Vì vậy, tác giả đã tiến hành thu thập mẫu số liệu từ 27 ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2017 để tiến hành nghiên cứu về đề tài tính thanh khoản của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
- -
THANH TRÚC KHÂM UỐN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
- -
THANH TRÚC KHÂM UỐN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính-Ngân hàng
Mã số : 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
PGS.TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
TP.Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam kết rằng bài luận văn này: “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam” là bài nghiên cứu chính của riêng cá nhân tôi
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào cửa người khác được sử dụng trong bài luận văn này mà không trích dẫn Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam kết rằng toàn bộ nội dung của bài luận văn chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 2018
Thanh Trúc Khâm Uốn
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu 2
1.4 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN 4
2.1 Tổng quan về khả năng thanh khoản 4
2.1.1 Khái niệm thanh khoản 4
2.1.2 Phân loại rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro 4
2.1.3 Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản 5
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về khả năng thanh khoản 7
2.2.1 Các nghiên cứu quốc tế về khả năng thanh khoản 7
2.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về khả năng thanh khoản 14
TÓM TẮT CHƯƠNG II 16
CHƯƠNG III: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 17
3.2 Mô hình nghiên cứu 19
3.3 Mô tả biến được sử dụng trong mô hình 20
3.4 Trình tự thực hiện chạy mô hình nghiên cứu thực nghiệm 21
Trang 5TÓM TẮT CHƯƠNG III 22
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 23
4.2 Bảng thống kê mô tả 23
4.3 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu 24
4.4 Kiểm định các khuyết tật của các mô hình hồi quy 26
4.5 Phân tích kết quả các mô hình nghiên cứu thực nghiệm 29
TÓM TẮT CHƯƠNG IV 34
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU 35
5.1 Kết luận của bài nghiên cứu 35
5.2 Những đề xuất cho các ngân hàng tại Việt Nam 36
5.2 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 37
5.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH 27 NHTM TẠI VIỆT NAM
Trang 62 CAP Tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản
3 CEA Tỷ lệ chi phí hoạt đông so với tổng tài sản
4 CFC Tỷ lệ chi phí tài chính so với tổng tài sản
5 FEM Mô hình tác động cố định
6 GMM Mô hình hồi quy Moment tổng quát
7 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
8 NHNN Ngân hàng nhà nước
9 NHTM Ngân hàng thương mại
10 REM Mô hình tác động ngẫu nhiên
11 ROE Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu
12 ROA Tỷ suất sinh lợi của tài sản
13 SIZE Quy mô ngân hàng
14 TDEPOSIT Tỷ lệ tiền gửi so với tổng tài sản
15 TINF Tỷ lệ lạm phát
16 TLA Tỷ lệ cho vay so với tổng tài sản
17 TPIB Tổng sản phẩm quốc nội
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản 15
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 23
Bảng 4.6 Kết quả kiểm định phương sai thay đổi 28 Bảng 4.7 Kết quả kiểm định sự tự tương quan 29 Bảng 4.8 Kết quả các mô hình nghiên cứu OLS, REM và GMM 30
Trang 8TÓM TẮT
Khả năng thanh khoản của ngân hàng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc đánh giá sức khoẻ của các ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam Một ngân hàng có sức khoẻ tốt thì khả năng thanh khoản của ngân hàng đó sẽ cao và ngược lại
Do đó, tính thanh khoản của ngân hàng là một biến quan trọng đối với từng ngân hàng nói riêng và đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung Đây chính là lý do việc nghiên cứu các yếu tố quyết định khả năng thanh khoản của ngân hàng luôn là một đề tài thú vị
Vì vậy, tác giả đã tiến hành thu thập mẫu số liệu từ 27 ngân hàng đang hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2017 để tiến hành nghiên cứu
về đề tài tính thanh khoản của các ngân hàng Với việc sử dụng phương pháp hồi quy GMM, tác giả thấy được rằng các biến vĩ mô của nền kinh tế như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và các biến nội tại của ngân hàng như quy mô của ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tổng khoản cho vay trên tổng tài sản… đều có tác động đáng kể đến tính thanh khoản của ngân hàng (được đại diện bởi biến tổng tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản và tổng cho vay trên tổng tiền gửi)
Trang 9CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề
Thanh khoản là yếu tố quan trọng đối với hoạt động của hệ thống ngân hàng Năm 2018, kinh tế Việt Nam tiếp tục có những yếu tố thuận lợi nhất định, như: xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá lạc quan, kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định; kết quả tăng trưởng cao trong năm 2017 sẽ phát huy hiệu quả, kích cầu tiêu dùng Do vậy, hoạt động của các ngân hàng có thể sẽ thuận lợi hơn, từ đó tính thanh khoản cũng sẽ tiếp tục được cải thiện Thanh khoản của hệ thống tương đối
ổn định Tỷ lệ tín dụng trên huy động bình quân của hệ thống là khoảng 87,3% (năm 2016 là 85,6%)
Quản lý tốt rủi ro thanh khoản sẽ giúp hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn tránh được nhưng rủi ro trong quá trình hoạt động Rủi ro thanh khoản không chỉ ảnh hưởng ngân hàng đơn lẻ mà còn ảnh hưởng cả hệ thống ngân hàng nói riêng
và nên kinh tế nói chung
Các ngân hàng trên toàn cầu phải đối mặt với các vấn đề với cuộc khủng hoảng thanh khoản do quản lý thanh khoản kém Vì tất cả giao dịch hoặc cam kết đều có ý nghĩa đối với tính thanh khoản của ngân hàng, việc quản lý rủi ro thanh khoản là điều quan trọng Rủi ro thanh khoản đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng nhất trong khuôn khổ quản lý rủi ro trong toàn ngân hàng Khung thanh khoản của ngân hàng nên duy trì tính thanh khoản đủ để chịu được tất cả các điều kiện bất lợi
sẽ phải đối mặt Đánh giá liên tục khung quản lý rủi ro thanh khoản là một hành động giám sát quan trọng sẽ đảm bảo hoạt động đúng đắn của ngân hàng
Nhiều ngân hàng đã không tính đến một số nguyên tắc cơ bản về quản lý rủi ro thanh khoản khi thanh khoản dồi dào Nhiều ngân hàng không có một khung thích hợp để tính toán các rủi ro thanh khoản do các sản phẩm và ngành nghề kinh doanh gây ra, và do đó các ưu đãi ở cấp độ kinh doanh không phù hợp với khả năng chịu rủi ro chung của ngân hàng Nhiều ngân hàng đã không xem xét số lượng thanh
Trang 10khoản mà ngân hàng có thể cần để đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc không theo hợp đồng
Xuất phát từ vấn đề trên tác giả chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả
năng thanh khoản của ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2017” Bài nghiên cứu đã sử dụng mẫu của 27 ngân hàng thương mại tại Việt Nam
trong giai đoạn 2007-2017, ước tính hai biện pháp thanh khoản tài sản thanh khoản/tổng tài sản, tổng cho vay/tổng tiền gửi nhằm kiểm định các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của NHTM tại Việt Nam Thông qua phương pháp dữ liệu dạng bảng tác giả thấy rằng tỷ số vốn/tổng tài sản, chi phí hoạt động/tổng tài sản, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát có tác động đáng kể đến thanh khoản của ngân hàng trong khi quy mô , tổng số tiền vay/tổng tài sản, chi phí tài chính/tổng tín dụng, tổng tiền gửi/tổng tài sản không có tác động đáng kể đến thanh khoản của ngân hàng
Mục tiêu nghiên cứu
Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017 là gì ?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu
Bài nghiên cứu đươc tác giả thực hiện dựa theo số liệu báo cáo tài chính của 27 ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam (không bao gồm ngân hàng 100% vốn nhà nước, ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam, ngân hàng liên doanh nước ngoài), được thực hiện trong giai đoạn năm 2007 – 2017
Dữ liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu nghiên cứu được tác giả thu thập từ các báo cáo tài chính hàng năm của các ngân hàng thương mại cổ phần thông qua 2 nguồn dữ liệu là
Trang 11Bankscope và Obis bank focus Bên cạnh đó tác giả cũng thu thập dữ liệu từ Website của ngân hàng thế giới (Workbank), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),
Mô hình nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu dạng bảng và tác giả sử dụng mô hình hồi quy GMM để thực hiện bài nghiên cứu thực nghiệm của mình Bên cạnh đó tác giả cũng
sử dụng các mô hình phụ như mô hình bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) để tiến hành phân tích,
so sánh nhằm cho ra những kết quả thực nghiệm có ý nghĩa nghiên cứu
1.4 Kết cấu của luận văn
Bài luận văn có 5 chương, bao gồm:
Chương I: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương II: Tổng quan về thanh khoản và những nghiên cứu thực nghiệm về khả năng thanh khoản
Chương III: Dữ liệu nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu
Chương IV: Kết quả nghiên cứu
Chương V: Kết luận và hạn chế của bài nghiên cứu
Trang 12CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ KHẢ NĂNG THANH
KHOẢN
2.1 Tổng quan về khả năng thanh khoản
2.1.1 Khái niệm thanh khoản
Theo Governor Kevin Warsh (2007) khái niệm thanh khoản truyền thống liên quan đến giao dịch: Thanh khoản của tài sản được xác định bởi khả năng chuyển đổi thành tài sản khác mà không bị mất giá trị Một số tài sản, chẳng hạn như “tiền” được sử dụng để trao đổi hàng hóa và dịch vụ mà không làm giảm giá trị, và do đó
có tính thanh khoản cao “Tính thanh khoản" theo nghĩa "thanh khoản giao dịch" phản ánh khả năng giao dịch nhanh chóng mà không ảnh hưởng đến giá cả Thanh khoản đạt được tối ưu khi vô số người mua và người bán sẵn sàng và sẵn sàng giao dịch Giao dịch được tăng cường bởi các nhà làm thị trường và các nhà đầu cơ Theo Ủy ban Basel, "mục tiêu của tỷ lệ bảo hiểm thanh khoản ( LRC) là thúc đẩy khả năng phục hồi ngắn hạn của hồ sơ rủi ro thanh khoản của các ngân hàng Điều này đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ lượng tài sản thanh khoản cao không bị cản trở"
Theo Governor Jeremy C Stein (2013) tài sản có khả năng thanh khoản cao (HQLA) có thể được chuyển đổi dễ dàng và ngay lập tức trong thị trường tư nhân thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của họ trong một khoản thời gian là
30 ngày
2.1.2 Phân loại rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro
Phân loại rủi ro
Rủi ro thanh khoản là một trong những nội dung trọng tâm và được định nghĩa tại Điểm C Khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2017/TT- NHNN Cụ thể như sau:
Trang 13– Rủi ro thanh khoản là rủi ro do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa
vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó
– Rủi ro hoạt động là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ
hoặc có sai sót, do yếu tố con người, do các lỗi, sự cố của hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài làm tổn thất về tài chính, tác động tiêu cực phi tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (bao gồm cả rủi ro pháp lý) Rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược;
– Rủi ro danh tiếng là rủi ro do khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc
công chúng có phản ứng tiêu cực về uy tín của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
– Rủi ro chiến lược là rủi ro do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài có hoặc không có chiến lược, chính sách ứng phó kịp thời trước các thay đổi môi trường kinh doanh làm giảm khả năng đạt được chiến lược kinh doanh, mục tiêu lợi nhuận của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
2.1.3 Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản
Tỷ lệ dự trữ thanh khoản được xác định theo công thức sau:
Tỷ lệ dự trữ thanh
khoản (%) =
Tài sản có tính thanh Khoản cao
x 100 Tổng Nợ phải trả
Trong đó:
– Tài sản có tính thanh khoản cao được đề cập mục phân loại tài sản;
Trang 14– Tổng Nợ phải trả là Khoản Mục Tổng Nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán trừ đi các Khoản vay Ngân hàng Nhà nước (bao gồm bán có kỳ hạn giấy tờ
có giá qua nghiệp vụ thị trường mở; chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá, vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng) và Khoản vay các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác dưới hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch của Ngân hàng Nhà nước
Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày được xác định theo công thức sau:
theo
Trong đó:
– Tài sản có tính thanh khoản cao được đề cập mục phân loại tài sản;
– Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo là chênh lệch giữa dòng tiền ra của
30 ngày liên tiếp kể từ ngày hôm sau và dòng tiền vào của 30 ngày liên tiếp
kể từ ngày hôm sau được quy định Thông tư này
Do lường bằng cung cầu thanh khoản
+ Cung về thanh khoản
Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm:
– Các khoản tiền gửi sẽ nhận được (S1)
– Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ (S2)
– Các khoản tín dụng sẽ thu về (S3)
– Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4)
Trang 15– Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5)
+ Cầu về thanh khoản
Trong lĩnh vực ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra nhu cầu về thanh khoản:
– Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1) – Đề nghị vay vốn của khách hàng (D2) – Thanh toán các khoản phải trả khác (D3) – Chi phí cho quá trình tạo ra sản phẩm và dịch vụ ngân hàng (D4) – Thanh toán cổ tức cho cổ đông (D5)
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về khả năng thanh khoản
2.2.1 Các nghiên cứu quốc tế về khả năng thanh khoản
Theo Aikaeli (2006) cho biết các yếu tố quyết định dư thừa thanh khoản ngân hàng Tác giả lưu ý rằng rủi ro tín dụng, mức độ tài trợ thích hợp, ưu tiên tiền mặt,
sự biến động của tiền gửi là yếu tố quyết định cơ bản của thanh khoản dư thừa.Những phát hiện cho thấy rằng chi phí cao của các quỹ, rủi ro tín dụng, biến động của tiền mặt của chủ sở hữu tiền gửi, và tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến thanh khoản dư thừa trong các ngân hàng thương mại ở Tanzania Các kết quả và kết luận thực nghiệm chính có ý nghĩa chính sách quan trọng đối với sự ổn định giá cả, giảm thiểu rủi ro, giám sát thích hợp và quản lý thanh khoản tối ưu của các ngân hàng thương mại
Vodova (2011) cho thấy rằng các biến số kinh tế vĩ mô và ngân hàng cụ thể xác định đáng kể thanh khoản của ngân hàng Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các ngân hàng đã bắt đầu kiểm tra các vấn đề thanh khoản và tầm quan trọng của nó đối với hiệu suất tổng thể của ngành ngân hàng và thị trường tài chính Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa tính thanh khoản của ngân hàng và độ an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu và lãi suất cho vay và giao dịch liên ngân hàng Nghiên cứu đã tìm thấy ảnh hưởng tiêu cực của tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh doanh và khủng hoảng tài
Trang 16chính đối với thanh khoản Theo những phát hiện của chúng tôi, mối quan hệ không
rõ ràng giữa quy mô ngân hàng và thanh khoản của ngân hàng
Theo Rauch và cộng sự (2010) bài nghiên cứu đo lường khả năng thanh khoản của các ngân hàng tại Đức trong giai đoạn 1997-2006 Tác giả thấy rằng quy mô của ngân hàng, lợi nhuận và lãi suất của chính sách tiền tệ có liên quan ngược chiều với thanh khoản của ngân hàng, trong khi giá trị thanh khoản chậm có liên quan cùng chiều với thanh khoản ngân hàng Bài nghiên cứu phân biệt giữa hai nhóm yếu tố quyết định thanh khoản tiềm năng khác nhau: các yếu tố kinh tế vĩ mô, như chính sách tiền tệ hoặc các chỉ số sức mạnh kinh tế, cũng như các yếu tố đặc trưng của ngân hàng, chẳng hạn như quy mô hoặc ngành nghề kinh doanh Ngoài ra, chúng tôi cũng tính đến những phát triển pháp lý gần đây nhất trong lĩnh vực ngân hàng Đức bằng cách đo lường tác động của việc xóa bỏ các khoản bảo lãnh của nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng công Có thể thấy rằng việc tạo ra thanh khoản dường như phụ thuộc rất nhiều vào chính sách thắt chặt tiền tệ: việc thắt chặt chính sách tiền tệ làm giảm thanh khoản được tạo ra Bài nghiên cứu không tìm thấy bất
kỳ yếu tố cụ thể của ngân hàng, chẳng hạn như hiệu suất tài chính hoặc quy mô, để
có bất kỳ ảnh hưởng nào đến việc tạo ra thanh khoản
Mặt khác, Saxegaard (2006) đã nghiên cứu mô hình thanh khoản dư thừa ở các quốc gia châu Phi của sub-sahrienne sử dụng SVAR (cấu trúc của VaR), kết quả này cho thấy thanh khoản dư thừa thay đổi chính sách tiền tệ truyền dẫn để cơ quan tiền tệ không thể kiểm soát nhu cầu về tiền tệ
Choon et al (2013) đã nghiên cứu các yếu tố quyết định tính thanh khoản của 15 ngân hàng thương mại tại Malaysia trong giai đoạn 2003-2012 Tác giả sử dụng các yếu tố cụ thể (quy mô ngân hàng, độ an toàn vốn, lợi nhuận, tín dụng), các yếu tố kinh tế vĩ mô (GDP, lãi suất liên ngân hàng, khủng hoảng tài chính) Tác giả sử dụng dữ liệu (mô hình bảng cố định với dữ liệu hàng năm) Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng tất cả các yếu tố bao gồm đều có ý nghĩa ngoại trừ lãi suất liên ngân hàng Nghiên cứu này kết luận các kết quả dựa trên dữ liệu bảng điều khiển, mô hình hiệu ứng cố định sử dụng dữ liệu hàng năm Các phát hiện thực
Trang 17nghiệm nói rằng tất cả các yếu tố bao gồm là đáng kể ngoại trừ lãi suất liên ngân hàng Các yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến thanh khoản của ngân hàng là các khoản vay, lợi nhuận và tổng sản phẩm quốc nội Mặt khác, các yếu tố mang lại tác động nghịch chiều đối với thanh khoản của ngân hàng là quy mô ngân hàng, khủng hoảng tài chính và lsuất liên ngân hàng nhưng lại không đáng kể
Hovarth et al (2012) đã nghiên cứu một mẫu ngân hàng Séc từ năm 2000 đến năm 2010 Họ quan sát thấy một mối quan hệ tiêu cực giữa việc tạo ra thanh khoản
và vốn ngân hàng Điều này cho thấy Basel III làm giảm khả năng thanh khoản, nhưng việc tạo ra tính thanh khoản cao có thể làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Nghiên cứu thực hiện các thử nghiệm trong khung ước tính bảng điều khiển GMM động trên một bộ dữ liệu đầy đủ của các ngân hàng Séc từ năm 2000 đến năm 2010 Do khủng hoàng tài chính thì việc mở rộng thanh khoản mạnh mẽ trong suốt giai đoạn trên bị chậm lại và chủ yếu bởi các ngân hàng lớn Những phát hiện này ủng hộ quan điểm rằng cải cách Basel III có thể làm giảm sự sáng tạo thanh khoản, nhưng việc tạo ra thanh khoản lớn hơn có thể có tác động bất lợi bằng cách giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
Theo Berger và Bouwman (2009) đã đưa ra 2 giả định liên quan đến động lực của vốn ngân hàng để tạo ra tính thanh khoản Tác giả xây dựng bốn biện pháp và
áp dụng chúng vào dữ liệu trên hầu hết các ngân hàng Hoa Kỳ từ năm 1993 đến năm 2003 Tác giả thấy rằng thanh khoản ngân hàng đã tăng lên hàng năm và vượt quá 2.8 nghìn tỷ đô la trong năm 2003 Các ngân hàng lớn, các ngân hàng thành viên đa ngân hàng, ngân hàng bán lẻ tạo ra tính thanh khoản cao nhất Thanh khoản ngân hàng có tương quan thuận với giá trị ngân hàng Tác giả thấy rằng có mối quan hệ giữa vốn và thanh khoản, mối quan hệ tích cực đối với các ngân hàng lớn
và tiêu cực đối với các ngân hàng nhỏ
Mặt khác, Lartey et al (2013) đã cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết ở Ghana Bảy trong
số chín ngân hàng được liệt kê đã tham gia vào nghiên cứu Phân tích tài liệu là quy trình nghiên cứu chính được áp dụng để thu thập dữ liệu thứ cấp cho nghiên cứu
Trang 18Các báo cáo tài chính của bảy ngân hàng niêm yết đã được nghiên cứu và tính thanh khoản và tỷ suất sinh lời có liên quan được tính toán Tỷ lệ thanh khoản chính đã bị suy giảm trên tỷ suất sinh lời Tỷ lệ thanh khoản đã được tìm thấy rằng trong giai đoạn 2005-2010, cả thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết đều giảm Một lần nữa, yỷ lệ thanh khoản cũng đã được tìm thấy rằng có một mối quan
hệ cùng chiều giữa thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng được liệt kê ở Ghana
Valla và SaerEscorbia (2006) đã nghiên cứu các biện pháp thanh khoản cho các ngân hàng ở Anh Tác giả thấy rằng lợi nhuận, tăng trưởng tín dụng, GDP, chính sách tiền tệ, lãi suất có tác động nghịch chiều đến thanh khoản của ngân hàng Theo Gatev (2007) rủi ro thanh khoản trong ngành ngân hàng là do tiền gửi giao dịch và tiềm năng của ngân hàng để đáp ứng trong giai đoạn khủng hoảng Tác giả cho thấy rằng các khoản tiền gửi giao dịch giúp các ngân hàng hạn chế rủi ro thanh khoản từ các cam kết cho vay Sự biến động của hàng tồn kho ngân hàng tăng lên với các cam kết không sử dụng, nhưng chỉ cho các ngân hàng có mức tiền gửi giao dịch thấp Việc cho vay tiền gửi này trở nên mạnh mẽ hơn trong thời kỳ thanh khoản chặt chẽ, khi các nhà đầu tư lo lắng chuyển tiền vào ngân hàng
Theo Ionica (2012) cuộc khủng hoảng toàn cầu đã chứng minh rằng sự thiếu thanh khoản của ngân hàng là nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro hoạt động ngân hàng Nhiều ngân hàng có gặp khó khăn trong việc quản lý các quỹ do sự hiểu lầm
về rủi ro thanh khoản Kết quả phản ánh cả hai yếu tố quyết định chung và khác nhau đối với hai tỷ lệ thanh khoản được phân tích và phù hợp với các tài liệu trước đây về chủ đề này Những năm trước khủng hoảng được quan sát riêng biệt với giai đoạn khủng hoảng (2008- 2010) Một chỉ số quan trọng cho sự ổn định của ngân hàng, Z-score, có ảnh hưởng đáng kể đến thanh khoản ngân hàng trong những năm khủng hoảng
Theo Aspachs (2005) nghiên cứu này cung cấp một phân tích toàn diện đầu tiên
về các yếu tố quyết định chính sách thanh khoản của các ngân hàng Anh Tác giả nghiên cứu cả yếu tố riêng biệt và yếu tố quyết định vĩ mô của thanh khoản của
Trang 19ngân hàng Chúng tôi nhận thấy rằng sự hỗ trợ tiềm năng từ ngân hàng trung ương càng lớn trong trường hợp khủng hoảng thanh khoản thì mức độ thanh khoản thấp hơn mà các ngân hàng nắm giữ Một phát hiện thứ hai liên quan đến thanh khoản thay đổi theo chu kỳ kinh tế: các ngân hàng Anh dường như theo đuổi chính sách thanh khoản theo chu kỳ, với thanh khoản thấp hơn trong xu hướng tăng
Theo Olokoyo (2011) tỷ lệ thanh khoản sẽ được tính bằng tổng số tiền và số dư của ngân hàng trung ương, số dư và tiền gửi của ngân hàng và các tổ chức ngân hàng và tài sản tài chính chia cho tổng tài sản Tỷ lệ thanh khoản đối với tổng tài sản là khả năng thanh khoản do ngân hàng nắm giữ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quy mô cho vay của ngân hàng, tỷ lệ thanh khoản cao làm giảm tỷ lệ cho vay Dự kiến sẽ có tác động tiêu cực của biến số này đối với tỷ trọng các cơ sở tín dụng
Theo Chagwiza (2014) ALA mô tả khả năng hấp thụ các cú sốc thanh khoản của ngân hàng Về mặt lý thuyết, tỷ lệ thanh khoản cao hơn cho thấy rằng ngân hàng đang ở vị trí tốt hơn để đáp ứng rút tiền ngay lập tức
Sử dụng ROA như biến phụ thuộc cũng cung cấp để thuyết phục để so sánh kết quả với những phát hiện khác ROA phản ánh khả năng của các ngân hàng để sử dụng các dữ liệu tài chính và tài nguyên bất động sản để tạo ra lợi nhuận (Khrawish, 2011; Ongore và Kusa, 2013)
Naceur (2003) và Alkassim (2005) ROA là tỷ lệ được tính bằng cách chia thu nhập ròng trên tổng tài sản ROA đã được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu để
đo lường khả năng sinh lời của các ngân hàng ROA đo lường lợi nhuận kiếm được trên mỗi đồng tài sản và phản ánh mức độ quản lý ngân hàng sử dụng tài nguyên đầu tư thực sự của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận
Theo Fraker (2006) ROE đo lường tỷ lệ lợi tức trên sở hữu (cổ phần của cổ đông) của các cổ đông phổ thông ROE đo lường hiệu quả của một công ty trong việc tạo ra lợi nhuận từ mọi đơn vị vốn cổ phần (còn được gọi là tài sản ròng hoặc tài sản trừ đi nợ) ROE cho thấy ngân hàng sử dụng các quỹ đầu tư để tạo ra thu nhập tăng trưởng tốt như thế nào ROEs từ 15% đến 20% được coi là mong muốn
Trang 20Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) là tỷ lệ thu nhập ròng trên tổng vốn chủ
sở hữu
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự thay đổi về vốn có tác động đáng kể đến khối lượng tín dụng do các ngân hàng cấp vì các ngân hàng có vốn cao có khả năng chịu lỗ hơn đang nổi lên ở thủ đô mà không làm giảm giá trị của tài sản Ngược lại, các ngân hàng theo đuổi để duy trì một mức liên tục cho tỷ lệ vốn cho các tài sản có thể khiến họ quản lý tài sản của họ hiệu quả hơn, và do đó làm giảm các tổn thất do việc cấp tín dụng; điều này có thể làm giảm khối lượng tín dụng do Ngân hàng cấp (Olokoyo, 2011) Biến này sẽ được tính bằng cách chia số vốn trong một năm nhất định trên tổng tài sản của ngân hàng trong cùng một năm Dự kiến biến này có tác động tích cực đến quy mô của các cơ sở tín dụng do các ngân hàng cấp bởi vì việc tăng vốn làm cho ngân hàng có thể chịu được mức thua lỗ lớn hơn từ hoạt động cho vay
Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản được coi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khối lượng tín dụng được cấp bởi vì tăng tiền gửi trong ngân hàng cung cấp nhiều tiền hơn có thể cho mượn; điều này đã được xác nhận bởi Imran và Nishatm (2013) cho thấy rằng các khoản tiền gửi cao có tác động tích cực đến tốc
độ tăng trưởng tín dụng được cung cấp cho khu vực tư nhân Olokoyo (2011) chỉ ra rằng khối lượng tiền gửi tại các ngân hàng có tác động đáng kể đến khối lượng cho vay của ngân hàng Biến này sẽ được đo lường bằng cách chia tổng số tiền gửi của ngân hàng trong một năm nhất định cho tổng tài sản trong năm đó Dự kiến hiệu ứng của biến số này là tích cực trên tỷ trọng các cơ sở tín dụng do các ngân hàng cấp
Một số nghiên cứu điều tra các yếu tố quyết định cho vay ngân hàng sử dụng kích thước của ngân hàng như một biến độc lập vì tầm quan trọng của tác động của
nó đối với khối lượng tín dụng được cấp Chernykh và Theodossiou (2011) chỉ ra rằng các ngân hàng lớn thường đa dạng hơn và ngân hàng có nguồn vốn lớn và khả năng tiếp cận nhiều hơn cho khách hàng vay từ các công ty lớn với số dư thẻ tín dụng cao, ngoài ra ngân hàng còn có đủ nguồn lực để phát triển hệ thống tiên tiến
Trang 21để quản lý và đánh giá rủi ro tín dụng Điều này làm cho các ngân hàng lớn nhất có thể cung cấp mức tín dụng cao hơn kích thước của ngân hàng sẽ được đo lường thông qua lôgarit tự nhiên có kích thước tài sản của ngân hàng trong mỗi năm của giai đoạn nghiên cứu Dự kiến biến này có tác động tích cực lên biến phụ thuộc SIZE được sử dụng để nắm bắt thực tế rằng các ngân hàng lớn hơn tốt hơn các ngân hàng nhỏ hơn trong việc khai thác các nền kinh tế có quy mô trong các giao dịch với hiệu quả đơn giản là ngân hàng sẽ có xu hướng tận hưởng mức lợi nhuận cao hơn Do đó, một mối quan hệ tích cực được mong đợi giữa kích thước và lợi nhuận Molyneux và Thornton (1992), Bikker và Hu (2002) và Goddard et al (2004) tìm thấy kích thước có liên quan tích cực đến lợi nhuận Kích thước của ngân hàng cũng được bao gồm như là một biến độc lập để giải thích cho các nền kinh tế liên quan đến kích thước và sự không cân xứng của quy mô Trong hầu hết các tài liệu tài chính, tổng tài sản của các ngân hàng được sử dụng như một proxy cho kích thước ngân hàng
Một số nghiên cứu như Sharma và Gounder (2012) đã chỉ ra rằng tỷ lệ lạm phát
có tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng tín dụng vì sự tăng trưởng về khối lượng tín dụng có thể là do lãi suất cao lạm phát chứ không phải vì sự gia tăng giá trị thực của các cơ sở được cấp Mặt khác, tỷ lệ lạm phát cao thường dẫn đến sự gia tăng lãi suất danh nghĩa cho các khoản vay, điều này gây ra sự sụt giảm nhu cầu vay vốn Nghiên cứu này sẽ sử dụng tỷ lệ thay đổi hàng năm trong chỉ số giá tiêu dùng làm thước đo mức độ lạm phát ở Việt Nam Dự kiến biến này có tác động tiêu cực đến tỷ trọng của các cơ sở tín dụng do các ngân hàng cấp
Tăng trưởng kinh tế là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc cho vay ngân hàng bởi vì tốc độ tăng trưởng cao phản ánh tốc độ cao của hoạt động kinh tế trong nước và sự gia tăng nhu cầu tài trợ Imran và Nishatm (2013) nhận thấy rằng tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến tín dụng ngân hàng Tăng trưởng kinh tế sẽ được đo bằng tỷ lệ thay đổi hàng năm trong GDP theo giá không đổi Dự kiến biến này có tác động tích cực đến tỷ trọng các cơ sở tín dụng
Trang 222.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về khả năng thanh khoản
Tô Ngọc Hưng và các cộng sự (2010) trong đề tài “Tăng cường năng lực quản lý rủi ro thanh khoản tại NHTM Việt Nam” đã đề cập các vấn đề lý luận về rủi ro thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản ở NHTM, trên cơ sở đó, đã phân tích tương đối toàn diện về thực trạng quản lý rủi ro thanh khoản trong hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn trước 2007 Từ đó, đề tài đã đề xuất các khuôn khổ, mô hình, công cụ, quy trình quản lý rủi ro thanh khoản ở NHTM Việt Nam trong những năm tới Tuy vậy, đề tài này mới chỉ dừng lại ở những phân tích mức độ rủi ro thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản ở các NHTM, nhưng lại chưa tiến hành đánh giá các hoạt động quản lý rủi ro thanh khoản, đặc biệt đề tài này chưa chú ý đúng mức việc đánh giá mô hình tổ chức, quy trình quản lý và hiệu lực của công tác quản
lý rủi ro thanh khoản ở NHTM
Vũ Ngọc Duy và các cộng sự (2011) trong đề tài “Khủng hoảng tài chính – Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam” đã đề cập tương đối có hệ thống các vấn đề lý luận về khủng hoảng tài chính,trong đó, khủng hoảng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng cũng là một trong các nhân tố tác động đến khủng hoảng tài chính Sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2009 đến hệ thống tài chính Việt Nam cũng đã được công trình này phân tích và làm rõ, từ đó, đề xuất các giải pháp ứng phó nhằm bảo đảm sự an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam Tuy vậy, do đề tài nghiên cứu này có đối tượng và phạm vi nghiên cứu rộng, vấn đề quản trị RRTK trong hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng được đề cập song còn chung chung, nhiều vấn đề chưa được công trình này đề cập và làm rõ chẳng hạn: nội dung quản trị RRTK trong các NHTM, đánh giá quản trị RRTK
Nguyễn Đức Trung và các cộng sự (2014) trong đề tài NCKH “Khả năng và điều kiện áp dụng một số khuyến nghị chính sách từ Basel III trong giám sát hệ thống NHTM Việt Nam” đã đánh giá tình hình an toàn hoạt động của các NHTM Việt Nam trên cơ sở sử dụng mô hình ST đối với 10 ngân hàng hàng đầu trong hệ thống để chỉ ra được thực trạng RRTK trong hệ thống ngân hàng Việt Nam Từ đó,
Trang 23đề tài đề xuất lộ trình áp dụng Basel III để quản lý RRTK, gợi mở vấn đề sử dụng
mô hình ST trong đánh giá rủi ro ngân hàng
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản
Qua các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước tác giả tổng kết được một
số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản như sau:
Bảng 2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản
Nhân tố Mối tương quan với
thanh khoản Nghiên cứu thực nghiệm
Các yếu
tỗ nội tại
Tô Ngọc Hưng và các cộng sự (2010)
Nguyễn Đức Trung và cộng sự (2014)
Các yếu tố
vĩ mô
Vũ Ngọc Duy và các cộng sự (2011)
(Nguồn tác giả tự tổng hợp)
Trang 24TÓM TẮT CHƯƠNG II
Trong chương này, tác giả dẫn chứng một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước nhằm cho thấy sự quan trọng của tính thanh khoản và từ đó nhận diện một số nhân tố tác động đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng Từ những nghiên cứu trên tác giả nhận thấy các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản ngân hàng bao gồm các yếu tố nội tại như tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, thu nhập lãi cận biên, quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, chi phí tài chín và các yếu tố vĩ mô như lạm phát và tăng trưởng sản phẩm quốc nội Tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu từng nước, và từng thị trường khác nhau sẽ có những tác động khác nhau đến thanh khoản của thị trường đó Các tác động cùng chiều hay ngược chiều của các yếu tố trên sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến thanh khoản của ngân hàng
Trang 25CHƯƠNG III: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Các yếu tố quyết định khả năng thanh khoản của ngân hàng đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm và đã được tác giả giới thiệu trong chương 2 Trong số đó có nghiên cứu của Rafik, 2013; Vodova, 2011 và Mohamed Aymen Ben Moussa, 2015 sử dụng phương pháp hồi quy GMM để nghiên cứu vấn đề thanh khoản trong bối cảnh của nước cộng hoà Tunisia Từ bài nghiên cứu này tác giả muốn dùng làm cơ sở cho các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm của mình áp dụng tại Việt Nam
Bài nghiên cứu của tác giả sử dụng dữ liệu dạng bảng, nên tác giả tiến hành nghiên cứu thực nghiệm với các phương pháp hồi quy dành cho dữ liệu bảng Các
mô hình nghiên cứu phù hợp được tác giả sử dụng bao gồm: mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình hồi quy theo phương pháp tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy theo phương pháp tác động ngẫu nhiên (REM) Tuy nhiên, các mô hình hồi quy OLS, FEM và REM vẫn còn tồn tại các khuyết tật như hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, sự tự tương quan và các vấn đề liên quan đến nội sinh Các khuyết tật này sẽ làm cho kết quả của mô hình quy không còn chính xác và sẽ dẫn tới mô hình nghiên cứu không thể ứng dụng vào thực tế Để tránh các khuyết tật mà các mô hình hồi quy theo phương pháp OLS, FEM và REM không thể khắc phục được hoàn toàn, tác giả lựa chọn mô hình hồi quy Moment tổng quát (GMM) làm mô hình chính của bài nghiên cứu Mô hình hồi quy GMM không những khắc phục được các khuyết tật của mô hình hồi quy OLS, FEM và REM mà mô hình này còn giải quyết được các vấn đề liên quan đến hiện tượng nội sinh
Việc sử dụng nhiều mô hình nghiên cứu khác nhau sẽ giúp cho tác giả đánh giá được mức độ phù hợp cũng như tính chính xác của kết quả nghiên cứu Đồng thời cũng giúp cho tác giả thấy được những ưu và nhược điểm của mô hình này nhằm
Trang 26đưa ra lựa chọn đúng đắn cho các biến nghiên cứu mà tác giả đã lựa để đưa vào mô hình
Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu của tác giả được thực hiện dựa theo số liệu báo cáo tài chính hợp nhất cuối năm của 27 ngân hàng thương mại đang hoạt động tại Việt Nam bắt đầu
từ năm 2007 đến 2017 Các ngân hàng này bao gồm:
Ngân hàng TMCP An Bình, ngân hàng TMCP Á Châu, ngân hàng TMCP Đầu
tư và phát triển Việt Nam, ngân hàng TMCP Công Thương, ngân hàng TMCP Đông
Á, ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam, ngân hàng TMCP Ngoại Thương, ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng, ngân hàng TMCP Tiên Phong, ngân hàng TMCP Phương Đông, ngân hàng TMCP Kiên Long, ngân hàng TMCP Nam
Á, ngân hàng TMCP Sài Gòn, ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín, ngân hàng TMCP Việt Á, ngân hàng TMCP Hàng Hải, ngân hàng TMCP Quân Đội, ngân hàng TMCP Phát Triển TP.HCM, ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam, ngân hàng TMCP Kĩ Thương, ngân hàng TMCP Quốc Dân, ngân hàng TMCP Đông Nam Á, ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương, ngân hàng TMCP Xăng Dầu Petrolimex, ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội, ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt, ngân hàng TMCP Bản Việt
Trong số các ngân hàng tác giả chọn làm mẫu để nghiên cứu không bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần 100% vốn nhà nước, ngân hàng TMCP nước ngoài
có chi nhánh tại Việt Nam và ngân hàng liên doanh nước Bởi vì các ngân hàng 100% vốn nhà nước thì chính sách hoạt động không giống với ngân hàng thương mại cổ phần và không bị tác động bởi các ý kiến của cổ đông hiện hữu khi biểu quyết về các chính sách mới của ngân hàng Còn các ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam thì còn bị hạn chế rất nhiều về lĩnh vực hoạt động so với ngân hàng bản địa mặc dù NHNN đã nới rộng phạm vi hoạt động của các ngân hàng này
và bên cạnh đó, chính sách hoạt động của các ngân hàng này còn bị chi phối rất nhiều bởi các ngân hàng mẹ ở nước ngoài, do đó, vẫn còn tồn tại nhiều bất cập
Trang 27Riêng các ngân hàng liên doanh nước ngoài hiện tại số liệu hoạt động còn rất ít nên khó thu thập và vẫn có những bất cập giống như ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam
Từ những lý do đó, tác giả chỉ giới hạn mẫu nghiên cứu ở số lượng 27 ngân hàng và số liệu thu thập được từ các ngân hàng này tương đối đầy đủ và đáp ứng được điều kiện của mô hình nghiên cứu
Nguồn thu thập số liệu
Các số liệu nội tại của ngân hàng dùng trong bài nghiên cứu, được tác giả thu thập từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thông qua 2 nguồn chính là Bankscope
và Obis bank focus
Đối với các số liệu vĩ mô của bài nghiên cứu, tác giả thu thập chủ yếu từ các nguồn như: website của ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổng cục thống kê của Việt Nam và Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Chương tiếp theo của bài nghiên cứu, tác giả sẽ đi sâu hơn về phần mô hình nghiên cứu thực nghiệm và diễn giải một cách chi tiết hơn các biến nghiên cứu được sử dụng trong mô hình
3.2 Mô hình nghiên cứu
Bài nghiên cứu của tác giả dựa trên mô hình nghiên cứu thực nghiệm của tác giả Mohamed Aymen Ben Moussa, 2015 được thực hiện tại nước cộng hoà Tunisia Qua bài nghiên cứu này tác giả muốn áp dụng cho các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng này Các biến được tác giả lựa chọn đưa vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm bao gồm các yếu tố vi mô và các yếu tố vĩ mô Do đó, trong bài luận văn của mình tác giả sử dụng mô hình nghiên cứu như sau:
ALA i,t = b0 + b1ALA i,t-1 + b2ROAi,t + b3ROEi,t + b4NIMi,t + b5SIZEi,t + b6CAPi,t +
b7TLAi,t + b8CEAi,t + b9CFCi,t + b10TDEPOSITi,t + b11TINFi,t + b12TPIBi,t + ei,t
Trang 28Trong đó:
i: là đại diện cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam,
t: là thời gian nghiên cứu theo năm
t-1: là độ trễ của biến nghiên cứu
b i: là hệ số chặn
e: là phần dư của mô hình
3.3 Mô tả biến được sử dụng trong mô hình
Bảng 3.3 Mô tả các biến nghiên cứu
dấu Nguồn Biến phụ thuộc
Biến độc lập
SIZE Logarit tổng tài sản + BCTC NH
TDEPOSIT Tổng tiền gửi / Tổng tài sản + BCTC NH
TPIB Tỷ lệ tăng trưởng sản phẩm quốc nội - WorldBank
TINF Tỷ lệ lạm phát - IMF
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 293.4 Trình tự thực hiện chạy mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Sau khi đã tổng hợp đầy đủ các số liệu nghiên cứu và xác định được mô hình nghiên cứu phù hợp, tác giả tiến hành thực hiện hồi quy qua các bước như sau:
Bước 1, thực hiện thống kê lại các biến đã chọn để sử dụng trong mô hình
nghiên cứu bằng cách chạy bảng thống kê mô tả các biến nghiên cứu và tiến hành kiểm tra sự tự tương quan giữa các cặp biến trong mô hình nghiên cứu thực nghiệm bằng ma trận hệ số tương quan
Bước 2, tiến hành chạy các mô hình hồi quy với các phương pháp khác nhau
như: Pooled OLS, FEM, REM Sau khi đã chạy các mô hình hồi quy, tác giả tiến hành lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp nhất và thực hiện kiểm tra các khuyết tật của mô hình đã chọn cũng như đưa ra các biện pháp khắc phục cho từng mô hình
Bước 3, chạy mô hình hồi quy theo phương pháp GMM và so sánh kết quả thu
được từ các mô hình phù hợp đã chọn trước đó với kết quả của mô hình hồi quy theo phương pháp GMM để đưa ra kết luận về sự tác động của các biến nghiên cứu đến khả năng thanh khoản của ngân hàng
Trang 30TÓM TẮT CHƯƠNG III
Trong chương này, tác giả muốn đề cập đến cách tính toán các biến nghiên cứu Bên cạnh đó, việc đưa ra các nguồn thu thập số liệu đáng tin cậy như ngân hàng thế giới, quỹ tiền tệ quốc tế… đảm bảo các biến mà tác giả sử dụng trong mô hình nghiên cứu có tính chính xác cao
Việc lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp giúp cho kết quả thu được từ mô hình nghiên cứu có ý nghĩa về mặt thực tiễn và có thể áp dụng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Cuối cùng, tác giả cũng đưa ra trình tự thực hiện chạy mô hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm đảm bảo tính hệ thống và không để thiếu sót trong việc thực hiện kiểm định các khuyết tật của mô hình nghiên cứu đã chọn, nhằm đảm bảo tính chính xác của kết quả nghiên cứu
Trang 31CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Sau khi đã xác định được các biến nghiên cứu và công thức tính các biến dùng cho nghiên cứu thực nghiệm Tác giả tiến hành chạy mô hình nghiên cứu cho 27 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến
2017, ta thu được số lượng quan sát là 297 quan sát
Với số lượng quan sát này tác giả tiến hành thực hiện mô hình hồi quy với các
mô hình như OLS, FEM, REM và GMM Từ kết quả thu được từ các mô hình hồi quy, tác giả thực hiện so sánh các mô hình này và đưa ra kết luận về sự tác động của các độc lập đến các biến phụ thuộc nhằm xem xét sự tương quan giũa các biến nghiên cứu
4.2 Bảng thống kê mô tả
Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Tên biến Số quan sát Giá trị
trung bình
Độ lệch
ALA 292 21.563130 10.792920 1.91 57.46 ROA 290 0.9210892 0.8489150 -5.5117460 5.951845 ROE 290 9.1082610 8.2941010 -82.002130 29.15530 SIZE 292 17.942550 0.9206712 15.461690 20.06446 CAP 292 10.744460 6.1369960 0.5469745 46.24462 TLA 290 51.656150 14.277090 0.0580657 84.47663 CEA 288 1.5724480 0.5761645 0.1983958 5.196098 CFC 285 7.9919780 6.3545180 0.4237668 59.39852 TDEPOSIT 292 58.748760 18.236690 6.2076560 155.2422 TPIB 297 6.1063640 0.5993146 5.24 7.13 TINF 297 8.4490910 6.5194850 0.62 23.13
(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)
Trang 32297 = tổng số quan sát = 11 * 27
11 = số năm giữa (2007-2017)
27 = số lượng ngân hàng trong mẫu nghiên cứu
Từ bảng 4.1 ta thấy được tổng số quan sát tối đa là 297 quan sát ứng với 11 năm Trong đó có nhưng biến số quan sát không đủ 297 quan sát, điều này thể hiện không
có số liệu một số năm, nhưng con số đó không nhiều và không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả nghiên cứu Bên cạnh đó ta thấy giá trị thấp nhất của các biến bị âm (biến ROA, ROE) là do hoạt động kinh doanh một số ngân hàng trong một vài năm không có lời dẫn đễ lợi nhuận sau thuế bị âm , nên tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
bị âm
4.3 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu
Trang 34Cặp biến có hệ số tương quan lớn hơn 0.8 là tương quan mạnh , nằm trong 0.4 – 0.8 tương quan trung bình và nhỏ hơn 0.4 là tương quan yếu
Từ Bảng 4.2 tác giả thấy được chỉ có duy nhất một cặp biến ROA & ROE có độ tương quan trung ở mức trung bình nằm trong khoảng 0.4 - 0.8, còn các cặp biến còn lại có độ tương quan yếu Điều này cho thấy rằng các cặp biến trong mô hình nghiên cứu gần như không bị hiện tượng đa cộng tuyến và khi đưa vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm sẽ không làm ảnh hưởng đến kết qủa nghiên cứu Phần tiếp theo tác giả sẽ chạy mô hình hồi quy và kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến cho từng biến trong mô hình nghiên cứu
4.4 Kiểm định các khuyết tật của các mô hình hồi quy
Kiểm định đa cộng tuyến
Đầu tiên tác giả tiến hành chạy mô hình hồi quy OLS Sau khi có kết quả mô hình, tác giả tiến hành kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho mô hình Ở đây tác giả sử dụng phương pháp VIF Nếu hệ số VIF > 10 sẽ xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến
Bảng 4.4 Kiểm định đa cộng tuyến
(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)
Kết quả cho thấy hầu hết các biến trong mô hình đều cho kết quả VIF < 10 Với