1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo Cáo Động Vật Vườn Bách Thú

33 531 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 732,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mẫu biểu quan sát các loài động vật tại Vườn thú Hà Nội TT Loài Đặc điểm nhận biết Đặc điểm sinh học đỏ hay hồng, chân màu xám.. 2 Gà so bamboo Bộ lông của chúng là một kết hợp của màu n

Trang 1

BÁO CÁO ĐỘNG VẬT

I Đặt vấn đề.

Động vật học là ngành khoa học nghiên cứu toàn diện thế giới động vật

Động vật học gắn liền với thực tiễn của con người nhằm bảo về và khôi phục vốn di truyền động vật ,sử dụng động vật có hại và hạn chế động vật gây hại Động vật học bao gồm các lĩnh vực:

• Hệ thống động vật học hay phân loại động vật học: Nghiên cứu sự

đa dạng của giới động vật

• Hình thái học động vật : nghiên cứu cấu tạo ngoài và đời sống của động vật

• Sinh lí học động vật : nghiên cứu cấu trúc và chức năng của nội quan cơ thể động vật

• Địa động vật học : nghiên cứu sự phân bố theo địa lí của động vật

• Sinh thái học động vật: nghiên cứu mối quan hệ động vật với môi trường

• Phôi sinh học động vật :nghiên cứu quy luật phát triển cá thể động vật

• Phát sinh chủng loài học động vật : Nghiên cứu sự tiến hóa và lịch

sử phát triển của thế giới động vật

Trong chuyến đi này chúng ta tìm hiểu rõ về hệ thống động vật học,địa động vật học ,sinh thái học động vật

II.Mục tiêu.

Mục tiêu của đợt kiến tập là củng cố những lí thuyết đã học về sinh học động vật, giúp sinh viên có khả năng nhận biết được một số loài động vật, sắp xếp chúng theo một hệ thống phân loài và hiểu được một số đặc điểm nhận biết, đặc điểm sinh học, sinh thái loài Thêm vào đó, sinh viên có thể biết thêm về tên gọi từng loài trong tiếng anh cũng như tên gọi khoa học của chúng

III.Phương pháp.

Trang 2

1.Công tác chuẩn bị:

• Sinh viên đọc kĩ trước phần lý thuyết của môn nguyên lý sinh học động vật

• Chuẩn bị sổ ghi chép ,bút chì, bút bi để vẽ mà mô tả các loài động vật

2.Quan sát tại vườn thú:

Tiến hành quan sát trực tiếp tất cả các loài động vật dược nuôi nhốt tại Vườn thú Hà Nội

3.Tổ chức thực hiện:

Sinh viên lớp được chia thành nhóm , mỗi nhóm gồm 5-6 sinh viên

Sau ghi quan sát và ghi chép lại tất cả các nội dung

Trang 3

Thú:

Trang 4

Mẫu biểu 01 Mẫu biểu quan sát các loài động vật tại Vườn thú Hà Nội

TT Loài Đặc điểm nhận biết Đặc điểm sinh học

đỏ hay hồng, chân màu xám Con trống và con mái khá giống nhau nhưng con mái nhỏ hơn, màu tối, ít sặc sỡ hơn con trống Con non có

bề ngoài giống con mái

Thức ăn bao gồm chủ yếu là các loài mối, trái cây và động vật không xương sống

Gà tiền mái thường

đẻ hai trứng

Được đánh giá

là một loài quan tâm nhất vào Danh sách

đỏ IUCN về các loài bị đe dọa Nó được liệt kê vào Công ước CITES Phụ lục II

2 Gà so

bamboo

Bộ lông của chúng là một kết hợp của màu nâu, kem và màu xám ,đặc biệt sọc mắt màu đen và trắng ,ngực và

Sống gần nước trong rừng tre, cây bụi , đồng cỏ cao và các khu rừng bị suy thoái với những rặng tre, di

Thức ăn chủ yếu bao gồm các loại hạt giống,quả,măn

g và động vật

Trang 5

bụng màu nhạt với đốm nâu

chuyển vào buổi sáng sớm và buổi tối muộn

để ăn Chỉ bay khi bị

đe dọa Con cái ấp trứng 18 đến 19 ngày

không xương sống

Lông ở lưng, cánh, bao cánh và đuôi đen với mép lông màu lam ánh kim Đôi lông đuôi ở giữa nhọn, ngắn dần ở các đôi tiếp theo Mào trên đỉnh đầu màu trắng

và ngắn hơn so với các loài gà lôi khác, mặt và tích đỏ tươi, chân đỏ, đuôi ngắn

Sống ở vùng sinh thái đất thấp Trong môi trường nuôi dưỡng,

gà sinh sản từ cuối tháng 3 đến tháng 6 hàng năm Chúng dường như rất thích mưa và có lẽ là loài trĩ duy nhất như vậy

Mỗi lứa có từ 4 – 7 trứng màu kem hồng thẫm với các chấm trắng nhỏ Thời gian

ấp 24-25 ngày Gà cha mẹ chăm sóc con rất tốt

Đây là loài được đưa vào Sách đỏ Việt Nam, là loài cực kì quý hiếm

4 Gà lôi

vằn

Mào dài, cằm, họng, toàn thể mặt bụng màu đen Một dải, rộng màu trắng chạy dọc theo 2 bên cổ Những lông dài

ở ngực và sườn trắng lẫn đen Mặt lưng có những vân đen mảnh xen kẽ với vân trắng

Cánh đuôi màu đen với nhiều vân trắng hẹp

Mắt màu nâu da cam hay vàng Mỏ đen hoặc màu xám sừng, da quanh mắt màu đỏ tươi,

Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa đẻ từ 5 đến

15 trứng Thức ăn chính của chúng là các loài hạt, quả, củ

và côn trùng trên mặt đất

Loài quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam (2013)

và trong danh mục IUCN và đặc hữu

Trang 6

và nhìn chung bộ lông

có màu hung nâu tối

Chân đỏ, da mặt đỏ, mỏ đen sừng

Ghép đôi bắt đầu từ tháng 10 Mỗi lứa đẻ

5 – 7 trứng và cách nhau 2 – 3 ngày Thời gian ấp 21 – 22 ngày

Vườn thú Hà Nội đã chăn nuôi thành công loài này Kết quả theo dõi cho thấy gà lôi lam đuôi trắng hoạt động kiếm ăn mạnh vào hai thời điểm sáng sớm và chiều tà, giảm dần vào lúc trưa Trưa nghỉ trong bụi râm mát Tối ngủ trên các cành cây cao

Ăn nhiều loại thức ăn như thóc, ngô, lạc, chuối tiêu, nho, rau

xà lách, giá đỗ, giun, châu chấu, ốc vặn…

Về mặt di truyền, gà lôi lam đuôi trắng rất gần với gà lôi lam mào trắng nên có ý kiến coi nó như một phân loài của loài trên

6 Gà lôi

trắng

Có chiều dài khoảng 125cm, lông mặt đỏ, chân đỏ, bộ lông trắng sọc xám, con trống có đuôi trắng, dài

Sống ở các khu vực miền núi có độ cao trên 500m Kiếm ăn trên mặt đất và ban đêm ngủ trên cây Gặp chim đực khoe

mẽ vào đầu tháng 2

Con trống cần

2 năm từ khi

nở mới trưởng thành

Gà rừng định cư và ở nhiều kiểu rừng Sinh cảnh thích hợp là rừng thứ sinh gần nương rẫy hay rừng

gỗ pha giang, nứa

Buổi tối gà tìm đến những cây cao dưới 5 m

có tán lớn để ngủ Gà thích ngủ trong các

Trang 7

xung quanh hậu môn có màu nâu nhạt Dầu nhỏ như đầu rắn Màu dái tai tương tự như gà trống

Sống đàn, hoạt động vào 2 thời điểm trong ngày: sáng sớm và xế chiều

bụi giang, nứa,

đỏ Đông Dương nhưng mào thịt trên đầu rất nhỏ, da trên tai nhỏ nâu

đỏ Lông cổ ngắn, màu

đỏ thẫm lẫn màu da cam Chim cái màu sắc rất giống với Gà rừng

đỏ Đông Dương nhưng màu sẫm tối hơn Lông

ở cổ có màu vàng thẫm hơn và nhiều hơn

Tương tự như gà rừng tai trắng Phân bố ở vùng Đông Bắc

9 Gà rừng

tai đỏ

Tây Bắc

Con đực trưởng thành gần giống với Gà rừng tai đỏ đông bắc, nhưng lông ở cổ thường dài hơn, màu đỏ tươi, mỗi lông có một vệt dọc màu nâu ở giữa lông, mút lông màu da cam

Tương tự như gà rừng tai trắng Phân bố ở vùng Tây Bắc

10 Công Chim trống: bộ lông có

màu lục óng ánh, đuôi rất dài, có màu lục ánh đồng, mỗi lông ở mút

có sao màu lục xanh, đỏ đồng, vàng, nâu Mào dài, hẹp thẳng đứng, phần mặt có màu vàng

và xanh Khi múa đuôi xòe hình nan quạt

Chim cái: không có

Chim công bắt đầu có hiện tượng rụng đuôi

và thay lớp lông mới thay cho mùa sinh sản tiếp theo Công thích sống ở rừng thưa, đặc biệt là rừng khộp, chỗ cây bụi và

cỏ rậm rạp rải rác có nhiều cây gỗ lớn, nơi

có dộ cao khoảng

Chim trống thường có biểu hiện xòe đuôi (múa) vào thời

kỳ đầu của chu

kỳ sinh sản kéo dài đến hết chu kỳ đẻ trứng của chim mái Có thể gặp công ở nơi

Trang 8

đuôi đẹp như chim trống Trọng lượng chiều dài cơ thể nhỏ hơn.

dưới 1000m Ngoài mùa sinh sản thường kiếm ăn theo đàn hoặc gia đình Mùa sinh sản từ tháng 4 đến tháng 7

cố định Thức

ăn chủ yếu : thóc, ngô, rau xanh

11 Công

trắng

Chiều dài 92-122 cm Trọng lượng 3-6 kgTuổi thọ 15 - 20 nămThành thục sinh dục 2 -

3 nămThời gian mang thai: 28

- 30 ngày

Số trứng mỗi lần : 4 quả trứng

Đặc điểm sinh học và sinh thái tương tự như công thường

Đây là loài khá hiếm gặp trong tự nhiên

công Ấn Độ là một trong những đại diện lớn nhất và nặng nhất của Phasianidae Con đực có màu xanh kim loại ở vương miện, lông

ở vương miện ngắn và cong

Công Ấn Độ được tìm thấy chủ yếu trên mặt đất trong rừng

mở hoặc trên đất trồng mà chúng tìm thức ăn như quả, ngũ cốc nhưng cũng sẽ săn mồi như những con rắn, thằn lằn và loài gặm nhấm nhỏ

Con chim được chúc tụng tại Ấn

Độ và thần

Lạp và là quốc điểu của Ấn Độ

Thường tập trung thành các đàn nhỏ trong các khu rừng cây lá rộng, đôi khi tập trung thành đàn lớn lên đến hàng trăm

Thức ăn là các loại hoa quả

có vỏ như quả

đa, quả si, các loại hạt cứng như thóc, ngô

Trang 9

rộng hơn từ gốc mỏ dưới kéo dài xuống hai bên cổ Con cái giống con đực chỉ khác lông xỉn hơn, mỏ đen, ngực hồng nhạt

con, kiếm ăn ở các cánh rừng xung quanh hoặc nương rẫy Mùa sinh sản từ tháng 4 đến tháng 7

3 lbs) Đôi cánh màu xanh và đuôi, cằm màu xanh đậm, các bộ phận dưới màu vàng và trán màu xanh lá cây Mỏ chim màu đen cứng để nghiền hạt

Thường có cuộc sống bầy đàn nói chung

Làm tổ trong một lỗ cây và chim mái đẻ hai, đến ba trứng Ấp trứng trong khoảng

28 ngày, và lông nó đầy đủ sau khoảnrg

90 ngày sau khi nở

Có khả năng nói, là loài thông minh và

có cuộc sống

xã hội Tích cực hơn trong mùa giao phối, thông thường

là 6-8tuần vào mùa xuân

15 Vẹt

Amazon

Là loài Vẹt lớn nhất thế giới, có bộ lông rực rỡ đầy đủ màu sắc Dài khoảng 81 cm, không tính chiếc đuôi dài Con vẹt trưởng thành nặng trung bình 1kg,màu lông chủ đạo là đỏ tươi, vàng, cam và xanh

Ăn các loại hạt, trái cây gồm cả loài trái cây lớn, cứng và những hạt giống to

Bởi cấu tạo chiếc mỏ đặc biệt và đôi bàn chân chúng có thể ngoặm mỏ được giữ bởi bàn chân để tách hạt ra

Ngày nay chúng được bảo tồn và gìn giữ ở các quốc gia Nam Mỹ

Amazon đi qua trước sự hủy hoại môi trường sống và nạn săn bắt

Sống ở rừng, nhất là rừng rậm nhiều cây lớn Gây ấn tượng đặc biệt với chiếc

“mũ” lớn màu vàng tươi trên đầu và mỏ.Có thể là công cụ

để hấp dẫn bạn tình

Làm tổ ở các hốc cây

Ở VN, chúng được phân bố rải rác khắp 3 miền,được đánh giá là nguồn gene quý, có giá trị khoa học và

Trang 10

màu vàng tươi và đen trên đỉnh chiếc mỏ lớn của nó Mũ mỏ rỗng

Hồng hoàng mái nhỏ hơn và có mắt màu xanh lam thay vì mắt đỏ

Hồng hoàng trống rỉa lông để bôi chất nhờn màu vàng vào lông cánh

sơ cấp cũng như mỏ để làm cho chúng có màu vàng tươi

Khi chim mái bắt đầu

ấp, chim trống dùng đất lấp kín tổ chỉ trừ

đủ lỗ đủ tiếp thức ăn cho đến khi chim non rời tổ Ăn quả cây rừng

Đáng tiếc là số lượng của chim hồng hoàng còn lại không nhiều

kỳ lạ,nó to và lớn và có thêm một miếng đắp thêm phía trên mỏ,gọi là

mỏ sừng , cặp mắt mầu đen và có viền trắng lớn chung quanh, trên lưng

và ngực có mầu xanh đen, phần dưới bụng và mặt dưới đuôi có mầu trắng Trọng lượng của chúng có thể từ 1,2 đến 1,5 kg

Cao cát làm tổ trong bọng cây, đẻ 2 – 3 trứng, con mái ấp, con trống mớm mồi cho con mái và chim con trong thời gian còn trong tổ, chim trống còn lấy bùn che bớt miệng hốc cây, chỉ chừa 1 lỗ đủ để mớm mồi Thức ăn là cám, chuối, các loại trái cây mềm, kể cả côn trùng và bò sát nhỏ

Cao cát bụng trắng phân bố

ở Myanma, Thái Lan, Đông Dương

và Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, Cao cát bụng trắng có

ở hầu khắp các rừng rậm rạp

từ Bắc chí Nam Đây là loài chim nằm trong Danh mục Sách Đỏ cần được bảo vệ

18 Le nâu Le nâu có mỏ dài màu

xám, đầu và chân cũng dài Lông trên đầu, cổ

và bụng màu vàng sẫm

da bò, chỏm lông trên đầu sẫm màu hơn Lưng

Là loài định cư, sống

ở vùng đồng cỏ, đầm lầy, ao hồ, kênh rạch, ven rừng và cánh đồng lúa Thức ăn chính là lúa, tép, cá,

Làm tổ ở Xâylan, Ấn

Độ, Thái Lan, Campuchia, Lào,… Ở Việt Nam chúng ở

Trang 11

và hai cánh màu xám sẫm, với các mảng màu nâu hạt dẻ trên cánh và đuôi.

ốc và các loài thủy sản khác Còn khá phổ biến trong tự nhiên

khắp các vùng đồng bằng và

ao hồ ở vùng trung du

đà điểu trống đã được ghi nhận là có thể nặng đến 155 kg (340 pao)

Đà điểu trống trưởng thành có lông chủ yếu là màu đen với một vài điểm trắng ở cánh và đuôi Đà điểu mái và con non có màu xám nâu nhạt với vài đốm trắng Bộ lông của chúng mềm và khác biệt

so với lông vũ của loài chim bay Vẫn còn những cái móng trên hai cánh của chúng Cặp chân khỏe của chúng không có lông Chân có hai ngón với một ngón lớn hơn trông giống như móng ngựa

Đà điểu châu Phi sống theo từng nhóm 5–50 con Chúng ăn chủ yếu là hạt, cây

cỏ, đôi khi ăn cả những động vật nhỏ như cào cào Không

có răng, chúng phải nuốt sỏi để giúp cho việc nghiền thức ăn trong mề Chúng có thể đi trong một thời gian dài không cần đến nước, mà chỉ dựa vào độ ẩm của những cây cỏ chúng nuốt vào Tuy nhiên chúng thích nước và thường hay tắm Đà điểu châu Phi trưởng thành hoàn toàn ở độ tuổi 2 - 4 năm, con trống chậm hơn con mái khoảng 6 tháng

Mùa sinh sản bắt đầu

từ tháng 3 hay 4 đến tháng tháng 8, tùy thuộc vào vùng địa

lý Đà điểu trống dùng tiếng rít và những âm thanh khác

để đánh nhau, quyến

rũ mái Hậu cung có

Đà điểu con mới nở đã mở mắt và trong vòng 1, 2 tiếng chúng đã có thể chạy nhảy

Đà điểu con

mở mắt lúc mới chào đời

và có lớp lông

tơ bảo vệ Chúng rất hiếu động, bố mẹ chúng phải tập hợp chúng lại như một nhà trẻ di động Chúng chạy lung tung và trong vòng nửa năm đầu

đà điểu con rất

dễ chết vì những lí do khác ngoài thiền nhiên, nhưng sau đó chúng lớn rất nhanh

Trang 12

từ 2 – 5 đà điểu mái

Kẻ chiến thắng sẽ giao phối với toàn hậu cung nhưng chỉ lập một "hậu" mà thôi

20 Cò

trắng

Chim trưởng thành:

Bộ lông mùa hè Bộ lông hoàn toàn trắng

Sau gáy có 2 lông dài, mảnh Ở cổ dưới và ngực có nhiều lông dài

và nhọn Các lông ở lưng có phiến thưa trùm

cả hông và đuôi

Bộ lông mùa đông

Không có các lông trang hoàng Mắt vàng Da quanh mắt vàng xanh lục nhạt Mỏ đen, mép

và gốc mỏ dưới vàng nhạt Chân đen trừ một điểm xanh lục ở sau khớp cổ bàn, ngón chân xanh lục

Thường ở các vùng ven biển, ruộng lúa

Là động vật sống bầy đàn, giao tiếp với nhau thông qua tiếng kêu và hót, tham gia vào những hoạt động bầy đàn như hợp tác trong việc sinh sản, săn mồi, di chuyển và tấn công chống kẻ thù Mùa giao phối trong thời gian nhất định Trứng được đẻ trong tổ, ấp bởi chim

bố mẹ Con non khi

nở có thêm một thời gian được bố mẹ chăm sóc

Cò trắng phân

bố khá rộng trên thế giới

Ở Việt Nam cò trắng có ở hầu khắp các tỉnh, nhiều nhất là các tỉnh thuộc vùng đồng bằng

Các lông ở vai và lưng trên thường dài: đầu mút các lông xám nhạt

Đuôi xám, các lông đuôi giữa đậm hơn và

Loài này có ở khắp các vùng đồng bằng, thỉnh thoảng gặp ở các ruộng lúa vùng trung du Là loài định

cư và di cư, sống ở đầm lầy, sông, hồ, rừng ngập mặn, rừng tràm, cánh đồng lúa

Sống và làm tổ nhiều

ở vùng rừng tràm U

Phân bố ở Ấn

Độ, Miến Điện, Trung Quốc (trừ

Bắc) Mùa đông gặp Loài này ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Mã

Trang 13

mút lông hơi đen Một dải dài trước cổ do những vệt đen và trắng xen kẽ tạo thành Phần

cổ còn lại trắng, lẫn với một vài lông nhọn hình

và hợp lại ở phía sau

Sườn và nách xám

Chim non có màu lông xỉn hơn, màu xám thẫm hơn và hơi nâu Cổ, trán

và giữa đỉnh đầu xám nâu tím Không có các lông dài ở ngực và vai

Các vạch đen trước cổ

rõ ràng hơn Mắt vàng thẫm

Minh Thượng (Kiên Giang) và rừng tràm Trà Sư (An Giang)

Chủ yếu ăn cá, tép và các loài thủy sản nhỏ

Vào mùa sinh sản mỏ

có màu vàng, có dải đen trên sống mỏ;

vào mùa đông mỏ gần như màu xám nâu Da trần trước mắt lục vàng nhạt

Chân nâu lục nhạt có điểm ít vệt vàng ở các khớp và trên ngón chân

Philipin

Việt Nam diệc xám có ở khắp các vùng đồng bằng và thỉnh thoảng gặp cả

ở các ruộng lúa thuộc vùng Trung du

Vào mùa thu và mùa đông, loài sếu này sinh sản tại Siberia và thường là tại phía bắc Mông Cổ Chúng thường đẻ 2 quả trứng nhưng chỉ có một quả là sống Sau

đó vào mùa thu, chúng tới di cư tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Đài Loan và các quốc quốc gia Đông Á

Hiện nay theo ước tính chỉ còn có khoảng

1500 con Sếu Nhật Bản cư trú trong thiên nhiên hoang

dã, với khoảng

1000 con sống tại Trung Quốc, đây là một trong những loài chim có nguy

Trang 14

đa của một con Sếu Nhật Bản đực từng được biết đến là 15 kg.

khác để cư trú vào mùa đông Tất cả Hạc Nhật Bản đều di cư, chỉ trừ một đàn sống tại Hokkaido

cơ tuyệt chủng nhất trên thế giới

23 Kền kền

Á Âu

Bộ lông của con trưởng thành có hai màu đen và trắng Lớp da ở vùng mặt có màu vàng (biến thành màu cam trong thời kỳ làm tổ) và không có lông Đuôi có hình dạng của viên kim cương nên rất dễ phân biệt khi đang bay Chim non có màu nâu đậm và

từ từ nhạt dần khi được

5 tuổi Kền kền trưởng thành thường có chiều dài 85 cm từ mỏ đến đuôi và 1.7m giữa đôi cánh Chúng cân nặng khoảng 2.1kgs

Kền kền đạt đến tuổi trưởng thành giới tính lúc 5 tuổi và sinh sản giống như đa số các loài chim săn mồi khác Tổ của chúng được xây ở vách đá, mỏm núi Cả hai loài trống và mái đều tham gia xây tổ

Chim mái đẻ hai trứng màu trắng với đốm màu nâu cách nhau vài ngày (trọng lượng 94 grams, dài 65mm và rộng 55mm) Thời kỳ sinh sản từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 4

Điểm đặc biệt

là đầu thường trọc, không có lông do tập quán ăn xác chết bằng cách thò cả đầu vào xác con vật để

ăn thịt nên đầu

bị dính máu và dịch xác con mồi nếu có lông thì sẽ bị dính và khó làm sạch Thỉnh thoảng chúng cũng bắt các loại thú nhỏ và các loại trứng

24 Cu sen Trán và bên đầu xám

nâu nhạt Đỉnh đầu xám tro Gáy, trên cổ, vai và phần trên lưng nâu, các lông ở trên lưng hơi phớt hung ở mép lông

Mỗi bên cổ có một vệt gồm các lông nhỏ đen

có viền xám xanh ở mút lông Lông bao cánh nhỏ nâu đen nhạt

Cu sen sống ở rừng thưa, rừng thứ sinh, vùng cây bụi và các khu đất trống trải

Cu sen phân bố ở

Cánh (đực):

175 - 190 (cái): 131 - 190; đuôi: 115

- 122, giò: 16 - 20; mỏ: 15 - 18mm

Trang 15

viền hung vàng cam;

lông bao cánh lớn xám

Lông cánh đen nhạt có viền hung nâu nhạt

Phần giữa và dưới lưng, hông và trên đuôi xám, hơi viền nâu Lông đuôi đen nhạt, phần cuối mỗi lông đuôi trắng nhạt Ngực hung hơi tím, phớt xám lục

ở phía trên Bụng trắng nhạt Sườn và dưới đuôi xám nhạt Dưới cánh xám Mắt nâu thẫm hay

đỏ Mi mắt hồng có viền

da trần xám nhạt Mỏ xám nâu, chuyển đen nhạt ở gốc mỏ Chân đỏ

phần đông châu Á từ vùng, Đông nam Xibêri, Đông Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản đến Bắc

Việt Nam có thể gặp loài này ở khắp các vùng nhưng vào mùa sinh sản chỉ gặp ở gần biên giới phía Bắc (Cao Bằng)

25 Cu gáy Chim trưởng thành:

Đầu, gáy và mặt bụng nâu nhạt hơi tím hồng, đỉnh và hai bên đầu phớt xám, cằm và họng

có khi trắng nhạt, đùi, bụng và dưới đuôi màu hơi nhạt hơn Lông hai bên phần dưới cổ và lưng trên đen có điểm tròn trắng ở mút tạo thành một nửa vòng hở

về phía trước cổ Mặt lưng nâu, các lông có viền hung nhạt rất hẹp

Lông bao cánh nhỏ và nhỡ phía trong nâu nhạt với thân lông đen nhạt,

Là chim định cư, đi thành đàn 5-15 con, quanh năm không đi

xa vùng làm tổ

Chúng thường ở các dải rừng cây bụi, rừng thứ sinh ven đồng ruộng, rừng nương rẫy và bụi cây, bụi tre Thức ăn là các loại hạt quả, quả cây, hạt cỏ và hạt các cây lương thực như lúa, ngô, đậu xanh,

Tới tháng 2 hàng năm, con đực tách khỏi đàn và cùng với con cái ghép thành

Cu gáy phân

bố ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào,

Campuchia, Thái Lan, Miến Điện,

Mã Lai và Xumatra

Việt Nam: loài này có ở khắp các vùng, không cách xa những chỗ có trồng trọt (Nguồn : Sinh vật rừng Việt

Trang 16

các lông phía ngoài xám tro Lông cánh nâu đen

có viền xám rất hẹp ở mút và mép ngoài Lông đuôi giữa nâu thẫm, các lông hai bên chuyển dần thành đen với phần mút

cu gáy đẻ 2 trừng, vỏ trừng màu trắng ngà

Cả chim đực và chim mái cùng hợp lực tham gia ấp trừng

Chim đực thường tham gia ấp trứng vào buổi trưa và chiều

Thời kì sắp nở, con mái ấp thường xuyên hơn

Nam) Cu gáy con mới nở được nuôi bằng dịch

"sữa" tiết ra từ diều bố mẹ giống như bồ

cổ, họng, vai và phần trên ngực hung, nâu, càng xuống bụng màu này càng nhạt dần Phần trên lưng, vai, lông, bao cánh và các lông cánh trong cùng lục sáng, có ánh đồng Mép cánh có điểm trắng Phần dưới lưng màu đồng với hai dãi ngang nhỏ trắng xám nhạt Hông và trên đuôi xám thẫm Lông đuôi giữa đen, hai hay

ba đôi ở hai bên xám

Đây là một loài phổ biến ở các rừng nhiệt đới và rừng rậm ẩm ướt tương tự, trang trại, vườn, rừng ngập mặn và ven biển Nó xây dựng một tổ trên cây ở độ cao đến 5 mét và đẻ hai trứng màu kem Mùa sinh sản có xu hướng diễn

ra ở Australia vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè ở đông nam Australia và vào cuối mùa khô ở miền bắc Australia Chúng bay với tốc độ nhanh chóng và trực tiếp

Kích thước:Cánh: 135 - 151; đuôi: 70 - 75; giò: 24 - 27; mỏ: 14 -

17 mm Cu luồng phân bố

ở Đông nam châu Á: Ấn

Độ, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam, Nam Trung Quốc Campuchia,

Inđônêxia, Tân

Ngày đăng: 02/01/2015, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w