Ngân hàng đầu tư – Chứng khoán hóa
Trang 1bị về mọi mặt để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán hóa trong tương lai gần,phục vụ tốt hơn cho sự phát triển của nền kinh tế Trong thời kỳ lạm pháttăng cao, kinh tế khó khăn, hoạt động tín dụng của các NHTM thắt chặt vớilãi suất cao, điều này đã gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp khi mà nguồnvốn vay ngân hàng ngày càng khó tiếp cận Chứng khoán hóa sẽ là một giảipháp trong tương lai tạo ra một kênh huy động vốn mới, giúp các doanhnghiệp giảm áp lực về vốn vay đồng thời tạo ra một kênh đầu tư cho các nhàđầu tư thừa vốn, giúp sự luân chuyển vốn trên thị trường linh hoạt và hiệuquả hơn.
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ – CHỨNG KHOÁN HÓA 7
1.1 Ngân hàng Đầu tư 7
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng đầu tư 7
1.1.1.1 Khái niệm 7
1.1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng đầu tư 7
1.1.2 Các nghiệp vụ chính của Ngân hàng đầu tư 7
1.1.3 Mô hình tổ chức của Ngân hàng đầu tư 11
1.1.4 Các dòng sản phẩm của Ngân hàng đầu tư 13
1.2 Chứng khoán hóa 14
1.2.1 Khái niệm CKH 14
1.2.2 Lịch sử hình thành CHK 14
1.2.3 Nội dung của kỹ thuật CKH 15
1.2.3.1 Các chủ thể tham gia vào quá trình CKH 15
1.2.3.2 Quy trình CKH 16
1.2.3.3 Một số mô hình CKH phổ biến 18
1.2.3.4 Các loại sản phẩm CKH 20
1.2.4 Lợi ích, chi phí và rủi ro của chứng khoán hóa 22
1.2.4.1 Lợi ích của chứng khoán hóa 22
1.2.4.2 Chi phí của chứng khoán hóa 25
1.2.4.3 Rủi ro của chứng khoán hóa 26
Kết luận chương 1 27
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG KỸ THUẬT CHỨNG KHOÁN HÓA TẠI VIỆT NAM 28
2.1 Tiềm năng của Ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 28
2.1.1 Thị trường vốn Việt Nam 28
2.1.2 Các sản phẩm CK có thu nhập cố định 28
2.1.3 Các sản phẩm CK vốn 29
Trang 32.1.4 Dịch vụ tư vấn, mua bán, sát nhập doanh nghiệp (M&A) 29
2.2 Thuận lợi và khó khăn khi thực CKH tại Việt Nam 31
2.2.1 Thuận lợi khi thực hiện CHK tại Việt Nam 31
2.2.2 Khó khăn trong áp dụng CKH tại Việt Nam 32
2.3 Kinh nghiệm của Mỹ và một số nước trong việc thực hiện nghiệp vụ CKH 33
2.3.1 Nghiệp vụ CKH tại Mỹ 33
2.3.2 Thực trạng CKH tại một số quốc gia Châu Á 39
2.3.2.1 Hoạt động CKH tại Nhật Bản 39
2.3.2.2 Hoạt động CKH ở Hàn Quốc 40
Kết luận chương 2 41
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ ÁP DỤNG CHỨNG KHOÁN HÓA TẠI VIỆT NAM 42
3.1 Các giải pháp phát triển hoạt động Ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 42
3.2 Giải pháp để áp dụng kỹ thuật chứng khoán hóa thành công 42
3.2.1 Kinh nghiệm CKH của các nước trên thế giới 42
3.2.2 Đề xuất mô hình chứng khoán hóa với thực tiễn Việt Nam 45
3.2.3 Giải pháp để áp dụng kỹ thuật CKH thành công tại Việt Nam 45
Kết luận chương 3 49
Kết luận chung 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 4NHĐT: Ngân hàng đầu tư
NHTM: Ngân hàng thương mại
2 Tiếng Anh
ABS: Assets Backed Securities
CBO: Collateralised Bond Obligation
CDO: Collateralised Debt Obligations
CLO: Collateralised Loan Obligation
CMO: Collateralised Mortgage Obligations
MBS: Mortgage Backed Securities
MPT: Mortgage Pass-Through
PAC: Planned Amortization Class
SPE: Special Purpose Entity
SPV: Special Purpose Vehicle
TAC: Target Amortization Class
VADM: Very accurately defined maturity
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam từ năm 2006 cho đến nay đã có chiều hướng thay đổi tíchcực, điển hình là sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng, các tổ chức tàichính và thị trường tài chính Tuy nhiên cùng với sự phát triển là những bất cập còntồn tại khi mà hệ thống ngành ngân hàng và thị trường tài chính vẫn còn ở giai đoạn
sơ khai, các hoạt động trên thị trường vẫn còn hạn chế Ngân hàng đầu tư với cácnghiệp vụ đa dạng như các nước phát triển vẫn còn khá xa lạ ở Việt Nam Hiện nay,
ở nước ta đa phần là các Ngân hàng Thương mại thực hiện một số nghiệp vụ củaNgân hàng đầu tư do đó vẫn chưa thể khai thác hết tiềm năng của thị trường tàichính Bên cạnh đó, thị trường vốn của nước ta vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào tíndụng của ngân hàng Thương mại, trong khi đó nghiệp vụ chứng khoán hóa có thểgiải quyết hiệu quả, tạo ra một kênh huy động vốn mới cho thị trường Từ những lý
do nêu trên, nhóm đã chọn nghiên cứu đề tài: “Ngân hàng đầu tư – Chứng khoánhóa”
Trang 6CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ – CHỨNG
KHOÁN HÓA
1.1 Ngân hàng Đầu tư
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm
Ngân hàng đầu tư là một “định chế tài chính” hay “tổ chức tín dụng” theo quyđịnh của luật Việt Nam Nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng đầu tư là tư vấn và huyđộng vốn trên thị trường vốn cho các khách hàng
1.1.1.2 Đặc điểm của Ngân hàng đầu tư
- Huy động vốn trên thị trường vốn, đây là một thị trường mang tính chất trung
và dài hạn
- Khách hàng chính là các doanh nghiệp, tổ chức hay chính phủ mà khôngphải là khách hàng cá nhân
1.1.2 Các nghiệp vụ chính của Ngân hàng đầu tư
Một ngân hàng đầu tư hiện đại có rất nhiều nghiệp vụ Mỗi ngân hàng khácnhau lại có những nghiệp vụ khác nhau Tuy nhiên, những nghiệp vụ chính của hầuhết các ngân hàng đầu tư lớn trên thế giới bao gồm:
Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư (Investment Banking)
Đây là nghiệp vụ lâu đời nhất và là một trong những nghiệp vụ quan trọng củangân hàng đầu tư Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư truyền thống bao gồm dịch vụ tưvấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán cho khách hàng (có thể là doanh nghiệp hoặcchính phủ)
Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư hiện nay còn bao gồm các nghiệp vụ tư vấn muabán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A), tư vấn tái cơ cấu doanh nghiệp
Ngân hàng đầu tư hưởng phí tư vấn và bảo lãnh phát hành (phí phát hành).Đối với các khoản chứng khoán vốn, phí phát hành thường nằm trong khoảng 3 –5% tổng số vốn huy động, mức phí bình quân trong năm 2008 giảm xuống còn2,5% Đối với các chứng khoán nợ, phí phát hành thấp hơn nhiều, thường khoảng0,3-1% Mức phí bình quân trong năm 2008 giảm xuống chỉ còn 0,27%
Nghiệp vụ đầu tư (Sale & Trading)
Đây là nghiệp vụ chủ yếu diễn ra trên thị trường thứ cấp, nghiệp vụ này baogồm môi giới và đầu tư
Nghiệp vụ môi giới chủ yếu được áp dụng cho các sản phẩm chứng khoánniêm yết (bao gồm cả các sản phẩm phái sinh niêm yết như hợp đồng tương lai vàquyền chọn), trong đó ngân hàng đầu tư đóng vai trò trung gian nhận lệnh và khớplệnh cho các khách hàng
Đầu tư bao gồm nghiệp vụ đầu tư cho khách hàng trong đó ngân hàng đầu tưđóng vai trò nhà tạo lập thị trường và nghiệp vụ tự doanh với mục tiêu đầu cơ biếnđộng giá chứng khoán
Nghiệp vụ nghiên cứu (Research)
Nghiệp vụ nghiên cứu nhằm tổng hợp các phân tích, nghiên cứu vĩ mô cũngnhư vi mô về các đối tượng đa dạng như nền kinh tế, ngành kinh tế, thị trường,doanh nghiệp, chứng khoán, chiến thuật đầu tư giúp cho việc ra quyết định đầu tưcủa khách hàng Nghiệp vụ nghiên cứu cũng bao gồm việc xây dựng các công cụ
Trang 7phân tích cơ bản giúp cho khách hàng có thể tự xử lý thông tin theo cách thức của
riêng mình Các sản phẩm nghiên cứu chính bao gồm:
- Nghiên cứu kinh tế vĩ mô
- Nghiên cứu dòng sản phẩm có thu nhập cố định
- Nghiên cứu dòng sản phẩm chứng khoán vốn
- Nghiên cứu chỉ số chứng khoán
- Nghiên cứu các công cụ phân tích đầu tư chứng khoán
Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn (Merchant Banking)
Nghiệp vụ ngân hàng bán buôn là một loại nghiệp vụ đầu tư song có đối tượngchủ yếu là các sản phẩm thay thế Các sản phẩm thay thế được hiểu là các sản phẩmđầu tư không phải là các sản phẩm truyền thống (cổ phiếu, trái phiếu), bao gồm đầu
tư bất động sản, cho vay sử dụng đòn bẩy tài chính, các thỏa thuận tín dụng lớn như
cho vay đồng tài trợ và tài trợ dự án Một mảng quan trọng của nghiệp vụ ngân hàng
bán buôn là đầu tư vốn tư nhân
Nghiệp vụ quản lý đầu tư (Invesment Banking)
Quản lý đầu tư ngày càng trở thành một mảng kinh doanh quan trọng của ngânhàng đầu tư Quản lý đầu tư có thể phân thành nghiệp vụ quản lý tài sản và nghiệp
Mảng kinh doanh này có rủi ro thấp và mang lại nguồn thu nhập ổn định chocác ngân hàng trong mọi điều kiện biến động của thị trường
Nghiệp vụ nhà môi giới chính (Prime Brokerage)
Xuất phát từ sự bất tiện của việc sử dụng cùng một lúc nhiều nhà môi giới củacác quỹ đầu cơ, các ngân hàng đầu tư cung cấp các loại dịch vụ đa dạng và toàndiện đáp ứng mọi nhu cầu theo chu trình phát triển của các quỹ đầu cơ Các dịch vụnày bao gồm:
- Dịch vụ tư vấn kinh doanh: Cung cấp những tư vấn cần thiết để thực hiệnkinh doanh thành công
- Dịch vụ thu xếp nguồn vốn: Đây là nhóm dịch vụ nhằm cung cấp các nguồnvốn lưu động trong quá trình hoạt động của quỹ đầu cơ
- Dịch vụ giao dịch điện tử: Với tư cách môi giới chính, ngân hàng đầu tưcung cấp các giải pháp công nghệ đồng bộ đối với khách hàng cho phép việc thựchiện các giao dịch một cách một cách tự động bằng các hệ thống kết nối trực tiếpvới hệ thống môi giới của ngân hàng đầu tư
- Dịch vụ hỗ trợ giao dịch: Với dịch vụ này, ngân hàng đầu tư đã tham gia đầy
đủ vào quá trình trước, trong và sau giao dịch của quỹ đầu cơ
Trang 8Lớp 24NHQTT01_Nhóm 03 & Nhóm 12 Ngân hàng Đầu tư – Chứng khoán hóa
- Nghiên cứu chiến lược
-Phân tích đầu tư
-Tư vấn các ý tưởng
-Thực hiện giao dịch khớp lệnh -Thanh toán và lưu ký-Thu xếp nguồn vốn
-Cho vay chứng khoán-Quản trị rủi ro
-Báo cáo danh mục
1.1.3 Mô hình tổ chức của Ngân hàng đầu tư
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức của Ngân hàng đầu tư
Bộ phận kinh doanh
- Khối nghiệp vụ thị trường sơ cấp
Nghiệp vụ ngân hàng đầu tư về cơ bản là nghiệp vụ trên thị trường sơ cấp
nhằm tư vấn, bảo lãnh phát hành chứng khoán của các chính phủ và doanh nghiệp
ra thị trường
- Khối nghiệp vụ thị trường thứ cấp
Nhằm tạo thuận lợi cho việc mua bán chứng khoán và đáp ứng nhu cầu của
các nhà đầu tư ngân hàng đầu tư thiết lập khối đầu tư, khối nghiên cứu,quản lý đầu
tư, ngân hàng bán buôn và dịch vụ nhà môi giới chính
- Khối đầu tư
Môi giới: là một quy trình tự động hóa quá trình nhận lệnh, xử lý và
xác nhận giao dịch của nhà đầu tư.Ngân hàng đầu tư sẽ có các đạidiện giao dịch tại các sơ giao dịch chứng khoán để quản lý theo dõikết quả khớp lệnh
Bán hàng: bộ phận bán hàng của ngân hàng đầu tư chủ yếu làm việc
với các nhà đầu tư có tổ chức và các cá nhân giàu có để thuyết phụccác khách hàng này mua bán các sản phẩm tài chính
Đầu tư: đầu tư cho khách hàng, nhiệm vụ của các nhân viên đầu tư
phục vụ khách hàng là tiếp nhận các yêu cầu của khách hàng và đápứng tốt nhất các yêu cầu này bằng việc đưa ra các giá chào bán haychào mua phù hợp
- Khối ngân hàng đầu tư
8
Trang 9Lớp 24NHQTT01_Nhóm 03 & Nhóm 12 Ngân hàng Đầu tư – Chứng khoán hóa
Nhóm dịch vụ mua bán,sáp nhập doanh nghiệp
Nhóm phát hành chứng khoán
Nhóm huy động vốn tư nhân
Nhóm huy động vốn thông qua đòn bẩy tài chính
Nhóm tái cơ cấu doanh nghiệp
Các nhóm ngành nghề, vùng địa lý
Bộ phận quản trị rủi roChia ra các bộ phận rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt
động.Thường xuyên cập nhật các trạng thái đầu tư cho từng sản phấm, đồng tiền,
từng loại rủi ro cho từng nhân viên đầu tư và từng nhóm giao dịch
Bộ phận điều hành
Sơ đồ 1.2: Bộ phận điều hành của Ngân hàng đầu tư
1.1.4 Các dòng sản phẩm của Ngân hàng đầu tư
Dòng sản phầm có thu nhập cố địnhBao gồm tất cả các sản phẩm không mang tính chất của chứng khoán vốn, tức
là giá trị của sản phẩm không phụ thuộc vào sự lên xuống của thị giá cổ phiếu Ví
dụ chứng khoán nợ do chính phủ phát hành, trái phiếu do cơ quan chính phủ phát
hành, trái phiếu hạng đầu tư, trái phiếu lợi suất cao, chứng khoán của thị trường tiền
tệ, chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp …Trong chương hai, chúng ta sẽ đi sâu vào
9
Trang 10nghiên cứu sản phẩm chứng khoản bảo đảm bằng thế chấp phát sinh từ nghiệp vụchứng khoán hóa.
Dòng sản phẩm chứng khoán vốnBao gồm các sản phẩm mà giá trị của chúng biến động theo thị giá cổ phiếu,các sản phẩm này bao gồm cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu chuyểnđổi, chứng quyền cổ phiếu, các sản phẩm phái sinh có gốc phái sinh liên quan đến
cổ phiếu Cũng tương tự như các sản phẩm có thu nhập cố định, các sản phẩm pháisinh chứng khoán vốn có thể được đầu tư riêng rẽ hoặc được cấy ghép, lai tạo ngầmhình thành nên các sản phẩm cơ cấu như trái phiếu liên kết đầu tư cổ phiếu
1.2 Chứng khoán hóa
1.2.1 Khái niệm CKH
Theo Ủy ban Chứng khoán Mỹ, kỹ thuật CKH được định nghĩa như sau:
“Chứng khoán hóa là việc tạo ra các chứng khoán dựa trên các luồng tiền cố
định hoặc mang tính chất tuần hoàn của một tập hợp tách biệt các khoản phải thu hoặc các tài sản tài chính Các chứng khoán này tùy theo cấu trúc thời hạn của chúng sẽ được chuyển đổi thành tiền trong một khoảng thời gian xác định kèm theo những quyền hưởng lợi khác và quyền đối với những tài sản được sử dụng nhẳm đảm bảo việc trả nợ hoặc phân phối định kỷ các khoản thu được cho người sở hữu chứng khoán”
Có thể hiểu một cách đơn giản như sau CKH là việc tạo ra các chứng khoán:
- Dựa trên các luồng tiền cố định hoặc mang tính tuẩn hoàn (các khoản chovay, các khoản phải thu…)
- Được chuyển đổi thành tiền tùy theo cấu trúc thời hạn của chúng
- Thực hiện trong một khoản thời gian xác định
- Kèm theo những quyền hưởng lợi đối với các tài sản được sử dụng nhằmđảm bảo việc trả nợ cho người sở hữu chứng khoán
- Các chứng khoán này thông thường là các loại chứng khoán nợ như tráiphiếu, tín phiếu… trong đó phổ biến nhất là trái phiếu Tuy nhiên, tùy trường
Trang 11hợp cụ thể, các pháp nhân đặc biệt cũng có thể phát hành chứng khoán dướidạng cổ phiếu ưu đãi hoặc các loại chứng khoán khác
1.2.2 Lịch sử hình thành CKH
Năm 1977: Ngân hàng Bank of America tiến hành phát hành chứng khoán nợvới mức tín nhiệm AAA đảm bảo bằng các khoản vay thế chấp mua nhà Tuy nhiênviệc làm này không được nước Mỹ công nhận vì cho rằng đây không phải là mộtsản phẩm đầu tư hợp pháp
Năm 1980: Hiệp hội cho vay thế chấp và Tập đoàn cho vay thế chấp mua nhàLiên Bang tiến hành chứng khoán hóa các khoản cho vay thế chấp mua nhà thìchứng khoán hóa mới thành công Một phần thành công là do hai công ty đã sửdụng được uy tín và tư cách pháp nhân của mình để vượt qua các rào cản pháp lý
mà hầu hết các doanh nghiệp khác không làm được
Tuy nhiên có một vấn đề gặp phải là luật pháp vào thời điểm đó không chophép phát hành chứng khoán nợ với thời hạn 30 năm và thực tế là tính thanh khoảncủa loại chứng khoán này là rất thấp Do đó hai tổ chức này đã đưa ra mô hình địnhgiá trên cơ sở 12 năm và sau này được các ngân hàng áp dụng như một thước đo cơbản của thị trường
Bắt đầu từ thời điểm đó đến nay, chứng khoán hóa càng ngày càng phát triểnvới nhiều hình thức phức tạp, tinh vi hơn
1.2.3 Nội dung của kỹ thuật CKH
1.2.3.1 Các chủ thể tham gia vào quá trình CKH
- Bên khởi tạo tài sản (originator): thường là các tổ chức tài chính, tổ chứctín dụng, doanh nghiệp hoặc các tổ chức của chính phủ thực hiện chứng khoán hóavới mục tiêu huy động vốn và tăng cường tính thanh khoản Bên khởi tạo tài sảnchính là chủ sỡ hữu của các tài sản tài chính và là bên bán tài sản cho các tổ chứctrung gian đặc biệt
- Bên có nghĩa vụ thanh toán (obligator): là các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ
thanh toán cho bên khởi tạo tài sản được chứng khoán hóa Các khoản phải thu từ
Trang 12các đối tượng này sẽ được sử dụng để thanh toán đinh kì cho chứng khoán đượcphát hành.
- Công ty có mục đích đặc biệt (SPE/SPV): là tổ chức mua lại các tài sản tàichính từ bên khởi tạo tài sản và thực hiện phát hành chứng khoán để tạo vốn thanhtoán cho các tài sản đã mua Các SPV không có quyền hay khả năng tham gia vàobất kỳ hoạt động nào khác ngoại trừ các quyền về thiết lập các chứng từ pháp lí vàquản lí các giao dịch CKH Nhờ vào các SPV, nhà đầu tư có thể an tâm hơn vềkhoản đầu tư của mình bởi vì rủi ro đã được hạn chế thông qua việc phân loại vàđịnh mức tín nhiệm các chứng khoán
- Nhà đầu tư có thể là các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, ngân hàng hoặc cácnhà đầu tư cá nhân tham gia mua bán trực tiếp với các SPV hoặc thông qua tổ chứcbảo lãnh phát hành
- Tổ chức quản lí tài sản (servicer) có chức năng quản lí danh mục tài sảnđươc chứng khoán hóa, chủ yếu xử lí các khoản thanh toán định kì cho nhà đầu tư
để hưởng phí dịch vụ Thông thường bên khởi tạo tài sản cũng chính là tổ chứcquản lí tài sản
- Tổ chức bảo lãnh phát hành (Underwriter) thường là một hoặc một nhómcác ngân hàng đầu tư cam kết mua toàn bộ chứng khoán phát hành ra theo giá đãxác định trước, góp phần làm cho quá trình chứng khoán hóa diễn ra nhanh hơn
- Tổ chức định mức tín nhiệm (CRA) là một bộ phận không thể thiếu trongquá trình CKH CRA giữ vai trò định mức tín nhiệm, phân loại các tải sản tài chính
do các SPE nắm giữ Hoạt động của các CRA làm tăng tính thanh khoản cũng như
độ tin cậy cho các chứng khoán phát hành S&P và Moody’s là hai tổ chức xếp hạngtín nhiệm lớn ở Mỹ
- Tổ chức tăng cường tín nhiệm là một tổ chức tài chính có độ tín nhiệm cao,cung cấp bảo lãnh cho giao dịch chứng khoán hóa để đảm bảo khả năng thanh toángốc và lãi cho chứng khoán phát hành
1.2.3.2 Quy trình CKH
Trang 131.Cho vay
Cung cấp
dịch vụ
5 Trả nợQuản lý tài sản
3.Tiền bán chứng khoán
4 Tiền muatài sản
6.Thu nhập
từ tài sản
2.chứngkhoán
6.Thu nhập
từ tài sản
1.Chuyểnnhượng
3.Tiền thu phát hành
Sơ đồ 1.3:
Quy trình chứng khóa hóa [2]
Các bước thực hiện:
1.Bên khởi tạo tài sản (tổ chức tín dụng) sau khi cho khách hàng vay sẽ tiến
hành tập hợp khoản cho vay đủ tiêu chuẩn : cùng thời hạn, cũng lãi suất…và bán lại
cho các công ty có mục đích đặc biệt (SPV)
Bên có nghĩa vụ thanh
toán (Người đi vay)
Bên khởi tạo tài
sản (TCTD)
Tổ chức tăngcường tín nhiệm
Nhà đầu tư
Tổ chức bảo lãnhphát hành
Tổ chức trunggian đặc biệt(SPV)
Tổ chức địnhmức tín nhiệm
Tổ chức quản lý
tài sản
2.Phát hành chứng khoán
Trang 142 Sau khi phân loại, tập hợp các khoản cho vay, SPV sẽ tiến hành phát hànhchứng khoán dựa trên dòng tiền dự tính những khoản cho vay mà họ mua lại Việcphát hành có thể thông qua một trong hai cách sau:
- SPV phát hành trực tiếp cho nhà đầu tư và thu tiền
- SPV sẽ ủy thác cho bên thứ ba là tổ chức bảo lãnh phát hành đứng ra pháthành Tổ chức này sẽ thực công việc của một tổ chức tư vấn phát hành chứng khoánđến nhà đầu tư Trong quá trình phát hành chứng khoán còn có sự tham gia của các
tổ chức phụ trợ như tổ chức định mức tín nhiệm, tổ chức tăng cường tín nhiệm
3 Tổ chức phát hành nhận tiền từ các nhà đầu tư và sẽ thanh toán lại cho SPV
4 SPV dùng số tiền từ việc phát hành chứng khoán thực hiện thanh toán chobên khởi tạo tài sản
5 Công ty quản lý sẽ quản lý danh mục các tài sản, thu các khoản gốc và lãicủa tài sản từ bên có nhiệm vụ thanh toán, gửi thư nhắc nhở đôn đốc việc thu hồi nợđúng hạn và thực hiện các thủ tục nợ khi cần thiết
6 SPV thông qua công ty quản lý sẽ dùng khoản tiền thu nợ vừa nhận được đểthanh toán lãi và gốc cho nhà đầu tư như thỏa thuận ban đầu
1.2.3.3 Một số mô hình CKH phổ biến
Mô hình trung thanh thanh toán (Pay-through)
Mô hình trung gian thanh toán là mô hình được các nước trên thế giới ưu tiên
áp dụng, nhất là Mỹ Trong mô hình trung gian thanh toán, việc thanh toán lãi đượccác SPV thực hiện định kì theo lãi suất thỏa thuận trước, còn việc thanh toán gốc dongười khởi tạo thực hiện khi đáo hạn và được chi trả theo nguyên tắc phân chia theohạng A-B-C Theo đó chứng chỉ hạng A sẽ được ưu tiên thanh toán trả nợ gốctrước Sau khi trả nợ gốc cho hạng A hết sẽ trả nợ gốc đến hạng B và tương tự đếnhạng C
Ưu điểm nổi bật của mô hình này là tách bạch phần thanh toán nợ gốc và lãigiúp giảm rủi ro thanh toán sớm Đồng thời việc trả gốc chỉ thực hiện vào kì đáohạn nên người khởi tạo có thể đầu tư để thu lợi nhuận thêm
Trang 15Các khoản thanh toán
Tiền mặt mua chứng khoán
Tiền mặt mua nợ
Bán tài sản
Phí và chênh lệch phí
Chứng khoán
Trả lãi và gốc
Quản lý và thanh toán
: Luồng tiền thanh toán mua nợ và chứng khoán
Sơ đồ 1.4: Quy trình chứng khóa hóa thông qua trung gian thanh toán [17]
Người có tráchnhiệm trả nợ
Tổ chức khởi tạo
Cơ chế tăngcường tín nhiệm
SPV Trunggian đặc biệt
Nhà đầu tưchứng khoán
Nhà cung cấpnhững dịch vụ
hỗ trợ
Trang 16 Mô hình trung gian chuyển đổi (Pass-Through)
Về cơ bản hoạt động của mô hình trung gian chuyển đổi giống với mô hìnhtrung gian thanh toán nhưng có một số điểm khác biệt sau:
Người khởi tạo tài sản sau khi bán các khoản nợ của mình cho các SPV sẽkhông tham gia vào quá trình thanh toán, mà chỉ tham gia với tư cách là trung gianchuyển tiền để thu phí dịch vụ
Đối với mô hình trung gian thanh toán hàng ki SPV chỉ trả lãi cho nhà đầu tư,gốc do người khởi tạo trả khi đáo hạn còn với mô hình trung gian chuyển đổi, SPVphải trả gốc và lãi cho nhà đầu tư theo định kì
Mô hình trung gian chuyển đổi không ngăn ngừa hay loại bỏ được rủi ro thanhtoán sớm Trong trường hợp lãi suất thị trường giảm, người đi vay sẽ có xu hướngđảo nợ, vay nợ từ các tổ chức khác với lãi suất thấp hơn để thanh toán khoản nợtrước đó Điều này làm cho việc dự báo dòng tiền của các SPV trở nên khó khăn,việc phân loại đóng gói sản phẩm không thể dự báo chính xác lộ trình thanh toángốc và lãi cho các trái chủ Tuy nhiên mô hình này có ưu điểm là dễ tạo lòng tin chonhà đầu tư và dễ áp dụng hơn
1.2.3.4 Các loại sản phẩm chứng khoán hóa
Trái phiếu có danh mục cho vay thế chấp mua nhà làm tài sản đảm bảo (MBS -Mortgage Backed Securities)
Là dạng sơ khai nhất cùa chứng khoán hóa, dùng cho danh mục cho vay thếchấp mua nhà và khoản thu từ khoản vay này làm tài sản đảm bảo Các chứngkhoán này cũng phải được đóng gói lại và được đánh giá bởi một cơ quan đánh giátín dụng được công nhận, và thường phải thanh toán định kỳ tương tự như trả lãicoupon Hơn nữa, tài sản thế chấp phải có nguồn gốc từ một tổ chức tài chính quyđịnh và có thẩm quyền
Tuy nhiên, đầu tư vào MBS cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro vì đằng sau nó là rủi
ro vỡ nợ của người đi vay Một chỉ tiêu quan trọng đo lường vấn đề này là hệ số vốnvay trên giá thị trường của tài sản bất động sản (LTV) Nếu hệ số này cao thì rủi ro
vỡ nợ càng cao Ví dụ, nếu hợp đồng cho vay chưa đáo hạn mà giá nhà đất sụt giảm
Trang 17mạnh thì rủi ro vỡ nợ càng dễ trở thành hiện thực Trong trường hợp vỡ nợ xảy ra,bên cho vay không nhận được bất kỳ khoản tiền lãi nào mà còn mất chi phí, cơ hộiđầu tư và các tài sản khác cũng như các chi phí liên quan đến pháp lý Nhà đầu tư sẽđối mặt với rủi ro thanh toán sớm và rủi ro dưới chuẩn, trong đó cho vay trên chuẩn
sẽ đối mặt chủ yếu với rủi ro thanh toán sớm dẫn đến rủi ro lãi suất, cho vay dướichuẩn đối mặt chủ yếu với rủi ro tín dụng
Tín dụng MBS truyền thống chủ yếu được hình thành thông qua chứng khoánhóa các danh mục tín dụng nhà ở của các tổ chức chuyên về cho vay mua nhà uytín, có sự bảo trợ của Chính Phủ như Ginne Mae (Hiệp hội cho vay thế chấp muanhà quốc gia), Freddie Mac và Fannie Mae Do có sự bảo trợ của Chính Phủ Mỹnên hệ số tín nhiệm của chúng rất cao, thậm chí là AAA
- Trái phiếu MPT (Mortgage Pass-Through)
Là dạng sơ khai của MBS hình thành từ danh mục cho vay nhà trên chuẩn,thông thường do các tổ chức liên quan đến chính phủ thực hiện Rủi ro chính đốivới trái phiếu MPT là rủi ro thanh toán sớm Các khoản thu hồi sau khi trừ chi phíhoạt động và phí bảo lãnh sẽ được trả cho trái chủ trên cơ sở hàng tháng
- Trái phiếu CMO (Collateralised Mortgage Obligations)
Là một sản phẩm của MBS nhằm giải quyết rủi ro thanh toán sớm Trái phiếuCMO được chia thành các gói với các kỳ đáo hạn khác nhau, thứ tự thanh toán khácnhau nên rủi ro thanh toán sớm cũng khác nhau; có lãi suất cố định nhưng khácnhau tùy theo các gói trái phiếu.Ví dụ: trái phiếu CMO được chia thành các gói A,
B, C…và cuối cùng là Z, mức tín nhiệm theo đó cũng giảm dần từ AAA tới các góisau Gói Z không được định mức tín nhiệm, không có cuống lãi suất và thời hạn, cơbản giống như một loại cổ phiếu
Số tiền thu được sẽ được thanh toán lãi cho tất cả chứng khoán nợ; số còn lạidùng để thanh toán gốc theo thứ tự ưu tiên, từ A đến Z Số tiền nhận thanh toán sớm
sẽ được thanh toán gốc cho gói ưu tiên trước.Mô hình này không loại bỏ rủi rothanh toán sớm mà giải quyết chúng bằng cách phân phối thành các nhóm với nhiềuthời hạn khác nhau, phù hợp yêu cầu nhà đầu tư
Trang 18Sơ đồ 1.5: Quy trình tạo chứng khoán CMO
Trái phiếu có các danh mục rủi ro tín dụng làm tài sản đảm bảo (CDO)
Nhóm các sản phẩm không liên quan đến các khoản cho vay thế chấp mua nhàđược gọi là CDO (Collateralised Debt Obligations) Gốc tài sản dùng chứng khoánhóa CDO là các tài sản có rủi ro tín dụng như tín dụng tiêu dùng, cho vay thẻ tíndụng, phải thu thương mại, cho vay thế chấp bất động sản thương mại, trái phiếudoanh nghiệp, thậm chí là cả trái phiếu CDO Với các gốc tài sản khác nhau, CDOđược chia thành nhiều loại với tên gọi khác nhau: ABS, CLO, CBO và CDO tổnghợp
Ví dụ: Một danh mục tài sản ban đầu có giá trị là 1,000 tỷ VND, được SPV mua lại
với giá là 990 tỷ VND Chứng khoán do SPV phát hành được chia ra các gói:
Gói A 300 tỷ VND với lãi suất 6%/năm
Gói B 300 tỷ VND với lãi suất 7%/năm
Gói C 300 tỷ VND với lãi suất 8%/năm
Gói Z còn lại 90 tỷ VND là gói cổ phiếu
Giả sử hàng năm thu lãi từ 1,000 tỷ VND được 90 tỷ, sau khi thanh toán cáckhoản chi phí quản lý, chi phí bảo lãnh và các chi phí khác, còn lại được 80 tỷ sẽđược phân phối nhưsau: gói A 18 tỷ VND (300*6%/năm), gói B 21 tỷ VND, gói C
24 tỷ VND, còn lại là 17 tỷ VND cho gói Z (tương đương 19% trên mệnh giá 90 tỷVND ban đầu)
Phần gốc thu được sẽ dùng để thanh toán hoàn toàn cho các gói theo thứ tự ưutiên là A, B, C, sau cùng mới là gói Z Giả sử số tiền thu hồi sau toàn bộ quá trình là
930 tỷ VND, các gói A, B, C sẽ được thanh toán toàn bộ vốn gốc, còn lại gói Z chỉ
Tài sản rủi ro tín
1000
Trang 19được thanh toán 30 tỷ VND, chấp nhận rủi ro tín dụng là 60 tỷ VND so với số vốn
90 tỷ VND bỏ ra ban đầu
- Trái phiếu ABS (Assets Backed Securities)
Trái phiếu ABS là tên gọi các trái phiếu hình thành từ chứng khoán hóa cáckhoản phải thu thương mại, cho thuê tài chính, cho vay trả góp ô tô, cho vay sinhviên, các khoản phạt thuế chưa thanh toán của chính quyền địa phương…
- Trái phiếu CLO và CBO:
Trái phiếu CLO (Collateralised Loan Obligation) là tên gọi sản phẩm chứngkhoán hóa các danh mục tín dụng thương mại Trái phiếu CBO ( CollateralisedBond Obligation) là tên gọi sản phẩm chứng khoán hóa các danh mục trái phiếudoanh nghiệp
Rủi ro tín dụng đối với trái phiếu CLO cao hơn CBO tương ứng mức rủi rocủa gốc tài sản.Trái phiếu CLO được chứng khoán hóa chủ yếu để làm đẹp bảng cânđối kế toán bằng cách thoát bỏ một số rủi ro tín dụng của khoản cho vay thươngmại Trong khi đó thì trái phiếu CBO nhằm mục đích khai thác chênh lệch giá làchính
- Chứng khoán hóa tổng hợp (Synthetic Secutitisation):
Các loại trái phiếu CDO trên được gọi là trái phiếu CDO tiền mặt (cash CDO)được hình thành thông qua chứng khoán hóa các danh mục rủi ro tín dụng được báncho SPV
Còn với chứng khoán hóa tổng hợp, SPV không mua danh mục rủi ro tín dụngmột cách thông thường mà thông qua công cụ phái sinh như hợp đồng hoán đổi rủi
ro tín dụng (CDS) Ngân hàng bán rủi ro tín dụng cho SPV bằng một hợp đồnghoán đổi rủi ro tín dụng (CDS) Về cơ bản đây là một hợp đồng bảo hiểm rủi ro tíndụng, định kỳ ngân hàng thanh toán một khoản phí bảo hiểm cho SPV, đổi lại ngânhàng sẽ nhận được khoản bồi thường khi danh mục tài sản tham chiếu bị rủi ro tíndụng Khoản bồi thường tương đương mệnh giá danh mục rủi ro – giá trị thu hồicủa gốc tài sản
Trang 201.2.4.1 Lợi ích của chứng khoán hóa
Thứ nhất: Lợi ích của chứng khóa hóa đối với bên khởi tạo tài sản, công ty dịch vụ, ngân hàng đầu tư và nhà đầu tư:
Bên khởi tạo tài sảnBên khởi tạo tài sản, thông qua việc chứng khoán hóa có thể khai thác đượcnguồn vốn mới với chi phí thấp hơn đi vay từ bên ngoài do định mức tín nhiệm củaSPV thường cao hơn định mức tín nhiệm của bên khởi tạo tài sản Quá trình chứngkhoán hóa cho phép định giá bán tài sản một cách tối ưu nhất, do có sự kiểm soátcủa các công ty định mức tín nhiệm nên việc định giá được diễn ra minh bạch, trựctiếp tăng cường tính thanh khoản cho các tài sản vốn không có tính thanh khoảncao
Bên cạnh đó bên khởi tạo tài sản có thể thoái bỏ tài sản ra khỏi bảng cân đối
kế toán bằng việc bán đứt tài sản cho các SPV, điều này sẽ giúp hạn chế và chuyểngiao rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng sang cho các nhà đầu tư mua các trái phiếuhình thành từ chứng khoán hóa Với số tiền thu được từ việc bán tài sản cho cácSPV, bên khởi tạo tài sản có thể quay vòng vốn hình thành các khoản cho vay khác.Ngoài ra, bên khởi tạo tài sản còn được trả phí khi tham gia quản lý danh mụccho SPV Trường hợp bên khởi tạo tài sản là ngân hàng thương mại hoặc ngân hàngđầu tư thì phải tuân thủ theo các quy định an toàn vốn (CAR)
Ngân hàng đầu tưNgân hàng đầu tư thu được những khoản phí khi thực hiện nghiệp vụ chứngkhoán hóa như phí tư vấn, bảo lãnh phát hành và bán các loại chứng khoán này trênthị trường thứ cấp nhằm thu lợi nhuận
Ngày nay, các ngân hàng đầu tư còn đóng vai trò là bên khởi tạo tài sản nênthu được các lợi ích trong toàn bộ chu trình chuỗi giá trị tài sản
Nhà đầu tư
Trang 21Thông qua chứng khoán hóa, nhà đầu tư có thể tiếp cận với kênh đầu tư mới,mang lại nhiều sản phẩm và cơ hội đầu tư Nhà đầu tư mua chứng khoán nợ nhằmmục đích sinh lời cao hoặc để đa dạng danh mục đầu tư
Thứ hai: Chứng khoán hóa góp phần nâng cao chất lượng thẩm định, nghiệp
vụ chuyên môn của các trung gian tài chính:
Trong quy trình chứng khoán hóa, tài sản được đảm bảo ở mức độ caohơn, trong trường hợp người đi vay đến hạn không có khả năng thanh toántiền gốc và lãi vay cho ngân hàng thì SPV sẽ đứng ra trả các khoản này theomột tỉ lệ đã được xác lập với ngân hàng Vì lợi nhuận và rủi ro gắn liền vớihai cá thể này nên SPV sẽ có trách nhiệm hơn trong việc thẩm định các dự ántrước khi cho vay Từ đó, nâng cao chất lượng các khoản vay trong thịtrường tín dụng
Thứ ba: Chứng khoán hóa tác động tích cực đến thị trường chứng khoán và cho nền kinh tế:
Từ trước đến nay, thị trường chứng khoán đã quá quen với các cổphiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp và Chính phủ Đối với trái phiếu hay
cổ phiếu của doanh nghiệp thì phụ thuộc vào hoạt động và khả năng sinh lợicủa tổ chức phát hành Chứng khoán hoá tài sản tài chính ra đời sẽ làm mớithị trường chứng khoán vì đặc tính sinh lợi của nó dựa trên giá trị nội tại vàhoạt động của thị trường, chứ không còn phụ thuộc vào tổ chức phát hànhnữa
Mặt khác, chứng khoán hoá sẽ làm đa dạng hàng hoá trên thị trường,góp phần làm sôi nổi cho sàn giao dịch, cũng như nền kinh tế nói chung
Thứ tư: Chứng khoán hóa là sự lựa chọn hấp dẫn trong kênh đầu tư vào thị trường bất động sản:
Nhà đầu tư có nhu cầu kiếm lợi nhuận khi tham gia vào thị trường bấtđộng sản thường là những nhà đầu tư nhiều vốn Vì thế, sẽ có nhiều hạn chếcho những nhà đầu tư vốn ít khi muốn tham gia vào thị trường này Phần
Trang 22khác, những người nhiều vốn không phải ai cũng muốn đầu tư vào thị trườngkhá nhạy cảm và nhiều rủi ro này.
Quy trình chứng khóa hóa đã giúp chia nhỏ giá trị của khoản đầu tư,làm tăng tính thanh khoản cho thị trường Nhờ đó, những nhà đầu tư ít vốn
có thể tham gia thị trường và hạn chế được rủi ro
Thứ năm: Góp phần thực hiện các mục tiêu vĩ mô của chính phủ
Thông qua việc chứng khoán hóa sẽ tập hợp được lượng lớn vốn nhànrỗi trong dân chúng, sử dụng đầu tư vào các dự án, các hoạt động sản xuấtkinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển
Thúc đẩy thị trường tài chính hoạt động mạnh mẽ, nền kinh tế pháttriển, Chính phủ có điều kiện chăm lo cho đời sống người dân như xây dựngnhà ở, nâng cao chất lượng dịch vụ công, đáp ứng đầu đủ hơn nhu cầu chongười dân,….Nhờ đó, phúc lợi xã hội ngày càng được tăng lên
1.2.4.2 Chi phí của chứng khoán hóa
Chứng khoán hóa là một quá trình phức tạp nên đòi hỏi chi phí rất caokhi thực hiện Các SPV khi thực hiện quy trình chứng khoán hóa sẽ phát sinhcác khoản chi phí như chi phí phát hành trái phiếu, phí trả cho ngân hàng đầu
tư cung cấp dịch vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành, phí cho công ty định mức tínnhiệm, phí thanh toán cho cơ quan chức năng và phí quản lý Tổng chi phíphát hành phụ thuộc vào quy mô và loại tài sản, trung bình khoảng 1% sốvốn huy động
1.2.4.3 Rủi ro của chứng khoán hóa
Rủi ro tín dụngRủi ro tín dụng xuất hiện khi chủ thể phát hành chứng khoán nợ không
có khả năng thanh toán gốc và lãi khi đến hạn Rủi ro này sẽ được nghiêncứu rõ hơn qua cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ (2007 – 2009) trongchương hai của đề tài này
Rủi ro lãi suất
Trang 23Khi lãi suất trên thị trường tăng lên, buộc các SPV cũng phải điều chỉnhlãi suất cho phù hợp Lúc này, phần lợi nhuận thu được từ chênh lệch lãi vay
và lợi tức của chứng khoán phát hành của các SPV sẽ giảm
Khi lãi suất trên thị trường giảm, người đi vay có xu hướng trả trướckhoản vay hiện tại và ký kết khoản vay mới có lãi suất thấp hơn Điều nàylàm cho dự tính về luồng tiền thay đổi vì những khoản thu hồi nợ này khôngthể tái đầu tư để thu được lãi suất cao trong tình hình lãi suất trên thị trườnggiảm Lúc này người cho vay sẽ là người gánh chịu những rủi ro Khi lãi suấtgiảm lần đầu thì nhiều người sẽ thực hiện đảo nợ Tuy nhiên nếu lãi suất biếnđộng bất thường thì động lực đảo nợ sẽ giảm
Rủi ro trong quy trình chứng khoán hóa của ngân hàng
Do quy trình chứng khoán hóa rất dài và phức tạp nên dễ xảy ra lỗitrong quá trình quản lý và hoạt động nghiệp vụ Những vấn đề sai sót thườngxảy ra ở giai đoạn thanh toán lãi chứng khoán và thu hồi các khoản nợ từngười đi vay Những rủi ro này có thể hạn chế bằng việc kiểm soát chặt chẽquy trình chứng khoán hóa để ngăn chặn và sửa chữa kịp thời
Kết luận chương 1
Tại Việt Nam, khái niệm ngân hàng đầu tư còn là khá mới mẻ Tuy nhiên, đãxuất hiện một số công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ với các nghiệp vụ củamột ngân hàng đầu tư Đồng thời, một số ngân hàng thương mại lớn cũng đangtrong quá trình chuyển đổi sang mô hình tập đoàn tài chính, chú trọng phát triểnmảng ngân hàng đầu tư như công ty chứng khoán đầu ngành CTCK Sài Gòn (SSI),các ngân hàng quốc doanh lớn sau khi cổ phần hóa như Ngân hàng Ngoại thươngViệt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) Tuynhiên, các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư tại Việt Nam tồn tại ở dạng rất sơ khai vàchưa có đầy đủ chức năng vốn có của nó Nhìn chung, đây là sự phát triển ban đầu,thể hiện một định hướng đúng của nền kinh tế Việt Nam
Trang 24Về bản chất, chứng khoán hóa là quá trình huy động vốn bằng cách sửdụng những tài sản có sẵn trên bảng cân đối kế toán làm tài sản đảm bảo choviệc phát hành chứng khoán nợ Chứng khoán hóa là một nghiệp vụ tạo rathu nhập cố định cho ngân hàng đầu tư cũng do nó có liên quan đến việc pháthành các chứng khoán nợ Tại Việt Nam, thị trường tài chính chỉ ở giai đoạn
sơ khai nên chưa thể phát triển nghiệp vụ chứng khoán hóa Tuy nhiên, trongnhững năm gần đây, thị trường cho vay thế chấp mua nhà đã bắt đầu pháttriển và có thể cung cấp những danh mục tài sản tiềm năng cho nghiệp vụchứng khoán hóa trong tương lai
CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG CỦA NGÂH HÀNG ĐẦU TƯ VÀ SỰ CẦN THIẾT ÁP DỤNG KỸ THUẬT CHỨNG KHOÁN HÓA TẠI VIỆT NAM 2.1 Tiềm năng của Ngân hàng đầu tư tại Việt Nam
2.1.1 Thị trường vốn Việt Nam
Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là mục tiêu đã đượcNhà nước ta định hướng từ những năm đầu thập kỉ 90 nhằm xác lập mộtkênh huy động vốn mới cho đầu tư phát triển Trong vài năm gần đây, thịtrường vốn Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về cả quy mô lẫn chấtlượng Mặc dù thị trường chứng khoán bắt đầu được thành lập từ năm 2000nhưng đến năm 2006 thì nhu cầu đầu tư của người dân mới thực sự bắt đầu
Trang 25phát triển mạnh Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO cùng với những camkết hội nhập tạo nền tảng vững chắc để thị trường vốn phát triển mạnh mẽ.
Số lượng công ty chứng khoán tăng từ 10 công ty năm 2005 lên 102công ty năm 2008 và có hơn 40 công ty quản lý quỹ và 40 tổ chức lưu kýđang hoạt động Số lượng tài khoản của các nhà đầu tư cá nhân cũng tăng lênnhanh chóng, năm 2005 có khoảng 50 ngàn tài khoản, năm 2007 con số này
đã vượt lên 350 ngàn và cuối năm 2008 là 500 ngàn tài khoản [1]
Năm 2003, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ban hành lộ trình phát triểnthị trường vốn, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng là phát triển thị trườngtrái phiếu
Năm 2007, Việt Nam tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
có quy mô lớn như Tập đoàn Bảo hiểm Việt Nam và Ngân hàng Ngoạithương Việt Nam
Thị trường vốn Việt Nam là một thị trường mới nổi, có sức hấp dẫn rấtlớn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Lượng vốn đầu tư gián tiếp vào ViệtNam tăng mạnh trong giai đoạn 2006-2007 Năm 2008 do tác động củakhủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá chứng khoán sụt giảm mạnh Tổng vốnđầu tư gián tiếp vào Việt Nam cuối 2008 khoảng 4,6 tỷ USD
2.1.2 Các sản phẩm CK có thu nhập cố định
Trái phiếuchính phủ chiếm85% tổng số pháthành thị trường tráiphiếu Trái phiếudoanh nghiệp bắtđầu phát triển từ
85
8 7
Th tr ị trường trái phiếu Việt Nam 2007 ường trái phiếu Việt Nam 2007 ng trái phi u Vi t Nam 2007 ếu Việt Nam 2007 ệt Nam 2007
Trái phiếu Chính phủ Trái phiếu chính quyền địa phương Trái phiếu doanh nghiệp
Trang 26năm 2007 với việc các tập đoàn lớn phát hành thành công nhiều đợt tráiphiếu doanh nghiệp
Nguồn: Cẩm nang Ngân hàng đầu tư (trang 640)
Biểu đồ 2.1: Thị trường trái phiếu Việt Nam 2007
Phát hành trái phiếu trên thị trường sơ cấp năm 2008 bị chững lại doảnh hưởng của lạm phát, chính sách tiền tệ thắt chặt, rủi ro mất giá của VND
và trào lưu rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài đã làm cho lợi suất tráiphiếu tăng mạnh trên 20% Tuy nhiên hoạt động mua bán trên thị trường thứcấp vẫn diễn ra sôi nổi và tạo nhiều lợi nhuận cho các tổ chức đầu tư trongnước
2.1.3 Các sản phẩm chứng khoán vốn
Cuối năm 2008 có khoảng 338 cổ phiếu niêm yết (bao gồm 4 chứng chỉquỹ đầu tư) và trên 7 ngàn cổ phiếu chưa niêm yết có giao dịch trên thịtrường OTC
Thị trường chứng khoán vốn thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tưnước ngoài dẫn đến việc hình thành một lượng lớn quỹ đầu tư vào Việt Nam
Số vốn đầu tư gián tiếp vào thị trường Việt Nam ước đạt 4,6 tỷ USD cuốinăm 2008 (2007: 10 tỷ USD)
2.1.4 Dịch vụ tư vấn, mua bán, sát nhập doanh nghiệp(M&A)