Tổng quan về thương mại điện tử
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ này, với sự xuất hiện của các máy kỹ thuật
mới như máy vi tính, vi ba, cáp quang, vệ tinh thông tin cuộc cách mạng tin
học đã có những bước chuyển nhảy vọt, đưa thế giới vào chu kỳ phát triển mới:
chu kỳ thứ 5 với nền kinh tế tri thức mà trọng tâm là công nghệ tin học Và từ đó
cũng xuất hiện phương thức kinh doanh mới: thương mại điện tử(TMĐT)
Thương mại điện tử ra đời làm thay đổi hoàn toàn tính chất nền kinh tế
mỗi quốc gia cũng như nền kinh tế toàn cầu Khác với thương mại truyền thống,
thị trường của thương mại điện tử là hệ thống mạng Internet, việc kinh doanh
được thực hiện qua các cửa hàng ảo lập trên mạng, người bán và người mua
không cần biết mặt nhau Lợi ích lớn nhất mà thương mại điện tử mang lại cho
các doanh nghiệp là giảm tối thiểu các chi phí và tăng tối đa các lợi nhuận
Các chuyên gia đều cho rằng, thương mại điện tử sẽ là xu hướng mới cho
phát triển nền kinh tế toàn cầu Bởi ngay từ khi xuất hiện, cùng với những tiện
ích to lớn của mình, thương mại điện tử đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm
của các quốc gia trên thế giới Những quốc gia đi tiên phong trong phát triển
thương mại điện tử như Mỹ và một số nước Châu Âu đã gặt hái được những
thành công không nhỏ
Ở nước ta, mối quan tâm đến thương mại điện tử cũng đang tăng lên hàng
ngày Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan cũng đã đưa ra một vài chính
sách cho phát triển thương mại điện tử Tuy nhiên, nó vẫn chỉ mang hình thức
trên giấy tờ Đối với Việt Nam, cơ hội phát triển không phải là điều không thể
nhưng để hoà nhập vào nhịp phát triển chung của nền kinh tế thế giới vẫn còn là
một thách thức lớn
Do còn nhiều hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm thực tế nên chắc chắn đề
án không tránh khỏi nhiều sai sót Rất mong được sự nhận xét góp ý của các
thầy cô Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, hướng dẫn của thầy cô
giáo và các bạn bè
Trang 2CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
I THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ LÀ GÌ ?
1 Số hoá và nền kinh tế số hoá
Sự phát triển và hoàn thiện của kỹ thuật số đã đưa tới cuộc “cách mạng số
hoá”, thúc đẩy sự ra đời của “ kinh tế số hóa “ và “ xã hội thông tin “ mà thương
mại điện tử là một bộ phận hợp thành
Trong nửa đầu thế kỷ, kỹ thuật số bắt đầu phát triển và hoàn thiện dần ;
hình ảnh (kể cả chữ viết, con số, các kí hiệu khác) và âm thanh đều được số hoá
thành các nhóm bit điện tử để ghi lại, lưu giữ trong môi trường từ, truyền đi và
đọc bằng điện tử, tất cả đều với tốc độ ánh sáng
Việc áp dụng kỹ thuật số có thể coi là cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử
nhân loại, gọi là cuộc cách mạng số hoá mở ra kỉ nguyên số hoá
Cách mạng số hoá diễn ra với tốc độ rất cao Máy tính điện tử ( MTĐT )
đầu tiên ra đời năm 1946 chỉ thực hiện 5000 lệnh trong một giây 50 năm sau,
MTĐT cá nhân thông dụng có thể thực hiện trên 400 triệu lệnh một giây( dự
kiến 2012 đạt tới 100 triệu lệnh) nhờ sử dụng các chíp vi mạch cho phép đóng
mở nhiều triệu lần trong một giây
Ngành công nghệ thông tin ngày càng chiếm tỉ trọng trong nền kinh tế các
quốc gia ( ở Mỹ năm 1998 đã đạt trên 8%) Riêng về thương mại điện tử
(TMĐT) cứ 18 tháng tổng công suất lại tăng lên gấp đôi
Quá trình tin học hoá xã hội bắt đầu bùng nổ rồi nhanh chóng chuyển
sang mang tính chất toàn cầu sau khi Internet ra đời Trong bối cảnh ấy, hoạt
động kinh tế nói chungvà thương mại nói riêng cũng chuyển sang dạng “số
hoá”, “ điện tử hoá “; khái niệm thương mại điện tử dần dần hình thành và ứng
dụng ngày càng mở rộng
2 Khái niệm thương mại điện tử (TMĐT)
TMĐT là sản phẩm tất yếu của sự phát triển cùng mối quan hệ tương hỗ
giữa kinh tế và kỹ thuật tin học
Trang 3Hiểu theo nghĩa hẹp thì khái niệm “ TMĐT “ được dùng để chỉ việc giao
dịch mua bán dựa trên cơ sở xử lý và chuyển tải thông tin, số liệu về chủng loại
hàng hoá trên các mạng bỏ ngỏ mà chủ yếu là mạng Internet Các hàng hoá này
được trưng bày trên các trang web ( website ) của Internet và người mua dùng
thẻ tín dụng để thanh toán Thông thường, đó là những hoạt động giao dịch giữa
các công ty, xí nghiệp với nhau hoặc giữa các công ty với người tiêu dùng
Còn hiểu theo nghĩa rộng, thì TMĐT bao gồm những hoạt động có liên
quan đến mạng khu vực, mạng nội bộ - Intranet và mạng Internet TMĐT là việc
sử dụng các phương pháp điện tử để làm thương mại hay nói chính xác hơn,
TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công
nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn
nào của toàn bộ quá trình giao dịch Đây là một mô hình thương mại hoàn toàn
mới, sử dụng mạng lưới thông tin chưa từng có trước đây để liên lạc từng khách
hàng với các đại lý tiêu thụ, các công ty phân phối sản phẩm, các nhân viên làm
thuê và truyền đi những thông tin có giá trị đến các đối tác một cách nhanh
chóng kịp thời
Khái niệm “thương mại” trong “TMĐT” với phạm vi khá rộng gồm buôn
bán dịch vụ và các thành tố thương mại có liên quan đến sản phẩm tinh thần
nên được khai diễn với các hình thức: mua bán hàng hoá tại nhà, thư tín thanh
toán, trao đổi các dữ liệu điện tử cùng nhiều mặt khác trong đời sống kinh tế - xã
hội
TMĐT được chia thành hai dạng cơ bản:
B2B ( Business to Business ): kinh doanh giữa doanh nghiệp với doanh
nghiệp trong đó các doanh nghiệp thực hiện giao dịch mua bán trao đổi hàng
hoá với nhau thông qua các trang web
B2C ( Business to Custommer): giao dịch giữa doanh nghiệp và khách
hàng với hình thức người tiêu dùng thực hiện mua bán hàng qua trang web
Mọi hoạt động của thương mại điện tử như hoạt động giao tiếp hoặc tìm
hiểu thông tin giữa các công nhân viên chức trong các xí nghiệp, công ty, quan
hệ giao dịch giữa các bạn hàng thương mại, hoặc các hoạt động khác trên mạng
Trang 4như giáo dục , giảng bài trên mạng, thông tin về các dịch vụ hoạt động của tư
nhân cũng như của nhà nước đều sẽ được “số hoá” Điều này không có nghĩa
là việc số hoá nhất thiết sẽ thay thế các hoạt động giao dịch truyền thống quen
thuộc, mà nó có tác dụng hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động này
3 Các phương tiện kỹ thuật của thương mại điện tử (TMĐT)
Sự ra đời và phát triển của TMĐT dựa trên ba nền tảng cơ bản: công
nghệ thông tin, cơ sở pháp luật thừa nhận giá trị của các giao dịch điện tử và sự
hoàn chỉnh về hệ thống tiêu chuẩn hoá trong công nghiệp và thương mại Nó sử
dụng các phương tiện kỹ thuật điện tử như: điện thoại, máy fax, các thiết bị
thông tin tự động, mạng nội bộ, liên mạng nội bộ và mạng toàn cầu Internet
Điện thoại là một phương tiện phổ thông dễ sử dụngvà thường mở đầu
cho các cuộc giao dịch thương mại Với sự phát triển của điện thoại di động, liên
lạc qua vệ tinh, ứng dụng của điện thoại đang và sẽ trở nên ngày càng rộng rãi
hơn.Tuy nhiên, trên quan điểm kinh doanh, công cụ điện thoại chỉ truyền tải
được âm thanh, mọi giao dịch cuối cùng vẫn phải thực hiện trên giấy tờ Ngoài
ra, chi phí giao dịch điện thoại rất cao đặc biệt là đối với giao dịch đường dài
Máy fax có thể thay thế dịch vụ đưa thư và gửi công văn truyền thống
Nhưng máy fax không thể truyền tải được âm thanh, hình ảnh động, hình ảnh ba
chiều và chi phí sử dụng còn cao
Truyền hình đóng vai trò quan trong trong thương mại, nhất là trong
quảng cáo hàng hoá, ngày càng có nhiều người mua hàng nhờ xem quảng cáo và
đã có một số dịch vụ được cung cấp qua truyền hình Song truyền hình chỉ là
công cụ viễn thông “một chiều”, qua truyền hình khách hàng không thể có được
cá chào hàng, không thể đàm phán với người bán về điều khoản mua bán cụ thể
Nay máy thu hình được nối kết với MTĐT thì công dụng của nó được mở rộng
hơn
Thiết bị kỹ thuật thanh toán điện tử: Thanh toán là khâu quan trọng bậc
nhất của thương mại và TMĐT không thể thiếu được công cụ thanh toán điện tử
thông qua các hệ thống thanh toán điện tử và chuyển tiền điện tử mà bản chất là
các phương tiện tự động chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác
Trang 5Thanh toán điện tử sử dụng rộng rãi các máy rút tiền tự động, thẻ tín dụng, thẻ
mua hàng, thẻ khôn minh thẻ từ
Mạng nội bộ và liên mạng nội bộ: Theo nghĩa rộng, mạng nội bộ là toàn
bộ mạng thông tin của một xí nghiệp hay cơ quan và các liên lạc mọi kiểu giữa
các MTĐT trong cơ quan, xí nghiệp đó, cộng với liên lạc di động Theo nghĩa
hẹp , đó là mạng kết nối nhiều máy tính ở gần nhau - gọi là mạng cục bộ(LAN);
hoặc nối kết máy tính trong một khu vực rộng lớn hơn - gọi là mạng miền
rộng(WAN) Hai hay nhiều mạng nội bộ liên kết với nhau tạo thành liên mạng
nội bộ - có thể gọi là “mạng ngoại bộ”(extranet)
Internet và web: Khi nói đến Internet ta nói tới một phương tiện liên kết
các mạng với nhau trên phạm vi toàn cầu trên cơ sở giao thức chuẩn quốc tế
TCP/IP Công nghệ Internet chỉ thực sự trở thành công cụ đắc lực khi áp dụng
thêm giao thức chuẩn quốc tế “ giao thức chuẩn truyền siêu văn bản “( HTTP:
HyperTex Transfer Protocol ) với các trang siêu văn bản viết bằng ngôn ngữ
HTML( HyperTex Markup Language ), tạo ra nhiều dịch vụ khác nhau mà tới
nay nổi bật nhất là dịch vụ World Wide Web ra đời năm 1991 - thường được gọi
tắt là Web, viết tắt là WWW hoặc W3) là công nghệ sử dụng các siêu liên kết
văn bản tạo ra các văn bản chứa nhiều tham chiếu tới các văn bản khác cho phép
người sử dụng tự động chuyển từ một cơ sở dữ liệu này sang cơ sở dữ liệu khác,
bằng cách đó mà truy nhập vào các thông tin thuộc các chủ đề khác nhau vừa
phong phú về nội dung, vừa hấp dẫn về hình thức
Web giống như một cuốn từ điển khổng lồ có nhiều triệu trang, mỗi trang
chứa một gói tin có nội dung nhất định như một quảng cáo, một bài viết v.v mà
số trang không ngừng tăng lên và không theo một trật tự nào cả
Internet tạo ra bước phát triển mới của ngành truyền thông, chuyển từ thế
giới “một mạng, một dịch vụ” sang thế giới “một mạng, nhiều dịch vụ” và đã trở
thành công cụ quan trọng nhất của TMĐT Ngày nay nói tới TMĐT thường có
nghĩa là nói tới Internet và Web như các phương tiện đã được quốc tế hoá cao
độ và có hiệu quả sử dụng cao
4 Các hình thức hoạt động và giao dịch của TMĐT
Trang 6a Các hình thức hoạt động
Thư tín điện tử (e - mail) là phương thức trong đó các đối tác sử dụng
hòm thư điện tử để gửi cho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng
Thanh toán điện tử là việc thanh toán tiền thông qua thông điệp điện tử
thay vì cho việc giao tay tiền mặt; việc trả lương bằng cách chuyển trực tiếp vào
tài khoản, dùng thẻ mua hàng, thẻ thanh toán để mua hàng Ngày nay thanh toán
điện tử đã mở sang nhiều lĩnh vực mới như: trao đổi dữ liệu tài chính, tiền mặt
Internet, túi tiền điện tử, thẻ khôn minh, giao dịch ngân hàng số hoá và giao dịch
chứng khoán số hoá
Trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính
điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng
một tiêu chuẩn đã được thoả thuận để cấu trúc thông tin (Định nghĩa của Uỷ ban
Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế - UNCITRAL) EDI ngày càng được
sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn cầu chủ yếu phục vụ cho mua , phân phối
hàng và các dịch vụ khác
Giao gửi số hoá các dung liệu là phương thức dung liệu được số hoá và
truyền gửi theo mạng
Bán lẻ hàng hoá hữu hình: tận dụng tính năng đa phương tiện của môi
trường Web và Java, người bán hàng xây dựng trên các mạng “cửa hàng ảo” để
bán hàng Người mua sử dụng Internet/web tìm , mua hàng trên các trang web
của cửa hàng và trả tiền bằng thanh toán điện tử Khách có thể mua hàng tại nhà
mà không phải đích thân đi tới cửa hàng
b Giao dịch TMĐT
Người với người: qua điện thoại, fax, thư điện tử
Ngườivới MTĐT: trực tiếp hoặc qua các mẫu biểu điện tử, và qua Web
MTĐT với MTĐT: qua trao đổi dữ liệu điện tử, thẻ khôn minh, dữ liệu
mã vạch
MTĐT với người: qua thư tín, fax và thư điện tử
c Các bên tham gia giao dịch
Trang 7Giữa doanh nghiệp với người tiêu thụ: mục đích giúp người tiêu thụ có
thể mua hàng tại nhà không cần tới cửa hàng
Giữa các doanh nghiệp với nhau: mục đích cuối cùng là đạt được hiệu quả
cao trong sản xuất kinh doanh
Giữa doanh nghiệp với các cơ quan chính phủ: nhằm mục đích mua sắm
chính phủ theo kiểu trực tuyến, quản lý thuế và thông tin
Giữa các chính phủ: trao đổi thông tin
Trong các hình thức nói trên giao dịch giữa các doanh nghiệp với nhau
Quy định về phạm vi thời gian, phạm vi địa lý của giao dịch
Có kèm theo các văn bản và ảnh miêu tả sản phẩm hoặc dung liệu trao đổi
và quy định trách nhiệm các sai sót trong các văn bản đó
Có quy định và xác nhận điện tử các giao dịch, về quyền truy cập, cải
chính thông tin điện tử và cánh thực thi
Có các quy định bảo đảm rằng các giao dịch điện tử được coi là chứng cớ
pháp lý về bản chất và ngày tháng giao dịch
Quy định chi tiết về phương thức thanh toán điện tử
Quy định về trung gian bảo đảm chất lượng
Ngoài ra TMĐT còn có cả phương thức giao dịch không có hợp đồng
II VAI TRÒ VÀ LỢI ÍCH CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1 Vai trò của TMĐT
Sự phát triển và phồn vinh của một nền kinh tế không còn chỉ dựa vào
nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động, mà ở mức độ lớn được quyết
định bởi trình độ công nghệ thông tin và tri thức sáng tạo Cùng với xu thế đó,
Trang 8TMĐT xuất hiện đã làm thay đổi bộ mặt kinh tế thế giới bởi những ảnh hưởng
to lớn của mình:
Làm thay đổi tính chất của nền kinh tế mỗi quốc gia và nền kinh tế toàn
cầu
Làm cho tính tri thức trong nền kinh tế ngày càng tăng lên và tri rhức đã
thực sự trở thành nhân tố và nguồn lực sản xuất quan trọng nhất, là tài sản lớn
nhất của một doanh nghiệp
Mở ra cơ hộiphát huy ưu thế của các nước phát triển sau để họ có thể đuổi
kịp, thậm chí vượt các nước đã đi trước
Xây dựng lại nền tảng, sức mạnh kinh tế quốc gia và có tiềm năng làm
thay đổi cán cân tiềm lực toàn cầu
Rút ngắn khoảng cách về trình độ tri thức giữa các nước phát triển với các
nước đang phát triển
Cách mạng hoá marketing bán lẻ và marketing trực tuyến
2 Lợi ích của TMĐT
TMĐT ra đời cùng với những tiến bộ gần đây của công nghệ viễn thông
và máy tính Đặc biệt, sự bùng nổ của Internet và Web đã gia tốc quá trình
chuyển hoá thương mại toàn cầu, cho phép mở rộng tức thì quan hệ giữa những
người bán, người mua, các nhà đầu tư, các hãng quảng cáo và các nhà tài chính
trên phạm vi toàn cầu với chi phí về thời gian và tiền bạc rất thấp Với đặc tính
như vậy, TMĐT có thể đem lại những lợi ích to lớn như: góp phần cải thiện các
dịch vụ tài chính và chống tham nhũng; góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế; cho
phép các công ty nhỏ nhất cũng có thể hiện diện và tiến hành hoạt động kinh
doanh trên toàn thế giới; nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp;
rút ngắn chu trình cung cấp hàng hoá, dịch vụ, giảm chi phí, giá thành
Những lợi ích mà TMĐT mang lại cho:
a Doanh nghiệp
Hợp lý hoá khâu cung cấp nguyên vật liệu, sản phẩm, bảo hành, tự động
hoá quá trình hợp tác , kinh doanh để nâng cao hiệu quả: TMĐT giúp các doanh
nghiệp nắm được thông tin phong phú về kinh tế, thương mại, thị trường và nắm
Trang 9bắt mọi nhu cầu, nhờ đó có thể xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh thích
hợp với xu thế phát triển thị trường trong nước, thị trường khu vực và quốc tế
Và do đó làm giảm chi phí sản xuất, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu Mọi
hoạt động hợp tác kimh doanh đều diễn ra qua hệ thống mạng
Cải tiến quan hệ trong công ty, với đồng nghiệp, thiết lập và củng cố quan
hệ đối tác, bạn hàng: thông qua mạng, các thành tố tham gia có thể giao tiếp trực
tiếp và liên tục với nhau gần như không còn khoảng cách địa lý và thời gian nữa
Nhờ đó, cả sự hợp tác lẫn sự quản lý đều được tiến hành nhanh chóng và liên
tục
Giảm chi phí kinh doanh, tiếp thị, tăng năng lực phục vụ khách hàng:
bằng phương tiện điện tử Internet - Web và do catalogue điện tử rất phong
phú,thường xuyên cập nhật nên các nhà kinh doanh có thể giao dịch với rất
nhiều khách hàng, tiếp cận với khách hàng dễ dàng hơn
Tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp: TMĐT giúp doanh nghiệp giảm
đáng kể thời gian và chi phí giao dịch trong đó yếu tố thời gian đáng kể hơn Vì
việc nhanh chóng làm cho thông tin hàng hoá tiếp cận người tiêu thụ( mà không
phải qua trung gian) có ý nghĩa sống còn đối với cạnh tranh buôn bán, bám sát
được nhu cầu của thị trường
Mở rộng phạm vi kinh doanh, dung lượng và vượt qua vùng lãnh thổ:
Thông qua hệ thống thông tin nhanh nhạy trên Internet - Web, các bạn hàng
mới, các cơ hội kinh doanh mới được phát hiện nhanh chóng trên bình diện toàn
quốc, toàn khu vực, toàn thế giới, và có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn
b Người tiêu dùng
Thuận tiện hơn: người tiêu dùng có thể mua được những mặt hàng cần
thiết mà không cần phải đi đến các cửa hàng nhờ vào hệ thống dịch vụ trên các
trang Web của hệ thống mạng Internet qua MTĐT cá nhân
Tăng khả năng lựa chọn: người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn hàng hoá
trên các catalogue điện tử và các dịch vụ quảng caó trên website của các doanh
nghiệp
Trang 10Tiếp cận mặt hàng dễ dàng hơn: chỉ cần sử dụng phím chuột vào các trang
website khách hàng đã có thể tìm hiểu được về mọi tính năng, chức năng và đặc
tính của sản phẩm
Hưởng các dịch vụ nhiều hơn: người mua hàng qua mạng có cơ hội tận
hưởng thêm một số dịch vụ ưu đãi như phiếu giảm giá, gói quà, vận chuyển
hàng hoá miễn phí do các hãng bán lẻ đưa ra nhằm thu hút khách hàng
c Chính phủ
Dễ dàng kiểm soát về thuế, phân phối thu nhập, hải quan Tuy nhiên
đối với việc đánh thuế trên mạng lại là một khó khăn rất lớn trong việc kiểm
soát cũng như trong phân phối
III NỀN TẢNG CƠ SỞ CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
Song song với những lợi ích to lớn có thể mang lại cho mỗi con người,
mỗi quốc gia, TMĐT cũng đòi hỏi một hạ tầng cơ sở đa dạng và vững chắc, có
cả tính thường hữu, tính kinh tế sử dụng Nếu không chuẩn bị được một hạ tầng
cơ sở vững chắc thì mọi lợi ích nêu trên đèu chỉ là những thứ ta mới hình dung
ra mà thôi, trong khi đó, những tổn thất phát sinh ra lại hoàn toàn là thực
1 Hạ tầng cơ sở công nghệ ( hệ thống thông tin, máy tính, truyền thông,
bảo mật và an toàn )
TMĐT không phải là một sáng kiến ngẫu hứng, mà là hệ quả tất yếu của
sự phát triển kỹ thuật số hoá, của công nghệ thông tin, mà trước hết là kỹ thuật
MTĐT Vì thế chỉ có thể thực sự có và thực sự tiến hành TMĐT có nội dung và
hiệu quả đích thực khi đã có một cơ sở công nghệ thông tin vững chắc
Hạ tầng cơ sở công nghệ ấy bao gồm từ sự liên kết các chuẩn của doanh
nghiệp, của cả nước với các chuẩn quốc tế tới kỹ thuật ứng dụng và thiết bị ứng
dụng; và không chỉ của riêng từng doanh nghiệp, mà phải là một hệ thống quốc
gia, với tư cách như một phân hệ của hệ thống thông tin khu vực và toàn cầu, và
hệ thống ấy phải tới được từng cá nhân trong hệ thống thương mại.Chi phí các
phương tiện công nghệ thông tin (điện thoại, máy tính ) và chi phí dịch vụ
truyền thông( phí điện thoại, phí nối mạng và truy cập ) phải đủ rẻ để đông đảo
người sử dụng có thể tiếp cận được
Trang 11Tuy nhiên điều đáng lo ngại nhất là an toàn và bảo mật dữ liệu vì số vụ
tấn công vào Internet ngày càng tăng, kể cả vào các mạng được bảo vệ nghiêm
ngặt “Giặc máy tính” (hacker) dùng nhiều thủ đoạn khác nhau: mạo quan hệ, bẻ
mật khẩu, virut và các chương trình “phá từ bên trong”, giả mạo địa chỉ Internet,
phong toả dịch vụ Ngay cả các mã mật (sử dụng kỹ thuật mã hoá) cũng có thể
bị khám phá bởi các kỹ thuật giải mã tinh vi, nhất là kỹ thuật của bên có đẳng
cấp kỹ thuật cao hơn hẳn Cho nên một chiến lược quốc gia về mã hoá, kèm theo
các chương trình bảo vệ an toàn thông tin đang trở thành một vấn đè lớn Và nếu
không có các luật và các phương tiện thích đáng để bảo vệ thông tin thì một
nước rất có thể bị cách ly khỏi hoạt động TMĐT quốc tế
2 Hạ tầng cơ sở nhân lực
Áp dụng TMĐT tất yếu làm nảy sinh hai đòi hỏi: một là mọi người đều
quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên mạng, hai là có đội ngũ
chuyên gia tin học mạnh, thường xuyên bắt kịp các công nghệ thông tin mới
phát triển cũng như có khả năng thiết kế các công cụ phần mềm đáp ứng được
nhu cầu hoạt động của một nền kinh tế số hoá, tránh bị động lệ thuộc hoàn toàn
vào nước khác
Ngoài ra, do ngôn ngữ được sử dụng chủ yếutrong thương mại nói chung
hay TMĐT nói riêng hiện nay là tiếng Anh nên đã xuất hiện một yêu cầu tự
nhiên nữa là tất cả những người tham gia kinh doanh trực tuyến đều phải giỏi
tiếng Anh
Chính những điều này sẽ dẫn tới sự thay đổi căn bản hệ thống giáo dục và
đào tạo
3 Hệ thống thanh toán tài chính tự động
TMĐT chỉ có thể thực hiện thực tế khi đã tồn tại hệ thống thanh toán tài
chính phát triển cho phép thực hiện thanh toán tự động Khi chưa có hệ thống
này thì hiệu quả của TMĐT bị giảm thấp và có thể không đủ để bù lại các chi
phí trang bị công nghệ đã bỏ ra Hệ thống thanh toán tài chính đi liền với việc
mã hoá toàn bộ hàng hoá, hay “đánh số sản phẩm” gọi là mã vạch ; và một máy
Trang 12quét sẽ nhận dạng các vạch này biến đổi thành các con số rồi đưa vào máy tính
để tính toán tự động
4 Bảo vệ sở hữu trí tuệ
Ngày nay, cái tạo ra giá trị cao hơn cho sản phẩm không phải là bản thân
sản phẩm mà chính là “tài sản chất xám” của nó Trong TMĐT, thông tin trở
thành tài sản, và bảo vệ tài sản cuối cùng sẽ có nghĩa là bảo vệ thông tin Vì lẽ
đó, nổi lên vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền của các thông tin trên
Web( các hình thức quảng cáo, các nhãn hiệu thương mại, các cơ sở dữ liệu, các
dung liệu truyền gửi qua mạng ) Mọi hình thức “sao chép”, “phiên dịch” các
dữ liệu văn bản, hình ảnh, âm thanh thành dung liệu truyền gửi phải được tác giả
đồng ý Và như vậy phải có sự quản lý, đầu tư hợp lý để điều chỉnh các mối
quan hệ sở hữu trí tuệ, tránh được hiện tượng “chảy máu chất xám”
5 Bảo vệ người tiêu dùng
Nhìn nhận trên cơ sở lý luận thương mại và lý thuyết thông tin, thì từ xưa
tới nay, một thị trường bị sụp đổ bao giờ cũng bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa
là “thông tin không đối xứng” nghĩa là cái người bán biết khác với cái người
mua biết dẫn tới cái gọi là “thị trường chanh quả”
Trong TMĐT, thông tin về hàng hoá đều là thông tin số hoá, nói giản dị là
người mua không có điều kiện “nếm thử” hay “dùng thử” hàng trước khi mua;
khả năng rơi vào “thị trường chanh quả” sẽ càng gia tăng, chưa kể tới khả năng
bị nhầm lẫn các cơ sở dữ liệu, bị lừa gạt bởi các thông tin và các tổ chức phi
pháp có mặt trên mạng Vì thế đang xuất hiện nhu cầu phải có trung gian bảo
đảm chất lượng mà hoạt động hữu hiệu và ít tốn kém Trước thực tế các rủi ro
ngày càng gia tăng, đả kích vào quyền lợi của người tiêu thụ, thì đây là một vấn
đề đáng được quan tâm
6 Hạ tầng cơ sở kinh tế và pháp lý
a Môi trường quốc gia
Trước khi đi đến một quyết định thiết lập môi trường kinh tế, pháp lý và
xã hội cho nền kinh tế số hoá nói chung và TMĐT nói riêng( ví dụ quyết định
đưa vào mạng các dịch vụ hành chính, các dịch vụ thu trả thuế, và các dịch vụ
Trang 13khác như thư tín, dự báo thời tiết ), thì chính phủ mỗi nước phải đánh giá một
cách chính xác, khách quan những cơ hội hay những hiểm hoạ mà xã hội thông
tin hay cụ thể hơn là Internet mang lại Và để có một môi trường kinh té xã hội
ổn định, nhà nước cần xây dựng một khung pháp lý phù hợp:
Thừa nhận tính pháp lý của giao dịch TMĐT
Thừa nhận tính pháp lý của chữ ký điện tử, chữ ký số hoá và có các thiết
chế pháp lý thích hợp xác thực, chứng nhận chữ ký điện tử và chữ ký số hoá
Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử
Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ từ nhà nước ( các cơ quan
Bảo vệ pháp lý đối với mạng thông tin, chống tội phạm xâm nhập với các
mục đích bất hợp pháp như thu nhập tin tức mật, thay đổi thông tin trên các
trang Web, thâm nhập vào các dữ liệu, sao chép trộm các phần mềm, truyền
virut phá hoại Vấn đè là sẽ phải đưa vào khuôn khổ của bộ luật hình sự, một
khi kinh tế số hoá được thừa nhận trên tầm quốc gia
b Môi trường quốc tế
Ngoài những điểm chung, môi trường kinh tế, pháp lý và xã hội quốc tế
còn khác với môi trường quốc gia ở phạm vi kinh tế thương mại Nó không chỉ
diễn ra ở phạm vi một nước mà còn vượt qua biên giới quốc gia, trong đó khía
cạnh quan trọng nhất là tính không biên giới của TMĐT dẫn tới những khó khăn
to lớn về luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng, về thanh toán và đặc biệt là về
thu thuế (do làm mất đi tính ranh giới địa lý vốn là đặc tính của ngoại thương
truyền thống.) Chẳng hạn khó khăn trong việc đánh thuế các hàng hoá phi vật
thể (âm nhạc, chương trình phần mềm ), thu thuế trong trường hợp thanh toán
vô danh bằng thẻ khôn minh và khó khăn trong vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ,
Trang 14chính trị, bảo vệ bí mật quốc gia, vấn đề pháp luật quốc tế về sử dụng không
Trang 15CHƯƠNG II KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN TMĐT VỚI MỘT SỐ NƯỚC VÀ KHU
VỰC TRÊN THẾ GIỚI
I XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1 Sự phát triển của Internet hiện nay
Internet - đỉnh cao của cuộc cách mạng thông tin, công nghệ và giáo dục
ra đời với các nội dung chủ yếu là tạo ra các kiểu máy tính có tốc độ tính toán
hàng triệu đến hàng tỷ phép tính/giây Các bộ nhớ thông tin có thể lưu trữ được
toàn bộ tri thức của nhân loại trong suốt lịch sử phát triển của nền văn minh, tạo
lập các cơ sở dữ liệu có khả năng cập nhật và truyền bá thông tin cho bất kỳ ai,
bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu trên hành tinh này thông qua mạng lưới các máy
tính được điều khiển tự động, cũng như các mạng lưới truyền thông toàn cầu và
khu vực thông qua các phương tiện vũ trụ kỹ thuật điện - điện tử, kỹ thuật
quang - điện tử để thu thập, xử lý, lưu trữ, truyền bá thông tin và tri thức Với
cuộc cách mạng thông tin - Internet, quá trình toàn cầu hoá diễn ra trong tất cả
các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, chính trị, quân sự một cách
mạnh mẽ
Cùng với việc ra đời thế hệ máy tính mới mô phỏng hoạt động của bộ não
con người, gọi là máy tính nơron, hệ thống Internet-2 được xây dựng và trong
đầu thế kỷ tới sẽ tạo nên một bộ não khổng lồ bao quát quy mô toàn cầu Theo
dự báo của năm 1998, thị trường máy tính nơron đã vượt quá 2 tỷ USD và mức
tăng trưởng hàng năm đạt khoảng 40%, báo hiệu mở đầu một kỷ nguyên mới
trong công nghệ thông tin Ưu điểm nổi bật của máy tính nơron là có khả năng
tự học, tự tích luỹ tri thức theo chương trình, giống như hoạt động trí tuệ thực sự
của con người Đặc biệt, máy tính nơron có khả năng xử lý các thông tin trừu
tượng, khó hình thức hoá dưới dạng toán học, thậm chí có thể xử lý thông tin
theo kiểu trực cảm là điều máy tính thông thường không thể làm được
Tiếp theo thế hệ máy tính nơron điện tử, máy tính nơron quang tử sẽ ra
đời, trong đó dùng photon thay thế điện tử làm vật mang tin sẽ tạo ra thế hệ
Trang 16mạng thông tin toàn cầu mới, gọi là Internet-3 với những tác động cách mạng
mà đến nay chỉ có thể so sánh được với các chuyện khoa học viễn tưởng
Sự phát triển của Internet cả về công nghệ lẫn phạm vi bao phủ đã tạo ra
vô số những hình thức giao dịch qua mạng máy tính, mà qua đó người ta có thể
tìm kiếm bất cứ thông tin nào mà mình muốn, từ khoa học mũi nhọn đến bản đồ
khí tượng, và kể cả thông cáo báo chí của nhà Trắng nhưng vượt lên trên hết
vẫn là kinh doanh điện tử Năm 1991 mới có 31 nước nối mạng vào Internet, tới
giữa năm 1997 đã có 171 nước; số trang Web vào giữa năm 1993 là 130, tới
cuối năm 1998 đã lên tới 3,69 triệu Số lĩnh vực sử dụng Internet/Web vào giữa
năm 1991 là 1600, tới giữa năm 1997 đã lên 1,3 triệu Giữa năm 1994, toàn thế
giới có 3,2 triệu địa chỉ Internet (chủ yếu ở Mỹ), tới giữa năm 1996 đã lên 12,9
triệu địa chỉ với khoảng 67,5 triệu người sử dụng ở khắp các châu lục, giữa năm
1998 đã có 36,7 triệu địa chỉ Internet với khoảng 100 triệu người sử dụng Theo
dự đoán, số người sử dụng Internet trên toàn cầu năm 1999 là 147 triệu, các site
chính trên mạng sẽ theo hướng hợp nhất, địa vị của Internet sẽ có chuyển biến
lớn và bên cạnh đó giá máy tính cá nhân sẽ giảm - đây chắc chắn là một yếu tố
góp phần làm tăng gia lượng người sử dụng mạng điện tử
2 TMĐT đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu
Những năm gần đây có thể coi là những năm phát triển và diễn ra những
thay đổi vô cùng to lớn của nền thương mại toàn cầu dựa trên Internet TMĐT
đã thực sự trở thành mối quan tâm hàng đầu của chính phủ các nước, các tổ chức
và các doanh nghiệp Doanh số buôn bán thông qua mạng toàn cầu trong năm
1999 đã đạt con số hàng trăm tỷ USD Các nhà kinh tế thế giói dự báo TMĐT
phát triển mạnh trên phạm vi toàn cầu có thể đạt 1500 tỷ trong 3 năm tới TMĐT
là lĩnh vực tương đối mới, thực sự khai diễn cách đây khoảng trên 10 năm và
tương đối thịnh hành ở những nước công nghiệp phát triển Tuy sinh sau đẻ
muộn nhưng là con đẻ của nền văn minh đỉnh cao nên TMĐT đã sớm khẳng
định vị thế bởi sức hấp dẫn và phát triển nhanh về dung lượng, phạm vi và đối
tượng Năm 1997 doanh số TMĐT toàn thế giới mới đạt 18 tỷ USD, năm 1999
dự kiến là 71 tỷ và theo các số liệu dự báo của APEC sẽ đạt 1000 tỷ USD vào
Trang 17năm 2002 ( riêng các nước APEC là 600 tỷ USD) Còn theo đánh giá của các
chuyên gia Mỹ, đến năm 2002 thị trường TMĐT sẽ có thu nhập 300 tỷ USD Và
theo ước tính của IDC, doanh số TMĐT sẽ tăng từ mức 50 tỷ USD của năm
1998 lên đến 1300 tỷ USD vào 2003
Đối với các công ty của Mỹ và Châu Âu, việc kinh doanh điện tử đang
ngày càng phổ biến Công ty tư vấn Ernst and Young của Mỹ cho biết trong năm
2000 các công ty Mỹ có thể bán được hàng từ 45 đến 50 tỷ USD trên mạng
Internet Nghiên cứu qua 1.200 khách hàng mua hàng trên mạng ở Mỹ, trung
bình mỗi khách hàng đã thực hiện 13 đợt mua hàng trên mạng năm 1999 với
khoản chi 1.205 USD so với 280 USD năm 1998 và 4 đợt mua trong năm 1997
với mức chi 230 USD
Theo đánh giá của các chuyên gia, mặc dù TMĐT năm 1999 của Châu Á
- TBD chỉ đạt có 2,8 tỷ USD, tức là chỉ bằng khoảng 7,8% so với con số của Mỹ
nhưng đây vẫn là một khu vực có tiềm năng trên lĩnh vực này Trong tổng giá trị
kim ngạch thương mại điện tử kể trên thì có tới 93,5% là của 3 quốc gia mạnh
nhất là Nhật Bản, Australia và Hàn Quốc, số còn lại (khoảng 180 triệu USD) là
của 10 nước khác Đặc biệt, các chuyên gia của Boston Consulting Group
khẳng định, kim ngạch thương mại điện tử của khu vực Châu Á-TBD sẽ còn tiếp
tục tăng hơn nữa bởi trong thời gian tới đây các khách hàng của khu vực này có
xu hướng sử dụng mạng trực tuyến nhiều hơn Hiện tại, tỷ lệ này mới chỉ khiêm
tốn chiếm 0,1% so với 1,2% của Mỹ
Tại Châu Á có khoảng 39 triệu người tham gia mạng Internet, đang tụt
hậu trong cuộc chạy đua với các nước phát triển Công ty Dữ liệu quốc tế ước
tính mua bán hàng trên mạng ở Châu Á, không kể Nhật Bản, sẽ tăng gấp đôi từ
2,2 tỷ USD năm 1999 lên 5,5 tỷ USD vào cuối năm nay Các chuyên gia cho
biết trong 5 năm tới, số người ở Châu Á truy cập mạng Internet có thể sẽ tương
đương hoặc vượt quá tổng số của Bắc Mỹ và châu Âu cộng lại Dự kiến, Châu á
sẽ thu được 1/4 thu nhập thương mại Internet trên toàn cầu hay 1,4 nghìn tỷ
USD vào năm 2003 Năm 2000 sẽ là năm các công ty thương mại điện tử toàn
cầu đổ bộ vào Châu Á
Trang 18Mạng Internet phát triển nhanh thực sự đang là không gian mới cho hoạt
động kinh doanh và nâng cao hơn nữa ý nghĩa của TMĐT Việc dùng mạng
Internet để giao dịch ngày càng phổ biến, dự đoán năm 2000 sẽ có 250 triệu
người trên thế giới sử dụng các dịch vụ của Internet Đó là do người tiêu dùng
ngày càng quan tâm hơn tới các sản phẩm được bán hàng qua mạng như sách,
báo, tranh ảnh, các CD âm nhạc ví dụ như chỉ tính riêng mùa giáng sinh năm
1998, tổng lượng hàng hoá bán qua Internet đã đạt khoảng 3 tỷ USD, tăng gấp 3
lần so với năm 1997 Người tiêu dùng bắt đầu quan tâm đến cả một số mặt hàng
bị coi là khó bán trên mạng, thậm chí còn có cả dịch vụ may đo quần áo qua
mạng và dịch vụ này đang rất được ưa chuộng Và chính sự phát triển này đã
kéo theo làn sóng TMĐT đang sục sôi dâng trào ở khắp nơi với tốc độ chóng
mặt Theo báo cáo ngành mới nhất thì doanh thu TMĐT toàn cầu sẽ đạt khoảng
95 tỷ USD trong năm nay và sẽ vượt lên 1,3 nghìn tỷ USD Activ Media báo cáo
doanh thu tăng từ 72% lên 150%, dự đoán tỷ lệ này sẽ tăng lên 138% vào 2001
khi những người mua trực tuyến đưa vào Internet để mở rộng chủng loại mặt
hàng dịch vụ
Trong bối cảnh như vậy, không một quốc gia nào có thể tránh khỏi sức lôi
cuốn của nó Cách mạng thông tin điện tử, đặc biệt là mạng Internet đã phủ khắp
hầu hết các nước trên thế giới và phần lớn trong số đó đã tận dụng ngay lợi thế
này cho kinh doanh Deutsche Bank, ngân hàng lớn nhất nước Đức cho rằng,
Internet sẽ ảnh hưởng đến khu vực tài chính nhiều hơn các khu vực khác nên
ngân hàng này đã có kế hoạch đầu tư 1tỷ USD để cải tổ các hoạt động kinh
doanh và hợp tác với các đối tác nhằm khai thác triệt để các cơ hội mới; Ba công
ty dầu mỏ và bốn ngân hàng đầu tư hàng đầu thế giới đang hợp tác để phát triển
giao dịch sản phẩm kim loại và năng lượng trên Internet bắt đầu vào cuối năm
2000 Các công ty máy tính lớn trên thế giới đã không bỏ qua cơ hội cung cấp
hàng loạt phương án toàn diện về ứng dụng TMĐT Xu thế này sẽ kéo theo một
số ngành nghề phát triển mạnh như: vận tải, giao thông, phát thanh truyền hình,
mua bán cổ phiếu, phần mềm và máy tính cá nhân đặc biệt là hình thức mua
hàng trên mạng sẽ phát triển rất nhanh
Trang 19Sự phát triển của TMĐT trên thế giới không chỉ thể hiện ở tốc độ gia tăng
nhanh, mà còn ở các định chế chính sách, pháp luật và các hoạt động trên phạm
vi quốc tế và khu vực Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của TMĐT đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội, các quốc gia, các khối kinh tế và cộng đồng thế
giới đang nhanh chóng xây dựng cho mình chính sách về TMĐT nhằm tạo sự ổn
định về mặt pháp lý, giảm đến tối đa các các rủi ro trong hoạt động TMĐT, ngăn
chặn những hành vi bất hợp pháp gây thiệt hại cho người tiêu dùng, doanh
nghiệp và quốc gia
Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (ULCITRAL) đã
soạn thảo Đạo luật mẫu về TMĐT Tháng 12/1996 Đại Hội Đồng Liên Hợp
Quốc đã ra nghị quyết khuyến nghị các chính phủ, các tổ chức quốc tế cần phổ
biến rộng rãi và áp dụng Đạo Luật Mẫu này
Chương trình Trade Point của UNCTAD( chương trình nhằm giúp các
công ty xuất nhập khẩu nhỏ và vừa ở các nước đang phát triển tham gia nhiều
hơn vào lĩnh vực buôn bán quốc tế) cũng hỗ trợ cho các công ty dần dần gia
nhập vào mạng điện tử toàn cầu
Mỹ cũng đã ấn định các nguyên tắc cơ bản cho TMĐT của mình và kiến
nghị một số điểm cho TMĐT toàn cầu Mới đây, Tổng Thống Mỹ Bill Clinton
đã công bố “nước Mỹ chính thức sử dụng chữ ký điện tử trong giao dịch”, hoàn
thiện thêm khung pháp lý cho TMĐT
Liên Minh Châu Âu(EU) đã xác định các nguyên tắc TMĐT cho tổ chức
này, công ước Brussels năm 1968 về hoạt động thương mại trong khu vực đang
được đề nghị sửa đổi để áp dụng cho cả TMĐT Tháng 12/1997, EU ra tuyên bố
cấp bộ trưởng tại Bonn ủng hộ TMĐT
Năm 1997, APEC thành lập “nhóm công tác chuyên trách về TMĐT” và
năm 1998 thông qua “ chương trình hành độngvề TMĐT của APEC” Hiện nay,
APEC đang xây dựng “chương trình hành động chung” nhằm thực hiện TMĐT
vào năm 2005 đối với các nước phát triển và vào năm 2010 đối với các nước
đang phát triển
Trang 20Bộ trưởng kinh tế các nước trong khối ASEAN đã chính thức đề nghị các
chính phủ chỉ đạo cho bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng triển khai
TMĐT Tiểu ban điều phối về TMĐT được thành lập và đến đầu năm 2000
được sáp nhập với nhóm công tác về hạ tầng cơ sở thông tin để thành lập nhóm
công tác về E - ASEAN Theo dự kiến, các nước ASEAN sẽ tiến hành ký kết
hiệp định E - ASEAN và văn bản về giao dịch điện tử trong tháng 11/2000, hy
vọng tới năm 2003 sẽ có văn bản chính thức về thực hiện TMĐT cho tất cả các
nước thành viên trong khối
Tất cả các nước trên thế giới đã đang rất khẩn trương, tích cực và có nhiều
hoạt động thiết thực để triển khai và phát triển TMĐT Tại các nước phát triển
TMĐT đã chiếm một phần quan trọng trong hoạt động thương mại nói chung
Trong tương lai, TMĐT được coi là một trong những yếu tố quyết định sự
thành công của các quốc gia, các khối kinh tế trong cuộc cạnh tranh quyết liệt
mang tính khu vực hoá và toàn cầu hoá ngày càng sâu sắc TMĐT chính là chìa
khoá để nhân loại bước vào thế kỷ 21 - thế kỷ của xã hội tri thức Và đó không
phải là một hiện tượng nhất thời mà là xu thế tất yếu không thể đảo ngược
II THÁI ĐỘ CỦA MỘT SỐ NƯỚC VÀ KHU VỰC TRÊN THẾ
GIỚI ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1 Đánh giá vai trò của TMĐT đối với nền kinh tế thế giới
TMĐT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế toàn
cầu thế kỷ 21 Giá trị của kinh tế mạng không phải chỉ ở chỗ nó có thể lập tức
tạo ra lợi nhuận và sự giàu có hữu hình cho xã hội, mà còn tạo ra một mô hình
xã hội mới đề cao sức sáng tạo kinh tế của mỗi thành viên xã hội Nó đã làm
thay đổi mạnh mẽ cuộc sống, công việc và cách nghĩ của con người, thúc đẩy
kinh tế phát triển
Nhiều nhà dự báo chiến lược cho rằng, TMĐT sẽ đẩy nhanh hơn tiến độ
toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Vì vậy, TMĐT sẽ giúp các nước đang phát
triển có cơ hội rút ngắn khoảng cách với các nước trên thế giới một cách nhanh
chóng hơn Việc tận dụng được cơ hội mới mà TMĐT mang lại sẽ khẳng định vị
trí kinh tế của quốc gia trong xã hội thông tin
Trang 21Xét trên giác độ kinh doanh, TMĐT được coi là không thể thay thế trong
chiến lược kinh doanh của các nước phát triển và khâủ hiệu của họ là: “hoặc là
TMĐT, hoặc không tồn tại” Vì thế nó đã trở thành thứ vũ khí sắc nhọn mà các
công ty sử dụng trong nền kinh tế cạnh tranh Nhưng xét trên giác độ thuế, tiềm
năng phát triển của hình thức thương mại này sẽ là nguyên nhân làm đau đầu các
cơ quan quản lý thu thuế của mọi quốc gia do tính chất toàn cầu của nó
Ngoài ra, TMĐT còn mở ra cơ hội mới cho các ngân hàng với tư cách là
nhà cung cấp cơ sở hạ tầng, các nhà cung cấp thanh toán điện tử, bảo hiểm thanh
toán, hoạt động giao dịch và các nhà tài chính hỗ trợ Và như vậy, khi TMĐT
phát tiển sẽ càng làm tăng sức cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng
2 Phát triển TMĐT ở Mỹ và một số nước, khu vực trên thế giới
Nhận thức được xu hướng tất yếu của TMĐT, hầu như tất cả các nước
trên thế giới, cả các nước phát triển và đang phát triển đều có sự chuẩn bị để
tham gia vào môi trường này Đi đầu trong cuộc chơi này vẫn là những nước
công nghiệp phát triển, nhất là Mỹ, nhờ có một hạ tầng thông tin tiên tiến, mức
xuất khẩu các sản phẩm tin học lớn nhất thế giới cùng các dịch vụ tin học khác
của Mỹ có mức xuất khẩu hơn 40 tỷ USD, mà việc giao dịch mua bán, sử dụng
các sản phẩm này đều có thể thông qua mạng máy tính
Mỹ là nước tích cực nhất trong việc đưa ra những đề hướng, chính sách,
các hướng giải quyết trong TMĐT Năm 1996, Bộ tài chính Mỹ cho ra mắt cuốn
“Chính sách thuế đối với thương mại toàn cầu”, với mục đích ủng hộ tính trung
hoà về thuế thu nhập, giữa điện tử và phi điện tử Cuốn sách cho rằng việc bảo
đảm tính thống nhất trong TMĐT phải trở thành nhận thức chung trên toàn cầu,
cần làm rõ quyền đánh thuế đối với TMĐT - tránh thuế trùng nhau Đến tháng
7/1997, Mỹ lại công bố “khung kết cấu TMĐT toàn cầu” do chính tổng thống
Mỹ AlGor chỉ đạo nghiên cứu Khung kết cấu này kêu gọi chính phủ các nước
bằng mọi khả năng giúp đỡ các xí nghiệp, công ty ứng dụng thương mại qua
Internet và kiến nghị Internet sẽ là khu vực miễn thuế toàn cầu “khung kết cấu
TMĐT toàn cầu” gồm 5 nguyên tắc cơ bản: Xí nghiệp tư nhân cần giữ vai trò
chủ đạo; Hạn chế những yêu cầu không cần thiết của chính phủ đối với TMĐT;
Trang 22Chính phủ tham gia TMĐT chỉ là để cung cấp một môi trường luật pháp thương
mại hợp lý và ngắn gọn; Chính phủ phải thừa nhận tính độc đáo riêng của
Internet; Thúc đẩy TMĐT trên cơ sở toàn cầu Ngoài ra, khung kết cấu còn bàn
đến vấn đề thuế thương mại trong lĩnh vực TMĐT, hệ thống trả tiền điện tử, kỹ
thuật thông tin, kết cấu cơ sở điện tín , đưa ra những cơ sở thống nhất về pháp
lý thương mại, bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ, bả vệ quyền bí mật riêng tư
của cá nhân trên mạng, sự an ninh của mạng Trước tiềm lực to lớn của TMĐT,
mọi người đều thừa nhận rằng việc hình thành một khung kết cấu mang tính
toàn cầu như trên nhằm đảm bảo sự phát triển không ngừng của TMĐT là điều
hết sức cần thiết
Ngày14/5/1998, Uỷ ban thương mại Thượng nghị viện Mỹ đã thông qua
các dự luật miễn thuế cho Internet tạo điều kiện phát triển tự do hoá cho các xí
nghiệp, công ty trên toàn nước Mỹ Ngày 20/5, Mỹ lại hối thúc các Bộ trưởng
132 nước thành viên trong Tổ chức buôn bán thế giới, nhất trí thông qua hiệp
định miễn thuế ít nhất 1năm đối với các công ty, tổ chức có giao dịch quốc tế
thông qua Internet, điều này giúp cho mọi cơ sở kinh doanh sản xuất đều có thể
vượt “không gian không có biên giới địa lý” để chiếm lĩnh thị trường nước
ngoài
Tuy nhiên, Mỹ vẫn phải nghiên cứu và giải quyết những vấn đề có liên
quan đến TMĐT do các nhân tố không xác định của TMĐT như pháp luật
không kiện toàn, sự kiểm soát về thuế quá mức của chính phủ, tính an toàn của
Internet đều sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển của hoạt động TMĐT
trên mạng
Bên cạnh Mỹ là Canada cũng đang bừng bừng tham vọng trở thành nước
lãnh đạo về TMĐT với dự tính sẽ đạt mức giao dịch TMĐT trong nước trên 13
tỷ USD vào trước 2002 Chính sách TMĐT của Canada có bốn trọng điểm lớn:
Hình thành một nhận thức mới trong toàn dân, rằng nhất thiết phải dựa
vào nền kinh tế số để phát triển;
Định ra những quy tắc thị trường rõ ràng và đúng đắn;
Trang 23Nâng cao khả năng thu nạp giao dịch trên mạng của xa lộ thông tin cao
tốc;
Khuyến khích và trợ giúp các tầng lớp xã hội nắm bắt và thực hiện mọi cơ
hội buôn bán trên mạng
Đối với liên minh Châu Âu EU, nhờ có hệ thống cơ sở kỹ thuật vững
vàng, hệ thống viễn thông hiện đại nên đã đạt được khá nhiều thành tựu trong
việc phát triển của TMĐT Hiện nay ngoài mạng Internet, các nước EU đã ứng
dụng TMĐT trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Để TMĐT tiếp tục phát triển,
EU cũng rất chú trọng đưa ra những hướng chiến lược cụ thể Trước hết là đưa
ra những cơ sở pháp lý cho hình thức kinh doanh mới mẻ mà hiệu quả này Tuy
còn những bất đồng giữa các nước thành viên nhưng từ năm 1996, cơ quan điều
hành EU đã thông qua những biện pháp, những công nhận chung về luật pháp
giữa các nước này, đồng thời đưa ra cơ chế pháp lý toàn Châu Âu về điều tiết
TMĐT Nỗ lực chung của các nước Châu Âu trong lĩnh vực TMĐT còn thể hiện
ở việc tự do hoá thị trường viễn thông từ 1/1/98, các thị trườngviễn thông Châu
Âu đã hoàn toàn mở cửa cho cạnh tranh và trong giai đoạn đầu của cuộc cạnh
tranh này các nhà hoạt động viễn thông cả cũ và mới này đều được giảm thuế
cho các hoạt động trong lĩnh vực viễn thông Dự kiến trong giai đoạn 1998 -
2000, EU sẽ chi phí khoảng 4000 triệu ECU cho việc hình thành một cộng đồng
thông tin mà hạt nhân là TMĐT
Để góp phần tham gia vào việc thúc đẩy quá trình phát triển và giải quyết
những vấn đề của TMĐT, những năm gần đây, tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế OECD đã tổ chức một loạt các hội nghị có liên qua đến TMĐT nhằm
thảo luận về các vấn đề trong xã hội thông tin, mạng Internet, chế độ bảo vệ
thông tin và quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn kỹ thuật của TMĐT Tại hội nghị
TMĐT cấp bộ trưởng mang chủ đề “một thế giới không biên giới quốc gia cho
TMĐT toàn cầu” (5/1997), Bộ trưởng của 26 nước thành viên OECD cùng các
đại diện của tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp đều thống nhất quan điểm : cần
đưa ra những tiêu chuẩn kỹ thuật và những chính sách hợp lý để nâng cao hơn
nữa lòng tin của giới thương mại xã hội đối với TMĐT, định ra những tiêu
Trang 24chuẩn giao dịch chung trên phạm vi toàn cầu để bảo vệ lợi ích cho người tiêu
dùng Từ ngày 7 đến 9/10/1998, đã diễn ra Hội nghị “thị trường điện tử toàn
cầu” tại Canada Hội nghị này là một mốc đánh dấu những cố gắng to lớn mà
các nước thành viên OECD đã thực hiện để phát huy hiệu quả, lợi ích kinh tế xã
hội của TMĐT Bên cạnh đó, OECD còn đưa ra hàng loạt các khuyến nghị
chính sách liên quan đến chính sách thuế như nâng cao hiệu quả và đơn giản hoá
hệ thống thu thuế giao dịch điện tử, xác lập những giới hạn cụ thể về quyền hạn
và nghĩa vụ thuế đối với hoạt động TMĐT qua Internet
Ngoài những nước, tổ chức và khu vực kể trên, TMĐT đã bắt đầu hình
thành và phát triển ở một số nước và khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc, tổ
chức APEC, ASEAN và các nước thành viên, Austraylia
Sự phát triển của nền kinh tế Internet ở châu Á còn gặp nhiều thách thức
Trước hết là có những khoảng cách lớn trong quá trình phát triển ngành công
nghiệp thông tin, ngành quan trọng đối với nền kinh tế Internet Tại Singapore
và Hàn Quốc, 40% dân số đã hòa mạng máy tính tư nhân, nhưng tại ấn Độ và
Indonesia, tỷ lệ này dưới 2% Có những hàng rào khác đang cản trở sự phát triển
của nền kinh tế Internet ở Châu Á Rất ít người Châu Á có thẻ tín dụng và họ có
thói quen thích mua hàng trực tiếp Các ngân hàng của châu Á cũng không tin
tưởng vào các cuộc giao dịch trên mạng
Nhận thấy sự cấp bách phải tham gia Internet, các nước Châu Á đang cố
gắng đuổi kịp trong cuộc chạy đua này Nền kinh tế Hàn Quốc sẽ trải quả những
thay đổi mạnh mẽ trong năm nay để thích nghi với Internet và công nghệ thông
tin Tổng thống Hàn Quốc Kim Dea Jung cho biết năm 2000 sẽ trở thành một
năm quan trọng đối với sự phát triển của một xã hội kiến thức và thông tin Ông
nói năm nay Chính phủ Hàn Quốc sẽ dành 1.000 tỷ Won (879,2 triệu USD) để
giúp tạo ra 5.000 công ty liên doanh trên máy tính, tạo thêm được hơn 100.000
việc làm Trong 5 năm tới, việc trao đổi thông tin qua máy tính sẽ tăng với tốc
độ nhanh hơn 100 lần so với hiện nay
Các nhà lãnh đạo ASEAN họp ở Manlila, Philippines tháng 11/1999 đã
thỏa thuận khuyến khích việc hợp tác về kỹ thuật công nghệ thông tin và thương
Trang 25mại điện tử Các nhà lãnh đạo ASEAN đã thảo luận với các đại diện của khu vực
công nghệ thông tin về sự phát triển cơ sở hạ tầng của ngành thông tin trong khu
vực Để khuyến khích hoạt động kinh doanh điện tử, chính phủ Philippines đang
xem xét khả năng thành lập một khu vực đặc biệt cho các công ty chuyên về
kinh doanh điện tử để cho phép họ sử dụng điện thoại quốc tế cạnh tranh
III NHỮNG THÀNH CÔNG VÀ NHỮNG THẤT BẠI BAN ĐẦU
TRONG VIỆC ỨNG DỤNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1 Những lợi ích mà TMĐT đem lại cho nền kinh tế Mỹ
Mỹ là nước có vị trí hàng đầu và đã thu được hiệu quả rất lớn nhờ cuộc
cách mạng tin học mà nổi bật là nền kinh tế mạng Các xí nghiệp, công ty sử
dụng hệ thống máy tính tổng hợp để sản xuất và thực hiện chế độ quản lý theo
“hệ thống tham dự và liên hệ với nhau” Nền kinh tế Mỹ phát triển chủ yếu
không biểu hiện ở việc tăng số lượng mà phần lớn phản ánh sự nâng cao nhanh
chóng chất lượng và hiệu quả Từ đầu năm1980 đến nay, việc nâng cao chất
lượng hàng hoá và dịch vụ của Mỹ tương đương với 50% tốc độ tăng trưởng
GDP, một thành tựu trước đây không ai dám mơ ước Từ 1990 đến nay, năng
suất lao động ở Mỹ tăng trung bình 2,5% hàng năm Tỷ lệ lạm phát giảm từ hai
con số đầu thập kỷ 80 xuống còn chưa đầy 3% những năm đầu thập kỷ 90
Kỹ thuật tin học, đặc biệt là Internet đã dần thu hẹp khoảng cách chênh
lệch về thời gian và không gian trong và ngoài nước tạo điều kiện thuận lợi cho
sự lưu thông các nhân tố kinh tế như hàng hoá, dịch vụ, nguồn vốn và nguồn tri
thức trong phạm vi toàn cầu, khiến ngày càng nhiều công ty, xí nghiệp Mỹ tham
gia vào kinh doanh toàn cầu 10 năm trước đây, số xí nghiệp Mỹ kinh doanh trên
phạm vi toàn cầu chỉ chiếm 20% trong số các xí nghiệp của Mỹ, nhưng hiện nay
con số này đã vượt quá 60% Năm 1999 số người Mỹ mua hàng trên mạng là 39
triệu người, tăng gấp đôi so với 17 triệu người năm 1998 Đã có 34% số hộ gia
đình người Mỹ nối mạng Internet và 17% số hộ đã mua bán hàng qua mạng
Theo Công ty dịch vụ thông tin toàn cầu Yankee Group, hiện nay ở Mỹ có 23%
số công ty "thị trường trung gian" có trang Web kinh doanh điện tử trên mạng
Internet, có 38% công ty lớn có trang Web kinh doanh điện tử trên mạng Những
Trang 26công ty xếp loại công ty" thị trường trung gian" là những công ty có hơn 500
nhân viên,thu nhập từ 100 triệu đến 1 tỷ USD Ước tính ở Mỹ hiện có khoảng
12.000 công ty "thị trường trung gian"
Từ 1992, Mỹ đã lần lượt giành lại được địa vị là nước xuất khẩu lớn nhất
thế giới và có sức cạnh tranh mạnh nhất thế giới từ tay Đức và Nhật Bản Kim
ngạch xuất khẩu của Mỹ năm 1990 tăng gấp đôi so với năm 1980 và dự kiến
năm 2000 sẽ tăng gấp 4 lần năm 1990 Thời kỳ phồn vinh của nền kinh tế Mỹ
ngày càng kéo dài Từ 1954 đến 1982, Mỹ có 36 chu kỳ ngắn, bình quân mỗi
chu kỳ kéo dài 48 tháng trong đó thời kỳ phồn vinh kéo dài 29 tháng Nhưng từ
đầu 1980, Mỹ có hai chu kỳ bình quân kéo dài 100 tháng trong đó thời gian
phồn vinh kéo dài 92 tháng Và hiện nay, thời kỳ phồn vinh của nền kinh tế Mỹ
đã vượt xa mọi kỷ lục: hơn 110 tháng mà chưa có dấu hiệu suy thoái
Năm 1991, máy tính cá nhân mới bắt đầu thâm nhập các gia đình Mỹ,
nhưng đến cuối thập kỷ, máy tính đã phổ cập hầu hết các gia đình, biến các công
ty phần mềm như Microsoft và Intel trở thành những người khổng lồ trong nền
kinh tế mới Mạng Internet và TMĐT đã trở nên thông dụng đối với các công ty
Mỹ, đem lại cho các nhà cung cấp dịch vụ Internet như AOL và Amazon những
hợp đông kinh doanh bạc tỷ Một nghiên cứu của Công ty Cisco Systems và
trường Đại học Texas công bố tháng 6/1999 cho biết, mạng Internet đã đem lại
cho nước Mỹ 300 tỷ USD thu nhập và 1,2 triệu việc làm Trong bốn năm tính
đến năm 1999, thu nhập về Internet đã tăng 174,5% Dịch vụ thương mại trên
mạng phát triển nhanh hơn mọi dự đoán và có thu nhập vượt ngưỡng 102 tỷ
USD trong năm 1998, gần bằng GDP của Thụy Sĩ
2 Những thành tựu mà nền kinh tế thế giới đạt được trong ứng dụng
TMĐT
Theo thông tin từ công ty Dữ liệu Quốc Tế IDC, tính đến nay hoạt động
kinh doanh trên mạng Internet đã tạo việc làm cho hơn 2,5 triệu lao động trên
toàn thế giới, doanh thu từ Internet trong năm 1999 tăng 74% so với năm 1998
Ước tính, hiện có hơn 50000 công ty có nguồn thu chủ yếu là từ các hoạt động
Trang 27liên quan đến Internet Dự báo tới năm 2001, doanh thu từ các dịch vụ trực
tuyến toàn cầu sẽ đạt trên 1000 tỷ USD
Với sự tài trợ của tập đoàn Systems Cisco , các nhà nghiên cứu đã làm
việc với hơn 3000 công ty thương mại hàng hoá và dịch vụ trực tuyến để tìm
kiếm những thành tựu kinh doanh mà các công ty này gặt hái được trong năm
1998 Chỉ riêng thương mại “truyền thống” trên mạng Internet đã mang lại hơn
1 tỷ USD, chẳng hạn như số hàng bán về sách, đĩa CD và đồ chơi của các nhà
hàng bán lẻ như Amazon.com, Bamsandnobles.com và E.Toy Những đại lý môi
giới trung gian như các đại lý du lịch và các đại lý chứng khoán trực tuyến cũng
đã kiếm được khoảng 58 tỷ USD
Tuy nhiên, gần một nửa tổng thu nhập của mạng Internet có được là nhờ
số hàng bán phần cứng và phần mềm cần thiết đối với việc buôn bán điện tử và
xây dựng hạ tầng cơ sở Internet mang lại
Sự tăng trưởng với tốc độ cao về tiềm năng kinh tế của mạng Internet đã
làm cho các nhà nghiên cứu hết sức lúng túng trong ba năm qua, cứ sau mỗi
năm một, thu nhập tạo ra trên mạng Internet lại được tăng gấp đôi và hiện chưa
thấy có dấu hiệu chững lại
Khi mạng Internet mang lại cho mỗi công ty sử dụng mạng khả năng tiềm
tàng biến mạng này thành thành cơ sở công bố riêng của mình, thì cũng chính là
lúc nó giúp cho các nhà kinh doanh giảm được nhiều chi phí trong việc xây
dựng các cửa hàng và tạo ra được một cơ sở khách hàng ở cấp độ toàn cầu
3 Những thất bại ban đầu trong việc ứng dụng TMĐT
Đối với nhiều công ty TMĐT, vinh quang và sự giàu có đã không đến với
họ Thay vào đó, họ phải đối mặt với sự khan hiếm tiền mặt và hụt giá cổ phiếu
và điều quan trọng là không hề kiếm được lợi nhuận
Vài tháng trước đây, được làm việc cho một công ty “ dot.com”, hay công
ty qua mạng là rất tuyệt Rất nhiều nhà đầu tư đã đổ tiền vào các công ty
dot-com Nhưng giờ đây “cơn sốt vàng” đã qua đi Sẽ chỉ còn những công ty nào
thật vững mới tồn tại được
Trang 28Ở Châu âu, công ty tư vấn Internet Framtidsfabriken AB (một thời là ví
dụ cho sự thành công của Thụy Điển), sẽ phải cắt giảm 340 người lao động để
tiết kiệm tiền Tại Anh, nhà cung cấp dịch vụ Internet hàng đầu - công ty
Freeserve - đang trong quá trình thảo luận để thay đổi chủ Công ty bán lẻ quần
áo trên mạng của Anh Boo.com cũng đã sụp đổ trong 5 tháng vừa qua vì các
khoản chi phí khổng lồ vượt quá khoản thu từ khách hàng Tại Đức, công ty dịch
vụ Internet Gigabell là công ty đầu tiên trong chuỗi công ty Neuer Markt đã lâm
vào tình trạng không trả được nợ hồi tháng 9 vừa qua, sau 3 năm hoạt động Các
nhà phân tích cho rằng Neurer Markt sẽ thành công trong tương lai, song với
quy mô nhỏ hơn trước, làm cho 8000 công nhân bị thất nghiệp (kể từ tháng
1/2000)
Cũng trong tình cảnh như vậy, hàng loạt công ty dot-com của Mỹ đang
chết dần Theo nghiên cứu vừa công bố của Webmerger.com (một công ty
nghiên cứu và cung cấp dịch vụ Internet ở San Francisco) thì ít nhất 130 công ty
dot-com đã đóng cửa kể từ tháng 1/2000 và nhịp độ này đang tăng lên Chỉ riêng
trong hai tuần đầu tháng 11, 21 công ty dot-com đã phải đóng cửa, so với 22
công ty đóng cửa trong cả tháng 10 và là con số lớn nhất nói lên sự thất bại của
các công ty dot-com cho tới nay Các trang Web TMĐT như Furniture.com và
Joysmart.com chiếm tới 60% tổng số các công ty Internet phải đóng cửa Các
công ty B2B chiếm khoảng 20%, trong nhóm này các công ty cung cấp nội dung
trang Web như APB news.com chiếm 1/4 Số các công ty dot-com làm ăn thua
lỗ đã tăng lên nhanh chóng từ tháng 4/2000, khi nhu cầu thị trường liên quan
đến Internet bắt đầu suy giảm Trước thời điểm này, các công ty Internet đạt đến
thời cực thịnh về vốn đầu tư và các kỷ lục bán hàng Giá cổ phiếu của nhiều
công ty dot-com tăng lên đến gần 100USD trước khi thị trường tụt dốc Hiện
nay, nhiều cổ phiếu tụt giá chỉ còn ở mức một con số
Hơn 60 công ty đã phải giảm bớt nhân viên Các công ty thông tin nội
dung Web và các nhà bán lẻ trực tuyến như Oxygen Media, Amazon.com và
AllAdvantage.com chiếm một phần lớn trong lĩnh vực này, đẩy số nhân viên bị
sa thải lên mức kỷ lục 5677 người vào tháng 10/2000 Các nhà phân tích cho
Trang 29rằng số công ty Internet phá sản trong thực tế còn cao hơn nhiều so với con số
đã thống kê vì trong số này có nhiều công ty Internet nhỏ ít người quan tâm
Theo số liệu thống kê của Webmerger.com, California là nơi có nhiều công ty
dot-com đóng cửa nhất, chiếm 35%, tiếp theo là New York tới 11% Các công ty
Châu Âu chiếm 8% trong tổng số công ty Internet bị phá sản
Về nguyên nhân người ta cho rằng, cái gọi là “nền kinh tế mới” đang phải
chịu quy định của những luật đầu tư kiểu cũ đang trong quá trình đổi mới, các
công ty kinh doanh điện tử đơn giản là gặt hái những gì mà họ đã gieo qua việc
chen lấn trên thị trường và ra mắt công chúng quá sớm trước khi họ chứng tỏ
được mô hình kinh doanh của mình, các nhà đầu tư chạy đua để đổi lấy lợi
nhuận tiềm năng sẽ phải chấp nhận rủi ro cao cho đến khi nào thị trường có thể
đánh giá được các tiêu chuẩn giá trị Trong quá trình đó, những công ty yếu
kém, ít may mắn sẽ bị xoá bỏ Mặt khác, các công ty luôn đặt ra và thổi phồng
những mục tiêu vượt quá khả năng của họ Tốc độ cất cánh quá phi thường của
Internet cũng làm cho mọi người choáng váng về một viễn cảnh hứa hẹn Nhưng
chính tốc độ sụp đổ của các công ty cũng làm mọi người choáng váng bởi chưa
quen với thị trường không bền vững như vậy Vì thế các công ty đặc biệt là các
công ty dot-com cần phải học cách đối phó với thị trường ấy
Theo các chuyên gia, phải đến giữa sang năm cuộc khủng hoảng của các
công ty dot-com mới chấm dứt Khi đó, những công ty sống được là công ty có
hình mẫu kinh doanh tốt, nguồn vốn dồi dào Đó cũng sẽ là các mục tiêu đáng
tiền nhất
Trang 30CHƯƠNG III THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
I THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ - NHỮNG BƯỚC ĐI BAN ĐẦU
Để tiếp cận với TMĐT cần phải trải qua ba bước Đó là chuẩn bị, chấp
nhận và ứng dụng Chuẩn bị ở đây là một loạt các hoạt động từ nâng cao nhận
thức, trình độ kiến thức và xác minh mức độ cần thiết của TMĐT, và quyết định
tiếp cận với nó cho đến việc hoạch định những chỗ cần phải thay đổi cho thích
ứng trên mọi bình diện Quá trình này được kéo dài cho đến khi xây dựng được
một cơ sở hạ tầng ổn định cần thiết Chấp nhận là việc thừa nhận tính pháp lý
của TMĐT sau khi đã có hệ thống luật thích ứng và phù hợp cùng với một môi
trường thuận lợi Cuối cùng, ứng dụng có nghĩa là từng bước áp dụng TMĐT
vào mọi hoạt động trong mọi lĩnh vực, bắt đầu từng phần cho tới khi hoàn thiện
Theo đánh giá của các cơ quan hữu quan, hiện nay Việt Nam đang tiến
hành giai đoạn đầu tiên của bước thứ nhất Một số cuộc hội thảo về TMQT đã
được tổ chức và một số các chương trình hợp tác nghiên cứu cũng được thực
hiện nhằm nâng cao và mở mang kiến thức về TMĐT Cùng với xu thế chung,
Việt Nam đã cùng APEC và ASEAN tiến hành nhiều cuộc thảo luận lập kế
hoạch liên quan dến TMĐT Và dự án về thành lập Hội đồng quốc gia về TMĐT
và một chương trình hành động quốc gia sơ bộ đã được đệ trình để Chính phủ
xem xét Trên cơ sở đó, nhiều công ty đã bắt đầu tiến hành song vẫn mang tính
chất thử nghiệm
Nếu như năm 1998 cả nước mới có khoảng 12000 thuê bao thì đến hết
1999, con số này là gần 50000 người Mức độ tăng trưởng bình quân lên đến
300%/năm Như vậy quả là rất cao nhưng tính theo con số tuyệt đối thì hiện nay
lượng người sử dụng còn rất nhỏ Theo thống kê sơ bộ của công ty VCC mới chỉ
có khoảng 1000 đến 2000 trang Web có tính thương mại (của các doanh
nghiệp), khoảng từ 50 đến 100 trang Web của các tổ chức xã hội Trên thực tế
chỉ có trên 500 trang Web có tên miền riêng và trong số đó chỉ có ba trang Web
được coi là có hoạt động thương mại thực sự, đó là Cybermail của VNN,
Trang 31Bluesky của siêu thị điện tử máy tính Hà Nội, và thế giới sách của Fahasa TP
Hồ Chí Minh Thời gian đầu, ngay khi nối mạng Internet, đã có hàng nghìn
người truy cập vào trang Web của các siêu thị đó, nhưng rồi thưa dần và đến nay
thì đã vắng hoe
Tuy nhiên, việc khai thác TMĐT của các doanh nghiệp mới chỉ dừng ở
cấp độ sử dụng thư điện tử (e-mail) để trao đổi thông tin, truy cập Internet để
tìm thông tin, xây dựng trang Web để quảng cáo sản phẩm dịch vụ chứ chưa có
mấy doanh nghiệp tiến hành được các giao dịch trực tuyến theo đúng nghĩa của
TMĐT là đặt hàng và thanh toán qua mạng
Siêu thị điện tử đầu tiên do công ty phát triển phần VASC mở ra vào
tháng 12/1998 đã đánh dấu bước phát triển đầu tiên của TMĐT ở Việt Nam
Thông qua website của siêu thị này, người tiêu dùng có thể mua bất cứ loại mặt
hàng gì qua mạng từ cây kim tới chiếc xe hơi Tuy nhiên do còn quá mới nên kết
quả là doanh số mua bán qua mạng là không cao và việc mua bán mới chỉ là
hình thức bởi người bán vẫn phải mang hàng đến nhà thì người mua mới thanh
toán tiền Ngay cả siêu thị máy tính Bluesky ở Hà Nội, được coi là có hoạt động
thương mại thực sự, tỷ lệ giao dịch qua mạng cũng chỉ chiếm khoảng 2 - 5%
trên tổng doang thu của siêu thị Trung bình mỗi tháng có khoảng 20-25 đơn đặt
hàng qua mạng song vẫn tiến hành thanh toán theo phương thức thông thường
tức là trả bằng tiền mặt và kèm thêm chứng từ trên giấy
Những nguyên nhân cản trở phát triển TMĐT ở Việt Nam đã được nói
đến nhiều nhưng nổi bật nhất là giá cước truy cập Internet còn quá cao so với
thu nhập của người dân Bản thân các dịch vụ Internet còn hạn chế Người ta
chủ yếu dùng Internet để gửi thư điện tử, truy cập trang Web, dịch vụ nhóm tin,
trò chuyện trên mạng và tìm tập tin , một số các dịch vụ mới trên Internet có
thể tiết kiệm nhiều chi phí cho doanh nghiệp như điện thoại qua Internet, fax qua
Internet, mạng riêng ảo cho doanh nghiệp cho đến nay vẫn chưa được phép sử
dụng ở Việt Nam
Ngoài ra, còn có ý kiến cho rằng, TMĐT chưa phát triển mạnh là do việc
sử dụng thẻ tín dụng chưa phổ biến ở Việt Nam, trong khi nhiều người Việt