1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

báo cáo động vật 1234567890

9 836 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 129,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật vbáo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật vbáo cáo động vật báo cáo động vật báo cáo động vật v

Trang 1

Báo cáo thực địa vườn thú quốc

gia trong công viên Thủ lệ

Giảng viên hướng dẫn: TS.Trần Đức Hậu

Sinh viên: Phạm Thị Ngọc Lớp: 64 Tài Năng- Khoa: Sinh học

Tóm tắt:

Công viên cách trung tâm thành phố khoảng 5 km về phía Tây, góc đường Kim

Mã, Cầu Giấy, đường Bưởi, Đào Tấn và phố Nguyễn Văn Ngọc, giáp với khách sạn Hanoi Daewoo, chính thức được khởi công ngày 19 tháng 5 năm 1975, và hai năm sau mở cửa đón khách Công viên nằm trên địa phận làng Thủ Lệ, một làng cổ

có từ thời nhà Lý (thế kỷ XI), sự tích làng gắn với sự tích thần Linh Lang thờ trong đền Voi Phục

Công viên được xây dựng trên một địa hình khá đẹp: khoảng 29 ha, hồ nước mênh mông có gờ đất chạy dài bao bọc như bầy rồng, rắn đuổi nhau; núi Bò, đền Voi Phục dưới bóng si rậm rạp

Vườn thú

Trước khi công viên hoàn thành, thú được nuôi tại Vườn bách thảo Hà Nội Khi thành lập, vườn thú chỉ có 300 cá thể của hơn 30 loài động vật Đến nay Vườn thú

Hà Nội đã có gần 600 cá thể thuộc 95 loài, trong đó có rất nhiều loài quý hiếm như sư tử, hà mã, hổ, voi, cá sấu, ngựa hoang Tổng diện tích Vườn thú Hà Nội hiện nay là 20 ha, mỗi năm đón 1,5-2 triệu khách thăm

Công viên Thủ Lệ là vườn thú được chia làm nhiều khu: Khu bò sát nuôi cá sấu Khu này nằm trên dải đất có hồ nước, tạo nên những hang hốc thích hợp với đời sống của loài Khu chim chóc có công, trĩ, uyên ương, hạc, cò, sếu, các loài chim hót như họa mi, khướu Khu này chạy dài trên bên lối vào đền Voi Phục Khu thú

dữ gồm hổ, báo, sư tử, gấu với một hệ thống chuồng giống kiểu hang động, xen vào đó là các chuồng hươu, nai, khỉ, chồn, cầy, vượn và voi

Trang 2

1, Đặt vấn đề

Công viên Thủ Lệ có hệ động thực vật phong phú Đặc biệt là hệ động vật phân ngành động vật không xương sống có nhiều loài quý hiếm, có giá trị bảo tồn cao, nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam Việc quan sát các đặc điểm và tập tính của các loại động vật cung cấp cho chúng em những kiến thức khoa học mới và có điều kiện kiểm chứng những kiến thức được học trên giáo trình

2, Phương pháp nghiên cứu

2.1, Thời gian và địa điểm

Thời gian: 16h ngày 12-05-2015

Địa điểm: Công viên Thủ Lệ, Kim Mã- Cầu giấy - Hà Nội

2.2, Phương pháp

Quan sát và ghi chép các tập tính, đặc điểm cấu tạo và thích nghi của các loài động vật, ghi chép thời gian, toạ độ Thiết bị chính được sử dụng là ống nhòm và máy định vị toạ độ và điện thoại Định dạng nhanh các cá thể và các bậc phân loại Ngoài ra còn sử dụng các thông tin trên các biển giới thiệu về loài

Trang 3

3, Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1, Thành phần loài và các hoạt động

Culi nhỏ (Nycticebus pygmaeus) Họ Cu li, bộ

Ăn thịt

Cầy mực

Cầy đốm

Họ Cầy, bộ

Ăn thịt

bộ Guốc chẵn

Guốc chẵn

Ăn thịt

Hổ Đông Dương

Hổ Amua

Họ Mèo, bộ

ăn thịt

Linh trưởng Linh dương sừng kiếm

Linh dương sừng xoắn

Họ Trâu bò

Bộ Guốc chẵn

Bộ Linh trưởng Voi Châu Á(Elephas maximus) Họ Voi

Bộ có vòi

Hà Mã(Hippopotamus

amphibious)

Họ Hà Mã

Bộ Guốc chẵn Gấu ngựa

Gấu Chó

Họ Nhà chó

Bộ ăn thịt Khỉ đuôi lợn(Maca nemestrina) Họ Khỉ vooc

bộ Guốc chẵn

Bộ Gặm nhấm

Trang 4

Cu gáy Họ Bồ câu

Bộ Bồ câu

Bộ Xẻ

Bộ Hạc

Bộ Ưng

Cao cát bụng trắng Họ Mỏ sừng

Bộ Sả

Bộ Sếu

Bộ Gà Đôi vẹt Nam Mỹ

Vẹt vàng xanh Nam Mỹ

Bộ Vẹt 4h36’ Rỉa lông, kêu

Đà điểu Châu Phi Bộ Đà điểu

Gà lôi trắng(Lophura nycthemera)

Công(Pavo muticus imperator)

Gà Lôi vằn

Gà Lôi lam

Họ Trĩ

Bộ Gà

4h30’

4h26’

Kiếm ăn Hoạt động

Hồng hoàng(Buceros bicoruis

Linaeus)

Họ Hồng hoàng

Bộ Sả

4h31’ Hoạt động bay

lượn

Đà điểu Châu phi(Struthio

comelus)

Diệc xám(Ardeola cinerea) Họ Diệc Bộ

Bồ nông

4h43’ Đang ăn

Sếu Nhật bản(Grus Japonensis) Họ Sếu

Bộ Sếu

4h45’ Đi lại, ăn

Bộ Cá sấu

4h50’ Nằm một chỗ hoặc

đi lại trên cạn

3.2, Một số loài động vật đại diện

Trang 5

 Đà điểu Châu Phi

Đà điểu châu Phi (danh pháp khoa học: Struthio camelus) là một loài chim chạy,

có nguồn gốc từ châu Phi Nó là loài còn sống duy nhất của họ Struthionidae,

và chi Struthio Chúng rất khác biệt về hình thể với cổ, chân dài và có thể chạy với tốc độ lên đến 65 km/giờ (40 dặm/giờ) Đà điểu được xem là loài chim còn

sống lớn nhất và được chăn nuôi trên khắp thế giới Tên khoa học của nó bắt nguồn

từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "Chim Lạc đà"

mô tả

Đà điểu châu Phi nặng từ 90 đến 130 kg (200 đến 290 pound) Một số đà điểu trống đã được ghi nhận là có thể nặng đến 155 kg (340 pao) Đà điểu trống trưởng thành có lông chủ yếu là màu đen với một vài điểm trắng ở cánh và đuôi Đà điểu mái và con non có màu xám nâu nhạt với vài đốm trắng Đà điểu trống dùng đôi cánh nhỏ do thoái hóa của nó để múa gọi bạn tình và che chở cho đà điểu con

Bộ lông của chúng mềm và khác biệt so với lông vũ của loài chim bay Vẫn còn những cái móng trên hai cánh của chúng Cặp chân khỏe của chúng không có lông Chân có hai ngón với một ngón lớn hơn trông giống như móng ngựa Điểm độc đáo này giúp cho khả năng chạy của đà điểu Với lông mi rậm và đen, cặp mắt của

đà điểu lớn nhất trong các loài động vật trên cạn còn sống

Ở độ tuổi trưởng thành (2–4 năm), đà điểu trống cao 1,8–2,7 m (6–9 ft), đà điểu mái 1,7–2 m (5,5–6,5 ft) Trong năm đầu tiên, đà điểu con tăng cao

25 cm (10 inch) mỗi tháng Một năm tuổi đà điểu đạt trọng lượng 45 kg (100 pao)

Phân loại và phân bố địa lý

Trong tự nhiên đà điểu châu Phi sống ở thảo nguyên savanna và vùng Sahel của châu Phi, về phía Bắc và Nam của vùng rừng xích đạo Đà điểu thuộc

về bộ Struthioniformes (bộ Đà điểu hay Chim chạy) Cùng bộ với nó là đà điểu Nam Mỹ, chim ê mu (đà điểu sa mạc ở Australia), đà điểu đầu mào và lớn nhất nhưng đã tuyệt chủng là Aepyornis Các phân loài của nó là:

S.c australis ở Nam Phi

Trang 6

S.c camelus ở Bắc Phi, đôi khi còn được gọi là đà điểu Bắc Phi hay Đà điểu cổ đỏ.

S.c massaicus ở Đông Phi, đôi khi còn được gọi là đà điểu Masai Trong mùa sinh sản, cổ và đùi của con trống chuyển sang màu hồng cam Vùng sinh sống của chúng ở phía đông của Ethiopia và Kenya, phía tây của Senegal và từ vùng phía đông bắc của Mauritania đến phía nam của Morocco

S.c molybdophanes ở Somalia, Ethiopia, bắc Kenya, đôi khi còn được gọi là đà điểu Somali Trong mùa sinh sản, cổ và đùi của con trống chuyển sang màu xanh Vùng sinh sống của chúng trùng với S.c massaicus ở đông bắc của Kenya Một số học giả cho rằng đà điểu Somali có thể chính là một loài

S.c syriacus ở Trung Đông, đôi khi còn được gọi là đà điểu Ả Rập hay đà

điểu Trung Đông Chúng đã từng rất phổ biến ở bán đảo Ả Rập, Syria và Iraq; nhưng đã tuyệt chủng từ năm 1966

Hành vi

Đà điểu châu Phi sống theo từng nhóm 5–50 con, du cư theo những loài thú ăn cỏ khác như ngựa vằn hay linh dương Chúng ăn chủ yếu là hạt hay cây cỏ, đôi khi chúng ăn cả những động vật nhỏ như cào cào Không có răng, chúng phải nuốt sỏi

để giúp cho việc nghiền thức ăn trong mề Chúng có thể đi trong một thời gian dài không cần đến nước, mà chỉ dựa vào độ ẩm của những cây cỏ chúng nuốt vào Tuy nhiên chúng thích nước và thường hay tắm

Trang 7

Với khả năng nghe và nhìn thính nhạy, chúng có thể phát hiện những loài thú săn mồi như sư tử từ khoảng cách xa

Theo một truyền thuyết phổ biến, đà điểu nổi tiếng về việc chui đầu vào cát khi gặp nguy hiểm Tác gia La Mã Pliny – bậc trưởng lão, trong cuốn Lịch sử tự

nhiên đã mô tả về đà điểu và việc giấu đầu vào bụi rậm của chúng Tuy nhiên lại không có quan sát đã được ghi nhận nào về hành vi này Một phản bác khá nổi tiếng là: một loài có hành vi như thế sẽ không thể tồn tại lâu dài Truyền thuyết này

có lẽ bắt nguồn từ sự thật rằng: quan sát từ khoảng cách xa sẽ thấy khi ăn, đà điểu vùi đầu vào cát, bởi vì chúng chủ tâm nuốt cát và sạn vào để giúp cho việc nghiền thức ăn Chứ nếu vùi đầu vào cát thì đà điểu sẽ chết ngạt mất Khi nằm xuống để tránh thú săn mồi, đà điểu ép sát đầu và cổ xuống đất, trông xa giống như là một ụ đất

nhỏ Khi gặp nguy hiểm, đà điểu hoảng loạn bỏ chạy và tự làm bị thương nặng bởi những cú đá từ cặp giò khỏe mạnh của chúng

Trong kinh Phúc Âm soạn bởi Job (Job 39.13-18), đà điểu được mô tả với cặp cánh ngắn ngủn buồn cười, không chú ý đến an toàn của tổ trứng, đối xử khắc nghiệt đối với đàn con, thiếu khôn ngoan, nhưng lại làm con ngựa phải hổ thẹn với tốc độ của chúng

Sinh sản

Trang 8

Đà điểu châu Phi trưởng thành hoàn toàn ở độ tuổi 2 - 4 năm, con trống chậm hơn con mái khoảng 6 tháng Mùa sinh sản bắt đầu từ tháng 3 hay 4 đến tháng tháng 8, tùy thuộc vào vùng địa lý Đà điểu trống dùng tiếng rít và những âm thanh khác để đánh nhau, chiếm lãnh thổ và quyến rũ hậu cung có từ 2 – 5 đà điểu mái Kẻ chiến thắng sẽ giao phối với toàn hậu cung nhưng chỉ lập một "hậu" mà thôi

Đà điểu châu Phi là loài đẻ trứng Toàn hậu cung sẽ cùng đẻ trứng có phôi vào một

tổ của "hậu", đó chỉ đơn giản là một cái hố sâu từ 30 – 60 cm Trứng nặng từ 1,3 – 1,4 kg (3 pao), dài 15 cm (6 inch), rộng 13 cm (5 inch), là loại trứng lớn nhất và có phôi lớn nhất, nhưng lại là nhỏ nhất nếu so sánh tương đối với kích thước của đà điểu Mỗi tổ có từ 15 – 60 trứng màu trắng nhạt và bóng láng Con cái ấp trứng vào ban ngày còn con trống thì vào ban đêm, bởi vậy chúng có màu lông khác nhau để tránh bị phát hiện khi đang ấp trứng Quá trình ấp từ 35 – 45 ngày và con trống thường đón chào con con mới nở Tuổi thọ của đà điểu châu Phi là từ 30 - 70 năm, trung bình là 50 năm

Đà điểu con mới nở đã mở mắt và trong vòng 1, 2 tiếng chúng đã có thể chạy nhảy được rồi Hầu như những loài chim không bay, con của chúng mở mắt lúc mới chào đời và có lớp lông tơ bảo vệ, thân hình của đà điểu con cũng không ngoại lệ Còn những loài biết bay, thì hầu như con của chúng không có lông và không mở mắt, chúng phải nhờ vào mẹ hay bố tìm mồi Đà điểu con rất hiếu động, bố mẹ chúng phải tập họp chúng lại như một nhà trẻ di động Chúng chạy lung tung và trong vòng nửa năm đầu đà điểu con rất dễ chết vì những lí do khác ngoài thiền nhiên, nhưng sau đó chúng lớn rất nhanh

3.3, Một số kiến nghị về nơi nuôi nhốt các loài động vật

Các loài động vật hầu hết được nuôi nhốt trong chuồng có hàng rào sắt bảo vệ, được cung cấp thức ăn và nước uống đầy đủ Tuy nhiên còn một số vấn đề tồn tại như sau:

1. Chuồng nuôi chưa được vệ sinh sạch sẽ nên có mùi hôi, thối

2. Nhiều chuồng mật độ cá thể quá cao như chuồng nuôi nhốt khỉ vàng có tới

13 con trong một chuồng nuôi diện tích hẹp

Trang 9

3. Môi trường nước của Cá Sấu, Hà Mã rất tù đọng, nước bẩn

4. Các loài động vật chưa được chăm sóc y tế thường xuyên nên mắc một số bệnh về da như ghẻ, nấm , Một số con đã bị chết

5. Các cá thể Voi Châu Á đôi khi không được tự do đi lại mà bị xích chân, chuồng nuôi nhốt Voi diện tích còn khá hẹp

6. Chuồng cho các loài chim thiếu các cành cây cho chim đậu

Ngày đăng: 16/08/2016, 22:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w