Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại.Đến nay, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính không thể thiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường. Chính vì những vai trò quan trọng như vậy mà nghiên cứu phát triển thị trường chứng khoán luôn là những mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của các nhà kinh tế học. Để theo kịp sự phát triển của kinh tế, của thị trường thì yêu cầu đặt ra cấp thiết ở đây là nghiên cứu xu thế phát triển chung của thị trường để từ đó định ra các chính sách phát triển chung. Chính vì vậy, chủ đề nghiên cứu của nhóm chúng em hôm nay là :“ Phân tích xu thế phát triển của thị trường chứng khoán.
Trang 1TIỂU LUẬN: PHÂN TÍCH XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN GIAI ĐOẠN 2012-2016
Lý do chọn đề tài:
Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiệnđại.Đến nay, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có thị trường chứngkhoán Thị trường chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính không thểthiếu được trong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường
Thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng ở nhiều mặt của nền kinh tế:
Đối với chính phủ : TTCK cung cấp các phương tiện huy động vốn và
sử dụng vốn có hiệu quả Chính phủ huy động vốn bằng việc bán trái phiếu.Ngoài ra, còn là nơi để thực hiện các chính sách tiền tệ, thu hút nguồn vốnđầu tư trong và ngoài nước, khuyến khích việc cổ phần hóa các doanhnghiệp quốc doanh nhanh chóng
Đối với doanh nghiệp : là nơi huy động vốn bên cạnh các khoản vay
từ ngân hàng, giúp cho các doanh nghiệp đa dạng hóa các hình thức huyđộng vốn đầu tư Ngoài ra, thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giá trịcủa doanh nghiệp và cả nền kinh tế một cách tổng quan và chính xác nhấtthông qua chỉ số giá trên thị trường Từ đó tạo ra môi trường cạnh tranh lànhmạnh giữa các doanh nghiệp
Đối với nhà đầu tư :là nơi tìm kiếm các cơ hội đa dạng hóa và giảm
thiểu rủi ro của hoạt động đầu tư do thông tin được cung cấp chính xác vàkịp thời nhất
Chính vì những vai trò quan trọng như vậy mà nghiên cứu phát triển thị trườngchứng khoán luôn là những mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của các nhà kinh tế học
Để theo kịp sự phát triển của kinh tế, của thị trường thì yêu cầu đặt ra cấp thiết ởđây là nghiên cứu xu thế phát triển chung của thị trường để từ đó định ra các chính
Trang 2sách phát triển chung Chính vì vậy, chủ đề nghiên cứu của nhóm chúng em hômnay là :“ Phân tích xu thế phát triển của thị trường chứng khoán “
Lời mở đầu
Vào khoảng giữa thế kỷ 15 ở tại những thành phố trung tâm buôn bán củaphương tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê để thương lượng việcmua bán, trao đổi các loại hàng hoá như: nông sản, khoáng sản, ngoại tệ và giákhoán động sản … Điểm đặc biệt là trong những cuộc thương lượng này cácthương gia chỉ dùng lời nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ, giákhoán động sản hay bất cứ một loại giấy tờ nào Những cuộc thương lượng này
nhằm thống nhất với nhau các "Hợp đồng" mua bán, trao đổi thực hiện ngay, kể cả
những hợpđồng cho tương lai 3 tháng, 6 tháng hoặc một năm sau mới thực hiện.Những cuộc trao đổi này lúc đầu chỉ có một nhóm nhỏ, dần dần số người tănglên Đến cuối thế kỷ 15 "khu chợ riêng" này trở thành một "thị trường" và thời gianhọp chợ rút xuống hàng tuần và sau đó là hàng ngày Trong các phiên chợ này họthống nhất với nhau những quy ước cho các cuộc thương lượng.Dần dần nhữngquy ước đó được tu bổ hoàn chỉnh thành những quy tắc có giá trị bắt buộc đối vớinhững người tham gia.Từ đó thị trường chứng khoán bắt đầu hình thành
Phiên chợ đầu tiên năm 1453 tại đai Vanber của Bỉ sau đó được xuất hiện ở Anhnăm 1773, ở Đức 1778, ở Mỹ 1792, ở Thụy sĩ 1876, ở Nhật 1878, ở Pháp 1801, ở
Trang 3Hương Cảng 1946, ở Inđônêxia 1925, ở Hàn Quốc 1956, ở Thái Lan 1962, ởMalaysia và Philipin 1963.
Thị trường chứng khoán là yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường hiện đại.Đếnnay, hầu hết các quốc gia có nền kinh tế phát triển đều có thị trường chứng khoán.Thị trường chứng khoán đã trở thành một định chế tài chính không thể thiếu đượctrong đời sống kinh tế của những nước theo cơ chế thị trường
Quá trình hình thành và phát triển của các thị trường chứng khoán thế giới đãtrải qua những bước thăng trầm.Thời kỳ huy hoàng vào những năm 1975 - 1913cùng với sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế Cũng có lúc thị trường chứngkhoán rơi vào đêm đen như ngày thứ năm đen tối tức ngày 29/10/1929 rồi ngày thứhai đen tối năm 1987, vừa qua tháng 7/97 thị trường chứng khoán ở các nước Châu
Á sụt giá, mất lòng tin bắt đầu từ Thái Lan Đến nay thị trường chứng khoán cácnước đang phát triển mạnh mẽ về số lượng thị trường chứng khoán lên đến 160 sởgiao dịch, chất lượng hoạt động thị trường ngày càng đáp ứng cho số đông nhữngnhà đầu tư trong và ngoài nước, tiến tới một thị trường chứng khoán hội nhập khuvực và quốc tế
Hiện nay thị trường chứng khoán đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nướccông nghiệp hàng đầu Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp… Bên cạnh đó hơn 40 nước pháttriển đã thiết lập thị trường chứng khoán cũng đã hình thành ở các nước láng giềngViệt Nam như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philipin và Inđônêxia và Việt Namcũng đã có trung tâm giao dịch thị trường chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.(7/2000)
Trong sự phát triển mạnh mẽ như vậy, đến nay cơ bản thị trường chứng khoán
có 3 xu thế phát triển chính
Xu thế quốc tế hóa thị trường chứng khoán
Xu thế gia tăng các nhà đầu tư chuyên nghiệp
Sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán phái sinh
Trang 4I Xu thế quốc tế hóa thị trường chứng khoán
1 Khái niệm
Quốc tế hóa hay còn gọi là toàn cầu hóa hiểu một cách ngắn gọn, là quá trình
tăng lên không ngừng các trao đổi thương mại quốc tế, cùng với sự xuất hiện cáctập đoàn đa quốc gia, các tổ chức, khu vực tự do thương mại quốc tế Bên cạnh đó
là sự giao lưu trao đổi văn hóa giữa các nước, các khu vực.Toàn cầu hóa là quátrình "làm phẳng" thế giới, khiến cho khoảng cách địa lý không còn nhiều ý nghĩanữa
Quốc tế hóa dẫn đến sự tăng nhu cầu trao đổi của các nước, tăng cơ hội đầu tư.Nhưng nó cũng đe dọa sự bảo tồn bản sắc văn hóa của các quốc gia Một ví dụ củatoàn cầu hóa là sự xuất hiện ngày càng nhiều các tiệm ăn Fast food ở Việt Nam.Các sống của một số người Việt Nam cũng có xu hướng "Tây hóa"
2 Biểu hiện
a/ Sự liên kết thông tin giữa thị trường chứng khoán các nước
Quốc tế hóa là quá trình không thể đảo ngược được Nó phát triển do trình độphát triển nền kinh tế thế giới đã tiến lên mức cao Dù người ta cố tình chống lại
nó, thậm chí đã có nhiều cuộc biểu tình chống toàn cầu hóa, nhưng không thể ngăn
Trang 5thông tin luôn được cung cấp, cập nhật một cách đầy đủ nhất Chính vì thế khi mộtthị trường đặc biệt là thị trường lớn như : Mĩ, Nhật, EU có thông tin bất lợi gì,ảnh hưởng xấu ra sao thì gần như ngay lập tức ảnh hưởng trên quy mô toàn thếgiới Có thể kể ra 1 số dẫn chứng sau đây:
Cuộc Đại khủng hoảng là thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra
từ năm 1929 đến hết các năm 1930 và lấn sang đầu thập kỷ 1940, bắt đầusau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall vào 29 tháng 10 năm
1929 (còn được biết đến như Thứ Ba Đen tối) Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và
nhanh chóng lan rộng ra toàn Châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cảcác nước phát triển Thương mại quốc tế suy sụp rõ rệt, từ thu nhập cá nhân,thuế, lợi tức đều bị ảnh hưởng và suy thoái Xây dựng gần như bị tê liệt ởnhiều nước Từ thành thị đến nông thôn đều phải đối mặt với mất mùa, giảmtừ 40 đến 60 phần trăm.[1] Các lĩnh vực khai mỏ và khai thác gỗ bị ảnhhưởng lớn nhất Đại Suy thoái kết thúc vào các thời gian khác nhau tùy theo
từng nước Nó bị coi là "đêm trước" của Thế chiến thứ hai.
Khủng hoảng nợ châu Âu những năm gần đây từ năm 2010 kéo theo
sự suy thoái của cả nền kinh tế thế giới Các nền kinh tế trên thế giới đồngloạt bị ảnh hưởng Thị trường chứng khoán liên tiếp giảm điểm ( mức giảmkhoảng 2 – 3%, một số thị trường như Úc lên tới 4 – 5 %, cổ phiếu các sànliên tục tụt sâu tới mức kỉ lục – số liệu năm 2011 ) Trong năm 2012, khikhủng hoảng nợ công càng trở nên nghiêm trọng, nền kinh tế thế giới tiếptục cho nhiều dấu hiệu bi quan Mỹ tiếp tục phục hồi chậm chạp sau khủnghoảng, tốc độ tăng trưởng kinh tế cả thế giới sụt giảm…
Ngoài ra còn rất nhiều dẫn chứng khác : khủng hoảng tài chính Mỹ
2007 – 2009, suy thoái kinh tế cuối thập niên 2000 …
Ngoài sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nền kinh tế, các thị trường còn thể hiệnsự liên kết thông tin dưới nhiều hình thức khác mà tiêu biểu là sự liên thông giữacác thị trường chứng khoán trong các tổ chức kinh tế : EU, ASEAN,… với nhiều
Trang 6lợi thế, hiệu quả tích cực Bằng hình thức này, thông tin giữa các thị trường thôngsuốt, các công ti các nước khác nhau cùng niêm yết trên một thị trường chung Việt Nam cũng có 2 sở giao dịch chứng khoán là Sở Giao dịch Chứng khoán HàNội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM (HOSE) đang trong quá trìnhgia nhập, chuẩn bị lộ trình kết nối vào năm tới Sự liên thông sẽ mang lại nhiều cơhội cho cả doanh nghiệp và nhà đầu tư song cũng không phải không có thách thức.Khi thị trường chứng khoán ASEAN đã trở thành một sân chơi chung thì việc đầu
tư của các nhà đầu tư Việt Nam ra nước ngoài cũng như của các nhà đầu tư nướcngoài tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ trở nên dễ dàng vàthuận tiện hơn Khi đó, một sân chơi liên kết toàn bộ sẽ hình thành trong khu vựcASEAN, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư lựa chọn cổ phiếu tốt để mua Bên cạnh
đó, 3 thách thức lớn nhất của thị trường chứng khoán Việt nam khi tham gia kếtnối là: sự hiểu biết của công chúng đầu tư và doanh nghiệp; cơ chế kiểm soát đểgiao dịch xuyên biên giới không làm ảnh hưởng đến thị trường; cơ sở pháp lý đểcho việc tham gia và điều tra các giao dịch bất thường khi thực hiện giao dịchxuyên biên giới Chính vì vậy, cần phải tính toán kĩ càng khi tham gia hội nhập,liên thông
b/ Tính thanh khoản trong các giao dịch chứng khoán giữa các thị trường
Tính thanh khoản của chứng khoán là khái niệm thể hiện khả năng chuyển đổi
dễ dàng từ tiền sang chứng khoán và ngược lại
Một giá trị của thị trường tập trung là tạo nên tính thanh khoản cao, hỗ trợ nhàđầu tư giao dịch và chủ động trước các quyết định mua/bán.Tuy nhiên, có nhữngphiên giao dịch, cột dư mua trống ngay từ đầu phiên, chủ động bán giá sàn nhưngvẫn khó thành công Đó là điểm lo sợ nhất đối với nhà đầu tư, bởi nắm chứngkhoán trong tay, thấy lỗ qua từng ngày và khả năng thanh khoản ngày một thu hẹp.Điều này được gọi là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán
Trang 7Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của chứng khoán như : hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty, chính sách quản lý của Nhà nước, tâm línhà đầu tư, chỉ số giá tiêu dùng,
Việc liên thông các thị trường chứng khoán như đã nói ở trên cũng đóng vai tròtương đối quan trọng đối với tính thanh khoản của chứng khoán Theo mô hình kếtnối thị trường cổ phiếu đã thống nhất, khi các Sở giao dịch chứng khoán kết nối,giao dịch cổ phiếu xuyên biên giới sẽ được thực hiện dễ dàng, an toàn và hiệu quả.Khi đó, nhà đầu tư thực hiện đặt lệnh tại công ty chứng khoán của nước sở tại(không cần mở tài khoản giao dịch chứng khoán tại nước ngoài), Trung tâm thanhtoán bù trừ đảm nhiệm vai trò CCP (mô hình thanh toán, bù trừ đối tác trung tâm),rủi ro thanh toán và chuyển giao chứng khoán được loại bỏ Như vậy việc giaodịch giữa những loại cổ phiếu, chuyển thành tiền mặt cũng trở nên nhanh chóng,thuận tiên hơn rất nhiều
c/ Đầu tư chứng khoán nước ngoài ( Foreign Portfolio Investment – FPI )
FPI là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước muachứngkhoán của các công ty, các tổ chức phát hành ở một nước khác vớimột mức khốngchế nhất định để thu lợi nhuận nhưng không nắm quyềnkiểm soát trực tiếp đối vớicông ty hoặc tổ chức phát hành chứng khoán
Thu nhập, lợi nhuận trong hoạt đồng FPI khá ổn định và thấp hơnFDI, tuy vậynhà đầu tư vẫn chọn nó do độ tương quan quốc tế giữa cácchứng khoán là rất thấp
và chu kì kinh doanh giữa các quốc gia thườngkhông đồng bộ Đối với nước tiếpnhận đầu tư hình thức này có các ưu điểmsau: giúp cho thị trường chứng khoán,một công cụ tài chính hiện đại hiệnnay trên thế giới, sôi động và phát triển hơn, ít
sợ bị phụ thuộc vào mặt kinhtế vì các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ một tỉ lệ nhỏ
CK, chủ đầu tư khôngcó quyền kiểm soát doanh nghiệp nên sẽ không sợ bị nhàĐTNN cạnh tranhvà giành độc quyền với nền kinh tế trong nước Nhược điểm là
độ ổn địnhkhông cao do nhà đầu tư dễ dàng bán chứng khoán khi không muốn đầutưnữa
Trang 8Cùng với việc toàn cầu hóa, quốc tế hóa, xu thế đầu tư ra nước ngoài là tấtyếu.Hiện nay, hầu hết các nước, nhất là các phát triển đang cố gắng đẩy mạnh đầu
tư ra nước ngoài
Các số liệu của CEIC Data, một bộ phận của các thị trường mới nổiISI, cho thấy chi tiêu tài chính thương mại và cho vay nước ngoài của TrungQuốc trong năm 2010 đã đạt tới 102 tỷ USD, cao hơn so với mức 19 tỷ USDcủa năm 2008 Ngoài ra, theo số liệu của Bộ tài chính Mỹ, giá trị nắm cổphiếu Mỹ của quốc gia này đã lên tới con số 127 tỷ USD trong tháng 6/2010,cao hơn nhiều so với mức 3 tỷ USD của năm 2004 Đồng thời, với tỷ lệ dựtrữ ngoại hối lớn nhất thế giới và con số ngày càng gia tăng các công ty nhànước bỏ thầu tiếp quản tài sản nước ngoài, Trung Quốc đang nhanh chóngchuyển từ một quốc gia xuất khẩu sang một quốc gia có khả năng tạo ranhững đầu tư khổng lồ tại các thị trường tài chính toàn cầu
Những năm vừa qua, làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của cácdoanh nghiệp Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ Theo số liệu báo cáo của CụcĐầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính lũy kế đến 20/12/2012 đã
có 712 dự án của doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực,với tổng vốn đăng ký đạt 12,4 tỷ USD
Đến nay, Việt Nam đã đầu tư vào 60 quốc gia và vùng lãnh thổ Trongnăm 2012, có 75 dự án đầu tư mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư vớitổng vốn đăng ký là 1,3 tỷ USD tại 28 quốc gia và vùng lãnh thổ Lũy kế đếnhết năm 2012, vốn thực hiện ước đạt khoảng 3,8 tỷ USD Riêng năm 2012vốn thực hiện đạt khoảng 1,2 tỷ USD, tăng 28% so với năm 2011
Trang 9II Xu thế gia tăng các nhà đầu tư chuyên nghiệp
Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán là quá trình thanh lọc, chọnlựa các nhà đầu tư chuyên nghiệp, loại bỏ những hình thức đầu tư manh mún, chạytheo phong trào Chứng khoán là một cuộc chơi thật sự mà sân chơi đó chỉ dànhcho những người, những tổ chức thật sự có kiến thức, bản lĩnh vững vàng
1 Khái niệm:
a/Nhà đầu tư chứng khoán là những cá nhân, tổ chức sở hữu chứng khoán vì
mục đích kiếm lời Lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư có hai dạng:
Một là, nhà đầu tư có được lợi tức do chứng khoán mang lại Khoảntiền này do tổ chức phát hành chứng khoán chi trả dưới dạng cổ tức hoặc lãitrái phiếu
Hai là, nhà đầu tư có thể có được thu nhập có được từ chênh lệch từviệc mua, bán chứng khoán trên thị trường
Pháp luật không đề ra những điều kiện cụ thể nào đối với nhà đầu tư, nhằm đảmbảo khuyến khích tất cả chủ thể có khả năng đầu tư đều có thể trở thành nhà đầu tưchứng khoán Tuy nhiên, theo bản chất quan hệ dân sự trong hoạt động đầu tư
chứng khoán, nhà đầu tư phải có những điều kiện sau đây:
Có đủ năng lực hành vi dân sự;
Có điều kiện về tài chính để tham gia đầu tư; và không bị pháp luậthoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấm tiến hành đầu tư chứng khoán
b/ Phân loại nhà đầu tư chứng khoán.
Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là các tổ chức mà hoạt động
đầu tư chứng khoán là hoạt động kinh doanh chính hoặc là một trong nhữnghoạt động kinh doanh chính Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp phải cóchuyên môn nghiệp vụ về đầu tư chứng khoán và thu nhập chính phải có
Trang 10được từ chính hoạt động này Theo quy định của Luật chứng khoán năm
2006, nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là ngân hàng thương mại,
công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm,tổ chức kinh doanh chứng khoán
Nhà đầu tư không chuyên nghiệp là những cá nhân, tổ chức kháctrong nền kinh tế Nhìn chung, những nhà đầu tư không chuyên nghiệp mới
là những nhà đầu tư thực sự cho các tổ chức phát hành, vì họ nắm giữ chứngkhoán lâu dài, ổn định hơn
c/ Sự khác biệt giữa nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư không chuyên nghiệp.
Về mặt pháp lý, trong hoạt động đầu tư, về cơ bản các nhà đầu tư đều bình đẳng.Nhà đầu tư chuyên nghiệp, nếu có chịu một số ràng buộc của pháp luật nhiều hơn
là do nhà nước muốn đảm bảo sự công bằng và sự phá triển lành mạnh của thịtrường chứng khoán Xét một cách khái quát, nhà đầu tư chuyên nghiệp khác vớinhà đầu tư không chuyên nghiệp ở những điểm sau đây:
Tiêuchí Nhà đầu tư chuyên nghiệp Nhà đầu tư
không chuyên nghiệp
Tư cách
Là tổ chức kinh tế như ngânhàng, công ty tài chính, bảohiểm, công ty chứng khoán,công ty đầu tư chứng khoán…
Có thể là cá nhân, doanhnghiệp và tổ chức khác
Trình độ
chuyên môn
Am hiểu về nghiệp vụ đầu tư
chứng khoán
Có thể không am hiểu nhiều về
nghiệp vụ đầu tư
Trang thiết bị
và nhân lực
Phải có những trang thiết bịcần thiết như hệ thống máytính, trụ sở, và các nhân viên
am hiểu chuyên môn nghiệp vụ
Có thể không có những trangthiết bị cần thiết vì đã uỷ thácđầu tư cho công ty chứngkhoán hoặc công ty quản lý
Trang 11Nguồn vốn
Thường có nguồn vốn mạnh vàtập trung vào đầu tư chứng
khoán
Nguồn vốn nhàn rỗi do tiếtkiệm hoặc chưa có mục đích sửdụng khác Ngay cả khi nguồnvốn đó dành để đầu tư chứngkhoán thì cũng không quá
Những ràng buộc pháp lýthường ít hơn nhà đầu tưchuyên nghiệp
Vai trò đối với
thị trường
Rất quan trọng, thường là cầunối của những nhà đầu tưkhông chuyên nghiệp với thịtrường chứng khoán
Rất quan trọng, bởi đây mới lànhững nhà đầu tư thật sự (lànhà đầu tư ‘nắm giữ’ chứngkhoán sau cùng, hiểu theonghĩa rộng nhất của từ này)
Thị trường chứng khoán rất cần đến các nhà đầu tư chuyên nghiệp vì :
Nhà đầu tư chuyên nghiệp có nguồn vốn lớn, vì vậy có khả năng đầu
tư lớn nên có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến thị trường chứngkhoán
Nhà đầu tư chuyên nghiệp có khả năng phân tích và đầu tư tương đốichính xác, nên đảm bảo cho thị trường phát triển đúng hướng
Nhà đầu tư chuyên nghiệp chính là cầu nối giữa những nhà đầu tưkhông chuyên nghiệp với thị trường chứng khoán Thông qua việc uỷ tháccho nhà đầu tư chuyên nghiệp, các nhà đầu tư không chuyên nghiệp sẽ dễdàng và thuận lợi hơn trong việc đầu tư vào thị trường chứng khoán
Trang 122 Xu thế phát triển các nhà đầu tư chuyên nghiệp, quỹ đầu tư chứng khoán ở một số nước trên thế giới
a/ Mỹ
Tại Mỹ, các quỹ đầu tư chứng khoán đã có được một lịch sử hoạt động khá lâu
đời Hình thức tín thác đầu tư (đơn vị tín thác đầu tư UITs) là hình thức ban đầu
của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Mỹ Sau sự kiện TTCK sụp đổ vào năm 1929,
quỹ công ty xuất hiện và được biết đến với tên gọi là các công ty quản lý
(Management Company) Theo quy định của Mỹ, tất cả các quỹ đầu tư chứngkhoán cho dù là một công ty quản lý hay là một quỹ tín thác đều phải lập Hội đồngquản trị và ít nhất 40% thành viên trong hội đồng phải là các thành viên độc lậpkhông liên quan tới công ty quản lý quỹ
Trong giai đoạn đầu phát triển của ngành quỹ, các quỹ đóng phát triển mạnhmẽ.Nhưng sau đó, quỹ mở lại trở nên phổ biến hơn và chiếm tới 4/5 tổng tài sảntrong ngành quỹ đầu tư chứng khoán tại Mỹ, được biết đến nhiều nhất với tên gọi
là các quỹ tương hỗ Nếu như năm 1960, tại Mỹ chỉ có 160 quỹ mở với tổng tài sảnquản lý là 17 tỷ USD, thì năm 1980, đã có 564 quỹ với tổng số tài sản quản lý lêntới 134 tỷ USD Năm 1990, số quỹ tăng lên 3.105 quỹ và tổng số tài sản lên tớitrên 1.000 tỷ USD, và đến cuối năm 2007, có 8.015 quỹ với tổng số tài sản quản lý
là 12.345 tỷ USD và đến nay, trên TTCK Mỹ có trên 9.000 quỹ đầu tư chứng
khoán Hầu hết các quỹ mở thường thuộc một trong bốn các loại hình: quỹ đầu tư
vào thị trường tiền tệ, quỹ đầu tư vào trái phiếu, quỹ đầu tư vào cổ phiếu và quỹ hỗn hợp.
QUY MÔ QUỸ MỞ THEO LOẠI HÌNH ĐẦU TƯ Ở MỸ