1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ thương mại QUẢN LÝ CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI MỨC ĐỘ TUÂN THỦ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

120 546 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 416,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình tham gia vào hoạt động XK, NK, đa phần doanh nghiệp tuân thủ tốt PLHQ, tuy vậy, vẫn còn một bộ phận doanhnghiệp, do những lệch lạc trong cách thức đạt đến lợi ích kinh tế

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu trong Luận văn này là chính xác và có nguồn gốc rõ ràng.Bản luận văn “QUẢN LÝ CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI MỨC

ĐỘ TUÂN THỦ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU,NHẬP KHẨU” là đề tài nghiên cứu của bản thân, chưa được ai công bố trong bất kìcông trình nào khác

Học viên

Phạm Thanh Hương

i

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3.Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5.Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục của luận văn 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN ĐỐI VỚI MỨC ĐỘ TUÂN THỦ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 4

1.1 Một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về kinh tế 4

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế 4

1.1.2 Công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế 4

1.2 Tổng quan về quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK 7

1.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp hoạt động XK, NK 7

1.2.2 Tổng quan về mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK 12

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK: 17

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI MỨC ĐỘ TUÂN THỦ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 35

2.1 Giới thiệu chung về Tổng cục Hải quan Việt Nam 35

ii

Trang 3

2.1.1 Cơ cấu tổ chức 35 2.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn 36

2.2 Thực trạng công tác quản lý của Tổng cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK 37

2.2.1 Thực trạng tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK 37

2.2.3 Thực trạng công tác quản lý của Tổng cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK 49

2.2.4 Thực trạng về tổ chức, bộ máy thực hiện đo lường, đánh giá tuân thủ tại Tổng cục Hải quan 59

2.3 Nhận xét về công tác quản lý của Tổng cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK 61

2.3.1 Một số kết quả đã đạt được 61 2.3.2 Hạn chế tồn tại và nguyên nhân của hạn chế còn tồn tại 62

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN

LÝ CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI MỨC ĐỘ TUÂN THỦ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 65 3.1 Định hướng phát triển và hoạt động của Tổng cục hải quan trong thời gian tới 65

3.1.1 Những thay đổi trong môi trường hoạt động hải quan trong thời gian tới 65 3.1.2 Định hướng phát triển và hoạt động của Tổng cục hải quan trong thời gian tới 67

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý của Tổng cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ doanh nghiệp hoạt động XK, NK 69

3.2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý, quy trình nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công tác quản lý mức độ tuân thủ doanh nghiệp hoạt động XK, NK 69 3.2.2 Phát triển, hoàn thiện các phương pháp, kỹ thuật nghiệp vụ nhằm nâng tầm công tác quản lý mức độ tuân thủ doanh nghiệp hoạt động XK, NK 73

iii

Trang 4

3.2.3 Phát triển hệ thống thông tin hỗ trợ đầy đủ, kịp thời thông tin dữ liệu cho công tác quản lý mức độ tuân thủ doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK 82 3.2.4 Tăng cường công tác phối hợp giữa các đơn vị trong ngành và ngoài ngành trong việc thực hiện đo lường, đánh giá tuân thủ doanh nghiệp xuất nhập khẩu .85 3.2.5 Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao kiến thức, kinh nghiệm quản lý mức

độ tuân thủ doanh nghiệp hoạt động XK, NK của cán bộ, công chức hải quan .87

KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

iv

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Tran g

2 Biểu 2.1 Tình hình vi phạm pháp luật Hải quan

3 Biểu 2.2 Cơ cấu vi phạm theo tuyến địa bàn

4 Bảng 2.1 Số liệu vụ việc vi phạm theo tuyến địa bàn

hoạt động hải quan giai đoạn 2006-2013 48

5 Bảng 3.1 Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam

v

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 AAT Công cụ hoạt động tài chính

3 BOT Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao

5 BTO Xây dựng – Chuyển giao – Vận hành

6 CAPPS Hệ thống hồ sơ cảng tự động hóa Hải quan

9 CIS Hệ thống thông tin tình báo

14 ICMP Chương trình theo dõi tuân thủ nhà nhập khẩu

15 KTSTQ Kiểm tra sau thông quan

16 NACCS Hệ thống thông quan

Trang 7

24 TT&TKHQ Thông tin và thống kê Hải quan

Trang 8

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết

Những năm qua mặc dù kinh tế, tài chính thế giới đang trong tình trạngkhủng hoảng, chì trệ nghiêm trọng, nhưng với đường lối, chính sách đúng đắn củaĐảng và Nhà nước ta, nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục được duy trì phát triển ởmức từ 5 – 6%, lạm phát được kiểm soát, bình ổn

Cùng với sự phát triển về kinh tế, trong những năm qua, cộng đồng doanhnghiệp ở Việt Nam đã có những bước phát triển cả về số lượng và chất lượng Năm

2001, số lượng doanh nghiệp đăng ký chính thức hoạt động theo Luật doanh nghiệp

ở nước ta có khoảng 50.000, thì đến năm 2010, số lượng doanh nghiệp đã tăng lêngấp hơn hai lần, trên 100.000 Cùng với đó, trên toàn quốc hiện có trên 2600 vănphòng đại điện và chi nhánh các doanh nghiệp nước ngoài; hàng ngàn tổ chức khoahọc kỹ thuật và trên 1 triệu hộ gia đình kinh doanh cá thể, trang trại

Trên lĩnh vực hoạt động XK, NK, theo số liệu của ngành Hải quan, năm 2002

cả nước có 15.486 doanh nghiệp tham gia hoạt động XK, NK, năm 2012 số lượngdoanh nghiệp tham gia hoạt động này là 48.678, tăng gấp hơn 3 lần so với năm

2002, riêng năm 2013, số lượng doanh nghiệp hoạt động đã tăng hơn nữa với50.686 (số liệu tính đến tháng 10/2013)

Doanh nghiệp hoạt động XK, NK là một bộ phận cấu thành quan trọng trongmôi trường hoạt động hải quan Trong quá trình tham gia vào hoạt động XK, NK,

đa phần doanh nghiệp tuân thủ tốt PLHQ, tuy vậy, vẫn còn một bộ phận doanhnghiệp, do những lệch lạc trong cách thức đạt đến lợi ích kinh tế hoặc giành lợi thếtrong việc cạnh tranh đã lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống pháp luật về hải quan,trong thực thi quản lý nhà nước về hải quan để thực hiện các hành vi buôn lậu, vậnchuyển hàng cấm, trốn thuế, buôn bán, vận chuyển ma túy, hàng giả, vi phạm sởhữu trí tuệ… Những hành vi này đã làm phương hại đến đường lối, chính sách củaĐảng, pháp luật của nhà nước về hải quan Theo số liệu thống kê của ngành Hảiquan, trong năm 2013 (tính đến tháng 10/2013), cả nước có gần 4.000 doanh nghiệp

vi phạm pháp luật hải quan (chiếm gần 8% trên tổng số 50.686 doanh nghiệp hoạtđộng XNK), với tổng số 8.501 vụ, xử phạt và thu nộp ngân sách trên 361 tỷ đồng

Trang 9

Để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu quản lý hải quan, quản lý thuế đối với hànghóa XK, NK, thời gian qua TCHQ cũng như toàn ngành đã thực hiện quản lý mức

độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK theo các phươngpháp khá đa dạng, như: đánh giá doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan, chấphành tốt pháp luật thuế, đánh giá rủi ro doanh nghiệp, đánh giá công nhận doanhnghiệp ưu tiên… Trong tiến trình cải cách hiện đại hóa hải quan, nhằm đạt tớiphương thức quản lý hải quan hiện đại dựa trên nền tảng áp dụng quản lí rủi ro và tựđộng hóa, thì việc quản lí mức độ tuân thủ của doanh nghiệp hoạt động XK, NK ngàycàng trở lên quan trọng và có tính xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động nghiệp vụ củangành Hải quan

Tuy vậy, từ thực tiễn công tác quản lý của TCHQ cho thấy công tác quản límức độ tuân doanh nghiệp vẫn còn là một lĩnh vực khá mới cả về lý luận cũng nhưkinh nghiệm thực tiễn Việc tổ chức quản lý này còn ở mức độ đơn giản, thiếu tínhđồng bộ và thống nhất, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu quản lý của ngành Hải quan

Xuất phát từ những trình bày ở trên, cho thấy rằng việc lựa chọn vấn đề “Quản lí của Tổng cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu” làm đề tài luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài làm rõ nhận thức lý luận về quản lí đối với mức độ tuân thủ doanhnghiệp trong hoạt động XK, NK và thực trạng công tác quản lí đối với mức độ tuânthủ doanh nghiệp hoạt động XK, NK tại TCHQ hiện nay; đưa ra dự báo các yếu

tố tác động có liên quan, qua đó xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượngcông tác này

3.Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu, phân tích các vấn

đề lý luận, thực tiễn về công tác quản lí mức độ tuân thủ doanh nghiệp hoạt động

XK, NK; khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lí mức độ tuân thủ doanhnghiệp hoạt động XK, NK tại TCHQ; nghiên cứu dự báo và xây dựng giải phápnâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này

Trang 10

4 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lí luận và thực tiễn của doanh nghiệp hoạt động XK, NK vàcông tác quản lí của Tổng cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ đối với doanhnghiệp hoạt động XK, NK; thời gian từ năm 2006 đến tháng 6/2013

5.Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiêncứu dữ liệu thứ cấp (với nguồn dữ liệu, thông tin được tác giả thu thập từ số liệuthống kê của các cơ quan quản lí, website, tạp chí…); phương pháp tổng hợp cácphân tích; phương pháp kết hợp nghiên cứu lí luận với khảo sát thực tiễn, phươngpháo thống kê so sánh; lấy ý kiến chuyên gia và các phương pháp khác

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được bố cục gồm 03 Chương:

+ Chương 1 Tổng quan quản lí nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân

thủ của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

+ Chương 2 Thực trạng công tác quản lí của Tổng cục Hải quan đối với

mức độ tuân thủ doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

+ Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lí của Tổng

cục Hải quan đối với mức độ tuân thủ doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu

Trang 11

CHƯƠNG I TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN

ĐỐI VỚI MỨC ĐỘ TUÂN THỦ CỦA DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT

ĐỘNG XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 1.1 Một số lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về kinh tế

1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh

tế thị trường có điều tiết - nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó có nghĩa là, nền kinh tế nước ta chịu sựđiều tiết của thị trường và chịu sự điều tiết của nhà nước (sự quản lý của Nhà nước)

Do vậy, có thể hiểu “Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động

có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể

có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế” Quản lý kinh tế là nội dung cốt lõi của quản

lý xã hội nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội.Quản lý Nhà nước về kinh tế được thể hiện thông qua các chức năng kinh tế vàquản lý kinh tế của Nhà nước

1.1.2 Công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế

1.1.2.1 Công cụ quản lý nhà nước về kinh tế

Công cụ quản lý nói chung là tất cả các phương tiện mà chủ thể quản lý sửdụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Chính nhờcác công cụ quản lý với tư cách là vật truyền dẫn các quyết định quản lý mà Nhànước truyền tải được ý định của mình lên mọi tổ chức và cá nhân tham gia vào cáchoạt động kinh tế Các công cụ chủ yếu mà Nhà nước sử dụng để quản lý kinh tế baogồm: hệ thống pháp luật, kế hoạch hóa, các chính sách kinh tế và tài sản quốc gia

- Hệ thống pháp luật

Pháp luật thường được hiểu là hệ thống các quy tắc ứng xử có tính chất bắtbuộc chung do Nhà nước đặt ra, thực thi và bảo vệ, nhằm bảo toàn và phát triển xãhội theo các định hướng đã định

Trang 12

Hệ thống văn bản pháp luật trong QLNN về kinh tế bao gồm những văn bảnpháp luật do cơ quan QLNN về kinh tế ban hành và các văn bản pháp luật do cơquan quyền lực và các cơ quan nhà nước khác ban hành Trong thực tế, có hai loạivăn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động QLNN về kinh tế là văn bản quy phạm phápluật và văn bản áp dụng quy phạm pháp luật Hai loại này gồm: luật, pháp lệnh,nghị định, quyết định, nghị quyết, thông tư, chỉ thị…được ban hành bởi cơ quan nhànước trung ương và địa phương.

- Kế hoạch hóa

Kế hoạch theo nghĩa hẹp là phương án hành động trong tương lai; theo nghĩarộng là quá trình xây dựng, quán triệt, chấp hành và giám sát, kiểm tra việc thựchiện phương án hành động trong tương lai Kế hoạch với tính cách là một công cụquản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bản thân là một hệ thống bao gồm nhiều nộidung hoạt động Kế hoạch QLNN về kinh tế bao gồm: chiến lược phát triển kinh tế-

xã hội, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch trung hạn (kế hoạch 3 năm,

kế hoạch 5 năm), kế hoạch hàng năm, chương trình, dự án, ngân sách…

- Chính sách

Chính sách là một trong những công cụ của Nhà nước sử dụng để quản lýnền kinh tế quốc dân Mỗi chính sách cụ thể là một tập các giải pháp nhất định đểthực hiện các mục tiêu bộ phận trong quá trình đạt tới các mục tiêu chung của kinh

tế - xã hội Chính sách là một hệ thống phức tạp nhiều loại, theo lĩnh vực hoạt động,

- Tài sản quốc gia

Tài sản quốc gia theo nghĩa rộng bao gồm tất cả mọi nguồn lực của đất nước,theo nghĩa hẹp ở đây là nguồn vốn và các phương tiện vật chất - kỹ thuật mà Nhànước có thể sử dụng để tiến hành quản lý kinh tế quốc dân

Trang 13

Tài sản quốc gia bao gồm: công sở, ngân sách nhà nước, tài nguyên thiênnhiên, công khố (kho bạc Nhà nước), kết cấu hạ tầng, doanh nghiệp nhà nước, hệthống thông tin nhà nước.

1.1.2.2 Phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế

Phương pháp QLNN về kinh tế là tổng thể những cách thức tác động có chủđích và có thể có của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thànhcủa nó để thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế quốc dân (tăng trưởng kinh tế, ổnđịnh kinh tế và công bằng kinh tế)

Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước về kinh tế bao gồm:

- Phương pháp hành chính

Phương pháp hành chính trong QLNN về kinh tế là cách thức tác động trựctiếp của Nhà nước thông qua các quyết định dứt khoát có tính bắt buộc lên đốitượng QLNN về kinh tế, nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô trongnhững tình huống nhất định

Đặc điểm cơ bản của phương pháp hành chính là tính bắt buộc, tính quyềnlực Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý phải chấp nhận nghiêm chỉnh cáctác động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời thích đáng Tính quyền lựcđòi hỏi các cơ quan QLNN chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng vớithẩm quyền của mình

- Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế trong QLNN về kinh tế là cách thức tác động gián tiếpcủa Nhà nước, dựa trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn lên đối tượngQLNN về kinh tế, nhằm làm cho họ quan tâm tới hiệu quả cuối cùng của sự hoạtđộng, từ đó mà tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không cầnphải có sự tác động thường xuyên của Nhà nước bằng phương pháp hành chính

Đặc điểm của phương pháp kinh tế là tác động lên đối tượng quản lý khôngbằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu nhiệm vụ phảiđặt ra, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất

có thể sử dụng để họ tự tổ chức thực hiện nhiệm vụ

Trang 14

- Phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục trong QLNN về kinh tế là cách thức tác động của Nhànước vào nhận thức và tình cảm của những con người thuộc đối tượng QLNN vềkinh tế, nhằm nâng cao tính tự giác, tính tích cực và nhiệt tình lao động của họ trongviệc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý Đặctrưng của phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho người lao động phânbiệt phải – trái, đúng – sai, thiện – ác, từ đó nâng cao ý thức tự giác làm việc và gắn

bó với doanh nghiệp

1.2 Tổng quan về quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK

1.2.1 Tổng quan về doanh nghiệp hoạt động XK, NK

1.2.1.1 Tiếp cận chung về doanh nghiệp và doanh nghiệp hoạt động XK, NK

Doanh nghiệp là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong hệ thống các vănbản pháp luật của Nhà nước cũng như trong hoạt động kinh tế, đời sống, xã hội.Tuy nhiên dưới góc độ học thuật, khái niệm doanh nghiệp được tiếp cận dưới nhiềugóc độ khác nhau và có nhiều cách diễn đạt khác nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt, doanh nghiệp được giải thích là: “Tổ chức hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu có tư cách pháp nhân, nhằm mục đích kiếm lời ở một hoặc nhiều ngành” 1 Luật doanh nghiệp cũng đưa ra khái niệm về doanh

nghiệp “là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” 2 Từ các định nghĩa trên có thể rút ra những dấu hiệu đặc trưngcủa doanh nghiệp:

Thứ nhất, là đơn vị kinh tế cơ sở: doanh nghiệp phải là một thể nhân hoặc

pháp nhân có tư cách pháp lý độc lập, có các quyền và nghĩa vụ độc lập, có năng lựcpháp lý và năng lực hành vi tham gia các hoạt động kinh tế và pháp lý liên quan Tiêu

1 Đai từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin năm 1999, tr 543.

2 Luật doanh nghiệp, NXB Chính trị quốc gia năm 2002, tr 8.

Trang 15

chí này giúp cho việc phân biệt doanh nghiệp với các cơ quan quản lý nhà nước, các

tổ chức sự nghiệp, các đơn vị kinh tế phục thuộc của bản thân doanh nghiệp

Thứ hai, tính hợp pháp của doanh nghiệp: doanh nghiệp phải được đăng ký

chính thức, được phép hoạt động và tiến hành các hoạt động theo chế độ và thủ tụcpháp lý của một quốc gia cụ thể

Thứ ba, tính mục đích của doanh nghiệp: là thu lợi nhuận tối đa (đối với các

doanh nghiệp kinh doanh) hoặc đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất (đối với một

số doanh nghiệp đặc biệt dạng công ích hoặc dạng đặc thù do Chính phủ chỉ định).Tiêu chí này giúp cho việc phân biệt doanh nghiệp với các tổ chức phi lợi nhuận

Như vậy, theo nghĩa rộng, doanh nghiệp bao gồm tất cả các cơ sở sản xuất –kinh doanh từ các tổng công ty quốc gia, các tập đoàn xuyên quốc gia đến các hộgia đình kinh doanh cá thể hoặc thậm chí cả những cá nhân đăng ký kinh doanhriêng lẻ Tuy vậy, khi xem xét ở từng khu vực, lĩnh vực quản lý, doanh nghiệp chỉbao gồm các cơ sở thuộc khu vực chính thức (có đăng ký tư cách theo Luật doanhnghiệp và các pháp luật kinh doanh hiện hành) Việc nhìn nhận doanh nghiệp theocác nghĩa rộng, hẹp khác nhau có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định vàthực hiện các chế độ quản lý của nhà nước với các cơ sở kinh tế

Phân tích ở trên đã làm rõ những nhận thức cơ bản về doanh nghiệp nóichung, trong đó bao gồm các doanh nghiệp tham gia hoạt động XK, NK hàng hóa.Các doanh nghiệp này được thành lập theo các quy định của pháp luật, có đăng kýngành nghề kinh doanh XNK và thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa Như vậy

có thể rút ta định nghĩa về doanh nghiệp hoạt động XK, NK: là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo các quy định của pháp luật, đáp ứng các điều kiện hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu và có tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.

Hoạt động XK, NK hàng hóa, theo Luật Thương mại quy định: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ

Trang 16

Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật” 3 Theo Luật hải quan,hoạt động XK, NK hàng hóa được phân chia thành 12 loại hình cụ thể (quy định từĐiều 33 đến Điều 44 Luật hải quan) Đồng thời, để phù hợp với thực tế hoạt động

XK, NK, các văn bản quy định, hướng dẫn Luật hải quan đã phát triển thêm nhiềuloại hình XK, NK khác nhau phù hợp với thực tế đặc thù của từng hoạt động này,như: XK, NK tại chỗ; tạm nhập – tái xuất xăng dầu; XK, NK khu kinh tế cửa khẩu

Ngoài ra, trong hoạt động XK, NK hàng hóa còn phân chia làm hai loại, đólà: kinh doanh xuất, nhập khẩu hàng hóa theo hợp đồng thương mại (mậu dịch) vàcác hoạt động XK, NK không có hợp đồng thương mại (phi mậu dịch), như: hàng

XK, NK để phục vụ triển lãm, hàng quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân Việcquản lý hoạt động XK, NK hàng hóa này đang được thực hiện theo các chế độ chínhsách riêng đối với từng loại hình hoạt động

1.2.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp hoạt động XK, NK

- Đặc điểm về điều kiện và các chế độ chính sách quy định đối với doanhnghiệp hoạt động XK, NK

Pháp luật hải quan hiện nay không giới hạn doanh nghiệp hoạt động XK,NK; mọi doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật đều được tham giahoạt động XK, NK hàng hóa Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu quản lý doanh nghiệpcũng như việc quản lý chế độ chính sách hải quan, chính sách thuế đối với hàng hóa

XK, NK, đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện nhất định mới đượctham gia đầy đủ vào các lĩnh vực hoạt động XK, NK Một số quy định cụ thể như:

Một là, doanh nghiệp khi tham gia hoạt động XK, NK thương mại phải đăng

ký mã số thuế của Sở kế hoạch đầu tư thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố Mã

số thuế của doanh nghiệp được áp dụng thống nhất trong các cơ quan quản lý nhànước, đặc biệt là cơ quan thuế và cơ quan hải quan

Hai là, theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp phải có những điều kiện

nhất định mới được tham gia hoạt động trong một số lĩnh vực, ngành hàng hoặc loạihình xuất khẩu, nhập khẩu cụ thể, ví dụ như: kinh doanh cửa hàng miễn thuế; kinh

3 Luật thương mại năm 2005 – NXB Lao động – xã hội năm 2007, tr 21

Trang 17

doanh kho ngoại quan, kho bảo thuế; hoặc kinh doanh một số mặt hàng đặc thù nhưxăng, dầu, vàng, kim loại quý, đá quý

Ba là, trên lĩnh vực hoạt động XK, NK, để đáp ứng yêu cầu quản lý, thúc đẩy

hoạt động kinh tế, thương mại phát triển, Nhà nước áp dụng các chế độ chính sách

ưu tiên hoặc cưỡng chế đối với doanh nghiệp tham gia hoạt động XK, NK trong cáctrường hợp cụ thể

- Đặc điểm về hoạt động của các doanh nghiệp XK, NK

Hoạt động của các doanh nghiệp XK, NK chịu sự tác động của các chínhsách nhà nước, trong đó, có một số loại hàng hóa được khuyến khích NK hoặc XK,ngược lại một số hàng hóa khác lại bị cấm NK hoặc XK hoặc bị quản lý bằng cácchính sách thuế, hạn ngạch, giấy phép, chính sách quản lý tỷ giá… và danh mụchàng hóa này thay đổi theo từng thời kỳ phát triển, tùy thuộc vào mục tiêu phát triểncủa thời kỳ đó

Thị trường của hoạt động của các doanh nghiệp XK, NK bao gồm thị trườngtrong nước và thị trường quốc tế Thị trường quốc tế đóng vai trò thị trường đầu vàocủa doanh nghiệp là đầu mối cung cấp hàng hóa cho toàn bộ hoạt động kinh doanhnhập khẩu, còn thị trường trong nước với vai trò thị trường đầu ra là nơi tiêu thụ sảnphẩm nhập khẩu Ngược lại, thị trường trong nước đóng vai trò là thị trường cungcấp hàng hóa cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu và thị trường quốc tế đóng vai trò

là thị trường đầu ra nơi tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu Sản phẩm XK cũng như NKphải đảm bảo yêu cầu của cả hai khu vực thị trường trên về mặt giá cả, chất lượng,mẫu mã sản phẩm…

Các doanh nghiệp XK, NK thực hiện thanh toán bằng đồng ngoại tệ, cũng vìvậy mà khả năng rủi ro lớn hơn so với các doanh nghiệp kinh doanh trong nước.Đặc điểm này đỏi hỏi các doanh nghiệp XK, NK tùy điều kiện phải lựa chọn đồngtiền thanh toán, các hình thức thanh toán bảo vệ quyền lợi của mình

- Đặc điểm về mối quan hệ tương tác đối với doanh nghiệp XK, NK trongmôi trường kinh doanh

Trang 18

Xuất nhập khẩu là hoạt động lưu thông hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc giakhác nhau, chính vì vậy các hoạt động của các doanh nghiệp XK, NK rất phongphú, thường xuyên bị chi phối bới các yếu tố như chính sách, luật pháp, văn hóa,chính trị…của các quốc gia khác nhau

1.2.1.3 Phân loại doanh nghiệp hoạt động XK, NK

Doanh nghiệp hoạt động XK, NK được chia thành ba loại chủ yếu:

Một là, doanh nghiệp là chủ sở hữu của hàng hóa XK, NK: trong trường hợp

này, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động XK, NK có thể với tư cách vừa là chủhàng hóa vừa trực tiếp tham gia vào quá trình làm thủ tục hải quan hoặc thuê đại lý,người ủy thác thực hiện một số khâu hoặc toàn bộ quá trình làm thủ tục hải quan

Hai là, doanh nghiệp làm đại lý làm thủ tục hải quan: theo quy định của Luật hải quan, “Người đại lý làm thủ tục hải quan là người khai hải quan theo uỷ quyền của người có quyền và nghĩa vụ trong việc làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu” 4 Điều 1 Nghị định số 14/2011/NĐ-CP ngày 16/2/2012 đã

giải thích rõ hơn về đại lý hải quan “là thương nhân thay mặt người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (sau đây gọi chung là chủ hàng) thực hiện trách nhiệm của người khai hải quan theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Hải quan và thực hiện các công việc khác về thủ tục hải quan theo thỏa thuận trong hợp đồng”5

Ba là, doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hóa, kinh doanh kho bãi, cảng,

lưu giữ hàng hóa, như: xí nghiệp kinh doanh cảng, kho CFS, doanh nghiệp kinhdoanh kho ngoại quan, doanh nghiệp kinh doanh kho bảo thuế, doanh nghiệp kinhdoanh cửa hàng miễn thuế Cho đến nay, Luật hải quan mới chỉ quy định đối

tượng áp dụng của Luật này bao gồm: “Tổ chức, cá nhân thực hiện XK, NK, QC hàng hóa, XC, NC, QC phương tiện vận tải” 6 mà chưa có quy định cụ thể về tráchnhiệm của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hóa

Tuy vậy, Nghị định 154/NĐ-CP ngày 15/12/2005, đã có quy định khá cụ thể

về doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan, doanh nghiệp kinh doanh kho bảothuế, như: quy định về địa điểm, điều kiện thành lập kho ngoại quan, kho bảo thuế,

4 Luật hải quan năm 2005, NXB Chính trị quốc gia năm 2005, tr 54

5 Nghị định số 14/2011/NĐ-CP ngày 16/2/2012 quy định về điều kiện đăng ký và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan, tr 1.

6 Luật hải quan năm 2005, NXB Chính trị quốc gia năm 2005, tr 33

Trang 19

các hoạt động kinh doanh, dịch vụ trong kho ngoại quan, kho bảo thuế, thủ tục đưahàng hóa ra vào kho ngoại quan kho bảo thuế Quyết định số 24/2009/QĐ-TTgngày 17/2/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về Quy chế kinh doanh hàngmiễn thuế quy định về điều kiện doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh hàngmiễn thuế; địa điểm, hàng hóa, thủ tục bán hàng tại cửa hàng miễn thuế

1.2.2 Tổng quan về mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK

1.2.2.1 Khái niệm tuân thủ, không tuân thủ trong hoạt động XK, NK

- Khái niệm tuân thủ trong hoạt động XK, NK

Tuân thủ là một khái niệm khá phức tạp và đa dạng, được sử dụng trongnhiều lĩnh vực khác nhau, như: tuân thủ chuẩn mực xã hội, tuân thủ pháp luật, tuânthủ các quy tắc, quy ước nhóm Nghiên cứu về học thuật, theo từ điển Tiếng Việt,

tuân thủ là việc “giữ đúng, làm đúng theo điều đã quy định” 7 Tuân thủ có thể đượchiểu là một hành động hoặc một quá trình hoạt động tuân theo các quy định hoặcđáp ứng các yêu cầu trong từng giai đoạn cụ thể Sự tuân thủ chịu ảnh hưởng củacác yếu tố khách quan, như các điều kiện về môi trường, vật chất, tài chính, phươngtiện và các yếu tố ngoại cảnh bên ngoài; đồng thời mang tính chủ quan, như thái độ,

sự mong muốn, ý thức, đạo đức, phẩm chất, năng lực của chủ thể

Tuân thủ trong hoạt động XK, NK là dạng tuân thủ bắt buộc, các đối tượngtham gia hoạt động này phải tuân theo các quy định của pháp luật hải quan, phápluật thuế và các thủ tục, quy định của ngành Hải quan

Việc tuân thủ trong lĩnh vực này được thực hiện bởi các chủ thể dưới đây:

+ Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện XK, NK, bao gồm: chủ hàng hoá

XK, NK, người nộp thuế, đại lý hải quan, người được chủ hàng hoá, người nộp thuế

uỷ quyền thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế Những người phải chấp hành cácquy định của pháp luật, chế độ chính sách quản lý hải quan, quản lý thuế đối vớihàng hóa XK, NK;

7 Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa – Thông tin, năm 1998, tr 1744

Trang 20

+ Cán bộ, công chức tại Hải quan vừa là chủ thể thực thi pháp luật hải quan,pháp luật thuế, đồng thời cũng là người phải chấp hành các quy định của pháp luậttrên lĩnh vực này.

+ Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động XK, NK cũng là đốitượng có tác động ảnh hưởng nhất định đến việc tuân thủ PLHQ, pháp luật thuế,như: Ngân hàng, cơ quan thuế nội địa, đơn vị quản lý cảng, kho, bãi

Như vậy, tuân thủ trong hoạt động XK, NK bao gồm việc tuân thủ của cácthành viên tham gia hoặc liên quan đến việc tham gia vào môi trường hoạt động

XK, NK; trong đó doanh nghiệp phải tuân theo các yêu cầu của pháp luật về việckhai và đăng ký khai hải quan, nộp thuế và việc thanh toán đúng hạn, yêu cầu báocáo và các yêu cầu thủ tục khác Đối với công chức hải quan, sự tuân thủ bao gồmviệc thực hiện, tuân theo các quy định của pháp luật, các quy trình, quy định, hướngdẫn của ngành Hải quan Ngoài ra, tuân thủ trong hoạt động XK, NK còn bao gồm

sự đáp ứng về mặt cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đảm bảo việc khai và làm thủ tục đốivới hàng hóa XK, NK theo đúng quy trình, quy định

Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa tuân thủ trong hoạt động

XK, NK là sự tuân theo, sự đáp ứng các quy định của pháp luật hải quan, pháp luật thuế và các quy trình, quy định của ngành Hải quan trong thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa XK, NK.

- Khái niệm không tuân thủ trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

Trong hoạt động XK, NK, đối lập với khái niệm tuân thủ là hành vi khôngtuân thủ Điều này có thể được nhận diện ở các góc độ sau đây:

+ Thực hiện hành vi vi phạm các quy định của pháp luật hải quan, pháp luậtthuế trong hoạt động XK, NK;

+ Không chấp hành các quy trình, quy định của ngành Hải quan trong thủ tụchải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa XK, NK;

+ Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ vềthuế và các nghĩa vụ khác trong hoạt động XK, NK;

+ Không hợp tác hoặc không đáp ứng các yêu cầu của cơ quan hải quan vàcác cơ quan chức năng liên quan trong hoạt động XK, NK

Trang 21

Việc không tuân thủ trong hoạt động XK, NK có thể bị các cơ quan quản lýnhà nước xử lý ở các hình thức, mức độ khác nhau, như: truy tố trước pháp luật vềhành vi vi phạm pháp luật hình sự; hoặc bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính

về hải quan, vi phạm hành chính về thuế; hoặc có thể bị áp dụng các biện phápcưỡng chế làm thủ tục hải quan, thủ tục thuế; hoặc có thể bị áp dụng các biện pháp

có tính chất tương tự cưỡng chế, như: kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa,giám sát trọng điểm

Từ định nghĩa về tuân thủ và nội dung phân tích trên có thể rút ra định nghĩa không tuân thủ trong trong hoạt động XK, NK là sự không tuân theo, sự không đáp ứng các quy định của pháp luật hải quan, pháp luật thuế và các quy trình, quy định của ngành Hải quan trong thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa XK, NK.

1.2.2.2 Tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

- Khái niệm tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK

Phân tích ở trên đã chỉ ra doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tuân thủ các quyđịnh của pháp luật, chế độ chính sách quản lý hải quan, quản lý thuế trong hoạt

động XK, NK Vì vậy, tuân thủ của doanh nghiệp XK, NK là việc chấp hành, việc đáp ứng các yêu cầu của pháp luật hải quan, pháp luật thuế và các quy trình, quy định của ngành Hải quan khi tiến hành hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa

- Phân nhóm mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK

Thứ nhất, theo nghiên cứu tài liệu hướng dẫn quản lý tuân thủ của Tổ chức

hải quan thế giới (WCO) cho thấy sự phân chia mức độ tuân thủ doanh nghiệpthành bốn nhóm chính:

Trang 22

Hình 1.1: Kim tự tháp tuân thủ

+ Nhóm 1 Doanh nghiệp tự nguyện tuân thủ pháp luật: luôn có thái độ sẵnsàng làm những việc đúng quy định của pháp luật Điều này bắt nguồn từ nhận thứccủa doanh nghiệp thấy rằng phải có trách nhiệm tuân thủ pháp luật; coi việc tuânthủ như là một vần đề thuộc về khía cạnh đạo đức và đạo lý Do đó, họ sẵn sàng vàchủ động thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ của mình; đồng thời có ý thức tự điềuchỉnh sự tuân thủ khi có những thay đổi hoặc xuất hiện nguy cơ rủi ro liên quan đếnviệc tuân thủ

+ Nhóm 2 Doanh nghiệp luôn cố gắng tuân thủ nhưng không đôi khi không

thành công: nguyên nhân của sự không thành công chủ yếu là do thiếu kỹ năng,

kiến thức, năng lực tuân thủ Nhóm này sẵn sàng thừa nhận những lỗi vô ý gây ra vàsẵn sàng hợp tác, thậm chí yêu cầu thêm sự hỗ trợ từ cơ quan quản lý để thực hiệntrách nhiệm, nghĩa vụ trước pháp luật

+ Nhóm 3 Doanh nghiệp sẽ có xu hướng không tuân thủ nếu có cơ hội: trongthực tế đây là nhóm doanh nghiệp khó nhận biết nhất, vì bình thường họ chấp hànhđầy đủ các quy định của pháp luật, nhưng luôn tìm các kẽ hở của chính sách, phápluật để lợi dụng và khi có cơ hội sẽ không để lỡ việc thực hiện các hành vi gian lận.Doanh nghiệp nhóm này thường là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động không

Trang 23

thường xuyên, trong các lĩnh vực, ngành hành có tính nhạy cảm Về thái độ, nhữngdoanh nghiệp này thường không mong muốn thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm theoquy định của pháp luật; khi bị phát hiện thường không muốn thừa nhận, tìm cáchtrốn tránh trách nhiệm, biện minh cho các hành vi vi phạm đã thực hiện trước đó.

+ Nhóm 4 Doanh nghiệp hoàn toàn không tuân thủ: đây là những doanhnghiệp không có ý thức chấp hành pháp luật, thậm chí luôn tìm cách vi phạm phápluật; họ không quan tâm đến việc mình làm đúng hay sai cũng như không tỏ rõ độngthái để thay đổi tình hình tuân thủ

Thứ hai, tiếp cận theo cơ chế áp dụng quản lý rủi ro hiện nay của ngành Hải

quan, vấn đề tuân thủ của doanh nghiệp XK, NK được xác định bao gồm 10 nhóm dưới đây:

- Tuân thủ quy trình, quy định trong thực hiện thủ tục hải quan, thủ tục thuế,kiểm tra, giám sát hải quan;

- Tuân thủ chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;

- Tuân thủ pháp luật thuế trong quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu;

- Tuân thủ quy định về phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

- Tuân thủ quy định về trị giá hải quan;

- Tuân thủ quy định về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

- Tuân thủ quy định về kiểm tra chất lượng; kiểm dịch động vật, thực vật; kiểmtra vệ sinh an toàn thực phẩm đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

- Tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động xuất khẩu, nhậpkhẩu, quá cảnh hàng hóa;

- Tuân thủ quy định của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt độngxuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa;

- Tuân thủ các quy định về hợp tác trao đổi, cung cấp thông tin liên quan đếnhoạt động XK, NK

Thứ ba, tiếp cận theo pháp luật xử lý vi phạm hành chính trên lĩnh vực hải quan,

vấn đề tuân thủ của doanh nghiệp XK, NK bao gồm 06 nhóm dưới đây:

Trang 24

- Tuân thủ quy định về khai và làm thủ tục hải quan, thủ tục thuế; thời hạnlàm thủ tục hải quan, thủ tục thuế đối với hàng hóa XK, NK;

- Tuân thủ quy định của pháp luật trong kiểm tra hải quan đối với hàng hóa

- Tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế;

- Tuân thủ trong thực hiện các yêu cầu của cơ quan hải quan

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK:

1.2.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK

Quản lý tuân thủ là việc cơ quan, tổ chức thực hiện các biện pháp có tính tổchức theo hệ thống nhằm đánh giá, phân tích và hướng dẫn việc thực hiện các quyđịnh pháp luật có liên quan một cách có hiệu quả nhất Quản lý tuân thủ được ápdụng ở nhiều lĩnh vực ngành, nghề trong hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, chínhtrị của các quốc gia Ví dụ, ngành An ninh đã thực hiện quản lý tuân thủ đối với cácđối tượng kinh doanh nhà hàng, khách sạn, quán bar, sàn nhảy vũ trường nhằmngăn chặn, hạn chế các hoạt động tiêu cực, gây mất an ninh, trật tự an toàn nơi côngcộng Ngược lại, đối tượng được quản lý phải nhận được sự hướng dẫn, giải thích,tập huấn cho các nội dung cần thiết trong việc kinh doanh của mình để tránh viphạm pháp luật

Quản lý nhà nước đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động

XK, NK là hoạt động của cơ quan hải quan nhằm tiến hành các biện pháp có tính hệthống và tổ chức cao trên cơ sở dựa vào nguyên tắc quản lý rủi ro hiện tại

Quản lý mức độ tuân thủ trong lĩnh vực hải quan là công cụ hữu hiệu nhấtgiúp cơ quan Hải quan giám sát, đánh giá được đầy đủ nhất các hoạt động củadoanh nghiệp, đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế và các biện

Trang 25

pháp, chế tài xử phạt có tính ngăn chặn, giáo dục đối với các hoạt động liên quanđến XK, NK không tuân thủ pháp luật.

1.2.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về hải quan đối với mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK

Nghiên cứu nội dung này trong bối cảnh QLNN về hải quan đối với mức độtuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK ở trên thế giới và thực tiễn ViệtNam cho thấy, các CQHQ đều sử dụng hai công cụ là đo lường tuân thủ và đánh giátuân thủ làm công cụ hữu hiệu để thẩm định mức độ chấp hành pháp luật, xác địnhnhững rủi ro tuân thủ, chẩn đoán những tổn thất, đặc biệt là thất thu ngân sách doviệc không tuân thủ pháp luật gây ra

- Khái niệm về đo lường tuân thủ trong hoạt động XK, NK

Đo lường tuân thủ là việc cơ quan hải quan lựa chọn mẫu, tổng hợp, phântích các chỉ số tuân thủ trên từng lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuấtcảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cụ thể:

+ Đơn vị, công chức hải quan thu thập thông tin dữ liệu từ các nguồn khácnhau thông qua các hệ thống thông tin hoặc thực hiện thu thập thủ công để thống

kê, phân tích, đưa ra những kết luận hợp lý về mức độ tuân thủ trên các lĩnh vựchoạt động hải quan Những tỷ lệ này cho phép xác định từng bước của một quytrình nghiệp vụ, ví dụ như đối với hàng nhập khẩu là từ công đoạn xem xét bản lượckhai cho đến việc khai báo hàng hoá và thu thuế

+ Sử dụng phương pháp lấy mẫu theo thống kê theo tỷ lệ nhất định để lựachọn các lô hàng XK, NK hoặc doanh nghiệp hoạt động XK, NK nhằm kiểm tra sựtuân thủ trong khai báo, tiến hành thủ tục hải quan Kết quả thu được cho phép cơquan hải quan xác định mức độ tuân thủ của trên một phạm vi, lĩnh vực cụ thể, qua

đó làm cơ sở cho việc xem xét điều chỉnh một cách thích hợp đối với các lĩnh vựchoặc đối tượng tương ứng

Việc xác định mức độ tuân thủ được áp dụng theo khung trong giới hạn dungsai có thể chấp nhận Mức độ này còn có tên gọi khác là mức độ dung sai Để thựchiện việc đo lường tuân thủ, cơ quan hải quan phải đưa ra các khung chỉ số đo

Trang 26

lường tuân thủ Ví dụ, Hải quan Hoa Kỳ chấp nhận tỷ lệ tuân thủ 95% của các lôhàng hoặc doanh nghiệp được xem xét trong một lĩnh vực cụ thể.

- Khái niệm về đánh giá tuân thủ trong hoạt động XK, NK

Khái niệm đánh giá mức độ tuân thủ được sử dụng rộng hơn rất nhiều so với

đo lường tuân thủ

Đánh giá tuân thủ là việc cơ quan hải quan sử dụng tổng hợp các biện pháp,

kỹ thuật (trong đó bao gồm cả đo lường tuân thủ) để xác định mức độ tuân thủ phápluật hải quan, pháp luật thuế trên từng lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh

Trong hoạt động XK, NK, cơ quan hải quan thường sử dụng các hình thứcđánh giá tuân thủ chủ yếu dưới đây:

+ Sử dụng kết quả đo lường tuân thủ, khung chỉ số đánh giá và các thông tinliên quan để xác định mức độ tuân thủ;

+ Sử dụng kết quả phân tích thông tin, dữ liệu về tình hình vi phạm pháp luậthải quan, pháp luật thuế để đánh giá mức độ tuân thủ trên từng lĩnh vực hoạt động

XK, NK cụ thể;

+ Sử dụng bảng câu hỏi điều tra và khảo sát: là phương pháp có sự tham giacủa cán bộ, công chức hải quan và người tham gia hoạt động XK, NK Phương phápnày có xu hướng độc lập và người trả lời phải là người liên quan và khách quan đểtrả lời chính xác câu hỏi;

+ Cán bộ, công chức tiến hành quan sát, khảo sát trực tiếp trên địa bàn vàviệc tiến hành các hoạt động tác nghiệp;

+ Xây dựng tiêu chí, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để tự động đánhgiá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp;

+ Nghiên cứu chuyên đề, tập trung đánh giá các lĩnh vực trọng điểm về quản

lý hải quan để xác định các rủi ro tuân thủ pháp luật hải quan;

+ Cán bộ, công chức tiến hành thẩm tra, xác minh cụ thể để đánh giá mức độtuân thủ của từng doanh nghiệp;

+ Phân tích SWOT để xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ Phươngpháp này sử dụng để phân tích dữ liệu định lượng và tổng hợp kết quả đánh giá

Trang 27

- Nội dung quy trình về đo lường, đánh giá tuân thủ doanh nghiệp hoạt động

ro tuân thủ pháp luật của từng doanh nghiệp cụ thể

Việc đo lường, đánh giá tuân thủ doanh nghiệp hoạt động XK, NK là một

bộ phận cấu thành và mang những đặc điểm chung của đo lường, đánh giá tuânthủ trong hoạt động XK, NK Tuy nhiên, do doanh nghiệp là một thành tố trongquản lý hải quan nên việc đo lường, đánh giá tuân thủ doanh nghiệp hoạt động

XK, NK được thực hiện bằng các biện pháp có tính đặc thù riêng

+ Lấy mẫu ngẫu nhiên kiểm tra lô hàng XK, NK để đo lường tuân thủ củadoanh nghiệp;

+ Lựa chọn ngẫu nhiên doanh nghiệp để tiến hành kiểm tra hồ sơ, kiểm trathực tế hàng hóa, kiểm tra sau thông quan;

+ Xây dựng tiêu chí, tổ chức đánh giá tuân thủ của doanh nghiệp theo cáccấp độ khác nhau;

+ Xây dựng tiêu chí, tổ chức đánh giá xếp hạng mức độ rủi ro tuân thủ củadoanh nghiệp;

+ Lập danh sách doanh nghiệp kiểm tra sau thông quan theo kế hoạch hàngnăm để đánh giá tuân thủ doanh nghiệp;

+ Theo dõi, phân tích hoạt động của các nhóm doanh nghiệp hoặc theo từngdoanh nghiệp cụ thể

1.2.3.3 Các yếu tố tác động đến công tác quản lý mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK

- Các yếu tố thương mại quốc tế

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong những năm qua đã tạo

ra sự gia tăng mạnh mẽ các dòng lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, vốn công nghệ,

Trang 28

nguồn nhân lực lao động, giữa Việt Nam với nước trên thế giới và khu vực Quátrình này đòi hỏi Việt Nam phải từng bước thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế vềthương mại; trong đó bao gồm việc dỡ bỏ hàng rào thương mại và thuế quan Điềunày tạo ra sự tác động ảnh hưởng rất lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam, một mặtđòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các quy định về thương mại quốc tế,mặt khác đòi hỏi họ phải năng động, quyết liệt tham gia cạnh tranh trong môitrường thương mại quốc tế

Tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực tạo cho nước ta có những cơhội mới trong việc phát triển nền kinh tế, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức rấtlớn Cơ chế tạo thuận lợi trong hoạt động XNK, XNC trở thành cơ hội cho các đốitượng núp bóng doanh nghiệp lợi dụng hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại

Sự phát triển của các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia cũng đang đe dọa mục tiêu,khả năng kiểm soát của cơ quan hải quan, trong đó có Hải quan Việt Nam Các đốitượng trong nước và nước ngoài thường có sự móc nối, cấu kết hình thành cácđường dây, các tổ chức buôn lậu, buôn bán, vận chuyển ma túy, tài trợ khủng bổ,tẩy rửa tiền thông qua các hình thức đầu tư, liên kết kinh doanh Các hoạt độngnày thường được che đậy hết sức tinh vi, xảo quyệt Đây cũng là nguyên nhân dẫnđến tình hình thời gian qua nhiều vụ án buôn lậu, gian lận thương mại được pháthiện, bắt giữ nhưng rất khó xử lý hoặc có xử lý thì chỉ là những đối tượng làm thuêhoặc bán pháp nhân

Những năm qua, kinh tế, tài chính quốc tế vẫn trong tình trạng suy thoáinghiêm trọng; điều này có tác động ảnh hưởng lớn đến hoạt động XK, NK của doanhnghiệp Việt Nam Hầu hết các doanh nghiệp ở nước ta gặp phải khó khăn, hàng loạtdoanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, ngừng hoạt động, trong đó bao gồm cảdoanh nghiệp đầu tư nước ngoài Điều này cũng tạo ra những nguy cơ rất lớn trongviệc không tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế Theo số liệu của Tổng cụcHải quan, tại thời điểm tháng 10/2011, có tới 230 dự án của các doanh nghiệp ĐàiLoan, Hàn Quốc được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép hoạt động nhưng đãgiải thể, phá sản Một số doanh nghiệp sau khi được cấp phép, vay vốn đã rút về nước

để lại khoản nợ kếch xù với 22 dự án tại 12 địa phương và 80 triệu USD tiền nợ

Trang 29

- Các yếu tố kinh tế, xã hội trong nước

Trước yêu cầu mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nền kinh tế thịtrường đã dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng của các thiết chế kinh tế, xã hội; hàngloạt các hệ thống pháp luật, chế độ chính sách được bổ sung, sửa đổi hoặc xây dựngmới Trong quá trình đó, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến chế độ, chính sáchquản lý, chính sách thuế đối với hàng hóa XK, NK chưa kịp xây dựng, hoàn thiệnđồng bộ đã dẫn đến nảy sinh bất cập, sơ hở, thiếu sót trong quản lý hoạt động XNK,XNC Điều này vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện hành vituân thủ; đồng thời cũng dễ tạo điều kiện để một số doanh nghiệp lợi dụng buôn lậu,trốn thuế, gian lận thương mại

Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều cơ chế, chính sách quản lýcủa các Bộ, ngành liên quan đến hàng hoá XK, NK được thay đổi, thậm chí thay đổithường xuyên Điều này dẫn đến sự chồng chéo, không thống nhất về chế độ, chínhsách quản lý, vừa gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tuân thủ, vừa tạo điềukiện cho các đối tượng lợi dụng vi phạm pháp luật trong hoạt động XK, NK

Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế, nhiều doanh nghiệp đã có nhữngbước đi, chiến lược đúng đắn nên đã bứt phá phát triển lớn mạnh Hầu hết nhữngdoanh nghiệp này đều có ý thức tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế Tuyvậy, bên cạnh đó có một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp do nhiều nguyên nhânkhác nhau đã dẫn đến hoạt động kinh doanh gặp phải khó khăn, thậm chí nhiềudoanh nghiệp có nguy cơ phá sản, giải thể Trong bối cảnh đó, để đạt lợi nhuận cao,duy trì hoạt động kinh doanh, một số doanh nghiệp đã lợi dụng nhưng kẽ hở củachính sách để gian lận, trốn thuế; thậm chí liên kết với các doanh nghiệp khác đểhợp thức hóa các vi phạm pháp luật hải quan Thời gian qua nổi lên tình trạng gianlận trong mua bán hóa đơn, hợp thức hóa hồ sơ để chiếm đoạt tiền thuế giái trị giatăng đối với hàng hóa xuất khẩu

Cơ chế thị trường cùng với sự hội nhập quốc tế đã làm xâm nhập, phát sinhnhiều phương thức, thủ đoạn gian lận mới ở nước ta, như: hàng giả, vi phạm sở hữutrí tuệ, khủng bố, rửa tiền… cùng với đó cũng hình thành một lớp người ưu hưởngthụ, làm giầu bằng mọi cách, bất chấp pháp luật, coi thường đạo lý Những người

Trang 30

này thường có thái độ không tuân thủ pháp luật, luôn tìm cách để buôn lậu, gian lậnthương mại để đạt được lợi thế và lợi nhuận cao trong hoạt động kinh doanh.

- Công tác quản lý của ngành Hải quan

Cùng với sự thay đổi về chế độ, chính sách, công tác quản lý của ngành Hảiquan cũng không ngừng được cải cách, đơn giản hóa thủ tục nhằm tạo thuận lợi chohoạt động XNK, XNC Chính trong quá trình này, do sự thiếu đồng bộ giữa chế độchính sách, cơ chế quản lý và nguồn lực thực tế của ngành Hải quan đã dẫn đếnnhững “lỗ hổng” trong quản lý

Qua kết quả khảo sát trên các tuyến vận tải thương mại quốc tế cho thấy,công tác quản lý hải quan đang bị bỏ trống trên một số địa bàn và lĩnh vực thuộcphạm vi quản lý của CQHQ hoặc địa bàn cần thiết phải do CQHQ quản lý, ví dụnhư việc làm thủ tục hải quan đối với phương tiện XNC, việc triển khai biện phápgiám sát hải quan đối với tầu biển trên đường hành trình hoặc trong khu vực neođậu, giám sát hàng hóa trong quá trình vận chuyển giữa các địa điểm làm thủ tục hảiquan, giám sát kiểm tra hàng hóa là nguyên liệu sản xuất hàng XK… Những khiếmkhuyết này được thấy qua hầu hết các tuyến đường biển, đường sông, đường bộ,đường hàng không và liên vận quốc tế Đây là những lỗ hổng tiềm ẩn những hoạtđộng buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới không được kiểm soát

Ngành Hải quan đã triển khai áp dụng QLRR trong hoạt động nghiệp vụ hảiquan, từ năm 2006 đến nay, công tác này đã đem lại những thành quả to lớn, tạo ra

sự chuyển đổi căn bản trong phương thức quản lý của ngành Hải quan Tuy vậy,bên cạnh những kết quả đã đạt được, quá trình này cũng còn bộc lộ những hạn chế,trong đó bao gồm việc triển khai đồng bộ, thống nhất các biện pháp nghiệp vụ dựatrên cơ chế quản lý rủi ro, cũng như việc đáp ứng hỗ trợ của quản lý rủi ro cho cácbiện pháp này Qua khảo sát thực tế cho thấy, việc triển khai các biện pháp giám sáthải quan, kiểm tra sau thông quan chưa thực sự đồng bộ với việc kiểm tra trongthông quan hàng hóa XNK Các hoạt động này chưa đáp ứng yêu cầu bọc lót, hỗ trợgiám sát, kiểm soát các lô hàng miễn kiểm tra hồ sơ, miễn kiểm tra thực tế (luồngxanh) trong thông quan Điều này đã tạo ra sự thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất giữaviệc tạo thuận lợi và kiểm soát việc tuân thủ pháp luật hải quan của doanh nghiệptrong hoạt động XNK

Trang 31

Bộ máy tổ chức, cơ chế hoạt động cũng như ý thức và năng lực thực thi củacông chức thừa hành có vai trò quyết định đến mục tiêu đặt ra đối với mỗi cấp, mỗiđơn vị cũng như từng cá nhân Mỗi yếu tố là một mắt xích trong dây chuyền hoạtđộng của ngành Hải quan Một mắt xích yếu sẽ tạo ra sự cản trở tác động ảnh hưởngđến cả dây chuyền Bộ máy và cơ chế điều hành của ngành Hải quan được đánh giá

là chưa thống nhất: có thể cùng một quy định nhưng tại các đơn vị khác nhau cócách hiểu và vận dụng khác nhau Công tác chỉ đạo điều hành giữa các cấp cònchậm do việc tồn tại nhiều cấp trung gian; nhiều văn bản chỉ đạo hướng dẫn khôngđược thực hiện đầy đủ, nghiêm túc

Việc trao đổi, cung cấp thông tin giữa cơ quan hải quan với các Bộ, ngànhliên quan trong quản lý hàng hóa XK, NK còn nhiều hạn chế cả về cơ chế, nội dung

và khả năng trao đổi cung cấp thông tin, cụ thể là:

+ Theo quy định của Luật hải quan và Nghị định 154/2005/NĐ-CP thì các

Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan hải quan.Nhưng thực tế triển khai luôn gặp những khó khăn bởi chưa có văn bản hướng dẫnhoặc do các Bộ, ngành chưa sẵn sàng cho công việc này

+ Hiện nay, nhiều Bộ, ngành được giao xây dựng chính sách quản lý đối vớicác hàng hoá xuất, nhập khẩu chuyên ngành Trong khi hầu hết văn bản điều hànhchính sách đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu không đưa ra danh mục mã hàng hoácần quản lý cụ thể Điều này không những gây khó khăn trong việc áp dụng chínhsách mà còn hạn chế trong việc ứng dụng cơ sở dữ liệu

+ Việc xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu giữa các Bộ, ngànhkhông đồng nhất; dữ liệu chưa được chuẩn hoá Điều này cũng đặt ra những tháchthức cho việc trao đổi, chia sẻ thông tin giữa ngành Hải quan với các Bộ, ngành cóliên quan

1.2.3.4 Các văn bản quy định của pháp luật, của ngành Hải quan liên quan đến quản lý mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong hoạt động XK, NK

Thứ nhất, đánh giá tuân thủ làm căn cứ để quyết định áp dụng các biện pháp nghiệp vụ hải quan, như Điều 15 khoản 1a Luật hải quan quy định:"Kiểm tra hải quan được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá việc chấp hành pháp

Trang 32

luật của chủ hàng, mức độ rủi ro về vi phạm pháp luật hải quan…" Điều 29 của Luật này cũng quy định “Căn cứ để quyết định hình thức kiểm tra thực tế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu là quá trình chấp hành pháp luật của chủ hàng…” Đặc biệt

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế năm 2012 (tiết b điểm 4

khoản 1) quy định “Cơ quan quản lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, lựa chọn đối tượng kiểm tra, thanh tra về thuế và hỗ trợ các hoạt động nghiệp

vụ khác trong quản lý thuế”.

Thứ hai, hệ thống các văn bản pháp luật, văn bản của ngành Hải quan quy

định cách thức quản lý mức độ tuân thủ như sau:

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế; tại tiết a điểm 4

khoản 1 Điều 1 quy định “thu thập thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế; xây dựng các bộ tiêu chí quản lý thuế; đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người nộp thuế…”; và tại tiết b điểm 4 khoản 1 Điều này cũng quy định “Cơ quan quản

lý thuế quản lý, ứng dụng hệ thống thông tin nghiệp vụ để đánh giá rủi ro về thuế, mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế…”;

- Tiết a khoản 1 Điều 32 Luật hải quan quy định việc kiểm tra sau thông quan

để “thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan đối vớihàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu”;

Nghị định 154/2005/NĐ-CP (Điều 6 khoản 1) quy định “chủ hàng chấp hànhtốt pháp luật về hải quan là chủ hàng có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu đáp ứngcác điều kiện: không buôn lậu; không trốn thuế; không nợ thuế quá hạn; thực hiệnchế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật”

Tiết c khoản 2 Điều 11 Nghị định 154/2005/NĐ-CP quy định “Kiểm tra xácsuất để đánh giá việc chấp hành pháp luật hải quan của chủ hàng tối đa không quá5% tổng số tờ khai hải quan”

- Khoản 2 Điều 4 Quyết định số 48/QĐ- BTC quy định: “Phân tích, đánh giá rủiro; xây dựng hồ sơ quản lý doanh nghiệp và hồ sơ quản lý rủi ro để đánh giá mức độchấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu,quá cảnh hàng hoá, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải”

Trang 33

Điều 12 Quyết định số 35/QĐ-TCHQ quy định về Đánh giá, phân loại doanhnghiệp phục vụ quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu,nhập khẩu thương mại, cụ thể:

“1 Đánh giá doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về hải quan:

a) Việc đánh giá doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về hải quan được thực hiện trên hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý rủi ro, theo tiêu chí được quy định tại Phần I Phụ lục 4 ban hành kèm theo Quyết định.

b) Doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật về hải quan được ưu tiên trong quá trình đánh giá rủi ro đối với lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu, theo Phụ lục 5 ban hành kèm theo Quyết định.

2 Đánh giá doanh nghiệp thuộc diện cưỡng chế thuế, ân hạn hoặc không được ân hạn thuế theo Luật quản lý thuế.

a) Việc đánh giá doanh nghiệp thuộc diện cưỡng chế thuế, ân hạn hoặc không được ân hạn thuế được thực hiện trên hệ thống kế toán thuế (KTT559) theo quy định của pháp luật hiện hành.

b) Kết quả đánh giá doanh nghiệp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này là căn cứ để quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế và thời hạn nộp thuế theo quy định.

3 Đánh giá rủi ro đối với doanh nghiệp

a) Việc đánh giá rủi ro doanh nghiệp được thực hiện trên hệ thống thông tin

hỗ trợ quản lý rủi ro, theo tiêu chí đánh giá doanh nghiệp được chi tiết tại Phần II Phụ lục 4 ban hành kèm theo Quyết định

b) Phương pháp đánh giá rủi ro doanh nghiệp được chi tiết tại điểm 2 Phần

II Phụ lục 6 ban hành kèm theo Quyết định.

c) Kết quả đánh giá rủi ro doanh nghiệp được sử dụng trong quá trình đánh giá rủi ro đối với lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu thương mại, theo tiêu chí tính điểm tại Phần II Phụ lục 5 ban hành kèm theo Quyết định”.

Thứ ba, quy định việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ dựa trên kết quả

quản lý mức độ tuân thủ pháp luật hải quan như sau:

- Điểm a khoản 1 Điều 28 điểm Luật hải quan quy định: “Hồ sơ hải quan

Trang 34

của chủ hàng chấp hành tốt pháp luật hải quan được đăng ký sau khi cơ quan hải quan kiểm tra việc ghi đủ nội dung yêu cầu trên tờ khai hải quan, số lượng các chứng từ kèm theo tờ khai hải quan”;

- Khoản 2 Điều 30 Luật hải quan quy định: “hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của chủ hàng chấp hành tốt pháp luật về hải quan được miễn kiểm tra thực tế”;

- Khoản 3 Điều 30 Luật hải quan quy định: “Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của chủ hàng đã nhiều lần vi phạm pháp luật về hải quan; hàng hoá thuộc diện miễn kiểm tra thực tế”;

- Điểm 5 khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý

thuế quy định “áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các tiêu chí sau: Không vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan trong hai năm liên tục… tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê…”;

- Ngoài ra, các văn bản pháp luật còn quy định việc áp dụng các chính sách

ưu tiên, áp dụng các chế độ chính sách quản lý hải quan, quản lý thuế đối với doanhnghiệp tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế, như: chấp nhận điều kiện nộpthuế 275 ngày đối với hàng hóa NK là nguyên liệu, vật tư sản xuất hàng XK; xácđịnh trước trị giá hải quan; chấp nhận bảo lãnh thuế đối với số tiền thuế phải nộp;quyết định việc hoàn thuế trước kiểm tra sau…

1.2.3.5 Kinh nghiệm thực hiện đo lường, đánh giá tuân thủ của Hải quan các nước

- Kinh nghiệm của Hải quan Hoa Kỳ

Hải quan Hoa Kỳ đã thiết lập một quy trình quản lý mức độ tuân thủ củadoanh nghiệp có tính hệ thống, được áp dụng mang tính nguyên tắc Quy trình quản

lý mức độ tuân thủ đối với doanh nghiệp được thiết lập gồm bốn (04) Bước, cụ thểnhư sau:

Bước 1 Thu thập dữ liệu và thông tin

Với cách tiếp cận hệ thống, bên cạnh việc thu thập đầy đủ thông tin về doanhnghiệp, Hải quan tập trung vào những vấn đề mà nhà nhập khẩu thường không tuânthủ và tính chất có thể không tuân thủ; qua đó xây dựng tiêu chí đánh giá và hiểu

Trang 35

được toàn bộ việc nhập khẩu thương mại Việc thu thập thông tin, dữ liệu về doanhnghiệp được tích hợp tự động trên các hệ thống, dựa trên Tiêu chuẩn quốc gia (lựachọn hàng hoá) và các chỉ số quốc gia, bao gồm các hệ thống: đo lường doanhnghiệp tích hợp; đánh giá tuân thủ tích hợp và đo lường tuân thủ; Chương trình theodõi tuân thủ nhà nhập khẩu; quản lý tài khoản của doanh nghiệp.

Bước 2 Phân tích và đánh giá rủi ro

Bước này thực hiện phân tích dữ liệu và xác định những khả năng khôngtuân thủ Để nâng cao hiệu quả phân tích, đánh giá rủi ro, Hải quan chủ trươngchuyên môn hoá cán bộ về kiến thức và kinh nghiệm; xây dựng danh mục rủi rotuân thủ; mức độ ảnh hưởng của thực thi pháp luật; phương pháp đo lường và tàiliệu đánh giá tuân thủ; đồng thời phát triển Hệ thống hồ sơ cảng tự động hoá hảiquan (CAPPS), Phân tích xu hướng và Chương trình lựa chọn mang tính phân tích(TAP), và Công cụ hoạt động tài chính (AAT) Một khi dữ liệu chỉ ra một vấn đềtuân thủ, Hải quan phải thực hiện tiếp việc phân tích để xác định phạm vi hoặc tínhchất của vấn đề Rủi ro tuân thủ được đánh giá theo ba mức: Mức 1 tác động cao;mức 2 tác động trung bình và mức 3 tác động thấp

Bước 3 Đưa ra hành động

Bước này bao gồm hai loại hoạt động riêng biệt: (1) xác định nguyên nhâncủa rủi ro, ví dụ sự thiếu hiểu biết của một nhà nhập khẩu, luật pháp kinh doanhphức tạp, hoặc cố ý không tuân thủ pháp luật nhập khẩu, và (2) xây dựng một hànhđộng và sử dụng nguồn lực để giải quyết rủi ro đó Khi bố trí nguồn lực, Hải quanHoa kỳ quan tâm đến nguồn nhân lực sẵn có, nhu cầu đào tạo, chi phí và các biệnpháp thực hiện

Nguồn nhân lực sẵn có: Sự tính toán về đào tạo (nếu có) cần thiết cho việcthực hiện hành động được yêu cầu Việc đào tạo được Hải quan Mỹ thực hiệnthường xuyên thông qua các khoá đào tạo của Học viện Hải quan Mỹ; đồng thờiHải quan cũng tổ chức các chương trình đào tạo chuyên ngành, do các chuyên giatrong ngành hoặc các chuyên gia ngoài ngành

Chi phí: Chi phí dự kiến và khung thời gian dự kiến đối với hành động cầnđược phát triển trước khi thực hiện hành động

Trang 36

Biện pháp thực hiện: Hải quan xây dựng các biện pháp thực hiện gắn với cácmục tiêu quốc gia; cùng với việc phát triển các công cụ để giải quyết một cách tíchcực các lĩnh vực rủi ro cao Các công cụ này đã mở rộng các hoạt động từ thể chếhoá luật pháp và quy định, xây dựng hệ thống tuân thủ tự nguyện đối với việc thựcthi bắt buộc để giải quyết một số vụ không tuân thủ nghiêm trọng nhất Một trongnhững công cụ này được đưa vào nhiệm vụ tổng thể của Hải quan nhằm tối đa hoáviệc tuân thủ thương mại thông qua một chương trình cân bằng về tuân thủ có thôngbáo, các hành động thực thi pháp pháp luật có trọng điểm, và tạo thuận lợi đối vớihàng hoá tuân thủ.

Các hành động của Hải quan để giải quyết việc không tuân thủ được tập hợpthành danh sách hoặc là ở trong tuân thủ có thông báo hoặc là ở trong tuân thủ bắtbuộc Bao gồm: can thiệp; MARC 2000; các kế hoạch cải thiện sự tuân thủ; các kếhoạch hành động về tài khoản; các nhóm đánh giá thực thi pháp luật; quy trình tuânthủ bắt buộc của công ty

Bước 4 Theo dõi và báo cáo

Ngay sau khi các hành động phù hợp được thiết kế sẽ được chuyển giao chongười thực hiện; kết quả của nó được theo dõi và phản hồi lại quy trình QLRRnhằm hỗ trợ cho việc xác định và loại trừ rủi ro trong tương lai

Một số cơ chế theo dõi và báo cáo của nhân viên hải quan: Tuân thủ thươngmại và Kế hoạch thực hiện; báo cáo lên Hội đồng về tuân thủ thương mại; quản lý

sổ sách kế toán; tiếp tục xác minh

Quản lý tuân thủ của nhà nhập khẩu là quy trình cơ bản nhất của Hải quanHoa Kỳ, bao gồm các hoạt động liên quan đến doanh nghiệp từ việc phân tích thôngtin trước khi nhập khẩu, thông tin hàng hoá trước khi đến cảng, kiểm tra, giải phónghàng, điều tra, thu ngân sách, thanh khoản và lưu trữ thông tin thương mại Cơ quanhải quan tập trung nguồn lực vào những rủi ro có tác động ảnh hưởng lớn nhấtđối với chính phủ và công chúng; đồng thời tạo thuận lợi đối với những lĩnh vựctuân thủ

Trang 37

Việc tiến hành chương trình đo lường tuân thủ là nhằm tìm hiểu chắc chắn sựtuân thủ sau pháp luật thương mại từ thời điểm hàng hoá nhập vào cho tới khi thanhkhoản sơ lược thông qua việc thu thập dữ liệu và thông tin thông qua một quy trìnhlấy mẫu phân tầng Các dòng hàng hoá nhập khẩu vào lãnh thổ Hải quan trong mộtnăm tài khoá tạo thành mật độ lấy mẫu.

Đánh giá sự tuân thủ là một công cụ mà Hải quan sử dụng để đánh giá mức

độ rủi ro của các nhà NK Kết quả này được đưa vào trong Quy trình quản lý rủi rotrong một nỗ lực nhằm xác định rủi ro

Hàng năm, tổng số các nhà NK vào Hoa Kỳ khoảng trên 400.000 Nhằm giảiquyết đối với khối lượng, một quyết định được đưa ra nhằm dùng hết tỷ lệ phầntrăm cơ bản của nguồn lực các nhà kiểm toán đối với những nhà nhập khẩu có độrủi ro nhiều nhất Do đó, Hải quan phân tầng các khối lượng công việc của nhà NKnhằm xác định 1000 nhà xuất khẩu hàng đầu thông qua giá trị đưa vào và 250 nhàxuất khẩu trong mỗi PFI cũng dựa trên giá trị đưa vào Kết quả, các nhà nhập khẩuđược lựa chọn đối với từng đánh giá tuân thủ được lấy ra từ những nhà nhập khẩu

có đặt cho Hải quan khối lượng công việc lớn và trong các ngành mà được coi làquan trọng đối với nền kinh tế Mỹ

Để thực hiện đánh giá tuân thủ, cơ quan hải quan tiến hành:

o Gặp gỡ với nhà nhập khẩu, đưa cho nhà nhập khẩu bảng câu hỏi

o Phát triển hồ sơ tài khoản

o Đánh giá kết quả của bộ câu hỏi gửi cho nhà nhập khẩu

o Rà soát tài chính của nhà nhập khẩu, tự động hoá và các hệ thống kiểmsoát nội bộ

o Lựa chọn các mẫu

o Kiểm tra các mẫu để kiểm tra độ tuân thủ

o Tính toán tỷ lệ tuân thủ

o Xác định nguyên nhân của việc không tuân thủ

o Đưa ra bản báo cáo đánh giá tuân thủ

Việc sử dụng lấy mẫu mang tính thống kê trong quá trình thực hiện đánh giá

Trang 38

tuân thủ là một cách hiệu quả đáp ứng yêu cầu khoa học về tỷ lệ tuân thủ của nhànhập khẩu, hoặc, đặt sang cách khác, đánh giá mức độ rủi ro của nhà nhập khẩutrong các lĩnh vực quan trọng được chỉ định hoặc được kiểm tra theo tỷ lệ lỗi chophép Thông qua việc thực hiện tiêu chuẩn tỷ lệ tuân thủ, Hải quan xây dựng đánhgiá chuẩn đối với mức độ rủi ro mà có thể chấp nhận được hoặc đòi hòi phải có sựquan tâm hơn.

Các kết quả của đánh giá tuân thủ được đưa vào quy trình quản lý rủi ro Nếuviệc tuân thủ được ghi nhận, nhà nhập khẩu sẽ nhận được mức độ rà soát và kiểmtra của Hải quan nhẹ nhàng hơn Nhà nhập khẩu sẽ không là đối tượng của đánh giátuân thủ khác trong một vài năm và có thể được tham gia một số chương trình Hảiquan khác được xây dựng có lợi cho nhà nhập khẩu Nếu không tuân thủ, các biệnpháp bổ sung sẽ được tiến hành để có những hành động chỉnh sửa cho đúng

- Kinh nghiệm của Hải quan Nhật Bản

Hàng năm, tại Nhật Bản có khoản 700.000 doanh nghiệp đang hoạt động

XK, NK, với số lượng khoảng 30 triệu tờ khai XK, NK Việc quản lý tuân thủdoanh nghiệp được thực hiện thông qua các hoạt động: quản lý hồ sơ doanh nghiệp;đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro tuân thủ của doanh nghiệp và theo dõi, quản lýtuân thủ doanh nghiệp

+ Quản lý hồ sơ doanh nghiệp

Cơ quan hải quan xây dựng, quản lý hệ thống thông tin hồ sơ doanh nghiệpgồm 300 chỉ tiêu thông tin Thông tin doanh nghiệp được cập nhật theo hai (02) cơchế: tích hợp tự động từ hệ thống thông quan (NACCS) và hệ thống thông tin tìnhbáo (CIS); công chức quản lý rủi ro tại Hải quan các cấp tiến hành thu thập thôngtin doanh nghiệp nhập vào hệ thống Đơn vị quản lý rủi ro các cấp có trách nhiệmđảm bảo hàng năm tất cả hồ sơ doanh nghiệp phải được thu thập, cập nhật đầy đủ

Để đáp ứng các yêu cầu này, Hải quan Nhật Bản tổ chức bộ phân chuyên trách thuthập thông tin doanh nghiệp tại Hải quan các vùng Hàng năm, mỗi công chức phảithực hiện thu thập cập nhật trên 10.000 doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Đồngthời để điều phối số lượng hồ sơ doanh nghiệp phải thu thập phù hợp với nguồn lực

Trang 39

của từng Hải quan vùng, hàng năm, Hải quan Nhật bản xây dựng kế hoạch phân bổchỉ tiêu thu thập thông tin cho từng vùng; những Hải quan vùng có ít doanh nghiệphoạt động hơn có thể được phân công thu thập hồ sơ của doanh nghiệp tại các Hảiquan vùng lân cận Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả quản lý hồ sơ doanh nghiệp, Hảiquan Nhật Bản đã phát triển hệ thông tin tin một cửa quốc gia và tăng cường phốihợp trao đổi thông tin với các cơ quan chức năng thuộc các Bộ, ngành liên quan đểđảm bảo thông tin doanh nghiệp được cập nhật kịp thời nhất.

+ Đánh giá, xếp hạng mức độ rủi ro doanh nghiệp

Hải quan Nhật Bản tổ chức việc đánh giá doanh nghiệp hoạt động XK, NKtheo 2 nhóm với các hạng khác nhau:

Doanh nghiệp XK được đánh giá, phân loại theo 04 hạng:

o Hạng 1: Doanh nghiệp tin cậy;

o Hạng 2 Doanh nghiệp tương đối tin cậy;

o Hạng 3 Doanh nghiệp cần xem xét;

o Hạng 4 Doanh nghiệp không có thông tin hoặc chưa thu thập thông tin Doanh nghiệp NK được đánh giá, phân loại theo 07 hạng:

o Hạng 1: Doanh nghiệp tin cậy;

o Hạng 2 Doanh nghiệp tương đối tin cậy;

o Hạng 3 Doanh nghiệp có mức độ tin cậy chấp nhận được;

o Hạng 4 Doanh nghiệp cần lưu tâm;

o Hạng 5 Doanh nghiệp cần xem xét;

o Hạng 6 Doanh nghiệp không tin cậy;

o Hạng 7 Doanh nghiệp không có thông tin hoặc chưa thu thập thông tin.Việc đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp được tiến hành tại 02 cấp: Hải quantrung ương và Hải quan vùng; được thực hiện 2 lần trong 1 năm (vào đầu năm vàgiữa năm), trên cơ sở giao chỉ tiêu, kế hoạch của đơn vị quản lý rủi ro cấp trungương theo nguyên tắc: lựa chọn doanh nghiệp có trụ sở chính đóng tại Hải quanvùng và doanh nghiệp có hoạt động thường xuyên tại Hải quan vùng

Việc xếp hạng doanh nghiệp được Hải quan Nhật Bản rất coi trọng và được

Trang 40

tiến hành rất cẩn thận vì đây là cơ sở cho quan trong trong việc phân luồng khai báohải quan của doanh nghiệp Trình tự đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp được thựchiện như sau:

o Đơn vị QLRR cấp Trung ương quản lý tiêu chí tính điểm đánh giá doanhnghiệp, ứng dụng hệ thống thông tin tình báo (CIS) để tính điểm và xếp hạng sơ bộđối với từng doanh nghiệp Hệ thống sẽ đưa ra danh sách các doanh nghiệp đượcxếp hạng theo các mức độ khác nhau Danh sách doanh nghiệp được hệ thống đánhgiá sẽ được gửi đến Hải quan vùng trên cơ sở phân bổ kế hoạch hàng năm để đánhgiá xếp hạng lại, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tại từng Hải quan vùng

o Hải quan vùng rà soát, đánh giá lại theo các tiêu chí chung, kết hợp vớithông tin về tình hình hoạt động, tuân thủ của doanh nghiệp Hạng của doanhnghiệp có thể được Vùng điều chỉnh tăng hoặc giảm hạng, nhưng không quá mộtmức so với hạng chung trên hệ thống Kết quả đánh giá lại được gửi về đơn vịQLRR trung ương để tổng hợp, phê duyệt

o Đơn vị QLRR trung ương, sau khi xem xét, tổng hợp ý kiến của các Hảiquan Vùng để quyết định về hạng của từng doanh nghiệp Kết quả cuối cùng đượccập nhật vào hệ thống CIS để làm cơ sở cho việc phân luồng và phục vụ công táckiểm tra hải quan

Trường hợp chưa đến kỳ xếp hạng nhưng trong quá trình theo dõi hoạt động

XK, NK của doanh nghiệp, nếu phát hiện doanh nghiệp có vi phạm pháp luật hảiquan hoặc tuân thủ tốt pháp luật hải quan thì Hải quan Vùng có thể xem xét đề xuấtvới đơn vị QLRR cấp trung ương để tăng hoặc giảm hạng

+ Theo dõi, quản lý tuân thủ của doanh nghiệp

Đơn vị QLRR tại cấp vùng có trách nhiệm theo dõi, cập nhật thông tin vềquá trình hoạt động và tuân thủ của doanh nghiệp, bao gồm:

o Cập nhật kết quả kiểm tra hải quan, lỗi hoặc vi phạm (nếu có) được phảnhồi từ khâu làm thủ tục hải quan;

o Cập nhật kết quả kiểm tra sau thông quan, lỗi hoặc vi phạm (nếu có), thái

độ hợp tác của doanh nghiệp trong kiểm tra sau thông quan;

o Phân tích hoạt động của doanh nghiệp trên địa bàn để xác định các yếu tố

Ngày đăng: 15/05/2015, 15:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w