ở Việt Nam theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK 3 ngày 13/10/1998 của Uỷ ban chứng khoán nhà nướccông ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ
Trang 1Lời mở đầu
Công nghiệp hoá là bước phát triển tất yếu của mỗi dân tộc mỗi đấtnước phải trải qua Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệphoá nền kinh tế quốc dân ở nước ta, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đềquan trọng Trong đó vốn là chìa khoá để thực hiện công nghiệp hoá
Để công nghiệp hoá với tốc độ nhanh cần có cơ chế chính sách vàbiện pháp huy động được nhiều vốn nhất và sử dụng vốn có hiệu quả
Một trong những biện pháp thực hiện huy động mọi nguồn vốn có thểhuy động được khơi động mọi nguồn vốn trong nước, khuyến khích dânchúng tiết kiệm và thu hút một nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư, thu hút vốnđầu tư từ nước ngoài, đó là TTCK
Đối với chúng ta, đây là vấn đề mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, vìvậy để có một TTCK hợp lý, đem lại hiệu quả cao đòi hỏi chúng ta có nhậnthức và quan điểm đúng đắn về vấn đề này
Nhằm góp phần vào lĩnh vực phát triển của TTCK của Việt Nam Em
chọn chuyên đề tốt nghiệp với đề tài là: " Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCK Ngân hàng Công thương”.
Trang 2Chương I Những lý luận chung về công ty chứng khoán
và các hoạt động kinh doanh của công ty
1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiệncác nghiệp vụ trên TTCK ở Việt Nam theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK
3 ngày 13/10/1998 của Uỷ ban chứng khoán nhà nướccông ty chứng khoán
là công ty cổ phần, công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được
Uỷ ban chứng khoán nhà nướccấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loạihình kinh doanh chứng khoán
có thể nói chức năng nhiệm vụ của công ty chứng khoán như sau:
- Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗiđến người sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)
- Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp lệnhhoặc khớp giá)
- Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (khoán chuyển từ chứngkhoán ra tiền mặt một cách dễ dàng)
- Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tựdoanh đóng vai trò nhà tạo lập thương trường)
Trang 3* Đối với nhà đầu tư:
Thông qua hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mụcđầu tư công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giaodịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Đối với hàng hoá thôngthường mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và ngườibán Tuy nhiên đối với TTCK sự biến động thường xuyên của giá cả chứngkhoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chiphí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư.Nhưng thông qua các công ty chứng khoán với trình độ chuyên môn cao và
uy tín nghề nghiệp, sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư mộtcách hiệu quả.* Đối với TTCK
Đối với TTCK , công ty chứng khoán thể hiện hai vai trò chính:
(1) Góp phần tạo lập giá cả điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán là
do thị trường quyết định Tuy nhiên để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua
và người bán phải thông qua các công ty chứng khoán vì họ không đượctham gia trực tiếp vào quá trình mua bán Cáac công ty chứng khoán lànhững thành viên của thị trường, do đó họ cũng góp phần tạo lập giá cả thịtrường thông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoáncùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy giá cả của
Trang 4mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá các các công tychứng khoán
Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham giađiều tiết thị trường Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo
vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã dành một tỷ lệ nhấtđịnh các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường
2) Góp phần làm tăng tính thanh khoán của các tài sản tài chính, TTCK
có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoán của các tài sản tài chính.Nhưng các công ty chứng khoán mới tạo ra cơ chế trao đổi trên thị trường.Trên thị trường cấp 1 do cải thiện các hoạtđộng như bảo lãnh, phát hànhchứng khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động đượcmột lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà cònlàm tăng tính thanh khoán của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứngkhoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán trao đổi trên thị trường trên thịtrường cấp 2
Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư Trên thịtrường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua và bán các công ty chứngkhoán giúp nhà đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại.Những hoạt động có thể làm tăng tính thanh khoán của những tài sản tàichính
3) Đối với cơ quan quản lý thị trường: Công ty chứng khoán có vai tròcung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường để thựchiện mục tiêu đó Các công ty chứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì
họ vừa là người bảo lãnh phát hành các chứng khoán mở, vừa là trung gianmua bán chứng khoán và thực hiện giao dịch trên thị trường Một trongnhững yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới
sự giám sát của các tài chính, cơ quan quản lý thị trường Việc cung cấpthông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghềnghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán có thể cung cấp
Trang 5bao gồm thông tin về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các
cổ phiếu, trái phiếu và tài chính phát hành thông tin về các nhà đầu tư…Nhờcác thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chốngcác hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tài chính chuyên nghiệp trênTTCK, các nhà phát hành đối với cơ quan quản lý thị trường và đối vớiTTCK nói chung
1.1.4 Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán
Hiện nay, có ba loại hình tài chính cơ bản của công ty chứng khoán, đólà: công ty hợp doanh, công ty TNHH, công ty cổ phần:
a Công ty hợp doanh
- Là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên
- Thành viên của công ty chứng khoán hợp doanh bao gồm: thành viêngóp vốn và thành viên hợp doanh Các thành viên hợp doanh chịu tráchnhiệm vô hạn bằng tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Các thànhviên góp vốn không tham gia vào điều hành công ty họ chỉ chịu trách nhiệmhữu hạn trong phần vốn góp của mình đối với những khoản nợ của công ty
* Công ty hợp doanh thông thường không được phát hành bất cứ mộtloại chứng khoán nào
c Công ty TNHH
* Thành viên của công ty trách nhiệm phải chịu trách nhiệm về các
Trang 6khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi sốvốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp.
* Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu Do có những ưuđiểm của loại hình công ty cổ phần và công ty TNHH so với công ty hợpdoanh, vì vậy hiện nay chủ yếu các công ty chứng khóan được tổ chức dướihình thức công ty TNHH và công ty cổ phần
1.2 Các hoạt động của Công ty chứng khoán
1.2.1 Các hoạt động chính
1.2.1.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua bán,bán chứng khoán cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giaodịch taih SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu tráchnhiệm đối với kết quả giao dịch của mình
Thông qua hoạt động môi giới, công ty chứng khoán sẽ chuyển đến kháchhàng của mình các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu
tư bán chứng khoán với nhà đầu tư mua chứng khoán Và trong nhữngtrường hợp nhất định, hoạt động môi giới sẽ trở thành những người bạn,người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và đưa ra những lời động viên kịpthời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo
Xuất phát từ yêu cầu trên, nghề môi giới đòi hỏi phải có những phẩm chất,
tư cách đạo đức, kỹ năng mẫn cán trong công việc và với thái độ công tâm,cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất Nhà môi giới không đượcxúi dục khách hàng mua, bán chứng khoán để kiếm hoa hồng, mà nên đưa ranhững lời khuyên hợp lý để hạn chế đến mức thấp nhất về thiệt hại chokhách hàng
Kỹ năng của người môi giới chứng khoán được thể hiện trên các khía cạnh:
- Kỹ năng truyền đạt thông tin: Phẩm chất hay thái độ của người môigiới đối với công việc, với bản thân và với khách hàng được truyền đạt rõràng đối tới hầu hết các khách hàng mà người môi giới thực hiện giao dịch
Để thành công trong việc bán hàng (cung ứng dịch vụ mua, bán) người môi
Trang 7giới phải đặt khách hàng lên trên hết và doanh thu của mình là yếu tố thứyếu Đây là điểm then chốt trong hoạt động dịch vụ tài chính và phải đượcthực hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng
- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: có nhiều phương pháp để tìm kiếmkhách hàng, nhưng tựu trung có thể được gộp vào nhóm 6 phương cách sau:những đầu mối được gây dựng từ công ty hoặc các tài khoản chuyển nhượnglại; những lời giới thiệu khách hàng; mạng lưới kinh doanh; các chiến dịchviết thư; các cuộc hội thảo; gọi điện làm quen
- Kỹ năng khai thác thông tin: một trong những nguyên tắc trong hàngnghề môi giới là phải hiểu khách hàng, biết được khả năng tài chính, mức độchấp nhận rủi ro của khách hàng Ngoài ra nó còn giúp cho nhà môi giớităng được khối lượng tài sản quản lý, có chiến lược khách hàng thích hợp
1.2.1.2 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việccác Công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lờikhuyên phân tích tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụkhác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng.Hoạt động tư vấn chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:+ Theo hình thức của hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp
gỡ khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn giántiếp (thông qua các ấn phẩm, sách báo) để tư vấn cho khách hàng
+ Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: Bao gồm tư vấn gợi ý (gợi ý chokhách hàng về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của kháchhàng) và tư vấn uỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷquyền thực hiện của khách hàng)
+ Theo đối tượng hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn cho người pháthành (tư vấn cho tổ chức dự kiến phát hành: cách thức, hình thức phát hành,xây dựng hồ sơ, bản cáo bạch… Và giúp tổ chức phát hành trong việc lựachọn tổ chức bảo lãnh, phân phối chứng khoán) và tư vấn đầu tư (tư vấn cho
Trang 8khách hàng đầu tư chứng khoán trên thị trường thứ cấp về giá, thời gian,định hướng đầu tư vào các loại chứng khoán …v.v.).
Nguyên tắc cơ bản của tư vấn:
Hoạt động tư vấn là việc người tư vấn sử dụng kiến thức, đó chính làvốn chất xám mà họ đã bỏ ra, để kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận (Hiệuquả) cho khách hàng Nhà tư vấn đòi hỏi hết sức thận trọng trong việc đưa racác lời khuyên đối với khách hàng, vì với lời khuyên đó khách hàng có thểthu về lợi nhuân lớn hoặc thua lỗ, thậm chí phá sản, còn người tư vấn thu vềcho mình khoản thu phí về dịch vụ tư vấn (bất kể tư vấn đó thành công haykhông) Hoạt động tư vấn đòi hỏi phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bảnnhư sau:
+ Không đảm bảo chắc chắn về giá trị chứng khoán: giá chị chứngkhoán không phải là một số cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh
tế, tâm lý và diễn biến thực tiễn của thị trường
+ Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình dựa trên
cơ sở phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, cóthể là không hoàn toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuốicùng
Trong việc sử dụng các thông tin từ nhà tư vấn để đầu tư, nhà tư vấn sẽ không chịu trách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do lời khuyên đưa ra.+ Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán một loại chứngkhoán nào đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sở kháchquan là quá trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic các vấn đềnghiên cứu
1.2.1.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành.
Để thực hiện thành công các đợt chào bán hàng chứng khoán ra côngchúng, đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các Công ty chứng khoán tưvấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh phân phối chứng khoán ra công
Trang 9chúng Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các Công ty chứngkhoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thucủa Công ty chứng khoán.
Như vậy, nghiệp vụ sau bảo lãnh phát hành là việc Công ty chứngkhoán có chức năng bảo lãnh (sau đây gọi tắt là tổ chức bảo lãnh - TCBL)giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứngkhoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứngkhoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Trên TTCK, tổ chức bảo lãnhphát hành không chỉ có Công ty chứng khoán mà còn bao gồm các định chếtài chính khác như ngân hàng đầu tư nhưng thông thường việc Công tychứng khoán nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc phân phốichứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnh pháthành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển phân phốichứng khoán cho các Công ty chứng khoán tự doanh hoặc các thành viênkhác
Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó gửi yêu cầubảo lãnh phát hành đến Công ty chứng khoán Công ty chứng khoán có thể
ký một hợp đồng tư vấn quản lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về loạichứng khoán cần phát hành, số lượng chứng khoán cần phát hành, định giáchứng khoán và phương thức phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tưthích hợp Để được phép bảo lãnh phát hành, Công ty chứng khoán phải đệtrình một phương án bán và cam kết bảo lãnh lên uỷ ban chứng khoán Khicác nội dung cơ bản của phương án phát hành được uỷ ban chứng khoánthông qua Công ty chứng khoán có thể trực tiếp ký hợp đồng bảo lãnh, hoặcthành lập nghiệp đoàn bảo lãnh để ký hợp đồng bảo lãnh giưã nghiệp đoàn
và tổ chức phát hành
Khi uỷ ban chứng khoán cho phép phát hành chứng khoán và đến thờihạn giấy phép phát hành có hiệu lực, Công ty chứng khoán (hoặc hiệp đoàn
Trang 10bảo lãnh) thực hiện phân phối chứng khoán Các hình thức phân phối chứngkhoán chủ yếu là:
+ Bán riêng cho tổ chức đầu tư tập thể, các quỹ đầu tư, quỹ bảo hiểm,quỹ hưu trí
+ Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư cóquan hệ với tổ chức phát hành
+ Bán rộng rãi ra công chúng
Đúng đến ngày theo hợp đồng Công ty bảo lãnh phát hành phải giaotiền bán cho tổ chức phát hành Số tiền thanh toán là giá trị chứng khoánphát hành trừ đi phí bảo lãnh
1.2.1.4 Nghiệp vụ tự doanh
Tự doanh là việc công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua,bán chứng khoán cho chính mình Hoạt động tự doanh của công ty chứngkhoán được thực hiện thông qua cơ chế giao dịch trên SGDCK hoặc thịtrường OTC Tại một số thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá (quotedriven) hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện thôngqua hoạt động tạo lập thị trường Lúc này, công ty chứng khoán đóng vai trò
là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định củamột số loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các kháchhàng để hưởng chênh lệch giá
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chínhcông ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng Nghiệp
vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừa phục vụ lệnh giaodịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì vậy trongquá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giao dịchcho khách hàng và cho bản thân công ty Do đó, luật pháp của các nước đềuyêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và tự doanh, công tychứng khoán phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiệnlệnh của mình Thậm chí luật pháp ở một số nước còn quy định có 2 loại
Trang 11hình công ty chứng khoán là công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chứcnăng môi giới và công ty chứng khoán có chức năng tự doanh.
Khác với nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán chỉ làm trung gianthực hiện lệnh cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tựdoanh công ty chứng khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty
Vì vậy, công ty chứng khoán đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũnhân viên có trình đọ chuyên môn, khả năng phân tích và đưa ra các quyếtđịnh đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng vai trò là các nhà tạo lậpthị trường
Yêu cầu đối với công ty chứng khoán
- Tách biệt quản lý: các công ty chứng khoán phải có sự tách biệt giữanghiệp vụ tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõràng trong hoạt động Sự tách biệt này bao gồm tách biệt về: yếu tố conngười; quy trình nghiệp vụ; vốn và tài sản của khách hàng và công ty
- ưu tiên khách hàng: công ty chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc
ưu tiên khách hàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Điều đó có nghĩa làlệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công
ty Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho các khách hàng trong quátrình giao dịch chứng khoán Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thôngtin và chủ động trên thị trường nên các công ty chứng khoán có thể sẽ dựđoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua hoặc bán tranh củakhách hàng nếu không có nguyên tắc trên
Góp phần bình ổn thị trường: Các công ty chứng khoán hoạt động tựdoanh nhằm góp phần bình ổn giá cả thị trường Trong trường hợp này, hoạtđộng tự doanh được tiến hành bắt buộc theo luật định Luật các nước đềuquy định các công ty chứng khoán phải dành một tỉ lệ % nhất định các giaodịch của mình (ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn thị trường Theo đó,các công ty chứng khoán có nghĩa vụ mua vào khi giá chứng khoán bị giảm
và bán ra khi giá chứng khoán lên nhằm giữ giá chứng khoán ổn định
- Hoạt động tạo thị trường: khi được phát hành, các chứng khoán mớichưa có thị trường giao dịch Để tạo thị trường cho các chứng khoán này,
Trang 12các công ty chứng khoán thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bánchứng khoán, tạo tính thanh khoản trên thị trường cấp hai Trên nhữngTTCK phát triển, các nhà tạo lập thị trường (Market – Makers) sử dụngnghiệp vụ mua bán chứng khoán trên thị trường OTC để tạo thị trường.Theo đó, họ liên tục có những báo giá để mua hoặc bán chứng khoán với cácnhà kinh doanh chứng khoán khác Như vậy, họ sẽ duy trì một thị trườngliên tục đối với chứng khoán mà họ kinh doanh.
- Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh:
Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt các lệnh mua và bán chứngkhoán trên Sở giao dịch, lệnh của hộ có thể thực hiện với bất kỷ khách hàngnào không được xác định trước
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai Công ty chứng khoánhay giữa Công ty chứng khoán với một khách hàng thông qua thương lượng.Đối tượng của các giao dịch trực tiếp là các loại chứng khoán đăng ký giaodịch ở thị trường OTC
1.2.1.5 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Đây là nghiệp vụ quản lý vốn uỷ thác của khách hàng để đầu tư chứngkhoán thông qua danh mục đầu tư nhằm sinh lợi cho khách hàng trên cơ sởtăng lợi nhuận và bảo toàn vốn cho khách hàng Quản lý danh mục đầu tư làmột dạng nghiệp vụ tư vấn mang tính chất tổng hợp có kèm theo đầu tư,khách hàng uỷ thác tiền cho Công ty chứng khoán thay mặt quyết định đầu
tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được khách hàng chấpnhận theo yêu cầu (mức lợi nhuận kỳ vọng; rủi ro có thể chấp nhận….)Quy trình của nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư có thể được khái quátbao gồm các bước sau:
+ Xúc tiến tìm hiểu và nhận quản lý: Công ty chứng khoán và kháchhàng tiếp xúc và tìm hiểu về khả năng tài chính, chuyên môn từ đó đưa racác yêu cầu về quản lý vốn uỷ thác
Trang 13+ Ký hợp đồng quản lý: CTCK ký hợp đồng quản lý giữa khách hàng
và Công ty theo các yêu cầu, nội dung về vốn, thời gian uỷ thác, mục tiêuđầu tư, quyền và trách nhiệm của các bên, phí quản lý danh mục đầu tư.+ Thực hiệp hợp đồng quản lý: Công ty chứng khoán thực hiện đầu tưvốn uỷ thác của khách hàng theo các nội dung đã được cam kết và phải đảmbảo tuân thủ các quy định về quản lý vốn, tài sản tách biệt giữa khách hàng
và chính Công ty
1.2.1.6 Lưu ký chứng khoán:
Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông qua các tàikhoản lưu ký chứng khoán Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch chứngkhoán, bởi vì trong giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung là hìnhthức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoán tạicác công ty chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ)hoặc ký gửi các chứng khón (nếu phát hành dưới hình thức chứng chỉ vậtchất) Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công tychứng khoán sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi,phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán
+ Kết thúc hợp đồng quản lý: Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán cáckhoản phí quản lý theo hợp đồng ký kết và xử lý các trường hợp khi công tychứng khoán bị ngưng hoạt động, giải thể hoặc phá sản
1.2.2 Các nghiệp vụ hỗ trợ
1.2.2.1 Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý tổ chức):
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, Công ty chứngkhoán sẽ theo dõi tình hình thu lãI, cổ tức chứng khoán và đứng ra làm dịch
vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của kháchhàng
Trang 141.2.2.2 Nghiệp vụ tín dụng:
Đối với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoáncho khách hàng để hưởng hoa hồng, Công ty chứng khoán còn triển khaidịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán khống(short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp
vụ mua ký quỹ (margin purchase)
Cho vay kỹ quỹ là hình thức cấp tín dụng của Công ty chứng khoán chokhách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các loại chứngkhoán đó làm vật thế chấp cho khoản vay đó Khách hàng chỉ cần ký quỹmột phần, số còn lại sẽ do Công ty chứng khoán ứng trước thanh toán Đến
ký hạn thoả thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số gốc vay cùng với lãi choCông ty chứng khoán Trường hợp khách hàng không trả được nợ, thì Công
ty sẽ phát mãi số chứng khoán đã mua để thu hồi nợ
1.2.2.3 Nghiệp vụ cầm cố chứng khoán cho vay
ở một số TTCK, pháp luật về TTCK còn cho phép Công ty chứng khoánđược thực hiện nghiệp vụ quản lý đầu tư Theo đó, Công ty chứng khoán cửđại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vồn và tài sản của quỹ đầu tư
để đầu tư vào chứng khoán Công ty chứng khoán được thu phí dịch vụ quản
lý quỹ đầu tư
1.3 Chất lượng hoạt động của CTCK
1.3.1 Khái niệm chất lượng hoạt động
Các CTCK cũng là một doanh nghiệp do đó chất lượng hoạt độngđược thể hiện ở hiệu quả kinh doanh của công ty đó Đối với CTCK thìđược thể hiện ở hiệu quả của các nghiệp vụ kinh doanh của công ty đó vàđược thể hiện qua các chỉ tiêu đánh giá sau
1.3.2 Chỉ tiêu đánh giá
Tất cả các doanh nghiệp tồn tại và phát triển đều phải đặt ra những mụctiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu đó trước hết doanh nghiệp phải xác định
Trang 15cho mình chiến lược kinh doanh phù hợp với sự biến động của thị trường.Đồng thời phải tiến hành đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh Vậy hiệuquả kinh doanh là gì? Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánhtrình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp để đạt đượchiệu quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất.Trong nền kinh tế thị trường một doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả khidoanh nghiệp đó đạt được hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Để đánh giáhiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thường dựa trên các chỉ tiêu địnhlượng và chỉ tiêu định tính.
1.3.2.1 Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn:
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt độngtrong quá trình kinh doanh, thể hiện ở hệ số sinh lời của vốn kinh doanh:
Hệ số sinh lời của VKD
= Tổng lợi tức các hoạt độngTổng vốn bình quân của các hoạt độngChỉ tiêu trên cho thấy hiệu quả sử dụng một đồng vốn kinh doanh bỏ
ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó có tác động khuyến khích vàquản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm đồng vốn trong các khâu của quá trìnhkinh doanh
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí kinh doanh:
HQSD chi phí KD
= Doanh thu thực thu hoặc doanh thu thuần
Tổng chi phí kinh doanh
Vớí chỉ tiêu này sẽ phản ánh doanh nghiệp bỏ ra một đồng chi phíkinh doanh thì sẽ đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thực thu hoặc doanh thuthuần
Lợi nhuận gộp hoặc lợi nhuận thuần
Trang 16Sức sinh lời của CPKD =
Tổng chi phí kinh doanh
ý nghĩa của chỉ tiêu này: Cứ một đồng chi phí kinh doanh đem lại baonhiêu đồng lợi nhuận
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng loại tài sản:
Hiệu quả sử dụng của tài sản lưu động:
Lợi nhuận gộp hoặc lợi nhuận thuầnKhả năng sinh lời của TSLĐ =
Tổng giá trị tài sản lưu động bình quânChỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản lưuđộng bình quân vào sản xuất kinh doanh thì sẽ đem lại cho doanh nghiệpbao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định và vốn cố định được đánh giá bằngnhiều chỉ tiêu nhưng chủ yếu sử dụng những chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thuHiệu quả sử dụng tài sản cố định =
Trang 171.3.2.2 Chỉ tiêu định tính.
Chỉ tiêu định tính để đánh giá hiệu quả kinh doanh là những chỉ tiêukhông thể lượng hoá được bằng con số Chỉ tiêu này thường được đánh giábởi thị trường, các nhà phân tích, đặc biệt là khách hàng ở công ty chứngkhoán chỉ tiêu định tính được nói đến là vị thế và uy tín của công ty trên thịtrường Điều này thể hiện ở định hướng hoạt động của công ty có phù hợpvới tình hình thị trường, điều kiện thực tế của chính doanh nghiệp cũng nhưyêu cầu của khách hàng hay không, chất lượng nhân sự trong công ty, vị tríđịa lý của trụ sở công ty có thuận lợi về giao thông, có ở trung tâm haykhông, đặc biệt là có chiến lược marketing phù hợp, từ đó công ty tạo rađược cách thức để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt thì các chỉtiêu định tính để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các công ty càng có ýnghĩa đặc biệt quan trọng Khi một công ty đạt được những tiêu chuẩn địnhtính cũng đồng nghĩa với việc tình hình kinh doanh của công ty rất có hiệuquả, có vị thế cạnh tranh cao trên thị trường và đạt được các tiêu chuẩn địnhlượng
Chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng có mối quan hệ mật thiết vớinhau Chỉ tiêu định lượng là tiền đề, là cơ sở để đạt được chỉ tiêu định tính,
ngược lại chỉ tiêu định tính tác động trở lại để hoạt động kinh doanh của
công ty thêm hiệu quả
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của công ty chứng khoán.
1.4.1 Nhân tố khách quan
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế gắn liền với hoạt độngcủa một công ty Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ một công ty nào cũngluôn quan tâm đến hiệu quả kinh doanh vì nó quyết định sự sống còn củacông ty Hoạt động kinh doanh của công ty lại chịu chi phối bởi rất nhiềucác yếu tố cả bên trong lẫn bên ngoài công ty và chính vì thế hiệu quả kinhdoanh của công ty cũng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố này
Là một mắt xích quan trọng của thị trường, những biến đổi của thịtrường đều tác động đến hiệu quả kinh doanh của công ty Nó có thể tạo cho
Trang 18công ty những nguy cơ hoặc cơ hội kinh doanh Thị trường chịu sự tác độngcủa các chính sách kinh tế chính trị xã hội của một quốc gia và tình hìnhkinh tế của toàn cầu Những quốc gia có tình hình kinh tế chính trị xã hội ổnđịnh, vững mạnh sẽ tạo được lòng tin đối với nhà đầu tư trong và ngoàinước Đó là một trong những nhân tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế cùng vớihoạt động tài chính tiền tệ Vấn đề thu nhập quốc dân của một quốc gia vàthu nhập bình quân đầu người chính là những yếu tố tác động đến nhu cầu
về số lượng hàng hoá, dịch vụ, về chủng loại, chất lượng, về thị hiếu Trên
cơ sở đó, hoạt động kinh doanh của các công ty nói chung và các công tychứng khoán nói riêng sẽ gặp nhiều thuận lợi Các nhà đầu tư sẵn sàng hơntrong việc tham gia vào thị trường, các công ty cũng sẵn sàng mở rộng qui
mô sản xuất kinh doanh Điều này sẽ làm tăng qui mô của thị trường nênnhững công ty biết đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường sẽ là những công
ty làm ăn có hiệu quả Trong môi trường này, sự tăng trưởng, các chính sáchkinh tế, lạm phát, biến động tài chính tiền tệ, hoạt động của các đối thủ cạnhtranh luôn tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của công ty Ngượclại những quốc gia có tình hình kinh tế chính trị xã hội bấp bênh, kém ổnđịnh, xung đột xảy ra liên miên gây ra những cơn sốt, cú sốc, sức ép thịtrường thì các công ty chứng khoán cũng khó có thể hoạt động kinh doanhmột cách có hiệu quả
Bên cạnh đó, một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiệncho các công ty tiến hành thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình,đồng thời điều chỉnh các hoạt động kinh tế theo hướng không chỉ chú ý đếnhiệu quả kinh doanh của riêng bản thân công ty mà còn phải quan tâm đếnhiệu quả của toàn xã hội Cùng với điều này, thì nội dung của các chính sáchquản lý kinh tế, chính sách quản lý về chứng khoán và TTCK có ý nghĩaquyết định đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán Mọi hoạt động kinhdoanh chứng khoán đều phải nằm trong khuôn khổ của các quy định này.Chính vì thế, một chính sách quản lý đúng đắn, phù hợp sẽ có tác dụng thúcđẩy hoạt động kinh doanh chứng khoán, dẫn đến sự phát triển của TTCK vàtoàn bộ nền kinh tế, trái lại, một chính sách cứng nhắc, thiếu hợp lý sẽ gâynhiều trở ngại cho sự phát triển của toàn bộ thị trường nói chung và đến sựphát triển của một công ty nói riêng
Trang 19Là một chủ thể quan trọng của TTCK, thì sự phát triển của TTCKcũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của công ty chứngkhoán Một khi TTCK phát triển, có nghĩa là hàng hoá trên thị trường đadạng và phong phú, nó sẽ tạo ra cho các nhà đầu tư và các công ty có điềukiện để đầu tư, để có sự lựa chọn phù hợp nhất Tuy nhiên, với một hệ thốngbao gồm nhiều loại hàng hoá sẽ phát sinh những khó khăn đối với các nhàđầu tư khi tự quyết định sự lựa chọn của mình Vì vậy, nhất thiết nhà đầu tư
sẽ cần đến công ty chứng khoán Bên cạnh đó, khi TTCK phat triển sẽ xuấthiện nhiều loại rủi ro khó lường trước, do đó công chúng cũng như công tychứng khoán sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong hoạt động kinh doanh Mặtkhác, khi TTCK phát triển, công ty chứng khoán muốn tồn tại, phát triển vàcạnh tranh được với các công ty chứng khoán khác thì công ty không nhữngbuộc phải có những thay đổi cho phù hợp với thị trường mà còn phải tiếptục hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từphía khách hàng và từ phía bản thân công ty
Những nhà kinh doanh của các công ty chứng khoán là những người
có trình độ hiểu biết nhất định về TTCK, có thể làm những công việc khácnhau nhưng không phải bất cứ độ tuổi nào cũng tham gia được Họ tham giavào lĩnh vực này với những mục đích khác nhau và nắm trong tay nhữngthông tin trái ngược nhau Chính vì thế môi trường văn hoá xã hội sẽ tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh doanh của công ty cả theochiều hướng tiêu cực và tích cực
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật công nghệ ảnh hưởngmạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của công ty Sản phẩm của công ty chứngkhoán là các dịch vụ cho kinh doanh nên yếu tố cạnh tranh sẽ thể hiện ởmức độ thực hiện dịch vụ nhanh chóng, thoả mãn nhu cầu khách hàng.Muốn vậy, công ty phải áp dụng kỹ thuật công nghệ phù hợp, từ đó nângcao được năng suất, chất lượng và giảm được chi phí trên một đơn vị sảnphẩm Nhờ đó mà tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, tăng vòng quayvốn lưu động, tăng lợi nhuận
Không phải ngẫu nhiên mà trong cùng một môi trường kinh doanh,cùng chịu một chế độ quản lý mà kết quả kinh doanh của các công ty lạikhác nhau Mà chính bởi có sự khác nhau về các nhân tố nội tại giữa cáccông ty Nhân tố nội tại chính là cơ sở vật chất, mục tiêu phát triển, uy tín
Trang 20của công ty, mạng lưới khách hàng, khả năng của ban lãnh đạo, trình độ củacán bộ công nhân viên , tất cả các yếu tố này đều tác động đến hiệu quảkinh doanh của công ty chứng khoán Vì vậy, để có thể đẩy mạnh và mởrộng hoạt động sản xuất kinh doanh, các công ty phải biết tận dụng nhữngthế mạnh cũng như hạn chế những điểm yếu của công ty mình.
1.4.2 Nhân tố chủ quan
Vốn phản ánh quy mô, tiềm lực của doanh nghiệp Một doanh nghiệp
có nguồn vốn lớn thường là những doanh nghiệp có qui mô lớn, phạm vihoạt động rộng Và cũng chính vì thế, hiệu quả kinh doanh phụ thuộc rấtnhiều về vốn Bên cạnh đó, trong công ty con người luôn đóng vai trò trungtâm Mức độ hiệu quả công việc của từng người sẽ ảnh hưởng tới hệ thốngbởi vì tổng hợp hiệu quả của các cá nhân sẽ được hiệu quả chung của công
ty Một công ty hoạt động có hiệu quả khi các cá nhân trong công ty có trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có tính tự giác, kỷ luật cao, đồng thời cácthành viên trong công ty phải có mối quan hệ bình đẳng, hoà hợp, tôn trọnglẫn nhau và cùng nhau nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung toàn công ty.Thực tế cho thấy, những công ty mạnh trên thị trường đều là những công ty
có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ, tác phong khoa học và tính kỷluật cao Cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên thì vấn đề về các nhà quảntrị
Trang 21ChươngII Thực trạng các hoạt động kinh doanh chứng khoán
của công ty chứng khoán Công thương
2.1 Hoạt động của TTCK Việt Nam thời gian qua
Năm 2003, TTCK Việt Nam trải qua một thời gian chịu ảnh hưởng sâu sắccủa nhiều nhân tố mang tính vĩ mô như tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn
do quá trình hội nhập quốc tế ban đầu cùng những thách thức rất lớn do cạnhtranh đưa lại Tăng trưởng kinh tế trong nước chưa thể hiện mức độ bềnvững nhất định; chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đủ mạnh, trong đó đánglưu ý nhất là khu vực dịch vụ có xu hướng giảm trong cơ cấu của GDP; bêncạnh đó, nhập siêu ở mức tương đối cao trong khi những biến động mạnhtrong khu vực thị trường nhà đất, vàng và ngoại tệ diễn ra trong suốt năm2003; hiệu quả đầu tư chưa cao do mức dộ thất thoát trong vốn đầu tư cònnhiều
Mặc dù vậy, có thể nói, năm 2003 đã đánh dấu một bước chuyển mình mớicủa TTCK VN sau hơn 3 năm đi vào hoạt động Các hoạt động của thịtrường tiếp tục diễn ra suôn sẻ với sự tham gia của trên 16.000 tài khoản( tăng trên 19% so với năm 2002 ) Tính đến tháng 4/2004 đã có 24 cổ phiếuđược niêm yết trên TTCK với tổng mức vốn hóa thị trường đạt trên 2.500 tỷVND; trên 119 triệu trái phiếu được niêm yết với tổng giá trị niêm yết đạttrên 11,9 ngàn tỷ VND Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM(TTGDCK Tp.HCM) đã tổ chức thành công 247 phiên giao dịch với tổnggiá trị giao dịch đạt gần 3.000 tỷ VND, tăng trên 177% so với năm 2002trong đó giao dịch trái phiếu đạt gần 2.500 tỷ VND, chiếm trên 83% tổnggiá trị giao dịch trên thị trường TTGDCK Tp.HCM đã đưa vào áp dụngthành công một số giải pháp kỹ thuật, cho phép các nhà đầu tư đa dạng hóacác loại hình và phương thức giao dịch của minh; đồng thời tạo các tiền đềhết sức cơ bản trong việc tiến tới chuẩn hóa một số các loại hình nghiệp vụcủa thị trường Công tác quản lý thị trường tiếp tục được cải thiện đảm bảo
Trang 22khả năng vận hành và quản lý thị trường một cách hiệu quả Bên cạnh đócác tổ chức trung gian trên thị trường không ngừng tự hoàn thiện mình, xâydựng và cung cấp dịch vụ tiện ích cho các nhà đầu tư, các tổ chức, đặc biệttập trung vào một số nghiệp vụ có thế mạnh Các tổ chức niêm yết nóichung đã thực hiện khá tốt các nghiệp vụ và yêu cầu về công bố thông tin.Năm 2003 cũng là năm có rất nhiều các sự kiện quan trọng đã diễn ra tácđộng không nhỏ đến TTCK VN, có thể kể ra đây hàng loạt các sự kiện như:một số cổ phiếu mới được niêm yết tạo thêm hàng hóa cho thị trường; một
số các CTCK mới ra đời và đi vào hoạt động; lần đầu tiên chúng ta tổ chứcmột tuần lễ chứng khoán hết sức quy mô nhằm cổ động mạnh mẽ việc thamgia vào TTCK của các nhà đầu tư; sử dụng các biện pháp kỹ thuật nhằmkích thích sự năng động và hiệu quả của thị trường như điều chỉnh biên độ,chia nhỏ lô giao dịch, đưa vào sử dụng các loại lệnh mới ATO…;Chính phủcho phép nới rộng tỷ lệ nắm giữ của các nhà đầu tư nước ngoài đối với cổphiếu, không hạn chế đối với trái phiếu và sự tham gia rất mạnh của nhà đầu
tư nước ngoài vào thị trường trong những tháng cuối năm 2003…Bên cạnh
đó sự kiện hết sức quan trọng đó là việc Chính phủ thông qua chiến lượcphát triển TTCK VN đến năm 2010 và ban hành nghị định 144 về chứngkhoán và TTCK thay thế nghị định 48 của Chính phủ và trở thành văn bản
có tính pháp lý cao nhất điều chỉnh các hoạt động cuẩ TTCK VN Nghị địnhmới này đã thực hiện thay đổi một cách khá toàn diện về mặt nội dung cũngnhư phạm vi áp dụng và tạo ra hướng đi mới hết sức cụ thể trong công tácquản lý, điều hành và phát triển TTCK cũng như đối với sự tham gia của các
tổ chức cá nhân vào thị trường
Trang 232.2 Giới thiệu về Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam
2.2.1.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty chứng khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam.
Căn cứ theo Quyết định số 172/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ và thông tư 04/1999/TT-NHNN5 ngày 01/11/1999 về việc cho phép các
tổ chức tín dụng thành lập công ty chứng khoán là điều kiện tiền đề cho việcthành lập công ty chứng khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam Theocác văn bản này, các ngân hàng thương mại chỉ được phép thành lập công tychứng khoán độc lập dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên Xét về điều kiện, Ngân hàng Công Thương Việt Nam đã hội tụ đầy đủcác điều kiện thành lập công ty chứng khoán của một ngân hàng thươngmại Đề án thành lập và dự thảo điều lệ công ty chứng khoán Ngân hàngCông Thương Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phê duyệt,chấp thuận cho Ngân hàng Công Thương Việt Nam thành lập công ty chứngkhoán; đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ nhân sự chuẩn bị cho hoạt động kinhdoanh chứng khoán; hoàn thành hồ sơ xin Uỷ ban Chứng khoán Nhà nướccấp giấy phép hoạt động kinh doanh chứng khoán
Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế: Incombank Securities Co.Ltd (Viết tắt là IBS)
Thành lập theo quyết định số 126/QĐ-HĐQT-NHCT1 ngày 01/09/2000 củaNgân hàng Công thương Việt Nam
Giấy phép hoạt động số 07/GPHĐKD ngày 06/10/2000 do Uỷ ban Chứngkhoán Nhà nước cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0104000012 ngày 04/10/2000 do
Sở Kế hoạch Đầu tư Hà Nội cấp Trụ sở chính: Số 306 Bà Triệu - Quận Hai
Bà Trưng - Hà Nội
Trang 24Điện thoại: 84.4.9741764 – 84.4.9741054 Fax: 84.4.9741760
Với số vốn điều lệ 55 tỷ VND, IBS được cấp giấy phép hoạt động cả
5 nghiệp vụ kinh doanh trên TTCK, đó là môi giới, tự doanh, quản lý danhmục đầu tư, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư chứng khoán
Công ty chứng khoán Ngân hàng Công Thương là công ty trực thuộc,hạch toán độc lập của Ngân hàng Công Thương Việt Nam; thành viên củaTrung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Công ty chứngkhoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam được tổ chức theo mô hình chủtịch Công ty và Giám đốc được qui định tại luật Doanh nghiệp, là công tyTNHH một thành viên Bộ máy lãnh đạo công ty gồm chủ tịch công ty vàphó giám đốc, trong đó phó giám đốc trực tiếp phụ trách hoạt động tại chinhánh TPHCM Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 16 tháng 11 năm
2000 Tháng 10 năm 2002 Công ty Chứng khoán Công thương được cải tổthành lập 6 phòng ban ở Hà Nội với 37 nhân viên Chi nhánh thành phố HồChí Minh gồm 4 phòng ban với 20 nhân viên Với việc sắp xếp bố trí lại cácphòng ban như trên công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam
đã tạo ra một mô hình mang tính đột phá so với các công ty chứng khoánkhác trên thị trường
Trang 252.2.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty Chứng khoán Công Thương Việt Nam
Sơ đồ 3
*Phòng môi giới
Đại diện giao dịch của Công ty, môi giới chứng khoán Trung gianmua bán chứng khoán cho khách hàng Tư vấn, cung cấp thông tin thườngxuyên về từng phiên giao dịch, thông tin tài khoản và các thông tin liên quantới chứng khoán, TTCK cho khách hàng Tiếp nhận và xử lý lệnh mua, bánchứng khoán Tổ chức thực hiện giao dịch OTC (khi được phép) Tiếp thị
Chủ tịch công ty
Giám đốc
Kế toán lưu ký
Phòng
Phòng kinh doanh
Phòng
môi
giới
Phòng tự doanh, phát hành
Tư vấn niêm yết
Kế toán lưu ký Kiểm soát
Văn phòng
Chi nhánh TP.HCM
Trang 26trực tiếp đến nhà đầu tư chứng khoán Làm các dịch vụ hỗ trợ khách hàng cóliên quan đến nghiệp vụ môi giới Quản lý các đại lý nhận lệnh và các đầumối phát triển dịch vụ của công ty, trên các địa bàn khác nhau Đề xuất giảipháp nâng cao chất lượng dịch vụ, kiến nghị phương hướng nghiên cứu đưa
ra các sản phẩm mới liên quan đến hoạt động môi giới
*Phòng tự doanh phát hành
Kinh doanh chứng khoán cho công ty Đại lý, bảo lãnh phát hànhchứng khoán Phân tích thị trường và đề xuất các phương án tự doanhchứng khoán cho Giám đốc Công ty Tổ chức tự doanh chứng khoán theođúng quy trình tại trụ sở chính và lập báo cáo, phân tích đánh giá kết quảhoạt động tự doanh toàn Công ty Phối hợp các bộ phận trong Công ty thựchiện công tác tiếp thị, xúc tiến phát triển thị trường và triển khai các sảnphẩm dịch vụ mới có liên quan Đại lý bảo lãnh phát hành Tìm kiếm, thiếtlập, duy trì quan hệ và xây dựng mạng lưới khách hàng sử dụng dịch vụ đại
lý phát hành, bảo lãnh phát hành và các dịch vụ có liên quan Tổ chức triểnkhai các hợp đồng đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành và các dịch vụ khác
có liên quan được ký kết với khách hàng
* Phòng tư vấn, phân tích
Nghiên cứu, phân tích chứng khoán và TTCK Tư vấn đầu tư, tư vấnniêm yết, tư vấn cổ phần hoávà tư vấn tài chính Làm đầu mối công tác tiếpthị, xúc tiến phát triển thị trường Quản lý danh mục đầu tư Nghiên cứu,phân tích Nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ mới Nghiên cứu, phântích tình hình thị trường, ra các bản tin phân tích, bình luận về chứng khoán
và đánh giá các động thái của thị trường Xây dựng hồ sơ doanh nghiệp Dựthảo các kế hoạch kinh doanh năm, quý, báo cáo tổng kết toàn Công ty Tưvấn đầu tư chứng khoán, chú trọng tư vấn mang tính trung, dài hạn, giá trịđầu tư lớn, trên cơ sở hợp đồng có thu phí Tư vấn niêm yết, tư vấn cổ phầnhoá và tư vấn tài chính Cung cấp thông tin chứng khoán và TTCK cho
Trang 27khách hàng và trong nội bộ Công ty Đầu mối công tác tiếp thị, xúc tiến pháttriển thị trường cho Công ty Xây dựng triển khai các phương án tiếp thị, tìmkiếm đối tác tiếp nhận các dịch vụ của Công ty Quản lý danh mục đầu tư.Thực hiện quản lý danh mục đầu tư theo sự uỷ thác của khách hàng.
*Phòng kế toán tài chính và lưu ký
Quản lý tài chính, hạch toán kế toán, thanh toán giao dịch, lưu kýchứng khoán, ngân quỹ Quản lý tài chính Dự thảo kế hoạch tài chính năm,quý trình Giám đốc Công ty phê duyệt và giám sát kết quả thực hiện kếhoạch được duyệt Tổ chức quản lý nguồn vốn của công ty, tham mưu choGiám đốc quản lý tập trung vốn của Ngân hàng công thương Việt Nam cấp,vốn tự có bổ sung, bảo toàn vốn đúng chế độ và giám sát các chi nhánhthuộc công ty sử dụng vốn hiệu quả, đúng mục đích, đúng quy định củapháp luật Giám sát về mặt tài chính trong việc xây dựng và thực hiện kếhoạch mua sắm tài sản, quản lý trang thiết bị, tài sản của Công ty Thammưu cho Giám đốc công ty các vấn đề về phân phối lợi nhuận, sử dụng cácquỹ, thu chi tài chính Tham mưu cho Giám đốc công ty về xây dựng đơngiá tiền lương, thanh toán tiền lương, thưởng Hạch toán kế toán, hạch toáncác nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại công ty Theo dõi biến động tài khoảntiền gửi, tiền vay của Công ty gửi ở các tổ chức tín dụng
Phối hợp với các phòng ban có liên quan trong việc hạch toán kế toánquản lý, điều hành vốn Tổ chức kế toán giao dịch, hạch toánvà quản lý tìnhhình hoạt động tài khoản tiền gửi, chứng khoán lưu ký của khách hàng mởtại Công ty Thanh toán giao dịch Tham mưu cho Giám đốc Công ty trongviệc tổ chức thanh toán tập trung tại trụ sở chính và thống nhất trong toàncông ty gắn với quá trình điều hành vốn theo đúng chế độ hiện hành, đảmbảo mỗi khoản thanh toán an toàn, kịp thời, chính xác Tham gia thanh toán
bù trừ với trung tâm giao dịch chứng khoán, thanh toán với các ngân hàngliên quan
Trang 28*Lưu ký: Tổ chức thực hiện nghiệp vụ lưu ký, tiếp thị về lưu ký đối
với cá nhân và pháp nhân Thực hiện các dịch vụ hỗ trợ nhà đầu tư chứngkhoán liên quan đến hoạt động lưu ký chứng khoán Tổ chức thực hiện hoạtđộng lưu ký thống nhất từ trụ sở chính, chi nhánh và các đại lý giao dịch củaCông ty Quản lý kho lưu ký Ngân quỹ, thực hiện nhận và trả tiền, chứngkhoán chứng chỉ của khách hàng Thu và chi tiền mặt nội bộ Công ty theođúng quy trình thu chi tiền mặt và chứng chỉ có giá hiện hành Nộp và lĩnhtiền mặt tại các ngân hàng thương mại Quản lý an toàn két tiền mặt Côngtác báo cáo, kiểm tra, kiểm soát và các nhiệm vụ khác Lập và tổng hợp cácbáo cáo tài chính kế toán, lưu ký, thống kê của toàn công ty theo đúng chế
độ báo cáo thống kê của Nhà nước, NH Công thương Việt nam, UBCKNN
và các ban ngành liên quan Định kỳ hoặc đột xuất tiến hành kiểm tra côngtác tài chính, lưu ký của trụ sở chính và các chi nhánh để kịp thời phát hiệnsai sót và có biện pháp khắc phục, xử lý Tổ chức thực hiện cơ chế, quy chế,quy trình nghiệp vụ của công tác tài chính, kế toán, lưu kývà hệ thống tàikhoản kế toán theo phân cấp phù hợp với quy định pháp luật và của Bộ tàichính, đáp ứng yêu cầu phát triển nghiệp vụ kinh doanh của Công ty Tổnghợp và cung cấp số liệu cho Ban điều hành Công ty định kỳ hoặc đột xuất đểchỉ đạo hoạt động kinh doanh
Trang 29phận liên quan tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo của Công ty Bố tríphương tiện đi lại phục vụ hoạt động chung của công ty Tổ chức đón tiếp,
bố trí nơi ăn ở và phương tiện đi lại cho khách đến làm việc với Công ty khiGiám đốc yêu cầu Thực hiện công tác lễ tân, tạp vụ Tổ chức thực hiệncông tác an ninh, bảo vệ, giữ gìn an toàn tài sản và an ninh trật tự toàn Công
ty
Quản trị - tin học: Xây dựng kế hoạch mua sắm tài sản và triển khaithực hiện việc mua sắm thiết bị, phương tiện làm việc của công ty theo đúngquy định Tổ chức bảo dưỡng tài sản cố định theo định kỳ Xây dựng vàhướng dẫn thực hiện nội quy, sử dụng trang thiết bị của cơ quan Quản lý hệthống tin học, gồm cả phần cứng và phần mềm, hệ thống mạng máy tính củaCông ty Tổ chức cán bộ và đào tạo Tham mưu cho ban điều hành xây dựng
bộ máy tổ chức nhân sự; sắp xếp, phân công lao động giữa các đơn vị trongcông ty đảm bảo phát huy tốt năng lực của từng cá nhân, đáp ứng yêu cầucông tác kinh doanh Giúp Giám đốc xây dựng kế hoạch đào tạo, quy hoạchcán bộ, làm thủ tục đề bạt cán bộ thuộc thẩm quyền quyết định của Giámđốc Công ty Quản lý lao động và tiền lương Tham mưu cho ban điều hànhcông ty về chính sách, chế độ tiền lương đối với người lao động Tham mưucho Giám đốc công ty trong việc tuyển dụng, ký kết, huỷ bỏ hợp đồng laođộng theo đúng Luật lao động và các quy định về quản lý lao động của Côngty
2.2.4 Môi trường cạnh tranh
Sự góp mặt của CTCK Ngân hàng Công thương đã nâng tổng số CTCK lên
12 trong đó có 5 công ty cổ phần và 7 công ty TNHH Các CTCK đều hoạtđộng ổn định tuân thủ các quy định pháp luật về chứng khoán và TTCK, cácquy định của ủy ban chứng khoán nhà nước Các kết quả kinh doanh cóchiều hướng tốt lên, hầu hết có lãi sớm hơn so với dự kiến Các chỉ tiêu
Trang 30trong báo cáo tài chính cho biết tính đến hết ngày 31/12/2003 các CTCK đều
có tình hình tài chính lành mạnh, khả năng thanh toán được đảm bảo
Cạnh tranh gay gắt trong thị trường nhỏ với tốc độ phát triển tương đốichậm ( theo ước tính của TTGD hiện có khoảng 16.000 nhà đầu tư trên thịtrường ); dẫn đến nhiều hoạt động cạnh tranh không lãnh mạnh Ví dụ, mặc
dù đã có sự thõa thuận giữa các CTCK về việc không tiếp tục giảm phí môigiới, VCBS vẫn sử dụng các hình thức khuyến mãi như dự đoán tỷ số bóng
đá để miễn giảm phí giao dịch nhằm thu hút các nhà đầu tư từ các CTCKkhác
Hiện nay cơ cấu doanh thu của các CTCK đã có sự thay đổi đàng kể Nếunhư trong thời gian đầu, doanh thu từ vốn kinh doanh chiếm tỷ trọng lớntrong doanh thu của CTCK và tiếp đến là các hoạt động tự doanh, môi giớithì đến quý I/2004 doanh thu từ hoạt động tự doanh và môi giới chiểm tỷtrọng đáng kể Tính đến cuối thánh 12/2003 số lượng tài khoản của các nhàđầu tư mở tại các CTCK lên tới 16.000 trong đó tài khoản của các nhà đầu
tư cá nhân là chủ yếu
2.3 Thực trạng các hoạt động kinh doanh của Công ty
Sự kiện trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minhkhai trương và đi vào hoạt động tháng 7/2000 đã đánh dấu một mốc quantrọng trong sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam Bên cạnh hìnhthức gián tiếp thông qua các tổ chức tín dụng, giờ đây các doanh nghiệp vànhà đầu tư còn có thể huy động và đầu tư vốn trực tiếp thông qua TTCK.Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương là công ty thứ 7 đi vào hoạtđộng trên thị trường Ban đầu Ngân hàng Công Thương dự tính chấp nhậnthua lỗ trong ba năm, nhưng thực tế hoạt động cho thấy kết quả kinh doanhkhá khả quan, công ty liên tục làm ăn có lãi và tăng trưởng cao Có đượcđiều này là do sự năng động nhạy bén của ban lãnh đạo công ty cũng nhưđội ngũ nhân viên của các phòng ban Mặt khác công ty cũng nhận được sự
Trang 31hỗ trợ về con người, phương tiện vật chất kỹ thuật của Ngân hàng CôngThương Việt Nam và sự quan tâm quan tâm chỉ đạo của Chính phủ tới thịtrường.
Trang 32Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm
Trang 33Bảng thống kê số lượng tài khoản qua các năm
Đơn vị: tài khoản
Hoạt động với tư cách đại diện trung gian nên công ty được hưởnghoa hồng môi giới Tiền hoa hồng thường được tính phần trăm (%) trên tổnggiá trị mỗi giao dịch Hiện nay, theo quy định của Uỷ ban chứng khoán Nhànước, phí giao dịch khách hàng phải trả cho công ty chứng khoán tối đa là0,45% giá trị giao dịch đối với giao dịch cổ phiếu, 0,15% đối với giao dịchtrái phiếu Tuy nhiên trong chính sách khách hàng của công ty hiện nayđang thực hiện chế độ ưu đãi về hoa hồng môi giới cho các khách hàng códoanh số giao dịch lớn trong tháng (từ 100 triệu đồng trở lên) Doanh thuqua các năm cũng tăng và biến động cùng với xu thế của thị trường Năm
2001 hoạt động môi giới nhộn nhịp, nhưng sang các năm 2002, 2003, thìhoạt động trầm lắng xuống Đầu năm 2004 thị trường khởi sắc trở lại, vớinhững động thái mang tính tích cực
Trang 34Kết quả hoạt động kinh doanh của phòng môi giới:
2.3.2 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư
Cùng với tăng nhanh doanh số của các hoạt động ở các nghiệp vụ đại
lý, bảo lãnh phát hành IBS vẫn hết sức chú trọng các hoạt động dịch vụ tưvấn doanh nghiệp, coi đây là mục tiêu chiến lược lâu dài và căn bản Đã cókhoảng 50 tổ chức doanh nghiệp được IBS chăm sóc thường xuyên và cungcấp dịch vụ liên quan (tư vấn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, tư vấnđịnh giá hoặc tái thẩm định giá trị doanh nghiệp, tư vấn hoàn tất cổ phầnhoá, tư vấn làm trung gian đấu giá phát hành, tư vấn niêm yết, tư vấn đầu tư,lưu ký và thực hiện quyền cổ đông, can thiệp vay cầm cố thế chấp )
Tư vấn cho tổ chức phát hành: Hoạt động tư vấn cho tổ chức phát
hành tương đối đa dạng, từ việc phân tích tài chính đến xác định giá trịdoanh nghiệp, tư vấn về các loại chứng khoán phát hành hay giúp tổ chứcphát hành cơ cấu lại tài chính, hỗ trợ các công ty trong quá trình cổ phần hoáchuyển đổi hình thức sở hữu và phát hành cổ phiếu ra công chúng Nhữngthành công bước đầu trong việc triển khai dịch vụ tư vấn doanh nghiệp đãgiúp công ty tự tin đẩy mạnh nghiệp vụ này trên toàn quốc Đặc biệt, được
sự hậu thuẫn mạnh từ phía NHCTVN cũng như sự tín nhiệm cao của kháchhàng, Công ty đã khẳng định được vị thế của mình trong hoạt động tư vấndoanh nghiệp Điều này được khẳng định trong thời gian rất ngắn từ quý IIIđến nửa đầu quý IV/2003, Công ty đã ký được 10 hợp đồng tư vấn doanhnghiệp tạo nguồn thu khoảng 500 triệu đồng
Trang 35Tư vấn cho khách hàng: Là hoạt động tư vấn cho khách hàng có nhu
cầu tham gia TTCK trong việc đưa ra quyết định liên quan tới mua, bánchứng khoán
Ngoài ra, nghiệp vụ tư vấn còn bao gồm việc đưa ra các thông tinphân tích, nhận định (dưới dạng các ấn phẩm sách, báo, bản tin) của công ty
về diễn biến thị trường và từng loại chứng khoán
Công ty đã tuyển dụng và đào tạo những chuyên gia phân tích tàichính, phân tích thị trường, đồng thời kết hợp với các chuyên gia tín dụngcủa ngân hàng Công Thương Việt Nam trong việc đánh giá tài chính doanhnghiệp
Cùng với môi giới, nghiệp vụ phân tích được triển khai ngay từ đầu
và đến nay đã tạo được sự tín nhiệm không nhỏ đối với khách hàng
Mục đích của hoạt động phân tích là cung cấp cho khách hàng nhữngthông tin và những nhận định riêng của nhà phân tích về từng công ty và cổphiếu niêm yết trên TTCK, từ đó giúp các nhà đầu tư xác định được mức giá
và thời điểm mua bán hợp lý Ngoài ra còn giúp khách hàng tạo lập danhmục đầu tư hợp lý tuỳ thuộc vào yêu cầu nhằm tối đa hoá lợi nhuận tronggiới hạn rủi ro thấp nhất Hiện nay hoạt động phân tích của công ty đượctiến hành dựa trên hai phương pháp chính: phân tích cơ bản (dựa trên tìnhhình hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết) và phân tích
kỹ thuật (dựa trên đồ thị biến động giá và khối lượng các cổ phiếu trên thịtrường)
Hai phương pháp phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản được tiếnhành độc lập với nhau Tuy nhiên việc kết hợp cả hai phương pháp này cũngđem lại hiệu quả cao do chúng có thể bổ sung và hỗ trợ cho nhau
Mức phí cho hoạt động tư vấn sẽ được thoả thuận giữa khách hàngvới công ty Hiện tại, để thực hiện chính sách tiếp thị, công ty không thu phí
Trang 36đối với hoạt động tư vấn Nhưng dự kiến cuối năm 2004 sẽ thu phí đối vớihoạt động này.
2.3.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của công ty là giúp các tổ chức pháthành chuẩn bị các điều kiện cần thiết (tư vấn về cơ cấu lại tài chính doanhnghiệp, trung gian tín dụng), thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứngkhoán (lập hồ sơ xin phép niêm yết, thăm dò thị trường); thực hiện việcphân phối chứng khoán của tổ chức phát hành cho công chúng đầu tư
Theo quy định hiện nay việc bảo lãnh phát hành chứng khoán ở ViệtNam chỉ áp dụng phương thức “cam kết chắc chắn”, nghĩa là công ty camkết sẽ phân phối toàn bộ chứng khoán phát hành, cho dù có thực hiện phânphối được hết ra công chúng hay không Để thực hiện nghiệp vụ này, xuhướng của công ty là sẽ kết hợp với các công ty chứng khoán và các tổ chứctín dụng khác hình thành tổ hợp bảo lãnh để chia sẻ trách nhiệm, hạn chế rủiro
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành sẽ đem lại cho công ty phí bảo lãnh phát hành(hiện nay, phí bảo lãnh phát hành tối đa theo quy định của Uỷ ban chứngkhoán Nhà nước là 3% tổng giá trị bảo lãnh phát hành) và lợi thế là thu hútcác cổ đông của tổ chức phát hành lưu ký cổ phiếu tại công ty Bộ phận bảolãnh đã thực hiện được 20 đợt với tổng giá trị bảo lãnh 2000 tỷ đồng Doanhthu từ bảo lãnh phát hành cũng có sự chuyển hướng tích cực như năm 2002chỉ là 80 triệu đồng, nhưng năm 2003 con số này đã lên tới hơn 5,1 tỷ đồng.Đây là một bước tiến quan trọng của công ty trong việc chiếm lĩnh thịtrường và công tác tiếp thị bảo lãnh phát hành
2.3.4 Phòng tự doanh
Nghiệp vụ tự doanh của công ty là nghiệp vụ mua bán chứng khoánvới nguồn vốn của công ty nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ mua bán và sở hữuchứng khoán Với nghiệp vụ này, công ty có thể tham gia mua bán chứng
Trang 37khoán trên thị trường giao dịch tập trung, trên thị trường phi tập trung (muabán các loại chứng khoán chưa niêm yết), góp vốn vào các doanh nghiệpđang trong quá trình cổ phần hoá, ngoài ra công ty còn có thể thực hiện muabán các giấy tờ có giá như: thương phiếu (hối phiếu, lệnh phiếu), tín phiếukho bạc.
Kết quả hoạt động của bộ phận tự doanh:
2.3.5 Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Là nghiệp vụ giúp khách hàng quản lý vốn thông qua việc mua, bán
và nắm giữ các chứng khoán theo tiêu chí vì quyền lợi của khách hàng vớiphương châm phân tán rủi ro, đảm bảo nguồn doanh lợi
Để thực hiện nghiệp vụ này, giữa công ty và khách hàng sẽ ký hợpđồng trong đó khách hàng uỷ thác cho công ty một số vốn và công ty sẽ thựchiện quản lý số vốn đó với các điều khoản cụ thể theo yêu cầu của kháchhàng (ví dụ về danh mục chứng khoán khách hàng lựa chọn hay đơn thuầnkhách hàng chỉ yêu cầu về tỉ suất lợi nhuận mà danh mục đầu tư đem lại chokhoản vốn mà khách hàng bỏ ra) Nghiệp vụ này sẽ đem lại khoản phí quản
lý danh mục đầu tư cho công ty Từ chỗ chỉ hoạt động kinh doanh trongphạm vi vốn điều lệ được cấp, bước sang năm 2003 IBS đã mạnh dạn vayvốn và nhận uỷ thác đầu tư hàng trăm tỷ đồng từ các ngân hàng thương mại
để đầu tư tài chính, đảm bảo thanh khoản, an toàn, hiệu quả cao nên đượccác đối tác hết sức tin cậy Năm 2001 chỉ mới có 420 triệu đồng nhưng đến
Trang 38cuối năm 2003 IBS đã nhận uỷ thác đầu tư gần 400 tỷ đồng, quản lý danhmục đầu tư tự doanh hơn 300 tỷ đồng.
2.3.6 Nghiệp vụ lưu ký và đăng ký chứng khoán
Để thực hiện nghiệp vụ này, công ty đăng ký là thành viên của trungtâm lưu ký và có cán bộ thực hiện công tác lưu ký chứng khoán Việc lưu ký
có thể do khách hàng mang chứng khoán đến công ty hoặc cán bộ lưu kýnhận chứng khoán tại địa điểm khách hàng yêu cầu Sau khi nhận lưu ký củakhách hàng, công ty thực hiện tái lưu ký các chứng khoán tại trung tâm lưu
ký để đảm bảo điều kiện giao dịch cho chứng khoán Số lượng chứng khoánđược lưu ký tại công ty chứng khoán công thương hàng năm đều tăng khá,phản ánh sự tin tưởng của nhà đầu tư khi lựa chọn công ty
(Đơn vị tính: cổ phiếu, trái phiếu)
Phí lưu ký chứng khoán mà công ty thu của khách hàng được tính trên
cơ sở mức phí do Trung tâm lưu ký quy định đối với thành viên lưu ký(công ty) và cộng thêm một tỷ lệ thoả thuận giữa khách hàng và công ty
Bộ tài chính đã ban hành các mức biểu phí cho hoạt động lưu ký củatrung tâm giao dịch chứng khoán nhưng do thời gian đầu của TTCK nên cácmức phí này đang được thực hiện miễn giảm 100% Do đó, cũng như các tổchức lưu ký khác, công ty không thu phí lưu ký đối với khách hàng Tuynhiên doanh thu mang lại cho công ty chứng khoán chủ yếu là thu phí từchứng khoán chưa niêm yết trên thị trường
Kết quả hoạt động lưu ký chứng khoán
Trang 39Cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán: Theo quy định về thanhtoán bừ trừ của trung tâm giao dịch chứng khoán, nếu khách hàng bán chứngkhoán vào ngày T+0 thì đến tận ngày T+2 họ mới nhận được tiền thông quacông ty chứng khoán Nếu thời điểm bán chứng khoán rơi vào giữa hoặccuối tuần thì họ nhận được tiền sau 5 ngày (do nghỉ 2 ngày cuối tuần) Donhu cầu tiền mặt hoặc nhu cầu đầu tư vào chứng khoán khác nên khách hàngrất muốn nhận được tiền ngay sau khi bán được chứng khoán.
Vì vậy, IBS có thể phối hợp với chi nhánh của NHCT Việt Nam chokhách hàng vay ứng trước tiền bán chứng khoán Sau khi tiền bán chứngkhoán của khách hàng được Ngân hàng chỉ định thanh toán( Ngân hàng đầu
tư và phát triển) chuyển vào tài khoản của IBS, IBS sẽ đứng ra thu hộ tiềnvay (cả gốc và lãi) cho NHCT Việt Nam
Hình thức cho vay này hầu như không có rủi ro vì nếu khách hàng đãbán được chứng khoán (có xác nhận của trung tâm giao dịch chứng khoán)thì họ sẽ chắc chắn nhận được tiền IBS đóng vai trò trung gian trong quá
Trang 40trình cho vay và thu nợ (thẩm định món vay và thu nợ hộ chi nhánh), chinhánh NHCT Việt Nam phê duyệt hồ sơ cho vay và giải ngân.
Cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán, thực hiện việc cầm cốchứng khoán: Trong quá trình tham gia TTCK xuất hiện nhu cầu mua chứngkhoán của khách hàng nhưng họ còn thiếu tiền hay khách hàng nắm giữchứng khoán có nhu cầu cần tiền nhưng đồng thời họ vẫn muốn lưu giữnhững chứng khoán đó để được hưởng những quyền lợi do chứng khoánmang lại (cổ tức, quyền mua chứng khoán mới, quyền bầu cử) Do vậy cóthể cho khách hàng vay tiền mua chứng khoán hoặc cầm cố chứng khoáncủa khách hàng Đây là hoạt động sinh lời, vừa an toàn, vừa giúp cho công
ty thu hút được khách hàng vì theo quy định của pháp luật công ty chứngkhoán không được trực tiếp thực hiện các hoạt động tín dụng
Lập Đại lý nhận lệnh tại các chi nhánh: Đại lý nhận lệnh là các phápnhân kết hợp với công ty chứng khoán trong việc nhận lệnh giao dịch củakhách hàng kinh doanh chứng khoán Tính đến nay, NHCT Việt Nam cóhơn 1000 chi nhánh trải rộng trên địa bàn cả nước Chính vì vậy, việc xâydựng mạng lưới Phòng giao dịch và Đại lý nhận lệnh của công ty có thể tậndụng được cơ sở vật chất kỹ thuật và mạng lưới của NHCT Việt Nam vàmang lại cho IBS và các chi nhánh một khả năng cung cấp dịch vụ có lời vàkhông rủi ro Đồng thời, việc xây dựng mạng lưới các đại lý nhận lệnh củaIBS có thêm khả năng cung cấp dịch vụ miễn phí (hiện tại là 5%), đã giúpcác chi nhánh và khách hàng của IBS Việt Nam tiếp cận TTCK, mặt khácphối hợp với các chi nhánh NHCT Việt Nam thực hiện chu trình khép kíncác sản phẩm dịch vụ cho khách hàng Lập thêm 5 đại lý nhận lệnh tại cácchi nhánh Ngân hàng Công Thương Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu, ĐàNẵng, Cần Thơ, Khu công nghiệp Biên Hoà, NHCT 5 Thành phố Hồ ChíMinh