1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại việt nam

68 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1 Đặt vấn đề (9)
    • 1.2 Câu hỏi nghiên cứu (10)
    • 1.3 Phương pháp nghiên cứu (10)
    • 1.4 Kết cấu của luận văn (11)
  • CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN (12)
    • 2.1 Tổng quan về khả năng thanh khoản (12)
      • 2.1.1 Khái niệm thanh khoản (12)
      • 2.1.2 Phân loại rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro (12)
      • 2.1.3 Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản (13)
    • 2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về khả năng thanh khoản (15)
      • 2.2.1 Các nghiên cứu quốc tế về khả năng thanh khoản (15)
      • 2.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về khả năng thanh khoản (22)
  • CHƯƠNG III: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 3.1 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm (25)
    • 3.2 Mô hình nghiên cứu (27)
    • 3.3 Mô tả biến được sử dụng trong mô hình (28)
    • 3.4 Trình tự thực hiện chạy mô hình nghiên cứu thực nghiệm (29)
  • CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (31)
    • 4.1 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm (31)
    • 4.2 Bảng thống kê mô tả (31)
    • 4.3 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu (32)
    • 4.4 Kiểm định các khuyết tật của các mô hình hồi quy (34)
    • 4.5 Phân tích kết quả các mô hình nghiên cứu thực nghiệm (37)
  • CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU (43)
    • 5.1 Kết luận của bài nghiên cứu (43)
    • 5.2 Những đề xuất cho các ngân hàng tại Việt Nam (44)
    • 5.2 Hạn chế của đề tài nghiên cứu (0)
    • 5.3 Hướng nghiên cứu tiếp theo (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)

Nội dung

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Đặt vấn đề

Thanh khoản là yếu tố then chốt trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Năm 2018, nền kinh tế Việt Nam có nhiều yếu tố thuận lợi như xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tích cực, cùng với sự ổn định của kinh tế vĩ mô Kết quả tăng trưởng cao trong năm 2017 sẽ tiếp tục kích thích tiêu dùng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và cải thiện tính thanh khoản Hệ thống ngân hàng duy trì tính thanh khoản tương đối ổn định, với tỷ lệ tín dụng trên huy động bình quân đạt khoảng 87,3%, tăng từ 85,6% của năm 2016.

Quản lý rủi ro thanh khoản hiệu quả là yếu tố then chốt giúp hệ thống ngân hàng hoạt động trơn tru và giảm thiểu các rủi ro trong quá trình vận hành Rủi ro thanh khoản không chỉ tác động đến từng ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Các ngân hàng toàn cầu đang đối mặt với khủng hoảng thanh khoản do quản lý kém Việc quản lý rủi ro thanh khoản trở nên quan trọng, vì tất cả giao dịch đều ảnh hưởng đến tính thanh khoản Rủi ro thanh khoản hiện là yếu tố then chốt trong quản lý rủi ro ngân hàng Khung thanh khoản cần duy trì đủ khả năng để ứng phó với các điều kiện bất lợi Đánh giá thường xuyên khung quản lý rủi ro thanh khoản là hành động giám sát thiết yếu để đảm bảo hoạt động hiệu quả của ngân hàng.

Nhiều ngân hàng đã bỏ qua các nguyên tắc cơ bản trong quản lý rủi ro thanh khoản khi thị trường có thanh khoản dồi dào Họ thiếu khung tính toán hợp lý cho các rủi ro thanh khoản phát sinh từ sản phẩm và ngành nghề kinh doanh, dẫn đến việc các ưu đãi không phù hợp với khả năng chịu rủi ro tổng thể của ngân hàng Ngoài ra, nhiều ngân hàng cũng không xem xét đầy đủ lượng thanh khoản cần thiết để đáp ứng các nghĩa vụ hợp đồng và không hợp đồng.

Bài nghiên cứu "Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2017" phân tích dữ liệu từ 27 ngân hàng thương mại trong thời gian này Nghiên cứu ước tính hai biện pháp thanh khoản là tỷ lệ tài sản thanh khoản trên tổng tài sản và tổng cho vay trên tổng tiền gửi để kiểm định các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản Kết quả cho thấy rằng tỷ số vốn trên tổng tài sản, chi phí hoạt động trên tổng tài sản, tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng đáng kể đến thanh khoản ngân hàng, trong khi quy mô, tổng số tiền vay trên tổng tài sản, chi phí tài chính trên tổng tín dụng và tổng tiền gửi trên tổng tài sản không có tác động đáng kể.

Kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017.

Câu hỏi nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017 là gì ?

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên số liệu báo cáo tài chính của 27 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, không bao gồm các ngân hàng 100% vốn nhà nước, ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam và ngân hàng liên doanh nước ngoài, trong giai đoạn từ năm 2007 đến 2017.

Tác giả thu thập dữ liệu nghiên cứu từ các báo cáo tài chính hàng năm của ngân hàng thương mại cổ phần, sử dụng hai nguồn dữ liệu chính để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin.

Bankscope và Obis bank focus Bên cạnh đó tác giả cũng thu thập dữ liệu từ Website của ngân hàng thế giới (Workbank), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF),

Nghiên cứu này áp dụng dữ liệu dạng bảng và sử dụng mô hình hồi quy GMM để thực hiện phân tích thực nghiệm Ngoài ra, tác giả cũng áp dụng các mô hình phụ như mô hình bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) nhằm so sánh và đưa ra những kết quả nghiên cứu có ý nghĩa.

Kết cấu của luận văn

Bài luận văn có 5 chương, bao gồm:

Chương I: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

Chương II: Tổng quan về thanh khoản và những nghiên cứu thực nghiệm về khả năng thanh khoản

Chương III: Dữ liệu nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu

Chương IV: Kết quả nghiên cứu

Chương V: Kết luận và hạn chế của bài nghiên cứu.

TỔNG QUAN VỀ THANH KHOẢN VÀ NHỮNG NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ KHẢ NĂNG THANH KHOẢN

Tổng quan về khả năng thanh khoản

Theo Governor Kevin Warsh (2007), thanh khoản truyền thống liên quan đến khả năng chuyển đổi tài sản thành tài sản khác mà không mất giá trị Các tài sản như tiền có tính thanh khoản cao vì chúng có thể được sử dụng để trao đổi hàng hóa và dịch vụ mà không làm giảm giá trị Tính thanh khoản giao dịch phản ánh khả năng thực hiện giao dịch nhanh chóng mà không ảnh hưởng đến giá cả, đạt được tối ưu khi có nhiều người mua và bán sẵn sàng giao dịch Giao dịch được hỗ trợ bởi các nhà làm thị trường và nhà đầu cơ Theo Ủy ban Basel, mục tiêu của tỷ lệ bảo hiểm thanh khoản (LRC) là thúc đẩy khả năng phục hồi ngắn hạn của hồ sơ rủi ro thanh khoản của các ngân hàng, đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ tài sản thanh khoản cao để không bị cản trở.

Theo Governor Jeremy C Stein (2013), tài sản có khả năng thanh khoản cao (HQLA) có thể dễ dàng và ngay lập tức được chuyển đổi thành tiền mặt trên thị trường tư nhân, nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong một khoảng thời gian ngắn.

2.1.2 Phân loại rủi ro và nguyên nhân gây ra rủi ro

Rủi ro thanh khoản là một trong những nội dung trọng tâm và được định nghĩa tại Điểm C Khoản 2 Điều 8 Thông tư 08/2017/TT- NHNN Cụ thể như sau:

Rủi ro thanh khoản là tình trạng mà tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn Điều này có thể xảy ra khi họ có khả năng thanh toán nhưng phải chịu chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó.

Rủi ro hoạt động là rủi ro phát sinh từ quy trình nội bộ không đầy đủ hoặc có sai sót, do yếu tố con người, lỗi hệ thống hoặc các yếu tố bên ngoài, gây tổn thất tài chính và tác động tiêu cực phi tài chính đến tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm cả rủi ro pháp lý Tuy nhiên, rủi ro hoạt động không bao gồm rủi ro danh tiếng và rủi ro chiến lược.

Rủi ro danh tiếng xảy ra khi khách hàng, đối tác, cổ đông, nhà đầu tư hoặc công chúng có phản ứng tiêu cực đối với uy tín của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Rủi ro chiến lược trong tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài xuất hiện khi không có hoặc không thực hiện kịp thời các chiến lược, chính sách ứng phó với những thay đổi của môi trường kinh doanh Điều này có thể làm giảm khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh và lợi nhuận của tổ chức.

2.1.3 Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh khoản

 Tỷ lệ dự trữ thanh khoản được xác định theo công thức sau:

Tỷ lệ dự trữ thanh khoản (%) Tài sản có tính thanh Khoản cao x 100 Tổng Nợ phải trả

– Tài sản có tính thanh khoản cao được đề cập mục phân loại tài sản;

Tổng Nợ phải trả được xác định bằng cách lấy Khoản Mục Tổng Nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán trừ đi các Khoản vay từ Ngân hàng Nhà nước, bao gồm các giao dịch như bán có kỳ hạn giấy tờ có giá qua thị trường mở, chiết khấu và cầm cố giấy tờ có giá, cũng như các khoản vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng Ngoài ra, cũng cần trừ đi Khoản vay từ các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài dưới hình thức chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá được sử dụng trong giao dịch của Ngân hàng Nhà nước.

 Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày được xác định theo công thức sau:

Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày

Tài sản có tính thanh Khoản cao x 100 Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo

– Tài sản có tính thanh khoản cao được đề cập mục phân loại tài sản;

– Dòng tiền ra ròng trong 30 ngày tiếp theo là chênh lệch giữa dòng tiền ra của

30 ngày liên tiếp kể từ ngày hôm sau và dòng tiền vào của 30 ngày liên tiếp kể từ ngày hôm sau được quy định Thông tư này

 Do lường bằng cung cầu thanh khoản

Nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm:

– Các khoản tiền gửi sẽ nhận được (S1)

– Thu nhập từ việc cung cấp các dịch vụ (S2)

– Các khoản tín dụng sẽ thu về (S3)

– Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4)

– Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5)

Trong lĩnh vực ngân hàng, những hoạt động sau đây tạo ra nhu cầu về thanh khoản:

Khách hàng thực hiện rút tiền gửi (D1) và đề nghị vay vốn (D2) trong khi ngân hàng cần thanh toán các khoản phải trả khác (D3) Đồng thời, ngân hàng cũng phải chi trả cho chi phí tạo ra sản phẩm và dịch vụ (D4) và thanh toán cổ tức cho cổ đông (D5).

Các nghiên cứu thực nghiệm về khả năng thanh khoản

2.2.1 Các nghiên cứu quốc tế về khả năng thanh khoản

Theo Aikaeli (2006), các yếu tố như rủi ro tín dụng, mức độ tài trợ thích hợp, ưu tiên tiền mặt và sự biến động của tiền gửi là những yếu tố quyết định chính dẫn đến dư thừa thanh khoản ngân hàng Nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí cao của các quỹ, rủi ro tín dụng, biến động tiền mặt của chủ sở hữu tiền gửi và tỷ lệ dự trữ bắt buộc đều ảnh hưởng đến thanh khoản dư thừa tại các ngân hàng thương mại ở Tanzania Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng về chính sách, góp phần vào sự ổn định giá cả, giảm thiểu rủi ro, giám sát hợp lý và quản lý thanh khoản tối ưu cho các ngân hàng thương mại.

Nghiên cứu của Vodova (2011) chỉ ra rằng các yếu tố kinh tế vĩ mô và đặc thù của ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến thanh khoản ngân hàng Sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, các ngân hàng đã chú trọng hơn đến thanh khoản và vai trò của nó trong hiệu suất ngành ngân hàng và thị trường tài chính Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ tích cực giữa thanh khoản ngân hàng với an toàn vốn, tỷ lệ nợ xấu, và lãi suất cho vay cũng như giao dịch liên ngân hàng Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra tác động tiêu cực của tỷ lệ lạm phát, chu kỳ kinh doanh và khủng hoảng tài chính đến thanh khoản Tuy nhiên, mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và thanh khoản lại không rõ ràng.

Nghiên cứu của Theo Rauch và cộng sự (2010) đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng tại Đức trong giai đoạn 1997-2006, cho thấy rằng quy mô ngân hàng, lợi nhuận và lãi suất chính sách tiền tệ có mối quan hệ ngược chiều với thanh khoản ngân hàng, trong khi giá trị thanh khoản chậm lại có mối quan hệ cùng chiều Nghiên cứu phân loại các yếu tố quyết định thanh khoản thành hai nhóm: yếu tố kinh tế vĩ mô như chính sách tiền tệ và các chỉ số sức mạnh kinh tế, và yếu tố đặc trưng của ngân hàng như quy mô và ngành nghề Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét tác động của việc xóa bỏ các khoản bảo lãnh của nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng công, cho thấy rằng việc tạo ra thanh khoản phụ thuộc nhiều vào chính sách thắt chặt tiền tệ, với việc thắt chặt này làm giảm thanh khoản Tuy nhiên, nghiên cứu không phát hiện yếu tố cụ thể nào của ngân hàng, như hiệu suất tài chính hay quy mô, ảnh hưởng đến việc tạo ra thanh khoản.

Saxegaard (2006) đã nghiên cứu mô hình thanh khoản dư thừa ở các quốc gia châu Phi thuộc khu vực sub-Saharan bằng phương pháp SVAR (cấu trúc của VaR) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thanh khoản dư thừa đã làm thay đổi quá trình truyền dẫn chính sách tiền tệ, dẫn đến việc các cơ quan tiền tệ không thể kiểm soát hiệu quả nhu cầu về tiền tệ.

Nghiên cứu của Choon et al (2013) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của 15 ngân hàng thương mại tại Malaysia trong giai đoạn 2003-2012, sử dụng dữ liệu hàng năm với mô hình bảng cố định Kết quả cho thấy tất cả các yếu tố như quy mô ngân hàng, độ an toàn vốn, lợi nhuận và tín dụng đều có ý nghĩa ngoại trừ lãi suất liên ngân hàng Các yếu tố tích cực tác động đến thanh khoản bao gồm các khoản vay, lợi nhuận và GDP, trong khi quy mô ngân hàng, khủng hoảng tài chính và lãi suất liên ngân hàng có ảnh hưởng nghịch chiều nhưng không đáng kể.

Nghiên cứu của Hovarth et al (2012) về ngân hàng Séc từ năm 2000 đến 2010 cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa việc tạo ra thanh khoản và vốn ngân hàng, chỉ ra rằng Basel III có thể làm giảm khả năng thanh khoản Mặc dù việc tạo ra thanh khoản cao có thể dẫn đến giảm khả năng thanh toán của ngân hàng, nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự mở rộng thanh khoản đã bị chậm lại do khủng hoảng tài chính, chủ yếu ảnh hưởng đến các ngân hàng lớn Những phát hiện này hỗ trợ quan điểm rằng cải cách Basel III có thể hạn chế sự sáng tạo thanh khoản, đồng thời cho thấy rằng việc tăng cường thanh khoản có thể gây ra tác động bất lợi đối với khả năng thanh toán của ngân hàng.

Theo nghiên cứu của Theo Berger và Bouwman (2009), hai giả định về động lực của vốn ngân hàng trong việc tạo ra tính thanh khoản đã được đưa ra Tác giả đã xây dựng bốn biện pháp và áp dụng chúng cho dữ liệu của hầu hết các ngân hàng Hoa Kỳ từ năm 1993 đến 2003 Kết quả cho thấy thanh khoản ngân hàng đã tăng trưởng hàng năm, đạt mức hơn 2.8 nghìn tỷ đô la vào năm 2003, với các ngân hàng lớn, ngân hàng thành viên đa ngân hàng và ngân hàng bán lẻ tạo ra tính thanh khoản cao nhất Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thanh khoản ngân hàng có mối tương quan thuận với giá trị ngân hàng, đồng thời có sự khác biệt trong mối quan hệ giữa vốn và thanh khoản, với mối quan hệ tích cực đối với các ngân hàng lớn và tiêu cực đối với các ngân hàng nhỏ.

Lartey et al (2013) đã chứng minh rằng có mối quan hệ tích cực giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của các ngân hàng niêm yết tại Ghana, với bảy trong chín ngân hàng tham gia nghiên cứu Phân tích tài liệu được sử dụng như phương pháp chính để thu thập dữ liệu thứ cấp cho nghiên cứu này.

Bài viết nghiên cứu các báo cáo tài chính của bảy ngân hàng niêm yết, chỉ ra rằng tỷ lệ thanh khoản chính đã giảm sút ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời Trong giai đoạn 2005-2010, cả thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng niêm yết đều có xu hướng giảm Hơn nữa, nghiên cứu cũng phát hiện mối quan hệ cùng chiều giữa thanh khoản và lợi nhuận của các ngân hàng tại Ghana.

Valla và SaerEscorbia (2006) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của ngân hàng ở Anh, cho thấy rằng lợi nhuận, tăng trưởng tín dụng, GDP, chính sách tiền tệ và lãi suất có tác động nghịch chiều đến thanh khoản Theo Gatev (2007), rủi ro thanh khoản trong ngành ngân hàng chủ yếu xuất phát từ tiền gửi giao dịch và khả năng đáp ứng của ngân hàng trong thời kỳ khủng hoảng Nghiên cứu cho thấy rằng tiền gửi giao dịch giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro thanh khoản từ các cam kết cho vay, và sự biến động của hàng tồn kho ngân hàng tăng lên đối với các cam kết không sử dụng, đặc biệt là ở những ngân hàng có mức tiền gửi giao dịch thấp Trong thời kỳ thanh khoản chặt chẽ, việc cho vay từ tiền gửi này trở nên quan trọng hơn khi các nhà đầu tư có xu hướng chuyển tiền vào ngân hàng.

Cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2012 đã chỉ ra rằng thiếu thanh khoản ngân hàng là nguyên nhân chính gây ra rủi ro trong hoạt động ngân hàng Nhiều ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý quỹ do hiểu lầm về rủi ro thanh khoản Kết quả phân tích cho thấy sự ảnh hưởng của cả hai yếu tố quyết định đến tỷ lệ thanh khoản, phù hợp với tài liệu trước đó Giai đoạn trước khủng hoảng (2008-2010) được quan sát riêng biệt, trong khi Z-score, một chỉ số quan trọng cho sự ổn định ngân hàng, có tác động đáng kể đến thanh khoản trong những năm khủng hoảng.

Nghiên cứu của Theo Aspachs (2005) cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định chính sách thanh khoản của các ngân hàng Anh, phân tích cả yếu tố riêng lẻ và vĩ mô Kết quả cho thấy rằng mức độ hỗ trợ từ ngân hàng trung ương trong thời kỳ khủng hoảng thanh khoản có ảnh hưởng đến lượng thanh khoản mà ngân hàng giữ, với mức thấp hơn khi có sự hỗ trợ lớn Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng Anh thực hiện chính sách thanh khoản theo chu kỳ, với mức thanh khoản giảm trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế.

Theo Olokoyo (2011), tỷ lệ thanh khoản được xác định bằng tổng số tiền và số dư của ngân hàng trung ương, số dư và tiền gửi của ngân hàng và các tổ chức tài chính, chia cho tổng tài sản Tỷ lệ thanh khoản so với tổng tài sản phản ánh khả năng thanh khoản mà ngân hàng nắm giữ, là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quy mô cho vay Một tỷ lệ thanh khoản cao có thể dẫn đến việc giảm tỷ lệ cho vay, dự kiến sẽ có tác động tiêu cực đến tỷ trọng các cơ sở tín dụng.

Theo Chagwiza (2014), ALA chỉ ra rằng khả năng hấp thụ cú sốc thanh khoản của ngân hàng được thể hiện qua tỷ lệ thanh khoản Tỷ lệ thanh khoản cao hơn cho thấy ngân hàng có khả năng tốt hơn trong việc đáp ứng các yêu cầu rút tiền ngay lập tức.

Sử dụng ROA làm biến phụ thuộc giúp so sánh kết quả với các nghiên cứu khác, đồng thời phản ánh khả năng của ngân hàng trong việc sử dụng dữ liệu tài chính và tài nguyên bất động sản để tạo ra lợi nhuận (Khrawish, 2011; Ongore và Kusa, 2013).

DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

Khả năng thanh khoản của ngân hàng là một chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, như đã được trình bày trong chương 2 của bài viết Các nghiên cứu tiêu biểu, như của Rafik (2013), Vodova (2011) và Mohamed Aymen Ben Moussa (2015), đã áp dụng phương pháp hồi quy GMM để phân tích thanh khoản trong bối cảnh Tunisia Từ những nghiên cứu này, tác giả mong muốn xây dựng cơ sở cho các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu dạng bảng và tiến hành thực nghiệm với các phương pháp hồi quy cho dữ liệu bảng, bao gồm mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) Tuy nhiên, các mô hình này gặp phải các vấn đề như đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và nội sinh, dẫn đến kết quả không chính xác và khó ứng dụng trong thực tế Để khắc phục những khuyết tật này, tác giả đã chọn mô hình hồi quy Moment tổng quát (GMM) làm mô hình chính, vì GMM không chỉ giải quyết được các vấn đề của OLS, FEM và REM mà còn xử lý hiệu quả hiện tượng nội sinh.

Việc áp dụng đa dạng mô hình nghiên cứu cho phép tác giả đánh giá độ phù hợp và tính chính xác của kết quả Đồng thời, nó cũng giúp tác giả nhận diện những ưu nhược điểm của từng mô hình, từ đó đưa ra lựa chọn đúng đắn cho các biến nghiên cứu được đưa vào mô hình.

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên báo cáo tài chính hợp nhất cuối năm của 27 ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2007 đến 2017.

Ngân hàng TMCP An Bình, Á Châu, Đầu tư và phát triển Việt Nam, Công Thương, Đông Á, Xuất nhập khẩu Việt Nam, Ngoại Thương, Việt Nam Thịnh Vượng, Tiên Phong, Phương Đông, Kiên Long, Nam Á, Sài Gòn, Sài Gòn Thương Tín, Việt Á, Hàng Hải, Quân Đội, Phát Triển TP.HCM, Quốc Tế Việt Nam, Kĩ Thương, Quốc Dân, Đông Nam Á, Sài Gòn Công Thương, Xăng Dầu Petrolimex, Sài Gòn - Hà Nội, Bưu Điện Liên Việt, và Bản Việt là những ngân hàng thương mại cổ phần nổi bật tại Việt Nam, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.

Trong nghiên cứu này, tác giả không chọn ngân hàng thương mại cổ phần 100% vốn nhà nước, ngân hàng TMCP nước ngoài có chi nhánh tại Việt Nam, và ngân hàng liên doanh nước ngoài Nguyên nhân là do ngân hàng 100% vốn nhà nước có chính sách hoạt động khác biệt và không bị ảnh hưởng bởi ý kiến của cổ đông khi quyết định các chính sách mới Trong khi đó, ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam bị hạn chế về lĩnh vực hoạt động so với ngân hàng nội địa, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã nới lỏng quy định Hơn nữa, các chính sách hoạt động của những ngân hàng này còn chịu sự chi phối mạnh mẽ từ ngân hàng mẹ ở nước ngoài, dẫn đến nhiều bất cập trong hoạt động.

Ngân hàng liên doanh nước ngoài tại Việt Nam hiện đang gặp khó khăn trong việc thu thập dữ liệu hoạt động do số liệu còn hạn chế, dẫn đến những bất cập tương tự như các ngân hàng nước ngoài khác hoạt động trong nước.

Tác giả đã giới hạn mẫu nghiên cứu ở 27 ngân hàng, với số liệu thu thập đầy đủ và phù hợp với điều kiện của mô hình nghiên cứu.

Nguồn thu thập số liệu

Trong bài nghiên cứu, tác giả đã thu thập các số liệu nội tại của ngân hàng từ báo cáo tài chính thông qua hai nguồn chính là Bankscope và Obis Bank Focus Đối với số liệu vĩ mô, tác giả chủ yếu sử dụng thông tin từ website của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổng cục Thống kê Việt Nam và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu, tác giả sẽ phân tích sâu hơn về mô hình nghiên cứu thực nghiệm, đồng thời diễn giải chi tiết các biến nghiên cứu được áp dụng trong mô hình này.

Mô hình nghiên cứu

Bài nghiên cứu của tác giả Mohamed Aymen Ben Moussa (2015) được thực hiện tại Tunisia nhằm áp dụng cho các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam, với mục tiêu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng Tác giả đã lựa chọn các biến vi mô và vĩ mô để đưa vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm của mình.

ALA i,t = b0 + b1 ALA i,t-1 + b2ROAi,t + b3ROEi,t + b4NIMi,t + b5SIZEi,t + b6CAPi,t + b7TLAi,t + b8CEAi,t + b9CFCi,t + b10TDEPOSITi,t + b11TINFi,t + b12TPIBi,t + ei,t

Trong nghiên cứu này, i đại diện cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, t là thời gian nghiên cứu theo năm, t-1 thể hiện độ trễ của biến nghiên cứu, b i là hệ số chặn, và e là phần dư của mô hình.

Mô tả biến được sử dụng trong mô hình

Bảng 3.3 Mô tả các biến nghiên cứu

Biến Đo lường Kỳ vọng dấu Nguồn Biến phụ thuộc

ALA Tổng tài sản có tính thanh khoản cao / Tổng tài sản BCTC NH

ROA Lợi nhuận sau thuế/ Tổng tài sản + BCTC NH

ROE Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu + BCTC NH

SIZE Logarit tổng tài sản + BCTC NH

CAP Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản + BCTC NH

TLA Tổng cho vay / Tổng tài sản + BCTC NH

CEA Chi phí hoạt động/ Tổng tài sản - BCTC NH

CFC Chi phí tài chính/ Tổng tài sản - BCTC NH

TDEPOSIT Tổng tiền gửi / Tổng tài sản + BCTC NH

TPIB Tỷ lệ tăng trưởng sản phẩm quốc nội - WorldBank

TINF Tỷ lệ lạm phát - IMF

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

Trình tự thực hiện chạy mô hình nghiên cứu thực nghiệm

Sau khi tổng hợp đầy đủ số liệu nghiên cứu và xác định mô hình nghiên cứu phù hợp, tác giả thực hiện hồi quy theo các bước đã được lập trình sẵn.

Bước đầu tiên trong nghiên cứu là thống kê các biến đã chọn để sử dụng trong mô hình bằng cách chạy bảng thống kê mô tả Đồng thời, cần kiểm tra sự tự tương quan giữa các cặp biến trong mô hình nghiên cứu thực nghiệm thông qua ma trận hệ số tương quan.

Bước 2, tác giả thực hiện chạy các mô hình hồi quy khác nhau như Pooled OLS, FEM và REM Sau khi hoàn thành, tác giả lựa chọn mô hình hồi quy tối ưu và tiến hành kiểm tra các khuyết tật của mô hình đã chọn, đồng thời đề xuất các biện pháp khắc phục cho từng mô hình.

Bước 3, tiến hành chạy mô hình hồi quy bằng phương pháp GMM và so sánh kết quả thu được từ các mô hình phù hợp đã được lựa chọn trước đó với kết quả từ mô hình hồi quy GMM Qua đó, đưa ra kết luận về tác động của các biến nghiên cứu đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.

Trong chương này, tác giả trình bày phương pháp tính toán các biến nghiên cứu và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng các nguồn dữ liệu đáng tin cậy như Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế Điều này đảm bảo rằng các biến được áp dụng trong mô hình nghiên cứu có độ chính xác cao.

Lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp là yếu tố quan trọng, giúp đảm bảo rằng kết quả thu được có ý nghĩa thực tiễn và có thể áp dụng hiệu quả cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Tác giả trình bày quy trình thực hiện mô hình nghiên cứu thực nghiệm một cách hệ thống, nhằm kiểm tra và khắc phục các khuyết tật của mô hình đã chọn, từ đó đảm bảo độ chính xác của kết quả nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Sau khi xác định các biến nghiên cứu và công thức tính toán cho nghiên cứu thực nghiệm, tác giả tiến hành mô hình hóa dữ liệu cho 27 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay.

2017, ta thu được số lượng quan sát là 297 quan sát

Tác giả đã tiến hành mô hình hồi quy với các phương pháp OLS, FEM, REM và GMM dựa trên số lượng quan sát thu thập được Kết quả từ các mô hình này được so sánh để đánh giá tác động của các biến độc lập đến các biến phụ thuộc, từ đó xem xét sự tương quan giữa các biến trong nghiên cứu.

Bảng thống kê mô tả

Bảng 4.2 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

Tên biến Số quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Min Max

(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)

27 = số lượng ngân hàng trong mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1 cho thấy tổng số quan sát tối đa là 297, tương ứng với 11 năm Mặc dù một số biến số không đạt đủ 297 quan sát do thiếu số liệu ở một vài năm, nhưng điều này không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả nghiên cứu Đặc biệt, giá trị thấp nhất của các biến ROA và ROE bị âm là do một số ngân hàng không có lợi nhuận trong một số năm, dẫn đến lợi nhuận sau thuế âm và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản cũng bị âm.

Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu

Bảng 4.3 Ma trận hệ số tương quan

ROA ROE SIZE CAP TLA CEA CFC TDEPOSIT TPIB TINF

(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)

Cặp biến có hệ số tương quan lớn hơn 0.8 là tương quan mạnh , nằm trong 0.4 – 0.8 tương quan trung bình và nhỏ hơn 0.4 là tương quan yếu

Từ Bảng 4.2, tác giả nhận thấy chỉ có cặp biến ROA & ROE có độ tương quan trung bình trong khoảng 0.4 - 0.8, trong khi các cặp biến còn lại có độ tương quan yếu Điều này cho thấy các biến trong mô hình nghiên cứu gần như không bị hiện tượng đa cộng tuyến, và việc đưa vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm sẽ không ảnh hưởng đến kết quả Tác giả sẽ tiếp tục thực hiện mô hình hồi quy và kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến cho từng biến trong mô hình nghiên cứu.

Kiểm định các khuyết tật của các mô hình hồi quy

Để kiểm định đa cộng tuyến, tác giả bắt đầu bằng việc thực hiện mô hình hồi quy OLS Sau khi thu được kết quả, tác giả tiến hành kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng phương pháp VIF Nếu hệ số VIF lớn hơn 10, điều này cho thấy sự xuất hiện của đa cộng tuyến trong mô hình.

Bảng 4.4 Kiểm định đa cộng tuyến

(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)

Kết quả phân tích cho thấy hầu hết các biến trong mô hình đều có hệ số VIF nhỏ hơn 10, với hệ số VIF trung bình là 2.81, cho thấy hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình là rất thấp Tuy nhiên, một số biến như ROA (VIF = 6.77) và ROE (VIF = 6.07) có hệ số VIF tương đối cao, mặc dù vẫn dưới ngưỡng 10, vẫn có khả năng xảy ra đa cộng tuyến Nếu kết quả mô hình không đạt yêu cầu, tác giả sẽ kiểm tra mối liên hệ với hiện tượng đa cộng tuyến và đề xuất phương pháp khắc phục phù hợp cho từng trường hợp.

Tác giả tiến hành chạy hai mô hình hồi quy cho dữ liệu bảng và so sánh chúng để chọn ra mô hình phù hợp nhất Hai mô hình được sử dụng là mô hình hồi quy tác động cố định (FEM) và mô hình hồi quy tác động ngẫu nhiên (REM), cả hai đều được phát triển từ mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) Mô hình FEM và REM có khả năng kiểm soát các đặc điểm khác nhau giữa các ngân hàng, điều này không có trong mô hình OLS.

Sau khi thực hiện mô hình hồi quy REM và FEM, tác giả đã so sánh hai mô hình này và lựa chọn mô hình nghiên cứu phù hợp nhất dựa trên kiểm định Hausman, dựa vào giá trị p_value.

H 0 : mô hình REM phù hợp hơn mô hình FEM

H 1 : mô hình FEM phù hợp hơn mô hình REM

Bảng 4.5 Kết quả kiểm định Hausman

(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)

Dựa vào bảng kết quả, giá trị p_value = 0.0000 nhỏ hơn 0.05 (tại mức ý nghĩa 5%), cho thấy giả thiết H0 bị bác bỏ và giả thiết H1 được chấp nhận Do đó, trong nghiên cứu hiện tại, mô hình FEM được coi là phù hợp hơn.

Tiếp theo tác giả sẽ tiến hành kiểm tra các khuyết tật của mô hình FEM bằng các kiểm định tương ứng

Để kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi trong mô hình OLS và FEM, tác giả sử dụng phương pháp kiểm định White cho mô hình OLS và phương pháp kiểm định Wald cho mô hình FEM Việc xác định khuyết tật của mô hình được thực hiện dựa vào giá trị p_value tương ứng với hai giả thiết khác nhau.

H0: mô hình không có hiện tượng phương sai thay đổi

H1: mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi

Bảng 4.6 Kết quả kiểm định phương sai thay đổi

Mô hình Chi bình phương

(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)

Kết quả kiểm định cho thấy giá trị p_value < 0.05, dẫn đến việc bác bỏ giả thiết H0 và chấp nhận giả thiết H1 cho cả hai mô hình OLS và FEM Điều này chỉ ra rằng cả hai mô hình nghiên cứu đều gặp phải hiện tượng phương sai thay đổi.

Kiểm định hiện tượng tự tương quan

Ngoài các vấn đề như đa cộng tuyến và phương sai thay đổi, kết quả của mô hình cũng bị ảnh hưởng bởi hiện tượng tự tương quan Khuyết tật này có thể được kiểm tra bằng phương pháp kiểm định Wooldridge, được áp dụng cho cả mô hình OLS và mô hình FEM với các giả thiết tương ứng.

H 0 : Mô hình không xảy ra hiện tượng tự tương quan

H 1 : Mô hình có xảy ra hiện tượng tự tương quan

Kết quả kiểm định được trình bày theo bảng như sau:

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định sự tự tương quan

Mô hình Giá trị F P_value

(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)

Giá trị p_value = 0.0005 < 0.05 cho thấy giả thiết H0 bị bác bỏ và giả thiết H1 được chấp nhận, cho thấy có hiện tượng tự tương quan trong cả hai mô hình nghiên cứu OLS và FEM.

Sau khi kiểm tra các khuyết tật như đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan trong mô hình hồi quy OLS và FEM, tác giả áp dụng phương pháp GLS (Generalized Least Squares) để khắc phục các vấn đề về phương sai thay đổi và tự tương quan cho cả hai mô hình này (xem phần phụ lục)

Phân tích kết quả các mô hình nghiên cứu thực nghiệm

Mặc dù mô hình OLS và FEM có những ưu điểm riêng, nhưng chúng vẫn gặp phải vấn đề nội sinh mà không thể giải quyết Vì vậy, tác giả quyết định sử dụng mô hình GMM (General Method of Moments) để khắc phục các khuyết tật như đa cộng tuyến, phương sai thay đổi và tự tương quan Tác giả sẽ thực hiện hồi quy GMM với độ trễ (t-1) để thu được kết quả chính xác nhất từ các biến nghiên cứu.

Cuối cùng, tác giả so sánh các mô hình OLS và FEM với mô hình GMM, từ đó phân tích kết quả để rút ra kết luận về ảnh hưởng của các biến độc lập đối với các biến phụ thuộc.

 Phân tích kết quả các mô hình hồi quy

Bảng 4.8 Kết quả các mô hình nghiên cứu OLS, FEM và GMM

Hansen Test 0.478 t statistics in brackets

(Nguồn : Tác giả tổng hợp từ phần mềm STATA)

Dựa vào kết quả của bảng 4.7 tác giả có thể đưa ra các nhận định như sau:

Mô hình hồi quy GMM cho thấy số lượng biến có giá trị quan sát gấp đôi so với mô hình OLS và FEM, cho phép xác định chính xác hơn các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng và giảm thiểu hiện tượng bỏ sót biến Từ đó, tác giả sẽ đưa ra nhận xét dựa trên kết quả của mô hình hồi quy GMM, đặc biệt là đối với các yếu tố vĩ mô.

Tốc độ tăng trưởng GDP (TPIB) có mối tương quan ngược với tính thanh khoản, với mức ý nghĩa 1% Khi nền kinh tế phát triển, doanh nghiệp cần vốn để mở rộng, và ngân hàng trở thành kênh tiếp cận vốn dễ dàng nhất Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp vay vốn mà sử dụng không hiệu quả hoặc không đúng mục đích, sẽ dẫn đến gia tăng nợ xấu và giảm tính thanh khoản của ngân hàng.

Biến TINF cho thấy mối tương quan tích cực với khả năng thanh khoản của ngân hàng, đặc biệt khi lạm phát tăng, dẫn đến giá cả hàng hóa gia tăng Điều này tạo cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, làm tăng nhu cầu về vốn Các ngân hàng có thể tận dụng các khoản vay chất lượng từ doanh nghiệp để sử dụng vốn hiệu quả, từ đó nâng cao lợi nhuận và cải thiện tính thanh khoản.

Kết quả từ mô hình cho thấy biến SIZE có ý nghĩa thống kê cao ở mức 1%, đồng thời thể hiện mối tương quan nghịch với biến phụ thuộc ALA Điều này chỉ ra rằng quy mô ngân hàng lớn hơn có xu hướng dẫn đến sự giảm sút tính thanh khoản Khi các ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh thông qua cho vay mà không có chính sách giám sát nghiêm ngặt, tính thanh khoản không những không tăng mà còn có thể bị giảm sút.

Việc sử dụng vốn chủ sở hữu hiệu quả ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh khoản của ngân hàng Khi ngân hàng đầu tư vào các hoạt động kinh doanh không hiệu quả, lợi nhuận sẽ giảm, dẫn đến khả năng chuyển đổi thành tiền cũng giảm, làm giảm tính thanh khoản Kết quả hồi quy của biến CAP trong mô hình cho thấy mối tương quan nghịch chiều với mức ý nghĩa quan sát là 1%.

Biến TLA cho thấy mối tương quan nghịch với khả năng thanh khoản của ngân hàng, khi các ngân hàng huy động vốn và mở rộng cho vay Nếu các khoản vay không được quản lý hiệu quả, chi phí của ngân hàng sẽ tăng lên, dẫn đến giảm tính thanh khoản.

Khi ngân hàng gia tăng lợi nhuận, tài sản của ngân hàng cũng sẽ tăng lên, dẫn đến sự cải thiện trong tính thanh khoản Nếu ngân hàng sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động từ tiền gửi, tốc độ tăng trưởng tài sản sẽ nhanh hơn so với lượng tiền gửi của khách hàng Do đó, khi biến TDEPOSIT giảm, tính thanh khoản sẽ tăng và ngược lại, thể hiện một mối tương quan ngược chiều rõ ràng trong mô hình với mức ý nghĩa quan sát trung bình.

Việc sử dụng hiệu quả các đồng vốn giúp ngân hàng giảm chi phí hoạt động, đồng thời cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa tính thanh khoản và chi phí hoạt động (CEA) với mức ý nghĩa quan sát thấp, đặc biệt là đối với biến trễ.

Biến trễ của tính thanh khoản có ảnh hưởng đáng kể đến tính thanh khoản hiện tại của ngân hàng Khi một ngân hàng ghi nhận kết quả thanh khoản tốt trong năm trước, điều này cho thấy hoạt động kinh doanh của ngân hàng đang phát triển và mở ra nhiều cơ hội kinh doanh hiện tại, từ đó làm tăng tính thanh khoản Vì vậy, biến ALAt-1 có mức ý nghĩa quan sát cao và thể hiện mối tương quan tích cực với biến thanh khoản hiện tại.

Các biến ROA, ROE và CFC hiện chưa cho thấy ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng trong nghiên cứu này Điều này cho thấy rằng chúng chưa tác động đến khả năng thanh khoản tại thời điểm nghiên cứu Tuy nhiên, trong tương lai hoặc trong các mô hình nghiên cứu khác, những biến này có thể thay đổi mức ý nghĩa và thể hiện mối tương quan với biến phụ thuộc Do đó, các ngân hàng vẫn cần lưu ý đến các biến này.

Kết quả hồi quy của tác giả chỉ phản ánh tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc trong giai đoạn và mô hình nghiên cứu cụ thể, không phải là kết quả áp dụng cho mọi thời điểm hay mô hình Vì vậy, các nhà quản lý ngân hàng cần linh hoạt xác định các yếu tố phù hợp theo từng thời điểm và tình hình hoạt động để xây dựng chính sách hiệu quả, nâng cao khả năng thanh khoản cho ngân hàng.

Kết quả từ mô hình hồi quy cho thấy độ trễ của các biến nghiên cứu có ý nghĩa quan sát cao, cho thấy các ngân hàng cần chú trọng hơn đến kết quả hoạt động của năm trước Đồng thời, các ngân hàng cần kiểm soát chặt chẽ các khoản vay để giảm chi phí sử dụng vốn và tăng lợi nhuận Điều này sẽ giúp tăng giá trị tài sản của ngân hàng và cải thiện khả năng thanh khoản.

Ngày đăng: 27/06/2021, 09:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w