NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ PHIÊN ÂM TIẾNG NƯỚC NGOÀI - ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á - ĐTM: Đánh giá Tác động Môi trường Environmental Impact Assessment - UNEP: Chương trình Môi trường Li
Trang 10 | 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
GIÁO TRÌNH ðÁNH GIÁ TÁC ðỘNG
MƠI TRƯỜNG
PGS_TS HOÀNG HƯNG
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA
TP HỒ CHÍ MINH - 2007
Trang 2NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ PHIÊN ÂM
TIẾNG NƯỚC NGOÀI
- ADB: Ngân hàng Phát triển Châu Á
- ĐTM: Đánh giá Tác động Môi trường (Environmental Impact Assessment)
- UNEP: Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
- Phương pháp danh mục (Checklist Method)
- WB: Ngân hàng Thế giới
- Danh mục có xét đến độ đo của tác động (Weighting Checklist)
- Danh mục dạng câu hỏi (Questionnaires Checklist)
- Danh mục có ghi mức độ tác động (Scanling Checklist)
- Phương pháp ma trận môi trường (Matrix Method)
- Hành động (action)
- Hành động trong hoạt động (activity)
- Phương pháp ma trận giản đơn (Simple Interaction Matrix)
- Ma trận có định lượng (Quantified Matrix)
- Phương pháp có xét đến các tác động riêng rẽ (Disaggreated Method)
- WRAM : Phương pháp đánh giá tài nguyên nước (Water Resources Assessment Methodology)
- Ma trận có các thành phần tương tác (Component Interaction Matrix)
- Giấy trong suốt (Papier Calque)
- Hệ thống thông tin địa lý (GIS)
- Phương pháp mạng lưới (Network Method)
- PV: Giá trị hiện tại (Present Value)
- NPV: Lợi nhuận ròng quy về hiện tại (Net Present Value)
- IRR: Hệ số hoàn vốn nội tại (Internal Rate of Return)
- PTTNN: Phát triển tài nguyên nước
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Đánh giá tác động môi trường là ngành khoa học vô cùng mới mẻ không
những chỉ riêng nước ta mà ngay cả nhiều nước trên thế giới Ví dụ: Mỹ là một trong những nước có trình độ khoa học phát triển nhanh, nhưng công tác đánh giá tác động môi trường cũng chỉ mới hình thành từ năm 1969…
Nước ta trước năm 1984 thuật ngữ “Đánh giá tác động môi trường” (ĐTM) là thuật ngữ ít người hiểu… Mãi cho đến năm 1985 những kiến thức cơ bản về ĐTM bước đầu mới được áp dụng để góp phần vào nội dung: “Luận chứng kinh tế kỹ thuật của công trình Thủy điện Trị An…”
Ngày 10-1-1994, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam ký sắc lệnh ban hành về việc Bảo vệ môi trường trong đó điều 18 qui định: “Tất cả các dự án phát triển kinh tế xã hội đều phải đánh giá tác động môi trường và xây dựng các phương án phòng chống ô nhiễm” Điều đó chứng tỏ công tác đánh giá tác động môi trường thật sự đang và mãi mãi là một nội dung rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu để thực hiện các phương án phát triển kinh tế xã hội và đã thực sự trở thành pháp lệnh của nước ta
Tuy nhiên, khoa học về đánh giá tác động môi trường vẫn là ngành khoa học còn non trẻ, công tác đánh giá tác động môi trrường là một việc làm khá phức tạp “đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ liên ngành giỏi với khuôn khổ thể chế thích hợp, thông tin đầy đủ…” Cho nên công tác đánh giá tác động môi trường còn phải không ngừng phấn đấu, tích lũy kinh nghiệm và tiếp thu những thông tin khoa học kỹ thuật hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới, từ đó mới đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp thiết trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước…
Tập giáo trình Đánh giá tác động môi trường do tác giả biên soạn trên
cơ sở tập hợp những văn bản pháp qui có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường, thu thập những thông tin, những hướng dẫn về đánh giá tác động môi trường của Bộ khoa học công nghệ và môi trường, những lý thuyết cơ bản có liên quan đến đánh giá tác động môi trường trong lĩnh vực động lực học dòng sông, trên lĩnh vực thủy lợi và năng lượng…
Trong quá trình viết nên giáo trình này, tuy tác giả đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cán bộ liên ngành, song vấn đề quá lớn và phức tạp nên tồn tại, khiếm khuyết là điều không thể nào tránh khỏi, vì vậy rất mong bạn đọc xa gần góp ý để tập giáo trình này ngày càng phục vụ nhiều bạn đọc hơn
Tháng 6-1999
Trang 4CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
I Khái niệm về đánh giá tác động môi trường
1 Định nghĩa:
Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là quá trình phân tích, đánh giá dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, các quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội và đề xuất các giải pháp thích hợp để bảo vệ môi trường
ĐTM không phải là thủ tục để ngăn cản hay hạn chế dự án phát triển mà là nghiên cứu để làm cho việc chuẩn bị thực hiện dự án được hoàn chỉnh đầy đủ hơn; nhằm đạt tới các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và trong tương lai không làm tổn hại đến lợi ích lâu dài Vì vậy ĐTM một trong những công cụ góp phần cho sự phát triển bền vững…
Các nước phát triển về kinh tế đã vận dụng ĐTM từ những năm 70 Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều đưa ĐTM thành yêu cầu chính thức trong việc xét duyệt các dự án phát triển Khái niệm ĐTM đã được đưa vào nước ta từ năm 1985 và sau đó Nhà nước ta đã có quyết định ĐTM đối với các dự án xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội quan trọng
Từ đó đến nay, khoa học về ĐTM ngày càng được quan tâm và đã có những bước tiến đáng kể Năm 1994 bộ luật bảo vệ môi trường của nước ta đã được quốc hội thông qua và chính phủ ra nghị định 175/CP về hướng dẫn thực hiện luật bảo vệ môi trường (18/10/1994) Trong đó có điều khoản về việc ĐTM của các dự án phát triển như điều 17-18 của luật bảo vệ môi trường và chương 3 của nghị định 175/CP của chính phủ
ĐTM của các dự án phát triển luôn luôn phải là công trình nghiên cứu liên ngành; trong đó các chuyên viên về môi trường phải kết hợp chặt chẽ với chuyên viên lĩnh vực hoạt động cụ thể của dự án để tìm hiểu về dự án, điều tra khảo sát hiện trạng môi trường, dự báo các diễn biến trong tương lai và đề xuất các biện pháp xử lý…
2 Sự khác nhau giữa ĐTM và Luận chứng Kinh tế Kỹ thuật
Trước đây, khi đặt kế hoạch xây dựng các công trình hoặc những dự án kinh tế chúng ta thường hay lập “Luận chứng kinh tế kỹ thuật” Mục đích của Luận chứng kinh tế kỹ thuật nhằm làm rõ các vấn đề:
- Về kỹ thuật: có khả năng thực hiện dự án hoặc công trình đó không?
- Công trình xây dựng có đem lại hiệu quả kinh tế không – nhiều hay
ít, thời gian hoàn vốn bao lâu…
Luận chứng kinh tế kỹ thuật chưa đề cập đến những tác động của công trình, của dự án làm ảnh hưởng đến điều kiện tài nguyên môi trường… không quan tâm đến môi trường nhân văn Ví dụ không quan tâm đến phong tục tập
Trang 5quán, đến bản sắc văn hóa, đến di tích lịch sử… đến thay đổi nghề nghiệp, đến nếp sống của người dân trong vùng dự án
- Nghiên cứu những kiến thức tiên tiến về ảnh hưởng của con người và
những hoạt động của họ đến môi trường, cũng như những ảnh hưởng của môi trường đến con người, sức khỏe và lợi ích của họ Yêu cầu này được đặt ra vừa có qui mô toàn cầu, vừa có tính chất quốc gia và khu vực, vừa chính phủ vừa phi chính phủ
- Chương trình trung hạn đầu tiên của SCOPE là việc nghiên cứu khoa
học để mô phỏng hình mẫu ĐTM Với sự tài trợ của UNEP, UNESCO,
45 chuyên gia hàng đầu khắp thế giới đã cùng nhau nghiên cứu để tìm các chủ đề và những khía cạnh của ĐTM
R E Munn là người đầu tiên đã nghiên cứu và cho xuất bản một chủ đề lấy tên là “Environmental Impact Assessment” (EIA) và từ đó ĐTM được xem như là phương pháp chủ yếu để giải quyết các vấn đề môi trường
- Năm 1979-1997 Hội đồng kinh tế Châu Âu cùng các chuyên gia của họ
đã nghiên cứu sâu hơn, trao đổi kinh nghiệm và đẩy mạnh việc ứng dụng ĐTM ở các nước Châu Âu
- Nhưng một câu hỏi quan trọng đặt ra lúc bấy giờ là làm thế nào để có
nhận thức đầy đủ nhất, tổng hợp nhất những vấn đề liên quan đến môi trường trong quản lý và qui hoạch phát triển kinh tế xã hội? Câu trả lời đúng nhất cho vấn đề nêu trên là chỉ có ứng dụng phương pháp ĐTM mà thôi
Theo chương trình môi trường của LHQ (UNEP), các dự án, chính sách, chương trình sau đây là đối tượng cần thiết phải tiến hành công tác ĐTM:
a) Sử dụng và chuyển đổi đất đai như qui hoạch đô thị, công nghiệp, nông nghiệp, sân bay, giao thông vận tải, hệ thống truyền dẫn, bãi tắm biển, v.v
b) Khai thác tài nguyên: khoan thăm dò, khai thác mỏ, khai thác gỗ, nổ mìn, đánh bắt thủy hải sản, săn bắn
c) Tái tạo tài nguyên: trồng rừng, quản lý đời sống hoang dại, kiểm soát lũ lụt
d) Sản xuất chế biến nông sản, nông nghiệp, nông trại, cơ sở chăn nuôi, sản xuất bơ sữa, thủy lợi
Trang 6e) Công nghiệp: luyện kim, hóa dầu, lò nấu kim loại, bột giấy, nhà máy giấy, v.v…
f) Giao thông vận tải: đường sắt, sân bay, bến tàu, đường ống, đường ô-tô, v.v…
g) Năng lượng: các hồ thủy điện nhân tạo, đập, các nhà máy năng lượng: nhiệt điện và năng lượng nguyên tử, dầu, v.v…
h) Các trạm xử lý nước thải gây ô nhiễm môi trường có vật chất độc hại, nước ngầm, sinh hoạt
i) Xử lý hóa chất: thuốc trừ sâu, phân hóa học
j) Nghỉ ngơi, giải trí: các khu săn bắn, công viên, bờ biển, các đường đi dạo, đường xe cộ, v.v…
III Việc thực hiện ĐTM ở một số nước trên thế giới
1 Ở Mỹ: ĐTM hay phân tích tác động môi trường ra đời từ những năm 1970 Để làm việc này có Tổ chức hoạt động chính sách môi trường Quốc gia (National Environmental Policy Act: NEPA) và dưới có Hội đồng chất lượng môi trường (Council on Environment Quality: CEQ) giúp các tổ chức này hoạt động theo điều 02 qui định về ĐTM trong luật môi trường ở Mỹ
2 Ở Anh: Việc khai thác dầu mỏ và khí đốt ở miền Bắc Anh là khởi điểm việc thực hiện ĐTM ở Anh Nhiều báo cáo thực hiện khác nhau, nhưng cuối cùng, cách làm của Anh cũng tương tự như NEPA của Mỹ
3 Ở Canada: Việc ĐTM được tổ chức thành hai cấp: quốc gia và các bang, hoạt động từ năm 1973 Tất cả các dự án đều phải ĐTM và phải được bộ Hải sản và môi trường xem xét, phê duyệt
4 Ở Australia: Vấn đề ĐTM được đặt ra từ năm 1974 Mọi thủ tục ĐTM cho các dự án được đặt ra nghiêm ngặt và đều do Bộ môi trường xem xét và phê duyệt
5 Châu Âu : Ở Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, v.v… công tác ĐTM mang tính pháp lý nghiêm ngặt trong việc thực hiện các dự án phát triển Hội đồng kinh tế Châu Âu đã có quan điểm thống nhất thực hiện ĐTM từ tháng 10/1975
IV Đánh giá tác động lũy tích và phân tích tủi ro
1 Khái niệm:
Tác động môi trường lũy tích là những tác động đến môi trường gây ra bởi những ảnh hưởng mà nếu xét riêng bản thân chúng thì nhỏ nhưng nếu gộp cả lại thì sẽ vượt quá sức tải của môi trường có thể chịu đựng
Trên phạm vi toàn cầu, có hai ví dụ tốt nhất về những ảnh hưởng lũy tích là sự nóng lên toàn cầu gây ra bởi những tác động tích lại của việc thải khí CO2
đi liền với việc sử dụng năng lượng cho sưởi ấm, vận tải và sự hủy hại tầng Ozon chủ yếu do ảnh hưởng của quá trình sử dụng các sản phẩm có chứa CFCs
Trang 7Mưa Axid cũng được coi là hậu quả của việc thải vào không trung các chất SO2 và NOx
Có nhiều cách khác nhau để định nghĩa thế nào là ảnh hưởng lũy tích trong lĩnh vực quản lý môi trường, tuy nhiên đặc điểm chung của những ảnh hưởng này là sự tích lũy qua thời gian và không gian của nhiều tác động nhỏ lẻ dẫn đến một tác động tổng hợp lớn hơn tất cả các tác động nhỏ lẻ cộng lại
Đặc điểm quan trọng thứ hai liên quan đến những hoạt động của con người có ảnh hưởng đến môi trường, những hoạt động thường đựơc tiến hành từ những quyết định ở phạm vi hẹp và có vẻ độc lập với nhau Hiện tượng này
từng được gọi là “Sự chuyên chế của các quyết định nhỏ hẹp” Trên thực tế, con
người thường có xu hướng bằng mọi giá thực hiện quyết định của riêng mình, mà quyết định này bao giờ cũng nhỏ hẹp Những tác động sau này hoặc tác động ở những nơi khác đến môi trường đương nhiên sẽ xảy ra ngoài sự quan tâm của chính những người đã ra những quyết định và hành động nhỏ hẹp đó
2 Những phương thức hình thành tác động tích lũy
a) Bổ sung thường xuyên từ một quá trình theo 2 cách:
° Bổ sung
° Tương tác
b) Tổng hợp các ảnh hưởng từ hai hoặc nhiều quá trình
° Các tác động nhân lên
° Các quan hệ hiệp đồng (Synergistic)
3 Xác định và giảm thiểu các tác động tích lũy
Tác động tích lũy có thể tránh được bằng việc tiến hành tốt hơn quá trình kế hoạch hóa Ví dụ kế hoạch hóa làm giảm sự nóng lên của khí hậu toàn cầu là:
- Giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch
- Tìm nguồn năng lượng sạch để thay thế (năng lượng gió, mặt trời, thủy triều…)
- Trồng rừng, chống tàn phá rừng
Nếu không thấy được những động khác đang diễn ra trong khu vực gây ra cùng một tác động lũy tích thì rất khó có thể xác định được tác động lũy tích của một dự án riêng lẻ Một quá trình kế hoạch hóa ở quy mô chung, rộng rãi, tính đến các loại hoạt động trong khuôn khổ của nhiều dự án khác nhau trong cùng khu vực có nhiều khả năng hơn trong việc nhận thức các tác động lũy tích Một điều quan trọng khác là công tác kế hoạch cũng cho phép tính đến những hoạt động tương lai sẽ diễn ra trong khu vực Các kế hoạch tổng thể là nguồn quan trọng để cung cấp cho người đề xuất dự án cùng các bên có liên quan những thông tin đó
Mục đích của các kế hoạch tổng thể là nhằm xác định các mục tiêu xã hội, xem xét các hoạt động phát triển hiện hành, chỉ ra những ràng buộc và đề xuất các kiến nghị về số lượng và loại hình hoạt động trong tương lai cần thiết
Trang 8phải được tiến hành tại một khu vực, một quốc gia để đạt được mục tiêu đó Các kế hoạch tổng thể này bao gồm:
° Các chiến lược bảo tồn thiên nhiên
° Kế hoạch quản lý tài nguyên
° Kế hoạch sử dụng đất một cách toàn diện
° Kế hoạch quản lý chất thải
4 Đánh giá rủi ro
Rủi ro được đề cập đến ở đây như là mức độ xác suất và tính nghiêm trọng của một ảnh hưởng bất lợi có thể gây ra cho sức khỏe, tài sản hoặc môi trường Như vậy, luôn luôn có một độ bất ổn nhất định gắn liền với các rủi ro
• Ví dụ năm 1989 do hỏng van khoan tràn, nước hồ Dầu Tiếng chảy xuống hạ lưu với lưu lượng chỉ mới 300 m3/sec nhưng đã làm ngập một vùng rộng lớn ven sông Sài Gòn do nước qua van hỏng tràn xuống gặp lúc triều cao…
• Hoặc năm 1952 lũ xảy ra ở Đồng Nai Qmax=12.000 m3/sec đã dâng mực nước thị xã Biên Hòa lên 4.73m nhấn chìm hầu như toàn bộ thành phố Vậy thiết kế tràn xã lũ hồ Trị An Qxả = 18.000 m3/sec lúc này điều gì sẽ xảy ra??
• Trên những công trình thủy điện lớn như Hòa Bình – Sơn La khi xảy
ra sự cố vỡ đập thì Thủ đô Hà Nội sẽ ra sao? Điều ta không bao giờ mong muốn nhưng rủi ro lúc nào cũng có thể xảy ra… Đặc biệt những công trình có tính quốc tế như bậc thang Srepok gồm 7 công trình liên tục cho đến tận biên giới Campuchia Vậy nếu 1 công trình thượng nguồn bị đổ vỡ, rủi ro sẽ xảy ra là gì? Đó là những rủi ro mà chúng ta không mong muốn… nhưng trong thực tế rất khó tránh khỏi…
* Đánh giá rủi ro bao gồm hai loại nhiệm vụ là phân tích rủi ro và đánh giá rủi ro
- Phân tích rủi ro: là hoạt động sử dụng những thông tin hiện có để ước tính độ rủi ro của những tác động môi trường bất lợi gây ra cho con người, tài sản hoặc môi trường Hai thành phần của phân tích rủi ro là xác định rủi ro và ước tính rủi ro
° Xác định rủi ro bao gồm việc xác định những biến cố có kết cục không
chắc chắn Thí dụ: những biến cố đi liền theo việc khoan dầu ngoài khơi có thể có các kết cục không chắc chắn như nổ giếng khoan, tràn dầu… ° Ước tính rủi ro là ước lượng bằng cách thống kê hoặc dùng một vài
phương pháp khác về xác suất của một biến cố và những hậu quả đi kèm theo biến cố đó Thí dụ: hậu quả của sự cố nổ giếng khoan dầu là tràn dầu Ước tính rủi ro trong trường hợp này là ước lượng qui mô tràn dầu và xác suất xảy ra tràn dầu
Trang 9° Đánh giá rủi ro: bao gồm đánh giá tầm quan trọng và khả năng chấp
nhận được các rủi ro đã dự tính Các kỹ thuật đánh giá rủi ro thường được áp dụng là:
- So sánh với những mức rủi ro khác nhau đã biết (Thí dụ: so sánh mức rủi
ro xảy ra bị thương đối với một công nhân trong quá trình xây dựng một công trình với mức rủi ro trung bình xảy ra bị thương trong tất cả các công trình xây dựng khác trong nước vào năm trước)
- Phân tích thu chi để tính giá bằng tiền của những phí tổn gây ra bởi các
biến cố không chắc chắn (Thí dụ: chi phí làm sạch một vụ tràn dầu hoặc chi phí chữa chạy cho một công nhân bị thương) so sánh các giá trị hiện tại của những chi phí này với giá trị hiện hành của thu nhập bằng tiền mà dự án đem lại Khi đem so sánh giữa những dự án khác nhau, dự án nào có chỉ số (chi/thu) thấp nhất sẽ là dự án được ưu tiên
- Phân tích rủi ro, tiến hành so sánh những hậu quả của một biến cố không
chắc chắn với thu nhập bằng tiền mà dự án mang lại Có những hậu quả không đo được bằng tiền nhưng có thể sử dụng các đơn vị đo tự nhiên của chúng thí dụ như số công nhân bị thương, diện tích dầu tràn Khi so sánh các phương án với nhau, cần phải có phán quyết rõ ràng ưu tiên trường hợp nào giữa một bên là các dự án có mức rủi ro cao nhưng chi phí khắc phục thấp với một bên là các dự án có mức rủi ro thấp nhưng chi phí khắc phục cao
5 Những vấn đề thường gặp khi tiến hành các đánh giá rủi ro
Vấn đề lớn nhất là xác định khả năng chấp nhận rủi ro Các nhà khoa học và các bên bị ảnh hưởng bởi dự án thường có những quan điểm khác nhau về khả năng chấp nhận rủi ro Nguyên nhân của sự khác biệt này là:
° Những người bị ảnh hưởng thường cho rằng, rủi ro không tự nguyện khó
chấp nhận hơn rủi ro tự nguyện, ngay cả khi xác suất rủi ro được xác định một cách khoa học là tương đương nhau Ví dụ: tử vong do hút thuốc lá thuộc vào loại rủi ro tự nguyện nhưng tử vong do nhiễm chất độc hóa học rò rỉ từ nơi chôn các chất thải độc hại thuộc vào loại rủi ro không tự nguyện
° Những người từng trải qua một rủi ro nào đó thường gán cho nó một mức
độ nghiêm trọng hơn những người chưa từng trải
° Những người bị ảnh hưởng có thể nghĩ rằng không rủi ro là “rủi ro” duy
nhất có thể chấp nhận được, nhất là những rủi ro có hậu quả chết người như bệnh ung thư
° Những người bị ảnh hưởng bởi dự án có thể nghi ngờ về khả năng của
các nhà khoa học trong việc dự báo những hậu quả và ước tính xác suất một cách chính xác
° Những người bị ảnh hưởng có xu hướng cho rằng tử vong do các biến cố
thảm họa, thí dụ: bão, tai nạn máy bay hoặc là nổ nhà máy hơi đốt thì
Trang 10nghiêm trọng hơn các biến cố thông thường khác thí dụ như nhiễm dịch bệnh hoặc mắc bệnh tim
Những sự khác biệt này lý giải cho tầm quan trọng của việc thu hút sự tham gia của những người bị ảnh hưởng bởi các dự án trong quá trình ĐTM Nếu không có sự tham gia này hoặc tham gia không đầy đủ thì một ảnh hưởng xã hội có thể có mà dự án gây ra sẽ bị bỏ qua khi đánh giá Hậu quả này sẽ đi ngược lại với chính các mục đích của nội dung ĐTM
VI Giám sát và đánh giá sau triển khai
1 Ai là người đề nghị dự án hay Chính phủ phải chịu trách nhiệm giám sát?
Trong trường hợp có những vi phạm luật pháp về môi trường, hiển nhiên bên đề nghị dự án thường thích được đảm nhận chức năng giám sát hơn Vì lẽ đơn giản là để đảm bảo tính khách quan, chức năng giám sát cần phải giao cho các cơ quan chuyên môn của Chính phủ Tuy nhiên để cho khách quan và tiện lợi hơn nữa, nên có sự tham gia của cả phía bên đề nghị dự án
Lợi thế của việc giao trách nhiệm giám sát cho Chính phủ là ở chỗ, các kết quả giám sát sẽ đáng tin cậy hơn nếu như tự bản thân người đề nghị dự án tiến hành giám sát Tuy nhiên Chính phủ sẽ phải trang trải chi phí giám sát và đó là một điều bất lợi
2 Những yêu cầu của một chương trình giám sát
° Phải thu hẹp được số thành phần cần theo dõi, giám sát trong khuôn khổ
của các thành phần môi trường cần đánh giá và có tính đến khả năng biến đổi của thành phần môi trường này do việc triển khai dự án gây ra ° Có chính sách và cơ chế đảm bảo sao cho thông tin thu được đúng theo
yêu cầu của những vấn đề cần biết, đồng thời phải phản ánh được các điều kiện trong một thời gian đủ dài
° Các kết luận phải dựa trên cơ sở những số liệu thống kê chấp nhận được
3 Đánh giá sau triển khai dự án
Mục tiêu:
° Kiểm tra tính chính xác của công tác ĐTM như là những dự báo về hậu
quả môi trường của một dự án Thí dụ: xu hướng và độ lớn của những tác động có được dự báo đầy đủ và chính xác hay không? Những tác động chủ yếu của việc triển khai dự án có được xác định đúng hay không? ° Xác định xem số liệu làm cơ sở có được thu thập đầy đủ hay không? ° Xác định xem các tác động lũy tích và đa giai đoạn có được dự báo đúng
hay không?
° Xác định xem các biện pháp khắc phục những ảnh hưởng bất lợi của dự
án có thực hiện hay không? Nếu có thì những biện pháp này có tác dụng hay không?
° Đánh giá ích lợi của các kỹ thuật kiểm tra và theo dõi đã đề nghị
Trang 11° Đánh giá hiệu lực của các biện pháp quản lý môi trường áp dụng trong dự án
4 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện có hiệu quả công tác đánh giá sau triển khai dự án
- Việc sử dụng từ ngữ không chính xác trong ĐTM có thể gây khó khăn
cho việc xác định một kết quả dự báo có chính xác hay không Thí dụ: một tác động “lớn” có thể được dự báo cho một phần môi trường nào đó trong ĐTM, nhưng không nêu rõ một ảnh hưởng như thế nào gọi là lớn
- Thiết kế của dự án có thể sẽ thay đổi sau khi dự án được thông qua Thí
dụ: một công nghệ kiểm soát ô nhiễm khác đã được lắp đặt thay vì công nghệ đã nêu trong ĐTM
- Một vài giai đoạn của dự án đã mô tả trong ĐTM có thể sẽ không được
thực hiện Thí dụ: các mũi khoan dầu tại một số nơi trong khu vực khai thác có thể hãy còn chưa được bắt đầu do giá dầu giảm
- Một vài chỉ số môi trường được kiểm tra có thể không thích hợp Thí dụ:
nếu mức ô nhiễm không khí xung quanh được kiểm tra chứ không phải là chỉ tiêu thoát khí ra ngoài thì sẽ không thể nào tách bạch ra đâu là những ảnh hưởng của dự án và đâu là ảnh hưởng của các nguồn ô nhiễm không khí khác gây ra trong khu vực
- Một vài chỉ số môi trường được kiểm tra có thể đã không được tiến hành
theo dõi thường xuyên hoặc theo dõi ở những khoảng thời gian thích hợp
- Nhiều biến cố ngoại lai không trù tính trước và chưa được đánh giá có thể
gây ra những biến đổi trong các thành phần môi trường gây khó khăn cho việc truy xét nguồn gốc của những biến đổi này
5 Một vài kết luận về tác dụng của các dự báo trong ĐTM rút ra từ các đánh giá sau khi triển khai dự án
Những tác động chủ yếu và xu hướng của các tác động thường được xác định đúng, sai sót phổ biến thường gặp đối với các dự báo về mức độ biến đổi của các thành phần môi trường
Những ảnh hưởng lũy tích và nhiều giai đoạn thường ít được dự báo chính xác hơn cả
Những dự báo tốt nhất thường làm được đối với các tác động đã nghiên cứu và kiểm tra kỹ lưỡng, thí dụ như sự cố tràn dầu, dự báo mực nước chứa trong hồ Những ảnh hưởng cấp một thường dễ dự báo nhất Tác động cấp hai và những tác động cấp cao là khó dự báo hơn Những hệ thống phức tạp chứa đựng nhiều mối liên kết thường không được hiểu rõ
Trang 12Tóm tắt chương I TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
Trong chương này giới thiệu tổng quan về những khái niệm cơ bản:
1 Thế nào là ĐTM
2 Quá trình phát triển của khoa học ĐTM trên thế giới và ở nước ta
3 Tầm quan trọng của công tác ĐTM và nêu rõ đây là ngành khoa học mang tính chất liên ngành – khá phức tạp Vì vậy đòi hỏi phải tập hợp nhiều chuyên gia đầu ngành mới có thể tiến hành tốt công tác này
4 Nêu lên sự giống nhau và khác nhau giữa luận chứng kinh tế kỹ thuật và ĐTM
5 Nhấn mạnh sự cần thiết phải tiến hành ĐTM không những trước khi triển khai những dự án kinh tế khoa học kỹ thuật mà thực hiện ngay cả khi triển khai và cả quá trình khai thác, vận hành những chương trình khoa học kỹ thuật hoặc những dự án kinh tế đó
6 Trong quá trình tiến hành ĐTM cần hiểu rõ ý nghĩa của tác động tích lũy và phân tích rủi ro Phải hiểu thế nào là tác động môi trường tích lũy – Làm sao giảm thiểu tác động tích lũy – Hiểu thế nào là rủi ro tự nguyện và rủi ro không tự nguyện
7 Vấn đề giám sát và đánh giá sau triển khai
Những vấn đề nêu trên cũng là những câu hỏi gợi ý cho sinh viên hoặc học viên cao học trong khi ôn tập môn học
Trang 13CHƯƠNG II
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
MÔI TRƯỜNG
I Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường
Phương pháp danh mục các điều kiện môi trường hoặc gọi tắt là phương pháp danh mục (Checklist method) được sử dụng rất phổ biến từ trước những năm 1970 cho tới nay Nguyên tắc của phương pháp này là liệt kê thành danh mục tất cả những nhân tố môi trường liên quan đến hoạt động phát triển được đem ra đánh giá Danh mục đó sẽ được gởi tới các chuyên gia để từng người cho ý kiến sau đó tổ chức đánh giá sẽ tổng hợp lại thành kết luận chung Ý kiến đánh giá cũng có thể do các tập thể liên ngành thảo luận và đi đến đánh giá chung
Có thể phân biệt những loại danh mục sau đây:
1 Danh mục đơn giản: chỉ liệt kê các nhân tố môi trường cần được xem xét tương ứng với một loại hình hoạt động phát triển Ví dụ: danh mục ĐTM của công trình giao thông, của chương trình khai hoang…
2 Danh mục có mô tả: cùng với việc liệt kê các nhân tố môi trường, có thuyết minh về sự lựa chọn các nhân tố đó, phương pháp thu thập các số liệu được ghi vào danh mục
3 Danh mục có ghi mức độ tác động với từng nhân tố môi trường (Scanling checklist): bên cạnh phần mô tả có ghi mức độ tác động của hoạt động phát triển tới từng nhân tố
4 Danh mục có xét độ đo của tác động (Weighting checklist): bên cạnh phần mô tả có ghi thêm độ đo của tác động do hoạt động phát triển tới từng nhân tố môi trường
5 Danh mục dạng câu hỏi (Questionnaires checklist): bao gồm những câu hỏi liên quan đến những khía cạnh môi trường cần đánh giá
Sau đây là một số ví dụ đơn giản về phương pháp danh mục (xem bảng 2.1 và 2.2)
Trang 14
Bảng 2.1 Danh mục tác động đến môi trường của một công trình đường ô-tô
Chú thích: NH = ngắn hạn; DH = dài hạn; L = lớn; BT = bình thường; DD = đảo lại
được; KD = không đảo lại được; DP = địa phương; RL =rộng lớn
Bảng 2.2 Trích dẫn danh mục tác động môi trường của một công trình tưới cho nông nghiệp (theo hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển Châu Á, 1987)
Tác động của hoạt
động phát triển
Tổn hại đến tài nguyên môi trường
Biện pháp bảo vệ tài nguyên môi trường
Đáng giá mức độ tác động
ĐK KĐK a) Do vị trí công trình
- Mất rừng
- Ngăn cản sự đi lại
của người, động vật
- Xung đột quyền lợi
vì nước
- Mất tài nguyên
- Đảo lộn đời sống của nhân dân,động vật
- Bất bình đẳng xã hội
- Chú ý trong thiết kế
- Chú ý trong thiết kế
- Chú ý trong thiết kế và quản lý
X
X
X
Chú thích: DK = đáng kể; KDK = không đáng kể
Tại một số nước, việc soạn thảo danh mục tác động môi trường đã được đưa vào máy tính Chương trình máy tính sẽ tự động lập danh mục các nhân tố
TT Đối tượng chịu tác động NH DH L BT NH Tác động tích cực DH Tác động tiêu cực DD KD DP RL
8 Độ phì nhiêu của đất Không đáng
kể
kể
12 Vận tải bộ X X
Trang 15môi trường cần được xem xét lúc ta đưa vào máy tính các tính chất của loại hình hoạt động phát triển cần được đánh giá Chương trình còn có khả năng xác định các tác động có thể xảy ra, mức độ các tác động đó, lúc biết được những dự kiến ban đầu về hoạt động phát triển (Westman, Walter E,1985)
Việc tổng hợp ý kiến chuyên gia thường được tiến hành theo các phương pháp thông thường về chỉnh biên số liệu điều tra theo ý kiến chuyên gia
Thí dụ trong ĐTM của một hệ thống công trình thủy lợi, nhân tố môi trường có thể được xếp thành từng nhóm Rừng cây, động vật quí hiếm, chất lượng không khí, chất lượng nước, phong cảnh, v.v… là những nhân tố ảnh hưởng Hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái dưới nước, điều kiện sức khỏe con người, v.v… là những nhóm ảnh hưởng Mỗi nhân tố và mỗi nhóm được qui định một tầm quan trọng bằng một số điểm tính từ 0 cho đến một mức nào đó do tổ chức ĐTM xác định
Tổng tác động của một hoạt động phát triển đến môi trường được tính theo công thức sau
Trong đó: Vi1 là trị số nhân tố môi trường lúc dự án hoạt động thực hiện
Vi2 là trị số chất lượng môi trường lúc không thực hiện dự án
Wi là tầm quan trọng của nhân tố trong môi trường tính theo qui điểm qui ước
Có thể dùng công thức 2.1 để tính và so sánh tác động môi trường của những phương án khác nhau cho một hoạt động phát triển Có thể nói rằng với phương pháp này ta đã xem những nhân tố môi trường được liệt kê ra là những thuộc tính (attributes) của môi trường, những thay đổi của các thuộc tính ấy cho
ta những số chỉ thị (indicators) về những diễn biến của môi trường
Phương pháp danh mục có những ưu nhược điểm sau:
- Ưu điểm: đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, nếu người đánh giá nắm vững nội dung hoạt động phát triển
- Nhược điểm: mang tính chủ quan, cảm tính về tầm quan trọng, về cấp độ, điểm số, v.v… và do đó kết quả đánh giá hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố khách quan
II Phương pháp ma trận môi trường
Phương pháp ma trận môi trường gọi tắt là phương pháp ma trận (matrix method) phối hợp liệt kê các hành động (action) của hoạt động phát triển với liệt kê từng nhân tố môi trường có thể bị tác động vào ma trận Hoạt động liệt kê trên trục hoành, nhân tố môi trường được liệt kê trên trục tung, hoặc ngược lại Cách làm này cho phép xem xét các quan hệ nhân – quả của những tác động khác nhau một cách đồng thời Thông thường việc xem xét chung dựa trên
Trang 16sự đánh giá định lượng các tác động riêng lẻ đối với từng nhân tố Phương pháp
ma trận được sử dụng cụ thể bằng:
1 Phương pháp ma trận đơn giản (simple interaction matrix) Trục hoành
ghi các hành động, trục tung ghi các nhân tố môi trường Hành động nào có tác động đến nhân tố môi trường nào thì người đánh giá đánh dấu (×) để biểu thị các tác động, nếu không thì thôi Có thể xem phương pháp này là một dạng danh mục môi trường cải tiến, đồng thời xem xét nhiều tác động trên cùng một tài liệu
2 Phương pháp ma trận có định lượng (quantified matrix) hoặc định cấp
(graded matrix) Trên các ô của ma trận không chỉ ghi có hay không có tác động, mà phải ghi mức độ và tầm quan trọng của tác động Theo qui ước của Leopold, người đầu tiên đề xuất phương pháp ma trận vào năm
1971, thì mức độ tác động (impact) được đánh giá theo 10 cấp Tầm quan trọng của nhân tố môi trường cũng được ghi theo 10 cấp: hết sức quan trọng được điểm 10, ít quan trọng nhất là điểm 1 Việc cho điểm đều dựa vào cảm tính của cá nhân hoặc của nhóm chuyên gia đánh giá
Bảng 2.3 trình bày một thí dụ cụ thể về sử dụng phương pháp ma trận có định lượng
Tầm quan trọng của các nhân tố môi trường đối với từng hoạt động phát triển được xác định bằng cách lấy ý kiến chuyên gia, dựa theo ma trận tương tác giữa các nhân tố môi trường với nhau Một nhân tố nào có khả năng tác động đến nhiều nhân tố khác thì được xem là quan trọng hơn những nhân tố ít ảnh hưởng đến các nhân tố khác (Ví dụ khi tích nước vào hồ chứa sẽ dẫn đến bồi lắng, nước dâng, biến đổi chất lượng nước trong hồ, góp phần thay đổi vi khí hậu… xói lở hạ lưu công trình)
Mức độ tác động đến chất lượng chung của môi trường của từng nhân tố được biểu thị bằng mối quan hệ giữa độ đo của nhân tố với chỉ tiêu về chất lượng môi trường
Bảng 2.3 thí dụ về ĐTM theo ma trận cho một dự án cải tạo thành phố (theo Westman, Walter E,1985)
Trang 17Ma trận ĐTM nổi tiếng nhất là ma trận do Leopold kiến nghị dùng để đánh giá các công trình xây dựng Trên trục hoành liệt kê 100 loại hành động khác nhau của hoạt động phát triển, trên tung độ là 88 nhân tố môi trường tự nhiên và xã hội Mức độ tác động của các hành động được cho điểm 1 cho đến điểm 10 với dấu (+) cho các tác động tích cực, dấu (–) cho các hoạt động tiêu cực Leopold đề nghị tính toán hai tính chất “mức độ tác động” (magnitude) và
“tầm quan trọng” riêng cho từng tác động Mức tác động chỉ cho biết rằng tác động đó lan tới đâu, ảnh hưởng sâu sắc đến thế nào Tầm quan trọng nói lên nhận thức của con người đối với ý nghĩa của tác động Cho điểm về mức độ tác
Chú thích
kr: không rõ tác động
o: không tác động
+: tác động tích cực
++: tác động rất tích cực
-: tác động tiêu cực
- - : tác động rất tiêu cực
Các hành động có tác động đến môi trường Thi công Chuyển tiếp Sau khi đã hoàn thành đem vào sử dụng
Các nhân tố môi trường
Nhân tố vật lý:
Địa chất,thổ nhưỡng
Cống rãnh,vệ sinh
Cấp nước
Cây xanh
Động vật
Chất lượng không khí
Sử dụng đất lân cận
Thoát nước mưa
kr
kr
kr
kr ++
- -
kr
- - ++
-
-
o ++
++
kr
- +
- + ++
+
kr
kr ++
kr
kr
kr
o + +
o
o
o Nhân tố xã hội
kr
kr
Trang 18động có thể tiến hành một cách thực nghiệm khách quan Cho điểm về tầm quan trọng mang tính chủ quan, ước đoán
Bảng 4 là một thí dụ về ma trận có ghi mức độ tác động và tầm quan trọng của tác động
Bảng 4: Thí dụ về ma trận tác động đến môi trường của hồ chứa nước (theo Iohani, 1982)
Chú thích: Trong mỗi ô ma trận, tử số chỉ mức độ tác động (magnitude) của hành động đến nhân môi trường tương ứng, điểm cho từ 1 đến 10; mẫu số chỉ tầm quan trọng của tác động đó, điểm cho từ 1 đến 10 Tổng số trên cột cuối chỉ mức tác động tổng hợp của hoạt động phát triển đối với từng nhân tố môi trường Tổng số trên hàng chỉ tác động của từng hành động đối với chất lượng chung về môi trường
Phương pháp ma trận tương đối đơn giản, nhưng có những ưu nhược điểm sau:
- Ưu điểm: không đòi hỏi quá nhiều số liệu về môi trường, sinh thái, cho phép phân tích một cách rõ ràng tác động của nhiều hành động khác nhau lên cùng một nhân tố
- Nhược điểm:
+ Chưa xét đến tác động qua lại giữa các tác động với nhau
+ Chưa xét được diễn biến theo thời gian của các tác động, chưa phân biệt được tác động lâu dài với tác động tạm thời
Hệ số
ưu tiên
Nhân công
Xây đắp
Đường dây
Nước ngập
Phế thải
Rong rêu
Định
cư
Tổng số
Ô nhiễm hạ lưu
Kinh tế-xã hội
4/6 3/4
7/7
4/2 2/5
6/7
5/8 3/6 8/8 7/6 7/8
6/5 6/6
4/7 3/7 2/4 2/5
6/5 5/5
7/8
24/35 14/22 12/14 14/12 16/19 7/8 4/2 4/10 6/5 Tổng số 9/14 20/24 6/7 42/47 11/23 11/11 7/8
Trang 19Bảng 5 thí dụ so sánh hai phương án xây dựng và bảo quản một sân bay (theo
Động vật hoang dại
Chỉ tiêu tổng hợp = -98
Xây dựng hoạt động quản lý
Phương án 2
Chất lượng không khí
Nhân tố môi trường Cây xanh
Động vật hoang dại Chỉ tiêu tổng hợp = +9
Chú thích: Số góc ở bên trái mỗi ô trên ma trận biểu thị mức độ tác động (magnitude)
của hành động: số bên góc phải biểu thị tầm quan trọng (importantce) được qui định
cho tác động đó Chỉ tiêu tổng hợp cũng để so sánh phương án là tổng đại số các tích
số mức độ x tầm quan trọng trong tất cả các ô
Phương pháp ma trận môi trường có những ưu nhược điểm sau đây:
- Ưu điểm: Đã đi sâu hơn về định lượng cho những tác động môi trường
3 -1
Trang 20thông thường là các chỉ số chất lượng môi trường, mức độ tác động, tầm quan trọng được xét theo từng dự án cụ thể, bởi những chuyên gia quen thuộc với những dự án cùng loại và điều kiện địa phương Các số nói trên được biểu thị bằng số tương đối Số đo từng tác động được giữ riêng để xét để xét các phương án có tính đến sự né tránh hoặc hạn chế các tác động tiêu cực Tuy nhiên, phương pháp này cũng không thể khắc phục trọn vẹn các nhược điểm đã nói trên
Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp ma trận, ở Canada đã đề xuất một kiểu ma trận mới là ma trận có các thành phần tương tác (Component Interaction Matrix) Cùng với ma trận như ma trận của Leopold với danh mục khác về hành động và nhân tố môi trường với nhau (cả tung độ và hoành độ điều liệt kê các nhân tố môi trường) để xác định những nhân tố môi trường nào có ảnh hưởng nhiều nhất đến các nhân tố khác, từ đó xác định tầm quan trọng của nó, sử dụng các phép tính đại số tuyến tính với những tư liệu như nói trên có thể tính ra được các tác động thứ cấp
III Phương pháp chập bản đồ môi trường
Phương pháp này sử dụng những bản đồ thể hiện những đặc trưng môi trường trong khu vực nghiên cứu vẽ trên giấy trong suốt (papier calque) Mỗi bản đồ diễn tả những khu vực địa lý với những đặc trưng đã xác định được qua tài liệu điều tra cơ bản Thuộc tính của đặc trưng môi trường được biểu thị bằng cấp độ
Thí dụ: vùng ô nhiễm vừa tô màu nhạt; vùng ô nhiễm nặng tô màu sẫm hơn Độ dốc mặt đất chẳng hạn có thể ghi thành 5 mức đậm nhạt khác nhau Để xét sự thích hợp của việc sử dụng đất đai tại nơi nghiên cứu vào một mục đích nào đó, thí dụ trồng một loại cây, ta chập những bản đồ liên quan lại với nhau Tổ hợp độ đậm nhạt hoặc màu sắc cho phép nhận định một cách tổng hợp và nhanh chóng về sự thích hợp của từng khu vực trên bản đồ
Phương pháp chập bản đồ đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu, kết quả xem xét thể hiện trực tiếp hình ảnh, thích hợp với việc đánh giá các phương án sử dụng
Trang 21đất Tuy nhiên, nó cũng có những nhược điểm: thể hiện thiên nhiên và môi trường quá khái quát, đánh giá cuối cùng về tổng tác động phụ thuộc nhiều vào chủ quan của người đánh giá
Dựa trên nguyên tắc chập bản đồ, gần đây nhiều nước đã sử dụng “Hệ thống Thông tin Địa lý” (GIS) trên máy tính, cho phép tổng hợp và so sánh các tổ hợp các điều kiện thiên nhiên và môi trường tại một điểm với rất nhiều thông số những độ đo chi tiết
Bảng 6: thí dụ về sử dụng phương pháp chập bản đồ để đánh giá sự tích hợp của phương án sử dụng đất (theo Orterano, Leonard,1984)
Xác định tọa độ của khu vực nghiêncứu ký hiệu khu vực
Hoành độ
1
Tung độ
2
vừa cao thấp thấp
thấp vừa cao thấp
5 3
1 5 Độ dốc vẻ đẹp của phong cảnh
1 2 (1.1) (2.1) (1.2) (2.2)
Trang 22Xác định hệ số quan trọng của nhân tố
Hệ số cho độ dốc = 2 Hệ số cho vẻ đẹp = 1
Kết quả ĐTM: điểm số cuối cùng cho mỗi khu vực đánh giá
Tốt nhất: khu (1,1)
Xấu nhất: khu (1,2)
Hình 1: Thí dụ về kết quả dùng phương pháp chập bản đồ để xác định vùng đất thích hợp với các loại cây trồng (theo Mellarg, 1969)
13 11
3 11
Chú thích: Đất trồng cây công nghiệp dài ngày, ít cần chống
xói mòn Đất có khả năng khai thác nông nghiệp, nhưng phải chú ý chống xói mòn
Đất trồng rừng, không được khai thác nông nghiệp
Trang 23Hình 2: Thí dụ đơn giản hóa về sơ đồ phân tích TĐTM của hoạt động nạo vét lòng sông (phỏng theo Sorensen, 1971)
Rong rêu phát triển
Chất lượng nước
Cải tạo bãi tắm
Nạo vét lòng sông
Cung cấp bùn cát Nạo vét, chuyển bùn cát
Thay đổi địa hình lòng sông
Cung cấp
vật liệu
xây dựng
Tăng độ sâu hàng vận
Tạo luồng lạch mới
Xáo trộn bùn cát
Cải thiện nơi cư trú sò ,hến
Cung cấp
vật liệu
xây dựng
Cung cấp vật liệu xây dựng
Cung cấp vật liệu xây dựng
Cung cấp vật liệu xây dựng
Cung cấp vật liệu xây dựng
Cung cấp vật liệu xây dựng
Mất đất
lầy
Công nghiệp biển phát triển
Giảm rong, rêu
Phát triển thể thao
Phát triển du lịch
Thêm vật liệu xây dựng
Ổn định bờ biển
Thay đổi cảnh quan (KẾT QUẢ)
(Những tác động tích cực)
Trang 24IV Phương pháp sơ đồ mạng lưới
Phương pháp này có mục đích phân tích các tác động song song và nối tiếp do các hành động của các hoạt động gây ra Sử dụng phương pháp mạng lưới (Network method) trước hết phải liệt kê toàn bộ các hành động (action) trong hoạt động (activity) và xác định mối quan hệ nhân quả giữa các hành động đó Các quan hệ đó nối các hành động lại với nhau thành một mạng lưới Trên mạng lưới có thể phân biệt được tác động bậc 1 do một hành động trực tiếp gây ra, rồi tác động bậc 2 do tác động bậc 1 gây ra và lần lượt tác động bậc
3, bậc 4… Các chuỗi tác động đó cuối cùng dẫn về các tác động cuối cùng, hiểu theo nghĩa là những sự việc có lợi hoặc có hại cho tài nguyên môi trường Do nắm được quan hệ nhân quả và liên quan của nhiều hành động và tác động trên mạng lưới, ta có thể dùng phương pháp này để xem xét các biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế các tác động tiêu cực đến tài nguyên môi trường
Phương pháp mạng lưới này phát sinh từ hhững kinh nghiệm nghiên cứu về dòng năng lượng và cân bằng năng lượng trong các hệ sinh thái Sau đấy, nó được vận dụng rộng rãi vào việc phát triển các vùng ven biển nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa các yêu cầu sử dụng của các ngành kinh tế khác nhau và ngăn chặn xu thế thoái hóa tài nguyên tại các vùng này
Ưu điểm của phương pháp mạng lưới là cho biết nguyên nhân và con đường dẫn tới những hậu quả tiêu cực tới môi trường, từ đó có thể đề xuất các biện pháp phòng tránh ngay trong khâu qui hoạch, thiết kế hoạt động phát triển Điều đáng tiếc là cho tới nay các sơ đồ mạng lưới chỉ chú ý phân tích các khía cạnh tiêu cực Trên mạng lưới cũng không thể phân biệt được tác động trước mắt và tác động lâu dài Phương pháp mạng lưới thích hợp cho phân tích tác động sinh thái, do trên mạng lưới có thể biểu thị các dòng năng lượng có độ đo chung, phương pháp này chưa thể dùng phân tích các tác động xã hội, các vấn
đề thẩm mỹ Thông thường phương pháp mạng lưới được dùng để ĐTM của
một dự án cụ thể, không thích hợp với một chương trình hoặc kế hoạch khai thác tái nguyên của một địa phương
V Phương pháp mô hình
Phân chia phương pháp mô hình:
- Mô hình vật lý: mô hình cứng, mô hình động
Loại mô hình vật lý thường cho ta kết quả đáng tin cậy, có điều tiến trình rất phức tạp và rất tốn kém Ngày nay người ta sử dụng để nghiên cứu về ĐTM Ví dụ: mưa rào, dòng chảy, lũ quét… xói lở cục bộ
- Mô hình toán:
Phương pháp dùng mô hình toán học để ĐTM đã được sử dụng nhiều trong thời gian gần đây Theo phương pháp này, trước hết phải có mô tả thích hợp hoạt động, trình tự diễn biến các hoạt động đó Tiếp đó là thành lập các quan hệ định lượng giữa các hành động đó đối với các nhân tố môi trường cũng như giữa các nhân tố môi trường với nhau Trên cơ sở những sự chuẩn bị đó,
Trang 25xây dựng mô hình toán học chung cho toàn bộ hoạt động, phản ánh cấu trúc và các mối quan hệ trong mô hình Mô hình cho phép ta dự báo các diễn biến có thể xảy ra của môi trường, lựa chọn được các chiến thuật và các phương án khác nhau để đưa môi trường về trạng thái tối ưu và dự báo tình trạng của môi trường tại những thời điểm và trong điều kiện khác nhau của hoạt động
Phương pháp này cần thực hiện bởi những nhóm chuyên gia liên ngành Những chuyên gia này cùng nhau xây dựng mô hình, xác định mối quan hệ trong mô hình, giả định các chiến lược, chiến thuật khác nhau để điều khiển hành động Cho mô hình vận hành để nhận các kết quả và tiếp tục điều chỉnh, thử nghiệm cho đến khi đạt kết quả mong muốn Phương pháp này không những chỉ dùng để ĐTM, mà còn được sử dụng rộng rãi để qui hoạch và quản lý môi trường
Phương pháp này thường đòi hỏi kinh phí lớn, nhiều tài liệu đo đạc về môi trường, nhiều chuyên gia tham gia, các tập thể khoa học liên ngành, v.v… Trong đánh giá tác động môi trường các dự án phát triển tài nguyên nước tùy theo những nhân tố tác động đến môi trường mà sử dụng các loại mô hình toán khác nhau Ví dụ như:
- Mô hình TANK, MIKE 11… dùng nghiên cứu sự biến đổi dòng chảy
- Mô hình MIKE 21 nghiên cứu dự báo diễn biến dòng sông, dự báo ngập lụt…
- Mô hình MIKE BASIN nghiên cứu ảnh hưởng các công trình thủy lợi đến dòng chảy… trên lưu vực sông Đồng Nai
Thực tế hiện nay có nhiều người vẫn chưa tin kết quả từ mô hình toán nhưng cũng có người lại lý tưởng hóa kết quả đem lại từ mô hình Nhưng dù sao nếu như điều kiện biên, tài liệu đầu vào tốt… thì sẽ cho ta những kết quả đáng tin cậy Hiện nay nhiều phần mềm đã được xây dựng hoặc mua từ nước ngoài đã giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong công tác ĐTM như mô hình lan truyền chất ô nhiễm trong không khí và nước… mô hình tính toán chi phí lợi ích mở rộng của những dự án kinh tế…
Ví dụ gần đây các cơ quan nghiên cứu thủy lợi nước ta sử dụng nhiều mô hình toán để:
-“Nghiên cứu giải pháp khai thác sử dụng hợp lý nguồn nước tương thích các kịch bản phát triển công trình thượng lưu để phòng chống hạn và xâm nhập mặn ở ĐBSCL”
-“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học công nghệ xây dựng hệ thống đê bao, bờ bao nhằm phát triển bền vững vùng ngập lũ ĐBSCL”
-“…Đánh giá tác động dòng chảy dưới tác động các công trình thượng nguồn và khai thác hạ du…”
Những vấn đề cần hết sức chú ý khi sử dụng mô hình toán khi tính lũ ở ĐBSCL là khi lũ tràn đồng thì dòng chảy không còn là dòng chảy một chiều nữa… Hoặc hệ thống cao độ các nơi ở ĐBSCL đã ổn định chưa? Sự kết nối cao
Trang 26độ giữa VN và nước bạn Campuchia đã thống nhất chưa? Điều này ảnh hưởng rất lớn đến đường cong mặt nước giữa 2 quốc gia!
VI Những chỉ tiêu kinh tế - tài chính thường sử dụng trong đánh giá tác động môi trường
Khái niệm chung: Phân tích kinh tế – Tài chính thực chất là hai phương án phân tích chi phí và hiệu quả của dự án
- Phân tích tài chính: Chủ yếu tập trung vào thị trường giá cả dòng lưu thông tiền tệ và khoản huy động vốn, đảm bảo vốn cho dự án
- Phân tích kinh tế: Là phân tích tài chính khi kể đến toàn bộ các chi phí và lợi ích của dự án mang lại có thể kể đến về mặt xã hội và môi trường cho dù ảnh hưởng của dự án đến môi trường và xã hội không được phản ánh cụ thể trên thị trường Do đó phân tích kinh tế còn được gọi là phân tích chi phí lợi ích mở rộng Phân tích kinh tế là phương pháp đang được sử dụng rộng rãi ở nước ta khi đang tiến hành ĐTM… Việc phân tích chi phí lợi ích phải được tính toán trước khi thực hiện dự án, nó giúp cho những nhà quyết định có thêm cơ sở để tính toán xem có nên thực hiện dự án hay không…
1 Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích mở rộng
A Khái niệm chung
Phương pháp này sử dụng các kết quả phân tích tác động môi trường của dự án, từ đó đi sâu vào mặt kinh tế môi trường Khi ứng dụng phương pháp, ngoài phân tích các chi phí và lợi ích mang tính kỹ thuật mà dự án mang lại, phương pháp còn phân tích các chi phí và lợi ích và mà những biến đổi về tài nguyên và môi trường do dự án tạo nên
Lợi ích và chi phí ở đây hiểu theo nghĩa rộng hơn các lợi ích chi phí trong tính toán kinh tế của dự án đơn thuần Nó không chỉ bao gồm các lợi ích và chi phí về mặt kinh tế mà còn bao gồm cả các chi phí và lợi ích về xã hội, tài nguyên môi trường nên gọi là phương pháp phân tích lợi ích – chi phí mở rộng
Phương pháp phân tích lợi ích – chi phí mở rộng thường dùng trong giai đoạn đánh giá tác động môi trường đầy đủ
B Nội dung phương pháp
Nội dung của phương pháp bao gồm các bước sau:
ª Liệt kê các tài nguyên được sử dụng của dự án (kể cả nhân lực) Liệt kê các sản phẩm thu được (kể cả các phế thải có tái sử dụng)
ª Xác định tất cả các hành động tiêu thụ hoặc làm suy giảm tài nguyên kể cả hoạt động sản xuất, gây ô nhiễm Liệt kê tất cả những khía cạnh có lợi cho tài nguyên chưa được xem xét trong dự án, các khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên…
Trang 27ª Liệt kê những việc cần bổ sung vào dự án để sử dụng hợp lý và phát huy tối
đa khả năng của tài nguyên và bảo vệ môi trường
ª Từ các kết quả phân tích nêu trên, tính toán chi phí và lợi ích của dự án (trong đó chi phí và lợi ích đều xét cả khía cạnh môi trường) và đánh giá hiệu quả kinh tế của các phương án qua đó nêu lên ý kiến về phương án tốt nhất
Các bước cụ thể của mục này như sau:
a – Tính toán các chi phí của dự án bao gồm:
- Chi phí đầu tư ban đầu của dự án (khảo sát, thiết kế, xây dựng các hạng
mục…)
- Các chi phí cơ hội và chi phí thay thế (gồm các chi phí do tổn hại tài
nguyên môi trường…)
- Các chi phí ngoại lai (gồm các chi phí chi xử lý, giảm thiểu, bù đắp
thiệt hại về môi trường của dự án…)
b – Tính toán các lợi ích của dự án bao gồm:
- Lợi ích trực tiếp từ sử dụng tài nguyên (cung cấp nước, thủy điện,
chống lũ cho vùng hạ lưu…)
- Lợi ích do sự phát triển các ngành công nghiệp, nông nghiệp nhờ có dự
án, từ các ngành khác như thủy sản, giao thông hạ lưu, du lịch và các dịch vụ khác
- Lợi ích từ ổn định xã hội như tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống,
sức khoẻ cộng đồng…
Tất cả các chi phí và lợi ích cần được cố gắng quy đổi về một mặt bằng giá của thời điểm hiện tại
c – Tính toán và phân tích hiệu quả kinh tế của dự án:
Sau khi xác định được các giá trị lợi ích, chi phí của dự án, bước cuối cùng là đánh giá hiệu quả kinh tế của phương án trên cơ sở quy đổi các giá trị chi phí và lợi ích trên cùng mặt bằng giá cả tại thời điểm hiện tại và tính toán các chỉ tiêu kinh tế của dự án như giá trị lợi nhuận ròng (NPV), thời gian hoàn vốn của dự án
+ Chi phí của dự án Cr (bằng tiền) (Cost : C)
+ Lợi ích của dự án Br (bằng tiền) (Benefit : B)
+ Lợi nhuận tuyệt đối:
BT – giá trị lợi ích được tính ra tiền ở năm T;
C0 – giá trị chi phí ban đầu được tính ra tiền;
Trang 28CT – giá trị chi phí được tính ra tiền ở năm T;
T – thời gian (năm), với dự án Phát triển tài nguyên nước có thể lên tới
50 năm và hơn;
R – hệ số chiết khấu được tính theo % năm…
+ Tính toán hiệu quả dự án: (Net Present Value – Giá trị hiện tại ròng) Khi xây dựng dự án có nhiều phương án khác nhau, lựa chọn phương án nào cho là lợi nhuận ròng mà dự án thu được đạt giá trị tối đa, biểu thị qua chỉ số lợi nhuận ròng NPV của phương án lựa chọn phải cực đại NPV tính theo công thức sau:
1
max(1 )
n
T T T T
+ Xác định thời gian hoàn vốn của dự án:
Đó là thời điểm mà tổng giá trị hiện tại thực của lợi ích bằng tổng giá trị hiện tại thực của chi phí cho dự án, tức là:
1
0(1 )
n
T T T T
Hình 3: Quan hệ giữa chi phí, thu nhập và thời gian xây dựng công trình
Giá trị T thỏa mãn tổng trên bằng 0 là thời gian hoàn vốn Điểm hoàn vốn thường không trùng với điểm kết thúc dự án
Nhận xét:
• Thời gian hoàn vốn càng dài, nguy cơ mất an toàn của công trình càng lớn bởi lẽ quan hệ giữa tần suất phá hoại (A) và tần suất thiết kế (P) cùng số năm khai thác công trình (n) có thể biểu diễn bằng công thức:
Trang 29• Phương án phân tích lợi ích – chi phí mở rộng dựa trên so sánh kinh tế môi trường để đánh giá là một nguyên tắc hết sức đúng đắn
• Hạn chế của phương pháp là có những tác động môi trường mà chi phí và lợi ích của nó không thể tính toán hoặc ước tính ra tiền được
• Không thể xét tất cả các TĐMT, nhất là những tác động mang tính lâu dài hoặc gián tiếp, việc sử dụng phương án này cho các dự án có nhiều hạng mục mà việc xác định tác động của chúng tới môi trường là khó khăn
• Trong tính toán chi phí – lợi ích, người ta tính tới chiết khấu đồng tiền nghĩa là đồng tiền thu được trong tương lai sẽ chịu mức chiết khấu so với thời điểm hiện tại Thời điểm hiện tại ở đây càng mang tính tương đối, thường được chọn là thời gian dự án bắt đầu thi công hoặc bắt đầu hoạt động Trong những năm cuối thế kỷ 20 ở Việt Nam sơ bộ chọn r = 10%
• Phân tích chi phí – lợi ích cần phải được tính toán trước khi thực hiện dự án, điều này sẽ giúp cho các nhà ra quyết định có thêm cơ sở để tính toán xem có nên thực hiện dự án hay không
• Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích cần phải tính toán toàn bộ thời gian hoạt động của dự án Bởi vì trên thực tế có rất nhiều dự án chỉ có thể mang lại lãi suất cao trong thời gian ngắn còn sau đó lại thua lỗ triền miên Vì vậy cần tính toán cho đến hết tuổi thọ công trình thì ý nghĩa của nó mới to lớn
Mặt khác chính sự thiếu hiểu biết sâu sắc về giá trị cấp nước cho Bình Thuận mà có người trong khi đánh giá kinh tế của dự án Đại Ninh với B/C = 0.99 nghĩa là dự án không kinh tế
Trong khi đó các nghiên cứu về quy hoạch bậc thang thủy điện Đồng Nai đều xếp Đại Ninh vào loại dự án có hiệu quả kinh tế cao B/C = 2.97
Khoảng cách đánh giá một dự án từ hiệu quả kinh tế B/C = 2.97 đến hiệu quả thấp B/C = 0.99 là một việc làm cần phải thận trọng trong khi tiến hành ĐTM… Hoặc khi dùng phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng để đánh giá các bậc thang trên sông Bé, nếu chỉ xét lợi ích về điện thì thì lợi ích do các công trình Thác Mơ, Cần Đơn, Srok Phumieng… đem lại không lớn Nhưng thêm công trình Phước Hòa tiếp nước cho Dầu Tiếng thì lợi ích lại rất lớn Vì ngoài lợi ích về điện nói trên, Phước Hòa khi tiếp nước cho Dầu Tiếng sẽ tăng thêm diện tích tưới, tham gia đẩy mặn, góp phần cấp nước sinh hoạt cho TP HCM Vì vậy B/C sẽ rất lớn… Sau đây chúng ta có thể xem ví dụ về việc dùng phương pháp phân tích chi phí lợi ích để tính toán cho công trình tưới đập dâng Thạch Nham Quảng Ngãi
Trang 302 Ví dụ: Phương pháp phân tích chi phí – lợi ích mở rộng ứng dụng cho đánh giá tác động môi trường hệ thống Thủy lợi Thạch Nham – Quảng Ngãi
A Tóm tắt về hệ thống
Hệ thống thủy lợi Thạch Nham là một hệ thống thủy lợi tương đối lớn ở tỉnh Quảng Ngãi phục vụ tưới cho 50.000 ha đất canh tác, chủ yếu là lúa và hoa màu
Công trình đầu mối của hệ thống là một đập dâng lớn chắn ngang sông Trà Khúc dẫn nước vào hai kênh chính (Bắc và Nam) rồi đến các khu tưới
Hệ thống thủy lợi Thạch Nham xây dựng từ những năm 80 trước khi nước ta có Luật Bảo vệ môi trường nên chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường Nội dung sau đây là kết quả ứng dụng phương pháp phân tích chi phí – lợi ích mở rộng để đánh giá hiệu quả kinh tế của hệ thống để tham khảo
B Ước tính chi phí của dự án
1 Vốn đầu tư ban đầu
Vốn đầu tư ban đầu là chi phí lớn nhất của dự án Quá trình sử dụng vốn đầu tư từ năm 1985 đến 1997 trong số này gồm vốn cố định và vốn lưu động a) Vốn cố định: Bao gồm vốn xây lắp các công trình như đập dâng, hệ thống kênh tưới, xi phông, cầu… và vốn mua sắm thiết bị, dự phòng, các chi phí khác Giá trị tổng dự toán được ấn định là:1.090 tỷ VNĐ, trong đó bao gồm:
- Vốn đầu tư thực hiện từ ngày khởi công đến hết năm 1990 (Cộng dồn từng năm theo giá thời điểm nghiệm thu thanh toán) là 527 tỷ VNĐ Với tỷ giá thời điểm đó: 1USD 993 – 1996 là 250 tỷ VNĐ Với tỷ giá lúc đó là: 1USD = 11.000 VNĐ số vốn giai đoạn này là = 22.727.270 USD
Vậy tổng số vốn đầu tư là:171.138.370 USD
b) Vốn lưu động: Bao gồm tiền lương công nhân, kỹ thuật khai thác và quản lý công trình, tiền sửa chữa thường xuyên cho công trình… Theo định mức với các công trình đập dâng tương tự chảy vốn lưu động chiếm khoảng 1,5% tổng số vốn đầu tư
Vậy vốn lưu động dự tính là: 2.567.075 USD
2 Chi phí do mất diện tích đất đai
Hệ thống thủy lợi Thạch Nham có hai kênh chính có tổng chiếu dài 66
km, hệ thống kênh cấp I với chiều dài 175,7 km và hàng trăm km kênh cấp II và kênh nội đồng Theo tính toán thống kê diện tích đất đai bị mất đi do làm kênh vào khoảng 557 ha Vùng thượng lưu ngập mất 16,4 ha đất trồng lúa
Với năng suất lúa trung bình 3 tấn /ha năm (3 vụ) thì số thóc thu được hàng năm sẽ là: 576,4 × 3 = 1720,2 (tấn/ năm) Với giá thóc 150 USD/ tấn thì số
Trang 31tiền sẽ là:1720,2 × 150 = 258.030 (USD/ năm) Vì không phải tất cả đất đã bị mất đều là đất trồng lúa nên chỉ tính thiệt hại bằng 60% giá trị đã có Vậy chi phí hành năm sẽ là: 258.030 × 60 = 154.818 (USD/ năm) Chí phí này tính đều cho các năm của dự án
3 Chi phí cho di dân
Khi xây dựng công trình, hàng chục ha ruộng lúa, hàng trăm ha đất trồng hoa màu, đất thổ cư, vườn tược, nương rẫy, trường học, công trình công cộng khác bị ảnh hưởng hoặc phải di chuyển để lấy đất làm kênh Tổng số tiền đền bù tính toán là 884.000.000 VNĐ Với giá quy đổi năm 1989 là 1USD = 4000 VNĐ thì số tiền đền bù là:22.100USD Số tiền này được tính vào chi phí đầu tư cho công trình năm 1989
4 Chi phí do công nhân thay đổi phương thức sản xuất
Theo định mức lao động, hệ thống thủy lợi Thạch Nham cần 200 cán bộ kỹ sư, công nhân quản lý… Định mức này tính theo cơ sở số người / số ha diện tích canh tác Nếu một lao động nông nghiệp làm việc với năng suất cao thì mỗi năm có thể sản xuất được một tấn thóc Vậy 200 người hàng năm sẽ làm ra 200 tấn thóc và số tiền này sẽ là: 200 × 150 = 30.000 (USD/ năm) Chi phí này tính đều cho các năm của dự án
5 Chi phí do thiệt hại thủy sản vùng hạ lưu
Đập Thạch Nham làm giảm lượng nước chảy xuống hạ lưu vào mùa kiệt (lưu lượng nước vào mùa kiệt vào khoảng 25,9 m3/ s) Như vậy với diện tích mặt nước khoảng 500 ha (kể từ đập ra biển) sẽ không có khả năng nuôi trồng và khai thác thủy sản Nếu năng suất quảng canh 0,1 tấn tôm/ ha năm thì thiệt hại hàng năm sẽ là: 0,1 × 500 = 50 tấn/ năm với giá tôm trung bình 600USD/ tấn, thì thiệt hại thành tiền sẽ là: 50 × 600 = 30.000 (USD/ năm) Thiệt hại này được tính đều cho các năm của dự án
6 Chi phí do nhiễm mặn và do biến đổi hệ sinh thái vùng của sông
Vào mùa kiệt nước mặn từ biển xâm nhập và đất liền Theo điều tra có
khoảng 500 ha đất nông nghiệp bị nhiễm mặn Nếu năng suất lúa trung bình của vùng là: 1,5 tấn/ ha vụ thì thiệt hại sẽ là: 500 × 1,5 × 150 = 112.500 (USD/ năm) Thiệt hại này tính đều cho các năm của dự án
7 Chi phí ô nhiễm nước sông mùa kiệt
Vào các tháng mùa kiệt, có thể có thời gian không có nước chảy xuống hạ lưu, bên cạnh đó lượng nước thải đổ vào sông Trà Khúc rất lớn (ước tính khoảng 10.500 m3/ ngày đêm) nguồn nước thải này đã làm ô nhiễm sông Trà Khúc Để khắc phục sự ô nhiễm, tất cả các nguồn nước thải (nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp) trước khi đổ ra sông Trà Khúc đều phải được qua xử lý Để xử lý 1 m3 nước thải, chí phí sẽ là 1.000 đồng (0,091 USD) Chí phí cho việc sử lý nước thải tính cho 4 tháng mùa kiệt trong một năm sẽ là: 10.500 ×
Trang 320,091 × 4 × 30 = 114.660 (USD/ năm) Tuy nhiên việc xử lý nước thải là bắt buộc nên chi phí chỉ tính 50% Vậy số tiền xử lý nước thải là: 114.660 × 50% = 57.330 (USD/ năm) Chi phí này tính đều cho các năm của dự án
8 Chi phí làm tổn hại đến môi trường
Do điều kiện giao thông thủy bộ giữa vùng thượng lưu và hạ lưu được thuận lợi nên hàng ngày ước tính có khoảng 20 m3 gỗ bị khai thác làm suy giảm tài nguyên rừng Với giá 300 USD/ m3 và tính chi phí bằng 10% giá trị thì thành tiền là: 20 × 365 × 300 × 10% = 219.000 (USD/ năm) Chi phí này tính đều cho các năm của dự án
C Ước tính các lợi ích của dự án
Theo phương án tưới độc lập, diện tíc đất canh tác bao gồm mía 10.000
ha, lúa xuân 14.344 ha, lúa vụ hè thu 11.492 ha, lúa vụ mùa 13.576 ha, màu các loại 12.181 ha Trong 12.181 ha trồng màu có lạc 5.019 ha, đậu các loại 1.885
ha, ngô 4.500 ha, sắn 777 ha
1 Lợi ích khai thác sử dụng nguồn nước cho nông nghiệp
Đây là lợi ích to lớn nhất mà dự án đem lại và cũng là mục tiêu hàng đầu của dự án Hai nguồn lợi chính làm dự án đem lại bao gồm: Cấp nước cho nông nghiệp và cấp nước cho sinh hoạt
+ Lợi ích do tưới lúa
Diện tích trồng lúa được tưới nước là 39.412 ha Nếu tăng năng suất do thâm canh là 1 tấn/ ha.năm thì hàng năm thu được 39.412 tấn lúa Thành tiền sẽ là 39.412 tấn × 150 USD/ tấn = 5.911.000 USD/ năm Với tỷ trọng thủy lợi chiếm 50% sẽ có chi phí hàng năm là 5.911.000 × 50% = 2.955.000 USD/ năm Chi phí này được tính đều cho các năm của dự án từ 1995 Còn năm 1993, 1994 tính như năm 1995 Năm 1991, 1992 tính bằng ½ năm 1994
+ Lợi ích do tưới ngô
Diện tích trồng ngô được tưới là 4.500 ha, mỗi năm năng suất ngô tăng lên 0,86 tấn/ ha năm Vậy sản lượng ngô hàng năm tăng thêm là: 4.500 × 0,86 = 3.870 (tấn/năm) Giá ngô khoảng 182 USD/ tấn, lợi ích thu được do trồng ngô là: 3.870 × 182 = 704.340 (USD/ năm) Với tỷ trọng thủy lợi chiếm 25% ta có số tiền là: 704.340 × 25% = 176.085 (USD/năm) Chi phí này tính đều cho các năm của dự án từ năm 1995 Năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm 1995 và các năm 1991, 1992 tính bằng ½ năm 1994
+ Lợi ích do tưới sắn
Nếu đầu tư thâm canh tăng năng suất, đảm bảo nước tưới đấy đủ thì năng suất sẽ tăng lên 1,13 tấn/ ha năm Với diện tích trồng sắn là 777 ha và giá sắn là 55 USD/ tấn thì số tiền thu được hàng năm sẽ là: 777 × 1,13 × 55 = 48.290,55 (USD/ năm) Với tỷ trọng thủy lợi chiếm 25% thì lợi ích này sẽ là: 48.290 ×
Trang 3325% = 12.073 (USD/ năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ năm
1995, các năm 1992, 1994 tính bằng ½ năm 1995, và các năm 1991, 1992 tính bằng ½ năm 1994
+ Lợi ích do tưới đậu các loại
Diện tích trồng đậu các loại vào khoảng 1.885 ha, nếu cung cấp đầy đủ nước tưới, năng suất đậu sẽ tăng lên khảng 0,17 tấn/ ha.năm Với giá đậu 574 USD/tấn thì số tiền do trồng đậu đem lại hàng năm là: 1.885 × 0,17 × 574 = 183.938 (USD/năm) Với tỷ trọng thủy lợi chiếm khoảng 25%, thành tiền sẽ là: 183.938 × 25% = 45.985 (USD/ năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ năm 1995, các năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm 1995, và các năm 1991,1992 tính bằng ½ năm 1994
+ Lợi ích do tưới lạc
Diện tích trồng mía thâm canh là 10.000 ha, nếu cung cấp đầy đủ nước tưới, và đầu tư thâm canh tăng năng suất, thì năng suất đậu sẽ tăng lên khoảng
10 tấn/ ha.năm Vậy sản lượng mía thu được hàng năm sẽ là :100.000 tấn/ năm Với giá mía 20 USD/tấn thì số tiền do trồng mía đem lại hàng năm là: 100.000 × 20 = 2.000.000 (USD/năm) Do tỷ trọng thủy lợi chiếm khoảng 25%, thành tiền thu được hàng năm sẽ là: 2.000.000 × 25% = 500.000 (USD/ năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ năm 1995, các năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm 1995, và các năm 1991,1992 tính bằng ½ năm 1994
+ Lợi ích do trồng lạc
Diện tích trồng lạc được tưới là 5.019 ha Năng suất trồng lạc sẽ tăng lên thêm 0,19 tấn/ ha.năm Với giá lạc 611 USD/tấn thì số tiền sẽ là: 5.019 × 0,19 ×
611 = 582.656 (USD/năm) Với tỷ trọng thủy lợi chiếm khoảng 25%, số tiền thu được hnàh năm do trồng sẽ là: 582.656 × 25% = 145.664 (USD/ năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ năm 1995, các năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm 1995, và các năm 1991,1992 tính bằng ½ năm 1994
+ Lợi ích do phát triển chăn nuôi
Do sản lượng nông nghiệp tăng lên nên chăn nuôi vì thế cũng phát triển theo Khi sản xuất ra 1 tấn thóc thì nuôi được 1 con lợn khoảng 50 kg vậy sản lượng thóc 38.644 tấn thì lượng thịt lợn sẽ là: 39.412 × 0.05 = 1.970,6 (tấn) Với giá thịt lợn hơi 1.091 USD/tấn thì số tiền sẽ là: 1.970,6 × 1.091 = 2.147.954 (USD/năm) Với tỷ trọng thủy lợi chiếm khoảng 50% thì lợi ích hàng năm thu được do chăn nuôi là 2.147.954 × 0,5 = 1.073.977 (USD/ năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ năm 1995, các năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm
1995, và các năm 1991,1992 tính bằng ½ năm 1994
2 Lợi ích do cấp nước cho sinh hoạt
Hàng năm hệ thống thủy lợi Thạch Nham cung cấp 43.106 m3 nước sinh hoạt Theo thời giá tại Quảng Ngãi, 1m3 nước sinh hoạt sẽ là: 0,091 USD Vậy
Trang 34lợi ích cung cấp nước cho sinh hoạt là: 43.106 × 0,091 = 3.913.000 (USD/năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ 1995, các năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm 1995, và các năm 1991, 1992 tính bằng ½ năm 1994
3 Lợi ích do phát triển giao thông
Hệ thống công trình thủy lợi Thạch Nham đã góp phần phát triển giao thông khu vực Hệ thống kênh tưới nước phân bố khắp vùng hạ lưu tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho người dân Hệ thống kênh chính có chiều dài gần 100km với giá thành 7.500 USD/ km đường cấp phối thì giá trị của 100km kênh là: 100 × 7.500 = 750.000 USD Lợi ích mà hệ thống kênh đem lại tính bằng 10% giá trị tính toán Vậy thành tiền sẽ là 750.000 × 0,1 = 75.000 USD Lợi ích này tính đều cho các năm dự án từ 1995, các năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm
1995, và các năm 1991, 1992 tính bằng ½ năm 1994
4 Lợi ích nuôi trồng thủy sản
+ Nuôi trồng thủy sản ở vùng cửa sông, ven biển
Khi công trình thủy lợi Thạch Nham hoàn thành, đưa nước tưới tới vùng ven biển tạo điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản Với diện tích nuôi tôm là
395 ha và năng suất thu hoạch tôm tăng lên 0,45 tấn/ ha.năm Giá thành 1 tấn tôm là 600 USD thì số tiền thu được sẽ là: 395 × 0,45 × 600 = 106.650 (USD/ năm) Do tỷ trọng thủy lợi chiếm 50% nên thành tiền sẽ là: 106.650 × 50% = 53.325 (USD/ năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ năm 1995, các năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm 1995, và các năm 1991, 1992 tính bằng ½ năm 1994
+ Nuôi trồng thủy sản vùng hồ
Khi ngăn đập tạo thành hồ Thạch Nham với diện tích mặt nước khoảng 1.000 ha, chất lượng nước hồ khá tốt là điều kiện thuận lợi để nuôi cá, tôm… Nếu năng suất quảng canh tăng lên 0,1 tấn/ ha.năm và giá thành 600 USD/ tấn thì số tiền hàng năm thu được là: 1.000 × 0,1 × 600 = 60.00 (USD/ năm) Với tỷ trọng thủy lợi chiếm 50% thì lợi ích sẽ là: 60.000 × 50% = 30.000 (USD/ năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ năm 1995, các năm 1993, 1994 tính bằng ½ năm 1995, và các năm 1991, 1992 tính bằng ½ năm 1994
5 Lợi ích do tạo việc làm cho người lao động
Với tỷ lệ tăng sân số hàng năm là 2,5%, thì dân số tỉnh tăng lên khoảng 30.000 người tức là số người cần việc làm cũng gia tăng Hệ thống thủy lợi Thạch Nham cung cấp nước tưới cho đồng ruộng, làm tăng diện tích gieo trồng lên hàng chục ngàn ha và hàng ngàn người lao động đã có công ăn việc làm, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động vùng đồng bằng Quảng Ngãi Theo dự tính, công trình thủy lợi Thạch Nham sẽ đem lại việc làm cho 21.000 người lao động Với năng suất lao động tối đa và điều kiện nông nghiệp được đảm bảo (nước, phân bón, giống, thuốc trừ sâu…) thì một lao động có thể làm ra
Trang 351 tấn thóc trong 1 năm Hàng năm 21.000 người sẽ làm ra 21.000 tấn thóc và thành tiền sẽ là: 21.000 × 150 = 3.150.000 (USD/ năm) Với tỷ trọng thủy lợi chiếm 50% thì số tiền thu được hàng năm là: 3.150.000 × 50% = 1.575.000 (USD/ năm) Lợi ích này tính đều cho các năm của dự án từ năm 1995, các năm
1993, 1994 tính bằng ½ năm 1995, và các năm 1991, 1992 tính bằng ½ năm
1994
D Tính toán các chỉ tiêu kinh tế của dự án
1) Phương pháp quy đổi
- Tất cả các lợi ích và chi phí đều đưa về thời giá tại thời điểm tính toán với tỷ giá sau:
Năm 1985 – 1990: 1 USD = 4.500 VNĐ
(với 1989: 1 USD = 4.000 VNĐ) Năm 1991 – 1992: 1 USD = 10.000 VNĐ Năm 1993 – 1994: 1 USD = 11.000 VNĐ
- Tính toán các chỉ tiêu kinh tế của dự án với các hệ số triết giảm khác nhau
r = 0,50%; r = 1,50%; r =1,00%; r = 2,00%
2) Kết quả tính toán và nhận xét
• Kết quả phân tích hiệu quả dự án với r = 0,50%
Tỷ lệ thu hồi vốn nội tại IRR = 3,709%
• Kết quả phân tích hiệu quả dự án với r = 1,00%
Tỷ lệ thu hồi vốn nội tại IRR = 3,709%
• Kết quả phân tích hiệu quả dự án với r = 1,50%
Trang 36Tỷ số lợi ích chi phí B/C = 1,563
Tỷ lệ thu hồi vốn nội tại IRR = 3,71%
• Kết quả phân tích hiệu quả dự án với r = 2,00%
Tỷ lệ thu hồi vốn nội tại IRR = 3,71%
Nhận xét:
Với các hệ số triết giảm (r) đã chọn, công trình đều đem lại hiệu quả kinh tế Tuy nhiên nếu hệ số (r) càng tăng thì thời gian thu hồi vốn càng lâu Do đó để công trình hoạt động có hiệu quả nhất, thì cần tập trung vốn đầu tư cho công trình, giảm lãi suất vay hàng năm cho công trình để công trình nhanh chóng hoàn thiện, đi vào phục vụ đời sống nhân dân trong vùng
VII Đánh giá tác động của di dân, đền bù và tái định cư trong dự án PTTNN
1 Các khái niệm
Trong đánh giá tác dộng môi trường các dự án phát triển tài nguyên nước, đặc biệt là các dự án hồ chứa, vấn đề đền bù, di dân và tái định cư là một trong những vấn đề phức tạp hay gây những rắc rối và có thể ảnh hưởng đến tâm lý dân cư và ổn định xã hội Giải quyết tốt vấn đề này sẽ hạn chế được các tác động xấu tới môi trường xã hội tại khu vực dự án
Ý nghĩa của đền bù, di dân và tái định cư
Giải quyết vấn đề đền bù, di dân và lập khu tái định cư cho những người
bị ảnh hưởng do việc thực hiện dự án là một vấn đề rất nhạy cảm về mặt xã hội của dự án Nó cần phải giải quyết một cách thoả đáng, hợp tình, hợp lý sao cho những người bị ảnh hưởng không bị thiệt hại quá mức để cho họ có thể chấp nhận được
Đền bù và tái định cư là một biện pháp nhằm giảm nhẹ tác động xấu tới môi trường xã hội rất quan trọng mà các dự án phát triển đều phải xem xét Nó cần tiến hành theo một trình tự các bước khác nhau trong suốt chu trình dự án, nhưng quan trọng nhất là lập kế hoạch tái định cư trong giai đoạn nghiên cứu khả thi và thiết kế
Khái niệm “người bị ảnh hưởng”;
Trang 37Trong đánh giá tác động môi trường chi tiết cần xem xét kỹ mức độ tác động của vấn đề mất đất, mất cơ sở hạ tầng, nhà cửa, việc làm… của cộng đồng
dân cư “những người bị ảnh hưởng” cũng như các phương án giải quyết đền bù,
tổ chức tái định cư trong kế hoạch tái định cư của dự án đã thực sự điều hòa và đảm bảo sự công bằng xã hội hay chưa
Đánh giá tác động môi trường của đền bù và tái định cư cần dựa trên cơ
sở hệ thống pháp luật và các chính sách về quản lý và sử dụng đất đai, về giải quyết đền bù thiệt hại đối với những người bị ảnh hưởng mất đất, mất tài sản do các dự án gây nên…
Trong đánh giá về tái định cư, khái niệm hay định nghĩa về “người bị ảnh hưởng” rất quan trọng và liên quan tới số lượng người mà dự án phải đền bù thiệt hại cũng như các chi phí cần cho đền bù và tái định cư của dự án
Theo khái niệm của Ngân hàng thế giới (WB) thì người ảnh hưởng bao gồm: (i) những người bị mất đất đai, nhà cửa, tài sản do bị chuyển nơi ở; (ii) những người bị ảnh hưởng bất lợi đến mức sống, việc làm, môi trường sống
Hiện nay, đa số các nước đang phát triển mới cố gắng đền bù cho những người bị ảnh hưởng trực tiếp do phải di chuyển khi thực hiện dự án mà chưa chú
ý đúng mức đúng mức đến những người do tác động của dự án mà ảnh hưởng tới nguồn thu nhập hay công ăn việc làm của họ
Giải quyết vấn đề di dân và tái định cư, cần phải thống kê tất cảcác thiệt hại đối với cộng đồng dân cư như trong bảng (9-3) bao gồm: ( i ) mất phương tiện sản xuất như đất đai; ( ii ) mất nhà cửa và cơ sở hạ tầng cuộc sống; ( iii ) mất các tài sản; ( iv ) mất các tài nguyên và giá trị sử dụng của con người, đồng thời đề xuất các biện pháp giảm thiểu để hạn chế các tác động xấu tới môi trường xã hội
Bảng 9-3 Những loại hình thiệt hại chính của tái định cư
và các biện pháp giảm thiểu các thiệt hại này
1 Mất phương tiện sản xuất, bao gồm
đất đai, thu nhập và nguồn thu nhập
Đền bù theo giá thay thế, hoặc thay thế những thu nhập và nguồn thu nhập
bị mất Thay thế thu nhập và những chi phí vận chuyển trong thời gian tái thiết, cộng với các biện pháp khôi phục mức sống
2 Mất nhà cửa, có thể làm mất toàn
bộ các công trình và các hệ thống
cộng đồng và các dịch vụ
Đền bù nhà cửa bị thiệt hại và những tài sản gắn liền với nó theo giá thay thế; các phương án di chuyển kể cả xây dựng khu tái định cư nếu cần cùng
Trang 38với các biện pháp khôi phục mức sống
3 Mất các tài sản khác Đền bù theo đơn giá thay thế hoặc
thay thế
4 Mất các tài nguyên, các giá trị sử
dụng hiện có của cộng đồng, mất nơi
cư ngụ, những giá trị văn hóa, giá trị
truyền thống của cộng đồng
Thay thế nếu có thể được, hoặc đền bù theo giá thay thế, thực hiện các biện pháp khôi phục thu nhập cho họ
Chính sách đền bù:
Đền bù thiệt hại dựa trên các văn bản pháp luật và chính sách của Nhà nước Ở nước ta, khuôn khổ pháp luật và chính sách về đền bù tái định cư biểu thị qua những điều khoản liên quan trong Hiến pháp Nhà nước năm 1992, Luật Đất đai (1993), các Nghị định 90/ CP (1994) và Nghị định 22/ CP (1998) hướng dẫn việc thực hiện đền bù, tái định cư…
• Hiến pháp năm 1992 đã dặt ra cơ sở pháp lý cho việc đền bù, trong đó
nêu rõ: “đất đai khi được trao cho một đối tượng sử dụng hợp pháp sẽ trở thành vật có thể chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp và góp vốn trong liên doanh sản xuất
• Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tài sản của cá nhân, tổ chức không bị
quốc hữu hóa Trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, Nhà nước có thể trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của các nhân hoặc của tổ chức theo thời giá thị trường”;
• Luật đất đai ban hành năm 1992 quy định Nhà nước sẽ xác định giá các
loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hay khi cho thuê đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá đối với từng vùng và theo từng thời gian
• Về dất được đền bù, Nhà nước ta chỉ có thể đất hợp pháp hoặc đất có
khả năng hợp pháp hóa và chỉ cấp lại đủ số đất được quy định cho mỗi hộ gia đình ở mỗi địa phương Người sử dụng đất bất hợp pháp khi bị Nhà nước thu hồi không được đền bù thiệt hại về đất và phải chịu mọi chi phí tháo dỡ, giải tỏa mặt bằng khi có yêu cầu của Nhà nước Người chiếm đất trái phép khi Nhà nước thu hồi không được đền bù thiệt hại về đất
• Về giá trị đền bù, trong thực tế đang dựa trên giá trị còn lại của các
công trình, tài sản bị ảnh hưởng Ví dụ, đối với thiệt hại về cây lâu năm, giá đền bù chỉ mới tính giá trị của vườn cây theo thời giá của địa phương mà chưa xét tới thiệt hại về mất thu nhập trong các năm tiếp theo sau khi vườn cây đã bị chặt đốn
Trang 392 Lập và đánh giá kế hoạch tái định cư
A Quá trình thực hiện di dân và tái định cư
Tái định cư cần tiến hành trong cả chu trình thực hiện dự án, bao gồm: (i) chuẩn bị và lập kế hoạch tái định cư; (ii) thẩm định; (iii) phê duyệt kế hoạch tài định cư; (iv) thực hiện tái định cư; (v) giám sát tái định cư; (vi) đánh giá tái định
cư
Trong đánh giá tác động môi trường chi tiết cần phải đánh giá kế hoạch tái định cư của cơ quan chủ trì dự án lập, nằm đánh giá xem sự phù hợp của kế hoạch này Muốn vậy, người làm ĐTM cũng cần nắm được các yêu cầu, nội dung cũng như trình tự của việc lập kế hoạch
Nói chung, việc chuẩn bị và lập kế hoạch tái định cư được thực hiện trong giai đoạn từ quy hoạch đến nghiên cứu tiền khả thi, nghiên cứu khả thi và thiết kế dự án
• Trong giai đoạn quy hoạch và nghiên cứu tiền khả thi, cần điều tra, khảo sát để có đánh giá ban đầu về tác động môi trường xã hội của tái định cư Qua đó xác định phạm vi, quy mô và những nguồn lực cần thiết cho việc lập kế hoạch tái định cư
• Trong giai đoạn nghiên cứu khả thi và thiết kế dự án cần phải chuẩn bị và lập được kế hoạch tái định cư để trình lên cơ quan thẩm định dự án xem xét Trong đó, bao gồm việc tư vấn cho người bị ảnh hưởng, xây dựng chính sách về quyền được đền bù nếu cầøn thiết, xây dựng tham số của kế hoạch tái định cư, đều chỉnh thiết kế dự án và công trình để giảm thiểu tái định cư dự án
Kế hoạch tái định cư có mục đích cải thiện (hoặc ích nhất cũng phục hồi được) cơ sở kinh tế cho những người bị ảnh hưởng phải di chuyển đến nơi ở mới với các yêu cầu cơ bản như:
• Về khuôn khổ chính sách: cần xem xét đã có chính sách tái định cư chưa và cần có bổ sung thêm chính sách nào mới hay không ?
• Xác định các quyền lợi đền bù và tính hợp thức đền bù: Ai sẽ là người nhận đền bù và phương án thực hiện ?
• Lập kế hoạch về giới
• Chuẩn bị xã hội cho việc thực hiện đền bù và tái định cư
• Ngân sách: Việc thu hồi đất và tái định cư sẽ được cung cấp như thế nào (nguồn, phân bố) ?
• Tiến độ thực hiện: Việc thu hồi đất và tái định cư sẽ như thế nào so với tiến độ thực hiện chung của dự án
Trang 40B Lập kế hoạch tái định cư
Có thể chia thành hai loại kế hoạch tái định cư là kế hoạch tái định cư ngắn gọn và kế hoạch tái định cư đầy đủ
Khi tái định cư ở mức không đáng kể thì chỉ cần lập “ kế hoạch tái định
cư ngắn gọn”
Khi tái định cư ở mức đáng kể thì lập: “kế hoạch tái định cư đầy đủ”
Kế hoạch tái định cư ngắn gọn
Kế hoạch tái định cư ngắn gọn bao gồm các hạng mục sau:
• Tóm tắt số lượng và mức độ những thiệt hại
• Các chính sách và khuôn khổ pháp lý tương ứng
• Tổ chức đánh gia 1 tài sản, đền bù, di chuyển, khôi phục đời sống và bảo
vệ môi trường
• Trách nhiệm về chi trả và giám sát đền bù
• Các chi phí
• Khung thời gian cho thu hồi đất và các biện pháp tái định cư
• Các cơ chế lấy ý kiến tư vấn của những người bị ảnh hưởng và cơ chế
khiếu nại
Đề cương lập kế hoạch tái định cư ngắn gọn như trong phụ lục 7
Kế hoạch tái định cư đầy đủ
Kế hoạch tái định cư đầy đủ cần chi tiết hơn kế hoạch trên và cấn phải giải quyết tất cả các vấn đề liên quan nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các mâu thuẫn có thể nảy sinh trong tái định cư Đề cương lập kế hoạch tái định cư đầy đủ tham khảo ở phụ lục 8
C Đánh giá tác động môi trường của vấn đề tái định cư
Đánh giá tác động môi trường của vấn đề tái định cư bao gồm các nội dung sau:
• Đánh giá tác động môi trường của việc di dân, tái định cư
• Đánh giá việc vận dụng các chính sách Nhà nước trong việc đền bù, lập kế hoạch tái định cư
• Đánh giá kế hoạch tái định cư đã lập theo mục tiêu, yêu cầu, nội dung… đã nêu