khiến cho khu vực hộ gia đình gặp khó khăn lớn về vốn Đặc biệt, do chính sách hạn chế cho vay tiêu
Trang 11dùng và phi sản xuất, luồng vốn từ “tín dụng đen” có cơ hội bùng phát Huy động vốn với lãi suất cực cao – bản chất của “tín dụng đen” không phải là điều mới mẻ, nhưng khi nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, các TCTD thắt chặt các khoản cho vay tiêu dùng, chứng khoán, BĐS thì
“tín dụng đen” bùng nổ và phát huy hết công suất của nó
Nguồn cung vốn từ các ngân hàng cho khu vực hộ gia đình bị giảm mạnh và ngày càng khó khăn song nhu cầu về vốn cao do người dân cần tiền cho các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng Theo khảo sát của UBGSTCQG về lựa chọn kênh đầu tư năm 2011 của các
hộ gia đình thành phố, dòng tiền trong dân cư đổ mạnh vào các kênh đầu tư mạo hiểm như vàng, ngoại tệ, chơi hụi, tín dụng đen, do lạm phát và kỳ vọng lạm phát cao khiến người dân
có tâm lý tìm đến nơi có lãi suất cao để cho vay Trong khi đó, việc tăng trưởng nóng trong thời gian dài dẫn đến tình trạng thiếu nguồn lực, đặc biệt là vốn Điều này gây ra một cuộc chạy đua lãi suất ở cả khu vực tài chính chính thức và khu vực thị trường tài chính phi chính thức (trong đó có tín dụng đen)
Hệ quả của chính sách thắt chặt tiền tệ quá mức cũng khiến cho thanh khoản trên thị trường tài sản (BĐS, chứng khoán) giảm mạnh Ở chiều ngược lại, sự đóng băng của thị trường BĐScàng làm cho tín dụng đen tăng nhanh và đang trở thành vấn đề lớn của toàn bộ thị trường tài
chính, đặc biệt là khu vực ngân hàng Hoạt động tín dụng đen đáng báo động do: (i) thành phần tham gia ngày càng đa dạng và phức tạp; (ii) lãi suất huy động và cho vay ngày càng cao;(iii) thủ tục ngày càng thoáng và đơn giản; (iv) quy mô ngày càng lớn Hệ quả là nguy cơ
đổ vỡ ngày càng lớn, có thể gây ra những bất ổn về kinh tế và xã hội.
(iii) Những bất ổn kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi chi tiêu và tiết kiệm của hộ gia đình
Theo báo cáo của các TCTD, tại thời điểm 31/12/2011, giá trị giao dịch qua thẻ tín dụng sụt giảm mạnh, bằng 66,83% so với 31/12/2010 và bằng 19,71% so với 30/6/2011 Điều này cho thấy chi tiêu của người dân cho các nhu cầu mua sắm, đặc biệt là hàng xa xỉ, hàng tiêu dùng
cá nhân sụt giảm mạnh do áp lực chi tiêu nhu cầu thiết yếu của gia đình trong bối cảnh lạm phát cao với mối bận tâm chính là giá lương thực, thực phẩm, điện, nước, gas, xăng dầu, Còn theo kết quả khảo sát của Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen, 61% người tiêu dùng Việt Nam cho rằng năm 2011 không phải là thời điểm thích hợp để mua sắm Với tỉ lệ này, Việt Nam trở thành quốc gia có phản ứng mạnh nhất của người tiêu dùng trong khu vực trướcnhững bất ổn của kinh tế vĩ mô Lo ngại lớn nhất của phần lớn người dân là triển vọng kinh tế
và cơ hội nghề nghiệp
Lạm phát cao và bất ổn kinh tế vĩ mô khiến chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam sụtgiảm mạnh từ mức 90,3 điểm cho 6 tháng đầu năm 2011 xuống còn 77,1 điểm cho 6 tháng cuối năm 2011 Mặc dù chỉ số niềm tin tiêu dùng của Việt Nam vẫn cao hơn mức bình quân của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương song sự giảm sút niềm tin vào ổn định kinh tế vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, việc làm, tỷ giá hối đoái, lạm phát, ) khiến đại đa số người dân dành nhiều chi tiêu hơn cho các nhu cầu thiết yếu (thực phẩm, đồ uống, thuốc chữa bệnh, ), chấp nhận hy sinh những mặt hàng thứ yếu (mỹ phẩm, hàng xa xỉ, ) và giảm mạnh các khoản đầu
tư vào các lĩnh vực có rủi ro cao như chứng khoán, BĐS,…