Giáo trình có ba phần: Phần I: Giới thiệu một số vấn đề khái quát về tâm lí học lao động; Phần II: Phân tích những tính chất đặc trưng của hoạt động lao động, những yếu tố tác động t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA GIÁO DỤC HỌC
- -
TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG
PGS TS VÕ HƯNG ThS PHẠM THỊ BÍCH NGÂN
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2007
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU LỜI NÓI ĐẦU
Tâm lí học lao động là một ngành hẹp của tâm lí học
chuyên nghiên cứu diễn biến của các hiện tượng tâm lí trong quá
trình hoạt động dưới tác động của điều kiện lao động Lao động
là một trong những nhu cầu cơ bản của con người Trong bối
cảnh tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ như ở nước ta, tính chất lao
động biến đổi rất nhanh theo mức độ phát triển của khoa học
công nghệ, ngành nghề phát triển rất phong phú và đa dạng
Người lao động không những chịu đựng mức độ ô nhiễm nặng nềâ
từ môi trường tự nhiên mà còn phải chịu nhiều áp lực không nhỏ
của môi trường xã hội Tuy nhiên, bản chất của con người Việt
Nam là luôn luôn phấn đấu vượt qua mọi thử thách để làm chủ
bản thân, làm chủ đất nước, xây dựng một xã hội Việt Nam hòa
bình, công bằng, dân chủ và văn minh Tâm lí học lao động cầøn
nghiên cứu những diễn biến tâm lí của người Việât Nam trong
quá trình lao động xây dựng đất nước nhằm góp phần nâng cao
chất lượng cuộc sống mà trước hết và quan trọng hơn hết là về
mặt tinh thần, tâm lí của người lao động Muốn vậy điều cần làm
trước tiên là bằêng nhiều cách phổ biến rộng rãi những hiểu biết
về tâm lí học nói chung và tâm lí học lao động nói riêng
Giáo trình này biên soạn cho sinh viên Khoa Giáo dục học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc
gia TP HCM trước hết cũng nhằm mục tiêu đó Vì đối tượng
phục vụ chủ yếu của sinh viên Khoa Giáo dục học sau này là
ngành giáo dục đào tạo cho nên giáo trình chỉ tập trung vào phần tâm lí học lao động chung mà không đi sâu vào tâm lí học kĩ thuật vốn là một chuyên đề mang nặng tính kĩ thuật và điều khiển học
Giáo trình có ba phần:
Phần I: Giới thiệu một số vấn đề khái quát về tâm lí học
lao động;
Phần II: Phân tích những tính chất đặc trưng của hoạt động
lao động, những yếu tố tác động tới con người lao động về mặt thể chất và tinh thần, tâm lý cũng như những yêu cầu về việc chuẩn bị cho thanh thiếâu niên đi vào lao động một cách hiệu quả Đây là phần quan trọng nhất của giáo trình, chiếm hơn ½ thời lượng bài giảng;
Phần III: Giới thiệu sơ lược về tâm lí học kĩ thuật nhưng để
người đọc không quá ngỡ ngàng về nội dung quá vắn tắt, chúng tôi biên soạn dưới tiêu đề là "Lao động trong điều kiện kĩ thuật mới", tức là mức ban đầu của trình độ khoa học công nghệ ở nước ta, chưa có nhiều những hệ thống hoàn toàn tự động hóa
Vì quan niệm là giáo trình cho sinh viên với một thời lượng hạn chế là 45 tiết nên chúng tôi thấy chỉ cần nêu những vấn đề căn bản nhất mà sinh viên cần và có đủ thời gian để nghiên cứu tiếp thu bài học Sau này nếu cần đi sâu, mở rộng, sinh viên có thể đọc thêm nhiều tài liệu tham khảo (Xem trong danh mục tài liệu tham khảo), trên sách báo hoặc rất nhiều trên Internet
Trang 3Giáo trình này có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
các khoa Sư phạm, khoa Tâm lí, khoa Công tác xã hội cũng như
các khoa khác về xã hội nhân văn
Vì yêu cầu chủ yếu của một giáo trình là phải đảm bảo tính
giáo khoa, tính khoa học, tính thiết thực và tính dân tộc, chúng
tôi đã cố gắng rất nhiều trong biên soạn Tuy nhiên do khả năng
có hạn, chắc không tránh khỏi sai sót, rất mong bạn đọc vui lòng
đóng góp ý kiến để giáo trình này có thể hoàn thiện hơn nhằm
phục vụ tốt hơn việc học tập tiếp thu của sinh viên Xin chân
thành cảm ơn
Nhóm tác giả
Trang 4Phần I
KHÁI QUÁT VỀ KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG
I KHÁI QUÁT VỀ LAO ĐỘNG
Một trong những nhu cầu cơ bản của con người (sau bốn loại nhu
cầu cơ bản về sinh học là ăn, ngủ, sinh sản và đào thải) là hoạt động
Có rất nhiều hình thức hoạt động khác nhau gồm hoạt động thể chất
(chân tay ) và hoạt động tinh thần (trí tuệ ) nhằm những mục đích
khác nhau, phục vụ những nhu cầu khác nhau Trong các hình thức
hoạt động đó thì hoạt động lao động là quan trọng nhất
Engel viết: "Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống
con người Chính lao động đã sáng tạo ra con người"
Marx viết: "Lao động là quá trình diễn ra giữa con người với
môi trường Con người làm trung gian, tiêu biểu và kiểm tra cuộc vận
động trao đổi chất của thiên nhiên"
Hoạt động lao động ngày nay có những đặc điểm cơ bản như sau:
1 Lao động luôn mang tính tập thể, tính xãõï hội Không ai có thể
tự mình làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh Sự phân công lao động xã
hội đã hình thành từ rất xa xưa, từ khi xuất hiện hình thái kinh tế nông
nghiệp, khi có những người chuyên trồng trọt và có những người
chuyên sản xuất công cụ sản xuất và chế biến lương thực Sự phân công lao động xã hội theo hướng chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc Mỗi người, mỗi nhóm người chỉ được phân công thực hiện một số công đoạn nhất định của quá trình hoàn thành sản phẩm Sự phân hóa càng sâu sắc thì sự phối hợp giữa các bộ phận càng phải chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo tính thống nhất của quá trình sản xuất, tính chỉnh thể của sản phẩm Trong xu thế toàn cầu hóa, sự phân công lao động xã hội không dừng lại trong một lãnh thổ, một quốc gia mà còn có thể thực hiện quá trình sản xuấr ra một sản phẩm tại nhiều nước khác nhau Tính xã hội của lao động còn mở rộng ra trên phạm vi toàn thế giới Sự tùy thuộc nhau về nguồn lực, về tài nguyên, về công nghệ giữa các lãnh thổ, các quốc gia khiến cho sự chuyên môn hóa dựa trên những ưu thế riêng càng trở nên cần thiết hơn Cũng từ đó quá trình hội nhâp quốc tế của các nước, đặc biệt của các nước đang phát triển, đã trở thành một xu thế tất yếu, nếu không muốn tụt hậu (Những vấn đề này được đề cập rất nhiều trong môn học Kinh tế lao động)
2 Lao động là hoạt động luôn đi kèm với công cụ Từ sản xuất
thủ công đến bán cơ khí rồi cơ khí, bán tự động rồi tự động hóa hoàn toàn, sự phát triển của công cụ, máy móc, thiết bị, của lực lượng sản xuất nói chung là yếu tố cực kì quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế của xã hội, trên từng lãnh thổ, từøng quốc gia và cả trên toàn thế giới Mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và máy móc ngày càng chặt chẽ trong những môi trường tự nhiên và xã hội nhất
định, tạo nên một hệ thống nhất quán "Con người - Máy móc - Môi trường" Hoạt động lao động sản xuất của con người không thể thoát ra
ngoài hệ thống đó Để đảm bảo sự hài hòa nhất quán trong hệ thống đó con người luôn luôn phải giữ vai trò chủ độâng, luôn luôn phải giữ vị trí
trung tâm (Vấn đềø này sẽ được trình bày đầy đủ hơn trong giáo trình "Tổ
chức lao động khoa học và ecgônômi")
Trang 53 Lao động của con người bao giờ cũng có mục đích Mục đích
bao trùm lên tất cả là lao động phải có hiệu quả Hiệu quả có nghĩa là
thu nhập đầu vào sau cùng phải lớn hơn chi phí bỏ ra (bao gồm sức
lực, thể chất và trí tuệ cũng như vốn liếng, của cải, thời gian) Nói
cách khác là phải có lợi nhuận Lợi nhuận không chỉ tính cho cá nhân
mà còn phải tính cho cả xã hội bởi vì xã hội cũng đã góp một phần
không nhỏ cho hoạt động lao động của mỗi người Vấn đề đặt ra là
phân phối lợi nhuận đó như thế nào để đảm bảo công bằng và phát
triển cho mọi thành phần tham gia lao động Trước hết là người lao
động (theo cách nói thông thường là người làm thuê) Người lao động
phải được trả công xứng đáng với sức lực thể chất và trí tuệï bỏ ra
nghĩa là phải đảm bảo cho họ và những người mà họ có trách nhiệm
bảo bọc có đủ khả năng thỏa mãn những nhu cầu củùa cuộïc sống và tái
sản xuất sức lao động Người sử dụng lao động (theo cách nói thông
thường là giới chủ) cũng như thế, nghĩa là phải đảm bảo được quyền
lợi tối thiểu như người lao động Ngoài ra họ còn phải nhận được chi
phí cho khấu hao tài sản và lợi nhuận cho tiền vốn bỏ ra Họ còn phải
có chi phí dự trữ cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng, cũng là góp phần
chung cho xã hội phát triển Thành phần thứ ba cần được hưởng lợi là
xã hội, nói rõ hơn là ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước nhằm
đảm bảo trả công cho mọi nguồn lực hoạt động xã hội bao gồm cơ sở
hạ tầng, hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa và nhất là quốc phòng
Nguồn ngân sách đó không gì khác hơn là nguồn thu từ hai thành phần
nói trên mà thông thường gọi là thuế - thuế thu nhập của mọi người
lao động Có lương, có thu nhập thì phải đóng thuế thu nhập Có nhiều
đóng nhiều, có ít đóng ít Đó là nghĩa vụ cũng là quyền lợi tinh thần
cao quý của mọi công dân Phần thu ngân sách chủ yếu còn là các
loại thuế khác mà người tham gia những hoạt động sản xuất, dịch vụ
khác phải làm nghĩa vụ đối với nhà nước Ngân sách nhà nước lớùn hay
nhỏ phụ thuộc vào khả năng điều tiết của cơ quan công quyền Ngân
sách nhà nước ngày một lớn thì cuộc sống của người dân ngày một tốt đẹp hơn Dân có giàu nhưng nhà nước có điều tiết giỏi thì nước mới mạnh Đó chính là lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta hằng theo đuổi Marx cũng viết "lao động là loại hoạt động có mục đích tạo ra
giá trị sử dụng" Lao động cũng vì thế là một trong những quyền lợi cơ
bản của con người Lao động tạo nên của cải đáp ứng nhu cầu mọi mặt của con người Bằng lao động con người xây đắp nên xã hội, tạo nên sản phẩm văn hóa đểâ rồi qua xã hội văn hóa con người ngày một phát triển về thể chất và tâm hồn
Về thể chất, lao động là hình thức hoạt động của các chức năng
cơ thể Về tinh thần, lao động bộc lộ những nét tiêu biểu của tâm lí như tính tích cực, tính tập thể, xã hội, tính mục đích…
Lao động xã hội là lao động tập thể với sự góp sức, phối hợp của nhiều người, nhiều nhóm người Trong các nhóm người lao động luôn có sự giao lưu giữa các thành viên và tác động lẫn nhau tạo ra hiện tượng tâm lý phong phú và đa dạng
Các tập thể lao động được hình thành từ các nhân tố chủ quan và khách quan
Mục tiêu là các mục đích nhằm tới mà hành động "Lao động vì cái gì" Đây là nhân tố rất có ý nghĩa Chính mục tiêu được coi như quỹ đạo xác định tính chất và phương pháp hành động Có những mục tiêu cá nhân, cũng có mục tiêu tập thể và xã hội, nằm trong mối hài hòa về quyền lợi cho cá nhân và xã hội Cũng có mục tiêu hằng ngày, mục tiêu trước mắt và triển vọng lâu dài Mỗi giới hạn mục tiêu đòi hỏi phương pháp, phương tiện, thời gian và nỗ lực khác nhau
Phương pháp Để hoạt động lao động xã hội có hiệu quả cần có
phương pháp, phương tiện thích hợp và có kế hoạch làm việc hợp lý
Trang 6Một khi chuyên môn hóa càng cao thì yêu cầu vềê phối hợp càng chặt
chẽ Có kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn chỉ phục vụ cho mục
tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài Mục tiêu có trước kế hoạch nhưng
lại là kết thúc của kế hoạch
Lợi ích hoạt động chung sẽ là nguồn lực thúc đẩy sự cố gắng
chung của tập thể, cũng là sức mạnh để thúc đẩy hoạt động vì mục
tiêu chung
Hoạt động tập thể không thể không có người chỉ đạo quản lý
Phẩm chất của người lãnh đạo quản lý (còn gọi là thủ lĩnh) là nhân tố
cực kỳ quan trọng Tư lệnh và thành viên là hai vế của hoạt động, với
quan hệ hai chiều, trên dưới và dưới trên Quan hệ đó được xây dựng
trên niềm tin, sự tin tưởng lẫn nhau Niềm tin trước hết được hình
thành từ phẩm chất của thủ lĩnh Đó cũng chính là nhân tố quan trọng
điều chỉnh mọi hoạt động lao động tập thể
Nhân tố khách quan có thể kể ra:
Trình độ phát triển lực lượng sản xuất Đặc trưng của hoạt động
lao động của con người (khác với hoạt động kiếm ăn của con vật) là
sự sáng tạo và phát triển công cụ lao động Sự phát triển của bản thân
con người cùng với sự hoàn thiện liên tục công cụ sản xuất là một quá
trình lao động phong phú, đa dạng Sư phân công lao động càng sâu
đòi hỏi sự nỗ lực bản thân càng nhiều, sự phối hợp càng chặt chẽ
Phân công lao động càng sâu thì quan hệ càng phức tạp, sự điều hoà
phối hợp càng khó khăn hơn
Nhu cầu chung của xã hội xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội đòi hỏi
mọi hoạt động tổ chức giáo dục, kinh tế, xã hội v v phải tập trung vào
việc tạo ra cơ sở vật chất ngày càng hoàn thiện cho chủ nghĩa xã hội và
hoàn thiện mối quan hệ xã hội và cho con người xã hội chủ nghĩa
Thời gian thực hiện Mức thời gian là một yếu tố tổ chức sản
xuất, là căn cứ quan trọng để đặt kế hoạch phối hợp các quá trình, các loại hình lao động
Trình độ tổ chức của một tập thể lao động, thể hiện ở việc sử dụng thời gian hợp lý, trong việc phân chia trách nhiệm rạch ròi Các nhân tố chủ quan và khách quan cộng lại tạo nên một chỉnh thể xã hội lao động mà đặc điểm của nó được xác định bởi đặc điểm của quan hệ sản xuất thống trị và nhiệm vụ mà nó phải thực hiện trong mục tiêu định sẵn
II KHÁI QUÁT VỀ TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG 2.1 Quan niệm
Lao động là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Riêng tâm lý học lao động quan tâm đến sự hình thành đặc điểm tâm lý trên cơ sở sinh lý lao động, quan tâm đến sự thống nhất giữa hoạt động thể chất (sức mạnh cơ sinh ) và tinh thần (tư duy và ý chí, cảm xúc…)
Tâm lý học lao động quan tâm đến hoạt động lao động với công cụ và mức độ hoàn thiện công cụ lao động, với phương pháp (kĩ thuật và nghệ thuật) đặc trưng còn gọi là kĩ thuật lao động
Tâm lý học lao độâng quan niệm mỗi hành động là mộât đơn vị của hoạt động lao động, nhằm một mục tiêu cụ thể bắt đầu từ mục tiêu nhỏ nhất, từ những hành động đơn giản nhất là các cử động Tập hợp các cử động tạo thành động tác, tập hợp các động tác thành thao tác và tập hợp các thao tác tạo thành sản phẩm
Tâm lý học lao động quan tâm đến việc quan sát, mô tả, giải thích hành độâng được thực hiện bởi tập thể lao động và sự thay đổi các hành động nhằm phối hợp với các mục tiêu
Trang 7Tâm lý học lao động coi hoạt động lao động vừa là khoa học vừa
là công nghệ mà không hề đối lập với nhau Tổ chức lao động chính
là sự thống nhất giữa kinh nghiệm, tri thức và hành động cụ thể
2.2 Lược sử tâm lý học lao động
Tâm lý học lao động là một chuyên ngành của tâm lý học, được
xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 với thuật ngữ đầu tiên là "kỹ thuật tâm lý
học", gắn liền với hoạt động thực tiễn và nhu cầu của xã hội
Từ trước thế chiến lần I đã cĩ một số cơng trình nghiên cứu về hiện
tượng tâm lý và các yếu tố tác hại đên sức khỏe người lao động Một số
cơng trình khác đề cập đến vấn đề tuyển chọn, dạy nghề và tổ chức chỗ làm
việc Những cơng trình này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản
xuất chứ chưa phải là yêu cầu phát triển lý luận về tâm lý học Từ những
bước đầu đĩ đã dần dần hình thành một số hướng nghiên cứu tâm lý học:
- Tâm lý học về nhân cách trong lao động đang là hướng nghiên
cứu chủ đạo
- Định hướng tuyển chọn đào tạo nghề nghiệp như một phương
hướng hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả lao động xã hội
- Hợp lý hóa lao động đang chuyển thành ngành khoa học độc lập
với những thuật ngữ khác nhau nhưng nội hàm thì tương tự nhau như
ecgônômi, khoa học kĩ thuật lao động, kĩ thuật sinh học lao động
Theo hướng thứ nhất, Múnsterberg cho rằng việc tuyển chọn
nghề nghiệp nhằêm tạo thuận lợi cho sự thích ứng giữa con người với
điều kiện lao động Đó là một yêu cầu không thể thiếu được của việc
nâng cao năng suất lao động Là một trong những người đầu tiên đi
vào tâm lí học lao động, Múnsterberg đã tuyển chọn và đào tạo được
những người lao động tốt để tiến hành lao động trong điều kiện tốt và
qua đó đạt được năng suất cao Các kĩ thuật tuyển chọn kiểm tra của
ông được phổ biến rộng trong thời gian chiến tranh thế giới lần I phục
vụ cho việc xây dựng quân đội Sau này các nước phương Tây và Liên Xô cũng ứùng dụng những chương trình hướng nghiệp, tuyển chọn để đào tạo nhân lực cho công nghiệp và quốc phòng
Trong những năm từ 1915 đến 1926, hàng loạt phòng tư vấn hướng nghiệp được thành lập ở các nước châu Âu Đặc biệt ở Anh
quốc đã thành lập Hội đồng quốc gia nghiên cứu về hướng nghiệp Taylor là người đầu tiên nghiên cứu hợp lý hóa lao động từ cuối thế
kỷ 19 "Phương pháp Taylor" (Phân chia các thao tác lao động thành nhiều động tác nhỏ, tìm cách loại trừ những động tác không hợp lý, động tác thừa, nhằm nâng cao hiệu suất lao động) được phổ biến rộng rãi ở châu Mỹ, châu Âu và ngày nay vẫn còn ứng dụng trong nghiên cứu tổ chức lao động khoa học
Kỹ sư Gilbreth và vợ đã sử dụng một số kỹ thuật phân tích lao
động như chụp ảnh, quay phim, bấm giờ các thao tác lao động và đã
tìm ra 17 động tác phổ biến nhất thời bấy giờ Xêtrenov, một nhà sinh
lý học người Nga, vào đầu thế kỷ 20, đã tìm ra những cơ sở sinh lý của các quá trình tâm lý có tính quyết định đến chất lượng lao động Chính Xêtrenov là người đầu tiên đưa ra tiêu chuẩn về thời gian làm việc tối đa trong ngày (8 giờ) lao động và cũng là người đầu tiên xây dựng lý thuyết về nghỉ ngơi tích cực nhằm phòng chống mệt mỏi quá sớm, bảo vệ sức khỏe cho người lao động
Một số công trình sau đó đi theo hướng nghiên cứu đề xuất các phương pháp đo lường, đánh giá mệt mỏi, phát hiện các yếu tố khách quan và chủ quan gây nên sự mệt mỏi, đặc biệt là trong lao động trí óc
Chiến tranh thế giới lần II với sự phát triển mạnh mẽ của vũ khí, khí tài quân sự đã khiến nhiều tổ chức khoa học kỹ thuật phải quan tâm đến vấn đề tuyển chọn, đào tạo người có khả năng thích ứng tốt với thiết bị quân sự Không những chỉ về kỹ năng thao tác mà người ta còn quan tâm tới những giới hạn về tâm lý con người Từ đó sự kết
Trang 8hôỉp chaẻt cheõ giỏõa caùc nhaụ khoa hoỉc kyõ thuaảt quaân sỏỉ vôùi caùc nhaụ taâm
lyù hoỉc ựaõ daãn ựeán vieảc hình thaụnh moảt chuyeân ngaụnh môùi laụ taâm lyù
hoỉc lao ựoảng
Vào những năm thứ 20 của thế kỷ trước, ở đại học Harvard người
ta ựã tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý ựến năng
suất lao ựộng, làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý như nhu cầu, ựộng
cơ, hứng thú trong lao ựộng
Trong tác phẩm "Những vấn ựề con người của nền văn minh hiện
ựại" (1933) Meyer ựã trình bày học thuyết về " các mối quan hệ giữa con
người với nhau" và khẳng ựịnh quan ựiểm cho rằng tâm lý học laụ moảt nền
tảng không thể thiếu ựược trong công tác quaũn lý xã hội Vào thập kỷ 60
của thế kỷ trước, cùng với sự xuất hiện của môn ecgoânoâmi, các hướng
nghiên cứu tâm lý học lao ựộng cũng quan tâm ựến ựặc ựiểm " con người -
máy móc Ờ môi trường" mà ba thành phần ựó luôn gắn chặt với nhau, ảnh
hưởng lẫn nhau với vai trò trung tâm là con người
Các hướng nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn của tâm lý học
lao ựộng ựều ựã và ựang phục vụ cho mục tiêu nâng cao hiệu suất lao
ựộng, bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần cho người lao ựộng
Ở Việt Nam mãi cho ựến ựầu những năm 60, khoa học tâm lý hầu
như chỉ biết ựến ở các trỏôụng ựaỉi học sư phạm, ở vieản Nghiên cứu giáo
dục mà ựối tượng nghiên cứu chủ yếu là lứa tuổi vị thành niên
Ở miền Nam, trước ngaụy thống nhất ựất nước, ngoaụi taâm lyù hoỉc
giaùo duỉc, coù moảt soá coâng boá veà taâm lyù hoỉc xaõ hoải, taâm lyù hoỉc chaăn
ựoaùn Tuy nhieân raát nhieàu coâng trình thỏỉc chaát chữ laụ bieân dòch taụi lieảu
nỏôùc ngoaụi Sau ngaụy giaũi phoùng mieàn Baéc, vôùi vieảc thaụnh laảp Boả
moân Sinh lyù hoỉc ôũ Trỏôụng ứaỉi hoỉc Y khoa Haụ Noải, Vieản Nghieân cỏùu
Y hoỉc lao ựoảng, nhieàu coâng trình nghieân cỏùu veà sinh lyù lao ựoảng laụm
tieàn ựeà cho vieảc tieáp caản vôùi taâm lyù hoỉc lao ựoảng ựaõ ựỏôỉc coâng boá
(Buụi Thuỉ, Pham Quyù Soaỉn, Ngoâ Theá Phỏông, Nguyeãn Quang Quyeàn, Nguyeãn ứình Khoa, Voõ HỏngẦ) Cuoán "Haèng soá sinh hoỉc ngỏôụi Vieảt Nam" do GS Nguyeãn Taán Di Troỉng laụm chuũ bieân laụ cuoán saùch goái ựaàu giỏôụng cuũa caùc nhaụ nghieân cỏùu sinh hoỉc, taâm lyù hoỉc Vieảt Nam (trỏôùc heát laụ taâm lyù hoỉc giaùo duỉc vaụ taâm lyù hoỉc lao ựoảng) Nhieàu coâng trình nghieân cỏùu veà ựieàu kieản lao ựoảng, tai naỉn lao ựoảng vaụ beảnh ngheà nghieảp taỉi caùc
xắ nghieảp ựỏôỉc coâng boá Sau ngaụy giaũi phoùng ựaát nỏôùc, Vieản Nghieân cỏùu khoa hoỉc kyõ thuaảt Baũo hoả lao ựoảng phoái hôỉp cuụng boả moân Nhaân hoỉc, Trỏôụng ứaỉi hoỉc Toăng hôỉp, boả moân Giaũi phaãu Trỏôụng ứaỉi hoỉc Y khoa ựaõ toă chỏùc ựo ựaỉc treân haụng chuỉc ngaụn ngỏôụi Vieảt Nam trong tuoăi lao ựoảng ôũ khaép ba mieàn ựaát nỏôùc vaụ laàn lỏôỉt ba taảp "Atlat nhaân traéc ngỏôụi Vieảt Nam trong lỏùa tuoăi lao ựoảng" (Voõ Hỏng vaụ Nguyeãn ứỏùc Hoàng chuũ bieân) ựỏôỉc coâng boá tỏụ naêm 1986 ựeán 1996 Taảp Atlat ựỏôỉc coi nhỏ moảt tieâu chuaăn veà taàm voùc, kắch thỏôùc ựeă thieát keá vaụ ựaùnh giaù ecgoânoâmi saũn phaăm vaụ choã laụm vieảc trong caùc cô quan xắ nghieảp Nhieàu coâng trình veà ựaùnh giaù ecgoânoâmi (Nguyeãn Baỉch Ngoỉc, Nguyeãn ứỏùc HoàngẦ), veà "khaũ naêng thắch ỏùng cuũa ngỏôụi lao ựoảng Vieảt Nam vôùi coâng ngheả môùi" (Voõ Hỏng), veà nhỏõng vaán ựeà taâm lyù naũy sinh trong lao ựoảng ôũ caùc xắ nghieảp, coâng trỏôụng xaây dỏỉng, ngaụnh noâng laâm nghieảpẦ (Phaỉm Bắch Ngaân, Nguyeãn Ngoỉc Ngaụ, Voõ Quang ứỏùcẦ) ựỏôỉc coâng boá treân nhieàu taỉp chắ chuyeân ngaụnh taâm lyù, baũo hoả lao ựoảng, y teáẦ Moảt soá saùch vaụ giaùo trình ựỏôỉc giaũng trong caùc boả moân, khoa Taâm lyù, khoa Baũo hoả lao ựoảng, khoa Giaùo duỉc hoỉc ôũ nhieàu trỏôụng ựaỉi hoỉc Sỏỉ phaùt trieăn maỉnh meõ cuũa lỏỉc lỏôỉng saũn xuaát, kó thuaảt coâng ngheả trong moái quan heả chaẻt cheõ giỏõa con ngỏôụi vôùi maùy moùc vaụ moâi trỏôụng ựaõ daãn ựeán vieảc xuaát hieản noải dung môùi trong taâm lyù hoỉc lao ựoảng ứoù laụ taâm lyù hoỉc kó thuaảt vôùi sỏỉ khaúng ựònh hieảu quaũ cuũa lao ựoảng phuỉ thuoảc vaụo caùc yeáu toá sỏỉ nhieân hoụa hôỉp vôùi yeáu toá taâm lyù xaõ hoải trong heả thoáng nhaát quaùn "con ngỏôụi - maùy moùc - moâi trỏôụng" Các cuốn sách "Khoa học lao ựộng" (Nguyễn Văn Lê), "Tâm lý học kỹ thuật" (Tô Như Khuê), "Tâm lý học lao ựộng" (đào Thị Oanh)
Trang 9đều là những giáo trình giảng dạy được nhiều người biết đến Nhiều
luận văn tốt nghiệp đại học, cao học cũng đề cập nhiều vấn đề liên quan
đến tâm lý học lao động
Tuy nhiên cho đến nay, mặc dù đã cĩ một số thành tựu nhất định,
đã cĩ khơng ít người quan tâm nghiên cứu, chuyên ngành Tâm lý học
lao động vẫn chưa được coi là một chủ đề nghiên cứu cĩ ý nghĩa như
vốn cĩ Bước vào giai đoạn phát triển mới khi Việt Nam là thành viên
của WTO, những yêu cầu nghiên cứu về đổi mới tư duy, về xu hướng
phát triển tinh thần tâm lý của người Việt Nam trở nên cấp thiết hơn bao
giờ hết, địi hỏi Tâm lý học lao động phải cĩ một ví trí xứng đáng trong
các chiến lược phát triển quốc gia
III QUAN HỆ VỚI CÁC NGÀNH KHÁC
Như đã biết, hoạt động lao động là đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khác nhau, trong đó có những ngành gần gũi hơn cả là sinh lí học
và ecgônômi, tâm lí học đại cương và tâm lý học phát triển
3.1 Với Sinh lý học và Ecgônômi
Cơ sở vật chất của các hoạt động tâm lý là các hoạt động của
các chức năng, đặc biệt là cơ chế thần kinh Mọi biểu hiện tâm lý đều
có liên hệ chặt chẽ với quá trình hưng phấn và ức chế, quá trình điều
hòa thần kinh - thể dịch Suy cho cùng mọi biểu hiện tâm lý đều là
những đáp ứng phản xạ khôngđđiều kiện và có điều kiện Những biểu
hiện tâm lý trong hoạt động lao động cũng không có cơ sở nào khác
hơn Những quy luật tâm lý học trong hoạt động lao động cũng chỉ
được hình thành từ những quy luật hoạt động thần kinh cấp cao
Một trong những khoa học liên ngành (hình thành ngày càng nhiều)
là ecgônômi vận dụng kiến thức của nhiều ngành khoa học khác nhau mà
trước hết là cơ-sinh học và tâm lý học để nghiên cứu khoa học lao động
nhằm góp phần nâng cao năng suất lao động, bảo vệ sức khỏe cho người
lao động và đặc biệt đáp ứng sự tiện nghi cho người sử dụng sản phẩm Yêu cầu tâm lý là rất quan trọng trong thời đại công nghiệp hiện nay, đặc biệt góp phần quan trọng phòng ngừa stress
3.2 Với Tâm lý học đại cương và Tâm lý học phát triển
Tâm lý học lao động là một chuyên ngành của tâm lý học Dựa trên những nguyên lý cơ bản của tâm lý học đại cương, những quy luật về nhận thức để chi tiết hóa, cụ thể hóa vào đối tượng nghiên cứu là hoạt động lao động Tâm lý học lao động cũng vận dụng những phương pháp luận tiếp cận (như nhiều chuyên ngành tâm lý học khác) cụ thể vào các đối tượng lao động, góp phần làm phong phú hơn những phương pháp nghiên cứu tâm lý học đại cương
Tâm lý học lao động cũng vận dụng những kiến thức về tâm lý học cá nhân, tâm lý học lứa tuổi vào việc nghiên cứu hoạt động lao động của con người với những đặc điểm cá nhân với tập thể, giữa tập thể với tập thể
Những kết quả nghiên cứu về tâm lý học lao động góp phần bổ sung và nâng cao hiệu quả nghiên cứu tâm lý học nói chung
3.3 Phát triển đến tâm lý học kĩ thuật - công nghiệp
Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bảo, kĩ thuật cơ khí và tự động đang dần chiếm ưu thế trong sản xuất công nghiệp Khoa học kĩ thuật một mặt giảm bớt về căn bản mức độ nặng nhọc về thể chất và tinh thần cho người lao động, mặt khác đặt con người vào một tư thế mới trong nhiều mối quan hệ phức tạp với thiết
bị máy móc và môi trường sản xuất công nghiệp Kĩ thuật tự động hóa với mức độ cao về cường độ, nhịp điệu gây nên những tác động mới buộc con người phải có những thích ứng mới về thể chất và tâm lý để có thể làm chủ được khoa học công nghệ Kĩ thuật tự động hóa cũng tạo ra những đặc điểm mới về môi trường lao động mà con người cũng
Trang 10phải có những giải pháp thích ứng khác nhau Tuy nhiên con người
bao giờ cũng phải là nhân tố chủ đạo Dù công nghiệp có phát triển
bao nhiêu chăng nữa thì trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa -
hiện đại hóa, con người vẫn phải ở vào vị trí trung tâm
Những vấn đề mới đặt ra trong xu thế thời đại buộc ngành tâm
lý học lao động cũng phải phát triển hướng tới nghiên cứu hoạt động
lao động của con người trong hệ thống mới "Con người - máy móc và
môi trường", tiến tới hình thành một chuyên ngành mới là tâm lý học
kĩ thuật - công nghiệp
IV ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP
4.1 Đối tượng - Nhiệm vụ
Trong mọi hoạt động lao động, đặc biệt là trong công cuộc công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, con người luôn luôn được đặt vào vị
trí trung tâm Mọi ngành khoa học về con người, trong đó có tâm lý
học lao động đều phải hướng tới mục tiêu vì con người, cho con người
Vì vậy đối tượng của tâm lý học lao động là những vấn đề tâm lý con
người với tư cách là người lao động, hoạt động trong mối quan hệ với
công cụ thiết bị máy móc và môi trường - môi trường tự nhiên và môi
trường xã hội
Nhiệm vụ của tâm lý học lao động là nghiên cứu áp dụng những
quy luật tâm lý học vào việc giải thích những hành động của con
người lao động, góp phần đặt ra giải pháp nhằm tạo sự hòa hợp giữa
con người với thiết bị, máy móc và môi trường
Bằng việc xây dựng hệ thống tri thức và hành động của con
người trong lao động, người nghiên cứu tâm lý học lao động phải quan
sát, mô tả giải thích hành động của con người lao động, nhằm thay đổi
phương thức hành động để phù hợp với mục đích đặt ra và ngày càng
hoàn thiện hành động của họ để lao động ngày một hiệu quả hơn và qua đó góp phần hoàn thiện nhân cách người lao động
Tâm lý học lao động phân tích các hành động của người lao động (từ những cử động, đến động tác, thao tác) trong khi thực thi những trách nhiệm được phân công; phát hiện những yêu cầu chức năng tâm lý trong quá trình lao động; phát hiện những khả năng và giới hạn về sinh lý, tâm lý của con người; tìm mức độ hợp lý và tối ưu của những phương thức lao động; từ đó đề xuất những định mức, chỉ tiêu, tiến tới tiêu chuẩn hóa năng lực lao động của con người về thể chất, tâm lý và qua đó hoàn thiện nhân cách người lao động
4.2 Phương pháp luận tiếp cận chủ yếu
4.2.1 Tiếp cận thực tiễn
Lao động trước hết là một hoạt động thực tiễn Cho dù là lao động sản xuất hay lao động quản lý, nghiên cứu, học tập cũng đều xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn Lao động là một hoạt động có mục đích xác định nhằm đạt tới một mục đích nào đó, đáp ứng một yêu cầu nào đó từ thực tiễn Để đạt tới mục đích nào đó người ta phải xác định nhiệm vụ cụ thể - có sự phân công và phối hợp giữa các bộ phận khác nhau; có sự sắp xếp trình tự hoạt động; có sự phân phối theo thời gian Người lao động phải hiểu rõ làm việc vì cái gì, làm cho
ai, với động cơ nào
Nhu cầu, mục đích, nhiệm vụ và động cơ đều xuất phát từ thực tiễn hoạt động lao động Phát hiện tâm lý học lao động cũng xuất phát từ hoạt động thực tiễn đó và trở lại phục vụ cho hoạt động thực tiễn
Vì vậy phương pháp lập luận tiếp cận để nghiên cứu tâm lý học lao động là tiếp cận với thực tiễn Thực tiễn đặt ra những yêu cầu và nghiên cứu trở lại phục vụ và nâng cao nhận thức yêu cầu về thực tiễn Những đặc điểm tâm lý học cá nhân được rèn đúc, nhào nặn trong
Trang 11không khí tập thể trong mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa
cá nhân với tập thể trong phương châm "Mình vì mọi người - Mọi
người vì mình"
4.2.2 Tiếp cận tập thể - xã hội
Đó là xem xét những biểu hiện tâm lý của cá nhân dưới khuôn
đúc của tập thể - xã hội; xem xét sự hình thành nhân cách lao động
trong quá trình lao động tập thể - xã hội để trở lại góp sức vào sự
hoàn thiện nhân cách lao động phù hợp với sự pháttriển kinh tế - xã
hội của đất nước Về thực tiễn, lao động là một loại hoạt động xã hội,
lao động tập thể, theo sự phân công xã hội Mỗi cá nhân lao động đều
nằm trong sự chi phối của tập thể Thành quả lao động tập thể không
chỉ đơn thuần là phép cộng của thành tích cá nhân mà chủ yếu là sự
phối hợp đồng bộ của từng cá nhân, từng nhóm nhỏ trong một đơn vị
hoạt động
4.2.3 Tiếp cận kỹ thuật – công nghệâ
Lao động là loại hoạt động gắn liền với công cụ và biến đổi
theo nhịp độ phát triển của thiết bị, công cụ, nhịp độ của sự phát triển
kĩ thuật công nghệ Lao động thủ công dần dần được thay thế bằng lao
động cơ khí, bán tự động và tự động hóa Tính chất lao động nghề
nghiệp thay đổi nhanh chóng theo đà phát triển đổi mớùi của công
nghệ Tổ chức lao động biến đổi nhanh chóng để đáp ứng kịp thời với
yêu cầu của kĩ thuật, thiết bị Con người ngày càng gắn chặt hơn với
thiết bị kĩ thuật và môi trường Sự đổi mới về khoa học kĩ thuật công
nghệ lại đòi hỏi sự đổi mới kịp thời về trình độ kĩ thuật, tay nghề, đòi
hỏi những yêu cầu cao về năng lực trí tuệ và mức độ căng thẳng về
tâm lý lao động Trong công nghiệp hiện đại người lao động phải chịu
đựng nhiều gánh nặng tâm lý mới, chưa hề có trước đây Sự xuất hiện
những stress mới liên quan đến tính chất nghề nghiệp mới, tác động
không nhỏ đến sức khỏe tinh thần và thể lực của người lao động
Tiếp cận kĩ thuật công nghệ học là xem xét những sự biến đổi
tâm lý cá nhân và tập thể lao động trong mối quan hệ chặt chẽ của hệ
thống "con người - thiết bị công cụ - môi trường" mà con người luôn
luôn chiếm vị trí trung tâm
4.3 Phương pháp nghiên cứu thực địa Về cơ bản tâm lý học lao động kĩ thuật là một khoa học thực nghiệm dựa trên cơ sở nguyên lý tâm lý học phổ biến và cơ sở sinh lý học lao động và các khoa học lao động khác như tổ chức lao động khoa học, kinh tế học lao động, xã hội học Vì vậy bên cạnh phương pháp điều tra - quan sát (gián đoạn cắt ngang và liên tục) mô tả, phân tích thống kê thì việc tổ chức thực nghiệm, trong phòng thí nghiệm,
trong môi trường lao động là vô cùng quan trọng
Mục đích nghiên cứu không chỉ dừng lại ở mức độ mô tả thực trạng mà còn phải tìm được giải pháp thực thi nhằm phát huy những yếu tố tâm lý tích cực bền vững trong hoạt động lao động đểâ đạt tới hiệu quả tối ưu
Thông thường các bước tiến hành như sau:
4.3.1 Hồi cứu
Mục đích là khai thác thông tin liên quan đã có từ nhiều nguồn tư liệu, tài liệu khác nhau Trước hết cần làm rõ những vấn đề về lý luận tâm lý học có giá trị khoa học làm cơ sở cho việc nghiên cứu thực tiễn Những tài liệu cần tìm đọc thường là số liệu thống kê về tai nạn lao động, năng suất lao động, các yếu tố môi trường tự nhiên và xã hội, đặc biệt là mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa người lao động và người sử dụng lao động Cần nghiên cứu kỹ những công trình nghiên cứu liên quan với đề tài đang tiến hành Ghi chép lại những số liệu về tình trạng lao động, những nhận xét của các tác giả trước để sau này có thể so sánh đối chiếu với kết quả sẽ nghiên cứu được Cần
Trang 12nhớ rằng những tư liệu sưu tầm được không phải lúc nào cũng đầy đủ
và không phải lúc nào cũng đáng tin cậy Cố gắng phát hiện những sơ
hở để sau này có thể đào sâu nghiên cứu
4.3.2 Điều tra
Điều tra là phương pháp cần thiết để thu thập thông tin về các đối
tượng ngiên cứu của mình Có thể điều tra bằng phương pháp phỏng vấn
trực tiếp những người, những nhân vật có nhiều hiểu biết, có vai trò nhất
định trong hệ thống sản xuất Có thể dùng câu hỏi soạn sẵn cho họ trả lời
bằng cách đánh dấu, cũng có thể đặt ra những vấn đề cần đi sâu để yêu
cầu những người này cho biết ý kiến (phỏng vấn sâu) Ngày nay người ta
thường sử dụng phương pháp phỏng vấn theo nhóm, yêu cầu nhóm thảo
luận rồi cho biết ý kiến chung của nhóm Cũng có thể đưa bảng câu hỏi
cho một số lớn đối tượng sản xuất để họ tự đánh dấu vào các câu hỏi, rồi
thu lại các bảng hỏi mang về phân tích
4.3.3 Phân tích
Những dẫn liệu điều tra cần được phân tích kỹ bằng các phương
pháp thống kê xã hội học (hiện nay có nhiều phần mềm xử lý số liệu
điều tra rất hiện đại và dễ dàng sử dụng) Điều quan trọng là qua số
liệu điều tra được nhận biết thực trạng của tình hình hoạt động lao
động của các đối tượng điều tra, phát hiện những mối tương quan của
các sự kiện, các hiện tượng tâm lý từ đó mà phát hiện những yếu tố
tâm lý chủ yếu tác động đến hiệu quả lao động, cũng từ đó phát hiện
những nguyên nhân và hậu quả của các hiện tượng tâm lý có ảnh
hưởng đến người lao động, tập thể lao động và những vấn đề về tổ
chức, chính sách lao động Có thể sử dụng một số trắc nghiệm đơn
giản để đánh giá khả năng lao động, mức độ mệt mỏi và những nguy
cơ dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Đây cũng là lúc so
sánh đối chiếu với những dẫn liệu tìm được trong quá trình hồi cứu
4.3.4 Quan sát, mô tả
Không gì bằng tai nghe mắt thấy, cho nên việc trực tiếp quan sát mô tả hiện trạng lao động sản xuất là một khâu cực kỳ quan trọng không được coi nhẹ Có thể kết hợp nhìn, nghe, sờ, kết hợp với việc sử dụng kỹ thuật chụp ảnh, quay phim, ghi âm, bấm giờ để thu thập số liệu Cần tập trung quan sát từng vị trí làm việc trên các dây chuyền sản xuất Nội dung quan sát thường là các tư thế lao động, các thao tác trên công cụ thiết bị, mức độ tập trung chú ý của công nhân, những biểu hiện tâm lý qua sắc mặt, thái độ, lời nói trong khi giao tiếp
4.3.5 Kết luận, nhận định
Những kết quả điều tra và quan sát được thể hiện đầy đủ và rõ ràng trong các bảng số liệu (Lưu ý: cần ghi chú thời gian, địa điểm và người điều tra quan sát mô tả và phương pháp cũng như thiết bị sử dụng) Những số liệu thu được có thể được minh họa bằng các biểu đồ, các mô hình các đường biểu diễn Qua những số liệu đã trình bày cần rút ra một số kết luận chủ yếu liên quan mật thiết đến hoạt động lao động, đến những diễn biến tâm lý chủ yếu có tác động đến người lao động, đến tổ chức sản xuất và năng suất lao động
Căn cứ vào kết luận đã nêu ra, nên có (và cần thiết) đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần cải thiện điều kiện lao động, giải đáp những vấn đề tâm lý đặt ra trong công trình nghiên cứu vừa hoàn thành Chú ý nêu những kiến nghị có tính khả thi, càng cụ thể càng tốt
4.4 Phương pháp thực nghiệm
Phương pháp này thường tiến hành trong các phòng thí nghiệm sinh lý và tâm lý lao động Bằng phương pháp này có thể xác định một cách chắc chắn mức độ ảnh hưởng của các biến số khác nhau đến các hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu Trong phòng thí nghiệm có thể tạo một điều kiện môi trường tương tự như môi trường thực trong lao
Trang 13động để đối tượng thực nghiệm có thể tiến hành những thao tác theo
yêu cầu Qua thực nghiệm có thể thu được các biến số độc lập nhằm
để nghiên cứu các khả năng và hạn chế trong quá trình nhận thức
(cảm giác, tri giác) cũng như các phản ứng qua thái độ và hành động
của người thực nghiệm Ngoài ra cũng có thể thu được những biến số
phụ thuộc dưới tác động của các biến số độc lập nói trên và qua đó có
thể đánh giá được ý nghĩa của các biến số độc lập
Cần lưu ý kết quả thực nghiệm trong phòng thí nghiệm không
phải lúc nào cũng có thể ứng dụng ngay một cách rộng rãi trong thực
tiễn lao động Vì vậy trước khi ứng dụng rộng rãi các kết quả đã thu
được trong phòng thí nghiệm cần phải trải qua một bước thực nghiệm
trên quy mô hạn chế để kiểm tra tính khả thi của những kết luận từ
phòng thí nghiệm
Phần 1 :
* Câu hỏi ôn tập
1 Hãy giải thích các ính chất chủ yếu của lao động này nay và
những diễn biến tâm lý có thể xảy ra
2 Hãy giải thích ý nghĩa và cơ sở của những phương pháp tiếp
cận chủ yếu
* Tài liệu tham khảo :
1 Kim Thị Dung, Nguyễn Ánh Hồng Đề cương bài giảng Tâm lý
học đại cương, NXB ĐHQG.TPHCM, 1997
2 Phạm Tất Dong Tâm lý học lao động Tập bài giảng lớp cao
học-Viện Khoa học giáo dục, 1997
3 Nguyễn Văn Lê Khoa học lao động NXB Lao động, 1995
4 Nguyễn Ngọc Nga Thực hành Y học lao động NXB Y học,
1999
Trang 14Phần II
PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG
I MỤC ĐÍCH
Phân tích lao động nhằm những mục đích cụ thể khác nhau tùy
theo mục đích của công trình nghiên cứu Tuy nhiên phân tích lao
động trong tâm lý học lao động thường nhằm các mục đích sau:
1 Mô tả hoạt động lao động trên khía cạnh tâm lý (cảm giác,
tri giác, trí tuệ…) dưới tác động của các yếu tố môi trường, của thiết bị,
máy móc cũng như các yếu tố về tổ chức lao động
2 Qua mô tả hoạt động lao động điều quan trọng là giải thích
được các hành động, sự tác động qua lại của các hành động, nguyên
nhân và cơ chế gây ra những hành động đó
Trước hết là phải đề cập đến các cách phân loại lao động
1.1 Phân loại lao động
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nội dung và
tính chất của lao động không ngừng biến đổi, ngày càng phong phú,
phức tạp hơn và luôn luôn đổi mới cùng với sự tiến bộ của khoa học -
kỹ thuật – công nghệ Theo đó nghề nghiệp, chức danh lao động và
công việc cũng ngày một nhiềâu hơn Ở mỗi thời kỳ và mỗi nước có
một số công việc, nghề nghiệp chiếm tỷ lệ ưu thế khác nhau
Lao động là một quá trình hoạt động nhằm tạo sự thích ứng của
xã hội loài người với thế giới xung quanh để tồn tại và phát triển Do
tính chất lao động không ngừng biến đổi mà phân loại lao động
thường chỉ có giá trị lịch sử, chỉ là bức ảnh của một giai đoạn phát triển nên không thể có một sự phân loại lao động vĩnh cửu
* Cách phân loại xưa nhất là chia ra lao động chân tay và lao động trí óc Sự thực thì bất cứ loại lao động nào cũng đòi hỏi cả hai yếu tố chân tay và trí óc, tất nhiên là với tỷ lệ khác nhau
* Cách phân loại theo tính chất và công cụ Theo Intelson thì có thể chia làm 3 nhóm theo tính chất là: Nhóm tổng hợp, nhóm chuyên hóa một phần và nhóm chuyên hóa thực thụ; hoặc chia ra hai nhóm theo công cụ là nhóm máy móc và nhóm chân tay Cách phân chia này quá thô sơ
* Theo phương tiện lao động, theo thao tác công nghệ và lao động
được đầu tư, Viện khoa học lao động Moskva đã phân chia thành các loại:
- Lao động phổ thông, chủ yếu là lao động thể lực, không có máy móc, không được đào tạo, không có yêu cầu lành nghề;
- Lao động bán lành nghề, lao động với máy móc tương đối đơn giản hoặc phục vụ máy móc bằng tay là chủ yếu hay gọi là nghề thủ công;
- Lao động lành nghề, làm việc với máy móc cơ khí, điện…;
- Lao động lành nghề có trình độ cao, làm việc và điều khiển các thiết bị phức tạp
* Dựa trên khả năng sáng tạo các nhà xã hội học ở St Petersburg lại chia làm sáu nhóm bao gồm:
- Lao động đặc trưng là thể lực, làm việc bằng chân tay, không có máy móc hoặc ít máy móc lành nghề;
- Lao động dây chuyền, làm việc với những thao táùc ít phức tạp, nối tiếp nhau trên một dây chuyền, theo những nhịp độ nhất định, phụ thuộc vào nhau;
Trang 15- Lao động cơ giới, không có nhịp bắt buộc, trình độ lành nghề
vừa phải;
- Lao động điều khiển các thiết bị tư động, không lắp ráp và sửa
chữa, trình độ lành nghề trung bình;
- Lao độâng lành nghề bằng tay, đòi hỏi đào tạo chuyên môn sâu
như các nghệ nhân truyền thống;
- Lao động điều khiển và sửa chữa các hệ thống thiết bị tự động
Sựï phân chia này tuy có phần chi tiếât nhưng vẫn chủ yếu là dựa
vào kỹ năng thao tác mà bỏ quên các kĩ năng khác như sáng tạo nghệ
thuật, thiết kế…
* Dựa vào yêu cầu tâm sinh lí, nhà tâm lí học Titô phân chia
lao động thành bốn nhóm:
- Nhóm đặc trưng cho tính chất đột biến, bất ngờ của thao tác
lao động;
- Nhóm đặc trưng bởi tình huống lao động được lặp lại thường xuyên;
- Nhóm lao động không có yêu cầu đặc biệt đối với chất lượng
tâm sinh lý của con người;
- Nhóm lao động không đòi hỏi đào tạo chuyên môn, nhóm lao
động phổ thông
* Dựa trên yêu cầu trí tuệ, một số nhà khoa học Mỹ lại chia ra
nhóm có yêu cầu thấp, trung bình và cao
* Theo theo mức độ chú ý tập trung và dịch chuyển (theo một số
nhà khoa học Ba Lan)
* Khuynh hướng ngày nay là chia lao động thành ba nhóm gồm:
- Nhóm chủ yếu sử dụng thể lực;
- Nhóm lao động có mật độ (nhịp điệu và cường độ) rất cao;
- Nhóm lao động hiện đại (trong hệ thống tự động hóa cao) Hiện tại có rất nhiều bảng phân loại lao động khác nhau chủ yếu là xuất phát từ sự khác nhau trong cách đặt vấn đề, khác nhau về mục đích và tính khả thi trong thực tiễn
1.2 Đặc trưng của lao động - một hình thức vận động 1.2.1 Lực cơ
Lực cơ là biểu hiện quan trọng nhất trong hệ thống vận động Lực cơ phụ thuộc vào số lượng các cơ tham gia, sự thích ứng của thần kinh dinh dưỡng hoạt động nội tiết, tuổi, giới, nhịp sinh học, động cơ luyên tập, sự mệt mỏi và các yếu tố môi trường Với một kích thích tâm lí như thế nào đó lực cơ có thể đạt mức tối đa (có thể vượt qua cả ngưỡng bình thường của hằng số sinh học người) Sức bền, sự dẻo dai của cơ cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều của yếu tố tâm lí Thông thường người ta chỉ sử dụng khoảng 1/3 lực cơ tối đa để làm ngưỡng thiết kế cho các loại chuyển động
1.2.2 Tốc độ chuyển động
Tốc độ chuyển động phụ thuộc vào điều kiện sinh lí cơ (cơ sinh) và tâm lí Tùy theo yêu câàu và tính chất công việc mà cơ thểâ thực hiện các loại chuyển động khác nhau đáp ứng các yêu cầu về định hướng (tọa độ) đường đi, tốc độ và cường độ của chuyển động Tốc độ lớn khi sức cản nhỏ và ngược lại Cần có tốc độ lớn thì sử dụng chuyển động quay; lực kéo vào thì nhanh và lớn hơn đẩy ra; chuyển động ngang thuận lợi hơn chuyển động đứng Với mức gắng sức bằng 50% lực tối đa thì tốc độ tối ưu phải đạt tới 20% tốc độ tối đa
1.2.3 Nhịp điệu chuyển động
Trang 16Nhịp điệu chuyển động phụ thuộc vào các yếu tố như biên độ
chuyển động (20 cm là thuận lợi nhất cho chuyển động lặp lại của bàn
tay), vào yêu cầu của độ chính xác Yêu cầu càng lớn thì biên độ và nhịp
điệu càng phải nhỏ) Nhịp điệu (hay tần số) thuận lợi nhất là 30 giây/
chuyển động (hay cử động) Nhịp điệu bình thường của người Âu, Mỹ là
45-50 giây/cử động (Người Việt Nam chưa có số liệu)
1.2.4 Phối hợp chuyển động
Thông thường được thực hiện theo nguyên tắc cùng hoạt động
nhưng khác hướng nhau cả tay lẫn chân và được theo dõi, điều chỉnh
bằng mắt
1.2.5 Yêu cầu tâm lý của công việc
Để hoàn thành bất kỳ công việc gì con người đều phải trải qua
đầy đủ các khâu: Phát tín hiệu - tiếp nhận thông tin - xử lý thông tin -
ra quyết định - thực hiện quyết định - thông báo kết quả Quy trình
này huy động hầu hết các chức năng sinh lý, các quá trình tâm lí và
một số đặc điểm tâm lí cá nhân với mức độ khác nhau tùy theo từng
công việc cụ thể:
- Lao động phổ thông là lao động đơn giản, ít hoặc không cần
thời gian tập luyện, đòi hỏi thể lực (nhiều hay ít) là chủ yếu Các yêu
cầu về tâm lí vận động đòi hỏi không nhiều về độ chính xác và độ tin
cậy không cao lắm
- Lao động thủ công là lao động bằng tay, yêu cầu thể lực theo
nhiều mức độ khác nhau, đòi hỏi sự phối hợp vận động tốt với độ
chính xác cao, độ tin cậy lớn (ví dụ thợ sửa đồng hồ) Sự tập trung chú
ý và độ bền vững của chú ý là đặc trưng quan trọng
- Lao động đứng máy là hoạt động của con người với máy móc
(ví dụ các máy gia công cắt gọt kim loại) Các thao tác đòi hỏi sự kết
hợp tốt của cảm giác và tâm lí vận động, đòi hỏi tư duy ở mức nhất định, đòi hỏi sự chú ý cao trong từng thời gian, yêu cầu thể lực không nhiều, có sự di chuyển cơ thể trong khuôn khổ nhất định
- Lao động tại bàn điều khiển đòi hỏi thể lực không nhiều; đòi hỏi nhiều về khả năng cá nhân tiếp nhận, chọn lựa xử lý và truyền đạt thông tin; đòi hỏi có phản ứng nhanh nhạy, chính xác và tin cậy cao; đòi hỏi sự chú ý tập trung và chú ý dịch chuyển cao Đặc trưng quan trọng là trạng thái tỉnh táo, thái độ điềm tĩnh
- Điều khiển các phương tiện chuyển động (lái xe, tàu, máy bay ) Yêu cầu đặc trưng là tri giác tốt, phản xạ nhanh, phối hợp chân tay thuần thục nhằm kịp thời thích nghi với các tình huống chuyển động Trạng thái chú ý với mức độ tập trung và chuyển dịch luân phiên là đặc trưng quan trọng
- Lao động dây chuyền đòi hỏi sự nhanh nhạy và chính xác Cần lưu ý luân chuyển công việc để giảm bớt cảm giác đơn điệu và phòng tránh tác hại của sự buồn chán
- Lao động khoa học, học thuật đòi hỏi khả năng quan sát tốt, mức độ tư duy sáng tạo cao, trí nhớ tốt
- Hoạt động lãnh đạo, quản lý đòi hỏi nhiều thuộc tính tâm lí cá nhân, mức độ chú ý tốt và trạng thái điềm tĩnh, khách quan
- Hoạt động văn hóa, biểu diễn nghệ thuật đòi hỏi cao về tri giác, óc quan sát, trí nhớ tốt, phối hợp động tác tốt và hợp tác trong tập thể tốt Cảm xúc chân thật là đặc trưng quan trọng
- Hoạt động thể dục thể thao đòi hỏi thể lực cao, sức bền và dẻo dai, khéo léo, phản xạ nhanh, phối hợp tốt đồng thời cũng đòi hỏi trí tuệ cao, trí nhớ thao tác, trí nhớ không gian tốt Đặc trưng rất quan trọng là thuộc tính tâm lí cá nhân tốt: dũng cảm, hứng thú, say mê và sáng tạo
Trang 17Nói chung cũng như lao động nghệ thuật, bên cạnh sự nỗ lực cá nhân thì
không thể không quan tâm đến yếu tố năng khiếu bẩm sinh
- Lao động chiến đấu đòi hỏi thể lực tốt, sự sáng tạo và nhiều
thuộc tính tâm lí cá nhân đặc biệt như lí trí vững, bản lĩnh cao, tính
quyết đoán, táo bạo, dũng cảm
Hoạt động lao động là một dạng hoạt động đặc biệt của con
người, luôn luôn kèm theo công cụ lao động với nhiều cấp bậc khác
nhau (lao động thủ công, bán cơ giới, cơ giới, bán tự động và tự động
hóa) Hoạt động lao động của con người bao giờ cũng có mục đích
nhất định - ngắn hạn hoặc dài hạn
Mỗi hoạt động diễn ra trong từng giai đoạn nhằm những mục
đích nhất định được gọi là một hành động Hành động là một đơn vị
của hoạt động nhằm một nhiệm vụ sơ cấp nhỏ nhất, không phân chia
được nữa
Như vậy một hoạt động lao động sẽ có nhiều hành động, với
những mục đích nhấât định Tổ chức một hoạt động lao động là phải
làm rõ những mục đích cụ thể, bộ phận và tiến trình đạt tới mục đích
cuối cùng, có nghĩa là phải xem hành động với những phương tiện gì
và cách thức sử dụng những phương tiện đó ra sao vv Phương thức
hành động được thể hiện bằng những thao tác
Thao tác là một phần của quá trình công nghệ được một người
hoặc một hay nhiều nhóm người tiến hành trên một vị trí làm việc
nhằm hoàn thành một số chi tiết, một số bán thành phẩm hay một dây
chuyền sản xuất Một hành động có thể cần một hay nhiều thao tác
Điều đó phụ thuộc vào công cụ, phương tiện làm việc cũng như
phương thức thực hiện hành động nói chung Nói khác đi, một hành
động được thực hiệân bởi một hay nhiều thao tác và như vậy thao tác
có thể coi như là một đơn vị của hành động
Tùy thuộc vào đặc điểm cấu tạo chức năng của công cụ mà mỗi thao tác đều phải được tiến hành trong những tư thế và động tác phù hợp Mỗi động tác đều được hình thành từ những cử động khác nhau Hiệu quả của mỗi chu kì thao tác phụ thuộc vào sự hợp lý của mỗâi động tác và mỗi cử động; vào sự khéo léo và tiết kiệm trong mỗi cử động, mỗi động tác; vào kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của người lao động Mỗi cử động, động tác được thực hiện trong những tư thế lao động khác nhau có hiệu quả rất khác nhau Tư thế lao động hợp lý tạo thuận lợi cho cử động, động tác phù hợp với yêu cầu về nhịp điệu, cường độ và quỹ đạo của cử động, động tác Tư thế lao động thoải mái, dễ chịu giúp cho việc lựa chọn những cử động, động tác tối ưu Phân tích lao động phải bắt đầu từ việc nghiên cứu những cử động, động tác trong những tư thế khác nhau
Cùng với môi trường lao động, những yêu cầu về tổ chức lao động, những yêu cầu về trạng thái tâm lý tập hợp lại thành điều kiện lao động
II ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG 2.1 Quan niệm
Mỗi hoạt động lao động đều được thực hiện trong những điều kiện nhất định Lao động sản xuất phải được tiến hành trong điều kiện lao động sản xuất
Điều kiện lao động còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động Ngày nay điều kiện lao động không phụ thuộc nhiều vào bản chất chế độ chính trị mà liên quan nhiều hơn đến chính sách và phương pháp quản lý sản xuất
Những nhà quản lý sản xuất giỏi luôn quan tâm đến việc cải thiện điều kiện lao động, lấy người lao động làm trọng tâm của chính sách và
Trang 18biện pháp Người quản lý luôn cố gắng tạo điều kiện để người lao động có
một sức khỏe thể chất và tinh thần tốt, gắn bó mật thiết với doanh nghiệp,
tạo được sự hài hòa về quyền lợi giữa người lao động, người sử dụng lao
động và nhu cầu phát triển của doanh nghiệp
Trong nhiều việc, nhiều lĩnh vực, cần làm sao để có điều kiện
lao động tốt, như có thể, người ta phải quan tâm trước hết đến môi
trường lao động, tổ chức lao động hợp lý, bảo vệ sức khỏe, phòng
chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta sang cơ chế thị trường,
có sự quản lí của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang tạo
đà cho sự phát triển với tốc độ nhanh và ngày càng bền vững Sự phát
triển của sản xuất đã tác động đến xu hướng biến động của điều kiện
lao động với nhiều mức độ khác nhau và ảnh hưởng khác nhau đến
người lao động
Khái niệm điều kiện lao động tuy có nhiều cách diễn giải khác
nhau nhưng tựu trung đều có cách hiểu thống nhất như sau: "Điều kiện
lao động là tổng thể các yếu tố tự nhiên, xã hội, kinh tế, kĩ thuật, tổ
chức, vệ sinh, tâm lí, sinh lí v v… có tác động đến chức năng cơ thể
con người, tinh thần thái độ lao động, sức khỏe và năng lực lao động,
hiệu quả lao động hiện tại cũng như khả năng tái sản xuất sức lao
động trước mắt và lâu dài" Nội dung của điều kiện lao động có thể
chia thành bốn nhóm như sau:
1 Các yếu tố vệ sinh môi trường bao gồm các yếu tố vật lí, hóa
học, sinh học được tạo nên chủ yếu dưới tác động của công cụ, thiết bị lao
động (phương tiện lao động), đối tượng lao động và quy trình công nghệ
2 Các yếu tố tâm sinh lý bao gồm các yếu tố về tải trọng thể
lực, thần kinh, tâm lý được hình thành trong quá trình lao động và hồi
phục sức lao động
3 Các yếu tố tâm lý xã hội được hình thành dướùi tác động của
các mối quan hệ kinh tế xã hội như tổ chức lao động, trạng thái sức khỏe, năng suất lao động và thu nhập của người lao động, cung cách điều hành quản lý của người sử dụng lao động
4 Các yếu tố thẩm mỹ phản ánh qua cảm xúc, hứng thú của
người lao động bao gồm các cấu trúc không gian, nhà xưởng, bố cục màu sắc, âm thanh, không khí tâm lý tập thể
Sự phân chia thành bốn nhóm yếu tố như trên chỉ có ý nghĩa học thuật Trong thực tế lao động sản xuất, các yếu tố này không xuất hiện một cách riêng rẽ, không tác động một cách đơn lẻ lên người lao động mà còn ảnh hưởng qua lại với nhau với mức độ nặng nhẹ, nhiều
Các yếu tố của điều kiện lao động gồm hai nhóm chính:
Môi trường lao động có 10 yếu tố Tâm sinh lý có 12 yếu tố Mức độ năng nhọc – độc hại của mỗi yếu tố được đánh giá theo thang phân loại gồm 6 bậc và cho điểm từ 1 đến 6 điểm, từ nhẹ đến nặng Để đánh giá một cách tổng hợp các yếu tố, có thể sử dụng công thức sau:
Y = 17,1x – 1,2x2 + 2 trong đó - Y là mức độ nặng nhẹ
- x là giá trị trung bình cộng của các yếu tố đã khảo sát
Trang 19Căn cứ vào giá trị trung bình Y đã tính được để xếp loại theo
một thang phân loại 6 bậc từ nhẹ đến nặng: Bậc I khi giá trị Y<18,
bậc II với Y= 18-34; bậc III khi Y >34-46; bậc IV khi Y >46-55; bậc V
khi Y>55-59; bậc 6 khi Y>59
Nhiều tổ chức khoa học, các công ty siêu quốc gia như hãng xe
hơi Toyota cũng đưa ra nhiều phương pháp nghiên cứu đánh giá điều
kiện lao động khác nhau, có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau
2.2 Khái quát về môi trường lao động
2.2.1 Môi trường tự nhiên
Những yếu tố tự nhiên hình thành và diễn biến trong quá trình
lao động, có ảnh hưởng đến thể chất tinh thần đặc biệt là trạng thái
tâm lí của người lao động Mỗi yếu tố môi trường khi tác động vào cơ
thể người đều tuân theo quy luật giới hạn được xác định từ điểm thấp
nhất (minimum-min) đến điểm cao nhất (maximum-max) Khoảng
min-max đó được gọi là giới hạn sinh thái hay còn gọi là giới hạn
chống chịu của cơ thể đối với yếu tố tác động Khi tác động ra ngoài
giới hạn sinh thái đó thì yếu tố tác động bị coi là yếu tố gây ô nhiễm
Vậy thực chất của việc xử lí ô nhiễm là tìm biện pháp đưa yếu tố tác
động trở về bên trong giới hạn sinh thái của cơ thể Căn cứ vào kết
quả nghiên cứu giới hạn sinh thái của cơ thể đối với các yếu tố tác
động, nhà nước ban hành những tiêu chuẩn cho phép được gọi là tiêu
chuẩn Việt Nam - viết tắt là TCVN làm cơ sở để đánh giá mức độ ô
nhiễm Cần lưu ý khi khảo sát môi trường lao động là phải quan tâm
đến nơi làm việc (hay còn gọi là vị trí lao động) Nơi làm việc
(working place) được định nghĩa là không gian hoạt động chủ yếu của
người lao động (chiếm hơn 80% thời gian lao động) Ví dụ đối với thợ
may thì độ sáng cần quan tâm là đầu mũi kim, với người đọc sách là
trên mặt trang sách Sau đây lược kê một số yếu tố môi trường tự
nhiên xuất hiện phổ biến trong quá trình lao động:
Vi khí hậu: đó là những yếu tố vật lí như nhiệt độ, độ ẩm, chuyển động của không khí (đôi khi cả ánh sáng nữa) Trong môi trường lao động, TCVN về nhiệt là 32o; độ ẩm không quá 80%; chuyển động của không khí hay thường gọi là gió khoảng 0, 5-1, 5 mét/giây Trong thực tế thường gặp trường hợp nhiệt độ cao mà độ ẩm cũng cao lại ít gió thì cảm thấy không khí khó chịu hơn nhiều so với khi độ ẩm thấp và gió nhiều hơn Nhiệt độ thấp, đã lạnh mà gió nhiều nữa thì càng thấy lạnh Vì vậy người ta không chỉ quan tâm đến từng yếu tố nhiệt, ẩm, gió mà thường tìm một đại lượng biểu thị tác động tổng hợp của ba yếu tố đó
Ví dụ: Nhiệt độ hiệu quả tương đương
V: tốc độ gió
Các yếu tố vi khí hậu có thể có nguồn gốc từ thiên nhiên bên ngoài (từ bức xạ nhiệt của mặt trời chủ yếu qua mái nhà) cũng có thể
do quá trình sản xuất tạo ra (từ lò đốt, máy móc hoạt động và cũng có thể từ nhiệt bức xạ của người lao động, quá đông người và quá chật
chội) Người ta thường dùng khái niệm stress nhiệt để chỉ lượng nhiệt
cần phải thoát đi nhằm đảm bảo duy trì sự cân bằng nhiệt cho cơ thể;
Khái niệm stress (căng thẳng) nhiệt để chỉ những biển đổi sinh lí, tâm
lí, bệnh lí do sress nhiệt gây ra Stress nhiệt tác động vào cơ thể từ môi trường ngoài còn chuyển hóa vật chất là tác động từ bên trong
Trang 20Để duy trì cân bằng nhiệt nội tại thì lượng nhiệt do chuyển hóa phải
được thoát đi bằng dẫn truyền, đối lưu, bức xạ và bay hơi Tùy điều
kiện môi trường mà cơ thể tăng hay giảm nhiệt qua các cơ chế này
Mỗi gam mồ hôi bay hơi sẽ lấy đi 0, 59 kilocalo nhiệt Môi trường
nóng và ẩm mồ hôi thải ra nhiều dẫn đến sự mất nước và kéo theo cả
nhiều muối khoáng và một số vitamin như vitamin B, C…
Nước ta tuy ở vào khu vực nhiệt đới nhưng không phải vì vậy
mà không cần quan tâm đến môi trường lạnh Phía bắc nước ta hàng
năm có tới 80 ngày nhiệt độ dưới 20o, Tây Nguyên cũng có nhiều
ngày khá lạnh nhất là lao động về đêm Nhiệt độ thấp mà nhiều gió
thì cảm giác lạnh tăng lên không chỉ là yếu tố tâm lí mà còn do lượng
nhiệt mất đi nhiều hơn Tốc độ gió khoảng 8m/giây lượng nhiệt mất đi
tăng lên 2 lần, gió 20m/giây tăng 5 lần Làm việc dưới nước lạnh thì
lượng nhiệt mất đi gấp 14 lần làm việc trên cạn
Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, vượt quá tiêu chuẩn cho phép
không chỉ gây rối loạn các chức năng hoạt động của cơ thể mà còn tác
động rất mạnh đến trạng thái tâm lý của người lao động, dễ dẫn đến tình
trạng căng thẳng, bực bội, giảm khả năng chú ý, tạo ra nguy cơ tai nạn lao
động Say nóng, say nắng là hiện tượng không hiếm đối với người lao động
ngoài trời trong vùng nhiệt đới nóng ẩm như ở nước ta
- Ánh sáng: Có thể là nguồn sáng từ mặt trời hoặc nguồn sáng
nhân tạo, thể hiệân bằng các chỉ tiêu về độ rọi (sáng, tối), về độ tương
phản, độ chói lóa và màu sắc, tác động khác nhau đến thị lực và trạng
thái tâm lý của người lao động Làm việc trong điều kiện ánh sáng
không đạt tiêu chuẩn là một trong nhiều nguyên nhân gây bệnh cận
thị Làm việc nhiều trên màn hình máy vi tính, phải căng mắt để tập
trung vào các tín hiệu, lâu ngày sẽ gây khô mắt và nhãn áp tăng cao
có nguy cơ dẫn đến bệnh thiên đầu thống, gây mù mắt Mắt là giác
quan quan trọng nhất trong quá trình nhận thức (chiếm hơn 80% hoạt
động cảm giác) do đó tổn thương mắt gây thương tổn tâm lí trầm trọng nhất trong cuộc đời Yêu cầu về độ rọi sáng còn phụ thuộc nhiều vào độ tương phản ánh sáng màu sắc của đối tượng quan sát Đó cũng là lí do mà người ta phải viết phấn trắng lên bảng đen Ngày nay người ta không dùng bảng quá đen mà dùng bảng màu hơi xanh đen vì độ tương phản quá mạnh cũng không có lợi cho thị giác
- Màu sắc là yếu tố thẩm mỹ có tác động lớn đến cảm xúc Màu
lạnh, màu nóng đều tác động khác nhau đến trạng thái hưng phấn hay ức chế trong vỏ não, đòi hỏi sự thích nghi khác nhau Người ta cũng
thường nói đến màu vui, màu buồn Stein từ năm 1910 đã nghiên cứu
ảnh hưởng của màu sắc đến cảm giác của con người Màu sắc có tác động một phần đến phản xạ vận động của con người Màu đỏ làm tăng tốc độ phản xạ đơn giản khoảng 1, 5%, các phản xạ phức tạp lên đến hơn 5% trong khi màu xanh lá cây làm giảm một ít và màu tím làm chậm rõ rệt tốc độ phản xạ Dưới ánh sáng màu đỏ, cảm nhận về hình thức bên ngoài, về trọng lượng của sự vật kém chính xác hơn so với màu lam Trong khi màu đỏ gây cảm giác căng thẳng nhiều hơn thì màu lam tăng cảm giác dễ chịu Màu lam tăng cảm giác mở rộng trường thị giác, còn màu nâu thì ngược lại, tựa như khi lùi xa để nhìn bao quát hơn còn tiến lại gần để thu hẹp không gian quan sát Aùnh sáng tự nhiên bao giờ cũng tốt hơn ánh sáng nhân tạo Đèn huỳnh quang nếu không bố trí hợp lí, khoa học cũng sẽ gây tác hại không nhỏ đến thị giác
- Tiếng ồn: Tiếng ồn là yếu tố môi trường rất phổ biến ở nước
ta Tùy hoàn cảnh và điều kiện hoạt động mà TCVN có những mức độ khác nhau Đơn vị đo cường độ ồn là decibel-dB Trong công nghiệp tiêu chuẩn tối đa cho phép là 85 dB, nhưng trong môi trường học tập, trên lớp học là không quá 60 dB, trong phòng bệânh nhân là không quá 40 dB… Tiếp xúc lâu ngày với tiếng ồn, có thể không quá
Trang 21tiêu chuẩn cho phép, nhưng với khoảng 70-80 dB sẽ sinh ra tình trạng
nghễnh ngãng, thường thấy ở nữ công nhân ngành dệt, gây trạng thái
tâm lí buồn tủi trầm nhược trong sinh hoạt, đặc biệt trong quan hệ
luyến ái nam nữ Tiếp xúc lâu ngày với tiếng ồn quá lớn sẽ dẫn đến
bệnh điếc nghề nghiệp
- Bụi: Bụi có thể là từ bên ngoài bay vào nhưng chủ yếu là bên
trong do nguyên liệu, nhiên liệu và quá trình công nghệ tạo ra Có thể
là bụi vô cơ, bụi hữu cơ
Đại lượng đo lường phổ biến là kích thước và trọng lượng bụi
Bụi tác độâng xấu vào mắt, da và nguy hiểm nhất là vào phổi Đã có
nhiều công trình nghiên cứu về tác động của bụi, đặc biệt là các bệnh
phổi do bụi như bệnh Silicosis do bụi silic (Si02) gây ra, bệnh
Asbestosis do bụi amiang; bệnh Bissinosis do bụi bông; bệnh
Anthracosis do bụi than
- Hơi khí độc: Chủ yếu là từ nhiên liệu, nguyên liệu thông qua quá
trình công nghệ mà thoát ra Những khói và khí độc thường biết đến là
CO, CO2, do đốt nhiên liệu, than, dầu SO2, SO3 chủ yếu từ dầu đốt có
hàm lượng lưu huỳnh cao Các loại khí khác như NOx, Cl, các axít vv
thoát ra từ những quá trình tổng hợp, trích ly hóa học Những nhà máy
hóa chất, cao su, nhựa tổng hợp là những nơi có nhiều khí độc rất nguy
hiểm Tiếp xúc lâu ngày với các loại khí độc, dù chưa vượt quá tiêu
chuẩn cho phép cũng là nguy cơ dẫn đến các bệnh nghề nghiệp
- Rác thải, nước thải: là phầên thải bỏ của quá trình sản xuất,
sinh hoạt, đặc biệt rác thải y tế là những nguồn gây ô nhiễm nghiêm
trọng cho môi trường lao động và môi trường chung bên ngoài Nhược
điểm lớn nhất của công tác thu gom rác thải là không được phân loại
từ nguồn thải Rác thải không phân loại theo thành phần sẽ gây rất
nhiều trở ngại cho việc xử lí Nước thải không được xử lý tốt sẽ gây ra
ô nhiễm cho các nguồn nước mặt và cả nguồn nước ngầm Nước thải
chứa nhiều kim loại nặng rất nguy hiểm cho người và súc vật là nguy
cơ gây nhiều bênh ung thư khó điều trị
- Vi sinh vật xen lẫn trong nước thải và chất thải rắn cũng như
lơ lửng trong không khí hoặc bám vào các phần tử bụi Đặc biệt nguy hiểm là vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm trong rác thải y tế, trong các cơ sở khám chữa bệnh Vi sinh vật xen lẫn trong thực phẩm không đảm bảo vệ sinh là nguồn gây bệnh, gây ngộ độc thực phẩm
- Các yếu tố bức xạ cũng là nguồn gây ô nhiễm không hiếm
trong các cơ sở sản xuất công nghiệp (khai thác quặng, luyện kim…) cũng như trong các cơ sở y tế không đảm bảo quy trình bảo vệ sức khỏe cho người lao động
Về nguyên tắc, xử lý ô nhiễm môi trường phải theo ba bước:
Bước 1: Xử lý ngay đầu nguồn, tại nguồn gây ô nhiễm, từ nhiên liệu,
nguyên liệu đầu vào, từ thiết bị và quy trình công nghệ Ví dụ thay đổi chất đốt từ củi sang than đá rồi sang dầu DO, FO rồi sang khí hóa lỏng, khí gây ô nhiễm sẽ giảm bớt rất nhiều
Bước 2: Nếu bước 1 chưa tốt thì phải ngăn chặn trên đường lan truyền
như bọc kín nguồn gây ô nhiễm, dùng các biện pháp kĩ thuật để lọc, hút, thải cao… Tuy nhiên một số biện pháp như thải cao (qua ống khói) hay chôn lấp mà không có biện pháp xử lý đúng đắn thì chỉ là
"đánh bùn sang ao" vì hàm lượng chất ô nhiễm không hề giảm đi mà chỉ là di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác Nguyên tắc căn bản là phải tìm biện pháp thu hồi, tái sử dung, tái chế nguyên vật liêu thải ra vưà để tiết kiệm nguồn tài nguyên vừa giảm thiểu ô nhiễm và cuối cùng mới đi đến thải bỏ
Bước 3: Nếu bước 2 chưa giải quyết được yêu cầu thì phải sử dụng
phương tiện bảo vệ cá nhân Mỗi loại phương tiện đều phải phù hợp với tính chất của nguồn ô nhiễm và đặc biệt là phù hợp với sức chịu
Trang 22đựng của người sử dụng (ví dụ đảm bảo kín, khít, không gây căng
thẳng, cản trở hô hấp, không gây cảm giác khó chịu, không gây trạng
thái căng thẳng thần kinh ) Những số liệu về nhân trắc học người
Việt Nam là những cơ sở khoa học quan trọng để thiết kế, sản xuất
các phương tiện bảo vệ cá nhân Các loại khẩu trang thường thấy trên
đường phố không đảm bảo chất lượng vệ sinh mà chỉ có tác dụng tâm
lý Ngoài ra cũng cần lưu ý đến thời hạn sử dụng Một phương tiện
không dùng đến mà để lâu ngày cũng có thể không còn tác dụng
phòng ngừa
- Nguy cơ tai nạn: Cũng như các yếu tố môi trường lao động,
trong quá trình hoạt động sản xuất có thể xảy ra chấn thương, ngộ độc
do thiết bị không được đảm bảo an toàn khi vận hành (máy móc quá
cũ, không được bảo dưỡng tốt, thiếu cơ cấu che chắn an toàn, không
được kiểm định đúng thời hạn gây chạm điện, chập điện, cháy nổ…)
Vì vậy cần quan tâm đến tính an toàn của thiết bị, máy móc, đến việc
giảm thiểu các nguy cơ gây cháy nổ đồng thời phải có đủ phương tiện,
có người phụ trách được huấn luyện và sẵn sàng dập tắt sự cố, sơ cấp
cứu kịp thời người bị nạn Tình trạng vệ sinh nhà xưởng, đường đi lối
lại sạch sẽ thông thoáng cũng là những yếu tố không được coi nhẹ
nhằm phòng tránh tối đa nguy cơ trơn trượt, té ngã Huấn luyện định
kỳ về an toàn vệ sinh lao động, cung cấp đầy đủ các phương tiện bảo
vệ cá nhân cho người lao động đã được quy định cụ thể trong các văn
bản pháp lý về bảo hộ lao động
- Tai nạn lao động là chấn thương, ngộ độc làm hư hỏng một
phần hay toàn bộ cơ thể (chết), làm giảm một phần hay toàn bộ khả
năng lao động Chỉ được tính là tai nạn lao động khi xảy ra trong thời
gian và không gian quy định liên quan đến nhiệm vụ được giao
- Bệnh nghề nghiệp là bệnh có liên quan đến một nghề do tiếp
xúc lâu dài với những yếu tố độc hại hoặc tư thế lao động không hợp
lý, làm giảm một phần hay toàn bộ khả năng lao động Hiện nay ở nước ta có quy định 25 bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm Để phòng ngừa bệnh nghề nghiệp nhà nước cũng yêu cầu các cơ quan, xí nghiệp
phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ hàng năm cho người lao động
2.2.2 Môi trường xã hội
Đó là những yếu tố còn lại của điều kiện lao động liên quan đến
con người và tổ chức lao động cũng như tổ chức xã hội
- Lao động theo ca kíp Trong sản xuất công nghiệp, để tận dụng năng suất của thiết bị, máy móc thường người ta vẫn tổ chức lao động theo ca, kíp Phổ biến nhất là sản xuất theo 3 ca sáng, chiều, tối Lao động theo ca không chỉ ảnh hưởng đến việc tổ chức cuộc sống ổn định hàng ngày, gây xáo trộn liên tục việc sinh hoạt, học hành, chăm sóc con cái, hoạt động vui chơi, giải trí, lao động thêm để cải thiện đời sống mà nguy hại nhất là ảnh hưởng xấu đến nhịp sinh học Sự thay đổi liên tục nhịp sinh học gây rối loạn hoạt động của mọi chức năng sinh lý cơ thể, đặc biệt là hoạt động thần kinh Giấc ngủ bị đảo lộn liên tục gây cản trở sự hồi phục chức năng cơ thể sau lao động, gây xáo trộn tinh thần tâm lí, đặc biệt đối với phụ nữ Mất ngủ nhiều đêm liên tục sẽ gây tình trạng mệt mỏi sớm, khó tập trung chú ý trong lao động dẫn đến nguy cơ tai nạn Đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng nguyên tắc nhịp sinh học để phòng tránh tai nạn lao động, hạn chế rủi ro
- Quan hệ tập thể Mối quan hệ tập thể, giữa cá nhân với cá nhân,
giữa người lao động và người quản lý - người sử dụng lao động đóng một vai trò đặc biệt quan trọng Tính lây lan tâm lí là một đặc trưng của hoạt động tập thể Trạng thái tâm lý của từng người tác động không nhỏ đến tâm lí của đồng nghiệp xung quanh và ngược lại Quan hệ đoàn kết, thân thiện trong tập thể tạo sự hứng phấn sáng tạo, đưa tới năng suất cao Quan hệ hợp tác, dân chủ giữa người quản lý và người lao động tạo sự
Trang 23hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau, cùng nhau phấn đấâu cho lợi ích chung của
doanh nghiệp Sự đãi ngộ đúng mức, phù hợp với sự đóng góp về sức lực
và trí tuệ của người lao động tạo sự ổn định về nhân lực và cơ hội phát
triển bền vững cho doanh nghiệp
- Sự hợp tác theo nhóm Trong quá trình công nghiệp – hiện đại
hóa, sự phân công lao động và chuyên môn hóa ngày càng cao, quy
trình sản xuất có thể rất phân tán (ở nhiều nơi cách xa nhau) đòi hỏi
việc thiết lập một quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa các bộ phận, các
thành viên của các tổ chức sản xuất Một quá trình thông tin và phối
hợp hành động của những người lao động hay một mạng lưới quan hệ
giữa người và người cần được quy định một cách chính xác trong đó
đáng chú ý là mối quan hệ tâm lý xã hội diễn ra trong phạm vi các
nhóm lao động Chức năng của yếu tố con người trong sản xuất công
nghiệp không chỉ thể hiện trong vai trò làm chủ các thiết bị kỹ thuật
tức là trong quan hệ giữa người và máy móc Chức năng của các mối
quan hệ liên nhân cách trong các nhóm lao động cũng như ảnh hưởng
của các nhóm đối với hoạt động sản xuất đã được Elton Max nghiên
cứu từ thập niên 20, 30 của thế kỉ trước Công trình nhiều năm của
Max cho thấy rằng năng suất lao động các thành viên trong nhóm
chịu tác động bởi tính chất của các mối quan hệ theo chiều ngang
(giữa các đồng nghiệp cùng vị trí trong nhóm) và theo chiều dọc (giữa
nhóm và người quản lý) Những nghiên cứu về nhóm lao động được
nhiều người nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau Với "lý
thuyết trường" K Lewin (1938) quan niệm hành vi của cá nhân và
của nhóm như là một hệ thống lực thường xuyên tác động đến những
biến cố trong trường tâm lý Với trường phái "Trắc đạc xã hội" J L
Moreno lưu ý tới tính bột phát và tính sáng tạo trong hoạt động nhóm,
trong đó sự trao đổi tình cảm, cường độ và hình thức của các quan hệ
xúc cảm có ý nghĩa hết sức quan trọng Theo Moreno có ba mối quan
hệ liên nhân cách cơ bản: Thiện cảm, ác cảm và trung tính Có thể sử
dụng một vài thủ thuật để đo đạc mứùc độ biểu hiện của các quan hệ liên nhân cách này Chẳng hạn cho thiện cảm là hệ số (+1), ác cảm là (-1) và trung tính là (0), rồi tính giá trị trung bình của mối quan hệ trong nhóm
Những yếu tố xã hội khác như đời sống vật chất, thu nhập,
quan hệ gia đình, hôn nhân… đều không phải là vô nghĩa đối với thành tích lao động của cá nhân và tập thể
2.2.3 Các yêu cầu về Ecgônômi
Thực ra chuyên ngành này không xuất phát từ những nghiên cứu lý thuyết mà xuất phát từ những sáng kiến, cải tiến các thao tác theo yêu cầu kĩ thuật của sản xuất nhằm góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm bớt mệt mỏi cho người lao động Vào cuối thế kỉ 19, kĩ sư
F W Taylor đã bắt đầu nghiên cứu việc tổ chức lao động hợp lý
bằng cách phân tích thao tác thành các động tác và các cử động nhỏ nhất nhằm tìm ra những cử động, động tác thừa, không hợp lý, chọn lọc những cử động, động tác thuận lợi nhất để thực hiện hành động lao động Nhờ đó mà tiết kiệm được thời gian hoàn thành những thao tác, giảm được giờ làm, giảm được số lượng nhân công, đem lại lợi nhuận rất lớn cho chủ tư bản Người ta gọi đó là phương pháp hay dây chuyền Taylor
Cũng khoảng thời gian đó vợ chồng kĩ sư F B Gilbreth (vợ là
nhà tâm lý học) sử dụng phương pháp chụp ảnh và quay phim các động tác và đã xác định được 17 động tác thường được thực hiện trong
các thao tác Cuốn sách của Gilbreth xuất bản năm 1911 tại Newyork
"Nghiên cứu các động tác, kinh nghiệm gia tăng hiệu quả lao động của công nhân" được nhiều người đón nhận, phát triển Năm 1927 R M Barnes đã xác lập được nguyên tắc tiết kiệm động tác và 22 quy tắc
hợp lý hóa động tác
Trang 24Từ chiến tranh thế giới lần I đến lần II, với sự phát triển mạnh mẽ
các thiết bị quân sự, một vấn đề mới được đặt ra là phải nghiên cứu khả
năng và giới hạn của con người về thể chất và đặc biệt là về tâm lý nhằm
đảm bảo sự thích ứng của thiết bị máy móc với giới hạn của con người
Đó là giai đoạn đầu của bộ môn tâm lý học kĩ sư và gần như chỉ tập trung
vào việâc nghiên cứu sự thích ứng của những bộ phận chi tiết của máy
móc như thiết bị đo đạc, bộ phận điều khiển với con người
Từ những năm 1950 - 1960 với những quan niệm mới của
ecgônômi về hệ thống con người - máy móc - môi trường, sự vận
hành của con người và máy móc phải nằm trong mối tương quan của
hệ thống Người ta nhận thấy bên cạnh những yếu tố môi trường (vật
lí, hóa, sinh học) những yếu tố tâm lý cá nhân, xã hội ảnh hưởng
không ít đến năng suất lao động
Theo định nghiã của Hội Ecgônômi quốc tế - IEA
(International Ergonomia Association) thì ecgônômi là khoa học liên
ngành được tập hợp từ một số ngành khoa học về con người nhằm đưa
con người phù hợp với hệ thống máy móc, thiết bị và môi trường trong
khả năng và giới hạn về thể chất, trí tuệ và tâm lí con người
Phương châm cơ bản là phải thiết kế hệ thống máy móc, thiết bị
và môi trường phù hợp với con người chứ không phải là ngược lại
Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt thì vẫn phải lựa chọn,
huấn luyện con người đặc biệt có khả năng thích ứng với yêu cầu kĩ
thuật và môi trường (chẳng hạn như đào tạo nhà du hành vũ trụ, thợ
lặn sâu), thích ứng được những yêu cầu về tốc độ, tình trạng không
trọng lượng, tình trạng áp lực cao…
Trong ecgônômi, bộ môn tâm lý học lao động hợp tác với các
bộ môn khác như cơ sinh học, nhân trắc học, sinh lý học cũng như một
số bộ môn kĩ thuật nhằm tìm hiểu những thông tin về khả năng cũng
như hạn chế về hình thái, thể lực, trí tuệ và đặc biệt về tâm lý của con
người trong quá trình lao động trong hệ thống "con người, máy móc và môi trường" Trên cơ sở đó người ta xây dựng các nguyên tắc, yêu cầu cho các hoạt động trong những ngành nghề khác nhau Ecgônômi theo đuổi mục tiêu tối ưu hoá hoạt động của hệ thống "con người - máy móc - môi trường" nhằm đảm bảo sức khoẻ, an toàn, hiệu quả và đặc biệt là tiện nghi
Chăm sóc sức khoẻ thể chất và tinh thần, tâm lý cho con người trong quá trình lao động cũng là mối quan tâm hàng đầu của tâm lý học lao động Bảo đảm sức khoẻ tốt chính là bảo vệ sức sản xuất
An toàn là yêu cầu thiết yếu trong quá trình lao động Máy móc thiết bị không đủ tin cậy, môi trường khắc nghiệt là nguy cơ dẫn đến tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Bản thân con người không có được trạng thái tâm lý ổn định cũng dễ gặp nguy cơ xảy ra tai nạn lao động An toàn luôn được coi là trước hếât –Safety first (chứ không phải là trên hết)
Tiện nghi là sự phù hợp của các phương tiện lao động và sản phẩm tiêu dùng với khả năng và hạn chế và sự thoải mái của con người về các mặt hình thái, thể lực và thần kinh, tâm lý Sử dụng phương tiện lao động một cách thoải mái, thuận tiện sẽ hạn chế được sự căng thẳng, mệt mỏi do đó cũng tạo thêm phấn khởi và đẩy cao được năng suất lao động
Mục tiêu cuối cùng tất nhiên phải là hiệu quả lao động, tức là năng suất và chất lượng cao Tổ chức lao động không hợp lý làm tăng thêm mệt mỏi, kéo dài thời gian thao tác, tăng thêm tỉ lệ phế phẩm Việc áp dụng các nguyên tắc ecgônômi trong mục tiêu hợp lý hoá lao động, trong thiết kế sản phẩm tiêu dùng, thiết bị máy móc đã mang lại hiệu quả đáng kể về kinh tế và xã hội trước mắt và lâu dài
2.3 Bảo vệ sức khoẻ, phòng chống mệt mỏi
Trang 252.3.1 Khái niệm mệt mỏi
Đã lao động dù hình thức nào thì trước sau cũng gặp tình trạng
mệt mỏi không nhiều thì ít, đặc biệt là khi phải gắng sức nhiều về thể
lực, trí tuệ và tâm lý bởi khả năng làm việc của con người dẫu sao
cũng không phải là vô hạn Đó thường là sự quá tải trong lao động
(cường độ nặng, nhịp điệu nhanh, làm việc quá lâu, tiếp xúc nhiều
yếu tố độc hại, căng thẳng thần kinh tâm lý…)
Tuy nhiên cũng có trường hợp không phải huy động nhiều về
thể lực và trí tuệ nhưng do công việc cứ lặp đi lặp lại đều đều, số
lượng động tác không nhiều, lại quá đơn giản đến mức không phải
suy nghĩ nhiều, không phải tập trung chú ý cao mà người ta vẫn cảm
thấy mệt mỏi Đó là do tính đơn điệu gây tác động ru ngủ Đó là sự
dưới tải trong lao động
Sự mệt mỏi về thể chất, trí tuệ và đặc biệt là tâm lý là nguy cơ
dẫn đến tai nạn lao động Bởi vậy phòng chống mệt mỏi là vấn đề
được quan tâm nhiều trong công tác an toàn và sức khoẻ trong lao
động sản xuất
Có nhiều quan niệm khác nhau về mệt mỏi Về phương diện
kinh tế, sinh lý, tâm lý, có một số lý thuyết về mệt mỏi như sau:
- Lý thuyết thể dịch - địa phương về sự mệt mỏi bắp thịt Bắp
thịt bị ngạt, thiếu oxy, bị nhiễm độc Sự tồn đọng acid lactic quá nhiều
trong các thớ cơ do hoạt động quá nặng nhọc hoặc quá lâu dài, gây sự
tê liệt hoạt động của các bắêp cơ Rõ ràng đây chỉ là mệt mỏi về thể
chất, về chân tay Hơn nữa người ta còn chứng minh rằng sự tích lũy
acid lactic không phải là nguyên nhân chủ yếu của mệt mỏi Vẫn có
nhiều trường hợp mệt mỏi khi không hề có dư acid lactic trong bắp cơ
Tất nhiên sự mệt mỏi chân tay này cũng kéo theo ít hay nhiều sự uể
oải về tinh thần, sự suy sụp về tâm lí
- Lý thuyết thần kinh trung ương Vinogradov cùng nhiều cộng
tác viên đã phân tích như sau:
Sự mệt mỏi đến nhanh do phát sinh ức chế thần kinh
Sự mệt mỏi phát sinh từ từ mà điểm cơ bản là kéo dài do khoảng cách sinh lí trên các khâu của bộ máy vận động
Khâu đầu tiên của mệt mỏi được định khu không phải ở cơ mà ở trung tâm thần kinh Vai trò của cảm xúc, của các kích thích hướng tâm có ảnh hưởng lớn đến sự phát sinh mệt mỏi Hoạt động không tùy ý (kích thích điện…) gây mệt mỏi kém hơn hoạt động có ý thức và hoạt động không tùy ý lại có thể xảy ra trong nhiều trường hợp sau khi cơ thể đã mỏi mệt vì hoạt động tùy ý Các biến đổi đa dạng quan sát được ở các bộ phận ngoại biên khi mệt mỏi chỉ là hiện tượng thứ sinh và phụ thuộc vào ảnh hưởng xác định của các trung tâm thần kinh
- Sự giảm khả năng lao động tạm thời do lao động nặng kéo dài thể hiện ở 3giảm chất lượng và số lượng sản phẩm lao động, giảm sút chức năng điều hoà của các bộ phận cơ thể
- Sự mệât mỏi còn do tình trạng lao động đơn điệu kéo dài gây ra cảm giác ru ngủ Trạng thái ức chế lan tràn làm giảm sút khả năng tỉnh táo hay hưng phấn trong vỏ não và kết quả cũng có thể thể hiện bằng những sai sót khi thao tác, ảnh hưởng không tốt đến số lượng và chất lượng sản phẩm
Nói tóm lại, mệt mỏi chân tayhay trí óc đều bắt đầu từ vỏ não, chỉ khác nhau ở các trung tâm phân tích và đều có ảnh hưởng đến nhau Chân tay mà mệt mỏi thì hoạt động trí óc cũng giảm sút Ngược lại mệt mỏi trí óc cũng gây rã rời chân tay
Thực ra không hề có ranh giới tuyệt đối giữa các trung tâm thần kinh và vì vậy cũng khó phân biệt các hình thức mệt mỏi sinh lí và
Trang 26tâm lí Cũng có người phân biệt mệt nhọc là khái niệm tâm lí còn mệt
mỏi là khái niệm sinh lí Cũng không sai nhưng cũng không cần thiết
- Từ khía cạnh tâm lý và sinh lý, mệt mỏi chính là phản ứng bảo
vệ, cảnh báo cho người lao động biết nguy cơ dẫn đến suy kiệt thể
lực, suy sụp tinh thần và có thể dẫn đến đột quỵ, khó phục hồi
Các biểu hiện mệt mỏi có thể là những dấu hiệu khách quan
cũng có thể là chủ quan Về phía chủ quan những cảm giác tuy không
phải lúc nào cũng chính xác và không dễ đong đếm nhưng đó là
những dấu hiệu không thể bỏ qua, bởi vì nhiều lúc vận dụng ý chí để
vượt qua cảm giác mệt mỏi có thể dẫn đến sự quá tải, vượt mức giới
hạn gắng sức tối đa của các chức năng sinh lý cơ thể, có thể dẫn đến
sự cố bất hạnh Về mặt khách quan có thể chẩn đoán qua những dấu
hiệu gián tiếp như giảm số lượng và chất lượng sản phẩm Cần lưu ý
rằng sự rối loạn chức năng điều hoà của cơ thể bao giờ cũng xảy ra
trước khi có những dấu hiệu về chất lượng và số lượng sản phẩm
Bằêng kĩ thuật sinh lí - sinh hoá cho phép chẩn đoán chính xác
hiện tượng mệt mỏi:
- Thông qua các chỉ tiêu sinh lý như trao đổi khí, nhiệt thân, nhịp
tim mạch vượt qua giớùi hạn cho phép
- Thông qua những biến động chức năng hệ thần kinh như cảm
giác vận động, tốc độ phản xạ, tần số nhấp nháy
- Thông qua những biến động chức năng sinh hoá như các chỉ
tiêu về máu (đường máu, độ quánh của máu ), chỉ tiêu về nước tiểu
(phản ứng Dinaggio, protein niệu, catecholamine, xetosteroid )
- Ngoài ra cũng có thể thông qua những trắc nghiệm về chú ý
tập trung và chú ý dịch chuyển (Vòng hở Landolt, Bảng số
Schulter-Platonov Xem bảng mẫu trắc nghiệm và phương pháp tiến hành ở phụ lục) Sự giảm sút khả năng chú ý là một dấu hiệu rất rõ của mức
độ mệt mỏi, được sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu sinh lý lao động Mục tiêu của trắc nghiệm Vòng hở Landolt là so sánh kết quả thực nghiệm mức độ chú ý tập trung trước và sau lao động qua đó đánh giá mức độ mệt mỏi sau quá trình lao động Trắc nghiệm Schulter - Platonov nhằm đánh giá mức độ chú ý dịch chuyển và cũng qua đó đánh giá mức độ mệt mỏi sau lao động Theo Viện Y học lao động, nếu mức độ suy giảm khả năng chú ý dưới 1% thì coi như bình thường, giảm đến 8% là hơi mệt mỏi, giảm đến 15% là khá mệt và giảm trên 15% là rất mệt, cần được nghỉ ngơi, hồi phục Điều quan trọng cần chú ý là với bất kì loại trắc nghiệm hay phỏng vấn nào cũng đòi hỏi sự trung thực của đối tượng nghiên cứu Riêng trong hai trắc nghiệm chú ý này cần lưu ý đảm bảo điều kiện môi trường lao động (ánh sáng, nhiệt độ…) giống nhau trong hai lần tiến hành
Về mặt tổng thể, phấn đấu tạo được sự phồn vinh về vật chất và văn hoá tức là cải thiện chất lượng cuộc sống để có một cơ thể khoẻ mạnh, sung sức có khả năng đẩy lùi hiện tượng mệt mỏi quá sớm một cách hiệu quả cũng là hướng nghiên cứu cuả tâm sinh lí lao động, là nhiệm vụ quan trọng của các doanh nghiệp
- Trong các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, việc cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo môi trường lao động sạch (ít ô nhiễm), chăm sóc sức khoẻ ban đầu và chăm sóc sức khoẻ định kì là biện pháp rất căn cơ
- Tư thế lao động là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người lao động, đến năng suất lao động Trong lao động tư thế đứng được vận dụng rất phổ biến (thầy cô giảng bài, các thuyếât trình viên, công nhân dệt, chế biến
Trang 27thủy hải sản, gia công kim loại…) Làm việc trong tư thế đứng có
thuận lợi là vùng thao tác rộng, lực tác dụng mạnh nhưng lại có khá
nhiều bất lợi Tư thế đứng không phải là tư thế cân bằêng bền vững vì
trọng tâm cơ thể chỉ rơi vào phạm vi hẹp của hai bàn chân Toàn bộ
trọng lực của cơ thể đều dồn xuống hai chân Làm việc lâu dài trong
tư thế đứng sẽ bị máu dồn xuống hai chân sinh tê buốt, nhức nhối
trong bắp chân, đặc biệt là hội chứng giãn tĩnh mạch sau bắp đùi gây
đau đớn kéo dài rất khó chịu Bệïnh thường gặp là đau lưng, đau vùng
thắt lưng Tư thế đứng cũng gây tiêu hao năng lượng nhiều So với tư
thế đứng thì tư thế ngồi có phần bất lợi hơn trong thao tác vì vùng
hoạt động bị thu hẹp, lực tác động không được mạnh nhưng lại có
thuận lợi là có cân bằng bền vững hơn vì trọng tâm được hạ thấp và
có chân đế rộng hơn, ít tiêu hao năng lượng Các tư thế khác như quỳ
1 chân, quỳ 2 chân, đứng lom khom đều rất bấât lợi cho thao tác và
gây mỏi mệt nhanh chóng hơn Tư thế nằm tất nhiên là có trạng thái
cân bằng bền vững hơn tất cả nhưng rất khó cho việc thực hiện thao
tác vì vùng hoạt động rất hạn chế, lực tác dụng lại rất yếu Vì vậy vấn
đề đặt ra là phải lựa chọn tư thế thuận lợi nhất phù hợp với yêu cầu
của công việc Đặc biệt là khi mang vác vật nặng không nên cậy sức
khỏe mà đứng khom người xuống để nhấc vật nặng vì rất dễ bị chấn
thương cột sống Cần hạ thấp mình xuống ôm vật nặng để lên đùi rồi
từ từ đứng lên
- Hợp lý hoá tổ chức lao động và nghỉ ngơi Cần biết rằng khả
năng lao động phụ thuộc khá nhiều vào nhịp sinh học, đặc biệt là nhịp
ngày đêm, biến đổi rất đáng kể trong thời gian lao động theo ca kíp
Vào đầu ca, chưa có khởi động tốt, năng suất lao động chưa đạt đến
yêu cầu Khả năng lao động đạt tới mức yêu cầu và ổn định vào
khoảng giờ thứ 2 đến thứ 4 Sau đó là sự giảm khả năng cho đến trước
giờ nghỉ giữa ca Sau giờ nghỉ lại diễn ra quá trình tương tự và xuất
hiện sự mệt mỏi Thời giannghỉ giữa ca được quy định tùy theo mức
độ nặng nhọc, khắc nghiệt của lao độngvà môi trường Trong tuần thì năng suất lao động tăng dần từ ngày đầu tuần, ổn định ở những ngày giữa tuần và giảm dần vào cuối tuần Một số nhà khoa học lao động còn chia quá trình biến đổi năng suất lao động thành bảy thời kì:
- Tăng tiến;
- Khả năng lao động đạt mức tối đa;
- Bù trừ hoàn toàn Có mệt mỏi nhưng có thể bù trừ bằng ý chí;
- Bù trừ không bền vững Khả năng lao động lúc giảm lúc tăng;
- Nâng lên cuối cùng Khả năng lao động giảm nhiều nhưng năng suất vẫn có thể tăng;
- Giảm liên tục sản phẩm;
- Ngừng việc và rã rời
2.4 Khả năng năng lao động
Khả năng lao động là tổ hợp các phẩm chất của quá trình tâm sinh lý Tính chất, diễn tiến của quá trình ấy quyết định cường độ, độ dài, tính bền vững của hoạt động Cần phân biệt khả năng lao động lí thuyết và khả năng lao động thực tế Khả năng lao động lí thuyết được coi như là cách hoạt động hợp lí tới mức tối đa mà con người có thể đạt tới khi đã động viên được toàn bộ lượng dự trữ của cơ thể Việc huy động tối đa lượng dự trữ đó rất mau chóng dẫn đến rối loạn chức năng thậm chí kiệt sức và đột quỵ Khả năng lao động thực tế được coi là một lượng nào đó của hoạt động thực hiện với một cường độ nhất định, trong một khoảng thời gian nào đó với những tiêu chuẩn quy định, với đôï tin cậy nhất định, lượng dự trữ được động viên ở mức bình thường và do đó có thể phục hồi ở mức bình thường
Trang 28Khái niệm khả năng lao động biến đổi theo điều kiện sản xuất
cùng với sự tiến bộ của kỹ thuật-công nghệ Khi mang nội dung mới
thì trong khái niệm sẽ không còn những nội dung không hợp thời nữa
2.4.2 Biểu hiện của khả năng lao động
Biểu hiện này rất phong phú và cũng khá phức tạp
- Biểu hiện bên ngoài (kể cả một số phản ứng thực vật) trên
nét mặt căng thẳng của các cơ mặt, thay đổ màu sắc da, thay đổi
giọng nói, đảo mắt, run, thay đổi tư thế
- Biểu hiện qua các phản ứng sinh lý (tần số mạch, nhịp tim,
huyết áp, các chỉ tiêu hô hấp, thân nhiệt…), các phản xạ mắt, phản xạ
da, tiết mồ hôi, trao đổi nhiệt, co bóp ruột và dạ dày, các chỉ tiêu về
lực cơ và sức bền, điện não đồ, điện cơ…
- Biểu hiện qua các số liệu sinh hóa máu, hormon, mỡ máu,
đường huyết, độ pH của máu và các dịch…
- Biểu hiện qua các chỉ tiêu sinh lý thần kinh, các phản ứng
mắt, tính đối xứng trong phân bổ thần kinh của mặt, của lưỡi, các
phản xạ cơ, gân, các phản xạ tự động…
- Biểu hiện qua các chỉ tiêu tâm lý, phản ứng phản xạ vận
động, các đặc điểm chú ý, trí nhớ, cảm xúc…
- Biểu hiện qua năng suất và kết quả lao động, sự hòa hợp giữa
lợi ích cá nhân và nghề nghiệp
Các yếu tố hình thành khả năng lao động được trình bày trong
sơ đồ sau:
2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lao động
- Thể lực ảnh hưởng rất rõ Thể lực bao gồm các hệ thống tựa, vận
động và một phần các yếu tố điều hòa vận động Ví dụ sự tương quan giữa lực bóp tay với chu vi của vòng cẳng tay Tiết diện bắp cơ càng lớn thì mức co bóp càng kéo dài và cường độ càng lớn Tầm vóc nhỏ thường có công suất thực hiệân nhỏ Trạng thái cơ thể mệt mỏi hoặc tiền bệnh lý, bệnh lý, thể hiện rất rõ trên khả năng lao động
- Hoạt động thần kinh cấp cao Mọi hoạt động của cơ thể đều
do hệ thần kinh điều khiển trực tiếp hoặc gián tiếp qua thể dịch Các loại hình thần kinh ở người thể hiện rất phong phú và ảnh hưởng lớn đến khả năng lao động và mọi mặt sinh hoạt cá nhân
Trang 29- Tình cảm và ý chí Công việc phù hợp với năng lực chuyên
môn và nguyện vọng thì sẽ yêu thích công việc Sự hào hứng trong
lao động là động lực thúc đẩy sự phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật
tạo điều kiện tốt để nâng cao năng suất lao động Trong lao động
không phải bao giờ cũng gặp thuận lợi Có thể xảy ra những trường
hợp khó khăn đòi hỏi người lao động phải có quyết tâm, ý chí bền
vững để vượt qua
Có năng lực mà không yêu thích công việc, không có quyết tâm
thì khó có cơ hội thành công Ngoài ra nếu có được công việc phù hợp
với đặc điểm hoạt động sinh lý thần kinh (bốn loại thần kinh: Mạnh,
không cân bằng; Mạnh, cân bằng, linh hoạt; Mạnh, cân bằng, không
linh hoạt Yếu) thì dễ phát huy được năng lực, không mất nhiều sức
để tự điều chỉnh bản thân theo yêu cầu của công việc (Tất nhiên là
chỉ có tính tương đối vì con người chịu nhiều tác động của môi trường
xã hội, ít có loại hoạt động thần kinh tuyệt đối như vậy)
- Tuổi và giới Khả năng lao động ở giai đoạn thiếu niên tăng
dần theo tuổi Ở giai đoạn trưởng thành khả năng lao động duy trì ổn
định một thời gian Bước sang giai đoạn về già, khả năng lao động
giảm dần Ở tuổi trên 50 khả năng lao động giảm 30% so với mức tối
đa có thể đạt tới lúc trưởng thành Từ tuổi 70 khả năng lao động chỉ
còn khoảng 50% Trong thực tế có nhiều yếu tố chi phối khiến cho
mỗi lứa tuổi đều có những ưu thế riêng, đặc biệt là lao động trí tuệ
Giá trị trung bình về khả năng lao động của nữ giới thường thấp
hơn nam giới: lực cơ chỉ bằng 55%, sức khỏe 43%, tiêu thụ oxy 70% Đó
là về sinh lí Về tâm lí thì chưa có công trình nào xác nhận sự thua kém
nhau về khả năng lao động giữa hai giới Tuy nhiên cũng có những nghề
nghiệp đặc biệt thích hợp với nữ giới hơn như y tế, giáo dục, truyền
thông, những công việc đòi hỏi sự kiên trì nhẫn nại, tế nhị…
- Luyện tập Được học tập rèn luyện để trở nên thành thạo là
một yêu cầu không thể thiếu được của quá trình lao động (Phần này
sẽ được phân tích kĩ hơn ở các đề mục sau)
- Điều hòa dự trữ khả năng lao động Sự khác nhau giữa khả năng lao động lý thuyết và thực tế chính là dự trữ tự nhiên của khả năng lao động Tối ưu hóa hệ thống "người - máy – môi trường" chính là sử dụng dự trữ này sao cho hợp lí và có ích nhất
- Thái độ lao động đúng đắn Các yếu tố xã hội kinh tế gia
đình trước và sau thời gian lao động cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng và số lượng sản phẩm Cầân tạo thêm những biện pháp gây hứng thú lao động, chống đơn điệu, các hoạt động thư giãn, tạo tư thế lao động thoải mái, đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, cân đối, đa dạng
2.4.4 Sự đơn điệu
Trong lao động, sự mệt mỏi quá sớm không phải chỉ vì quá tải mà nhiều trường hợp có nguyên nhân là sựï dưới tải Một trong những biểu hiện dưới tải là sự đơn điệu Sự phân hoá sâu sắc quá trình lao động, sự chuyên môn hoá đến chi tiết các bước lao động là cơ sở cho sự tự động hoá nền sản xuất Việc chia nhỏ các thao tác, thực hiện đồng thời ở những dây chuyền khác nhau, giảm bớt số lượng động tác trong một thao tác quả thực đã rút ngắn được thời gian sản xuất cho từng bộ phận cũng như cho toàn bộ dây chuyền sản xuất Mặt khác việc chia nhỏ này cũng tạo điều kiện ổn định các hành động, tạo điều kiện cho người lao động dễ dàng hơn trong việc tiếp thu kĩ xảo cần thiết và nhờ đó dễ dàng hơn trong việc nâng cao năng suất lao động Việc chia nhỏ các thao tác như vậy làm cho quá trình lao động hình như chỉ là tổng số những động tác đơn giản nhất Về một khía cạnh nào đó, có thể nhìn nhận rằng đó là một qui luật, một xu thế tất yếu, một đặc điểm của sản xuất tự động hoá hiện đại Từ một góc
Trang 30nhìn khác, nếu toàn bộ quá trình lao động chỉ là tổng số của những
thao tác ngắn ngủi đối với số rất ít động tác giản đơn, được thực hiện
một cách máy móc, đều đều thì không hề động viên được tính suy
nghĩ sáng tạo của người lao động, ngược lại làm cho họ mau chóng
mệt mỏi trước thời gian bình thường
Tác động của sự đơn điệu là sự gây ức chế do các kích thích
được lặp lại đều đều (quy luật kích thích dưới tải, lặp lại dẫn đến ức
chế) khiếân cho khu vực hưng phấn ở vỏ não bị thu hẹp lại
Về mặt tâm lý sự đơn điệu gây cảm giác nhàm chán, làm giảm
cảm giác hứng thú với công việc, tạo ảo giác về thời gian lao động bị kéo
dài và trở nên mệt mỏi, buồn ngủ ngay trước khi chấm dứt công việc, dẫn
đến động tác cơ thể từng lúc mất chính xác và cuối cùng là phế phẩm
tăng lên cùng với nguy cơ tai nạn rình rập Nếu người lao động suốt năm
này sang năm khác chỉ làm việâc như vậây thì dễ trở thành "một cái máy"
và rồi trong đời sống xã hội cũng dễ trở nên cứng nhắc với những "hành
vi công nghiệp" khiến cho khó hoà hợp với cộng đồng
Thời gian lao động với nhiều cử động đơn giản, các động tác cố
định lặp đi lặp lại theo chu kì thường xảy ra trên các dây chuyền
chẳng hạn như đóng nút chai, đóng gói mì ăn liền Sốâ liệu nghiên cứu
cho thấây mỗi chu kì thường kéo dài khoảng 1, 5 - 2 phút Người ta căn
cứ vào tần số cử động để đánh giá mức độ nặng nhọc của lao động
(tức là mức độ đơn điệu nhiều hay ít) Sau đây là một cách phân loại
mức độ đơn điệu từ ít (loại I) đến nhiều (loại VI)
Tần số/giờ Loại I Loại II Loại III Loại IV Loại V Loại VI
Loại I Loại II Loại III Loại IV Loại V Loại VI
Lượng thời gian (giây) hoàn thành
* Thuyên chuyển công nhân, thực hiện luân phiên các loại thao
tác khác nhau tạo hứng thú trước những hoạt đông mới, tránh được nhàm chán qua đó năng suất lao động và chất lượng sản phẩm có thể tăng đến 10%
Tất nhiên những biện pháp tổng hợp trong tổ chức lao động khoa học (đã trình bày ở một mục trước) cũng có ý nghĩa giảm bớt mức độ đơn điệu
III TUYỂN CHỌN NGHỀ - ĐÀO TẠO NGHỀ 3.1 Khái niệm nghề nghiệp
Nghề nghiệp là một phạm vi hoạt động của con người trên cơ sở phân công lao động xã hội phù hợp với năng lực của cá nhân và qua
Trang 31đó nhận được thù lao tương xứng với số lượng và chất lượng sức lực và
trí tuệ bỏ ra cho công việc
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ ngày nay đặt ra
nhiều yêu cầu mới đối với các hoạt động nghề nghiệp, đòi hỏi ở người lao
động những khả năng giải mã một cách chính xác, kịp thời các thông tin
đa dạng và phong phú chứ không thể chỉ nhận thức bằng quan sát trực
tiếp Người lao động không những phải tiếp nhận lượng thông tin lớn, đa
dạng mà còn phải có khả năng giữ được mức độ tỉnh táo, linh hoạt, nhanh
nhẹn trong hệ thống máy móc được tự động hoá từng phần hoặc toàn bộ
rất cần phải liên tục theo dõi và khi cần thiết phải nhanh chóng can thiệp
Ngoài ra người lao động nghề nghiệp còn phải có khả năng chịu đựng tốt
với nhiều loại rối nhiễu xảy ra trong lao động
Nghề nghiệp ngày nay đòi hỏi nhiều yếu tố trí tuệ hơn là thể lực
cũng như những yêu cầu tâm lý khắt khe hơn, yêu cầu tâm lý cao hơn
với trách nhiệm cá nhân cũng cao hơn
3.2 Ý nghĩa và nguyên tắc tuyển chọn
Chọn nghề không chỉ có ý nghĩa với từng người mà còn ý nghĩa
xã hội lớn Chọn nghề trước hết là chọn một công việc làm cụ thể để
có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho mình và gia đình Chọn nghề còn
là chọn một con đường sống lâu dài, qua đó góp một phần nhỏ bé vào
việc xây dựng cuộc sống xã hội Một nữ giám đốc trẻ đã nói chí lý
"Nghề nghiệp không chỉ đơn giản là để nuôi sống bản thân và gia
đình Nó là phương tiện giúp khám phá năng lực bản thân, nuôi dưỡng
mơ ước và hướng tới thành công Vấn đề là biết nắm bắt cơ hội nghề
nghiệp phù hợp với bản thân"
Những quan niệm sai lầm về nghề nghiệp dẫn đến việc chọn
nghề không đúng không chỉ gây tác hại cho cá nhân mà còn góp phần
gây khó khăn, thậm chí rối loạn cho xã hội do không đáp ứng được cơ cấu ngành nghề phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội
Những sai lầm thường xảy ra do hai nguyên nhân chủ yếu là sai lầm về nhận thức và do thiếu thông tin, thiếu hiểu biết
* Thuộc loại nguyên nhân thứ nhất thường là:
- Coi việc chọn nghề như chọn một địa vị xã hội có danh giá, có bổng lộc cao không thích những nghề có vẻ không được cao quý hay là nghề thấp hèn, khó nhọc mà không nghĩ rằng mỗi nghề trong xã hội đều có ý nghĩa riêng của nó Cái quý giá là ở thái độ lao động của mình, là khả năng đóng góp với xã hội qua hoạt động nghề nghiệp của mình
- Phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cha mẹ hoặc do ảnh hưởng của bạn bè, người thân
- Do sự say mê hứng thú nhất thời nào đó, chạy theo "thần tượng", đua đòi theo những biểu hiện bên ngoài
* Thuộc về nguyên nhân thứ hai có thể là:
- Thiếu thông tin về nghề nghiệp, không tìm hiểu hoặc không có điều kiện tìm hiểu về nghề nghiệp để lựa chọn
- Không biết cách tự đánh giá năng lực bản thân, không tự nhìn nhận được những khả năng và giới hạn của mình về thể chất, tinh thần và tâm lý
Việc chọn nghề quả thật không đơn giản cho nên về phía cá nhân cần phải chọn một cách tự giác, xác định đúng động cơ lựa chọn, đánh giá đúng năng lực của mình; về phía xã hội cần phải có ý thức tổ chức hướng dẫn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên
Việc chọn nghề cần phải kết hợp được ba điều kiện:
Trang 32- Phù hợp với nguyện vọng, sở thích và năng lực cá nhân;
- Đáp ứng tốt yêu cầu xã hội (theo định hướng phát triển kinh
tế xã hội trong từng thời kỳ);
- Đảm bảo những đòi hỏi đặc thù của nghề nghiệp
3.3 Công tác hướng nghiệp
Hướng nghiệp đã trở thành một nhu cầu xã hội lớn ở nước ta
hiện nay nhưng có thể nói công việc này còn rất yếu kém mặc dầu
cũng đã được đặt ra từ rất nhiều năm nay Đó một phần là sự yếu kém
của ngành giáo dục, của nhiều tổ chức đoàn thể xã hội có liên quan,
yếu kém về nhận thức của thanh niên, của những người có trách
nhiệm đặc biệt là yếu kém về năng lực tổ chức thực hiện, yếu kém do
hệ thống giáo dục Trong khi đó khái niệm hướng nghiệp đã được phổ
biến rộng rãi từ những thập kỉ đầu của thế kỷ trước với Hội nghị quốc
tế ở Barcelona năm 1921 Phòng hướng nghiệp đầu tiên đã ra đời từ
năm 1915 Trong thập kỉ 20 của thế kỉ 20 tại các nước ở châu Âu như
Pháp, Đức, Ý, Anh đã đặc biệt quan tâm đến công tác hướng nghiệp
Ở Anh có cả một Hội đồng quốc gia về hướng nghiệp Nhà giáo dục
Nga Platônov đề xuất mô hình "tam giác hướng nghiệp" và các hình
thức hướng nghiệp như sau:
3.3.1 Nội dung
- Nội dung hướng nghiệp Công tác hướng nghiệp phải giải đáp đươc những yêu cầu sau:
* Yêu cầu của nghề nghiệp Mỗi nghề dù là đơn giản hay phức
tạp đều đòi hỏi những tiêu chuẩn nhất định về thể chất, tinh thần và tâm lí Thời gian đào tạo ngắn hay dài khác nhau tùy theo mức độ phức tạp hay đơn giản của nghề nghiệp, tùy theo trình độ học vấn của thí sinh Các cơ quan, tổ chức đào tạo hàng năm có giới thiệu trên báo chí, trên các phương tiện truyền thông đại chúng những ngành nghề đào tạo, nội dung đào tạo và những yêu cầu của nghề nghiệp Đó là kênh thông tin quan trọng phục vụ tốt cho công tác hướng nghiệp
* Thị trường lao động, nhu cầu xã hội Công tác đào tạo không
chỉ nhằm cung ứng nhân lực cho nhu cầu phát triển về mọi mặt của xã hội mà phải đảm bảo sự cân đối của yêu cầu nhân lực với những trình độ khác nhau (kĩ sư, trung cấp, công nhân kĩ thuật…) Ngoài ra trong từng thời điểm của quá trình xây dựng, phát triển đất nước, nhu cầâu nhân lực cũng có những yêu cầu khác nhau về số lượng cũng như trình
Giáo dục tuyên truyền nghề
Năng lực và tính cách cá nhân
Tư vấn nghề
Tuyển chọn nghề
Các nghề và yêu cầu của nghề
Thị trường lao động
Trang 33độ nghề nghiệp, có những ngành nghề được coi là trọng điểm cần có
quy hoạch nhân lực thích hợp Những dự báo về nhân lực là rất quan
trọng đối với công tác hướng nghiệp cũng như quy hoạch đào tạo của
nhà nước và xã hội
*ø Năng lực và đặc điểm cá nhân Yêu cầu quan trọng nhất của
công tác hướng nghiệp là phải làm cho thanh thiếu niên hiểu rõ được
năng lực thể chất, trí tuệ của mình và những xu hướng phát triển tâm lý
của mình (tính cách, năng khiếu) để hướng đối tượng vào những nhóm
nghề thích hợp nhất Điều tai hại là thanh thiếu niên (cũng như phụ
huynh) không đánh giá đúng năng lực của mình, ảo tưởng về một số biểu
hiện có vẻ như là tài năng sớm để rồi lựa chọn nghề không phù hợp, gây
lãng phí cho cá nhân, gia đình và xã hội thậm chí thất vọng
3.3.2 Công tác hướng nghiệâp
Công tác hướng nghiệp bao gồm giáo dục tuyên truyền nghề
nghiệp, tư vấn nghề nghiệp và cuối cùng là hướng dẫn tuyển chọn
nghề Còn một khâu rất quan trọng song song với công tác hướng
nghiệp là phân luồng học sinh bởi vì chắc chắn là chỉ có một tỷ lệ nhỏ
học sinh có điều kiện để theo học hết các bậc học phổ thông Số lớn
học sinh còn lại cần được tiếp nhận sớm nền giáo dục nghề nghiệp để
sớm chọn được một nghề thích hợp và sớm đi vào cuộc sống, phục vụ
cho lợi ích cá nhân cũng là lợi ích cho xã hội Không làm tốt việc
phân luồng đúng lúc sẽ tạo gánh nặng cho công tác tuyển sinh sau
giáo dục phổ thông
Giáo dục nghề nghiệp là tuyên truyền giải thích cho học sinh
nhằm lôi cuốn họ chú ý vào những nghề đang cần cho xã hội, đặc biệt
những nghề đang thiếu hụt nhân lực Điều quan trọng là giúp họ tự tìm
thấy hứng thú nghề nghiệp để tự định hướng nghề cho mình, xây dựng
một động cơ chọn nghề đúng đắn, hợp lý Cần phải tạo một tâm lí mới
là để cho "nghề chọn lấy người" chứ không phải là người đi tìm nghề
Tư vấn nghề nghiệp là cả một hệ thống các biện pháp giáo dục
- tâm lý nhằm phát hiện và đánh giá năng lực của học sinh Từ đó giúp học sinh chọn được nghề thích hợp Phương pháp phổ biến hiện nay là sử dụng những trắc nghiệm khách quan, bắt đầu là những trắc nghiệm tổng quát đến những trắc nghiệm chuyên biệt nhằm hướng học sinh từ những xu hướng của năng lực cá nhân đến xác định những loại nghề phù hợp với những xu hướng đó (cơ quan giáo dục đào tạo thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu xây dựng được phần mềm trắc
nghiệm chọn nghề cho học sinh trung học)
Tuyển chọn nghề nghiệp là xác định cụ thể nghề nghiệp để dự tuyển phù hợp với nhu cầu xã hội và năng lực cá nhân Một khâu quan trọng không thể bỏ qua là việc phân luồng đúng lúc cho thanh thiếu niên học sinh bởi vì chắc chắn là có không ít học sinh không thể có điều kiện để học hết cấp trung học Số học sinh này cần được sớm tiếp nhận nền giáo dục chuyên nghiệp để sớm bước vào đời, đáp ứng nhu cầu cuộc sống của bản thân, của gia đình và nhu cầu phát triển xã hội Không làm tốt công tác phân luồng sớm sẽ tạo xu hướng đổ xô vào việc đăng ký vào đại học gây rối loạn cho công tác tuyển sinh, gây khó khăn cho bao nhiêu gia đình học sinh, gây lãng phí vô cùng lớn cho gia đình và xã hội
Tuyển chọn nghề nghiệp là xác định cụ thể nghề nghiệp để dự tuyển phù hợp với nhu cầu xã hội và năng lực cá nhân
Thực ra thì cả ba khâu công tác nói trên đều là một chuỗi công việc liên hoàn, gắn liền với nhau mà khâu đầu tiên là sử dụng phương pháp nghiên cứu khả năng cá nhân
Như đã nói ở trên, thế giới nghề nghiệp ngày nay vô cùng phong phú, điều kiện lao động thì rất đa dạng Trong khi đó tư chất, tính cách con người rất khác nhau, đòi hỏi ở con người những khả năng tư duy, trí tuệ cũng như thể chất trong những công việc cụ thể cũng rất khác
Trang 34nhau Có những phẩm chất không dễ dàng phát hiện được một cách
đơn giản Do đó việc tuyển chọn là một công việc có tính khoa học
cao nhằm bố trí được một cách tối ưu nguồn nhân lực xã hội Nếu
không tìm hiểu một cách hệ thống, toàn diện các phẩm chất năng lực
của ứng viên thì sẽ khó có sự tương hợp giữa năng lực của ứng viên và
yêu cầu thực tiễn của nghề đã chọn; hoặc là quá sức đáp ứng, phải nỗ
lực quá cao hoặc là không động viên được nỗ lực của người lao động
Rút cuộc sẽ không có lợi cho cá nhân mà cũng không thuận lợi, thậm
chí gây khó khăn cho doanh nghiệp Trong việc tuyển chọn cần kết
hợp các phương pháp đo đạc (trắc nghiệm) những đặc điểm cá nhân,
so sánh với giới hạn cho phép của nghề nghiệp Như vậy tuyển chọn
có ý nghĩa quan trọng về phương diện kinh tế, kỹ thuật và cả về xã
hội nhân văn như:
- Giảm thời gian đào tạo, huấn luyện, giảm số người rơi rớt trong
quá trình đào tạo
- Có cơ sở tốt để cải tiến máy móc thiết bị kĩ thuật phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lí của con người, cải tiến chương trình và phương
pháp huấn luyện đào tạo
- Xã hội được tổ chức hợp lý, thuần nhất, ổn định
- Đảm bảo cho con người phát triển được tài năng, lao động có
hứng thú, có sức khoẻ và hạnh phúc, có điều kiện nghỉ ngơi giải trí,
hoạt động văn hoá, có vị thế xã hội thích đáng
Trong các tiêu chí tuyển chọn cần lưu ý một số điểm sau:
1 Sự đa dạng của nhân cách và sự khác biệt giữa các ứng viên:
Phải tập trung đánh giá vào những đặc điểm cơ bản nhất có liên quan
đến nghề nghiệp qua tính cách phù hợp với nghề nghiệp, được biểu
hiện qua một số mặt sau đây:
- Có động cơ đúng đắn;
- Có tiền đề tâm sinh lí cho sự phát huy kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của nghề nghiệp Đồng thời phải có những tính năng phù hợp với việc tiếp thu huấn luyện, đào tạo;
- Có tiền đề tâm sinh lý cho khả năng vận dụng vào thực tế của công việc trong những tình huống khác nhau
2 Tính toàn diện liên tục qua nhiều giai đoạn của việc tuyển chọn: Vòng 1: Theo chỉ tiêu y sinh học, loại ra những cá nhân không đủ sức
khoẻ, thể lực và hình thái so với yêu cầu nghề nghiệp
Vòng 2: Theo chỉ tiêu tâm sinh lý đảm bảo yêu cầu cho huấn luyện
đào tạo Có thể có trường hợp chiếu cố một số tiêu chuẩn không căn bản lắm, thậm chí cần thay đổi một chút về thời gian và phương pháp huấn luyện
Vòng 3: Thực hiện trong quá trình đào tạo huấn luyện Có thể có một số
cá nhân nào đó, tuy có tiền đề tốt ở hai vòng trước nhưng nay không đáp ứng được yêu cầu đào tạo, khó đảm bảo tốt hoạt động nghề
3 Tính linh độâng của tuyển chọn: Kinh nghiệm cho thấy có
những cá nhân lúc đầu chỉ đạt mức trung bình thậm chí hơi yếu nhưng về sau do phấn đấu tốt, lại có thể đạt mức cao hơn trong hoạt động
4 Tính tích cực chủ động: Đối với một số nghề đặc biệt đòi hỏi
những năng lực đặc biệt (như phi công, thợ lặn sâu ) cần chủ động phát hiện sớm các năng khiếu để bồi dưỡng và khẳng định
Trên đây là nói về công việc của người tuyển chọn Sau đây là một vài điều cần chú ý ở người cần tìm việc - gọi là ứng viên
1 Yêu cầu chung: Ngoài những yêu cầu về tác phong, thái độ
cũng như sự am hiểu nhất định về nghề nghiệp tương lai ở doanh
Trang 35nghieôp muoân laøm, caăn chuù yù moôt soâ yeđu caău sau:
- Theơ hieôn ñoông cô toât, yeđu ngheă;
- Coù ñoô nháy cạm toât, ñaịc bieôt veă thò giaùc vaø thính giaùc Phạn xá
vaôn ñoông nhanh, chính xaùc;
- Coù khạ naíng chuù yù cao (khoâi löôïng vaø tính beăn vöõng);
- Ñònh höôùng khođng gian vaø thôøi gian toât;
- Trí nhôù hình töôïng, cuõng nhö trí nhôù thao taùc toât vaø tö duy logic toât;
- Hieôp ñoăng ñoông taùc tinh vi toât;
- OƠn ñònh ñoông taùc theo nhòp toât;
- Cuoâi cuøng laø tính beăn vöõng cao veă tráng thaùi xuùc cạm
2 Yeđu caău boơ sung: Caăn coù theđm moôt soâ yeđu caău phuø hôïp rieđng
vôùi caùc loái lao ñoông khaùc nhau nhö laø lao ñoông coù phaăn thieđn veă tö
duy hôn laø söï vú
3.4 Dáy ngheă vaø chuyeđn mođn hoaù ngheă
Dáy ngheă (hay ñaøo táo ngheă) laø toaøn boô quaù trình truyeăn ñát
nhöõng kieân thöùc, kó naíng ñeơ haønh ngheă coông vôùi nhöõng tích luyõ caù
nhađn cụa ngöôøi hóc veă nhöõng kieân thöùc caín bạn, nhöõng kó xạo caăn
thieât vaø nhöõng ñaịc ñieơm nhađn caùch ñụ ñeơ haønh ngheă toât
Böôùc tieâp theo laø hoaøn thieôn ngheă Noùi khaùc ñi laø nađng cao tay
ngheă Luùc naøy ngöôøi hóc caăn ñöôïc trang bò thöôøng xuyeđn caùc kieân
thöùc veă ngheă, caùc phöông phaùp vaø giại phaùp tieđn tieân nhaât ñeơ ñieău
khieơn vaø toơ chöùc moôt caùch khoa hóc quaù trình sạn xuaât
Vieôc hoaøn thieôn ngheă khođng theơ chư baỉng nhöõng phöông phaùp
chính quy taôp trung maø chụ yeâu laøm vieôc theo phöông thöùc vöøa laøm
vöøa hóc ôû caùc möùc ñoô khaùc nhau: ÔÛ cô sôû sạn xuaât, phađn xöôûng hay
toaøn xí nghieôp Neâu coù ñieău kieôn neđn tranh thụ nhöõng ñôït tu nghieôp nöôùc ngoaøi nhaât laø tröôøng hôïp chuyeơn giao cođng ngheô môùi Caùc taøi lieôu thođng tin töø saùch baùo, hoôi thạo, taôp huaân ñeău raât caăn thieât vaø cuõng raât khạ thi
Ñieău caăn löu yù veă tađm lyù hóc laø vieôc thaíng tieân trong ngheă nghieôp Ñoù laø nguyeôn vóng ñích thöïc cụa ñái ña soâ thanh nieđn ngaøy nay Hó coù theơ quan tađm ñeâđn khạ naíng thaíng tieâđn lađu daøi nhieăíu hôn laø lôïi ích tröôùc maĩt
Chuyeđn mođn hoaù ngheă thöïc chaât laø ñaøo táo sađu tay ngheă vaøo moôt lónh vöïc chuyeđn mođn hép nhaỉm phaùt trieơn ñeân möùc cao nhöõng tri thöùc ngheă nghieôp, táo ñieău kieôn löïa chón nhöõng saùng kieân ñöôïc boôc phaùt Dáy ngheă laø keât quạ noâi lieăn sau höôùng nghieôp (voân thöïc hieôn ngay töø tröôøng PTCS) Coù hai nhađn toâ tađm lí caăn quan tađm:
- Tröôùc heât laø giaùo dúc söï höùng thuù, say međ cuøng vôùi tình yeđu, chung thuyû vôùi ngheă;
- Phaùt trieơn nhaôn thöùc veă lôïi ích xaõ hoôi cụa lao ñoông, veă ngheă nghieôp Phaùt trieơn tinh thaăn saùng táo ñoâi vôùi ngheă nghieôp
Nhöõng ñöùc tính caăn thieât phại ñöôïc reøn luyeôn laø:
- Tính tích cöïc, saùng táo;
- Khạ naíng toơ chöùc chung vaø ñaịc bieôt;
- Kyõ naíng phađn tích vaø ñaùnh giaù;
- Tinh thaăn ñoaøn keât chung thuyû;
- Thaùi ñoô roõ raøng ñoẫi vôùi caùi xaâu, caùi toât
Trong nhieău phöông phaùp (lyù thuyeât, thöïc haønh keøm caịp, mođ
phoûng chöông trình hoaù…) caăn quan tađm theđm:
Trang 36- Thúc đẩy tinh thần tự học, tự nghiên cứu
- Hình thành lối sống công nghiệp, tác phong công nghiệp
IV HÌNH THÀNH NĂNG LỰC NGHỀ
4.1 Khái niệm năng lực
Năng lực là một thuộc tính tâm lý tương đối ổn định, là điều
kiện thành công của một loại hình hoạt động Năng lực là khả năng
hoàn thành một hoạt động với chất lượng tốt, năng suất cao, hiệu quả
hơn người khác
Thông thường có hai khái niệm năng lực:
- Năng lực tổ chức chung trong cuộc sống, làm việc ở gia đình,
xã hội Ví dụ: có tính kế hoạch về thời gian, không gian, tổ chức sắp
xếp mọi công việc gia đình,
- Năng lực tổ chức đặc biệt hay còn gọi là năng lực nghề Năng
lực nghề cũng là một khái niệm khá rộng Mỗi nghề đều có năng lực
riêng của nghề đó bao gồm từ những năng lực đơn giản (ví dụ như
năng lực tưởng tượng không gian, năng lực tri giác nhanh, hoạt động
tự động hóa), đến những năng lực phức hợp bao gồm nhiều năng lực
đơn giản phối hợp (ví như năng lực nghề thợ tiện là năng lực phức hợp
từ thị giác đến xúc giác…) Một năng lực đơn giản dù phát triển đến
đâu cũng không thể mình nó hoàn thành một sản phẩm
Một khái niệm đặc biệt gọi là năng lực kĩ thuật, được xem là
đối tượng nghiên cứu của tâm lý học lao động từ đầu thế kỉ 20 với tác
phẩm "Tâm lí học ứng dụng" của Stern và được hình thành dần cho
đến thập kỉ 30 bao gồm một số năng lực như sự khéo tay, tri giác
không gian, thời gian, phản xạ vận động, chú ý tập trung hay phân
phối, óc quan sát, tư duy logic, thông minh…
Trong cấu trúc năng lực kỹ thuật người ta còn phân chia thành hai loại: một loại có ưu thế trội về tư duy thiết kế kĩ thuật và một loại khả năng thực hành chiếm ưu thế
Theo kết quả nghiên cứu của W Hirche thì trong số những
người có năng lực kỹ thuật được nghiên cứu có 28% thiên về tư duy thiết kế, 58% trội về khả năng thực hành, và 40% có tỉ lệ cân bằng tương đối giữa hai loại
Theo nhiều nhà nghiên cứu năng lực kỹ thuật thì cấu trúc của
năng lực này thường thay đổi cùng với sự phát triển cá nhân M Jaleabson và I Salamen nhận thấy có một sự thay đổi về chất trong hoạt động thiết kế kĩ thuật diễn ra ở trẻ em khoảng 10 - 11 tuổi A Rey, trong kết quả phân tích trí thông minh thực hành ở học sinh, cũng
nhất trí rằng cấu trúc chức năng của tư duy thiết kế kĩ thuật tăng dần theo lứa tuổi phụ thuộc vào các tri thức và kĩ xảo nghề nghiệp đã có, vào kinh nghiệm hoạt động thực tiễn kỹ thuật trong đó phương pháp đào tạo nghề đóng một vai trò lớn Người ta vẫn mong muốn làm tăng
tỉ lệ loại tư duy thiết kế và loại cân bằng giữa hai cấu trúc
4.2 Sự hình thành kỹ năng - kỹ xảo
Ở đây có hai khái niệm gần nhau, dễ lẫn lộn là kĩ năng và kĩ xảo
- Kỹ năng là phương thức vận dụng tri thức vào hoạt động thực
hành đã được củng cố
- Kỹ xảo là những thao tác đã được tự động hoá do luyện tập Kỹ
xảo vốn không thể là một hành động tự thân mà là một quan hệ phức tạp với môi trường Tính ổn đinh tương đối của kĩ xảo có nguồn gốc từ tính ổn định tương đối của một số yếu tố nhất định từ môi trường Có thể phân biệt ba loại kỹ xảo: Kỹ xảo trí tuệ, kỹ xảo vận động và kỹ xảo tri giác Sự phân chia này dùng để nghiên cứu, thực tế thì chúng
Trang 37không tồn tại độc lập mà pha trộn với nhau và liên quan đến trí nhớ
Trong nhiều điều kiện cần để hình thành kỹ xảo thì việc xác định rõ ràng
mục đích và sự chuyên cần luyện tậâp có hệ thống là rất quan trọng
Trong công nghiệp người ta phân biệt bốn loại kĩ xảo:
- Kỹ xảo thiết kế đề cập đến việc thiết kế (design) các bản vẽ,
hình mẫu (thuộc lĩnh vực công tác của kỹ sư, kiến trúc sư)
Trong nghiên cứu còn bao gồm cả việc đọc bản vẽ để triển khai
bản vẽ (triển khai bản vẽ là kỹ xảo thường có ở kỹ sư thực hành hoặc
công nhân bậc cao)
- Kỹ xảo công nghệ - tổ chức liên quan đến việc tổ chức thực
hiện theo mẫu, bản vẽ bao gồm việc lựa chọn công cụ, thiết bị,
nguyên vật liệu và phương thức tiến hành (giải pháp công nghệ) Kỹ
xảo này chỉ có được khi có những kiến thức vững chắc về sức bền vật
liệu về công nghệ và về tổ chức lao động Dĩ nhiên là không phải có
kiến thức đó là có được kĩ xảo này mà phải qua quá trình học hỏi, bồi
dưỡng dần dần (thuộc lĩnh vực của các kĩ sư công nghệ)
- Kỹ xảo thao tác thuộc về lĩnh vực xử lý trên công cụ thiết bị
(phổ biến ở kĩ thuật cắt gọt kim loại hoặc các dạng kĩ thuật lắp ráp,
gia công trên dây chuyền sản xuất) với những cường độ, nhịp điệu
khác nhau
- Kỹ xảo cân đo - kiểm tra liên quan đến việc sử dụng các công
cụ thiết bị kiểm tra (thuộc lĩnh vực của cán bộ kiểm tra chất lượng sản
phẩm –KCS sử dụng các loại thước, cân, đồng hồ…) Cũng như kỉ xảo
thao tác, kĩ xảo này cũng đòi hỏi sự nắm bắt trình tự, nắm bắt các
bước công việc phải thực hiện Ngoài ra còn đòi hỏi những thao tác
với tín hiệu thông tin như các thao tác thị giác, thính giác, trực giác và
các sơ đồ, các cách tính toán sai lệch, độ tin cậy…
V HỌC TẬP 5.1 Khái niệm học tập - các loại học tập
Con người ta ở đời, không lúc nào là không phải học Lúc nhỏ phải học đứng, học đi, học ăn, học nói, học lễ phép… Lúc đi học phải học đọc, học viết, học văn hóa, khoa học, học nghề, học cách sống…
Ra đời học làm người lao động, học cách đối nhân xử thế… Đến lúc già lại học cách sống khỏe, sống vui, sống có ích Cổ nhân đã nói
"Nhân bất học, bất tri lý" Học tập cũng là một quá trình lao động, thậâm chí lao động vất vả Vì vậy học tập cũng là một đối tượng nghiên cứu của tâm lý học lao động
Học tập là quá trình dẫn tới kết quả tạo sự thay đổi lâu bền trong ứng xử hoặc trong tiềm năng ứng xử Quá trình này gọi là sự trải nghiệm Sự thay đổi trong ứng xử hoặc tiềm năng ứng xử thường thể hiện ra bên ngoài bằng những thành tích Tuy nhiên cần biết rằng thành tích không thể hiện hết những gì đã học tập được
- Việc học tập ảnh hưởng đến tiềm năng ứng xử nhiều hơn là trực tiếp ứng xử
- Học tập có thể suy ra từ những thay đổi nhận biết được nhưng không phải tất cả mọi thay đổi trong ứng xử đều do học tập Sự hiểu biết có thể là do sự phát triển chức năng sinh lýù, có thể do bệnh tật, do tác động của thuốc, đặc biệt là do động cơ ý chí thúc đẩy tới thành tích mà trong điều kiện bình thường không có được Do đó thành tích này không thể lâu dài
Sự thay đổi trong tiềm năng ứng xử phải tương đối lâu dài mới được coi là do học tập
Có nhiều thuật ngữ tương tự như luyện tập, việc học, sự học nhưng thực chất không có gì khác nhau về nội dung khái niệm Phần
Trang 38lớn những gì ta học được cũng sẽ tự quên đi hoặc thay đổi chi tiết theo
những bài học về sau
Hoc tập là quá trình biến đổi hành vi và hoạt động bên ngoài (tay
chân, sử dụng công cụ…) và bên trong (tâm lý, trí tuệ như xử lý bài toán…)
nhờ đó có thể đạt tới mục đích nhất định Nói cách khác, học tập là sự
biến đổi hợp lý các hoạt động bên ngoài và bên trong Tất nhiên học tạâp
không chỉ là sự biến đổi hoạt động Học tập luôn bao hàm việc ghi nhớ
những gì đã học được để khi cơ hội đến có thể khai thác được
Học tập là một quá trình đã qua trải nghiệm
1 Học tập chỉ có thể thực hiện qua trải nghiệm
2 Trải nghiệm bao gồm thu thập thông tin, thực hiện những đáp
ứng tác động tới môi trường
3 Một số thay đổi trong ứng xử cũng cần phù hợp với trải
nghiệm tương ứng
Nói chung việc học tập sẽ được tiến hành khi có đủ ba dạng hoạt
độâng trên Tuy vậy có khi chính con người không nhận ra ba dạng đó
Khái niệâm học tập ở đây không chỉ có nghĩa là học một vấn đề cụ thể
nào mà là vấn đề mang tính tổng quát ví dụ như hình thành một hệ
thống giá trị cho tình yêu tổ quốc Đó là nộâi dung rất khó đo lường
Hơn nữa những yếu tố tạo nên sự hiệu nghiệm thì còn biến thiên theo
từng người cho nên các nhà nghiên cứu phải xác định chính xác các
điều kiện gắn liền với các kiểu học tập
Cần phân biệt học tậâp với sự thích nghi của cảm giác khi môi
trường cảm giác thay đổi ví như thích nghi trong bóng tối, thích nghi
với nhiệt độ Học tập không phải là do các phản ứng sinh học có tính
bẩm sinh mà nhờ các hoạt động xảy ra trước đó nhằm biến đổi hoạt
động trở nên vững chắc hợp lý hơn
Quá trình học tập thường có những đặc điểm sau:
* Có đối tượng xác định Việc học không thể là chung chung mà nhờ gắn liền với một đối tượng, trong một điều kiện cụ thể, thời gian cụ thể: Học cái gì, học lúc nào
* Gắn với một hoạt động cụ thể Qua hoạt động mà biến đổi
hành vi chứ không chỉ dừng lại ở những nhận thức về điều chưa biết Học tập là tạo nên một chấât mới trong phương thức hoạt động mà trước đó chưa có trong vốn kinh nghiệm của bản thân
Theo mục đích của hoạt động việc học tập có thể là chủ định hoặc không chủ định
* Học không chủ định là học không có mục đích xác định trước mà diễn ra một cách ngẫu nhiên theo kiểu "đi một ngày đàng học một sàng khôn"
Cách học này thường có kết quả nhẹ nhàng thoải mái nhưng hiệu quả không nhiều, không sâu, những nhận thức mới thường rời rạc thiếu hệ thống và tất nhiên chỉ có những gì liên quan đến nhu cầu, hứng thú thì mới ghi lại được, những điều khác thì trôi qua nhanh Dù vậy cách học này cũng có một số ý nghĩa nhất định đặc biệt đối với
một số hoạt động thực tế lăn lộn, hoà mình vào xã hội cộng đồng
* Học có chủ định là học để tiếp thu những tri thức, biến đổi
hoạt động theo mục đích đã đề ra Cách học này thông thường có các đặc điểm như có đối tượng cụ thể là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm vào mục tiêu phát triển năng lực, trí tuệ con người và có tính sáng tạo Kết quả của lối học này là tiếp thu được một cách hệ thống các khái niệm khoa học, tạo ra những khả năng giải quyết những nhiệm vụ đời sống một cách hiệu quả
Trang 39Học tập thực chất cũng là quá trình nhận thức vì vậy nó cũng có
hai mức độ là nhận thức cảm giác vận động và nhận thức lý tính trí tuệ
5.2 Cơ sở sinh lý học của quá trình học tập
5.2.1 Điều kiện hoá kinh điển
Trong thí nghiệm tạo phản xạ có điều kiện, một kích thích trung
tính sẽ không gây ra được phản ứng gì nhưng khi kết hợp với kích
thích không điều kiện thì nó trở thành kích thích có điều kiện để gây
được phản ứng Pavlov gọi đó là quá trình điều kiện hoá Kết quả học
tập được ở con chó là do điều kiện hoá kinh điển tạo ra
Trong thí nghiệm tạo đáp ứng có điều kiện, quá trình điều kiện
hoá đầu tiên khơi gợi đáp ứng được tăng dần qua nhiều thí nghiệm và
như vậy con chó đã tập nhiễâm được một đáp ứng có điều kiện Trong
pha tập nhiễâm, cường độ đáp ứng có điều kiện tăng dần Khi không có
sự kết hợp thì cường độ bằng "không" nhưng phản xạ lại có thể tái
hiện sau một thời gian nghỉ ngắn Sự xuất hiện trở lại đó gọi là "hồi
phục tự nhiên" Trong điều kiện hoá việc định thời gian là rất quan
trọng Các kích thích không điều kiện và có điều kiện phải được đưa
ra liền nhau về thời gian để con chó nhận biết là có liên quan với
nhau Khoảng thời gian này dài hay ngắn là phụ thuộc vào khả năng
đáp ứng được điều kiện hóa
Những điều tiếp thu được thường phải đạt tới độ bền vững để trở
thành một thuộc tính của hoạt động Những kết quả về biến đổi hành
vi, hoạt động là phải hợp lý, có tính logic khoa học và có lợi về mặt
thực tiễn
Quá trình điều kiện hóa diễn ra nhanh nhất khi kích thích có
điều kiện tách khỏi các kích thích khác cùng lúc diễn ra Kích thích
nào cũng có cường độ cao và càng tương phản với các kích thích khác
thì càng dễ nhận biết hơn
Đặc điểm của kích thích có điều kiện tạo thuận lợi nhiều nhất cho quá trình điều kiện hóa là tính chất giàu thông tin
5.2.2 Điều kiện hóa thao tác
Thí nghiệm con mèo bị nhốt trong cũi học được cách mở cửa để
chui ra qua nhiều lần làm thử Theo Thorndike, việc học tập là một kiểu
hoạt động gắn liền với nhau, không phải giữa hai kích thích (như trong thí nghiệm của Pavlov) mà là giữa kích thích trong một tình huống với một đáp ứng được chủ thể học cách thực hiện Đó là mối kết hợp kích thích Những đáp ứng được ân thưởng nếu được lặp lại nhiều lần sẽ khiến con vật thoả mãn và sẽ được củng cố Ngược lại các đáp ứng được ân thưởng sẽ yếu dần tiến đến bị xoá bỏ nếâu không được tiếâp tục củng cốâ Những hành vi đạt hiệu quả tốt sẽ tăng tần số và trở thành đáp ứng trội Thorndike gọi mối quan hệ giữa hành vi và hiệu quả đó là định luật hiệu quả và đó là phương thức điều kiện hóa thao tác
5.2.3 Diễn biến của quá trình học tập
Đó là quá trình nhận thức nhưng không chỉ nhận thức mà còn phải biến những nhận thức đó thành hành động trong cuộc sống Vì vậy quá trình này vẫn phải diễn ra theo ba bước:
- Tiếp nhận thông tin (đa dạng);
- Lưu giữ thông tin (trí nhớ);
- Khai thác thông tin Tiếp nhạân được nhiều mà không khai thác được thì cũng không hiệu quả gì
Để tiếp nhận thông tin tốt thì phải:
- Tận dụng mọi nguồn kích thích;
- Tạo hưng phấn mạnh, không dưới tải, không quá tải
Trang 40Hiệu quả tiếp nhận thông tin phụ thuộc vào bản chất thông tin
(có rõ ràng không), môi trường (có thuận lợi không, có bị rối nhiễu
không) và trạng thái cơ thể về sinh lý và tâm lý (động cơ, cảm xúc,
hứng thú…)
Quá trình lưu giữ thông tin cũng là một bước của trí nhớ dưới các
dạng trí nhớ biểu tượng (thiên về tri thức), trí nhớ vận động (cần cho
kĩ năng, kĩ xảo) và trí nhớ logic (để nâng cao năng lực tư duy)
Khai thác thông tin là khâu quan trọng nhất Người ta vẫn cho rằng
trung bình chỉ có thể khai thác được không hơn 1% những gì lưu trữ
được Đây là một quá trình chọn lọc tích cực, tạo hưng phấn ở trung
tâm ít liên quan
Vì vậy có một phương châm rất tích cực là "Hãy nhớ những gì
đáng nhớ và biết quên những gì cần quên"
VI STRESS
6.1 Khái niệm
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp Công cuộc công
nghiệp hóa đang diễn ra cấp tập, nhưng quả thật là khá hỗn độn Cuộc
sống của chúng ta đặc biệt là ở đô thị quá đông đúc, quá ồn ào, ô
nhiễm và lộn xộn Quá nhiều đòi hỏi và thách thức mà nguồn lực của
chúng ta thì không phải là vô hạn Chúng ta luôn thấy thiếu thời gian,
thiếu điều kiện để hoàn thành mọi công việc xã hội và gia đình mà ta
phải đảm nhiệm Chúng ta luôn bận tâm về những bất trắc, những
chướng ngại đã, đang và sẽ xảy ra Nhiều lúc chúng ta không đủ
nguồn lực để thỏa mãn những nhu cầu chẳng có gì là to tát lắm, và
chúng ta nói "chúng ta đang bị stress" Chúng ta tự hỏi có ai không
bị stress như chúng ta không? Nếu không có stress thì sao, có dễ chịu
hơn không? Vậy thì stress là gì
6.1.1 Một số quan điểm
Có nhiều trạng thái bệnh lý, rối nhiễu tâm lý ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thậm chí đưa tới tệ nạn xã hội, tội phạm và tử vong Một trong những lý do được đề cập đến là stress
Ngày nay thuật ngữ stress được nghe, nói khá nhiều trong văn bản khoa học cũng như trong đời sống, nhưng thực sự nó là cài gì thì
không dễ thấu hiểu Một nhà tâm lý học nổi tiếng, Hans Selye, đã nói
"Stress giống như thuyết tương đối của Enstein, là khái niệm khoa học vừa có may mắn là được nhiều người nói đến lại vừa không may là được quá ít người am hiểu"
Đã có nhiều quan điểm khác nhau về stress Trong hiểu biết thông thường thì sress được hiểu theo nghĩa là áp lực từ một cái gì đó đang xảy ra chung quanh ta hay tác động vào ta Có sinh viên kêu ca
"Tơi đang bị stress vì bài làm dở, thiếu thời gian viết chuyên đề" Cha mẹ học sinh nói đang bị căng thẳng vì đứa con trai đi bụi, bị giam xe Các bác sĩ phòng khám than thở vì tình trạng quá tải ở bệnh viện Trong những tình huống đó thuật ngữ stress có thể được thay thế bằng
thuật ngữ "sức ép" (pressure) hay "căng thẳng" (strain) mà không có phân biệt về ý nghĩa
Trong tự điển thuật ngữ Webster có ghi "Stress là sự căng thẳng, sức ép lực tác động lên một cơ thể có xu hướng gây căng thẳng hoặc
làm biến dạng nó đi"
Trong cách hiểu thông thường stress thường chỉ ra tình trạng gì đó xấu tiêu cực, là trạng thái lo sợ, xáo động, gây đau khổ mà người
ta cần tránh Tuy nhiên có những trải nghiệm gây được khoái cảm, hài lòng như là hồi hộp về những pha bóng đẹp mắt, là hả dạ khi cầu thủ được yêu mến của mình ghi bàn thắng, như là hài lòng theo dõi diễn xuất tinh tế của một siêu sao sân khấu hay ca nhạc